Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư 11th, 2015

Cuộc chiến ‘biệt vô tăm tích’

Posted by hoangtran204 trên 11/04/2015

Blog VOA

Bùi Tín

09-04-2015

Sinh Bắc tử Nam. Ảnh: VOV

Cuộc nội chiến Nam – Bắc ở Việt Nam đã chấm dứt được mấy mươi năm, biết bao tài liệu sách báo, hồi ký đã được viết ra, biết bao tư liệu tuyệt mật của các bên đã được công bố, nhiều cánh cửa đã được mở ra để nhìn rõ bản chất, nguyên nhân, diễn biến, các góc cạnh của cuộc chiến.

Trong suốt hơn 20 năm qua, tôi đã được đọc không biết bao nhiêu là sách báo, tài liệu của Ngũ Giác Đài, của Bộ Quốc phòng Liên Xô, Pháp, Anh, của Đệ Tam Quốc tế CS, các hồi ký của các tướng tá cả của Quân đội Nhân dân (QĐND) và của Quân lực VN Cộng Hòa, hồi ký về nhà tù CS, hồi ký về thuyền nhân, rồi những tài liệu tù mù thật giả lẫn lộn, phóng ra từ ổ đen tình báo Hoa Nam Trung Quốc. Vậy mà theo tôi vẫn còn nhiều «góc khuất» của cuộc chiến tranh rất nên làm rõ, để cuộc chiến được tái hiện đúng như nó từng diễn ra trên mọi khía cạnh.

Có những sự kiện nhỏ bé ít người nói đến nhưng lại đóng vai trò rất lớn, có khi có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cuộc chiến.

Xin nêu lên một vấn đề làm thí dụ. Tôi tạm gọi vấn đề này là «cuộc chiến biệt vô tăm tích». Đó là tình trạng quân nhân trong QĐND ở miền Bắc khi đã lên đường vào Nam chiến đấu là cắt đứt mọi quan hệ với gia đình, bạn bè thân thuộc trong một thời gian dài, cho đến khi sống sót được trở ra miền Bắc.

Có thể nói có hàng mấy triệu lượt quân nhân QĐND vượt tuyến như thế, và hàng triệu người đều ở trong hoàn cảnh như thế. Họ lên đường, rồi «biệt vô tăm tích», vì bưu điện Bắc – Nam bị cắt đứt hoàn toàn. Nhưng không hề có một văn bản nào ghi nhận thành chính sách «biệt vô tăm tích» như thế.

Có lẽ rất hiếm quân đội nào trong thời chiến cùng gia đình họ chịu cảnh chia ly triệt để, kéo dài, chịu một cuộc tra tấn đày đọa tinh thần thâm hiểm đau xót triền miên như thế.

Trong thời chiến tôi có dịp hỏi chuyện một số sỹ quan phi công Hoa Kỳ bị bắt, họ còn mang theo cả thư, ảnh vợ con, bố mẹ nhận được trước đó vài hôm từ Mỹ gửi sang Thái Lan hay Hạm đội 7. Họ chiến đấu ở xa hàng ngàn dặm mà mối quan hệ tình cảm được đều đặn. Quân nhân của chế độ Cộng sản miền Bắc nước ta chiến đấu trên đất nước mình mà cứ như bị tha hương, đến một tinh cầu nào xa lạ, không một lá thư nào, một hình ảnh nào.

Bao nhiêu bà mẹ, ông bố, người vợ đêm nằm thương nhớ khôn nguôi người con, người chồng yêu quý của mình, thế rồi chỉ còn có cách nuốt nước mắt vào lòng, cầu Trời khấn Phật cho người thân «biệt vô tăm tích» của mình sống sót trở về.

Các ông cha bà mẹ, người vợ ấy càng chua xót, đau đớn vì cái tỷ lệ sống sót trở về ngày càng hiếm hoi, «sinh Bắc tử Nam» đã thành số phận gần như thiên định, do cuộc chiến ở miền Nam hết sức ác liệt, do bộ phận lãnh đạo CS sùng bái bạo lực, sắt máu, có dã tâm quyết hy sinh không hạn độ sinh mạng công dân cả nước mình cho tham vọng nhuộm đỏ toàn thế giới của Đệ Tam Quốc Tế CS. Chiến tranh để dành độc lập, rồi «chống Mỹ cứu nước» chỉ là nhãn hiệu bề ngoài che đậy dã tâm trên đây.

Nếu như đảng CS Việt Nam để cho quân nhân mình được phép liên lạc với gia đình, tổ chức ngành bưu điện quân sự tỏa rộng vào các chiến trường, theo tôi nghĩ, bộ mặt cuộc chiến đã khác hẳn. Chỉ riêng cảnh rùng rợn của chiến trường, số chết và bị thương phía CS miền Bắc quá lớn, do quân đội miền Nam và lực lượng Hoa Kỳ có hỏa lực quá mạnh (từ trước năm 1964 chiến trường miền Nam, QĐ miền Bắc nói chung chưa đưa chiên xa vào miền Nam, pháo binh còn thưa thớt, không quân miền Bắc chưa hoạt động được) nên thường thương vong các trận đánh là 3/1, 5/1, có khi 10/1. Theo một số báo cáo tuyệt mật tôi được biết khi đi trong các đoàn quân sự cao cấp do tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Văn Tiến Dũng dẫn đầu, với nhiệm vụ là bí thư báo chí của Bộ trưởng Quốc phòng, sau các đợt «Tổng tiến công và tổng nổi dậy» năm 1968, lực lượng QĐND bị tổn thất nặng hơn bao giờ hết, cơ sở nhân dân bị lộ, nhiều nơi bị mất trắng, có nơi phải đưa bộ đội chính quy miền Bắc vào làm bộ đội địa phương quận huyện. Nhiều đại đội, tiểu đoàn, cho đến cả trung đoàn phải giải thể, sáp nhập vào nhau, có khi đến 2 hay 3 lấn, phải lấy phiên hiệu A, B, C, như Trung đoàn 275 A, 275B, 275C. Ở Khu 5 hồi ấy sỹ quan tử trận nhiều phải đôn gấp tiểu đội trưởng lên đại đội trưởng, tiểu đoàn phó lên trung đoàn trưởng do miền Bắc cử vào không kịp.

Nếu như thư từ thông suốt, các trận đánh thua tơi bời, chết và bị thương như ngả rạ, người bị thương không được cứu chữa, người chết chôn vội rồi đơn vị di chuyển, giải thể không còn biết ở đâu, nếu như cả xã hội được thông tin từ chiến trận, biết rõ những thất bại chồng chất khi ấy thì hậu phương sẽ không cho phép đảng đem con em mình vào lò thiêu sống như thế. Ở Hoa Kỳ khi các trận đánh qua màn TV đi vào phòng ngủ người dân, số tử vong lính Mỹ lên đến 50 ngàn trong 5 năm là toàn xã hội lên tiếng đòi chấm dứt chiến tranh.

Tôi từng tham dự nhiều buổi tiễn đưa một số đơn vị vào Nam, khi qua binh trạm cuối «làng HO» thuộc đất Vĩnh Linh là anh em vĩnh biệt miền Bắc trong cảnh tượng xé lòng mà vẫn phải làm ra vẻ bình thản. Ai nấy đều giống nhau, hiểu nhau, cùng nhau đóng kịch. Lúc ấy không còn đường rút lui. Cứ như qua cầu bắc ngang sông là cầu bị cắt. Đã có một số anh em mất tinh thần, liều mạng, muốn quay lui, vào tù cũng được, nhưng không sao lọt. Vì trách nhiệm của các chính ủy đoàn, các chính trị viên, của các chi bộ là ngăn chặn hiện tượng «B tụt», «B tạt», «B quay», nghĩa là tìm cách lẩn vào rừng, tụt lại sau, tạt ra các bản người dân tộc, rồi tìm cách quay về nhà. Rất ít ai thoát được.

Những anh em ấy bị truy lùng ráo riết, bị giải về hậu phương, bị tù đày không xét xử, cuối cùng ra tù còn phải chịu cuộc sống bị chính quyền CS phường xóm giám sát, khinh thị, cả họ hàng không sao ngẩng đầu lên được.

Thời gian «biệt vô tăm tích» người thân của mỗi gia đình một khác, có khi 2, 3 năm, có khi 5, 6 năm, nhiều khi trên 10 năm, tùy chiến trưòng Trị Thiên, Tây Nguyên, Nam Bộ, hay chiến trường Lào, Miên. Không ai biết rõ con em mình ở nơi nào. Rất hiếm khi có những tin tức của bạn bè, đồng hương bị thương trở ra, được biết là người thân ở Khu 5 hay Nam Bộ, hay Tây Nguyên, còn sống, vắn tắt, sơ sài thế thôi. Những quân nhân tử trận được báo tử rất chậm, chậm 1 năm được coi là bình thường, có khi chậm đến 2, 3 năm, do các đơn vị di chuyển sâu, sổ sách luộm thuộm mất mát, các đơn vị chia ra, nhập vào, thay phiên hiệu, cán bộ tử thương. Vì lẽ ấy mà đến nay QĐND miền Bắc có đến 300 ngàn trường hợp quân nhân mất tích, không biết bị tử trận ngày nào, ở đâu.

Đây là món nợ xã hội của đảng CS đối với nhân dân cho đến nay vẫn không sao trả được. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, con số chính thức của phía Pháp cho biết số tù binh bị phía Việt Nam bắt giam là 5.782 người, đã trao trả nhiều đợt là 3.290, số còn lại là 2.492 phía Việt Nam không giải thích được là sống chết ra sao, vì sao, ở đâu. Đối với tù binh là người Mỹ cũng vậy, số bị bắt giam là gần 2.000, được trao trả là 591 người, số còn lại là 1.350 hay là 1.469 người, (tùy theo tài liệu của Ngũ Giác Đài hay của Quốc hội Mỹ), phía Việt Nam vẫn không giải thích được.

Đây là thêm chứng minh về lãnh đạo đảng CS cực kỳ vô trách nhiệm đối với sinh mạng con người trong chiến tranh, mặc dầu đã có những quy định quốc tế về trách nhiệm các bên đối với tù binh, về cấm tra tấn, về nuôi dưỡng, chữa bệnh, cho nhận thư từ gia đình, trao trả tù binh đầy đủ sau chiến tranh. Không thể để «biệt vô tăm tích» hàng ngàn trường hợp như thế.

Có thể nói chính sách «biệt vô tăm tích» là quốc sách rất thâm và cực kỳ độc ác, phi nhân có tính toán của đảng CS trong thời chiến.

Nó được thực hiện cùng với chính sách cắt đứt triệt để quan hệ Bắc – Nam trong suốt gần 30 năm chiến tranh, nhằm triệt hạ mọi tình cảm ruột thịt, gia đình, bạn bè ở 2 miền, đặc biệt là giữa hàng triệu bà con di cư từ Bắc vào Nam với người thân ngoài Bắc, buộc phải coi nhau là thù địch, cũng là để bóp ngẹt tinh thần phản chiến âm thầm của bà con ta ở cả 2 miền.

Đây phải chăng cũng là một tội ác, trời không dung đất không tha, của đảng CS để làm nên cái gọi là toàn thắng giả tạo và tạm thời cách đây 40 năm?

Đảng CSVN đã bị chết khoảng 160.000 đảng viên (theo đảng công bố gần đây). Nhưng, đảng CSVN đã làm cho hơn 2 triệu thanh niên miền Bắc đã chết theo khẩu hiệu: “Sinh Bắc, Tử Nam”.

Theo công bố của đảng CSVN, có 1.152.000 bộ đội đã tử thương (đây là con số đảng đã thu nhỏ lại), nhưng có đến 780.000 thương binh bộ đội (đây có thể là chính xác, nhưng theo nguyên tắc chiến trường thì trong bất cứ cuộc chiến, cứ 1 người chết thì có tối thiểu 3 người bị thương. Theo tỷ lệ thương binh này, bộ đội có thể đã chết hơn 2,3 triệu người. Đảng cố dấu con số thật sự mà bộ đội cộng sản đã chết từ 1954-1975.

Một cách khác để dễ nhớ là tỷ lệ 1/5/20.

Có 58.000 binh sĩ Mỹ đã chết tại VN, khoảng 236.000 chiến sĩ VNCH, và 1.152.000 bộ đội miền Bắc.

Con số thiệt mạng của thường dân khoảng 2 triệu)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Shin Sung Vina: Đình công kéo dài 10 ngày, chính quyền vào cuộc!

Posted by hoangtran204 trên 11/04/2015

Nguyễn Thiện Nhân

GPDC

10-04-2015

Công nhân Shin Sung Vina (LA) đình công sáng 10/4/2015 (1)

Sau khi tin tức loan tải trên cả báo chí trong và ngoài nước về tình hình đình công căng thẳng kéo dài tại công ty trong những ngày qua. Hôm nay (10/4),  có rất nhiều công an và đại diện các cơ quan chức năng của chính quyền đã có mặt tại công ty Shin Sung Vina làm “nhiệm vụ”, nhưng tình hình vẫn chưa được giải quyết, công nhân chưa chịu trở lại làm việc.

H1

Theo quan sát, có sự hiện diện của ít nhất 3 cơ quan từ phía chính quyền gồm Công an, Liên đoàn lao động và Thanh tra nhà nước. Đặc biệt là sự có mặt của Phó giám đốc công an huyện Đức Hòa, Phó LĐLĐ tỉnh và ông Võ Văn Nê đại diện thanh tra nhà nước.

Công an tại Shin Sung Vina (LA) sáng 10/4/2015

Ghi nhận từ phía công nhân cho biết, họ nhận thấy phía chính quyền hầu như chỉ đến quan sát nắm tình hình chứ không có động thái nào bảo vệ quyền lợi công nhân nên một số công nhân đã bức xúc, dẫn đến hành vi chửi bới. Tình trạng căng thẳng gia tăng, khi một số công nhân bức xúc đã chặn đầu xe khi đoàn chính quyền ra về, tuy nhiên công an nhanh chóng can thiệp.

Tại hiện trường, một người đàn ông lạ mặt cao to, da ngâm đen đi theo đoàn của chính quyền tác nghiệp, theo dõi ghi hình những công nhân tiên phong, công khai lên tiếng đòi quyền lợi.

Người đàn ông cao to, da ngâm đen theo dõi ghi hình những công nhân lên tiếng

Ông Võ Văn Nê – Cán bộ thanh tra nhà nước tại Shin Sung Vina (LA) sáng 10/4/2015

Về phía lãnh đạo công ty Shin Sung Vina, vẫn chưa tiến hành tiếp xúc trực tiếp với công nhân, mà chỉ làm việc với chính quyền. Được biết, trước đó, lãnh đạo công ty này đã tìm cách chèn ép công nhân thông qua việc cắt giảm chế độ thưởng, trợ cấp và tìm cách cho thôi việc những công nhân có thâm niên cao…

“Tại sao phía lãnh đạo công ty nói dối với đài phát thanh rằng công ty đồng ý trả công nhân 4 ngày công, còn 3 ngày đưa vào phép năm (trong tổng số 7 ngày đình công tính đến 7/4) nhưng công nhân không chịu làm việc!”, một công nhân bức xúc vì cách xử sự trong vấn đề giải quyết chuyện đình công cho biết.

“Sự thật không có như vậy nên khi bị công nhân chất vấn công ty không trả lời được, những người của chính quyền cũng không ai trả lời!”.

Có thể nói, tình hình đình công ở công ty Shin Sung Vina phức tạp và kéo dài là do sự bất đồng về mặt quan điểm giữa công nhân với lãnh đạo công ty. Cụ thể, trong khi phía công ty cho rằng: “Nghỉ làm việc 10 ngày nay, thất thoát bao nhiêu rồi, hãy vì cuộc sống của chị em mà quay lại làm việc”.

Thì phía công nhân lại yêu cầu:

– Công ty phải chia sẻ 50% số ngày công trong toàn bộ số ngày đình công kéo dài. Nghĩa là công nhân chịu một nửa, công ty chịu một nửa.

– Công ty phải khôi phục chế độ thưởng, trợ cấp như trước đây và chấm dứt tình trạng tìm cách cho thôi việc những công nhân làm việc lâu năm có mức lương cao.

– Đóng BHXH cho công nhân đầy đủ, kịp thời (vì nhiều công nhân khi nghỉ việc phát hiện công ty chưa đóng đủ BHXH cho họ).

– Không được theo dõi, trù dập, bắt bớ những công nhân công khai ra mặt đòi quyền lợi cho tất cả công nhân của nhà máy.

Chính vì thế mà cho đến ngày hôm nay, phía công ty chỉ đưa ra một thông báo ngắn gọn, chung chung, không thể hiện cụ thể rõ ràng rằng có đồng ý yêu sách của công nhân hay không. Cụ thể là với thông báo số 15/2015-PNS ngày 10/4/2015 ghi rằng: “Qua kết quả làm việc với các cơ quan nhà nước, Ban giám đốc tha thiết kêu gọi công nhân quay lại làm việc bình thường. Từ hôm nay đến hết ngày 15/4/2015 nếu công nhân không chịu trở lại làm việc thì xem như tự ý bỏ việc tại công ty. Các chế độ nghỉ việc của công nhân sẽ thanh toán vào ngày 15/5/2015 theo qui định tại khoản 2 điều 47 của BLLĐ 2012”.

Thông báo của Shin Sung Vina ngày 10/4/2015

P/s: Xem thêm những hình ảnh chụp tại Shin Shun Vina (Long An) ngày 10/4/2015:

H1H1H1H1H1H1

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »

Ai giải phóng ai? So sánh những đóng góp của Đế chế Pháp, Mỹ, VNCH, và Đảng Cộng Sản cho Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 11/04/2015

Ai giải phóng ai?: Những đóng góp của Đế chế Pháp, Mỹ Ngụy và Đảng Cộng Sản cho Việt Nam

THĐP

Ku Búa

08-04-2015

Ảnh: Leon_Ting

32 thứ đế chế Pháp đã đóng góp cho Việt Nam

Chúng ta đã được dạy rằng Đế Chế Pháp đã xâm lược và đô hộ Việt Nam. Họ đã bốc lột đất nước và người dân Việt Nam để làm giàu cho nước họ. Họ không cho chúng ta tự do ngôn luận và cai trị với phương pháp ngu dân. Đó là lý do tại sao Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã ra đi tìm đường cứu nước. Để giải phóng đất nước và dân tộc khỏi sự cai trị ngu đần và bốc lột của Đế Chế thực dân Pháp.

Nhưng trong bài viết này, với tư cách là một người đang được thừa hưởng sự hòa bình, tôi xin nêu ra những gì mà Đế Chế Pháp đã đóng góp cho Việt Nam.

Theo phân tích của tôi, Đế Chế Pháp đã khai sáng đất nước Việt Nam từ 4000 năm đen tối trong 1 thế kỷ mà họ đã cai trị ở đây. Dĩ nhiên, chế độ nào cũng có mặt tích cực và tiêu cực, nhưng nếu chúng ta chỉ coi Pháp là một đế chế xâm lược mà phủ nhận những gì họ đã đóng góp cho Việt Nam, đó là một sự thiếu hiểu biết và ngạo mạn. 

Sau đây là 32 điều và thứ mà Đế Chế Pháp đã đóng góp cho Việt Nam và sẽ bắt đầu với thứ quan trọng nhất.

  1. Quốc Ngữ (Latin hóa quốc ngữ Việt Nam) – hãy tưởng tượng người Việt Nam sẽ như thế nào nếu giờ vẫn sử dụng chữ Hán và Nôm. Đó là một điều mà không ai muốn xảy ra. (xem Alexandre de Rhodes)
  2. Hạt cà phê – Hiện tại Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Brazil. Cà phê đóng góp tầm 3% cho kinh tế Việt Nam.
  3. Phin cà phê – Một biểu tưởng độc đáo của Việt Nam.
  4. Cà phê đá – Một loại nước uống gần như không thế thiếu vào buổi sáng. Một trong những biểu tượng ẩm thực của Việt Nam.
  5. Cà phê sữa đá – Tương tự. Cũng là 1 thứ tui phải uống vào mỗi buổi sáng. Có khi 2-3 ly 1 ngày.
  6. Văn hóa cà phê – Việt Nam tìm thêm sức sống trong những giọt cà phê là cũng nhờ Đế Chế Pháp giới thiệu.
  7. Đường rầy xe lửa xuyên Việt.–Nhờ Đế Chế Pháp mà Việt Nam đã được kết nối từ nam ra bắc, hiện giờ vẫn là tuyến đường xe lửa duy nhất chạy từ bắc vô nam (và ngược lại).
  8. Quốc Lộ 1A – Xây dựng bởi thực dân Pháp. Hiện tại thì là con đường chính kết nối ba miền bắc trung nam của Việt Nam.
  9. Điện.
  10. Xe đạp.
  11. Xe máy.
  12. Xe hơi.
  13. Cao su.
  14. Bánh mì – Một biểu tượng ẩm thực và văn hóa.
  15. Nhà thờ Đức Bà – Một trong những biểu tưởng của Việt Nam, nhưng lại là một sản phẩm của Đế Chế Pháp.
  16. Thành Phố Đà Lạt – Một trong những thành phố thơ mộng nhất thế giới, được khám phá và xây dựng bởi người Pháp.
  17. Nhà Thờ Con Gà (Đà Lạt) – Khánh thành 1942. Một trong những biểu tượng của Đà Lạt.
  18. Cao Đẳng Sư Phạm Đà Lạt (tên cũ: Trường Grand Lycée Yersin) – Thành lập năm 1927, thiết kế bởi kiến trúc sư Moncet. Một trong 1000 công trình xây dựng độc đáo trong thế kỷ 20. Một trong nhưng biểu tượng của Đà Lạt và du lịch Việt Nam.
  19. Khách Sạn Dalat Palace – Một trong những khách sạn 5 sao ở Đà lạt. Xây năm 1916, hoàn thành năm 1922.
  20. Thành Phố Sa Pa – Một thành phố du lịch thơ mộng của Việt Nam.
  21. Thành Phố Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông.
  22. Bến Nhà Rồng (Bảo Tàng TP Hồ Chí Minh) – Hoàn tất năm 1863. Cũng tại nơi đây, một chàng thanh niên Việt Nam tên Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu cuộc hành trình xa quê hương để tìm đường cứu nước (làm phản động thời bấy giờ).
  23. Nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh – Mở cửa năm 1990. Một trong những biểu tưởng của Sài Gòn.
  24. Bưu điện trung tâm Sài Gòn – Một trong những công trình kiến trúc vĩ đại ở Việt Nam.
  25. Thành Phố Vũng Tàu – Một thành phố biển thơ mộng và là một nơi người Sài Gòn đến nhiều nhất nhờ vị trí địa lý.
  26. Bạch Dinh (Vũng Tàu) – Xây dựng thời Pháp từ 1898 tới 1916. Một trong nhưng biểu tượng cảu thành phố Vũng Tàu.
  27. Trường Petrus Ký Sài Gòn (hiện này là trường chuyên Lê Hồng Phong – TPHCM).
  28. Cầu Trường Tiền (Huế) – Một biểu tưởng của Huế.
  29. Khách Sạn Metropole Hà Nội (hiện này là Sofitel Legend Metropole Hanoi).
  30. Cầu Long Biên Hà Nội. Một trong những biểu tưởng của Hà Nội.
  31. Sự khởi nghiệp của Hồ Chí Minh – Trong thời đế chế Pháp, Pháp đã cho ông lên thuyền đi qua Pháp. Pháp đã đón nhận ông trong âm thầm và cho phép ông làm phản động trong âm thầm. Để ông có bước khởi nghiệp vững chắc vì không bị ai quy cho cái tội phản động. Sau khi về nước, một lần nữa Pháp lại cho ông làm phản động để sau này các cháu ngoan của ông lại bắt bỏ tù những đứa phản động giống ông ngày xữa. Có điều gì đó ông đúng.
  32. Âm nhạc tây phương.

Những đóng góp của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cho Việt Nam

Chế Độ VNCH không hoàn hảo và đã phải trải qua thời gia đình trị dưới sự cầm quyền của Ngô Đình Diệm. Nhưng nếu xét về tự do ngôn luận và phát triển kinh tế thì chế độ VNCH đã góp phần không thua kém Đế Chế Pháp trong việc hiện đại hóa Việt Nam.

  1. Tự do ngôn luận là một điều bất khả xâm phạm. Các thành viên của các tổ chức chính trị có thể lên tiếng phản đối chính quyền công khai mà không bị bắt.
  2. Hệ thống chính trị tam quyền phân lập (Đệ Nhị Cộng Hòa 1967-1975). Khái niệm dân chủ theo cơ sở tam quyền phân lập thời đó rất xa lạ, VNCH là một ví dụ hiếm hoi.
  3. Đường lộ ở Tây Nam, tới bây giờ vẫn còn. Và nhiều đường lộ khác nữa.
  4. Giáo dục cao học đa ngôn ngữ và được quốc tế công nhận. Rất nhiều tri thức Việt Nam tốt nghiệp trong thời VNCH sau 1975 di dân vẫn được các nước khác ông nhận bằng cấp. Nhưng nếu tốt nghiệp dưới thời hậu VNCH thì không.
  5. Những bài nhạc cổ điển, chữ tình, nhạc “sến”, tới bây giờ vẫn còn được hát như nhạc Trịnh Công Sơn. Một điều khó xảy ra nếu những nhạc sĩ đó sống ở miền Bắc Việt Nam.
  6. Xe hơi La Dalat. Dưới thời VNCH Việt Nam đã sản xuất được xe hơi. Công Ty Xe Hơi Sài Gòn đã thành công trong việc nội địa hóa công nghệ và vật chất hơn 40% để sản xuất hơn 5,000 chiếc xe hơi La Dalat từ 1970 tới 1975. Đây là điều không tưởng trong một đất nước vẫn còn chiến tranh. Tới bây giờ ngành công nghiệp xe hơi Việt Nam đã thua cả Campuchia.

Những đóng góp của Đảng Cộng Sản cho Việt Nam

  1. Tượng mẹ Việt Nam Anh Hùng ở Quảng Nam, tốn 411 tỷ, đây là một công trình Mount Rushmore của Việt Nam.
  2. 50,000 tiến sĩ và 100,000 thạc sĩ các ngành nghề.
  3. Giá bất động sản cao nhất khu vực và có thể trên thế giới khi tính theo thu nhập đầu người. Một người Việt Nam bình thường phải đi làm 30-40 năm mới có đủ tiền để mua một căn nhà.
  4. Văn hóa xe máy, Việt Nam là nước có xe máy nhiều nhất với số lượng đăng ký trên dưới 30 triệu. Cứ 3 người Việt Nam thì có 1 chiếc xe máy.
  5. Số người chết vì tai nạn giao thông nhiều nhất, trung bình mỗi năm có 9,000-10,000 người chết vì tai nạn giao thông.
  6. Đồng tiền có nhiều con số “không” nhất hiện tại, chỉ sau Zimbabwe. $1 Đô La Mỹ đổi lấy hơn 21,000 Việt Nam Đồng.
  7. Giá xe hơi cao nhất về giá thị trường và dựa theo thu nhập bình quân. Trung bình 1 người Việt Nam phải đi làm 30 năm để có được một chiếc xe hơi. Giá xe hơi ở Việt Nam thường cao hơn giá thị trường thế giới gấp 3 lần vì thuế nhập khẩu cũng như chi phí vận chuyển và lợi nhuận.
  8. Việt Nam hiện tại có thể nói đã trở thành một dân tộc thiểu số lớn nhất nhì ở Đài Loan và Hàn Quốc. Hàn Quốc có hơn 60,000 phụ nữ Việt lấy chồng Hàn và Đài Loan có hơn 100,000 phụ nữ Việt lấy chồng Đài Loan. Nếu cộng thêm số lượng con cái từ những hôn nhân đó và số lượng lao động Việt Nam đang làm việc ở xứ sở tại, dân tộc Việt Nam là thiểu số đông nhất.
  9. Giá thuốc lá và bia rượu rẻ nhất thế giới.
  10. Xin các bạn đọc bài “23 điều vô lý chỉ có ở Việt Nam”.

Vậy theo các bạn, ai đã giải phóng ai?

Nguon THĐP

 

 

Posted in Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »