Trần Hoàng Blog

►Viện Khổng Tử ở Hà Nội – Ngân hàng TQ kiến nghị Ngân hàng Nhà nước VN mở rộng sử dụng Nhân dân tệ tại Việt Nam- Thời đại Hán hóa đã bắt đầu.

Posted by hoangtran204 trên 04/01/2015

Đảng CSVN không cho Phật Giáo Làng Mai phát triển ở Việt Nam, nhưng cung cúc chào đón Trung Quốc mở Viện Khổng Tử bên trong Đại Học Hà Nội. Ở nhiều nước trên thế giới, các Viện Khổng Tử là các ổ gián điệp chuyên dò xét, là trạm chuyển vận tin tức tình báo và đánh cắp các tin tức và tài liệu kỹ thuật của các quốc gia nơi mà viện này có mặt.

 

 

Sau khi vừa thiết lập xong Viện Khổng Tử, Ngân hàng Trung Quốc kiến nghị Ngân hàng Nhà nước VN  mở rộng sử dụng Nhân dân tệ tại Việt Nam!

Nếu Đảng CSVN đồng ý,  thời đại Hán hóa sắp bắt đầu.

Viện Khổng Tử ở Việt Nam

3-1-2014

GS Nguyễn Văn Tuấn
.
Hôm nay, đọc được một tin mà không biết nên mừng hay buồn, có lẽ quan tâm thì đúng hơn. Đó là bản tin về Viện Khổng Tử được khánh thành ở ĐH Hà Nội.
Thật ra, nhìn bề ngoài thì chẳng có gì phải quan tâm, vì từ ngày Tàu bắt đầu khá lên, họ “rải” Viện Khổng Tử khắp thế giới.
Ở Úc này, các đại học lớn đều có Viện Khổng Tử, do Chính phủ Tàu tài trợ và có lẽ dính dáng vào việc điều hành. Nhưng ở Việt Nam thì khác, vì chúng ta có một mối liên hệ lâu dài và bão táp với cái nước khổng lồ ở phương Bắc đó.
Nói xa không qua nói gần: chúng ta đã từng bị lệ thuộc (có người dùng chữ “nô lệ”) vào Tàu đã quá lâu, sự hiện diện của Viện Khổng Tử có lẽ mở thêm một cánh cửa để Việt Nam lọt vào quĩ đạo lệ thuộc hơn nữa vào Tàu. Và, trong lúc chúng ta đang muốn “thoát Trung”, Viện Khổng Tử là một bước lùi.
Nhìn như thế, việc lập Viện Khổng Tử ở Hà Nội cũng là một tin buồn.
Tôi không am hiểu về Nho Giáo và Khổng Tử, nhưng có đọc khá nhiều sách về ông, nên chỉ muốn nhân dịp này góp vài lời “mua vui cũng được một vài trống canh”. Dĩ nhiên, tôi cũng sẽ nói qua suy nghĩ của mình về sự hiện diện của Viện Khổng Tử ở VN.
Nói đến Khổng Tử và Khổng Giáo là đề tài quá lớn, chẳng ai dám nói mình am hiểu, nên tôi chỉ có thể nói theo cách hiểu của tôi. Trước đây, ông Nguyễn Gia Kiểng có một bài dài bàn về Khổng Tử, và tôi có lấy vài dữ liệu trong bài đó. Ngoài ra, tôi có sử dụng phần lớn nguồn dữ liệu từ wikipedia và sách của hai học giả Nguyễn Hiến Lê và Trần Trọng Kim. Tôi sẽ bàn về con người của Khổng Tử, học thuyết (nếu có thể dùng chữ đó) của ông, và tại sao Tàu muốn quảng bá viện Khổng Tử.
Một con người máy móc
Cuộc đời của Khổng Tử cũng rất thú vị, nhưng nếu đọc kĩ thì hình như ông chẳng có đóng góp gì quan trọng lắm. Ông tên là Khổng Khâu, sinh năm 551 trước Công Nguyên, ở nước Lỗ, trong một gia đình [nói theo ngôn ngữ thời nay] là trung lưu vì ba của ông là một vị quan thuộc nước Lỗ. Tuy ông được người đời sau tôn thành “Vạn thế Sư biểu” (Bậc thầy của muôn đời), nhưng cuộc đời và sự nghiệp của ông nếu được soi rọi kĩ thì không hẳn xứng đáng với danh hiệu đó. Nói chính xác, ông là một … thầy cúng.
Theo sử sách để lại, năm 19 hay 20 tuổi, ông ra làm quan, chuyên nghề thu thuế. Sau đó, ông được giao việc chăm sóc các con vật dùng vào cúng tế. Có lẽ chính vì cái xuất thân này mà ông rất quan tâm đến thủ tục cúng tế. Có lẽ vì xuất thân là người thu thuế, kế toán, nên ông rất quan tâm đến sự chính xác. Ông sống như kẻ trưởng giả, suốt đời từ cách ăn uống, cách mặc, cách đi đứng, cách cư xử, lúc nào cũng theo qui ước.
Sách Luận Ngữ viết rằng ông chỉ ăn thức ăn nấu thật chín, món ăn phải theo mùa, lượng rau và thịt không thay đổi. Ông cũng uống rượu nhưng không bao giờ để cho say xỉn. Ăn mặc thì không mặc quần áo màu mè, lễ phục thì cánh tay mặt phải dài hơn cánh tay trái, quần áo ngủ phải dài hơn quần áo ban ngày nửa thước. Còn nói thì nói chậm, và không dùng ngón tay để chỉ một vật gì. Trong triều đình cung cách của Khổng Tử là “thượng đội hạ đạp”. Đối với các quan cấp dưới thì ông tỏ ra cứng cỏi, còn đối với các quan cấp cao hơn thì uyển chuyển. Đó là chân dung của một người rất máy móc, cứng nhắc, và sống theo qui ước cho chính ông đặt ra.

Không được trọng dụng
Thời thanh niên và trung niên, Khổng Tử không được trọng dụng vì ông chẳng có đóng góp gì quan trọng. Ông lưu lạc rất nhiều nước, nhưng chẳng có vua chúa nào trọng dụng tài của ông. Cuối cùng ông về nước Lỗ và mở trường dạy học. Nên nhớ rằng thời đó, chỉ có triều đình và những “hiền nhân” mới có quyền mở trường dạy học. Nhờ trường của Khổng Tử mà nhiều môn đồ sau này làm lớn trong triều đình. Ông đào tạo khoảng 3000 môn đồ. Nghe nói công lớn của ông là làm cho khoảng cách giữa người “quân tử” và “tiểu nhân” ngắn hơn, nhưng có người cho rằng đó là một ảnh hưởng vô ý thức, vì trong thâm tâm ông không muốn vậy. Theo sách vở để lại, ông xem kẻ tiểu nhân không đáng được kính trọng, không cần nể nang (giống như Francis Galton bên Anh).

Khổng Tử được tôn xưng là một nhà đạo đức, nhưng “đạo đức” ở đây có nghĩa là ông làm đúng nghi lễ, chứ không hẳn là có đạo cao đức trọng. Ông dạy môn đồ phải trung thực, giữ tín nghĩa với bạn bè, phải phụng dưỡng cha mẹ, giúp người già sống yên ổn, yêu trẻ thơ. Đó thật ra là những chuẩn mực chung thời đó của người Á Đông. Nhưng Khổng Tử không có tầm vóc “global” của Phật Thích Ca hay Chúa Jesus, những người có khả năng xây dựng hẳn một nền triết lí và đạo đức học để cứu rỗi thiên hạ. Thậm chí, ông còn kém hơn Gandhi một bậc.

Ông cũng có vẻ rất thích tự xem mình làm việc của thánh. Ông từng nói rằng “Bảo ta là thánh thì ta không dám, nhưng ta làm việc thánh không biết chán, dạy người không biết mỏi.”

Ông cũng khá tự tin về tài năng của mình. Ông từng phán rằng vua chúa nào mà biết trọng dụng ông thì chỉ một năm ông sẽ làm cho nước đó khá lên, 3 năm là sẽ thành công. Nhưng trong thực tế, chẳng vua chúa nào tin dùng ông cả. Chứng cứ cho thấy ông làm quan nước Lỗ gần 10 năm mà nước này có khá lên đâu. Khổng Tử chủ trương tập trung quyền lực vào vua chúa, không cho các đại thần tham chính. Chính vì thế mà các đại thần rất ghét Khổng Tử, họ khuyên vua chúa nên xa lánh ông quân sư này.

Có thể nói rằng Khổng Tử là người thích làm quan cầu vinh và … trốn thực tế. Ông khuyên người quân tử nên mưu tìm học đạo chứ đừng quan tâm đến miếng cơm manh áo. Lí do, theo ông, học đạo thì sẽ ra làm quan, vinh danh phú quí. Làm quan thì ắt sẽ có miếng ăn. Khi đã làm quan, ông khuyên rằng nước nào thịnh thì tìm đến xin làm quan, còn nước nào khó khăn thì bỏ đi. Ông cũng khuyên rằng nước lâm nguy thì không nên vào, nước bị loạn thì không nên ở. Cái triết lí này cũng từng được nho sĩ Nguyễn Khuyến áp dụng triệt để. Khi nước mất về tay người Pháp, ông lui về ở ẩn để ngâm vịnh thơ ca, chứ chẳng có đóng góp gì đáng chú ý.

Học thuyết của Khổng Tử

Cũng như các “học thuyết” thời xưa, những gì Khổng Tử để lại chẳng là bao nếu so với tiêu chuẩn hiện nay. Tác phẩm của ông là Tứ Thư và Ngũ Kinh. Nếu gộp lại thì chắc độ 300 trang. Ấy thế mà suốt đời này sang đời khác, người ta lải nhải nhắc đến những sách này như là “học thuyết”!

Nếu hỏi một người bình thường, hay ngay cả một bậc trí giả, rằng Khổng Giáo dạy cái gì, thì chắc chắn họ sẽ lúng túng. Có thể họ sẽ kể ra đó là triết lí trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhưng đó là những giá trị thì đúng hơn, và những giá trị đó cũng mập mờ, chứ không được phát triển thành hệ thống triết học như phương Tây. Tuy nhiên, có thể nói rằng Khổng Giáo dựa trên “tam cương, ngũ thường”. Tam cương là 3 bổn phận của kẻ sĩ: trung với vua, hiếu với cha mẹ, chung thủy với vợ. Ngũ thường thì vẫn được coi là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Về sau, Khổng Giáo còn được bổ sung thêm các giá trị dành cho phụ nữ: tam tòng, tứ đức. Tam tòng là ba sự phục tùng mà người đàn bà phải tuân thủ: lúc còn con gái thì phải phục tùng cha, lấy chồng thì phải phục tùng chồng, chồng chết thì phải phục tùng con. Tứ đức là bốn đức tính người đàn bà phải rèn luỵện, đó là công, dung, ngôn, hạnh (khéo tay, có nhan sắc, ăn nói tốt, và hạnh kiểm tốt). Khổng Giáo cũng rất quan tâm đến một giá trị đặc biệt: đó là chữ trinh tiết của người phụ nữ.

Cần phải nói rằng Khổng Tử đề ra những giá trị đó một cách … khơi khơi. Ông chẳng đưa ra được chứng cứ gì có hệ thống, chẳng thèm phân tích lí lẽ. Ông chẳng chứng minh bằng logic hay biện luận như triết gia phương Tây. Ông chỉ phán chung chung, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Còn các giá trị ông đề ra cho phụ nữ phải nói là lạc hậu (so với ngày nay). Những giá trị đó còn hạ thấp vai trò của người phụ nữ, xem họ như là vật dụng. Thật là vô lí khi đòi hỏi người phụ nữ phải phục tùng chồng con! Còn đòi hỏi trinh tiết như là một giá trị có người xem là … đểu cáng.

 

Chúng ta còn nhớ chuyện anh chàng Chử Đồng Tử bị công chúa nhìn thấy trần truồng trong lúc tắm, và thế là nàng ta xem mình bị … mất trinh. Đã thế còn phải cưới anh ta làm chồng. Phải nói là hài hước đến độ khó tin! Ngày nay, những giá trị đó của Khổng Tử không thể áp dụng được vì đó là một hệ giá trị quái đản.

Giá trị “nhân” không được ông định nghĩa đàng hoàng. Trong Luận Ngữ, Khổng Tử viết rằng nhân là người trí thì thích nước, người nhân thì thích núi, người trí thì động còn người nhân thì tĩnh. Chẳng ai hiểu ông định nghĩa gì. Chữ “lễ” của Khổng Giáo cũng là một sự mập mờ và dễ gây hiểu lầm. Luận Ngữ xem lễ chỉ là nghi thức và hình thức cúng bái và ứng xử với vua chúa ra sao. Cũng xin nói thêm rằng hiện nay ở VN có phong trào “tiên học lễ hậu học văn”, nhưng đây là một “áp dụng” sai. Như đề cập, lễ ở đây có nghĩa là nghi thức (học quì, lạy, cúi đầu). Như vậy nói “tiên học lễ, hậu học văn” là rất ngược đời.

Nhà văn Bá Dương (người Tàu) là tác giả cuốn sách nổi tiếng “Người Trung Quốc Xấu Xí” vạch ra những cái xấu của người Tàu và văn hoá Tàu. Trong sách, ông xem Khổng Giáo là một hũ tương đặc sệt. Nhưng có người xem nó còn tệ hơn một hũ tương, vì Khổng Giáo còn đề cập đến quỉ thần, phục tùng vua chúa, đặt ra những qui ước ăn ở trong gia đình, tu thân, v.v. Ông Nguyễn Gia Kiểng xem Khổng Giáo là một “hũ mắm thập cẩm, thịt có, cá có, tôm có, mà rau cũng có. Mỗi người nếm nói một cách riêng, người thì bảo là thịt, người thì nói là cá, người lại nói là tôm. Ai cũng đúng cả mà cũng chẳng ai đúng cả. Cho nên có người nói Nho Giáo là hệ thống chính trị, có người nói đó là một triết lí và cũng có người coi nó là đạo lí.”

Tại sao Tàu muốn vực dậy Khổng Tử

Quan điểm của Khổng Tử được các chế độ toàn trị và quân chủ chuyên chế rất thích. Ông kêu gọi tôn quân, phân biệt người quân tử và bậc tiểu nhân, những điều rất phù hợp với quan điểm các chế độ toàn trị. Ông quan niệm rằng “quân tử học đạo tác ái nhân, tiểu nhân học đạo tạc đi sử giả” (người quân tử mà có đạo thì yêu người, còn kẻ tiểu nhân mà có đạo thì dễ sai bảo). Ông còn nói “quân tử hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn, tiểu nhân hữu dũng nhi vô nghĩa vi đạo” (kẻ quân tử có dũng khí mà không có nghĩa thì là kẻ loạn, kẻ tiểu nhân có dũng mà không có nghĩa thì đi ăn trộm). Cũng giống như trong chế độ toàn trị, kẻ làm quan hay cán bộ được xem là “cao thượng”, còn dân chúng là hạng thấp kém, hèn hạ, cần phải được rèn luyện và giáo dục. Có lẽ vì thế mà các chế độ này rất tôn kính ông như là một bậc thánh.

Có vài đặc điểm về Khổng Giáo mà giới toàn trị rất ưa thích. Thứ nhất là tinh thần thủ cựu, bảo thủ. Khổng Tử, như tôi mô tả trên, là người rất tôn trọng nghi thức (ông gọi là “lễ”), suốt năm này sang năm khác, ông chỉ lặp lại những nghi thức, lễ giáo ông đặt ra. Không sáng tạo cái gì mới, thậm chí còn thù ghét cái mới. Thứ hai là thiếu tính khoan dung và độc quyền chân lí. Các giá trị mà Khổng Tử truyền bá là qua áp đặt chứ không qua thuyết phục. Ông không muốn có một chân lí khác ngoài chân lí của ông. Thứ ba là tính sùng bái cá nhân, sùng bái cấp trên một cách bệnh hoạn. Đặc điểm thứ ba này cũng rất phù hợp với quan điểm của các chế độ quân chủ và toàn trị, vì họ thích dựng lên những cá nhân bán thần thánh.

Nhìn như thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy đảng cộng sản Tàu muốn vực dậy Khổng Tử. Nên nhớ rằng trước đây Mao Trạch Đông rất ghét Khổng Tử, ông nhìn thấy mấy nhà thờ Khổng Tử là muốn đốt! Có lẽ một phần là do mặc cảm, vì Mao xuất thân là kẻ thất học? Nhưng trong thời đại mới, Tàu có lẽ tìm thấy vài điều hay ho từ Khổng Tử và muốn quảng bá ra ngoài. Do đó, họ đã đầu tư rất nhiều cho viện Khổng Tử. Đã có hơn 300 viện Khổng Tử mọc lên từ nhiều đại học trên thế giới, phần lớn là Phi châu.

Thật ra, Viện Khổng Tử không hẳn quảng bá những lời dạy của Khổng Tử, mà quảng bá hình ảnh của một nước Tàu thời hậu Mao. Ngoài ra, còn có nhiều thông tin, kể cả thông tin từ các giáo sư bên Tàu, cho biết các viện Khổng Tử ở nước ngoài là những ổ gián điệp, nơi mà Tàu thu thập thông tin tình báo. Ngay cả những “giáo sư thỉnh giảng” được Tàu gửi sang các viện Khổng Tử cũng là tình báo. Chẳng ai ngạc nhiên vì một chế độ với bản chất lừa dối như Tàu nếu họ khoác mặt nạ học thuật cho một cơ sở tình báo và tuyên truyền.

Giới chính trị Tàu xem Viện Khổng Tử như là một loại “quyền lực mềm” (soft power). Họ muốn bắt chước Đức, Mĩ, Anh, Pháp, v.v. bằng hình thức quảng bá văn hoá ra ngoài. Nhưng họ quen thói độc quyền tư tưởng, nên sự hiện diện của các viện Khổng Tử là một đe doạ đến tự do học thuật. Thật vậy, một hiệp hội giáo sư Mĩ đã đồng thanh lên tiếng tẩy chay các viện Khổng Tử ở Mĩ vì họ xem viện Khổng Tử là một công cụ tuyên truyền của nhà nước Tàu cộng sản, và tuyên truyền thì không tôn trọng tự do học thuật. Hồ Cẩm Đào chẳng dấu giếm gì về ý đồ tuyên truyền khi ông nói rằng viện Khổng Tử là “cửa ngõ quan trọng để làm sáng danh văn hóa Trung Quốc, giúp mở rộng văn hóa Trung Quốc, đó là phần của chiến lược tuyên truyền quốc tế”. Một số trường đại học bên Mĩ đã từ chối viện Khổng Tử. Nhưng giới trí thức ở VN thì không có cái may mắn có tiếng nói như đồng nghiệp bên Mĩ.

Trong 1000 năm Tàu đô hộ Việt Nam, Tàu không hề xây dựng một lăng miếu Khổng Tử nào cả. Có lẽ đó là chính sách ngu dân của Tàu thời đó. Ấy thế mà ngày nay họ trịnh trọng đem cái viện Khổng Tử đó sang Việt Nam! Nhưng chúng ta có muốn học cái văn hoá “hũ tương” của Tàu? Ngày xưa, có người như Phan Kế Bính, một học giả xuất chúng, rất sùng ái Khổng Tử. Trong một tranh luận với Phạm Quỳnh, Phan Kế Bính viết rằng: “Đạo lí là đạo lí Khổng Mạnh. Như vậy phải chăng các dân tộc không biết tới Khổng Mạnh là những dân tộc không có đạo đức?” Kinh chưa! Nhưng ngày nay, chúng ta thấy Tàu chẳng có cái gì để chúng ta học cả. Chính quyền Tàu đem đến VN toàn những rủi ro, độc hại, và nguy cơ. Người Nhật, người Hàn đã thoát Tàu và đã đạt thịnh vượng. Không có lí do gì để chúng ta phải du nhập những giá trị “hũ tương”, “hũ mắm thập cẩm” đó để kìm hãm sự phát triển của dân tộc và đất nước.

—————

Nên làm gì với Viện Khổng Tử ở Hà Nội?

 2-1-2014

Ngô Nhân Dụng
.

Cuối năm 2014, ngày 27 tháng 12 một Viện Khổng Tử đã chính thức được đặt trong đại học Hà Nội. Mục đích được nêu ra là “thúc đẩy việc nghiên cứu, giảng dạy tiếng Trung Quốc, góp phần củng cố và phát triển quan hệ Việt-Trung …” Nhưng giới trí thức Việt Nam không ai tin.

Người Việt và người Trung Hoa đều nghi ngờ vai trò của Viện Khổng Tử. Thí dụ, ông Ngô Đức Thọ, thuộc Viện Hán Nôm Hà Nội, lo rằng Trung Cộng đang “mang ngay tư tưởng bành trướng Đại Hán cắm giữa thủ đô Hà Nội!” Bên Trung Quốc, nhà tranh đấu Lưu Hiểu Ba, giải Nobel Hòa Bình, cho rằng hàng động này nằm trong kế hoạch thúc đẩy đầu óc dân tộc cực đoan trong nước Tàu; để dân quên cảnh chính quyền độc tài đàn áp; và cũng vì đầu óc muốn làm bá chủ thiên hạ của đám lãnh đạo Bắc Kinh.

Có thể nói ở nước ta từ đời Lý, Trần đã lập các Viện Khổng Tử, mà các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng vậy. Bởi vì từ thế kỷ 19 về trước các dân tộc Á Đông này đều học kinh điển Khổng, Mạnh, dùng làm nền tảng giáo dục. Nhưng tại sao bây giờ người Việt phải lo ngại về một Viện Khổng Tử? Hơn nữa, hiện nay nhiều nước chung quanh vẫn chấp nhận các Viện Khổng Tử do Trung Cộng đài thọ, như tại Nam Hàn đã lập 17 viện, tại Nhật Bản có 13, Thái Lan 12, Indonesia có 7 viện. Tại sao người Việt Nam chúng ta lại chống? Lý do chính là vì không người Việt nào tin Cộng Sản Trung Quốc. Chính tuần báo Anh quốc The Economist cũng nhận xét rằng Viện Khổng Tử là một “cơ quan nhà nước” cho nên nó sẽ đóng vai thi hành các chủ trương của Cộng Sản Trung Quốc. Từ năm 1950 đến nay, chủ trương của Trung Cộng vẫn là muốn Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc Bắc Kinh; mở đầu bằng viện trợ quân sự, sau là dậy đấu tố, chỉnh huấn, tạo ra một đảng cộng sản người Việt nằm trong tay Trung Cộng.

Cho nên ông Vũ Cao Phan, người từng giữ vai Phó chủ tịch hội Hữu nghị Việt Trung, tỏ ý nghi ngờ mục tiêu của Trung Cộng: “Viện Khổng Tử tại đại học Hà Nội … sẽ tuyên truyền những cái khác ngoài văn hóa!” Ông Nguyễn Văn Tuấn nhìn ra, “Viện Khổng Tử … mở thêm một cánh cửa để Việt Nam lọt vào quĩ đạo [của Trung Quốc] lệ thuộc hơn nữa vào Tàu.”

Những phản ứng hoài nghi và chống đối của giới trí thức thủ đô Hà Nội và trên toàn quốc chắc sẽ không ngăn cản được quyết định thành lập Viện Khổng Tử. Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng không dám ngăn cản nếu hoạt động của viện này là tuyên truyền cho “tư tưởng bành trướng Đại Hán.” Nếu Trung Cộng đem sang những bản đồ vẽ cả vùng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Đường Chín Đoạn của Trung Quốc lưu giữ trong cái viện này, thì chắc các ông lãnh đạo đại học Hà Nội cũng đành chịu! Giả thử có cán bộ Trung Cộng sang dậy học tại Viện Khổng Tử giảng rằng đời xưa ông Mã Viện đã sang Giao Chỉ tiêu diệt bọn địa chủ Trưng Trắc, Thi Sách, để “giải phóng” dân Lạc Việt. Nếu các bloggers trong nước lên tiếng phản đối thì họ có bị các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng bắt giam hay không? Chắc phải bắt hết, bởi vì trong thế kỷ 20 Việt Cộng đã học tập Trung Cộng theo đúng bài bản đấu tranh giai cấp đó.

Vậy chúng ta phải làm gì để ngăn chặn âm mưu tuyên truyền chủ trương Đại Hán?

Có một cách, là dùng gậy ông đập lưng ông.

Giới trí thức Hà Nội, như quý ông Ngô Đức Thọ, Vũ Cao Phan, Nguyễn Văn Tuấn nên phản công bằng cách mở ra những cuộc hội thảo, nghiên cứu khoa học về Khổng Tử, Mạnh Tử, theo tinh thần phê phán khách quan, phương pháp sử học và xã hội học. Chúng ta có thể đề nghị tổ chức các cuộc thảo luận đó ngay trong Viện Khổng Tử! Nếu họ từ chối thì cứ tổ chức tại địa điểm khác, trong các đại học tư, các trường trung học, mượn các khách sạn, hay ngay tại tư gia. Mời mọi người tới tham dự, miễn phí, và bảo đảm được phát biểu tự do! Nếu đại học Hà Nội sợ không dám cho giới trí thức Việt Nam công khai nghiên cứu Khổng Tử, Mạnh Tử trong viện, thì chúng ta cứ lập một Hội Nghiên cứu Khổng Mạnh, một hội tư, ai cũng được tự do tham dự. Nên nghiên cứu cả Mạnh Tử, vì sách Luận Ngữ thuật lời Khổng Tử chú trọng đến tu thân nhiều hơn, còn sách Mạnh Tử đặc biệt bàn nhiều vấn đề chính trị học.

Ở nước ta, trước đây đã nhiều nhà nghiên cứu viết về Khổng Tử, Mạnh Tử. Như Phan Bội Châu (Khổng Học Đăng), hay Trần Trọng Kim (Nho Giáo). Nhưng các học giả trên nhìn Khổng Mạnh từ bên trong, với tư cách là những người học theo Khổng, Mạnh. Nhìn từ bên ngoài, thì chỉ có các học giả Trung Hoa phê bình Khổng, Mạnh, phần lớn là đả kích hệ thống chính trị cổ truyền của nước họ, trong đó các vua quan nhân danh hai ông Khổng, Mạnh thiết lập những chế độ tập trung quyền hành và khinh thường dân chúng. Nhưng thực sự hai ông Khổng, Mạnh có chủ trương như vậy hay không?

Trong cuốn Đứng Vững Ngàn Năm, chúng tôi đã trình bày đường lối bóp méo Khổng giáo của các vua chúa bên Tàu nhằm phục vụ chế độ chuyên chế của họ, mà chế độ đó theo mô hình Pháp gia chứ không phải Nho gia. Từ thế kỷ 15 vua quan nước ta mới bắt chước mô hình cai trị đó. Các hoàng đế Trung Hoa đã xuyên tạc Nho Giáo vì nhu cầu chính trị vua, vua quan nước ta cứ thế đi lạc theo. Nếu hiểu đúng hai ông Khổng, Mạnh thì chúng ta biết rằng họ không hề chủ trương tôn quân tuyệt đối như các ông vua đời Tống, đời Thanh bên Tàu, hay vua Gia Long, Minh Mạng ở nước ta. Hội Nghiên cứu Khổng Mạnh có thể mời Viện Khổng Tử hợp tác tham gia một cuộc hội thảo về Khổng Tử hay Mạnh Tử.

Thí dụ, một đề tài đáng thảo luận là: Ai có quyền cai trị dân? Xin trích dẫn một đoạn trong Lương Huệ Vương, Thượng, chương 6, như sau:

Mạnh Tử kể chuyện lúc gặp vua Lương, ông vua hỏi, “Khi nào thiên hạ định?” (Thiên hạ ô hồ định?) Mạnh Tử đáp rằng, “Khi có một người nắm quyền thì định” (Định vu nhất). “Ai có khả năng gom vào làm một?” (Thục năng nhất chi?) Trả lời, “Kẻ không thích giết người thì có thể thống nhất thiên hạ” (Bất thị sát nhân giả, năng nhất chi). Ông vua lại hỏi, “Ai ban quyền (thống nhất) cho người đó?” (Thục năng dữ chi?) Trả lời, “Tất cả thiên hạ không ai là không có cái quyền (ban cho) này” (Thiên hạ mạc bất dữ dã).

Qua đoạn văn trên chúng ta biết Mạnh Tử quan niệm chính quyền là do sự ủy nhiệm của mọi người dân. Ta còn thấy Mạnh Tử coi tất cả mọi người dân đều bình đẳng trong quyền ủy nhiệm cho vua cai trị, không ai không có quyền đó (Thiên hạ mạc bất dữ dã). Tất cả mọi người dân có quyền chỉ định ai là kẻ đáng nắm quyền trong thiên hạ, trong một nước hay trong một tỉnh, một quận cũng vậy. Thời ông Mạnh Tử, trước đây hơn 24 thế kỷ, nước Trung Hoa chưa biết tổ chức bỏ phiếu, nhưng ngày nay ai cũng biết. Có nên bỏ phiếu để thực hành việc ủy quyền hay không?

Một đề tài khác đáng đem ra hội thảo, là: Nếu người cầm quyền không hợp lòng dân thì dân có thể làm gì? Chúng ta cũng có thể trích Lương Huệ Vương, Hạ, chương 8, sách Mạnh Tử.

Khi Tề Tuyên Vương hỏi về chuyện Thành Thang đánh vua Kiệt, Vũ đuổi vua Trụ; Mạnh Tử đáp, “Sử chép đúng thế.” Tuyên Vương lại hỏi, “Như vậy thì bầy tôi có thể thí vua sao?” (Thần thí kỳ quân khả hồ?) Mạnh Tử trả lời, “Kẻ làm hại điều Nhân, gọi là Tặc; làm hại điều Nghĩa, gọi là Tàn. Kẻ Tàn, Tặc, nó cũng chỉ là một thằng người mà thôi. Tôi nghe nói chém đầu một thằng tên là Trụ chứ không nghe chuyện thí vua.” (Tặc nhân giả, vị chi Tặc, tặc nghĩa giả, vị chi Tàn; Tàn, Tặc chi nhân, vị chi nhất phu. Văn trù nhất phu Trụ hĩ, vị văn thí quân da…

Trước đây 25 thế kỷ, Nhân và Nghĩa là hai giá trị nền tảng trong bản “hợp đồng xã hội” giữa vua và dân. Tề Tuyên Vương vẫn coi Kiệt, Trụ là vua, nên dùng chữ “thí quân,” động từ “thí” chỉ việc giết vua. Mạnh Tử thấy các bạo chúa phạm nhân nghĩa, không xứng đáng làm vua, cho nên không dùng động từ “thí” mà dùng chữ “trù,” nghĩa là chặt đầu. Tóm lại, Mạnh Tử công nhận: Người dân có quyền lật đổ những chính quyền khi chính quyền đó vi phạm hợp đồng xã hội, làm hại Nhân và Nghĩa. Khi đó người dân có quyền lật đổ chính quyền, như trong hình ảnh giết vua.

Hội Nghiên Cứu Khổng Mạnh sẽ in thành sách các bài nghiên cứu về hai đề tài trên, cho đồng bào Việt Nam ta cùng tham gia ý kiến về hai câu hỏi. Thứ nhất: Lấy gì làm căn bản cho quyền cai trị của một đảng? Thứ hai: Nếu chính quyền không làm đúng bổn phận thì dân có quyền lật đổ hay không? Ngoài ra, có thể mời các luật gia thuyết trình về câu hỏi: Nếu Mạnh Tử sống vào năm 2015, ở nước Việt Nam, thì khi ông nói những ý kiến như trên, ông sẽ bị bắt hay không? Ông Mạnh Tử sẽ bị truy tố theo điều 79 hay Điều 88 bộ luật hình sự?

Nghiên cứu tư tưởng tôn trọng quyền dân của Khổng, Mạnh để đóng góp cho Viện Khổng Tử, đó là một cách ngăn chặn âm mưu tuyên truyền chủ trương Đại Hán của các vị hoàng đế Trung Hoa thời nay.

 ————-

DN Trung Quốc kiến nghị cho giao dịch bằng Nhân dân tệ ở Việt Nam

 

HQ Online)- Theo tìm hiểu của phóng viên Báo Hải quan, Hiệp hội DN Trung Quốc tại Việt Nam, Ngân hàng Công Thương Trung Quốc vừa có kiến nghị gửi một số cơ quan chức năng ở Việt Nam đề nghị cho phép mở rộng phạm vi giao dịch đồng Nhân dân tệ.

Trung Quốc đang muốn quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ. Ảnh: Internet.

Kiến nghị này của Hiệp hội DN Trung Quốc tại Việt Nam, Ngân hàng Công Thương Trung Quốc đưa ra trong bối cảnh Chính phủ Trung Quốc đang muốn quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ, nhằm đưa đồng nội tệ của nước này thành đồng tiền mạnh thứ ba trên thế giới, sau USD, EURO.

Nội dung kiến nghị của hai đơn vị này cho thấy: Nhu cầu giao dịch thanh toán bằng Nhân dân tệ tại Việt Nam là khá lớn và tăng lên rõ rệt theo đà phát triển không ngừng thương mại Việt – Trung. Tại thị trường biên mậu Việt-Trung, cuối năm 2013 ước tính kim ngạch thanh toán bằng Nhân dân tệ đã đạt khoảng 15 tỷ USD. Phương thức lưu thông Nhân dân tệ chưa được pháp luật Việt Nam quy định. Đa số giao dịch thanh toán bằng nhân dân tệ nói trên được thực hiện ở Việt Nam thông qua con đường không chính ngạch.

Vì vậy theo lý lẽ của Hiệp hội DN Trung Quốc tại Việt Nam, Ngân hàng Công Thương Trung Quốc, nếu thị trường thanh toán Nhân dân tệ từ biên giới được mở rộng đưa vào nội địa Việt Nam và được các ngân hàng thực hiện theo con đường chính ngạch, thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể quản lý giám sát nguồn vốn này một cách có hiệu quả. Đồng thời có thể tăng cường đóng góp trong việc thu thuế cũng như công tác phòng, chống rửa tiền. Hiện tại đã có ngân hàng của Việt Nam thực hiện nghiệp vụ đổi Nhân dân tệ- đồng Việt Nam (CNY-VND) nhưng chưa có ngân hàng Trung Quốc được thực hiện nghiệp vụ này.

“Nếu đồng tiền thanh toán thương mại từ đồng USD… được thay thế bằng Nhân dân tệ, đây chỉ là sự thay thế về đồng tiền thanh toán mà không ảnh hưởng gì đến tình hình xuất siêu hay nhập siêu” – hai đơn vị trên đưa ra dẫn chứng để bảo vệ đề xuất của mình.

Vì thế, hai đơn vị này kiến nghị Ngân hàng Nhà nước có thể mở rộng phạm vi sử dụng Nhân dân tệ tại Việt Nam hơn ở mức độ hợp lý. Bên cạnh đó, các đơn vị này kiến nghị đồng ý cho Ngân hàng Công Thương Trung Quốc thực hiện hợp tác về nghiệp vụ Nhân dân tệ với ngân hàng thương mại Việt Nam (như BIDV).

http://www.baohaiquan.vn/pages/dn-trung-quoc-kien-nghi-cho-giao-dich-bang-nhan-dan-te-o-viet-nam.aspx

 

 

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: