Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai 20th, 2015

►Người Việt dứt khoát phải bứt khỏi tình thế ‘làng nhàng’ – cuộc sống được giới hạn trong những vấn đề mưu sinh

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2015

Người Việt dứt khoát phải bứt khỏi tình thế ‘làng nhàng’

20-2-2015

Đặng Hoàng Giang

Thời báo kinh tế Sài Gòn

Chia sẻ bài viết này

Muốn hội nhập thành công với thế giới bên ngoài, muốn nâng cao vị thế dân tộc trong cộng đồng nhân loại, người Việt dứt khoát phải bứt khỏi tình thế làng nhàng hiện nay.

 

Do yêu cầu của công việc, chúng tôi thường xuyên xe dịch giữa các vùng miền. Điều thú vị trong những chuyến đi như thế là những cuộc thảo luận hào hứng, cởi mở và hết sức ngẫu nhiên giữa các thành viên trong đoàn. Với người xê dịch, thảo luận là cách tốt nhất để quên đi sự xa ngái của đường trường, để mở mang sự hiểu biết và để tìm lấy những niềm vui bình dị.

Lần nọ, trên đường vô Nam, khi mọi người đang so sánh tố chất giữa người Việt với các nước khác trong khu vực, một nhân vật kỳ cựu trong đoàn đã đưa ra nhận xét: “Chung quy lại, xã hội mình là một xã hội làng nhàng, các anh ạ”.

Cuộc thảo luận kết thúc không lâu sau đó nhưng hai tiếng “làng nhàng” khiến tôi nhớ mãi. Quả vậy, nhờ khả năng biểu cảm cao độ, làng nhàng đã lột tả thật tài tình thần thái của đối tượng mà nó hướng đến và đem lại cho người nghe một khoái cảm hết sức đặc biệt. Trong bài này, chúng ta sẽ thử lần theo ý nghĩa của nó để nhận diện đặc điểm cơ bản của xã hội Việt Nam hiện nay.

Làng nhàng là một từ láy rất giàu sức biểu đạt. Nó gợi lên một sắc thái nhếch nhác, bình bình, nhàn nhạt, tàm tạm; không rõ ràng, không nổi bật, không dứt khoát, không triệt để.

Trong cuộc sống, làng nhàng thường được dùng để đánh giá một con người cụ thể nào đó. Đặc điểm nhận biết một người làng nhàng là anh ta không có gì nổi bật khiến người khác phải chú ý. Anh ta không kém hẳn mà cũng không giỏi hẳn – tức không thể làm chủ một cách thành thạo những kĩ năng cần có trong công việc (nên không biết nên gọi là thầy hay là thợ), ít khi bày tỏ quan điểm riêng và thường nghi ngờ cái mới. Dửng dưng với mọi vận động của cuộc sống bên ngoài, cuộc sống của anh ta được giới hạn trong những vấn đề mưu sinh.

Như vậy, từ láy làng nhàng luôn bao hàm hai nghĩa chính: vừa nêu bật khía cạnh trình độ, năng lực; vừa hàm chỉ một thái độ sống, thái độ hành động. Giữa hai nghĩa này có mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau: một trình độ làng nhàng thường dẫn đến một thái độ sống làng nhàng và một thái độ sống làng nhàng thì luôn song hành với một trình độ làng nhàng tương ứng.

Đối lập với làng nhàng là chuyên nghiệp là nói đến một cái gì đó rất cơ bản, hệ thống, rõ ràng, tường tận, triệt để. Một xã hội làng nhàng là một xã hội mà các năng lực thiết yếu cho công cuộc phát triển chỉ ở mức trung bình. Một xã hội làng nhàng cũng là một xã hội bàng quang, hời hợt: hời hợt với những vấn đề của chính nó và của thế giới xung quanh.

Có thể bạn sẽ giải thích tình trạng làng nhàng của xã hội Việt Nam bằng lý do văn hoá. Cũng đúng thôi, xã hội tiểu nông truyền thống của người Việt đã chuẩn bị sẵn các tiền đề vật chất và tinh thần cho cái làng nhàng xuất hiện: sản xuất, giao thương manh mún, nhỏ lẻ, bám nội địa; chuộng sự ổn định, an bằng; chuộng cái thực tế, trước mắt hơn là cái hệ thống, trừu tượng… Tuy nhiên, khung thể chế hiện tại – với “điển hình tiên tiến” là thể chế giáo dục, mới là nguyên nhân trực tiếp, cơ bản.

Có thể khẳng định rằng, sự làng nhàng của sản phẩm tất yếu của một nền giáo dục muốn dạy cho con người mọi thứ nhưng hầu như không dạy cho họ thứ gì cả, đặc biệt là khả năng tư duy độc lập , khả năng đặt câu hỏi trước mọi vấn đề của cuộc sống. Nhận định này có vẻ mâu thuẫn nhưng sự thực là với cách đào tạo hiện nay, người học sẽ biết rất nhiều thứ, mỗi thứ một ít, nhưng cái biết ấy không giúp họ hình thành một khả năng tư duy độc lập và kĩ năng làm việc cơ bản để sau đó, có thể “vào đời” như một công dân độc lập, đàng hoàng, tự tin.

Làng nhàng là một trở lực rất lớn cho sự phát triển xã hội. Trong một xã hội làng nhàng, cái mới, cái đỉnh cao hiếm khi xuất hiện.

Một mặt, xã hội không đủ khả năng phát hiện, sáng tạo các tri thức mới hoặc cập nhật, ứng dụng các thành tựu tri thức mới mẻ, phong phú của nhân loại để đi đến những “bước nhảy sinh mệnh” làm thay đổi số mệnh cộng đồng. Tình trạng này diễn ra trong mọi lĩnh vực của cuộc sống: từ tư tưởng đến chính trị, kinh tế văn hoá, giáo dục, nghệ thuật….

Mặt khác, trong môi trường làng nhàng, cái mới, nếu có, cũng thiếu môi trường thuận lợi để đơm bông, kết trái. Đường đi quen thuộc của cái mới, cái đỉnh cao tìm cách “nôm na hoá”, “đại trà hoá” cho phù hợp với “căn cơ” của số đông. Lâu dần, từ chỗ là phương tiện, cái nôm na, đại trà, đại chúng trở thành mục đích, thành khuôn mẫu phát triển của xã hội. Quy trình này đi ngược với xu thế phát triển thông thường. Bởi lẽ, bao giờ cũng vậy, muốn trở lên phát triển, xã hội nào cũng cần dựa trên cái đỉnh cao, cái tinh hoa. Phi tinh hoa bất thành phát triển.

Chỉ với sự dẫn đường của cái đỉnh cao, phát triển mới thực sự là một quá trình có triết lý, định hướng, mục tiêu, phương pháp, kế hoạch rõ ràng, phù hợp và bắt nhịp được với trào lưu vận động của nhân loại. Sự làng nhàng còn góp phần tạo nên một xã hội thụ động. Với một con người cụ thể, nếu năng lực và thái độ sống của anh ta chỉ ở mức làng nhàng, anh ta luôn luôn lệ thuộc vào một đối tượng khác. Đối tượng ấy có thể là quyền lực, là truyền thống, là đám đông, kể cả… thần thánh.

Trong tâm thế lệ thuộc, con người mất niềm tin vào chính mình, mất động lực vươn tới, phó thác tương lai cho sự run rủi của số phận và sẵn sàng đánh đổi nhân cách – miễn rằng sự đánh đổi ấy mang lại cho họ một đảm bảo về quyền lợi. Khi những cá thể lệ thuộc, bị động chiếm thành phần đa số, họ sẽ trở thành gánh nặng cho xã hội. Sự lan toả sức ì chắc chắn sẽ diễn ra, ảnh hưởng tiêu cực đến tính năng động xã hội của bộ phận còn lại, biến sức ì thành đặc tính trội của cộng đồng.

Trong một xã hội lệ thuộc, điều lo ngại nhất là nó không tự quyết được vận mệnh mà thường phụ thuộc và do đó, thường hứng chịu những rủi ro, bất trắc từ thế giới bên ngoài.

Muốn hội nhập thành công với thế giới bên ngoài, muốn nâng cao vị thế dân tộc trong cộng đồng nhân loại, người Việt dứt khoát phải bứt khỏi tình thế làng nhàng hiện nay. Thu nhập trung bình là một cái bẫy trong phát triển, nhưng chỉ là cái bẫy thứ yếu, là rào cản vô hình ngăn trở quá trình đi lên của dân tộc.

Dù “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, vẫn cứ phải nhắc lại rằng: cải cách thể chế, đặc biệt là cải cách hệ thống giáo dục là con đường tất yếu, cơ bản để khắc phục tình trạng làng nhàng của xã hội. Nhưng đổi mới thể chế không phải là con đường duy nhất. Nhấn mạnh tầm quan trong của thể chế không có nghĩa là xem nhẹ vai trò năng động của mỗi cá nhân trong quá trình đổi mới xã hội. Thực tế này càng được củng cố hơn bao giờ hết trong kỷ nguyên công nghệ và thông tin.

Ngày nay, Internet đã mở ra những khả năng vô tận cho sự phát triển, khẳng định các giá trị cá nhân, cũng như sự đóng góp của yếu tố cá nhân vào sinh hoạt cộng đồng. Trên một thập niên trở lại đây, nhờ sự kích của Internet, ở Việt Nam đã hình thành nên một lớp người mới, một thế hệ mới mà ta tạm gọi là “thế hệ Internet”. Với họ, Internet là một thành tựu công nghệ đặc biệt, một công cụ phát triển có khả năng thúc đẩy sự trưởng thành của từng cá nhân và xã hội.

Thông qua Internet, họ đã khám phá, tiếp nhận, lĩnh hội những giá trị mới mẻ, phong phú mà môi trường xã hội chưa thể mang lại cho họ và nhờ vậy, tự giải phóng mình ra khỏi khuôn khổ trật hẹp, đơn điệu của sự làng nhàng. Các giá trị phong phú mà họ có được đang góp phần mở rộng tính phong phú, đa dạng lên đời sống xã hội.

Còn bạn, bạn đã thực sự gia nhập vào thế hệ ấy chưa?

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►“Người Ta” Là Ai, Ở Đâu, Tên Gì, Mấy Đứa?

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2015

 

Đinh Tấn Lực

16-2-2015

Cuối năm, có kẻ phát hiện ra nồi bánh chưng ngon nhất VN được chụm bằng củi chẻ từ kèo/cột/rui/mè… của hội trường Ba Đình.

Chưa biết đúng sai. Chỉ có thể nói leo: Và trong lúc trông bánh, những câu chuyện rôm rả nhất, hẳn phải là chuyện “người ta”?

Hãy bắt đầu bằng hai câu danh ngôn của cố chủ tịch và đương kim phó chủ tịch nước, nói về “người ta”:

* * *Khoan bàn về chuyện “mục thước” là “ăn của dân không từ một cái gì”, trong suốt nửa thế kỷ 1965-2015.

Hãy coi thử khúc giữa của nó còn những thứ “người ta” nào khác?

  • “Nhiều lần tôi nói rồi, người ta nghĩ thế này nhưng người ta nói thế khác…” Nguyễn Phú Trọng (Mỗi người một hướng, làm sao con đò sang sông, 10/01/2013)
  • “Minh bạch, rõ ràng, muốn thế phải bằng quy chế, luật pháp, quy định, trước hết là con người ta trong sáng, công tâm. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật, nói thật” – Nguyễn Phú Trọng (Cần làm rõ có hay không việc chạy chức, chạy quyền, 29/01/2015).
  • “Chúng ta không ngăn và cũng không cấm được đâu các đồng chí, quan trọng nhất là đưa thông tin đúng, chính xác kịp thời để người ta có lòng tin đúng, ai nói thì nói trên mạng nhưng đây là thông tin chính thống của Chính phủ” – Nguyễn Tấn Dũng (Không thể ngăn cấm thông tin trên mạng, 15/01/2015).
  • “Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không lẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được” – Trương Tấn Sang (Tiếp xúc cử tri Sài Gòn, tháng 5-2011).
  • “Bởi vì trong thực tế có những vụ việc người ta ‘chạy’ dữ lắm, người ta ỷ thế, ỷ quyền, ỷ tiền, ỷ bạc mà ‘chạy’ để thoát tội và gây ra tội lỗi mới” – Trương Tấn Sang (Trả lời phỏng vấn của TTXVN về nạn tham nhũng, 03/02/2015).
  • Người ta có thể trù úm một người, một nhóm người nhưng không thể trù úm cả dân tộc này” – Trương Tấn Sang (Sợ trù úm khi tố cáo tham nhũng thì đất nước này ra sao? 17/10/2012).
  • “Xin nói thật là làm thủ trưởng thì nó khác, cho ai nói thì nói, không cho nói thì thôi, người ta nói mình nghe thì nghe mà không nghe thì quên” – Nguyễn Sinh Hùng (Tôi không ngồi nhầm vai – 07/8/2011).
  • Người ta có thẻ nhà báo rồi tại sao lại cần phải giấy giới thiệu?” – Nguyễn Sinh Hùng (Lề luật vào dự các phiên toà, 22/12/2014).
  • Nếu người ta căn cứ 312 văn bản này để mà tổ chức thực hiện thì gay go rồi. Mà nếu không tổ chức thi hành thì lại là vi phạm pháp luật” – Nguyễn Sinh Hùng (Hậu quả 312 văn bản sai luật, 11/6/2014).
  • “Nhiều khi đang biểu quyết cùng một dự án luật, nhưng số lượng đại biểu tham gia biểu quyết thay đổi liên tục: lúc thì 480, lúc bốn trăm bảy mấy, lúc cao hơn năm người, lúc tụt xuống ba người… Có nghĩa là người ta biểu quyết hộ người khác nên lúc bấm nút, lúc thì quên” – Nguyễn Thị Kim Ngân (Nhiều đại biểu vào QH để hỏi mồi và vỗ tay, 25/7/2015).
  • “Trong hoàn cảnh hiện nay, muốn đồng thuận, nhất trí, không phải ‘ép người ta mà được’, không phải chúng ta cứ ‘khư khư áp đặt’mà được” – Đinh Thế Huynh (Hội Nghị báo cáo viên miền Bắc, các cơ quan đảng uỷ trực thuộc TW, 16/8/2012).
  • “Việc luân chuyển theo yêu cầu của hội nghị TƯ 4 đã được làm bài bản, không phải theo cách cũ làm ào ạt khiến người ta nghĩ là chạy được” – Tô Huy Rứa (Tôi cũng trăn trở, 29/01/2015).
  • “Còn nếu không chuẩn bị, cứ để anh trẻ này làm phó phòng, ra bỏ phiếu chung với ông giám đốc thì ai người ta bỏ phiếu cho anh phó phòngTô Huy Rứa (Bố trí các chức danh lãnh đạo, 21/8/2014).
  • Nhà người ta trị giá 10 tỉ mà ông nhân viên tín dụng định giá lên đến 50-70 tỉ, rồi lãnh đạo ngồi ở nhà không nắm được giá trị thật cứ gật gù ký…” – Nguyễn Bá Thanh (Báo cáo láo quen rồi, 20/3/2013).
  • “Muốn phát triển mạnh để đuổi kịp và vượt người ta thì chủ tịch xã phải có tầm chủ tịch huyện, chủ tịch huyện phải có tầm chủ tịch tỉnh” – Vũ Đức Đam (Chuyện chưa biết về PTT trẻ nhất, 13/11/2013).
  • “Mỗi khi có tệ nạn mới phát sinh, người ta lại đổ tội cho giáo dục” – Phạm Vũ Luận (Làm bộ trưởng giáo dục khó hay dễ, 01/12/2014).
  • “Chúng ta không thể vì một hiện tượng cá lẻ mà suy rộng ra một nền khoa học vô dụng…Công bằng mà nói chúng ta cũng đã có rất nhiều sáng tạo, nghiên cứu khoa học được ứng dụng thành công. Đơn cử như Việt Nam là 1 trong 4 nước trên thế giới làm được vắc-xin Rota. Điều này không phải nước nào cũng làm được. Đây là những nghiên cứu khoa học được đánh giá cao nhưng lại không được nhắc tới nhiều bởi lẽ người ta cho rằng đó thuộc trách nhiệm của nhà khoa học. Trong khi đó những sáng chế của người dân bình thường lại được được nhiều người đánh giá cao cũng là chuyện dễ hiểu” – Nguyễn Quân (Bộ trưởng KH-CN nói về Hai Lúa chế tạo xe bọc thép, 10/12/2014).
  • Cách đặt câu hỏi, nội dung thăm dò chung quá, đại khái quá, chỉ cho người ta hài lòng, không hài lòng hoặc rất hài lòng” – Vũ Mão (Vì sao người dân chưa hài lòng, 24/8/2014)
  • Người ta đang ốm đau không nên nói nọ nói kia” – Phạm Thế Duyệt (Người ta đang ốm, 09/01/2015).
  • Đó là chuyện của người ta. Không có chuyện giải trình gì cả. Mình là dân biểu, họ cứ nhầm lẫn…” – Đỗ Văn Đương (trả lời phỏng vấn của TNO về việc Liên đoàn Luật sư phản đối nhận định của đương sự là luật sư chỉ bào chữa cho người có tiền, 01/11/2014).
  • “Tôi cho rằng người ta vẫn cứ im lặng để người ta hiểu như rằng đây cũng coi nó như một bức thư nặc danh vậy” – Phạm Quý Thọ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Trả lời phỏng vấn của BBC Việt ngữ về trang CDQL)

* * *Với ngần ấy những danh ngôn nội bộ vừa tạm liệt kê, người nghe sẽ tức khắc nhận ra ngay cái thứ “người ta” đó là ai.

Không chỉ trong đảng, mà cả người ngoài đảng; không chỉ người trong nước mà cả người ngoài nước; không chỉ người VN, mà cả người nước ngoài (như Carl Thayer)… cũng đều thấy cái thứ “người ta” đó là ai:

Không phải đảng viên CSVN, không phải đảng viên cao cấp của CSVN, thì cách nào mà “người ta” có thể mở ra đặc lệ hay ngoại lệ cho dăm ba chóp bu giữ ghế?

Thế, vì sao đảng viên nói về đảng viên mà phải xa gần bóng gió?

Có phải vì tất cả đều cần tránh va chạm thẳng mặt, giữa cá nhân với cá nhân; giữa cá nhân với nhóm lợi ích; hay giữa nhóm lợi ích với nhóm lợi ích?

Hoặc giả, đơn giản chỉ vì nỗi ám ảnh rằng tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào, có khi không chỉ 1 lần/1 người, như kinh nghiệm năm con ngựa này có 2 đám ma to đùng làm gương rèn cán: Phạm Quý Ngọ (18/02/2014) & Nguyễn Bá Thanh (13/2/2015)?

Không xa gần bóng gió để mà được thử các loại độc dược tân kỳ à?

* * *Mà không chỉ một dạng “người ta” hiền lành nhưng dễ chết đó. Phiên bản của những xa xôi bóng gió ấy còn là những “họ”, những “một số người”, những “một số hiện tượng”, những “bộ phận không nhỏ”…

  • “Tôi nghĩ rằng đa số anh em là như vậy nhưng có một bộ phận mà đảng nói là không nhỏ…, bây giờ không biết nằm ở đâu. Dân hỏi mãi, đảng hỏi mãi nhưng không trả lời được. Từ Trung ương đến cơ sở đều lúng túng chỗ này” – Trương Tấn Sang (Một bộ phận không nhỏ không biết nằm đâu, 15/10/2014).

Thế, cái tập thể có nhiều bộ phận không nhỏ mà không ưa nhau đó làm gì?

Cái gì? Làm giàu à? Thiệt sao? Cách nào?

  • “Chúng tôi theo dõi mới biết là tham nhũng ngày càng tinh vi. Tham nhũng không phải đứng một người riêng lẻ mà nó dây mơ rễ má, hình thành những nhóm nữa, xâu chuỗi bao che, bảo vệ nhau” – Trương Tấn Sang (Đề phòng người chống tham nhũng bị tấn công ngược, 03/12/2014).

Có trễ quá không, cái chuyện đề phòng người tố tham nhũng (hay tiến hành điều tra chống tham nhũng) bị tấn công ngược, bằng cả chất độc phóng xạ ARS?

Mục tiêu là những đồng chí vô hình (hoặc không cần mô tả), và vô danh (không cần nêu tên, hoặc chỉ cần một ẩn số X thay cho cái ẩn danh mà ai cũng hiểu). Động cơ là chiếc ghế. Phương thức là trồi đạp chiếm chỗ. Phương tiện xưa là tuyên giáo, nay là FB.

Công việc chính thức và công khai là lên án mông lung, kiểu ném đá qua tường, trúng ai nấy chịu (bởi, đứa nào tay chẳng nhúng chàm), mà không cần hay chẳng dám gom trách nhiệm làm rõ từng vụ việc.

Khi ném ra cái từ “người ta”, là tác giả đã ném cả cái trách nhiệm bôi nhọ/ngáng chân/giật chỏ kia lên bàn kẻ khác, tất yếu không phải là “ta” hay “chúng ta”.

Cái từ “người ta” màu nhiệm này còn có thêm một đặc tính quý phái khác là can đảm/dũng cảm/không né tránh/dám nhìn thẳng nói thật… tới một sự cố nào đó, được lên báo, mà lại đủ “khôn ngoan” để có chỗ đứng bên này lằn mức an toàn, là không một ai cần làm gì cả.

Như vậy, có cần lắm không cái chuyện đề phòng bị tấn công ngược vừa nói đó, một khi đảng viên xách mé những đồng chí đối thủ bằng cái từ “người ta” vô hình/vô danh/vô can/vô trách nhiệm và vô hình chung trở thành vô dụng kia?

Khó quá. Làm sao Phạm Quý Ngọ và Nguyễn Bá Thanh có thể trả lời hay giải thích thêm cái từ “người ta” hiền lành mà đầy hiểm nghèo/trắc trở… này cho rốt ráo?

* * *Ở tầm quốc gia, cái từ “người ta” trớ trêu/trí trá ấy còn là cái hiểm hoạ gây tác hại kinh hoàng hơn nữa…

Sau hơn nửa thế kỷ người dân bị tước đoạt mọi thứ quyền làm người, quyền công dân, quyền có quan điểm cá nhân… để rộng chỗ cho cái tâm lý vô can và vô dụng “người ta” đó ăn sâu vào đầu óc mọi người.

Như thể không có lũ “người ta” ấy là không thể có đất nước này.

Từ ấy, đất nước đã trở thành đất nước của bọn “người ta” kể trên.

Từ ấy, chuyện đất nước là chuyện của “người ta” tuỳ nghi định đoạt.

Từ ấy, đất nước được rao bán/đổi chác tuỳ ý “người ta” định giá.

Từ ấy, bất kỳ ai có nhã ý góp sức giải quyết vấn nạn của đất nước thì lập tức sẽ bị bè lũ “người ta” trả thù đến nơi đến chốn, kể cả tra tấn đến chết, bỏ tù rục xương, gia đình bị cô lập kinh tế lẫn giao tiếp xã hội…

Từ ấy, với quyền trả thù và phương tiện trả thù trong tay, dần dà cái đất nước của lũ “người ta” kia thu gọn vào bộ phận lãnh đạo, cả bên hành chính lẫn bên đảng đều gọi là trung ương.

Rồi đất nước của cái lãnh đạo trung ương “người ta” kia thu hẹp thêm một cấp nữa, vào tay bộ chính trị.

Ở giữa cái lõi bộ chính trị “người ta” đó, đất nước bị treo căng xác giữa bốn cái cọc đầu têu có tên là tứ trụ.

Bấy giờ, ở đỉnh điểm tối cao đó, chuyện giải quyết vấn nạn của đất nước là hoàn toàn thuộc về… thế hệ kế tiếp.

Kể cả chuyện Hoàng Sa-Trường Sa, mỏ khoáng và ngư trường của ta trên Biển Đông. Kể cả chuyện biên giới, thác Bản Giốc, rừng đầu nguồn, Bôxít Tây Nguyên, resort trên đỉnh đèo Hải Vân… Kể cả chuyện nợ công gần ngang bằng tổng sản lượng quốc gia. Kể cả chuyện các sư đoàn công nhân TQ trên đất Việt. Kể cả chuyện dự phóng về một VN phủ tràn phóng xạ hạch nhân…

Mà không, bấy giờ nào còn đất Việt, nào còn VN!

Hoá ra, cái “mực thước cho người ta bắt chước” trong tờ di chúc nguệch ngoạc chết tiệt kia đã đưa cả dân tộc đến bờ diệt vong.

Bởi, ngay cả cái “người ta” nọ cũng đã mang một nghĩa bành trướng thành “NGƯỜI TA” khác.

Hoạ chăng, bấy giờ, cái còn lại chỉ là một Khu vực Hành chính An Nam của “NGƯỜI TA”?

16/02/2015 – Kỷ niệm 226 năm vua Quang Trung cùng quân sĩ ăn Tết Kỷ Dậu trước khi tiến quân vào Thăng Long.

Blogger Đinh Tấn Lực

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Chân Dung Quyền Lực và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2015

Bùi Tín viết cho VoA

19-2-2015

Mạng Chân Dung Quyền Lực (CDQL) xuất hiện từ năm 2011, đến nay được hơn 3 năm. CDQL được đặc biệt chú ý từ hơn 2 tháng nay, khi cuộc họp Ban chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) lần thứ 10/Khóa XI sắp họp để chuẩn bị cho Đại Hội XII, trong cuộc họp này có cuộc bỏ phiếu thăm dò tín nhiệm của 20 ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư.

Cho đến nay CDQL vẫn là một điều bí hiểm. Nó thuộc lề trái hay lề phải? lề quan hay lề dân? do ai, nhóm nào chủ trương? mặt mũi và tư cách chính trị của họ ra sao? đang sống ở đâu, vùng miền nào, môi trường chính trị nào? và mục đích chính trị của nó thực sự là gì? đã đạt kết quả như mong muốn chưa? CDQL không có thêm bài nào từ ngày 21/1/2015, vậy còn sống hay đã chấm hết».

Thật là bí hiểm, cũng là lý thú để giới theo dõi thời cuộc trong ngoài nước bình luận, tranh luận, chung sức tìm cho ra ngọn nguồn, giải mã một bài toán chính trị hiểm hóc giữa tình hình chính trị khẩn trương của đất nước. Đây cũng là một đề tài sinh động cho những cuộc họp mặt ấm cúng, có hương hoa, bánh chưng xanh, câu đối đỏ, chén rượu hồng những ngày Tết Ất Mùi gần đến.

CDQL không thuộc «lề dân », hay «lề trái» như ta thường hiểu, không giống như các blogger tự do mang tinh thần đối lập phản biện với chính quyền.
Đây là điểm đen của CDQL bị nhiều người bỏ qua nên ngộ nhận về nó. Cần vạch rõ CDQL có cách nhìn bất lương đối với các chiến sỹ dân chủ, các tổ chức trong xã hội dân sự đang lớn mạnh. Trong bài «Chủ tịch Trương Tấn Sang và cú lừa dân chủ của thế kỷ», CDQL cho rằng nhóm sỹ phu «Bắc Hà háo danh» gồm các ông Nguyễn Quang A, Chu Hảo, Tương Lai, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Phạm Văn Đào, Nguyễn Xuân Diện, Huỳnh Ngọc Chênh… và nhóm Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long… ở miền Nam đều là dân chủ cuội, tay chân của ông Trương Tấn Sang cả. CDQL đã tự làm mất uy tín trước công luận do sự vu cáo trắng trợn này.

CDQL cũng không phải là cơ quan truyền thông thuộc lề đảng, được cơ quan tuyên huấn, báo chí của đảng chỉ đạo. Nó chắc chắn chỉ thuộc về một phe nhóm riêng của đảng cầm quyền, nhưng chưa được nhận diện rõ là phe nhóm nào, nhân vật nào ở đằng sau nó.

Vì trong một phe nhóm cầm quyền nên CDQL mới có trong tay nhiều tài liệu, hồ sơ, tin tức, công văn, hình ảnh, hoá đơn, giấy tờ… chuẩn xác, người ngoài khó có thể có. Có lúc CDQL có vẻ nắm độc quyền nhiều tin tức tuyệt mật, như kết quả thăm dò tín nhiệm tại hội nghị 10, đầy đủ, cụ thể, chuẩn xác trong khi báo Nhân dân, Thông tấn xã Việt Nam chưa tiết lộ. CDQL cũng là mạng duy nhất phổ biến nhiều hình ảnh ông Nguyễn Bá Thanh nằm chữa bệnh trong bệnh viện ở Hoa Kỳ, cùng với tin về hành trình – đường bay, sân bay, ngày giờ cất, hạ cánh khi trở về nước.

Có những nhận định khác nhau về mạng CDQL. Ban Tuyên huấn Trung ương đảng cho rằng đây là một mạng truyền thông phản động, nhảm nhí, có hại, vô giá trị, nhưng không kết tội, không đề nghị truy tố và phá sóng của nó.

Một số ý kiến cho rằng CDQL phê phán tố cáo nặng nề hầu hết các ủy viên Bộ Chính tri và Ban Bí thư như các ông Nguyễn Xuân Phúc, Phùng Quang Thanh, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Hòa Bình, Phạm Quang Nghị, Lê Thanh Hải, Tô Huy Rứa, và cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Riêng với ông Nguyễn Tấn Dũng có bài phê phán nhẹ nhàng, nhưng lại có bài tâng bốc ông rất đặc biệt, ra ngày 21/1/2015: «Mũi thuyền rẽ sóng – mũi Cà Mau». Do đó CDQL có thể là thuộc phe nhóm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vì nó rất có lợi cho ông. Đây là nhận định của rất nhiều người. CDQL phục vụ khá rõ cho ý đồ và tham vọng của ông Dũng nhằm chức Tổng Bí thư, thậm chí kiêm nhiệm thêm chức Chủ tịch nước (như tại Trung Quốc) tại Đại Hội XII tới.

Cũng có ý kiến cho rằng CDQL có tay nghề cao trong săn tin, bài viết có tính chuyên nghiệp, bài bản, văn phong chải chuốt, lập luận chặt chẽ, nhiều tin mật, phải là từ một cơ quan an ninh, phản gián có kinh nghiệm, phải chăng từ Tổng cục an ninh 1 do Trung tướng Nguyễn Chí Thành, một người rất thân cận với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nắm giữ, và chỉ có cơ quan an ninh, phản gián này mới có thể vươn xa, nhập sâu để có những tấm ảnh thật và tin tức mật nói trên. Đây là những phán đoán cần có thời gian để xác minh.

Nhân dịp này tôi xin có đôi lời nhắn nhủ chân thành với ông Nguyễn Tấn Dũng, người mà do làm nhiệm vụ nhà báo tôi đã có hai lần gặp ở Kiên Giang và Hà Nội những năm 1978 và 1984.

Thưa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,

Tôi là một nhà báo tự do sống ở nước ngoài, theo dõi sát tình hình trong nước. Ông là nhân vật có uy tín nhất trong số người lãnh đạo ở trong nuớc, đang ở thế thượng phong trong Ban Chấp hành trung Trung ương đảng cũng như trong Quốc hội.

Con người không có ai hoàn hảo. Do đó thật đáng tiếc là công luận còn phân vân về những thiếu sót ở nơi ông. Sự thiếu hiểu biết sâu sắc về nền chính trị, kinh tế, tài chính, đối ngoại và quốc phòng của thế giới của ông theo tôi thấy hình như được bù đắp khá tốt bởi một số cố vấn chuyên gia tin cẩn. Do dó ông đã có những phát ngôn rất chuẩn, đi vào lòng người. Chỉ còn là việc thực hiện trong cuộc sống. Không thể để nó chỉ nằm trên giấy.

Việc rất hệ trọng là xin ông hết sức suy nghĩ về cuộc sống cá nhân, gia đình. Xin được nói thẳng rằng có người đã chê ông là ông còn tệ hơn vài ông trong Bộ Chính trị. Mong ông lấy đó làm tự răn mình. Nếu ông tự nguyện ngay từ hôm nay thực hiện đúng phương châm của người CS «Hy sinh trước thiên hạ, hưởng thụ sau thiên hạ», lấy tự phê bình làm lẽ sống, gương mẫu về liêm khiết, không lấy một đồng của dân, của nước, sống thanh bạch như những ông quan thanh liêm thời trước, không chạy theo tư lợi vật chất và thói hường lạc của bọn trọc phú vô văn hoá, từ đó chống tham nhũng quyết liệt và có hiệu quả như ông đã hứa hẹn, thì ông sẽ có cả thiên hạ trong tầm tay. Tôi biết đây là việc khó chỉ có những người có bản lãnh đặc biệt mới vượt qua nổi. Cuộc đời ông theo tôi biết đã vượt qua bao thử thách cam go. Nay là bước thử thách cuối cùng.

Xin ông trong một đêm yên tĩnh, nghĩ đến hàng triệu đồng đội, đồng bào ta đã ngã xuống với hy vọng dân ta có tự do và hạnh phúc. Ông đang có điều kiện là một nhà cứu quốc, cứu dân tuyệt vời trong cơn trầm luân khổ ải mấy chục năm nay. Ông hãy vượt qua chính mình, trong một cuộc tâm sự thần kỳ, tự mình đối diện với chính mình, và quyết chí. Hàng trăm triệu con người Việt Nam sẽ ghi công ơn ông trong lòng, trong trái tim họ.

Xin ông nghĩ cho kỹ, suy cho cùng. Xin ông chớ bỏ qua thời cơ ngàn năm một thuở này. Ông hãy tự nguyện đứng ra với một nhóm nhân tài tâm huyết kiên cường khôn khéo cùng nhân dân đưa Tổ Quốc Việt Nam từ độc đoán toàn trị sang Kỷ nguyên Độc lập, Dân chủ, Tự do và Hạnh phúc thật sự cho mọi người. Được vậy lịch sử sẽ mãi mãi ghi công ơn ông.

Theo tôi nghĩ, ông muốn là ắt được, vì đó cũng là khát vọng cháy bỏng chân chính của toàn dân lúc này.

Kính thư,
Bùi Tín.
Paris ngày 19/2/2015; mồng Một Tết Ất Mùi.

—————-

The Economist Feb 14-2015

Vietnam’s migrant labourers: Going to debt mountain

Animal welfare in Vietnam

Military corruption: Rank and vile (China)

 

Posted in ►Chiến Tranh mạng giữa Blogger VN và Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Phong trào #DMCS nối tiếp #ToiKhongThich

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2015

nguon: FB toikhongthich, danluan.org

Sau khi tung ra bản ráp #DMCS, Nah, aka Nguyễn Vũ Sơn, đã kêu gọi sử dụng avatar #ZombieNguyen trên FB làm biểu tượng nhận diện các bạn trẻ đồng chí hướng:

Chỉ trong một thời gian ngắn, FB đã ngập tràn avatar này kèm theo những lời đề nghị kết bạn:

Không chỉ trên FB, các hoạt động thể hiện chính kiến của giới trẻ cũng lan ra ngoài xã hội. Hashtag #DMCS vốn được dùng trên FB, nay cũng đã xuất hiện ở khắp mọi miền đất nước, thậm chí ngay cả trong giảng đường:

Với người lớn tuổi thì #DMCS dường như hơi nặng nề, dung tục và khó lôi kéo được những người có liên quan đến ĐCSVN tham gia vào phong trào vì nó trực diện thóa mạ quá khứ của nhóm này. Tuy nhiên, về phía giới trẻ thì họ cho rằng #DMCS có hiệu ứng “cool” cần thiết để lan tỏa, và nó cũng đồng thời thể hiện tâm trạng bất tuân xã hội của họ. Thật khó cân đong được phản ứng của xã hội để xác định xem ý kiến bên nào hợp lý hơn. Không biết độc giả Dân Luận ủng hộ quan điểm nào?

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Lời tự thú trước đêm giao thừa

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2015

Lời tự thú trước đêm giao thừa

18-2-2015

phamdoantrang

 

Thật chẳng vui vẻ gì khi phải viết những dòng này, vào lúc này.

Trong khoảng nửa năm nay, kể từ mùa hè 2014 khi còn đang ở Mỹ, tôi đã thường xuyên nhận được từ nhiều trang Facebook nặc danh những tin nhắn đe dọa với một nội dung chung: Sẽ đưa các clip và hình ảnh nude, sex của tôi – Phạm Đoan Trang – lên mạng Internet, nếu tôi tiếp tục các hoạt động mà họ gọi là “chống phá”.

Tôi im lặng không trả lời một tin nhắn nào, vì tôi biết tác giả của chúng chỉ có thể là ai hoặc làm việc cho ai, và tôi… không biết phải nói gì.

Đó là một câu chuyện buồn, đã xảy ra từ gần 6 năm về trước, trong một vụ việc mà tôi tự gọi là “vụ bê bối 2009” của tôi với cơ quan an ninh điều tra của Việt Nam.

Hẳn nhiều người còn nhớ, vào cuối mùa hè năm 2009, có ba blogger bị bắt tạm giam 9 ngày ở một trong những vụ bắt nổi tiếng của năm (nối sau vụ bắt doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức và luật sư Lê Công Định). Ba blogger ấy là Mẹ Nấm, Người Buôn Gió, và tôi – khi đó còn là phóng viên của chuyên trang Tuần Việt Nam thuộc báo điện tử VietNamNet.

Cả ba blogger bị bắt vì bị cho là có dính líu đến một “âm mưu” in áo phông chống dự án bauxite Tây Nguyên.

Trong ba blogger, có lẽ tôi là người “oan” nhất, theo cái nghĩa tôi không hề tham gia in áo, chưa từng trông thấy áo, cũng như không một lần được hỏi ý kiến về vụ áo xống đó. Sau này, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ lại câu chuyện ấy, với một ý nghĩ buồn trong đầu: “Áo em chưa mặc một lần…”.

Cũng về sau này, trong ba blogger, có lẽ tôi là người ít nói về câu chuyện năm ấy nhất, không phải vì sợ an ninh, sợ bị trả thù, hay sợ bất kỳ điều gì khác, mà vì hai lý do chính:

Lý do thứ nhất, tôi xấu hổ. Xấu hổ vì mình bị bắt một cách lãng xẹt, và hồi ấy, tôi ngu ngơ lắm, đần độn lắm, tôi đâu biết gì về chính trị, luật pháp, nhân quyền, v.v. Tôi đã là một người hoàn toàn ngây thơ và nhút nhát. Tôi đã khóc mếu, đã van lạy, xin khai báo thành khẩn – những việc mà không bao giờ tôi nghĩ mình có thể làm trong đời nếu mình vô tội. Nhưng than ôi, làm sao một đứa con gái nhà lành, chưa từng có chuyện dính dáng đến pháp luật và cơ quan công quyền, sống một thời tuổi trẻ và tuổi thơ tràn đầy thi ca nhạc họa, lại có thể có đủ bản lĩnh để đương đầu với những kẻ được đào tạo để thị uy, trấn áp người khác?

Mà cũng chính vì thế, tôi thấy xấu hổ thay cho cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an: Làm sao mà họ có thể biến chuyện in mấy cái áo phông thành một âm mưu xâm hại an ninh quốc gia được? Làm sao mà họ có thể thấy tự hào, hãnh diện vì đã cả phá thành công một “chuyên án” như thế? Nói cách khác, người bị bắt đã lố bịch, kẻ đi bắt người còn lố bịch hơn.

Lý do thứ hai, tôi đã trải qua những giờ phút rất đau khổ. Và đó là lý do còn ám ảnh tôi mãi mãi về sau này, cho đến tận bây giờ.

Họ – cơ quan an ninh điều tra của Bộ Công an – đã thu giữ máy tính của tôi trái phép, trong lúc tôi đang bị giam ở B14.

Họ đã xâm nhập máy tính của tôi – đương nhiên là trái phép – và tệ hơn thế nữa, phục hồi lại toàn bộ một số bức ảnh riêng tư mà tôi hoặc đã xóa đi, hoặc đang lưu trong một folder bí mật nào đó mà chính tôi cũng không ý thức nhớ (vì có bao giờ tôi từng nghĩ đến chuyện mình có thể bị bắt, máy tính có thể rơi vào tay an ninh).

Đó là những bức ảnh ghi lại cảnh quan hệ của tôi – vào cái thời mà tôi cho là mình lãng mạn nhất, và cũng ngây thơ nhất. Thời mà tôi quan niệm “yêu là phải hết mình”. Thời mà tôi như sống trong một thế giới đầy những hình ảnh đẹp đẽ, những giai điệu huyền ảo: làm báo, yêu anh, và nghe guitar cổ điển, nghe nhạc Beatles. Tôi đi đâu, trong đầu cũng rực sáng những hình ảnh ấy: bóng nụ cười của anh, ánh mắt của anh, đôi môi, bàn tay…

Tôi đã nghĩ về tình yêu (và tình dục) như cái gì đó thật sự thiêng liêng, rất đỗi thiêng liêng.

Và vì thế, tôi đã đau khổ đến mức nào khi những điều thiêng liêng ấy bị làm cho vấy bẩn, khi sự riêng tư của mình bị xâm phạm, chà đạp. Tôi không bao giờ quên cảm giác chua xót khi hàng chục cặp mắt an ninh cùng soi vào những bức ảnh đó. Tôi không bao giờ quên được ý nghĩ đau đớn lướt qua đầu mình khi đó: Phải rồi, tôi đã có vài mối tình, và đã chụp ảnh ghi lại một số khoảnh khắc nhạy cảm. Nhưng tôi làm thế chỉ vì tình cảm – đối với người mình yêu, và với chính cơ thể mình, tuổi xuân của mình. Tôi làm thế không phải để cho cả một tiểu đội an ninh xem, rồi đem ra bình phẩm và răn dạy rằng phàm là trí thức, là người có đạo đức, thì phải thế này, thế kia…

Tôi đã im lặng, cố gắng để câu chuyện buồn thảm của năm 2009 ấy trôi vào quá khứ vĩnh viễn. Nhưng ký ức của tôi không ngủ được, cứ lâu lâu nó lại bị đánh thức bởi những tin nhắn đe dọa nặc danh, những lời lẽ của dư luận viên bóng gió trên mạng. Tôi hiểu rằng, không sớm thì muộn, những bức ảnh ấy cũng sẽ bị tung ra, chúng có thể bị rò rỉ trên một trang mạng “chống phản động” nào đấy, và/hoặc sẽ được gửi đến những người mà tôi không muốn họ biết đến chúng nhất. Tệ hơn nữa, chúng có thể được xử lý, được chỉnh sửa, được công bố kèm những thông tin thêm thắt, nhào nặn và bịa đặt khác (giống như cách mà dư luận viên lâu nay vẫn làm đối với người đấu tranh dân chủ) để cố tình tạo ra những câu chuyện kinh khủng về tôi.

Tôi không muốn thanh minh gì, ngoài một điều duy nhất: Tôi đã làm thế chỉ vì tình cảm đối với người mình yêu và với chính cơ thể mình, tuổi xuân của mình.

Và bây giờ, tôi buộc lòng phải viết những dòng này, trong một đêm cuối năm mà lẽ ra tôi phải thấy rất vui, vì tôi đang được ăn Tết ở Việt Nam, sau hơn hai năm xa nước.

Tôi thích thú gì khi phải tung lên mạng những chuyện hết sức riêng tư, mà lại là vào đêm trước giao thừa?

Tôi thích thú gì khi phải tố cáo những chuyện liên quan đến một cơ quan công quyền thật sự rất lớn và rất oai, là cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an Việt Nam?

Tôi thích thú gì khi phải nói rằng an ninh Việt Nam đã “mẫn cán” đến mức thọc mũi vào đời tư của một phụ nữ và ra sức huấn thị, dạy đạo đức cho người phụ nữ (độc thân) ấy?

Nhưng, dù chua xót đến mấy, tôi cũng đành phải viết lời “tự thú” cuối năm này, bởi vì biết đâu, một ngày nào đó những bức ảnh riêng tư của tôi sẽ được bôi đen bôi đỏ, khoanh tròn, v.v. trên mạng?

Tôi muốn có lời xin lỗi trước đến những người sẽ bị ảnh hưởng vì sự cố đó, nếu nó xảy ra. Tôi muốn nói rằng, tôi đã không thể tự vệ được, cũng như đang không thể chịu trách nhiệm về những bức ảnh riêng tư của mình một khi nó đã được lưu đầy đủ trong hồ sơ của cơ quan an ninh.

Tôi cũng muốn cầu nguyện một điều trước phút giao thừa – dù tôi không phải người có đạo – rằng ước sao những câu chuyện đau lòng tương tự do an ninh Việt Nam gây ra sẽ không bao giờ xảy ra với bất kỳ ai trên đất nước này. Ước sao lực lượng an ninh Việt Nam cũng biết bảo vệ, tôn trọng nhân quyền, trong đó có quyền riêng tư của công dân, như họ đã và đang tích cực bảo vệ chế độ.

 

*Cộng sản VN ấy à? Họ đã vẽ ra một ông thánh ko biết đến sex, ko vợ con bồ bịch, còn bản thân người cộng sản có lẽ tự cho mình là đạo đức, họ sex ko cần trút bỏ xiêm y, có lẽ là chỉ kéo khoá quần mà thôi, họ tắt điện và nhắm nghiền mắt cho chóng qua giây phút thăng hoa ấy! Cái nguy hiểm sai lệch nhất là văn hoá VN vẫn quan niệm và xếp sex vào phạm trù đạo đức, trong khi về mặt khoa học thì nó thuộc phạm trù sinh lý. Đây là một đề tài rất ít người dám viết vì nó động đến toàn xã hội và đến các nhà đạo đức giả vĩ đại.” LVT

* Khi họ phải dùng tới trò tiểu nhân hèn hạ như quăng mắm tôm vào nhà dân, khoá trái nhà dân, bắt bỏ tù cả mẹ trẻ lẫn em bé vài tháng tuổi & dùng hình ái ân riêng tư của dân để đe dọa, chứng tỏ súng đạn và quyền lực của họ đã bất lực trước chính nghĩa . LKL

*Bổn Đình Nguyễn: Mạnh mẽ. Và bọn khốn đó chỉ nhận thêm sự khinh bỉ của cộng đồng nếu làm chuyện đó.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Cuộc đời được mất

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2015

Bùi Thị Minh Hằng trong trại giam Lộc Hà năm 2013

Lúc Bùi Thị Minh Hằng mới bị bắt tại Đồng Tháp, tội danh từ phía những người bắt giữ còn chưa rõ, đúng lúc có tin chị Hằng sẽ được thả thì một vài người tung tin ” Bùi Hằng chủ ý gây sự với công an mới bị bắt thế, chống người thi hành công vụ chứ đấu tranh dân chủ gì đâu”.

Ý những người này muốn nói, đấu tranh đàng hoàng như họ thì không bị làm sao. Còn đấu tranh mà gây sự, đấu tranh mà vô học, cực đoan hoặc có tổ chức này nọ bên ngoài thì bị bắt là phải. Hoặc theo cách khác họ muốn chê chị Bùi Hằng ngu, không khôn ngoan như họ.

Nhìn theo cái nhìn như vậy, có lẽ Bùi Thị Minh Hằng dại thật.

Hôm có cuộc thảo luận hay dạo chơi nhân quyền gì đó tại công viên Nghĩa Đô. Trước hôm đó Bùi Hằng đang ở Sơn Tây gọi điện cho mình hỏi chuyện đi. Mình bảo chị không nên đi. Chị bảo không đi sợ bọn trẻ bị sao không nỡ. Mình nói , tụi đó nó có cách cư xử của nó khi bị phá phách, chị không nên đi làm gì. Chúng nó công khai thông báo rộng cả ba miền cùng làm, chúng nó có cách đối phó của nó. Chị ra đó không nên, đây là chương trình riêng của tụi trẻ nó làm.

Chị nhất định kêu chị phải đi, cứ nói chị ra đó, chỉ đứng nhìn quan sát có gì bảo vệ bọn trẻ. Mình nói, chị có ở đó hay không ở đó thì bọn an ninh nó cũng phá cái đám ấy. Nhưng có chị ở đó, chị nhìn cảnh bọn an ninh trá hình gây sự, chị không chịu được, sẽ vào can thiệp. Sau này đứa khác nó sẽ vin cớ bảo, bọn trẻ ôn hoà, an ninh lẽ ra để yên, nhưng vì có chị làm loạn nên an ninh phải dẹp, họ sẽ nói chị phá bọn trẻ đó.

Chị quyết đi, rút cục là an ninh phá ( vì có chị hay không như đã nói thì an ninh vẫn phá như thường), chị nhảy vào cuộc. Sau này ” đứa khác ” nói vì Bùi Hằng quậy, an ninh buộc phải phá không cho đám trẻ thực hiện dự tính.

Sau vụ đó chị buồn, chị nói từ nay chị sẽ chỉ đi hỗ trợ cùng ” dân oan”. Chị tự nhận mình dại. Đấy là lần duy nhất mình thấy chị tự nhận chị dại trong bao vụ việc đấu tranh.

Bùi Thị Minh Hằng dại thật, đang có một cơ ngơi hoành tráng, đầu tư cổ phần vào tàu biển, cây xăng, bệnh viện, nhà hàng. Công việc làm ăn thuận lợi, bỗng dưng đi khiếu kiện với chị em ruột về quyền thừa kế ngôi nhà ở quê. Bọn chính quyền dựa vào đó vu khống chị tham lam, độc ác, tranh giành quyền lợi với chị em ruột.

Thực ra không phải thế, các chị em của chị Hằng bán căn nhà tổ ở quê. Chị Hằng về hỏi mua lại căn nhà đó nhưng chủ nhà không bán, chị khiếu kiện các chị em của chị bán nhà không hỏi ý kiến chị. Nhằm gây áp lực để chủ nhà mới phải nhượng lại cho chị. Các chị em nhà chị Hằng lại nghĩ chị đòi tiền bán nhà, vì thế bọn tà quyền lợi dụng để xuyên tạc ý của chị.

Những người xa nơi chôn rau , cắt rốn đi làm ăn. Khi có tiền dư dả, tình cảm với ngôi nhà mình sinh ra lớn lên, khó mà đong đếm được bằng tiền. Bao nhiêu Việt Kiều, dù đã có cuộc sống ổn định ở đây, chả nghĩ bao giờ về Việt Nam ở. Mấy năm về ghé thăm quê nhà vài lần, thế nhưng vẫn tích cóp tiền xây nhà, dựng nhà ở quê. Và Bùi Thị Minh Hằng cũng như bao người xa quê, nhưng lòng luyến nhớ của chị bị những tên bồi bút đê tiện xuyên tạc bằng những luận điệu vu khống, suy diễn để đánh phá hình ảnh người đấu tranh cương trực.

Cuộc đấu tranh kêu gọi tinh thần yêu nước vào mùa hè rực lửa của đồng bào Việt Nam năm 2011 đã lôi cuốn bao người, Bùi Thị Minh Hằng theo tiếng gọi yêu nước, đã dấn thân và chịu tù đày, công cuộc kinh doanh bị đình trệ, nợ ngân hàng trả lãi chồng chất, gia đình anh chị em bất hoà. Tuy thế, nhưng chưa bao giờ chị than thở một dòng trên Facebook hay công luận về hoàn cảnh sa sút, đổ vỡ, nợ nần của mình do mải mê đấu tranh mà ra.

Bây giờ chị lại tiếp tục vào tù với mức án dài, có lẽ khi chị về, một chỗ trú mưa cũng chả còn cho chị. Nhưng như chúng ta thấy , chưa bao giờ chị nhắc nhở đến điều đó, với chị cuộc đấu tranh đòi hỏi công bằng , sự thật, quyền con người, chủ quyền đất nước bao giờ cũng là khát khao lớn nhất , át hơn tất cả.

Có lần mình hỏi chị, chị đấu tranh thế này, mất mát bao nhiêu thứ, gia đình, tài sản, sức khoẻ, thời gian. Chị có nghĩ gì không.?

Chị cười nhẹ nói như không.

– Cho mất mẹ nó hết đi em ạ. Tài sản mình kiếm được chỉ để cho con, giờ con mình hư hỏng, mình có để cho chúng nó lúc chúng nó hư lại càng hư. Cái mình để cho chúng nó là chúng nó phải là người tử tế. Chị đấu tranh thế này, chúng nó ( các con của chị ) sẽ nhìn thấy mẹ nó là người xả thân vì mọi người. Chúng nó sẽ không ích kỷ nghĩ đến bản thân, may ra chúng nó thấy mẹ vậy còn thức tỉnh làm người tử tế.

Lúc đó mình nghĩ chị hão huyền, dại dột, trông mong gì chuyện lấy thân mình ra làm tấm gương cho mấy đứa trẻ tuổi ham ăn chơi ấy thức tỉnh. Mình ở cùng thằng Nhân nhìn nó ngập đầu trong game, chứng kiến phiên toà thằng Trung từ đầu đến cuối thấy nó chả vẻ sợ sệt hay hối hận gì , mấy lần gặp con Quỳnh Anh mặt nó lanh tanh.

Bẵng đi hai năm, giờ thằng Nhân tự túc tìm công việc nuôi thân, thằng Trung trước chơi bời lêu lổng giờ cùng anh em bạn bè học hành, sinh hoạt đấu tranh bên Phi, con Quỳnh Anh mà chị Hằng nói nó xa lánh mẹ thì giờ hàng ngày, hàng giờ đau đáu lo lắng cho mẹ chu đáo mặc dù xa xôi, đi lại vất vả.

Cuộc đời, được mất, khôn dại quả không có bàn cân hay phép tính nào đong đếm được. Khôn dại, hay được mất là do mỗi con người tự đặt mục tiêu cho mình.

Ba năm tù vì những hành động chính nghĩa của chị Hằng, không những thức tỉnh được ba đứa con mà còn thức tỉnh được nhiều người khác trong xã hội này. Những đứa con của chị ngày nay không tự hào mẹ mình là đại gia để đua xe, chơi game, nhậu nhẹt vũ trường như xưa, nhưng giờ đây chúng đã và đang sống, làm những việc xứng đáng để tự hào là con của mẹ Hằng.

Cuộc đời được mất thật khôn lường. Nhưng những người chính nghĩa, cái được bao giờ cũng lớn ở kết quả này hay kết quả khác, khi mà danh lợi chả còn là mục đích trong cuộc đời.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

►Câu chuyện tình Mỹ-Việt: David Brown – Tuyết Lê-Brown

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2015

Người Việt

Hà Giang

18-02-2015

WESTMINSTER, CA (NV) Chiều 29 Tết, trong khi trong bếp còn ngổn ngang với đám bánh Tét đang gói dở, nhà ngoại giao kỳ cựu, chuyên gia quốc tế về Ðông Á, cây bút phân tích tình hình biển Ðông nổi tiếng, David Brown, được cử đi chợ mua… nước mắm.

 Bà Tuyết Lê-Brown gói bánh Tét chuẩn bị mừng Tết Ất Mùi tại nhà riêng ở Fresno, California. (Hình: Gia đình David Brown cung cấp)

Lý do là vì, vợ ông, bà Tuyết Lê-Brown (tên Việt là Bạch Tuyết) chợt nhận ra rằng có lẽ chai nước mắm ở nhà không đủ để nấu món thịt kho trứng, món ăn Tết truyền thống của người miền Nam Việt Nam.

Việc phải đi mua nước mắm vào giờ chót, theo bà Bạch Tuyết, cũng phần lớn là “lỗi tại ông,” vì “ông ấy rất mê nước mắm, cho nước mắm vào hầu hết mọi món ăn.”

“Tôi mà không cản thì chắc ông ấy uống cả nước mắm nữa!” Bà Bạch Tuyết “than phiền” bằng cái giọng không giấu được hạnh phúc và niềm hãnh diện: “Ông ấy yêu Việt Nam còn hơn cả tôi yêu Việt Nam nữa!”

Tổ ấm ở Fresno

Chốc nữa đây, khi mua xong và mang được chai nước mắm về nhà, phân tích gia David Brown sẽ được vợ “điều động” lau bát đĩa, hút bụi, dọn bàn thờ, và lo mọi chi tiết cho việc trang hoàng nhà cửa đón Tết. Thỉnh thoảng ông cũng sẽ được vợ vời vào bếp, nhờ nếm xem món thịt kho đã đủ nhừ, nêm nếm có vừa miệng chưa, một công tác ông… rất thích.

Tổ chức ăn một cái Tết hàng năm theo đúng truyền thống Việt Nam là một trong những điều, mà dù bất cứ trong hoàn cảnh khó khăn nào, bà Bạch Tuyết cũng cố gắng thực hiện, để nhắc các con bà là “chúng có dòng máu Việt Nam” trong huyết quản.

Trong khi đó, nói về hôn nhân của mình, ông David Brown, trong một lần trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt, tỏ bày: “Tôi rất hạnh phúc khi kết hôn với nhà tôi. Hai chúng tôi đều rất quan tâm đến Việt Nam. Tôi thấy mình gắn bó với Việt Nam như đã gắn bó với gia đình vợ, cả hai cùng mong mỏi những điều tốt nhất cho đất nước này…”

Ai bảo rằng những cuộc hôn nhân dị chủng thường gặp nhiều sóng gió?

Ông David Brown giúp vợ nêm cho vừa miệng món thịt kho trứng, món ăn Tết truyền thống của người miền Nam. (Hình: Gia đình David Brown cung cấp)

Thiên duyên tiền định

Cặp đôi Tuyết Lê-Brown và David Brown là hai khuôn mặt quen thuộc trong giới “mê” mạng xã hội Facebook, cả ở Mỹ lẫn ở Việt Nam. Những hình ảnh và “status” thường xuyên xuất hiện trên Facebook cho thấy sinh hoạt đầm ấm của hai người chia sẻ một mục đích chung.

Nhưng phải có cơ duyên đến thăm, sinh hoạt với họ vài hôm tại tư gia, mới thấy rõ hơn cuộc sống hàng ngày của cặp “chồng Mỹ vợ Việt” khá đặc biệt này.

Ðiểm đặc biệt đầu tiên là bà Bạch Tuyết “rất Mỹ!” Mỹ trong phong thái, trong cách phục sức, trong cách phát âm tiếng Anh không chỗ nào chê. Ngược lại, ông David Brown rất Việt Nam. Việt Nam trong lối nói tiếng Việt gần như hoàn chỉnh, với số ngữ vựng, sự am hiểu về tình hình chính trị Việt Nam có lẽ còn nhiều hơn một người Việt Nam quan tâm chuyện Việt Nam, và nhất là cách hoàn toàn lệ thuộc vào vợ trong sinh hoạt gia đình, để cho nội tướng của mình sắp đặt, điều khiển mọi việc, kể cả việc… sai đi chợ.

Ngày tôi đến Fresno thăm hai ông bà, xe vừa trườn tới trước nhà, hai người đã ra đón chào tận cửa. Trong khi ông nhanh nhẹn mở cốp xe giúp khiêng vali, máy ảnh, bà lách tách bấm máy chụp hình chồng với khách, rồi lại trao máy cho chồng chụp khách với mình. Ân cần, trang trọng, tạo cho khách cảm giác họ là người khách quý. Phong thái của giới ngoại giao!

Buổi tối hôm ấy, sau bữa cơm, trong phòng khách đầy dấu tích nhiều của nước Á Ðông mà ông David Brown từng đến để đại diện Hoa Kỳ, như Việt Nam, Japan, Malaysia… tôi được dịp ngồi nghe hai vợ chồng ông thay phiên nhau kể về mối tình dài gần 50 năm của mình. Không khí trong phòng thêm đầm ấm hơn mỗi khi có những chi tiết người này không nhớ phải quay qua hỏi người kia. Cả những thoáng mắt nhìn nhau.

Tất cả bắt đầu khi chàng thanh niên David Brown, 22 tuổi, nhân viên ngành phục vụ nước ngoài (foreign service) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, được cử đến phục vụ tại Việt Nam năm 1965, thời điểm chiến tranh Việt Nam bắt đầu leo thang.

Lê Thị Bạch Tuyết và David Brown thuở còn hẹn hò. (Hình: Gia đình David Brown cung cấp)

Phi cơ vừa đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, khi hơi nóng của bầu không khí ẩm ướt phả thẳng vào mặt, ông Brown kể, ông đã nhận thức ngay là ông còn rất nhiều điều phải học, và thứ tiếng Việt Nam mà ông được dạy cả hàng năm trước đó, chẳng là gì cả. Cách phát âm các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, của ông còn rất khác so với người bản xứ.

Với ông, khả năng nói tiếng địa phương vô cùng quan trọng. Công việc của một nhân viên ngành “foreign services” của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là phải dùng tài ngoại giao, sự duyên dáng của mình để kết bạn với người bản xứ. Phải tìm ra ai là ai, mình có thể nói chuyện với người nào, ai là người có thể giúp mình tìm hiểu vùng đất xa lạ, nhưng phải nhanh chóng am tường. Hơn thế nữa, ông lại là một nhân viên thuộc Phòng Chính Trị.

Khoảng năm 1967, số nhân sự thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam lên đến trên dưới 30 người. David Brown và khoảng 6, 7 nhân viên trẻ, độc thân khác được biệt phái đi đến các tỉnh để mở rộng tầm hoạt động.

Nhớ lại thời gian này, ông Brown nói với nụ cười, “lúc đó ai cũng tưởng tôi là CIA, vì biết nói, biết viết tiếng Việt thì chắc chắn phải là ‘xịa’ rồi.” Thật ra ông được giao cho chức vụ “District Senior Advisor,” của trong “Chương Trình Ðiều Nghiên, Toán Lưu Ðộng,” địa bàn hoạt động là Biên Hòa, Hố Nai, Tam Hiệp, Long Bình, làm việc tại trụ sở của USAID, Biên Hòa.

Và Biên Hòa chính là nơi ông gặp cô gái miền Nam Việt Nam tên Tuyết, người sau này cùng ông chia sẻ cuộc đời.

Bà Tuyết Lê-Brown cho biết lúc đó mới 17 tuổi, bà đã phải “nói dối” là mình 18, để được USAID nhận vào làm nhân viên trả lời điện thoại.

“Hồi ấy còn nhỏ lắm, nhưng tôi đã để ý đến David vì đôi mắt xanh, dáng người cao lớn, và vì lối phát âm tiếng Việt rất chuẩn.” Bà nhớ lại.

Một buổi chiều, khi cả hai cùng phải làm việc trễ, chàng trẻ tuổi David đánh bạo ngỏ ý muốn đưa cô Bạch Tuyết về nhà trên chiếc xe gắn máy của mình. Ngẫm nghĩ giây lát, Bạch Tuyết gật đầu bằng lòng, một quyết định trói chặt cuộc đời hai người với nhau từ đó.

Cô dâu Lê Thị Bạch Tuyết và chú rể David Brown bước ra khỏi nhà thờ sau lễ cưới. (Hình: Gia đình David Brown cung cấp)

Vượt khác biệt văn hóa

Trả lời câu hỏi về những khó khăn phải đối diện vì hai nền văn hóa khác nhau, bà Tuyết Lê-Brown kể về vụ “chạm trán” ngay từ hôm đầu tiên của họ.

“Hôm ấy, trên đường về, David đưa tay chạm vào đùi tôi. Tôi sợ quá, vừa giận, vừa sợ, hất ngay tay anh ta ra.” Tuyết Lê-Brown kể.

Thế là suốt con đường về, cô Bạch Tuyết im lặng không nói chuyện với David nữa, mặc cho chàng trai Mỹ hết lời xin lỗi.

Phản ứng bất ngờ của người con gái Việt Nam khiến David ngỡ ngàng. Cố gắng phân tích, ông chợt vỡ lẽ ra rằng trong thời gian dài được huấn luyện về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã thiếu sót không giải thích cho ông (và các đồng nghiệp) biết tí gì về cách đối xử với phái nữ của đất nước này.

Ngỡ ngàng thứ hai là gia đình Tuyết, nhất là người cha, hoàn toàn phản đối việc con gái mình có một người bạn trai ngoại quốc. Ông Brown cho biết điều này làm ông hết sức ngạc nhiên, ông cứ tưởng mình đẹp trai, là nhân viên Bộ Ngoại Giao Mỹ, vừa oai, vừa nhiều tiền, thì cha mẹ Tuyết chắc chắn sẽ sẵn sàng đón nhận. Ông lầm. Dù nghèo, dù tài chánh gia đình khó khăn, bằng lòng cho con gái lấy một người Mỹ, theo văn hóa Việt Nam thời đó, là một quyết định mà cả hai người trẻ thật lòng yêu nhau này, phải mất một thời gian lâu mới thuyết phục được cha mẹ Tuyết chấp nhận.

Ông Brown cho biết trong nhiều tháng trời, cứ cuối tuần là đến nhà hầu chuyện với thân phụ của Tuyết vài tiếng đồng hồ, đa số là chuyện chính trị Việt Nam, chỉ để mong được thấy Tuyết thấp thoáng xuất hiện lúc mang nước ra mời.

Cuối cùng, ông cảm thấy mình “chiến thắng vinh quang” khi được phép đưa Tuyết đi chơi riêng. Tuy gọi là riêng, lúc nào thân phụ Tuyết cũng phái đứa em trai, làm “escort,” đi cùng. Tuyết và David phải dần dà tìm cách hối lộ cậu em để hai người có được những giây phút riêng tư.

Khi biết không thể ngăn cản được mối tình thắm thiết của hai người, người cha đưa ra ba điều kiện: Thứ nhất, chàng trai David phải có người sang cưới hỏi con gái ông theo đúng phong tục Việt Nam; thứ hai, phải theo đạo Công Giáo của vợ; và các con sau này cũng phải theo đạo Công Giáo.

Ông David Brown (trái) và hai con gái cùng vợ là bà Tuyết Lê-Brown (phải). (Hình: Gia đình David Brown cung cấp)

Tình yêu như sức mạnh phi thường khiến David vượt qua tất cả. Hôn lễ của hai người được cử hành vào Tháng Sáu, 1969, một thời gian ngắn trước khi David Brown được chuyển về lại Hoa Kỳ.

Lấy được nhau rồi, họ phải đối diện nhiều khác biệt văn hóa khác, chẳng hạn việc giúp đỡ gia đình.

Ông Brown kể: “Chúng tôi thường xuyên phải gửi tiền về Việt Nam. Chúng tôi cãi cọ hoài về việc đó. Tôi thấy nó chẳng hợp lý gì cả. Chúng tôi cũng đang phải cố gắng gầy dựng cho cuộc sống của chính mình. Mãi sau này tôi mới hiểu tâm trạng của Tuyết, hiểu rằng, nàng cũng như bao nhiêu người khác đều cảm thấy mình, vì may mắn hơn, có trách nhiệm phải lo lắng cho người thân còn ở lại.”

“Lúc đó bà Tuyết đã thuyết phục ông bằng cách nào?” Tôi hỏi.

“Ồ, bằng cách khi con chúng tôi còn nhỏ, mà bà tự đi tìm việc làm. Tuyết làm người bán hàng ở một tiệm quần áo đàn ông, rồi sau đó làm ở một tiệm bán vải. Chỉ một thời gian ngắn, Tuyết nhận được một cái “pin” khen thưởng của cửa tiệm, là người tiếp khách tốt nhất.” Ông Brown kể, rồi kết luận: “Có lẽ hành động của vợ đã làm tôi xấu hổ, khiến tôi bằng lòng giúp đỡ gia đình nàng. Tôi nghĩ vậy.”

Rồi trước đôi mắt ngạc nhiên của vợ, ông chia sẻ nhận định của mình, có thể là lần đầu: “Tuyết có lẽ là người đàn bà Việt Nam tuyệt vời nhất mà tôi gặp, thông minh, tràn đầy sức sống, bướng bỉnh, không cho phép cuộc đời đánh bại mình. Với tôi, Tuyết không là một người đàn bà chỉ hấp dẫn về thể chất. Nàng có một sức mạnh ý chí. Lấy chồng rồi, vừa lo cho con, vừa lo trách nhiệm của một người vợ nhân viên ngoại giao, nàng còn học thêm để lấy cho xong bằng cao học trong ngành y tế tâm thần.”

“Và giờ đây, khi nhìn vợ, thỉnh thoảng tôi lại tự nhủ mình là người đàn ông may mắn, vì Tuyết đến với tôi, thực sự hoàn toàn không phải là việc đến với một người đàn ông Mỹ nhiều tiền.” Ông thú nhận.

Ông bà David Brown có hai con gái, một người tốt nghiệp Ðại Học Harvard, người kia tốt nghiệp Brown University, một cháu trai hơn ba tuổi. Họ định cư ở thành phố Fresno, California. Bà Tuyết Lê-Brown là một Tham Vấn Tâm Lý Lâm Sàng (Board licensed Clinical Psychotherapist).

Khi không đọc sách, trả lời phỏng vấn, hay viết những bài phân tích cho các tờ Asia Times, Asia Sentinel, East Asia Forum… David Brown giúp vợ nấu ăn, làm vườn, và nhất là đi chợ, mua những thứ để nấu món ăn thuần túy Việt Nam, chẳng hạn như… nước mắm.

Về thức ăn ngày Tết, ông thích thịt kho, dưa món, và mê bánh Tét hơn bánh Chưng. “Ðương nhiên, vì ông ấy có vợ là người miền Nam!” Bà Tuyết dí dỏm khẳng định.

Posted in Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »