Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu 6th, 2015

►Sinh viên Trung Quốc đòi công lý cho vụ thảm sát Thiên An Môn -Kẻ giết người phải bị xét xử

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

 
 

Một nhóm sinh viên đại học Trung Quốc du học ở nước ngoài đang phổ biến một bức thư ngỏ kêu gọi các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản phải nhận lãnh trách nhiệm về những hành vi tàn ác đã phạm cách đây đúng 26 năm, khi lực lượng Trung Quốc giải tán người biểu tình đòi dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn.

Bức thư do sinh viên cao học trường Đại học Georgia viết và có chữ ký của 10 sinh viên khác, là cố gắng mới nhất để chống lại chiến dịch tuyên truyền ráo riết vây quanh vụ việc trong đó hàng trăm và có thể cả hàng ngàn người biểu tình ôn hòa đã bị sát hại.

Bắc Kinh không cho phép công khai bàn luận hay tưởng niệm vụ Quân đội Giải phóng Nhân dân thảm sát sinh viên biểu tình vào tháng 6 năm 1989. Các sinh viên này tụ tập ở trung tâm Bắc Kinh và các nơi khác khắp nước đòi cải cách dân chủ và chấm dứt nạn tham nhũng tràn làn trong các giới chức.

Kết quả là, nhiều người Trung Quốc trẻ tuổi không biết ngay cả các chi tiết cơ bản của sự kiện được coi như một trong những thời khắc quyết định nhất trong lịch sử đảng Cộng sản Trung Quốc. Những người viết bức thư hy vọng nỗ lực của họ sẽ giúp gia tăng nhận thức quần chúng ở Trung Quốc.

Kẻ giết người phải bị xét xử

Chân dung các nạn nhân ngày 4 Tháng 6, 1989 đẫm máu tại viện Bảo tàng tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn ở Hồng Kông.Chân dung các nạn nhân ngày 4 Tháng 6, 1989 đẫm máu tại viện Bảo tàng tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn ở Hồng Kông.

Bức thư viết, “Càng biết nhiều, chúng tôi càng cảm thấy chúng ta gánh một trách nhiệm nghiêm trọng trên vai. Hỡi các bạn sinh viên đại học trong nước, chúng tôi viết bức thư ngỏ này để chia sẻ sự thực với các bạn và phơi bày các tội ác đã phạm cho tới ngày hôm nay, liên quan đến vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989.”

Bức thư viết tiếp: “Chúng tôi không yêu cầu đảng Cộng sản Trung Quốc đền bù lại những sự kiện đã xảy ra vào mùa xuân ấy, bởi vì chúng tôi không trông mong những kẻ giết người sẽ thanh minh cho những người đã chết, nhưng những kẻ giết người phải bị xét xử. Chúng ta không quên, cũng không tha thứ, cho đến khi nào đạt được công lý và cuộc đàn áp đang tiếp diễn phải chấm dứt.”

Bức thư đã được phổ biến bên trong Trung Quốc dưới dạng PDF, một hình thức hồ sơ đã giúp vượt qua dễ dàng những cơ quan kiểm duyệt gay gắt của Trung Quốc. Hồ sơ cũng đã nhiều người đọc hơn sau khi nhật báo Global Times của đảng Cộng sản viết một bài xã luận đả kích bức thư.

Báo Bắc Kinh đả kích ‘Các Lực lượng Thù địch Nước ngoài’

Báo Global Times, với các bài xã luận thường phản ánh các ý kiến chính thức, đả kích những “quan điểm cực đoan” về vụ Thiên An Môn. Bài báo viết, “Bức thư của sinh viên đả kích gay gắt chế độ đương thời của Trung Quốc, bóp méo các sự kiện cách đây 26 năm với những lời tường thuật của các lực lượng thù địch nước ngoài.”

Bài báo nói thêm, “Nếu bức thư thực sự do một vài sinh viên nước ngoài viết, chúng ta phải nói rằng những người trẻ tuổi ấy đã bị tẩy não ở các nước ngoài, bắt chước nhóm thiểu số nghi kỵ ở nước ngoài.”

Giới hữu trách kiểm duyệt Trung Quốc sau đó đã yêu cầu gỡ bỏ bài báo Global Times khỏi các cổng thông tin trên mạng, theo trang web của China Digital Times, có lẽ bởi vì bài báo lại có tác dụng ngược lại với ý đồ của nó.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, khi đề cập đến vụ Thiên An Môn, thường tìm cách biện minh cho vụ trấn át tàn bạo của Quân đội Giải phóng Nhân dân bằng cách nêu bật tiến bộ ồ ạt về kinh tế mà giới lãnh đạo đảng Cộng sản đã đạt được trong những thập niên sau đó.

Cựu Phụ tá viết bài Xã luận nghiêm khắc

Nhân viên y tế đứng cạnh thi thể của những người biểu tình bị sát hại tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4/6/1989.Nhân viên y tế đứng cạnh thi thể của những người biểu tình bị sát hại tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4/6/1989.

Một cố vấn lâu năm cho cựu thủ tướng Triệu Tử Dương tuần này đã chống đối lập luận đó. Trong một bài xã luận đăng trên báo New York Times, ông Bao Đồng nói, “nhiều người cầu mong giới lãnh đạo đảng tự nguyện thú thực sự bất công và tính phi pháp của những vụ giết hại đó.”

Ông nói, “Đây cũng là hy vọng của tôi. Nhưng tôi không lạc quan, bởi vì cho đến giờ này, chưa có mấy dấu hiệu gợi ý là điều này sẽ xảy ra.”

Ông Bao cũng lên án điều ông gọi là “tình trạng tham nhũng từ trên xuống dưới” của đảng Cộng sản, mà ông cho là đã giúp các giới chức có thế lực cùng với thân nhân của họ làm giàu bất kể người khác.

Bắc Kinh đã phát động một chiến dịch mạnh để diệt trừ tình trạng tham nhũng trong các giới chức. Nhưng chiến dịch này sẽ không có hiệu quả, theo ông Bao, một phần vì các công dân độc lập bị đối xử như tội phạm nếu họ tố giác tham nhũng.

Ông nói, “Các phong trào chống tham nhũng của quần chúng đã bị đàn áp gay gắt, giống như hồi năm 1989.”

Ông Bao từng là phụ tá của cựu thủ tướng Triệu Tử Dương, người đã có một chủ trương hòa giải hơn đối với những người biểu tình Thiên An Môn và sau đó đã bị cố lãnh tụ Đặng Tiểu Bình lật đổ.

Trong bài xã luận trên tờ New York Times, phát hành hôm qua, ông Bao nói trong tháng trước, ông đã bị ngăn không cho trả lời phỏng vấn. Truyền thông Hong Kong sau đó nói ông là một trong nhiều nhân vật bị buộc phải rời khỏi thủ đô Trung Quốc trước ngày kỷ niệm vụ thảm sát hôm nay.

Việc Bắc Kinh truy lùng và tạm thời làm biệt tích các nhân vật nhạy cảm đã trở thành lệ thường đối với Bắc Kinh trước ngày kỷ niệm Thiên An Môn.

Advertisements

Posted in Thiên An Môn - Trung Quốc | Leave a Comment »

►Bùi Tín – Bàn về hai chữ: Giác ngộ (gửi các đảng viên CS, các đồng chí cũ)

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

Tôi từng ở trong Đảng CS từ tuổi 20, ở trong Đảng 44 năm, 65 tuổi mới thoát Đảng, trở thành người tự do 25 năm nay. Có người bảo là quá chậm, còn chê vui là “sao mà ngu lâu thế !”, nhưng tôi chỉ mỉm cười, tự nhủ mình ngu lâu thật, nhưng vẫn còn sớm hơn hàng triệu đảng viên hiện còn mang thẻ đảng viên CS cuối mùa. Nghĩ mà tội nghiệp cho các đồng chí cũ của tôi quá, sao lại có thể ngu mê, ngủ mê lâu đến vậy.

Năm nay tôi tự làm “cuộc kỷ niệm” độc đáo, về thời điểm cuộc đời tôi, đến năm nay 2015, tính ra đã đạt một nửa đời (20 năm đầu đời cộng với 25 năm ở nước ngoài ) là 45 năm không có dính dáng gì đến đảng CS. Tôi đã lãng phí gần nửa đời người – gần 45 năm cho những hoạt động lầm lỡ, sai trái, tệ hại vì hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử, cũng do sự u mê, ngu lâu của bản thân mình.

Nhân kỷ niệm riêng độc đáo này, tôi nghĩ đến vô vàn đồng chí CS cũ của tôi, và viết bài này gửi đến các bạn như một buổi nói chuyện cởi mở, tâm huyết, mong được trao đổi rộng rãi với các bạn cũng như với các bạn trẻ trong Đoàn Thanh niên CS mang tên ông Hồ Chí Minh.

Câu chuyện sẽ xoay quanh hai chữ: Giác ngộ.

Giác ngộ là hai chữ tôi nghe rất nhiều lần khi được tuyên truyền về Đảng CS , về chủ nghĩa CS. Các vị đàn anh giải thích con người tốt phải là con người giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là nhận ra lý tưởng cho cuộc đời minh. Tuổi trẻ cần có lý tưởng, hiểu rõ con đường cần chọn, hiểu rõ tổ chức cần tham gia, không bỏ phí cuộc đời minh. Đó là con đường Cộng Sản, dẫn đến độc lập cho đất nước, hạnh phúc cho toàn dân, họ rao giảng triền miên như thế, chúng tôi cũng cả tin là thế thật.

Theo học các chương trinh và lớp học cho đảng viên mới, cho cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao cấp của đảng, bao giờ giảng viên cũng nhắc đến hai chữ giác ngộ. Học, học nữa, học mãi để nâng cao không ngừng trình độ giác ngộ của mỗi người. Đảng viên phải có trình độ giác ngộ cao hơn quần chúng ngoài đảng. Đảng viên mới luôn được học kỹ tấm gương của anh thanh niên Lý Tự Trọng, với nét nổi bật nhất là giác ngộ CS từ tuổi thiếu niên, rồi biết bao tấm gương của những chiến sỹ CS ưu tú, bất khuất trong các nhà tù thực dân ở Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Kon Tum…giác ngộ cách mang cao, nhà tù, máy chém không nao núng, biến nhà tù thành trường học nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bất khuất, kiên cường.

Trong các bản khai lý lịch cá nhân, mỗi đảng viên thường kể lại bản thân mình được giác ngộ ra sao, được ai giác ngộ, giác ngộ đến mức nào, và luôn kết luận với lời hứa không ngừng học tập, tu luyện, tự phê bình và phê bình để không ngừng nâng cao trinh độ giác ngộ của bản thân.

Tôi kể ra như thế để thấy hai chữ giác ngộ có tác dụng sâu sắc ra sao đối với mỗi đảng viên CS. Hai mươi nhăm năm nay, tôi hồi tưởng lại quãng đời 44 năm là đảng viên CS, theo dõi chặt chẽ thời cuộc hằng ngày trong nước và thế giới, tôi không khỏi cảm thấy chua chát và cay đắng về hai chữ giác ngộ.

Giác ngộ hình như là một chữ Đảng CS mượn của Đạo Phật. “Giác” là nhận thấy, cảm nhận, thấy rõ, “ngộ” là tỉnh ra, nhận ra lẽ phải, chân lý để làm theo.

Sau khi là con người tự do, là nhà báo tự do, kết thân với nhiều nhà báo tự do của thế giới, các nhà báo tự do Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Hoa, Ba Lan, Tiệp …, tôi tìm đọc các kho tư liệu lưu trữ quý ở Paris, Moscow, London, Washington… rồi suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình, của riêng mình, không sùng bái bất cứ một người hay một học thuyết nào. Từ đó tôi giác ngộ không biết bao nhiêu điều mới mẻ, và lần này tôi thật sự có cảm giác sâu sắc về hạnh phúc tinh thần tiếp cận được ngày càng nhiều sự thật, lẽ phải, chân lý. Tôi đã tự giác ngộ mình.

Nhìn lại 44 năm quá khứ CS của mình, tôi nhận rõ có không ít điều tôi giác ngộ, cho là đúng, thì khốn thay, hầu hết đều là lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác.

Như chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản kiểu mác-xít đều là những học thuyết chủ quan, lầm lẫn, hoàn toàn nguy hại trong thực tế, cổ xuý đấu tranh giai cấp cực đoan và bạo lực, đi đến chiến tranh, khủng bố, đổ máu, hận thù. Giữa thủ đô Washington, tôi cùng anh Cù Huy Hà Vũ đã viếng Tượng đài Kỷ niệm hơn 100 triệu nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa CS hiện thực, trong đó có hàng triệu nạn nhân đồng bào Việt ta. Tượng đài nhắn nhủ toàn nhân loại hay cảnh giác với chủ nghĩa CS, tai họa của toàn thế giới.

Tháng 5/2015, Tổng thống Ukraine, một nước cộng sản cũ, đã ký Luật cấm tuyên truyền về chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản như trong thời kỳ trong Liên bang Xô Viết từ 1917 đến 1991, coi đó là thời kỳ bi thảm, sai lầm và Tội Ác. Các tượng đài, di tích thời kỳ ấy đều bị phá bỏ. Các sự kiện ấy giúp tôi khẳng định việc thoát đảng CS của tôi là chuẩn xác và giúp tôi thấy Dự thảo văn kiện sẽ đưa ra Đại hội XII sắp đến là lạc hậu, lẩm cẩm và cực kỳ nguy hại cho đất nước, cho nhân dân, cho chính Đảng CS ra sao.

Tôi không thể hiểu vì sao, sau khi Giáo sư Trần Phương, từng là Phó Thủ tướng, là uỷ viên Trung ương Đảng, đã chứng minh rành mạch rằng chủ nghĩa Mác, Lênin, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa CS đều là ảo tưởng sai lầm, nguy hại, hay vì sao sau khi đương kim Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã công khai cho rằng :” Cái chủ nghĩa Xã hội và cái định hướng Xã hội chủ nghĩa làm gì có trong thực tế mà đi tim cho mất công ! “, vậy mà Bộ Chính trị vẫn cứ khẳng định trong văn kiện Đại hội XII rằng ” kiên định chủ nghĩa Mác, Lênin, kiên định chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa CS là lập trường không thể thay đổi “, một thái độ ngoan cố, cổ hủ, tối tăm, buộc toàn đảng phải đi theo sự lẩm cẩm dai đẳng nguy hại của minh.

Ngay đối với thần tượng Hồ Chí Minh, tuy tôi biết rằng đây là bình phong cố thủ lợi hại của thế lực bảo thủ trong đảng CS do tệ sùng bái cá nhân ăn quá sâu trong quần chúng, tôi vẫn thấy cần và có thể thuyết phục ngày càng đông đảo bà con ta nhận ra sự thật. Sự thật là ông HCM không phải là thánh thần. Ông là con người với những tốt xấu, mạnh yếu, đúng sai của minh. Ông đã lầm lẫn khi chọn con đường CS, khi lao quá sâu rồi không dám quay lại nữa. Ông đã xa rời lập trường dân tộc, thực hiện lập trường giai cấp cực đoan, đặt ảo tưởng vào giai cấp vô sản quốc tế, và mù quáng đặt niềm tin ở 2 ông Anh lớn Stalin và Mao, 2 con Quỷ Đỏ mà ông cho là “không bao giờ có thể sai”.

Mới đây, có 2 sự kiện minh họa rõ thêm bản chất con người thật HCM. Nhà báo Trần Đĩnh từng gần gũi ông Hồ kể lại ông từng cho rằng không thể giết bà Năm – Cát Hanh Long để mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất, bà lại là ân nhân của đảng CS, – ông còn văn hoa nói: “Không nên đánh phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa”. Vậy mà theo Trần Đĩnh, chính ông Hồ đã viết bản Cáo trạng kết án Bà Năm:”Địa chủ ác ghê”, ký tên CB (của Bác- Bác Hồ) trên báo Nhân Dân của Đảng. Cũng theo Trần Đĩnh, ông Hồ đã cải trang, mang kính râm đích thân đến dự cuộc xử bắn bà Năm. Vậy ông Hồ là con người thế nào? Nói một đằng làm một nẻo, lá mặt lá trái, tử tế hay không tử tế? đạo đức hay vô đạo đức?

Nhà triết học uyên bác bậc nhất nước ta Trần Đức Thảo trước khi từ giã cõi trần đã kể trong cuốn Những lời trăng trối (do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê ghi âm) rằng ông đã gặp ông Hồ, quan sát, nghiên cứu sâu về tư tưởng, hành vi, đạo đức của ông Hồ, và đi đến kết luận vững chắc rằng ông Hồ là “con Người muôn mặt, lắm mưu mô, nhiều tham vọng quyền lực, nhiều điều bí hiểm, lắm tên nhiều họ, ẩn hiện khôn lường, lắm vợ, nhiều con, rất phức tạp”, là một “Tào Tháo của muôn đời”. Ông Trần Đức Thảo cho rằng đảng CS kêu gọi cả nước học tập đạo đức HCM, vậy là muốn biến cả nước thành Tào Tháo hết cả ư! Thế thật thì nguy cho dân tộc ta quá ! Ý kiến của nhà triết học này thật thỏa đáng.

Tôi có nhiều lý do để quí trọng ông Hồ. Tôi từng gặp ông khá nhiều lần, khi là phóng viên thời sự quốc tế, vào Dinh Chủ tịch dự chiêu đãi ông Lưu Thiếu Kỳ, ông Alexei Kosigyn hay các nhà báo Pháp, Nga, Trung Quốc. Năm 1957 khi ông vào Vinh thăm bộ đội Quân khu IV tôi được giao chuẩn bị bài nói chuyện của ông trước cán bộ quân khu, khen ngợi thành tích giúp dân gặt lúa, chống bão, lụt và diễn tập ở giới tuyến, ông liếc qua bản viết, khen đãi bôi :” Chú văn hay chữ tốt nhỉ !” rồi đút vào túi. Hơn nữa, cha tôi có quan hệ mật thiết với ông Hồ. Ông từng ngỏ lời mời cha tôi ra tham chính từ những ngày đầu Cách mang tháng Tám. Cha tôi lưỡng lự, do quan niệm Nho giáo “Trung thần không theo hai Vua”, nhưng ông Hồ vẫn cử ông Bộ trưởng Tư pháp Vũ Trọng Khánh, rồi ông Vũ Đình Huỳnh mang thư riêng đến. Chính ông Hồ đề cử cha tôi thay Cụ Nguyễn Văn Tố làm nhiệm vụ Chủ tịch Quốc hội sau khi Cụ Tố bị lính Pháp bắn chết. Nhưng tôi không thể vì những chuyện riêng tư ấy mà làm sai lạc sự đánh giá công bằng, khách quan, chuẩn xác của chính mình.

Không một học thuyết nào, không một cá nhân lãnh tụ nào có thể được đặt trên dân tộc và nhân dân. Do yêu nước thật lòng, thương đồng bào Việt mình thật lòng nên sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi đi đến kết luận dứt khoát, sòng phẳng rằng ông HCM là một nhân vật tiêu cực trong lịch sử VN. Ông có phần trách nhiệm lớn làm cho đất nước lâm vào chiến tranh, do ông chọn con đường CS của Đệ Tam Quốc tế nên mới bị thế giới Dân chủ sớm đặt VN ta trong Chiến lược Be bờ ngăn chặn CNCS (Containment of Communism Strategy). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do ông dựng lên thật ra không phải là chế độ dân chủ, mà còn là chế độ độc đoán toàn trị do đảng CS độc quyền cai trị, đến nay vẫn chưa có tự do ngôn luận, tự do ứng cử và bầu cử, tự do xuất nhập cảnh, tự do tôn giáo, không thực hiện chế độ pháp quyền nghiêm minh, đảng CS nắm trọn cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, còn thêm quyền thứ tư là ngôn quyền. Các tổ chức xã hội dân sự tự phát đang lớn mạnh cùng các nhà dân chủ từ lão thành đến trẻ tuổi đang cùng các cựu đảng viên CS đã thoát đảng tự đặt cho mình nghĩa vụ trước Dân tộc và Lịch Sử chung sức mở ra Kỷ Nguyên Dân chủ và Tự Do cho nước Việt Nam ta.

Tôi tha thiết kêu gọi tất cả các đảng viên CS nhân các cuộc họp Đại hội Đảng các cấp từ chi bộ, đảng bộ cơ sở đến Đại Hội toàn quốc hãy thắp sáng lên ngọn đèn Giác ngộ mới mẻ, manh dạn xoá bỏ những điều giác ngộ cũ kỹ, lạc hậu, giáo điều, lẩm cẩm, mê muội rất có hại, như kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản mác-xít, sùng bái nhân vật HCM, kiên trì chế độ toàn trị độc đảng lạc lõng, tệ hại.

Đó chính là sự giác ngộ cần thiết cấp bách hiện nay. Trong các cuộc họp bàn, góp ý vào các văn kiện dự thảo, chớ bị lừa dối khi nghe lãnh đạo tuyên truyền rằng các văn kiện đã tiếp thu hàng triệu ý kiến xây dựng, đã được nhất trí cao, không cần bổ sung, sửa chữa gì nhiêu, “do kẻ xấu và bọn phản động xúi giục”. Cần nhận rõ nội dung các văn kiện mới là điều kiện sinh tử của đảng, quan trọng hơn vấn đề nhân sự nhiều, vì vận mệnh đất nước, quyền lợi của toàn dân phụ thuộc vào học thuyết chính trị, vào đường lối đối nội, đối ngoại, vào các quốc sách chính trị, kinh tế tài chính, đối ngoại, xã hội và văn hoá đạo đức. Kiên quyết từ bỏ, gột rửa những điều giác ngộ cũ, nhận rõ đó chỉ là những học thuyết sai lầm tệ hại trong thực tế cuộc sống, những tà thuyết đã bị thế giới nhận diện, lên án, loại bỏ, ta không có một lý do nào để gắn bó, quyến luyến, tiếc thương.

Xin các bạn chớ sợ mình đơn độc, thiểu số trong các cuộc họp. Chân lý ban đầu bao giờ cũng là thế. Các bạn chính là những hạt kim cương trong khối quặng đen. Hãy dũng cảm thắp lên ngọn đèn giác ngộ mới, tiên tiến. Các bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc sâu lắng khi dần dần chính kiến của bạn được lan tỏa trở thành chân lý, sự giác ngộ của số đông.

Buổi tâm sự về hai chữ giác ngộ xin tạm ngừng ở đây, mong có ích trong khêu gợi những ý kiến mới mẻ trong tư duy của các bạn về hiện tình đất nước, về con đường cần chọn cho dân tộc, cho Quê hương, để đất nước phát triển mạnh mẽ trong cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho mỗi công dân, mỗi gia đình chung hưởng.

Bùi Tín Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Thế lưỡng nan của Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

Lê Diễn Đức

Tàu nạo vét của Trung Quốc đang xây dựng một hòn đảo ở vùng biển xung quanh Đá Vành Khăn ở Quần đảo Trường Sa – Ảnh: US Navy

Tiếp theo sự kiện giàn khoan HD 981 năm 2014 được lắp đặt trong khu vực chủ quyền của Việt Nam, từ một năm qua, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng các đảo trên các bãi đá tại Biển Đông và bồi đắp trái phép hơn 800 héc ta. Trong tháng 4, quân đội Trung Quốc đã hoàn tất một đường băng có thể tiếp nhận máy bay quân sự.

Âm mưu thôn tính Biển Đông của Trung Quốc đã có từ rất lâu với thuyết đường lưỡi bò 9 đoạn bao gồm 80% lãnh hải Biển Đông, xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và một phần quần đảo Trường Sa năm 1998.

Giấc mộng làm bá chủ, kiểm soát lưu thông hàng hải của Trong Quốc đang là thực tế hiển nhiên và nhà cầm quyền Trung Quốc cũng không giấu giếm tham vọng của mình, tất nhiên, dưới một cái cớ khác là “dựa trên bằng chứng lịch sử”.

Sách trắng về Đường lối Quân sự Trung Quốc do Bộ Quốc Phòng Trung Quốc ban hành ngày 26 tháng 5, cho thấy những lợi ích của Trung Quốc gắn liền với sự bành trướng ảnh hưởng lên toàn cầu, lôi kéo Đài Loan, mở rộng sự kiểm soát quân sự đối với hai vùng biển là Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Tại cuộc Đối thoại Shangri-La mới đây, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ashton Carter đã kêu gọi Trung Quốc chấm dứt hoạt động cải tạo các hòn đảo, bãi đá trên Biển Đông cũng như hành động vi phạm “các chuẩn mực và luật pháp quốc tế vốn đang làm tổn hại tới cấu trúc an ninh tại châu Á – Thái Bình Dương, và những đồng thuận trong khu vực về sử dụng biện pháp ngoại giao, phản đối sự ép buộc”.

Trước phát biểu của ông Ashton Carter, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh đã tuyên bố rằng, “hoạt động xây dựng trên Biển Đông của Trung Quốc nằm trong quyền chủ quyền của Trung Quốc và các hoạt động này là hợp pháp, hợp lý và phù hợp”.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, thậm chí còn tuyên bố, bất kỳ nỗ lực nào của Mỹ hòng ngăn cản Trung Quốc xây dựng trên khu vực Biển Đông thì kết cục không thể tránh khỏi sẽ là chiến tranh.

“Nếu mục tiêu cuối cùng của Mỹ đó là Trung Quốc phải ngừng các hoạt động của mình, thì chiến tranh Mỹ – Trung trên Biển Đông là không thể tránh khỏi”. “Cường độ của cuộc xung đột sẽ lớn hơn nhiều những gì người ta thường nghĩ tới về một vụ va chạm”, tờ báo viết.

Rõ ràng, trên mặt trận ngoại giao Mỹ và Trung Quốc đang thực hiện những cuộc đấu khẩu, thách thức nhau và đồng thời cũng tiến hành một số động tác diễu võ giương oai như việc Trung Quốc mang vũ khí tới các đảo đang xây dựng, đuổi máy bay do thám của Mỹ trong khu vực 12 hải lý, hay Mỹ sẵn sàng điều động máy bay, chiến hạm tới Biển Đông.

Về thực chất, tôi cho rằng, khó có khả năng đụng độ quân sự trên Biển Đông giữa Mỹ và Trung Quốc, ít nhất trong nhiệm kỳ của Tổng thống Barack Obama.

Mỹ là một cường quốc kinh tế và quân sự, đồng thời công nghệ quốc phòng vẫn vượt trội so với Trung Quốc, nhưng Mỹ sẽ không mở một cuộc chiến tranh chống lại Trung Quốc vào thời điểm hiện nay, với cái giá phải trả sẽ quá đắt. Thứ nhất, tiềm lực quân sự của Trung Quốc có khả năng đối đầu và gây thiệt hại. Thứ nhì, các lợi ích kinh tế đang ràng buộc hai quốc gia này quá lớn để có thể dẫn đến sụp đổ và gây ảnh hưởng tiêu cực lên toàn thế giới.

Mặt khác nếu Trung Quốc khai hoả mở chiến tranh với Mỹ thì sẽ là một hành động tự sát. Tất cả mọi phương tiện, kể cả 250 dầu đạn hạt nhân của Trung Quốc, chưa phải là đối thủ của Mỹ. Kinh tế của Trung Quốc sẽ suy sụp nếu chiến tranh Trung-Mỹ xảy ra và sự nổi loạn của xã hội Trung Quốc là khó tránh khỏi.

Cho nên cả hai bên sẽ cùng thách đố nhau nhưng việc anh anh cứ làm, việc tôi tôi cứ làm, dù cường độ có thể gia giảm tuỳ mức độ căng thẳng của tình hình.

Mỹ lên tiếng và có hành động đe doạ là cốt kìm hãm sự tiếp tục của Trung Quốc trong vấn đề xây dựng đảo để khẳng định chủ quyền trên Biển Đông, gây nguy hại cho tự do hàng hải trong một vùng chiếm tới 40% vận chuyển thương mại thế giới từ trước đến nay. Thế nhưng Bắc Kinh sẽ không từ bỏ mưu đồ của mình và đang đặt Mỹ vào thế lưỡng nan.

Theo Richard Fisher, thành viên cấp cao của Trung tâm Chiến lược và Đánh giá Quốc tế, Mỹ còn rất ít thời gian để đối phó. Ông nói rằng, Mỹ chỉ có một khung thời gian ngắn để hành động.

“Trung Quốc vẫn sẽ tiếp tục phớt lờ chúng ta, tiếp tục xây dựng nhiều căn cứ hơn, và tiếp tục kiểm soát khu vực này khi họ có điều kiện để làm điều đó”, Fisher nhận định.

Mặc dù ông Fisher cho rằng “đây là chuỗi sự kiện phải ngăn chặn ngay lập tức”, nhưng Mỹ sẽ chẳng làm gì khác ngoài việc duy trì sự hiện diện và các hành động mang tính răn đe, sẽ tiếp tục tuần tra Biển Đông, từ trên không phận cũng như vùng biển chung quanh các khu vực quần đảo Trường Sa và hợp tác quân sự mạnh mẽ hơn với các đồng minh Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines, Indonesia…

Lời phát biểu ngày 01 tháng 06/2015 tại Tòa Bạch Ốc của Tổng thống Obama trong lúc tiếp kiến những nhà lãnh đạo trẻ vùng Đông Nam Á, khá mềm mỏng trước những sự kiện được cho là nóng bỏng.

Barack Obama nói hoà bình và ổn định, trong đó có tự do hàng hải ở Biển Đông, đã giúp cho khu vực này được thịnh vượng trong mấy mươi năm qua. Ông cũng cảnh cảnh báo sự thịnh vượng của vùng Đông Nam Á có thể gặp rủi ro vì các nước trong khu vực thực hiện những hoạt động lấp biển để lấy đất và tìm cách khẳng định chủ quyền đối với những khu vực ở Biển Đông có tranh chấp.

“Và, sự thật là, Trung Quốc sẽ thành công. Họ lớn, họ mạnh. Dân họ có tài và họ làm việc chăm chỉ, và có thể một số yêu sách của họ là chính đáng. Nhưng, họ không nên tìm cách xác lập điều đó bằng cách hiếp đáp, xua đuổi người khác. Nếu quả thật là những yêu sách của họ là chính đáng, các nước sẽ công nhận” – Barack Obama nói.

Bài viết “China’s Island Building Poses Dilemma for U.S.” trên tờ Wall Street Journal ngày 31 tháng 5 đề cập tới mâu thuẫn nội bộ trong Chính phủ Obama, có nhiều ý kiến trái ngược về cách đối phó với Trung Quốc. Có phe cho rằng Mỹ phải cương quyết cứng rắn với Trung Quốc, nhưng cũng có phe ngả theo ý không nên quá cứng rắn mà nên chia vùng ảnh hưởng với Trung Quốc!

Việt Nam nằm trong áp lực của cả hai phía về tranh chấp Biển Đông. Về quân sự, Việt Nam chưa đủ tiềm lực và cũng không muốn đối đầu với Trung Quốc trên biển, về kinh tế hoàn toàn lệ thuộc và gắn bó lợi ích. Cho nên Hà Nội chỉ khoa trương trên mặt trận ngoại giao, phản đối mồm về hành động của Trung Quốc và ra vẻ ủng hộ lập trường các nước khác liên quan đến vấn đề an ninh Biển Đông. Hà Nội thật sự bất lực trước sự chiếm đóng thực tế và vĩnh viễn Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc.

Hà Nội, bám lấy Trung Quốc để duy trì hệ thống chính trị và lợi ích, nhưng trong tư thế làm điếm mà lại không muốn bị hiếp đáp quá nên phải đu dây với Mỹ mà thôi.

Những ai cho rằng nếu chiến tranh Trung-Mỹ, vấn nạn độc tài cộng sản sẽ được giải quyết, là ngộ nhận. Trong lịch sử không đặt ra chữ “nếu”.

© Lê Diễn Đức – RFA

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri | Leave a Comment »

►Thư Hồ Chí Minh gửi Stalin về chương trình cải cách ruộng đất tại Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

 

Một người bạn thân của tôi nói rằng hiện nay tư liệu về Hồ Chí Minh rất nhiều nên việc giải thiêng không còn cần thiết nữa. Theo tôi, người bạn này sống chủ yếu ở Mỹ nên mới nói như vậy. Bởi vì, một người bạn khác, là giảng viên đại học ở Việt Nam, cho biết rằng sinh viên đang hào hứng tham gia cuộc thi tìm hiểu chủ nghĩa Mác-Lê nin. Dĩ nhiên là tìm hiểu theo định hướng của đảng. Đồng thời, cá nhân tôi, khi tìm thông tin trên mạng thì thấy phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh hiện đang được thực hiện một cách rầm rộ ở các trường đại học khắp cả nước, từ Bắc chí Nam.

Tư liệu về Hồ Chí Minh nhiều, nhưng ở Việt Nam, sách lịch sử chính thống và báo chí chính thống chỉ cho phép công bố và truyền bá những tư liệu được phép của Ban Tuyên giáo. Hãy hình dung rằng cả thế giới biết việc Marx có con riêng, nhưng báo chính thống Việt Nam không thể đăng thông tin đó. Marx hay Hồ Chí Minh đều bị kiểm duyệt, nếu các thông tin làm ảnh hưởng tới cái gọi là « tư tưởng Marx-Lê nin » và « tư tưởng Hồ Chí Minh » mà đảng đã và đang tuyên truyền. Môn lịch sử, cũng như mọi môn khoa học xã hội khác, được dùng làm công cụ tuyên truyền trong các chế độ toàn trị cộng sản. Thậm chí, cách vận hành của hệ thống toàn trị khiến cho bản thân lịch sử cũng biến mất. Đến mức Václav Havel nói rằng trong chế độ toàn trị « không có lịch sử ».

Sẽ rất nhầm lẫn nếu cho rằng người dân Việt Nam hiện nay đã hiểu rõ chế độ của mình. Đáng tiếc, sự thật là, chỉ có một số rất ít người nhìn thấy bản chất của chế độ.

Đấy là lý do khiến những người đấu tranh cho dân chủ ở trong nước nghĩ rằng cần phải đi con đường khai minh, thông qua giáo dục. Tuy nhiên, bế tắc là ở chỗ, một khi trường học bị biến thành công cụ tuyên truyền của chính quyền, với sự hỗ trợ các tổ chức đảng, của bộ máy an ninh mật, an ninh văn hóa và cảnh sát, thì việc khai minh qua con đường giáo dục trên thực tế sẽ bị cản trở, thậm chí không thể tiến hành được. Hoặc nếu thực hiện được thì cũng chỉ nửa vời, bởi bản thân sự hợp tác, trong xã hội toàn trị, đã bao hàm trong nó sự thỏa hiệp. Nan đề là ở chỗ : sự thỏa hiệp không cho phép thực hiện được mục đích giáo dục khai minh và giáo dục tự do. Liệu có thể giải quyết được nan đề, vừa thỏa hiệp với quyền lực toàn trị vừa thực hiện được một nền giáo dục đích thực ?

Một trong những con đường có thể có hiệu quả hiện nay là truyền thông tự do trên mạng (trong đối lập với truyền thông tuyên truyền chính thống). Đại lộ thông tin internet là không gian mà những người muốn tiến hành các chương trình khai minh, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí cần sử dụng. Ngoài ra, mọi con đường đều dẫn tới thành Rome. Câu hỏi có lẽ là: bao giờ những người hiện đang đi trên những con đường khác nhau có thể kết nối lại với nhau?

Những người muốn xây dựng Việt Nam thành một quốc gia độc lập, phát triển về kinh tế, khoa học, văn hóa, muốn xây dựng một xã hội dân chủ tại Việt Nam, cần đối diện với khó khăn to lớn này : việc bưng bít thông tin, truyền thông tuyên truyền một chiều, chính sách ngu dân… được thực hiện nhiều thập kỷ nay đã mang lại hậu quả ghê gớm đối với các thế hệ người Việt. Hậu quả đó chính là những bộ não bị đúc khuôn, bị tẩy trắng, mất khả năng tư duy, sẵn sàng tin vào những gì được tuyên truyền mà không hề hoài nghi, không hề đặt câu hỏi. Và mặt khác của vấn đề là ở chỗ những bộ óc như vậy lại tin rằng mình nắm giữ chân lý, rằng những ai khác mình đều là lạc hậu, phản động…

Trong bối cảnh đó, xin giới thiệu lại cùng quý độc giả hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin vào tháng 10 năm 1952 về vấn đề cải cách ruộng đất. Nội dung của chúng xác nhận rằng Hồ Chí Minh là người thiết kế chương trình cải cách ruộng đất tại Việt Nam, dưới áp lực của Liên Xô và Trung Quốc. Hai bức thư này đã được một số người dịch và phân tích trên một số website và blog. Ở đây tôi sử dụng bản dịch tiếng Pháp, được giới thiệu trong công trình khảo cứu lịch sử « Le communiste vietnamien (1919-1991) » của nhà nghiên cứu Céline Marangé, in năm 2012, tại Paris. Đồng thời tôi cũng dịch một đoạn phân tích của Tiến sĩ Khoa học chính trị Céline Marangé về bối cảnh lịch sử của hai bức thư này, và một đoạn ngắn khác bình luận về tính chất phức tạp của các nhân vật lịch sử và các sự kiện lịch sử Việt Nam. (Nguyễn Thị Từ Huy)

I. Phân tích của Céline Marangé về bối cảnh lịch sử của hai bức thư:

Đầu những năm 1950, điện Kremlin vẫn còn rất thận trọng đối với cuộc chiến tranh Đông Dương và nhân vật Hồ Chí Minh. Kremlin chỉ ủng hộ đề nghị gia nhập Liên Hợp Quốc do nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà đệ trình ngày 29/12/1959, khi mà 9 tháng sau, Pháp cũng đưa ra một đề nghị tương tự cho « Nước Việt Nam của Bảo Đại » và cho các vương quốc Lào và Campuchia. Tương tự như vậy, khi mà tất cả các đại diện của các đảng cộng sản nước ngoài đã được mời đến dự đại hội lần thứ XIX của đảng cộng sản Liên Xô, Hồ Chí Minh buộc phải viết thư cho Stalin để được mời tham dự. Ngày 30 tháng 9 năm 1952, Hồ Chí Minh gửi cho Stalin một bức điện tín từ Bắc Kinh để xin ông ta cho phép được bí mật tới Moscou. Ngày 2 tháng 10 Stalin cho phép Hồ Chí Minh tới tham dự với hình thức « không chính thức ». Trong thư trả lời Stalin, gửi ngày 17 tháng 10, Hồ Chí Minh đề nghị Stalin cho Liu Shao-qi (Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nuớc CHND Trung Hoa) tham dự vào những thảo luận về Việt Nam. Ba người đó gặp nhau tại Moscou ngày 28 tháng 10 năm 1952. Trước cuộc họp, Liu Shao-qi đã đề nghị Stalin phải nài Hồ Chí Minh để ông ta tiến hành cải cách ruộng đất tại Việt Nam. Hồ Chí Minh lúc đó muốn dừng lại ở việc giảm tiền lĩnh canh. Nhưng khi Stalin yêu cầu ông ta thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất theo mô hình cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã chịu thuận theo ý muốn của Stalin. Hai ngày sau, ông viết cho Stalin đề nghị gửi tới Việt Nam hai cố vấn Xô Viết, ưu tiên người nói tiếng Pháp, và đề nghị nhận các sinh viên Việt Nam đến đào tạo tại Moscou, và đặc biệt là cung cấp các vũ khí hiện đại. Hôm sau, ngày 31 tháng 10, Hồ Chí Minh chuẩn y một chương trình cải cách ruộng đất, đã được hiệu chỉnh với sự hỗ trợ của Liu Shao-qi và Wang Jiaxiang, đại sứ đầu tiên của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô (1949-1951). Trước khi rời khỏi Moscou, Hồ Chí Minh viết một lá thư cảm ơn Stalin, trong đó một lần nữa ông hứa với Stalin sẽ dành tâm lực vào cuộc cải cách ruộng đất. Những bức thư này mang lại cảm giác rằng Hồ Chí Minh đã chấp nhận tiến hành cải cách ruộng đất để có được vũ khí với số lượng lớn và để tạ lỗi với Stalin, cho đến lúc đó vẫn tiếp tục dè chừng Hồ Chí Minh. Tháng 12, Stalin tuyên bố với Liu Shao-qi và đại sứ Trung Quốc rằng ông ta « về phần mình, đánh giá Hồ Chí Minh là một người tốt, dù ban đầu thì không tốt ». Khi trở về Việt Nam, Hồ Chí Minh đề nghị Mao Trạch Đông cung cấp các chuyên gia về cải cách ruộng đất và cung cấp các ý tưởng. Ban bí thư trung ương của đảng cộng sản Trung Quốc gửi sang Wang Li, người đảm nhiệm chức vụ « cố vấn tinh thần và ý thức hệ », đồng thời, về sau, đó là một trong những người chỉ huy Cách mạng văn hóa Trung Quốc, trước khi bị bắt vì tội « khuynh tả cực đoan », vào năm 1967. Để đến phụ giúp cho Việt Nam, Wang Li có thêm Qiao Xiaoguang, một chuyên gia về cải cách ruộng đất, người đã lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc vùng Quảng Tây. Ngày 2 tháng 3 năm 1953, tức là ba ngày trước khi Stalin chết, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua một nghị định về việc phân loại bộ phận dân cư ở nông thôn, nghị định này được dùng làm cơ sở pháp lý cho cải cách ruộng đất và cho « tòa án giai cấp ».

(Trích từ cuốn « Le communiste vietnamien (1919-1991) », Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 193-195)

II. Hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin

Thư thứ nhất
Đồng chí I.V. Stalin thân mến

Tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam, và sẽ nhanh chóng trình bày với đồng chí.

Tôi gửi tới đồng chí cùng một số yêu cầu sau đây, và hy vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.

1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng tại chỗ. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp, họ có thể thể giao tiếp với một tầng lớp rộng rãi. Mất khoảng mười ngày để đi từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi.

2. Chúng tôi muốn gửi 50-100 học sinh sang Liên Xô học tập, họ đã có trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, một vài ngườ trong số họ là đảng viên và những người khác chưa phải là đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí có nhất trí về vấn đề này không?

3. Chúng tôi muốn nhận từ các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh (thuốc chống sốt rét) cho quân đội và dân thường, có nghĩa là cứ nửa năm nhận 5 tấn.

4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau đây :

a) Pháo binh phòng không 37 li cho 4 trung đoàn, tổng số là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.

b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tổng số là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

c) Súng máy phòng không 12,7 li cho hai trung đoàn, tổng số là 200 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định sẽ rời khỏi Moscou vào ngày 8 hoặc ngày 9 tháng 11 [1952].

Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và những lời chúc tốt đẹp nhất !

Hồ Chí Minh

30-10-1952

2. Thư thứ hai

Đồng chí I.V. Stalin thân mến

Tôi gửi đồng chí chương trình cải cách ruộng đất của Đảng lao động Việt Nam. Dự án chương trình do tôi soạn thảo, với sự hỗ trợ của đồng chí Liu Shao-qi và [đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô từ 1949-1951 Wang Jiaxang].

Mong đồng chí xem xét và cho chỉ thị về vấn đề này.

Gửi đồng chí lời chào cộng sản.

Hồ Chí Minh

31/10/1952

(Phụ lục 4, Le communiste vietnamien (1919-1991) , Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 534-535)

III. Bình luận của Céline Marangé về tính phức tạp của các nhân vật lịch sử và các vấn đề lịch sử của Việt Nam:

Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam vẫn còn là một chủ đề nhạy cảm và tương đối ít được khai thác. Kỷ niệm về cuộc chiến tranh Việt Nam, được khơi dậy bởi sự can thiệp của Mỹ tại Irak năm 2003, và đặc biệt là cái kỷ niệm, được người ta thi nhau lý tưởng hóa, về phong trào sinh viên phản đối chiến tranh, cuộc chiến được nhìn nhận như là « chiến tranh vệ quốc chống đế quốc Mỹ », ở Pháp, kỷ niệm ấy vẫn luôn đảm bảo cho những cảm tình nhất định đối với chế độ cộng sản Việt Nam. Ở phía ngược lại, trong một bộ phận khác của dân chúng Pháp, ký ức về cuộc chiến tranh Đông Dương, thậm chí hoài niệm về Đông Dương thuộc Pháp, vẫn còn chưa tắt hẳn. Ở Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam tiếp tục kích động những thiên kiến tồn tại rất lâu sau khi xe tăng Bắc Việt tiến vào Sài Gòn và sau khi chế độ Miền Nam Việt Nam thất thủ vào ngày 30/4/1975. Đối với những người Việt lưu vong căm thù chế độ cộng sản, Hồ Chí Minh bị cố tình biến thành quỷ dữ. Người ta gán cho ông tính cách gian xảo, quỷ quyệt, hay thậm chí cả tính cách bá quyền mà chắc hẳn ông không bao giờ có. Tương tự như thế, mặc dù tướng Giáp giành được sự khâm phục ở những vị tướng vốn là kẻ thù của ông, nhưng ông thường xuyên bị miêu tả như một kẻ tính toán lạnh lùng, thờ ơ với số phận của lính tráng, và bị xem như một lãnh đạo có quyền lực tuyệt đối. Tai tiếng của hai người này lớn đến mức che lấp hết những nhân tố hàng đầu khác ở họ. Thế nhưng, trong thực tế, không có gì đơn giản. Không ai đơn giản hết. Cả Hồ Chí Minh, cả tướng Giáp đều không đơn giản, và có thể còn phức tạp hơn đối với những lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô đã cố bẻ cong các sự kiện ở Việt Nam. Từ những năm 1960 trở đi, quyền lực phần lớn đã không còn nằm trong tay họ. Những người khác đã nắm giữ quyền lực.

(Trích từ cuốn Le communiste vietnamien (1919-1991), Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 29

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Thảm sát Thiên An Môn, 1989

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

Ngọn Hải Đăng

Dù sự kiện thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn được cả thế giới biết đến, nhưng suốt 26 năm qua Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vẫn luôn phủ nhận cuộc đàn áp này.v26 năm trước vào ngày 4/6/1989, hàng ngàn sinh viên đã bị giết chết một cách man rợ tại quảng trường Thiên An Môn bởi quân đội của ĐCSTQ bằng súng và bánh xe tăng …

Bối cảnh

Năm 1989, kinh tế Trung Quốc gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, người dân đói khổ trong khi tham nhũng tràn lan trong hàng ngũ các quan chức ĐCS Trung Quốc. ĐCSTQ vẫn luôn đánh bóng mình với ngôn từ “Đảng là quang vinh vĩ đại”, là “không bao giờ sai” và dập tắt tất cả các tiếng nói hay nguyện vọng của giới trí thức và sinh viên thời bấy giờ. Điều này gây ra nhiều bất bình trong dân chúng.

Do đó vào tháng 4/1989, khi cố Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang qua đời, người dân Trung Quốc xuống đường dự lễ tang và thương tiếc cho một người luôn có xu hướng cải cách, đồng thời cũng biểu tình phản đối nạn tham nhũng và độc đoán không dân chủ của chính quyền.

Diễn biến cuộc biểu tình

Cuộc biểu tình kéo dài khiến Bắc Kinh lúng túng, nhiều đảng viên cấp cao lại tỏ vẻ ủng hộ, thậm chí yểm trợ cho người dân biểu tình.

Lễ tang Hồ Diệu Bang đã biến thành cuộc biểu tình phản đối tham nhũng, yêu cầu dân chủ. Ảnh: GEO Epoche

Sinh viên của Đại học Bắc Kinh đã thành lập “Liên hiệp Sinh viên Thống nhất”, với 7 lãnh đạo trẻ tuổi, trong đó có Vương Đan là một sinh viên khoa Sử 20 tuổi.

Vương Đan đang nêu lên nguyện vọng của sinh viên. Ảnh: GEO Epoche.

Ngày 22/4/1989, ngày diễn ra tang lễ của ông Hồ Diệu Bang. Khi bình minh chưa ló dạng, hơn 80.000 sinh viên của 20 trường đại học diễu hành tiến đến quảng trường Thiên An Môn.

Trong khi chỉ vì muốn đề xuất chính kiến của mình mà sinh viên bị tờ “Nhân dân Nhật báo” quy kết cho là các phần tử “bạo loạn”, “phản động” và “làm chính trị”. Sinh viên bỗng chốc trở thành tội phạm của quốc gia, thành những phần tử đối nghịch với Đảng.

Ngày 27/4/1989, đoàn người biểu tình kéo nhau đi khắp thành phố Bắc Kinh, giương cao những tấm biểu ngữ và hô vang “tự do dân chủ muôn năm.” Hàng trăm ngàn người đứng ngoài cũng cổ vũ và hô to theo đoàn người biểu tình, trong đó có nhiều người còn cẩn thận nhắc nhở cảnh sát đừng đánh sinh viên.

Sau cuộc diễu hành, họ tụ tập về quảng trường Thiên An Môn, lúc này con số đã lên đến 150.000 người.

Ngủ qua đêm tại Thiên An Môn, biểu tình kéo dài khiến lãnh đạo sinh viên gặp khó khăn trong việc cung cấp thức ăn nước uống, và điều kiện sinh hoạt. Ảnh: GEO Epoche

Nội bộ ĐCSTQ chia làm 2 phe rõ rệt, một phe theo Tổng Bí thư Triệu Tử Dương muốn thương lượng với sinh viên, và một phe theo Thủ tướng Lý Bằng muốn dập tắt cuộc biểu tình nhưng chưa tìm được biện pháp mạnh nào.

Ngày 4/5/1989 là ngày kỷ niệm phong trào ngũ tứ (biểu tình phản đối việc giao tỉnh Sơn Đông cho Nhật Bản), có đến nửa triệu người tập trung ở quảng trường Thiên An Môn tưởng niệm cuộc biểu tình này.

Ngày 17/5/1989, một triệu người đổ về Thiên An Môn bằng các phương tiện khác nhau, bao gồm sinh viên, công nhân, trí thức, nhân viên nhà nước, nhà báo của tờ “Nhân dân Nhật báo”, đài truyền hình nhà nước và cả những cảnh sát trẻ tuổi … Họ giơ cao biểu ngữ “Đặng, anh già rồi” hay ”Giá cả tăng, lương teo lại.”

Trong khi ông Triệu Tử Dương hoàn toàn không có ý định đàn áp sinh viên thì các vị lãnh đạo lão thành lại muốn tiến hành đàn áp. Ông Đặng Tiểu Bình nói “Chúng ta sẽ giết 200 nghìn người để đổi lấy 20 năm ổn định”. Ý tưởng của ông Đặng Tiểu Bình phù hợp với mục đích căn bản của ĐCSTQ là nắm quyền cai trị độc tài, vì vậy nó đã được ĐCSTQ chấp thuận.

Ông Triệu Tử Dương muốn đàm phán với sinh viên và không đồng ý tiến hành đàn áp. Điều này không phù hợp với mục đích của Đảng. Do đó, ông bị cách chức, cách ly và bị giam lỏng tại gia cho đến ngày qua đời.

Biểu tình khắp Bắc Kinh. Ảnh: GEO Epoche

Diễn biến cuộc thảm sát

Ngày 20/5/1989, Thủ tướng Lý Bằng huy động 22 sư đoàn với xe tăng và đại bác, tổng cộng 180.000 quân tiến vào thủ đô.

Các sinh viên trong doanh trại chỉ huy cuộc biểu tình tuyệt thực phân phát một tờ truyền đơn mà trong đó họ yêu cầu “chống lại cuộc tiến quân của quân đội”. Hơn 270 chiếc xe buýt được đẩy ra ngã tư và xì hơi lốp để làm chướng ngại vật.

Để chặn quân đội lại, tài xế xe buýt để xe của họ nằm ngang qua trên các đại lộ của Bắc Kinh và xì lốp xe. Ảnh: GEO Epoche

Đến lúc này vẫn còn 500 ngàn người tại quang trường Thiên An Môn, sinh viên vẫn đang kiểm soát quảng trường này.

Ngày 29/5/1989, cuộc biểu tình kéo dài làm nhiều sinh viên kiệt sức, không khí cuộc biểu tình đã giảm hẳn xuống. Nhiều sinh viên tin rằng mình đã chuyển tải được thông điệp đến các lãnh đạo Đảng và người dân toàn xã hội rồi.

Trong lúc tinh thần của sinh viên đang chùng xuống, thì lúc 22 giờ 30, sinh viên của Học viện Nghệ thuật Trung ương đẩy “Nữ thần tự do” ra Thiên An Môn. Đây là một bức tượng cao 10m bằng thạch cao được tạc theo bức tượng Nữ thần Tự do ở New York. Bức tượng được khai mạc vào sáng hôm sau và được đặt bên cạnh đài kỷ niệm của những người anh hùng. Điều này khiến cho tinh thần sinh viên phấn chấn hơn lên.

Thiên An Môn ngày 30 tháng 5 sinh viên đưa tượng nữ thần tự do cao 10m. Đối với nhiều người hiện giờ đã kiệt sức thì đấy là một biểu tượng mới của hy vọng – thế nhưng đối với giới lãnh đạo nhà nước thì đấy là một sự khiêu khích ngay giữa Bắc Kinh. Ảnh: GEO Epoche.

Ngày 2/6/1989, ông Đặng Tiểu Bình nói, “Tôi đề nghị để cho quân đội khẩn cấp thực hiện kế hoạch giải tỏa quảng trường vào tối nay và kết thúc trong vòng hai ngày.”

0 giờ ngày 3/6/1989, quân đội đang đóng ở ngoại ô được lệnh tiến vào thành phố. Những người lính này được thông báo rằng Bắc Kinh có một cuộc bạo động, nhiều người lính đã bị bắt cóc và giết chết. Quảng trường Thiên An Môn hiện đang bị chiếm giữ bởi những kẻ bạo loạn phản cách mạng và cần phải bị tiêu diệt.

Sau này những người lính mới hiểu rằng đấy chỉ là thông tin bịa đặt, nhiều người vì điều này mà cho đến ngày nay vẫn còn bị dằn vặt trong nước mắt.

Nhiệm vụ kiểm soát Thiên An Môn được giao cho sư đoàn 112 và 113, sư đoàn xe tăng số 6 của quân đoàn 38.

Quân lính mặc thường phục giả dạng người dân để dọn dẹp các chướng ngại trên đường phố cho xe quân sự và xe tăng tiến vào.

1 giờ sáng, sinh viên nhận được tin quân đội đang tiến vào, thông tin được loan báo nhanh chóng đến quảng trường Thiên An Môn và các trường đại học, nhiều người đã tụ tập tại các ngã tư đường để cản xe quân đội.

18h30 chính quyền thành phố Bắc Kinh ra thông báo: “Đừng ra đường phố và đến Thiên An Môn. Tất cả các công nhân phải ở lại nơi làm việc và tất cả các công dân phải ở trong nhà để bảo vệ cho tính mạng của mình.”.

21 giờ 00, nhiều sinh viên và người dân đã trở về nhà sau những lời cảnh báo, một số khác kéo đến các khu phố ngoại thành để chặn đường quân lính. Đại lộ Trường An vắng vẻ, chỉ còn khoảng 1.000 người biểu tình đứng ở đó. Nhưng vẫn còn vài chục ngàn người chiếm giữ Thiên An Môn.

22 giờ 30, gần cầu Mộc Tê Địa, khoảng 10.000 người chặn một đoàn xe tải quân đội lại. Những chiếc xe tải dừng lại cách đám đông 20 hay 30 mét. “Phát xít! Quân giết người!” tiếng người dân hô vang lên, người dân ném gạch đá và chai lọ vào binh lính.

Quân lính bất thình lình bắn vào đám đông, hàng trăm người dân và sinh viên đã gục xuống trong vũng máu.

23 giờ, xe tải chở quân đội tiến vào thành phố, để lại hàng trăm người chết và bị thương nằm la liệt, nhiều người dân cố gắng đẩy những chiếc xe buýt đang bị cháy lên cầu Mộc Tê Địa để chặn các đoàn xe chở quân tiếp theo.

Chủ nhật lúc 1 giờ sáng ngày 4/6/1989, quân đội được trang bị súng AK 47 cùng xe tải và xe tăng xông vào quảng trường Thiên An Môn từ mọi hướng. Những người lính đã bị lừa dối rằng, sinh viên trong quảng trường là bè lũ phản động, chống đối Đảng cần phải bị tiêu diệt.

Xe tăng tiến vào Thiên An Môn

4 giờ sáng bất thình lình trời tối sầm lại, đèn điện trong quảng trường Thiên An Môn bị tắt hết. Quân lính tiến vào quảng trường, người biểu tình không thấy do trời tối.

4h30 đèn điện lại vụt sáng trở lại, lúc này các sinh viên mới giật mình khi phát hiện mình đã bị quân lính bao vây chặt, gồm cả xe tăng cũng tiến vào.

Đối mặt

Thảm sát

Tiếng súng nổ… Nhiều người trúng đạn đổ vật xuống trong vũng máu, tiếng xe tăng gầm lên san bằng tất cả. Quảng trường Thiên An Môn ngập trong máu, hàng ngàn sinh viên đã bị giết hại.

Một số sinh viên chạy thoát được ra ngoài bị xe tăng bám theo. Phương Chính là một sinh viên của Đại học Thể dục Thể thao Bắc Kinh. Anh cũng có mặt ở Thiên An Môn lúc đó nói rằng: “Khoảng 6 giờ ngày 4/6, chúng tôi rút khỏi quảng trường. Sau khi đi qua quảng trường, những chiếc xe tăng đã vòng lại lao về phía các sinh viên và bao vây họ, những người đang trên đường trở về trường của mình. Tôi là một trong những nạn nhân. Xe tăng đã cán qua chân tôi. Nhiều sinh viên của Đại học Bắc Kinh đã bị xe tăng cán chết. Một số thậm chí còn bị nghiền nát.”

Sau đó ĐCSTQ lập hồ sơ tất cả các sinh viên tham gia biểu tình với quy kết họ đã “làm chính trị”, một số sinh viên chạy trốn được ra nước ngoài và kể lại cuộc đàn áp đẫm máu tại quảng trường Thiên An Môn.

Dòng nước mắt đã chảy đến khô cạn trên khuôn mặt của những bà mẹ có con trai bị giết chết, rất nhiều bà mẹ thậm chí còn không thể tìm được xác con do bị xe tăng nghiền nát đến biến dạng.

Đến nay ĐCSTQ vẫn che dấu và không thừa nhận cuộc đàn áp này với người dân Trung Quốc. Hàng năm cứ đến ngày 4/6, chính quyền lại kiểm soát chặt chẽ thông tin tưởng niệm cuộc biểu tình này, internet cũng được kiểm soát rất chặt.

Thế nhưng, nhiều người dân Trung Quốc vẫn không thể quên ký ức về một Thiên An Môn đẫm máu. Những người mẹ có con bị giết hại đã thành lập “Hội những người mẹ Thiên An Môn”. Hàng năm cứ đến ngày 4/6 cộng đồng người Hoa toàn thế giới đều có tưởng niệm những nạn nhân đã bị giết hại.

Chiều mùng 4/6/2014 ở công viên Victory, Hồng Kông, khoảng 180 nghìn người lặng lẽ thắp nến tưởng niệm các sinh viên thiệt mạng dưới bánh xe tăng trong vụ thảm sát đẫm máu năm 1989 ở Thiên An Môn.

Những người lính 26 năm trước từng giương súng bắn vào sinh viên, hay lái xe tăng nghiền nát thi thể họ, giờ đây đã nhận ra rằng mình bị Đảng lừa dối. Người mà họ giết chết không phải là những “kẻ phản động” hay “làm chính trị”, chống đối lại nhân dân, mà đó là những con người hoàn toàn vô tội.

Lý Hiểu Minh là một sỹ quan quân đội từng tham gia đàn áp sinh viên tại Thiên An Môn kể cho đài truyền hình NOW Hồng Kông về sự kiện này: “Chính quyền nói dối rằng nhiều binh lính của binh chủng giới nghiêm đã bị bắt cóc, giết hại; bị cướp vũ khí và một cuộc bạo loạn đã xảy ra ở Bắc Kinh. Vì thế họ cho rằng một cuộc bạo động phản đối cách mạng đã diễn ra.”

Không chỉ binh lính, mà ngày càng có nhiều người dân biết về sự thật này. Thế nhưng biết đến bao giờ ĐCS Trung Quốc mới thừa nhận và trả lời cho người dân Trung Hoa về tội ác mà Đảng đã gây ra tại quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989?

________________________

Một nhóm sinh viên đại học Trung Quốc du học ở nước ngoài đang phổ biến một bức thư ngỏ kêu gọi các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản phải nhận lãnh trách nhiệm về những hành vi tàn ác đã phạm cách đây đúng 26 năm, khi lực lượng Trung Quốc giải tán người biểu tình đòi dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn.

Bức thư do sinh viên cao học trường Đại học Georgia viết và có chữ ký của 10 sinh viên khác, là cố gắng mới nhất để chống lại chiến dịch tuyên truyền ráo riết vây quanh vụ việc trong đó hàng trăm và có thể cả hàng ngàn người biểu tình ôn hòa đã bị sát hại.

Bắc Kinh không cho phép công khai bàn luận hay tưởng niệm vụ Quân đội Giải phóng Nhân dân thảm sát sinh viên biểu tình vào tháng 6 năm 1989. Các sinh viên này tụ tập ở trung tâm Bắc Kinh và các nơi khác khắp nước đòi cải cách dân chủ và chấm dứt nạn tham nhũng tràn làn trong các giới chức.

Kết quả là, nhiều người Trung Quốc trẻ tuổi không biết ngay cả các chi tiết cơ bản của sự kiện được coi như một trong những thời khắc quyết định nhất trong lịch sử đảng Cộng sản Trung Quốc. Những người viết bức thư hy vọng nỗ lực của họ sẽ giúp gia tăng nhận thức quần chúng ở Trung Quốc.

Kẻ giết người phải bị xét xử

Chân dung các nạn nhân ngày 4 Tháng 6, 1989 đẫm máu tại viện Bảo tàng tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn ở Hồng Kông.Chân dung các nạn nhân ngày 4 Tháng 6, 1989 đẫm máu tại viện Bảo tàng tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn ở Hồng Kông.

Bức thư viết, “Càng biết nhiều, chúng tôi càng cảm thấy chúng ta gánh một trách nhiệm nghiêm trọng trên vai. Hỡi các bạn sinh viên đại học trong nước, chúng tôi viết bức thư ngỏ này để chia sẻ sự thực với các bạn và phơi bày các tội ác đã phạm cho tới ngày hôm nay, liên quan đến vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989.”

Bức thư viết tiếp: “Chúng tôi không yêu cầu đảng Cộng sản Trung Quốc đền bù lại những sự kiện đã xảy ra vào mùa xuân ấy, bởi vì chúng tôi không trông mong những kẻ giết người sẽ thanh minh cho những người đã chết, nhưng những kẻ giết người phải bị xét xử. Chúng ta không quên, cũng không tha thứ, cho đến khi nào đạt được công lý và cuộc đàn áp đang tiếp diễn phải chấm dứt.”

Bức thư đã được phổ biến bên trong Trung Quốc dưới dạng PDF, một hình thức hồ sơ đã giúp vượt qua dễ dàng những cơ quan kiểm duyệt gay gắt của Trung Quốc. Hồ sơ cũng đã nhiều người đọc hơn sau khi nhật báo Global Times của đảng Cộng sản viết một bài xã luận đả kích bức thư.

Báo Bắc Kinh đả kích ‘Các Lực lượng Thù địch Nước ngoài’

Báo Global Times, với các bài xã luận thường phản ánh các ý kiến chính thức, đả kích những “quan điểm cực đoan” về vụ Thiên An Môn. Bài báo viết, “Bức thư của sinh viên đả kích gay gắt chế độ đương thời của Trung Quốc, bóp méo các sự kiện cách đây 26 năm với những lời tường thuật của các lực lượng thù địch nước ngoài.”

Bài báo nói thêm, “Nếu bức thư thực sự do một vài sinh viên nước ngoài viết, chúng ta phải nói rằng những người trẻ tuổi ấy đã bị tẩy não ở các nước ngoài, bắt chước nhóm thiểu số nghi kỵ ở nước ngoài.”

Giới hữu trách kiểm duyệt Trung Quốc sau đó đã yêu cầu gỡ bỏ bài báo Global Times khỏi các cổng thông tin trên mạng, theo trang web của China Digital Times, có lẽ bởi vì bài báo lại có tác dụng ngược lại với ý đồ của nó.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, khi đề cập đến vụ Thiên An Môn, thường tìm cách biện minh cho vụ trấn át tàn bạo của Quân đội Giải phóng Nhân dân bằng cách nêu bật tiến bộ ồ ạt về kinh tế mà giới lãnh đạo đảng Cộng sản đã đạt được trong những thập niên sau đó.

Cựu Phụ tá viết bài Xã luận nghiêm khắc

Nhân viên y tế đứng cạnh thi thể của những người biểu tình bị sát hại tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4/6/1989.Nhân viên y tế đứng cạnh thi thể của những người biểu tình bị sát hại tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4/6/1989.

Một cố vấn lâu năm cho cựu thủ tướng Triệu Tử Dương tuần này đã chống đối lập luận đó. Trong một bài xã luận đăng trên báo New York Times, ông Bao Đồng nói, “nhiều người cầu mong giới lãnh đạo đảng tự nguyện thú thực sự bất công và tính phi pháp của những vụ giết hại đó.”

Ông nói, “Đây cũng là hy vọng của tôi. Nhưng tôi không lạc quan, bởi vì cho đến giờ này, chưa có mấy dấu hiệu gợi ý là điều này sẽ xảy ra.”

Ông Bao cũng lên án điều ông gọi là “tình trạng tham nhũng từ trên xuống dưới” của đảng Cộng sản, mà ông cho là đã giúp các giới chức có thế lực cùng với thân nhân của họ làm giàu bất kể người khác.

Bắc Kinh đã phát động một chiến dịch mạnh để diệt trừ tình trạng tham nhũng trong các giới chức. Nhưng chiến dịch này sẽ không có hiệu quả, theo ông Bao, một phần vì các công dân độc lập bị đối xử như tội phạm nếu họ tố giác tham nhũng.

Ông nói, “Các phong trào chống tham nhũng của quần chúng đã bị đàn áp gay gắt, giống như hồi năm 1989.”

Ông Bao từng là phụ tá của cựu thủ tướng Triệu Tử Dương, người đã có một chủ trương hòa giải hơn đối với những người biểu tình Thiên An Môn và sau đó đã bị cố lãnh tụ Đặng Tiểu Bình lật đổ.

Trong bài xã luận trên tờ New York Times, phát hành hôm qua, ông Bao nói trong tháng trước, ông đã bị ngăn không cho trả lời phỏng vấn. Truyền thông Hong Kong sau đó nói ông là một trong nhiều nhân vật bị buộc phải rời khỏi thủ đô Trung Quốc trước ngày kỷ niệm vụ thảm sát hôm nay.

Việc Bắc Kinh truy lùng và tạm thời làm biệt tích các nhân vật nhạy cảm đã trở thành lệ thường đối với Bắc Kinh trước ngày kỷ niệm Thiên An Môn.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »