Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Ba 2015
    C H B T N S B
    « Th2   Th4 »
    1234567
    891011121314
    15161718192021
    22232425262728
    293031  
  • Bài viết mới

►Số phận những người trên tàu Thương Tín sau 40 năm–Hạm trưởng bất đắc dĩ trong ngày di tản

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2015

Chúng ta học khôn từ kinh nghiệm hay các câu chuyện được kể lại từ những người đi trước…

Số phận những người trên tàu Thương Tín sau 40 năm

Thứ Ba, ngày 17 tháng 3 năm 2015

RFA

Chiếc tàu mang tên Việt Nam Thương Tín chở hơn 600 người di tản vào ngày 30/4/1975 và đã quay lại VN với số lượng người hơn gấp đôi so với lúc ra đi 6 tháng sau đó. Số phận của những người trở về này ra sao sau 40 năm?
Trong số các chiếc tàu rời cảng Sài Gòn chở người di tản trong những giây phút cuối cùng của cuộc chiến tranh VN thì tàu Việt Nam Thương Tín luôn được nhắc đến trong suốt 40 năm qua bởi vì đây là chiếc tàu độc nhất quay trở về.
Thương thuyền Việt Nam Thương Tín có trọng tải hơn 6 ngàn tấn với hơn 600 người bắt đầu cuộc hành trình vào ngày 30/4/1975. Khi tàu chạy được 7 hải lý trên sông Lòng Tảo đến khu vực rừng Sát thì bị trúng 3 viên đạn pháo B40 gây thiệt mạng cho Nhà văn Chu Tử và 1 cháu bé. Mặc dù con tàu bị hư hại nhưng cuối cùng vẫn cập bến Apra, đảo Guam an toàn.
Trong thời gian con tàu Thương Tín có mặt ở đảo Guam, một số những người Việt tạm cư ở đây lên tiếng muốn trở về VN với lý do gia đình cùng người thân còn ở VN và còn vì các nguyên nhân khác. Nhiều người tuyệt thực biểu tình yêu cầu nguyện vọng của họ được chính phủ Hoa Kỳ đáp ứng. Mặc dù có rất nhiều lời khuyên can ngăn không nên trở về vì sẽ gặp nhiều rủi ro với chính phủ mới do Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền nhưng cuối cùng khoảng 1600 người, trong đó hơn 100 người đã định cư ở vùng Bắc Mỹ đến Guam để hồi hương. Chính phủ Hoa Kỳ chọn chiếc tàu Việt Nam Thương Tín và chỉ định Trung tá Hải quân Trần Đình Trụ lái chiếc tàu này trở về VN.
Trao đổi qua điện thoại với Hòa Ái, ông Trần Đình Trụ chia sẻ đến đảo Guam một mình vì khi rời VN trong chuyến công vụ trên chiến hạm hải quân nên ông quyết định trở về dù đã tiên liệu được phải trả một cái giá nào đó, có thể là tù đày vài ba năm do ông phục vụ trong Quân lực VNCH nhưng vẫn có cơ hội cho một cuộc sống về sau cùng với những người thân.
Cựu Trung tá Hải quân Trần Đình Trụ cho biết con tàu Việt Nam Thương Tín được trang bị đầy đủ xăng dầu, thực phẩm không những cho cuộc hải trình trở về VN mà còn đủ cho thời gian con tàu quay đầu trở lại đảo Guam nếu những người trên tàu thay đổi quyết định.
Không gặp trở ngại nào như lúc rời VN vào ngày 30/4, con tàu Việt Nam Thương Tín sau 2 tuần đã về đến Vũng Tàu an toàn. Thế nhưng số phận của khoảng 1600 người trên tàu, kể cả phụ nữ và trẻ em lại không được an toàn như vậy. Tất cả họ bị đưa vào trại giam. Ông Trần Đình Trụ kể lại:
 
“Tâm trạng con người ta khi mất tất cả, đất nước mất; gia đình, vợ con, sự nghiệp, nhà cửa, tất cả mất hết thì tôi không tha thiết gì cuộc sống bên Mỹ. Thành ra tôi quyết định về, dù chết cũng về. Về tới VN thì đương nhiên công an đưa tôi vào trại giam liền. Thực ra tôi về vì gia đình tôi còn ở VN nhưng những người Cộng sản nghi ngờ tôi từ bên Mỹ về thì Mỹ giao cho tôi công tác nào đó. Họ nghi ngờ như vậy cho nên họ điều tra về vấn đề này. Sau đó, họ điều tra rất nhiều, rất lâu, mấy tháng liên tiếp ngày nào cũng gọi tôi lên. Sau cùng họ chẳng tìm ra được nguyên nhân gì cả, chỉ vì lý do gia đình thôi. Sau đó họ đưa tôi vào những trại giam ở miền Trung và miền Bắc. Tôi ở 13 năm. Lúc tôi được về thì tương đối cũng không gặp trở ngại gì cả nhưng mọi hoạt động của tôi vẫn có người theo dõi”.
Trường hợp tiếp mà chúng tôi ghi nhận được cũng từ trên chiếc tàu Thương Tín trở về và bị nói làm việc cho CIA là của ông Trần Đẹt. Ông này người gốc Khmer, hiện ở Sóc Trăng.
Là cận vệ của Chỉ huy trưởng Chi Cảnh sát Quận Mỹ Xuyên, Tỉnh Ba Xuyên, Đại tá Lê Trường Xuân vào thời điểm 30/4/75, Trung sĩ Trần Đẹt được lệnh đi theo người chỉ huy của mình xuống tàu Việt Nam Thương Tín để chuyển vùng chứ không hề biết là đi di tản ra khỏi VN. Quyết định trở về VN với hy vọng gặp lại vợ và 4 người con nhưng ông Trần Đẹt bị bắt giam ngay sau khi con tàu cập cảng ở Nha Trang vào ngày 15/10/75. Ông Trần Đẹt phải chịu gần 5 năm tù ở trại A20 Phú Khánh vì “Họ nói mấy anh chạy đi nước nào thì còn khoan hồng chứ đi Mỹ trở về thì toàn là CIA cài lại”.
Rồi số phận của nhiều người trong số 1600 người trên con tàu Việt Nam Thương Tín cũng lần lượt được trở về đoàn tụ cùng gia đình, ông Trần Đẹt thì khoảng gần 5 năm, ông Trần Đình Trụ mất 13 năm trường. Và một lần nữa, nhiều người trong số họ lại rời VN ra đi đến Hoa Kỳ định cư trong những năm đầu thập niên 90. Ông Trần Đình Trụ cùng gia đình đến Mỹ năm 1991.
Tuy nhiên cũng vẫn có nhiều trường hợp không may mắn như gia đình ông Trần Đình Trụ. Gia đình ông Trần Đẹt bị kẹt lại VN vì tờ khai hộ khẩu có vấn đề. Ngày-tháng-năm ông Trần Đẹt trình diện công an địa phương hồi cuối năm 1980 không được ghi trong tờ khai hộ khẩu của gia đình nên khi đi phỏng vấn thì trong tờ khai hộ khẩu chỉ có năm 1977 khi gia đình của ông được cấp hộ khẩu mới mà thôi nên đối chiếu với thời gian ghi trên giấy ra trại cải tạo không phù hợp. Ông Trần Đẹt nhớ lại:
 
“Bị trục trặc giấy cải tạo với tờ khai hộ khẩu. Hồi tôi nộp hồ sơ thì tờ khai hộ khẩu là C4, không có ghi ngày tháng mình nhập khẩu. Tới khi đổi tờ khai hộ khẩu mới thì tên tôi bị (công an địa phương) ghi nhập khẩu năm 1977 nên khi đi phỏng vấn không kiểm tra được. Như thế này, mời phỏng vấn là 10/10/1995. Giấy phỏng vấn ghi mùng 10 nhưng (bưu điện chuyển) về tới tay tôi là mùng 9 thì thu sếp hồ sơ không kịp. Lên phỏng vấn thì bị sai hồ sơ hộ khẩu với giấy cải tạo. Tôi khiếu nại thì họ kêu bổ túc hồ sơ. Tôi lên Sài Gòn bổ túc hồ sơ mấy lần mà không được. Phái đoàn Mỹ chất vấn giấy cải tạo với tờ khai hộ khẩu không khớp với nhau. Họ căn cứ theo tờ khai hộ khẩu còn giấy cải tạo thì bị nghi là giấy cải tạo giả.”
Gia đình ông Trần Đẹt nhờ 1 người quen cùng xóm biết tiếng Anh giúp làm đơn khiếu nại gửi đến Lãnh Sự quán ở Thái Lan. Sau đó, gia đình nhận được thông báo hồ sơ được lưu trong vòng 5 năm đến năm 2000 ở Lãnh Sự quán TP.HCM cho việc khiếu nại nhưng vì nghèo khó nên gia đình đành phải bỏ cuộc. Và công an địa phương lập biên bản thu hồi hết 6 hộ chiếu của gia đình.
Hiện ông Trần Đẹt, 68 tuổi, với vóc dáng 44 kg, làm công việc bốc vác gạo và chở gạo thuê ở chợ, kiếm được khoảng 50 đến 60 ngàn đồng, tương đương gần 3 đô la cho cuộc sống mưu sinh hàng ngày.
Kể từ ngày đặt chân lên con tàu Việt Nam Thương Tín đến nay đã gần tròn 40 năm, nay ông Trần Đình Trụ hài lòng với cuộc sống ở Hoa Kỳ nhưng vẫn mong một ngày trở về khi VN thật sự có tự do-dân chủ.
Còn ông Trần Đẹt dù phải an phận với cuộc sống gian nan nơi quê nhà nhưng luôn hy vọng có được một cuộc sống mới bên kia bờ Thái Bình Dương. Ở tuổi gần đất xa trời, cả ông Trần Đình Trụ và ông Trần Đẹt đều mong đợi ước vọng của họ thành sự trước khi nhắm mắt xuôi tay.
Nguồn RFA
Bấm vào link dưới đây để nghe cuộc phỏng vấn >>>

————-

Hạm trưởng bất đắc dĩ trong ngày di tản

18-3-2015

Hòa Ái, phóng viên RFA

rong số khoảng ba mươi mấy ngàn người Việt di tản trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975, cựu Đại tá Hải quân Bùi Cửu Viên và gia đình lên tàu trong chiều tối 29/4. Tại tư gia của ông Bùi Cửu Viên ở thành phố Gaithersburg, bang Maryland, Hoa Kỳ, Hòa Ái có cuộc trao đổi với ông về câu chuyện 40 năm trước ông buộc phải trở thành một hạm trưởng bất đắc dĩ.

Hòa Ái: Xin chào cựu Đại tá Hải quân Bùi Cửu Viên. Trong ngày di tản đó, theo Hòa Ái biết là ông cùng với gia đình chỉ đi di tản thôi chứ không phải làm công vụ gì trong ngày hôm đó, nhưng vì sao ông lại trở thành một hạm trưởng bất đắc dĩ?

Ông Bùi Cửu Viên: Tôi rất vui mừng khi hôm nay có dịp được nói chuyện với phóng viên của đài RFA về ngày di tản của gia đình tôi trong ngày 29/4.  Chiều ngày 29/4, tất cả gia đình tôi đã xuống một chiếc chiến hạm trong Hải quân Công xưởng mà chiến hạm đó đang trong tình trạng sửa chữa. Do đó, nó chỉ có một máy có thể chạy được thôi. Chúng tôi bắt đầu khởi hành lúc khoảng 8:30 tối và khi tàu ra tới Nhà Bè thì các cơ khí viên của chiến hạm đã sửa tiếp được cái máy số 2. Do đó, từ lúc đó chúng tôi đã có 2 máy để chạy ra biển.

Khi chiếc tàu của chúng tôi đang đi  tới ngã 4 sông Lòng Tảo (Lòng Tàu) và Soài Rạp thì chiếc Soái hạm Trần Hưng Đạo 01 bị nạn. Nó đánh đèn và gọi vô tuyến điện kêu cứu. Lúc bấy giờ, tôi đang mơ màng vì mệt quá rồi, ngồi trên sân cờ cùng các sĩ quan nữa,  thì tôi thấy ông Hạm trưởng, anh Thiếu tá Nguyễn Phú Bá ở trên đài chỉ huy chạy xuống hỏi tôi “’Commandant’, mình có cứu nó được không?” Tôi bảo “Nếu anh muốn thì quay lại, tôi có thể cứu nó được. Thế bây giờ tàu mình đang ở đâu?” Anh nói với tôi là “Mình đã đi quá nó 1 hải lý rưỡi rồi”.

Trong đầu tôi nghĩ bây giờ mình không có quyền hành gì cả, chỉ là sĩ quan thâm niên quá giang nhưng có lẽ ông đến hỏi mình vì ông nghĩ rằng mình đã lãnh loại tàu giống như tàu mình đang đi ở bên Mỹ rồi và mình sẽ có nhiều kinh nghiệm, may ra mình có thể cứu được nó. Và đúng như vậy, tôi đã lãnh một chiếc tàu HQ 501 cũng cùng một loại như chiếc tàu tôi đang đi, tức chiếc HQ 801 và tôi đã chỉ huy chiếc đó 2 năm ở Việt Nam sau khi tôi lãnh ở bên Mỹ về.

Có một vài người lên tiếng nói với tôi là “Bây giờ đã 12:30 sáng rồi. Nếu quay lại cứu thì buổi sáng mình ra tới Vũng Tàu thì có thể bị địch ở trên núi bắn xuống, rất là nguy hiểm cho mấy ngàn người trên tàu”. Thế tôi mới trả lời là “Bây giờ việc cứu chiến hạm mới quan trọng. Người ta gặp nạn là mình phải cứu”. Do đó, anh Hạm trưởng đồng ý quay tàu lại và anh giao tay lái lại cho tôi và bảo “Thôi, Đại tá lái đi!”

Khi đến đấy tôi thấy mũi tàu cắm ngay vào bờ. Bây giờ làm sao để có thể kéo chiếc tàu này ra được? Nếu bây giờ mình mon men đến gần đó, nước quận, tàu mình có thể bị dạt sang tàu kia thì sẽ làm tàu kia chìm mà nguy hiểm tính mạng mấy ngàn người. Do đó, tôi quyết định ủi bãi. Khi tôi đưa con tàu ra phía sau của chiếc Trần Hưng Đạo 01 đó và tôi đã ủi bãi song song với chiếc Trần Hưng Đạo. Khi đã ủi bãi xong rồi, tôi ra lệnh cho nhân viên ném dây sang bên đó; ném dây mũi, dây lái và các dây giữa vào khoảng độ 7-8 sợi dây.

Sau khi hai bên đã cột chắc rồi thì tôi kéo chiếc tàu ấy ra giữa sông. Khi vừa mới kéo ra được một quãng thì có bao nhiêu người trên chiếc tàu Soái hạm HQ 01 đã nhảy sang bên tàu của tôi. Tôi thấy rất là nguy hiểm, đã có vài trăm người nhảy sang trong vòng 5 phút đồng hồ. Do đó, tôi ra lệnh cho các thủy thủ bắn súng chỉ thiên để cấm nhảy nữa vì khi tàu ra tới giữa sông thì thế nào hai tàu cũng dang ra và người ta sẽ rớt xuống sông.

Khi kéo được chiếc tàu ra rồi, tôi sờ tay lên trán thì thấy mồ hôi đầy trên trán tại vì quá sức gay cấn, vì tôi nghĩ nếu trường hợp đó không thành công và nếu hai tàu va đụng vào nhau trong đêm tối như vậy thì sẽ nguy hiểm tính mạng của bao nhiêu người. Khi tàu Trần Hưng Đạo ra được khoảng giữa sông thì họ bắt đầu chạy theo tàu của tôi cho đến khi ra tới biển và cũng không gặp trở ngại gì, không có bị địch trên núi bắn xuống tuy lúc bấy giờ trời đã sáng.

Khi ra gần tới Phan Thiết,  chiếc chiến hạm tôi đang đi nhận được lệnh của ông Tư lệnh Hải quân, ông ra lệnh cho tất cả các chiến hạm phải tập trung tại Côn Sơn để chuẩn bị đi Subic Bay. Khi Hạm trưởng Nguyễn Phú Bá của chiếc 801 tức là chiếc tàu tôi đang đi quá giang nghe tin như vậy thì gia đình ông hạm trưởng không muốn đi và đòi ông hạm trưởng phải lái tàu trở về Sài Gòn. Tôi có nói với ông Hạm trưởng là “Bây giờ nếu như muốn về Sài Gòn thì có mấy ngàn người ở trên tàu này sẽ mắc kẹt và để tôi can thiệp với ông Tư lệnh Hải quân”.

Family-picture-001-400.jpg
Gia đình ông Bùi Cửu Viên tại Maryland, Hoa Kỳ. Hình do gia đình cung cấp

Sau đó, tôi nói chuyện vô tuyến với vị Tư lệnh Hải quân thì ông nói là đang cho chiếc tàu dầu đến đón những người muốn trở về Sài Gòn vì có gia đình kẹt lại ở đó. Sau đó, ông nói với tôi là “Thôi, ‘Toi’ lái chiếc tàu đó đi, ‘Toi’ làm Hạm trưởng đi!”. Thế là tự nhiên lúc đó tôi bất đắc dĩ lại biến thành một hạm trưởng mà thật sự ra tôi đã rời chiến hạm, loại tàu giống như vậy từ năm 1964,  tức là đã 11 năm tôi không làm hạm trưởng dù tôi vẫn giữ chức vụ chỉ huy ở trên bờ. Và bây giờ sau khi trở lại làm hạm trưởng thì tôi nghĩ đúng là cái duyên của mình đối với Hải quân, cho đến phút chót cũng phải sống với con tàu.

Hòa Ái: Dạ thưa, từ khi nhận được lệnh trở thành hạm trưởng bất đắc dĩ như vậy cho đến khi ông cùng cả gia đình đặt chân đến đảo Guam an toàn thì trong cuộc hải trình đó, kỷ niệm nào mà ông nhớ nhất?

Ông Bùi Cửu Viên: Trong thời gian tôi làm hạm trưởng bất đắc dĩ trong 5 ngày từ lúc đi ở Côn Sơn sang đến Subic Bay thì tôi lan man nghĩ tới tại sao cuộc đời quân ngũ của mình chỉ có đến đây đã chấm dứt mà lúc bấy giờ tôi cũng hiểu là thời thế đã đem đến bất hạnh cho không biết bao nhiêu người. Tôi rất buồn, buồn là vì từ nay trở đi mình không còn là người sĩ quan Hải quân nữa và mình không có cơ hội phục vụ đất nước nữa.

Khi tàu đến bến ở Subic Bay thì chúng tôi được lệnh tất cả phải cởi bỏ hết quân phục và chuẩn bị để trao tàu lại cho Hải quân Mỹ.  Trong lúc đó chúng tôi làm lễ chào cờ thì tôi hạ cờ VNCH và người Mỹ họ kéo cờ Mỹ của họ lên. Lúc đó có rất nhiều người cảm động muốn khóc. Lúc bấy giờ trong lòng tôi rất xúc động. Tôi không biết kể từ nay cuộc đời mình sẽ trôi nổi ra làm sao…Và khi tôi bỏ chiếc nón với cặp lon xuống dưới sàn tàu thì tôi nghĩ là từ nay mình có cuộc đời khác hẳn. Các sĩ quan cũng như các thủy thủ đến bên cạnh tôi, các anh em ôm lấy nhau cũng chỉ muốn khóc.

Hòa Ái: Dạ thưa ông, 40 năm qua rồi, cuộc sống của ông cũng như của gia đình theo Hòa Ái biết thì mọi sự cũng được viên mãn. Đôi khi thỉnh thoảng nhớ về cuộc đời quân ngũ thì có câu chuyện hay cảm xúc nào làm ông nhớ đến hay không?

Ông Bùi Cửu Viên: Tôi có rất nhiều kỷ niệm trong cuộc đời quân ngũ của tôi trong 21 năm trường ở Hải Quân nhưng mà nói tới những kỷ niệm mới nhất gần đây thì tôi có thể nói một cái câu chuyện rất là lạ:

Tôi có một người bạn mới đây về chơi ở VN thì anh có quen một người làm ở trên chiếc tàu tôi đã lãnh ở bên Mỹ về, đó là chiếc HQ 501. Và vì anh quen người đó cũng hoạt động trên chiếc chiến hạm đó cho nên anh yêu cầu người đó cho xuống coi tàu. Khi anh xuống coi tàu thì anh thấy trong phòng hạm trưởng khắc tên của các hạm trưởng từ thời đầu cho đến bây giờ vẫn còn nguyên và anh thấy tên tôi vẫn ở trên cùng vì tôi là người lãnh chiếc tàu đó đầu tiên ở bên Mỹ năm 1962, lúc bấy giờ tôi chỉ là đại úy, và tự nhiên bao nhiêu kỷ niệm hiện về với tôi từ những lúc mà tôi lãnh tàu, trên đường tôi đi, bao nhiêu chặng đường tôi qua. Nếu nói về những kỷ niệm mới nhất thì đấy là kỷ niệm bây giờ chứ không phải của 40 năm về trước nữa.

Hòa Ái: Dạ thưa ông, Hòa Ái được biết ông bây giờ đã ngoài 80 tuổi rồi, trong khoảng thời gian ông phục vụ cho Quân lực VNCH thì việc gì hay điều gì ông cho rằng hài lòng trong thời gian đó?

Ông Bùi Cửu Viên: Trong thời gian phục vụ ở Hải quân VNCH thì tôi nhớ nhất lại là ngày chót mà tôi sẽ rời Hải quân. Đó là ngày tôi di tản trên chiếc HQ 801 và đã kéo được chiếc Soái hạm HQ 01 Trần Hưng Đạo ra khỏi mắc cạn và tôi có cảm tưởng tôi giúp được cho bao nhiêu người không bị kẹt lại và có thể gặp rất nhiều trở ngại, có thể bị tù tội. Tại vì đối với tư cách người sĩ quan Hải quân, chúng tôi vẫn nhớ là khi còn được huấn luyện ở trong quân trường, các vị sĩ quan huấn luyện người Pháp luôn luôn nhắc nhở chúng tôi là “Nếu người sĩ quan Hải quân gặp người bị lâm nạn trên biển cả mà không cứu thì các anh không xứng đáng là người sĩ quan Hải quân”. Tôi nghĩ đó là việc mà tôi rất hài lòng, vui sướng vì đã làm được việc như vậy. Thêm vào đó, tôi nghĩ rằng nếu hôm đó tôi mà không quyết định, tôi không dám làm chuyện đó thì có lẽ tôi sẽ ân hận suốt đời là vì cái chuyện mình có thể làm được mà mình không dám làm.

Hòa Ái: Vừa rồi là câu chuyện kể của cựu Đại tá Hải quân Bùi Cửu Viên về cái duyên ông trở thành hạm trưởng bất đắc dĩ trong ngày ông đi di tản 29/4/1975. Và điều lý  thú mà Hòa Ái phát hiện sau khi nghe câu chuyện kể này, là khi chiếc Dương vận hạm HQ 801 và chiếc Soái hạm Trần Hưng Đạo HQ 01 cập sát với nhau chỉ trong vòng 5 phút đồng hồ thì trong số khoảng 200 người nhảy qua, có ông Nguyễn Văn Khanh. Và nếu như cách đây 40 năm, ông Bùi Cửu Viên không có quyết định quay trở lại để cứu con tàu thì có lẽ bây giờ không có Giám đốc ban Việt ngữ Nguyễn Văn Khanh của đài Á Châu tự do. Hòa Ái xin cám ơn ông Bùi Cửu Viên đã dành thời gian chia sẻ câu chuyện kể của ông và Hòa Ái cũng xin cám ơn thời gian của quý vị theo dõi câu chuyện kể này.

Bấm vào link này để nghe phỏng vấn: RFA

*Danlambaovn là một blog có nhiều tin tức và bình luận rất xuất sắc. Bạn đọc tại Việt Nam bây giờ có thể vào Danlambao mà không bị tường lửa qua đường link: http://dlb1.global.ssl.fastly.net/

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: