Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu 12th, 2015

►Hãy ‘cám ơn’ Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2015

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

10-06-2015

Từ đầu năm 2014 đến nay, Trung Quốc ra sức bồi đắp và tái tạo các bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa mà họ chiếm của Việt Nam vào năm 1988 thành những hòn đảo nhân tạo đủ lớn để làm căn cứ quân sự với hải cảng và phi trường cho các loại máy bay, kể cả máy bay phản lực. Báo chí Tây phương xem những hòn đảo nhân tạo này như một vạn lý trường thành bằng cát Trung Quốc sẽ sử dụng như những căn cứ quân sự nhằm chiếm cứ các hòn đảo còn lại ở Trường Sa và khống chế toàn bộ Biển Đông. Hầu như ai cũng nhận định giống nhau: đó là những việc làm nguy hiểm có thể đẩy các tranh chấp trong khu vực thành những xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và các quốc gia liên hệ gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei cũng như, sau các quốc gia ấy, là Mỹ và các đồng minh của Mỹ.

Những nguy hiểm ấy dĩ nhiên là có thật. Tuy nhiên, một mặt, tôi không mong chiến tranh sẽ bùng nổ, mặt khác, tôi lại cho những việc xây dựng ấy là điều may mắn cho Việt Nam.

May mắn thứ nhất là chúng thu hút sự quan tâm của quốc tế trước các âm mưu bành trướng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước, ai cũng biết Trung Quốc có tham vọng chiếm gần trọn Biển Đông. Họ không hề giấu giếm tham vọng ấy. Nó được công khai hoá qua con đường 9 đoạn hoặc con đường lưỡi bò mà họ công bố trước thế giới. Tuy nhiên, người ta vẫn xem lời tuyên bố ấy như những dự định và với dự định, cuộc chiến chỉ dừng lại phạm vi ngôn ngữ, hay nói cách khác, những cuộc khẩu chiến. Bây giờ, với việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo, người ta nhận ra dự định ấy không phải chỉ là một ước mơ. Nó đang được Trung Quốc biến thành hiện thực và hiện thực ấy khiến cho thế giới không khỏi lo lắng. Hệ quả đầu tiên là phần lớn các quốc gia thuộc khối ASEAN (trừ Lào và Campuchia) cảm nhận rõ hơn nguy cơ xâm lấn của Trung Quốc và từ đó, đoàn kết hơn trong nỗ lực chống lại dã tâm xâm lấn ấy.

May mắn thứ hai là chúng thúc đẩy Mỹ phải chính thức nhảy vào cuộc tranh chấp trên Biển Đông. Trong mấy tháng vừa qua Mỹ thường xuyên theo dõi sát sao mọi chuyển biến trong quá trình xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Trường Sa. Trong cuộc hội nghị thượng đỉnh về an ninh châu Á – Thái Bình Dương ở Shangri-la, Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter phê phán một cách thẳng thắn và gay gắt các hành động khiêu khích của Trung Quốc trên Biển Đông. Sự phê phán của Mỹ nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của hai quốc gia đồng minh là Nhật và Úc. Trong chuyến đi thăm Việt Nam ngay sau đó, Bộ trưởng Ashton Carter và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Phùng Quang Thanh đã ký bản “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng” nhằm định hướng cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước trong tình hình mới. Liên quan đến quốc phòng, có hai sự kiện mới đáng chú ý trong quan hệ song phương ấy: Một là Mỹ sẽ viện trợ cho Việt Nam 18 triệu Mỹ kim để mua tàu tuần tra cao tốc của Mỹ; và hai là, cả Bộ trưởng Carter lẫn thượng nghị sĩ John McCain đều hứa hẹn Mỹ có thể sẽ nới lỏng hơn nữa việc bán vũ khí cho Việt Nam để Việt Nam có thể tự vệ trong các cuộc tranh chấp trên Biển Đông.

May mắn thứ ba là việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo tại Trường Sa sẽ làm thức tỉnh giới lãnh đạo Việt Nam. Lâu nay, bất chấp các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam vẫn khăng khăng lặp đi lặp lại mấy khẩu hiệu dối trá và cũ rích về “4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) và 16 chữ vàng (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Năm ngoái, khi Trung Quốc cho giàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa Việt Nam, có lẽ chính quyền Việt Nam phần nào đã thức tỉnh. Từ đó, việc lặp lại các khẩu hiệu trên có chiều hướng giảm dần. Nhưng dù sao việc mang giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam cũng ít nguy hiểm hơn việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo và quân sự hoá chúng: từ các căn cứ ấy, việc đánh chiếm các hòn đảo khác ở Trường Sa do Việt Nam làm chủ sẽ trở thành dễ dàng hơn rất nhiều. Đó là chưa kể đến việc, trên cơ sở sự hiện hữu của các hòn đảo nhân tạo ấy, Trung Quốc sẽ tuyên bố thành lập vùng nhận diện hàng không trên toàn bộ Biển Đông.

Khi cho việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Trường Sa sẽ “thức tỉnh” giới lãnh đạo Việt Nam, tôi có hai hàm ý: Một, trước đó, họ chưa biết; và hai, họ quan tâm và tha thiết đến việc bảo vệ chủ quyền cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Với hàm ý thứ hai, có thể sẽ có một số người cho là tôi nhẹ dạ: theo họ, trên thực tế, giới cầm quyền Việt Nam đã đầu hàng hoặc thậm chí, bán đứng Biển Đông cho Trung Quốc. Tôi cố không tin như vậy. Một số người thì có thể, nhưng rất khó tin cả một tập thể đông đảo đến gần 200 người trong Ban chấp hành Trung ương đảng đều đang tâm làm việc đó. Tôi nghĩ, sẽ thuyết phục hơn, nếu chúng ta cho: Một, họ biết nhưng mức độ biết còn hạn chế, chưa thấy hết toàn cảnh những hiểm hoạ đến từ phương Bắc; hai, họ biết nhưng có ảo tưởng là cùng chia sẻ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc sẽ nhẹ tay, không đẩy họ vào thế đường cùng; ba, họ biết nhưng họ theo đuổi sách lược kềm chế và nhân nhượng với hy vọng có đủ thời gian để tìm liên minh cũng như trang bị thêm khí giới chuẩn bị cho những chiến tranh mà theo một số quan sát viên quốc tế, “không thể tránh khỏi”.  Thôi thì, rộng lượng, chúng ta thiên về khả năng thứ ba.

Tuy nhiên, sách lược kềm chế và nhân nhượng cũng phải có giới hạn của chúng: kềm chế và nhân nhượng đến mức nào? Trước, vào năm 2011, tôi đã đặt ra vấn đề ấy trong bài “Nhịn đến chừng nào?”. 

Gần đây, trong bài “Phải ấn định một lằn ranh cho Trung Cộng”, nhà báo Ngô Nhân Dụng cũng đặt ra vấn đề tương tự. Ông viết: “người Việt Nam phải xác định một lằn ranh, nếu Trung Cộng bước qua thì sẽ phản ứng quyết liệt. Một chính phủ Việt Nam biết bảo vệ danh dự và chủ quyền dân tộc không thể để cho Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục lấn lướt. Phải xác định trước cả thế giới “lằn ranh” của lòng kiên nhẫn. Nêu rõ những hành động nào của Trung Cộng sẽ được coi là bước qua lằn ranh đó, công bố cho cả vùng Ðông Nam Á và các cường quốc có quyền lợi trong vùng biết rõ. Lằn ranh này được xác định là “bước đường cùng,” tới đó thì nước Việt Nam không thể chịu đựng với lòng nhẫn nhục. Phải báo trước nếu Bắc Kinh bước qua lằn ranh đó thì sẽ sinh chuyện lớn.”

Lâu nay, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn lần khân trong việc công bố những giới hạn của sự kềm chế và nhân nhượng của họ. Sự kiện Trung Quốc xây dựng các hòn đảo nhân tạo buộc họ phải suy nghĩ đến những điều đó. Hoặc, nếu họ vẫn có ảo tưởng về lòng tốt của người bạn láng giềng cùng theo chủ nghĩa xã hội thì họ sẽ thức tỉnh và quay lại lo toan cho chủ quyền và tương lai của đất nước.

Tôi cho những sự kiện vừa xảy ra là một điều “may mắn” và chúng ta cần “cám ơn” Trung Quốc là vì thế.

______________

Nguyễn Thanh Giang

11-06-2016

Tác giả Nguyễn Thanh Giang

Trung Quốc đang khẩn trương xây đắp trường thành bằng cát trên biển. Bức trường thành ấy đã dăng được trên bẩy đảo lớn nhỏ, bãi san hô và các bãi cát ngầm trên quần đảo Trường Sa của ta: Gạc Ma, Chữ Thập, Châu Viên, Ken Nan, Ga Ven …

Hoàn Cầu Thời báo, một tờ báo thuộc hệ thống báo chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhiều lần đe dọa đánh Việt Nam. Sau khi thiết lập xong căn cứ quân sự với vũ khí đạn dược và đường băng dài 3km họ tuyên bố từ căn cứ Chữ Thập sẽ tấn công chiếm gọn Thành phố Hồ Chí Minh chỉ trong một giờ đồng hồ.

Ngày 5 tháng 6 năm 2015 trên báo điện tử Trung Quốc “Binh Khí Đại Toàn” lại xuất hiện một bài báo với lời lẽ rất xấc xược:

Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.

 Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn”.

Trước thái độ hống hách ngang ngược kiểu côn đồ như vậy, rất may là Hoa Kỳ đã tỏ ra cứng rắn, đĩnh đạc. Ngày 1 tháng 6, khi đang thăm Việt Nam, trả lời BBC News, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter đã nói: “Không điều gì có thể ngăn cản các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ ở Biển Đông. Chúng tôi sẽ tiếp tục bay và cho tàu hoạt động như đã làm ở Thái Bình Dương từ xưa đến nay”.

Tại diễn đàn Shangri-La vừa qua. không phải chỉ ông Ashton Carter mà cả ngoại trưởng John Kerry và Thượng nghị sĩ John McCain đều cho biết thái độ của chính quyền Mỹ cũng như Thượng viện, Hạ viện Mỹ là rất rõ ràng, minh bạch, lên án hành động ngang trái, vi phạm luật pháp quốc tế, ỷ nước lớn, ức hiếp nước nhỏ, và Mỹ có trách nhiệm trong quá trình xoay trục sang châu Á.

Đặc biệt là, trong buổi đón tiếp và trao đổi với đại diện giới trẻ hoạt động xã hội của Đông Nam Á tại Nhà Trắng hôm 2 tháng 6 năm 2015, Tổng thống Mỹ Barack Obama nghiêm khắc cảnh báo chính quyền Trung Quốc hãy tôn trọng luật pháp và “ngưng ngay những hành động thúc cùi chỏ” hiếp đáp láng giềng để bành trướng thế lực tại biển Đông.

Bằng hành động cụ thể, trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ A. Carter đã ký “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng Việt – Mỹ” với Việt Nam. Trong tuyên bố 5 điểm này, đáng chú ý có nội dung nói rằng “hai bên tăng cường trao đổi đoàn, đối thoại ở các cấp nhất là các đoàn cấp cao của lãnh đạo Bộ Quốc phòng, quân đội hai nước”.

Ngoài ra, Hà Nội và Washington sẽ “hợp tác trong lĩnh vực an ninh biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, luật pháp của mỗi bên”. Theo tuyên bố này, Hoa Kỳ sẽ “chia sẻ kinh nghiệm, thông tin, đào tạo nhân viên cho lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam, cũng như hỗ trợ cho Việt Nam một số trang bị cho lực lượng thực thi luật pháp trên biển”.

Trong tình thế “sơn hà nguy biến”, các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng đã thức tỉnh. Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã khẩn khoản đề nghị Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Ông nói: “Việt Nam và Mỹ hiện đã là bạn bè, đã là đối tác toàn diện, có làm vậy mới thể hiện sự tôn trọng, tin cậy lẫn nhau.”

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thì nhấn mạnh như là tuyên bố: “hai bên đã khép lại quá khứ và hướng tới tương lai thể hiện bằng việc thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, đặc biệt quan trọng là trao đổi cấp cao diễn ra thường xuyên hơn”.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Cartor được cả Tổng bí thư ĐCSVN nghênh tiếp. Như là tuyên thệ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã “khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam coi trọng thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ, vì lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước”.

Vậy mà …!

Trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ online ngày 30/05/2015, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh quả quyết một cách rất hùng biện: “Càng căng thẳng thì càng phải độc lập tự chủ. Càng căng thẳng thì càng không bao giờ để kéo vào những liên minh với nước này để chống nước khác”.

Không biết đây là biểu hiện sự lăng nhăng bạt mạng hay là cố tình làm cái loa cho địch?!

Chợt nhớ lại mà lòng sôi lên căm giận. Suốt mấy thập kỷ qua, lãnh đạo ĐCSVN như bị lạc vào mê hồn trận trong đường lối đối ngoại do bị ma dẫn lối quỷ đưa đường. Chúng đã đạp lên đầu cả Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, cả Bộ Ngoại giao để dẫn Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười đi ký kết Thỏa ước Thành Đô, dẫn Lê Khả Phiêu đi cắt nhượng Mục Nam Quan, thác Bản Giốc và một nửa Vịnh Băc Bộ, dẫn Nông Đức Mạnh đi mời Trung Quốc vào Tây Nguyên. (Thương tiếc biết bao cho những Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ …!).

Ngày nay chúng lại đạng bịt mắt mớm lời cho Nguyến Phú Trọng lúc thì khỏa lấp ý đồ xâm lăng của Trung Quốc, lúc thì tự cô lập mình để trói tay nhân dân trước kẻ địch.

Trước những hiểm họa đang đến ở Biển Đông, Quốc hội yêu cầu được nghe, được bàn thảo thì Nguyễn Phú Trọng gạt đi và bảo “Biển Đông không có gì mới”. Nguyễn Phú Trọng rất tích cực thực hiện mưu đồ của Trung Quốc, ngăn không cho quốc tế cùng được quan tâm đến Biển Đông. Đồng thanh tương ứng, Nguyễn Phú Trọng cùng Trung Quốc dóng dả luận điệu: Biến Đông chỉ là vấn đề song phương của Việt Nam và Trung Quốc. Tuyên bố chung Hồ Cẩm Đào – Nguyễn Phú Trọng không hề đả động đến DOC và COC …

Bọn nào là lũ “ma dẫn lối quỷ đưa đường” cho ĐCSVN suốt mấy thập kỷ qua?

Chính là Tình báo Hoa Nam của Trung Quốc. Bọn chúng đã kết thân và mua chuộc được một số lãnh đạo chóp bu của Tổng cục Hai. Do sai lầm của Nghị định 96CP đã trao quyền quá lớn cho Tổng cục Hai, biến Tổng cục Hai – tay sai đắc lực của Tình báo Hoa Nam – trở thành siêu quyền lực trong ĐCSVN. Nhiều anh em sáng suốt và có tâm huyết ở Tổng cục Hai như: những người đã đưa vụ T4 ra ánh sáng, tập thể cán bộ đã viết tập tài liệu “Vương triều Vũ Chính”, trung tá Vũ Minh Trí … biết rất rõ cái tai họa của bọn ma quỷ này nhưng vì yếu thế nên đành nuốt hận! 

Hãy hỏi Nguyễn Chí Vịnh, vì sao cấm Việt Nam không được liên minh quân sự với những nước khác?

Khối NATO là gì? Mạnh như Nhật Bản, Hàn Quốc, yếu như Philippines đều phải liên minh với Hoa Kỳ.

Việt Nam cũng đã từng mời Liên Xô vào đóng quân ở Cam Ranh, từng liên minh quân sự với Liên Xô, Trung Quốc đấy chứ. Ngày ấy ta dại dột liên minh vì/cho người (Tổng Bí thư Lê Duẩn từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”). Ngày nay nếu liên minh tức là liên minh vì/cho mình. Sao ta không liên minh?

Không liên minh tức là tự trói tay nộp mạng khi bọn cuồng vọng Đại Hán nhìn ta đơn lẻ như một con dê tế thần.

Liên minh là để tăng cường thế mạnh, uy hiếp kẻ địch. Liên minh quân sự tức là góp phần làm giảm thiểu khả năng xẩy ra chiến tranh.

Quốc hội đang thảo luận Luật Trưng cầu Ý dân. Vấn đề nước sôi lửa bỏng, vấn đề quyết định sống còn đối với vận mệnh quốc gia hiện cần đưa ra Trưng cầu Ý dân ngay là: “Có nên liên minh quân sự với Hoa Kỳ, Nhật Bản không? Có nên cho Hoa Kỳ thuê hải cảng Cam Ranh không?”.

Trước khi dưa ra Trưng cầu Ý dân bất cứ vấn đề gì, đề nghị nên cho đăng tải mọi ý kiến trái chiều trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng một cách thật rộng rãi để toàn dân được cung cấp thông tin thật đầy đủ.

Xin khẩn khoản đề nghị.

Hà Nội 11 tháng 6 năm 2015

Nguyễn Thanh Giang

Số nhà 5, ngõ 341, đường Trung Văn

Quận Nam Từ Liêm – Hà Nội

Mobi: 0984 724 165

Nguon: anhbasam.wordpress.com

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Bộ Ngoại giao Mỹ: Trung Quốc tiếp tục xây đảo phi pháp và thử thách Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2015

Thanh Niên

Hoàng Uy

10-06-2015

Ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy tàu Trung Quốc ráo riết xây đảo nhân tạo trái phép ở Đá Chữ Thập thuộc Quần đảo Trường Sa của Việt Nam - Ảnh: Reuters

(TNO) Trung Quốc sẽ tiếp tục xây đảo nhân tạo phi pháp tại Biển Đông, nhưng sẽ ít có khả năng xảy ra một cuộc xung đột lớn trong khu vực, theo một báo cáo an ninh của Bộ Ngoại giao Mỹ.

“Bắc Kinh sẽ tiếp tục xây dựng đảo tại Biển Đông. Khác với tàu cá hay tàu tuần tra, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, chẳng hạn bồi đắp đảo và xây dựng đường băng, hải đăng, báo hiệu một sự hiện diện lâu dài hơn (tại Biển Đông)”, trang tin Washington Free Beacon (Mỹ) dẫn báo cáo nội bộ của Hội đồng Cố vấn An ninh Nước ngoài (OSAC) thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ.  

OSAC nhận định Trung Quốc sẽ tiếp tục hoạt động xây đảo nhân tạo và quân sự hóa tại Biển Đông, bất chấp sự phản đối của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter hồi tuần trước.

Cơ quan trực thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ còn cho biết khó xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc và các quốc gia có tranh chấp tại Biển Đông, nhưng cảnh báo vẫn có những nguy cơ ở mức độ thấp hơn có thể dẫn đến xung đột hay sự cố về mặt quân sự.

Báo cáo đánh giá về căng thẳng Biển Đông của OSAC chỉ được lưu hành nội bộ nhằm giúp Phòng An ninh Ngoại giao của Bộ Ngoại giao Mỹ có biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nước này đang hoạt động trong vùng, theo Washington Free Beacon.

Cũng theo báo cáo này, hiểm họa chính có thể bùng phát từ căng thẳng ở Biển Đông được miêu tả như một “đụng độ vô tình” hoặc một tính toán sai lầm về mặt quân sự rồi từ đó phát triển thành “xung đột”.

“Môt cuộc chiến tranh trên biển khó có thể xảy ra vì chẳng có bên nào hay đồng minh nào hưởng lợi từ cuộc xung đột kéo dài”, OSAC cho hay.

Tình huống có khả năng xảy ra cao nhất từ căng thẳng ở Biển Đông chính là sự gia tăng các động thái quân sự và các phản đối mang tính ngoại giao, theo tính toán của OSAC.

“Chi tiêu ngân sách lớn cho việc mua sắm khí tài quân sự và mong muốn phô diễn sức mạnh quân sự (của các nước có tranh chấp) nhiều khả năng sẽ càng làm tăng thêm việc tiến hành các động thái quân sự”, báo cáo nội bộ của OSAC cho biết.

Tuy nhiên, cơ quan này cũng nhấn mạnh rằng những động thái kể trên “không nhất thiết phải là dấu hiệu của một cuộc xung đột không thể tránh khỏi, nếu các bên có liên quan thiết lập được các quy tắc tránh đụng độ trên biển”. 

Washington Free Beacon dẫn lời ông John Tkacik, cựu chuyên viên về Trung Quốc thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ, dự đoán quân đội Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tiếp tục quấy rối tàu thuyền và máy bay hải quân Mỹ hoạt động ở Biển Đông nhằm “kiểm tra” giới hạn phản ứng của lực lượng Mỹ tại khu vực này.

“Chiến lược của quân đội Trung Quốc là dồn ép Mỹ đến tận đỉnh điểm, rồi sau đó đấu dịu một thời gian để phía Mỹ quen dần”, ông Tkacik nhận định.

“Quân đội Trung Quốc cũng sẽ sử dụng khả năng thu thập thông tin bằng tình báo điện tử để đánh giá giới hạn của Mỹ. Và một khi nhận thấy Mỹ đã dần quen với việc bị dồn ép, quân đội Trung Quốc sẽ gia tăng sức ép mạnh hơn để tạo ra giới hạn mới”, chuyên gia này dự đoán.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Thời đại nào là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc VN?

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2015

Thời đại nào là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc?

Nguyễn Văn Tuấn

9-6-2016

Nếu được hỏi thời đại hay triều đại nào là huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc VN, bạn sẽ trả lời ra sao? Trả lời câu hỏi này hơi khó, vì đòi hỏi kiến thức lịch sử tốt và đánh giá khách quan. Thế nhưng đối với ngài Tổng Trọng thì câu trả lời đã dứt khoát: Thời đại Hồ Chí Minh.

Trong bài diễn văn kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngài tổng bí thư nói “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam,” rồi hình như chưa đủ, nên ngài thêm: “là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (1). Ông giải thích rằng sở dĩ thời đại HCM là vàng son nhất vì VN từ một nước thuộc địa trở thành độc lập, tự do; vì phát triển theo xã hội chủ nghĩa; vì nhân dân từ nô lệ thành người làm chủ đất nước; vân vân.

Cố nhiên, đó là nhận xét và quan điểm của ngài. Có người đồng tình, nhưng tôi nghĩ số người không đồng tình chắc cũng ngang ngửa thậm chí cao hơn số người đồng ý. Những người không đồng tình chắc chắn xem xét đến những sự thật sau đây trong cách nhìn của họ:

Có ai dám chắc là nước ta đã độc lập, khi khái niệm này còn rất mơ hồ. Trong thực tế, VN lệ thuộc vào Tàu một cách đáng sợ về kinh tế và chính trị. Nước ta vẫn theo cái chủ nghĩa đã hết sức sống, mà chỉ cần đọc cái tên của chủ nghĩa đó là làm thế giới nhăn mặt. Khi mà người dân chưa được quyền đi bầu để chọn người xứng đáng thay mặt mình quản lí đất nước thì rất khó nói rằng người dân đã thật sự làm chủ đất nước.

Còn tự do thì chắc chắn nhiều người không đồng ý. Các tổ chức thế giới xếp VN vào những nước có hạn chế tự do báo chí nhất thế giới. Các nước cứ liên tục nhắc nhở VN nên tôn trọng quyền con người của công dân.

Còn về kinh tế, cho đến nay, VN vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới, và đang bị rớt vào cái bẫy thu nhập trung bình. Chẳng những nghèo, mà khoảng cách giữa người giàu và nghèo càng gia tăng. Người dân hiện đang gánh trên vai hàng trăm loại thuế và chi phí, khổ hơn cả thời VN còn là thuộc địa của Pháp.

Một vị thiếu tướng QĐND mới đây phát biểu rằng “Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa” (2).

Vị thế của VN vẫn còn rất thấp. Người VN cầm hộ chiếu VN ra nước ngoài không được chào đón thân thiện như người Nhật, Singapore, Hàn, Thái, Mã Lai, v.v. Hiện nay, VN đứng hạng 81 về hộ chiếu được chấp nhận trên thế giới, tức miễn visa, và thứ hạng này còn thấp hơn cả Lào (hạng 80) và Campuchea (hạng 79). VN đang ở thế bất lợi trên trường quốc tế và không được cộng đồng quốc tế kính trọng. Ngay cả nước láng giếng nhỏ là Kampuchea đã bắt đầu khinh thường và lên lớp VN! VN còn bị xếp hạng vào nước bủn xỉn nhất nhì trên thế giới, chỉ biết ăn xin mà chẳng giúp ai.

Và, người ta khinh VN ra mặt. Mới đây thôi, một viên chức Nhật Bản đặt câu hỏi trước báo chí VN [mà có thể hiểu nôm na] rằng “các anh còn ăn xin đến bao giờ nữa”? Viên chức này còn lên giọng mắng VN như mắng con: “Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN”. Bất quá tam. Là người Việt Nam có tự trọng ai cũng cảm thấy nhục trước lời mắng mỏ đó.

Rất khó nói là thời đại huy hoàng khi mà đất nước đã bị mất mát về biển đảo cho giặc Tàu mà ngài xem là “anh em đồng chí”. Ngài cũng không nhắc đến những mất mát trên đất liền cũng cho cái đất nước mà một số người Việt ngọt ngào gọi là “đồng chí”, là “bạn”.

Ngài tổng không nói đến một thực tế rằng chưa có thời đại nào trong lịch sử dân tộc mà hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi, và hàng trăm ngàn người chết trên biển cả và rừng sâu trên đường tìm tự do. Đó là chưa nói đến hơn 3 triệu người bỏ mạng trong cuộc chiến huynh đệ mà đến nay vẫn chưa được đặt tên.

Chưa có thời đại nào mà hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam bỏ quê đi làm vợ cho ngoại nhân Hàn, Đài, Tàu như hiện nay. Cũng chưa có thời đại nào mà nhân phẩm của người phụ nữ VN bị rẻ rúng và nhục nhã như hiện nay, được quảng cáo trên báo chí quốc tế như là những món hàng.

Những sự thật trần trụi và gần gũi đó (vẫn chưa đủ) cho thấy chúng ta khó có lí do để tự tuyên bố rằng thời đại HCM là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.

Vậy thì câu hỏi là thời đại nào đáng tự hào và huy hoàng nhất?

Thoạt đầu, tôi nghĩ ngay đến triều đại Nhà Lý, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy triều đại Trần Nhân Tông mới là huy hoàng nhất. Ông là một vị vua anh hùng, vì đánh thắng quân Tàu và bảo vệ đất nước. Ông là một vị vua nhân từ, không trả thù giặc và đối xử đàng hoàng với đối phương trong nước. Ông là người có công chấn hưng Phật giáo và xiển dương văn học. Quan trọng hơn hết, ông là người xây dựng một nước Việt cường thịnh và bảo vệ sự vẹn toàn của tổ quốc. Ông còn nổi tiếng với câu nói “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau.” Rất tiếc là ngày nay trong những người cầm quyền có còn mấy ai nhớ đến lời căn dặn của vua Trần Nhân Tông.

===

(1) http://vov.vn/chinh-tri/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-ky-niem-sinh-nhat-bac-401809.vov

(2) http://dantri.com.vn/blog/cuoi-len-dau-nhan-dan-con-kinh-khung-hon-dia-chu-tu-san-1078048.htm

Comment

T Chan Ngo

Ngoài những chuyện gs đã kể trên, chắc cũng không có thời đại nào mà có nạn trẻ con VN bị đem bán làm nô lệ tình dục khắp Đông Nam Á như hiện nay. Linh mục Nguyễn Bá Thông là người đứng đầu tổ chức One Body Village, ông thường giả dạng khách làng chơi để cứu các em ra cho ăn học và phục hồi tâm lý. Mời quý vị coi một vài video clips có liên quan đến một vấn nạn không thể chấp nhận được trong cái thời đại gọi là “vàng son”, nhưng toàn nước là mắt này!
(1) https://youtu.be/C-xWzaBuzOc?t=7m40s
(2) https://www.youtube.com/watch?v=6rx67NlUE9Q
(3) https://youtu.be/LJupehp5QHA?t=2m30s
Còn công nhân VN thì bị bóc lột, đối xử như nô lệ ở nước ngoài, kêu trời không tới! (4) https://www.youtube.com/watch?v=8FN3QRcJ6Ac

@  Bác tổng thì ca ngợi vậy, chứ khi mà đòi làm luật biểu tình, luật trưng cầu dân ý thì đảng bảo dân trí thấp quá, chưa làm được. 

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »