Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Hai 18th, 2014

►Chân Dung Quyền Lực – Từ nhà ông Truyền đến Biệt thự biển và Nhà thờ họ của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2014

Chân Dung Quyền Lực

Từ dư âm vụ ông Truyền, nhiều người lên tiếng, phải tìm sâu làm rõ gốc gác tài sản ngầm của những ông “Truyền” khác. Bởi, trên thực tế, không ít ông “Truyền” khác đang khoác lên mình bộ cánh liêm khiết nhưng kỳ thực lại chính là “con chuột cống” đang ngủ ngon lành trong những chiếc “bình quý”… chỉ là chưa “dịp” lên báo mà thôi.

Nhiều người thừa hiểu rằng tài sản của ông Truyền lớn đấy, nhưng chẳng thấm thoát vào đâu so với cơ ngơi hoành tráng của nhiều quan chức khác. Biệt thự của ông Truyền quá to ở Bến Tre, nhưng xét về giá trị vẫn còn thua xa những dinh thự tầm trung ở các khu đất vàng của gia đình Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

nguyen-xuan-phuc.jpg

Một góc căn biệt thự Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đang sở hữu

Trong lý lịch ông Nguyễn Xuân Phúc “thật thà” khai rằng, nhà ông ở 58 Nguyễn Thị Minh Khai, Đà Nẵng. Nhưng ít ai biết rằng, căn nhà nhỏ này ông Phúc đã cho thuê với giá cao ngất ngưởng, còn tư dinh bề thế nguy nga và “nhà thờ họ” của ông ở Đà Nẵng, được khéo léo che đậy bằng cách tọa lạc ở góc khuất tại số 49 Phan Kế Bính. Dù được ngụy trang kỹ lưỡng, nhưng giữa những căn nhà ổ chuột rách nát của người dân trong vùng nổi bật lên một dinh thự hoành tráng, khiến nhiều người thấy “chướng tai gai mắt”, nhưng ngẫm thân phận con kiến đành phải “có mắt như mù” vì sợ cái chữ ‘liêm’ của ngài Phó Thủ tướng.

nha-tho-ho-nguyen-xuan-phuc-1.jpg

Một góc trong “nhà thờ họ” của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tọa lạc tại 49 Phan Kế Bình, Đà Nẵng được khởi công từ năm 2005
nha-tho-ho-nguyen-xuan-phuc-2.jpg

Căn biệt thự kiêm “nhà thờ họ” này không ngừng trùng tu, tôn tạo để đảm bảo sự nghiệp của Phó Thủ tướng Nguyễn xuân Phúc được hanh thông (Nguồn: VinaHouse)

Riêng cậu ấm Nguyễn Xuân Hiếu của ông Phúc (mới du học ở Mỹ về hồi tháng 5/2014), chưa làm nên công trạng gì, đã nghiễm nhiên sở hữu căn Villa số E9 nguy nga lộc lẫy tại khu du lịch Ocean Villas từ thời còn là “du học sinh”. Tuy nhiên, vì còn vô số các căn biệt thự “chìm” của gia đình không ở hết, nên căn villa này đang được Hiếu cho Công ty TNHH Khu Du Lịch Biển VINACAPITAL thuê. Không biết tiền đâu Hiếu mua căn villa siêu sang trên? Nếu nói là tiền của Hiếu tự kiếm được thì xem thường dân quá, còn nếu nói trắng ra là tiền của ông Nguyễn Xuân Phúc thì lại kẹt cho ngài Phó Thủ tướng “liêm khiết” quá!

ocean-villas.jpg

Villa nguy nga hạng sang, tài sản riêng của quý tử Nguyễn Xuân Hiếu tại khu du lịch Ocean Villas
loi-nhuan-nguyen-xuan-hieu.jpg

Giấy báo chia lợi nhuận doanh số cho thuê biệt thự của Nguyễn Xuân Hiếu
nguyen-xuan-hieu-dang-van-thanh.jpg

Trong khi thời gian chính khi du học của Hiếu (ngoài cùng bên phải) là ăn chơi đàn đúm cùng các anh chị nuôi của nhà Đặng Văn Thành

Chỉ mới đếm sơ sơ, đã có ít nhất 1 căn nhà và 2 dinh thự hạng sang mà ông Phúc đang sở hữu. Nếu liệt kê hết vô số các căn villa, biệt thự, đất đẹp ở Quảng Nam khiến dân phải trố mắt, mỏi cổ ngước nhìn và các khoản tiền chìm đâu đó trong ngân hàng, cổ phiếu, két sắt… của ông Phúc (đứng tên hoặc nhờ người đứng tên) hiện nay, tổng giá trị tài sản là con số khủng khiếp.

Nhẩm lại, căn cứ theo tin báo đưa thì lương Thủ tướng Việt Nam là 17 triệu/tháng. Từ đó, suy ra mức lương của Phó Thủ tướng tất yếu sẽ thấp hơn, thế thì cũng phải tằn tiện lắm mới đủ sống trong thời đại vật giá leo thang. Hoặc nếu có dư ra chút đỉnh, thì cũng phải 1.000 năm sau, ông Phúc mới có thể xây dựng một dinh thự cho mình. Vậy, tiền đâu ra để ông cất nhà, mua đất đẹp cho mình và vun vén cho dòng họ?!

nguyen-xuan-phuc-tham-nhung.jpg

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lại luôn hô hào chống tham nhũng, thậm chí còn đổ lỗi ‘Tham nhũng là do doanh nghiệp’

Nếu như ông Truyền khi còn đương chức luôn mạnh miệng phát biểu rằng: “phải bản lĩnh, dám đương đầu và chấp nhận để đấu tranh với tham nhũng; phải theo dõi việc kê khai tài sản của cán bộ nghỉ hưu”… nhưng ông Truyền là người thế nào mọi người đã rõ! Thì ông Phúc, cũng chẳng kém cạnh, trước báo giới ông luôn là tâm điểm bởi những tuyên bố gây chú ý như: “tham nhũng là do người dân”, “cần phải quyết liệt”, “cần kiểm tra, xử lý nghiêm minh cán bộ bao che cho buôn lậu, sản xuất hàng giả”… Nhân dân cả nước bao phen choáng váng trước sự “liêm khiết” được chính bản thân ông Phúc tô vẽ.

Nhưng dù cố gắng thể hiện mình gần gũi dân, ghét tiêu cực, tham nhũng cỡ nào thì việc ông có hẳn một cơ ngơi đáng nể. Rồi cả dòng họ đều được hưởng những miếng đất đẹp ở vị trí “đắc địa” cũng đủ khiến người ta “ngưỡng mộ” rằng ông Phúc quả là biết phát huy cái ân, cái uy của một vị “quan liêm” trong việc… thu vén cá nhân.

Đề nghị Ban Nội chính Trung ương và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương nhanh chóng vào cuộc, kiểm tra xem còn bao nhiêu căn biệt thự, bao nhiêu m2 đất, và bao nhiêu “của chìm” của gia đình ông Phúc còn ẩn trong vùng tối khuất tất. Làm được việc này không chỉ có lợi cho dân, cho nước mà còn giúp trả lời thắc mắc của ông Truyền “Sao chỉ có mình tôi?”.

————

Bài liên quan:

Nhà thờ họ của TT Nguyễn Tấn Dũng

 

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | 1 Comment »

►Nhà Văn Bùi Ngọc Tấn qua đời – tác giả Chuyện Kể Năm 2000 mãi mãi ra đi

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2014

Bùi Ngọc Tấn (1934 – 18 tháng 12 năm 2014) là một nhà văn Việt Nam đương đại có nhiều tác phẩm gây chú ý rộng rãi trong dư luận xã hội.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934. Quê ông ở làng Câu Tử Ngoại,Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Ông bắt đầu viết văn, viết báo từ 1954. Bùi Ngọc Tấn có sáng tác in ở các nhà xuất bản: Văn học, Lao động, Thanh niên, Phổ thông… khi mới ngoài hai mươi tuổi[1].

Trước khi viết văn, ông là phóng viên báo Tiền Phong ở Hà Nội, viết với bút danh Tân Sắc.

Sau đó, năm 1959, ông trở về quê và thành biên tập viên báo Hải Phòng Kiến thiết. Để có thể nuôi gia đình 6 người, ông tập trung vào viết báo. Ông thân thiết với nhà văn Nguyên Hồng và Bí thư Thành ủy Hoàng Hữu Nhân, người quan tâm đến giới văn nghệ sĩ và đã giúp đỡ ông lúc khó khăn sau này.

Bùi Ngọc Tấn từng bị tập trung cải tạo 5 năm (1968-1973)[2] theo đài RFA về tội “Xét lại, chống Đảng”, mà không được xét xử[3]. Theo ông thì người hạ lệnh bắt ông, cũng như đuổi vợ ông khỏi trường Đại học trong thời gian ông bị cải tạo, ngăn chặn ông đi làm sau khi ra tù là giám đốc công an thành phố Hải Phòng Trần Đông[4].

Khi bị bắt giữ, ông cũng bị tịch thu hơn nghìn trang bản thảo và sau này không được trả lại[1].

Từ khi được xóa án, sau hai năm thất nghiệp, Bùi Ngọc Tấn được tổng cục trưởng Tổng cục Thuỷ sản Hoàng Hữu Nhân xếp vào làm nhân viên theo dõi thi đua khen thưởng ở Liên hiệp Xí nghiệp Đánh cá Hạ Long[5].

Trong khoảng thời gian làm công việc này từ 1974 đến 1994, ông trở thành một “người ẩn dật” với văn chương[6], ngừng viết trong khoảng thời gian 20 năm này[1].

Theo đài RFA, trong thời gian đó “ông không được phép viết lách gì, ngay cả nhật ký cũng thường xuyên bị công an văn hóa xét nhà, lục lọi tịch thu…[3]

Ông trở lại với bạn đọc qua bài “Nguyên Hồng, thời đã mất” đăng trên tạp chí Cửa biển tại Hải Phòng năm 1993.

Ngày 18/12/2014 ông mất tại nhà con trai mình (ông Bùi Ngọc Hiến) ở Hải Phòng sau một thời gian bệnh phổi nặng.[7][8][9][10]

Theo con trai ông, tang lễ sẽ được tổ chức vào ngày 20 tháng 12 năm 2014.

 

Gần đây, tiểu thuyêt “Biển và chim bói cá” (2008) đã được giải thưởng Văn học Henri Queffenlec của Pháp 2012.

nguồn: buingoctan

(Vietnamthoibao) – Thương tiếc nhà văn Bùi Ngọc Tấn, anh vừa từ giã chúng ta lúc 6:30 sáng nay. Xin gửi các bạn, các anh chị lá thư tôi viết cho anh sau khi đọc bản thảo “Thời biến đổi gien”, được anh đưa thành bài Tựa cuốn sách sắp ra mắt ở Mỹ với tên “Hậu chuyển kể năm 2000″.
Cầu chúc hương hồn anh an bình.

Hoàng Hưng

Thư gửi Bùi Ngọc Tấn sau khi đọc “Thời biến đổi gien”

Anh Tấn ơi!

Tôi đã đọc một mạch xong bản thảo cuốn sách trên 300 trang của anh trên suốt chặng đường Đà Nẵng – Sài Gòn 20 giờ xe đò, trừ mấy giờ ngủ chập chờn. Và cũng như cái lần đọc Chuyện kể năm 2000 (CKN2000) mà anh còn nhớ rất rõ và kể lại trong sách này, nước mắt và cả sự nghẹn ngào phải kìm để không thành tiếng nấc, cứ tự nhiên bật ra. Để rồi ngay sau đó tiếng nghẹn ngào lại biến thành tiếng “cười rinh rích” không kìm nổi.

“Đi đến cốt lõi ngọn nguồn” của Sự thật, không né tránh, không sợ hãi, cái Sự thật bi phẫn mà anh đã trải qua, mà bạn bè anh trong đó có tôi, mà cả dân tộc này đã trải qua trong hơn nửa thế kỷ, anh đã phơi bày nó chính xác đến từng chi tiết rùng mình y như từng nắp chai nước mà hai đứa con anh chắt chiu để sống mỗi ngày; nhưng anh luôn vượt qua nó, vượt lên trên nó bằng cái hài hước quen thuộc của mình. Cái hài hước chỉ có ở những tâm hồn mạnh mẽ, không thể khuất phục, của những con người “đắm đuối cuộc sống” – chữ của một hoạ sĩ bạn đọc CKN2000 mà anh tâm đắc.

Tinh thần kép nói trên, thấm nhuần trong những trang miêu tả và kể chuyện hấp dẫn, hồi hộp vô cùng, là sức mạnh những trang viết của anh, ở đây cũng như ở CKN2000. Ấn tượng khó quên của tôi về CKN2000 chính là ở những đoạn “căng thẳng” kỳ lạ như đoạn tả cảnh chia cơm tù ở trại, những con mắt tù hau háu, đau đáu theo dõi việc “cân” các suất cơm bằng chiếc que, những con mắt có khả năng phát hiện chính xác đến từng gam cơm thừa thiếu; còn ở “chuyện kể” mới này, là ở những đoạn gom sách nộp lại cho nhà xuất bản – những âm mưu tính toán, những cuộc điện thoại bằng “mật mã”, những cuộc hẹn hò “bí mật” với vai chính mặc áo Phổ Nghi, đội mũ “ninja”… – li kỳ như truyện trinh thám…

Vâng, 14 năm sau “Chuyện kể”, Bùi Ngọc Tấn lại hiến cho người đọc một “chuyện kể”, lần này là chuyện kể về “chuyện kể”. Tất cả những gì liên quan đến việc viết, in, phát hành, thu hồi CKN2000, với tất cả những con người liên quan, những bình luận,
những hậu quả khôn lường của nó. Anh đã gọi cuốn tiểu thuyết dựa trên nguyên mẫu mình là Chuyện kể…, ngược lại, bây giờ đặt cái tên rất “tiểu thuyết” cho cuốn hồi ức – tư liệu về Chuyện kể… là Thời biến đổi gien.

Có lẽ bởi anh không muốn người đọc chỉ đọc nó như một hồi ức riêng tư. Mà là hồi ức về một thời đại. Một thời đại ghê gớm trên quê hương chúng ta mà cái “gien” NGƯỜI đã bị biến đổi đến thảm hại!

Những con người tốt nhất, bản thân anh, người vợ thủy chung lặng lẽ kiên cường, bạn bè anh – những nhà văn nhà báo khăng khăng một niềm tin ngây thơ vào Cái Đẹp – suốt đời bị nghi ngờ, bị rình rập, bị săn đuổi, đã phải lay lắt để tồn tại như những PHÓ NGƯỜI. Những người tốt khác, ông giám đốc một nhà xuất bản hiếm có, những biên tập viên tâm huyết… dám in tiểu thuyết của anh, những người âm thầm hỗ trợ cho nó ra đời và đến tay người đọc… đã phải sống hai mặt, mặt NGƯỜI ở chốn riêng tư, mặt CÔNG CỤ ở chốn hành nghề. Những kẻ khác thì tùy mức độ, phần NGƯỜI và phần CÔNG CỤ tỷ lệ nghịch với nhau, ý thức CÔNG CỤ khác nhau từ chỗ ý thức rõ rệt, đến chỗ vô thức, bản năng, hay chỉ là một thói quen tập nhiễm.

Tôi nhớ đến cái vườn tượng trên một sườn đồi ở Praha. Rải rác từ chân đến đỉnh đồi, là tượng những NGƯỜI không toàn vẹn hình hài, kẻ mất tay, kẻ mất chân, kẻ không đầu, kẻ không tim… Nếu nói đến tội ác của một chế độ, thì tôi xin nói rằng tội ác lớn nhất của nó chính là phá hủy TÍNH NGƯỜI trong nhiều thế hệ. Một nền kinh tế lụn bại có thể nhanh chóng phục hồi với sự tự cải tổ và trợ giúp từ bên ngoài, một nhà nước bất lực có thể được thay thế với sự đồng thuận của dân chúng, một đất nước thất trận có thể khôi phục lực lượng quân sự của mình bằng tiền bạc, kỹ thuật… Nhưng một dân tộc mà TÍNH NGƯỜI bị phá hủy thì không biết cần đến mấy thế hệ để trở lại làm NGƯỜI toàn vẹn.

Nỗi ám ảnh ấy đã theo tôi nhiều năm nay. Và trong tâm thế ấy, tôi tâm đắc với Bùi Ngọc Tấn về ý nghĩa của việc Viết: Viết là “cuộc chiến đấu vô vọng” để “giữ sự trong sáng trong đôi mắt nhìn đời của các con tôi”. Tôi xúc động vì lời ông bác sĩ ung thư đang chờ chết nói ông đã được tiếp sức từ những trang sách như thế nào: “Tôi hiểu rằng con người không được phép bi quan, không được phép đầu hàng. Tập sách của anh đã nâng đỡ tôi sống những ngày còn lại. Còn một ngày cũng sống cho ra sống”.

Vì thế, chúng ta phải viết. Vì những người đọc như thế. Vì chính chúng ta. Có những kẻ không muốn ta viết, ta phải viết. Họ sợ ta viết, ta phải viết. Họ cấm ta viết, ta phải viết. Họ trùy lung, tiêu hủy những trang viết của ta, ta phải viết. Họ ngăn cản những trang viết của ta đến người đọc, ta phải viết. Ta phải viết “khi cuộc sống chúng ta bị nén xuống sát gần cái chết”, phải không anh Tấn!

Sài gòn, sau ngày biểu tình lớn chống Trung Quốc xâm lược 11/5/2014

Hoàng Hưng

VNexpress:

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời

Tác giả của “Biển và chim bói cá” tạ thế lúc 6h15 sáng nay, ngày 18/12, sau những năm tháng chống chọi với bệnh ung thư.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời tại nhà riêng ở Hải Phòng, hưởng thọ 81 tuổi. Gia đình ông đã báo tin cho các nhà văn, trong đó có nhà thơ, dịch giả Dương Tường – người bạn thân của Bùi Ngọc Tấn.

Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại thành phố Hải Phòng. Trước khi viết văn ông làm báo. Theo đoàn quân tiếp quản Hà Nội năm 1954, ông tới Hà Nội, sau đó làm phóng viên báo Tiền Phong với bút danh Tân Sắc.

Ở tuổi ngoài đôi mươi, ông đã có tác phẩm in ở các nhà xuất bản như Văn học, Lao động, Thanh Niên, Phổ thông.

Năm 1969, ông trở về quê làm biên tập viên tại báo Hải Phòng Kiến thiết và tập trung viết báo để nuôi gia đình. Giai đoạn từ tháng 11/1968 đến tháng 3/1973 ông vướng vào lao lý. Bùi Ngọc Tấn có một thời gian “ẩn dật” với văn chương, ngừng viết từ 1974 tới 1994.

Sau 20 năm im tiếng trên văn đàn, ông trở lại với bạn đọc bằng những trang hồi ký về nhà văn Nguyên Hồng và những truyện ngắn nổi bật.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (thứ ba từ trái sang, hàng sau) cùng bạn bè hồi tháng 11/2014.Độc giả biết tới Bùi Ngọc Tấn qua nhiều tác phẩm như tập truyện Những người rách việc (1996), Rừng xưa xanh lá (2004), tiểu thuyết Biển và chim bói cá (2009). Bên cạnh đó, ông còn có nhiều tác phẩm nổi bật như Mùa cưới, Đêm tháng 10, Nhằm thẳng quân thù mà bắn, Nguyên Hồng thời đã mất, Một thời để mất, Một ngày dài đăng đẳng… Tiểu thuyết Biển và chim bói cá của ông được trao tặng giải thưởng Henri Quefenlec tại Liên hoan sách và biển diễn ra tại Pháp năm 2012.

Hiện gia đình nhà văn đang bàn bạc để định ngày đưa tang ông.

Lam Thu

 

bui-ngoc-tan (1)

Tôi rất xúc động khi xem bức ảnh này. Bức chân dung diễn đạt hết sức chân thực sự thắng lợi của tôi trong cuộc chiến đấu dai dẳng gần hết đời người để không bị biến đổi gien. Nhưng những dấu vết của cuộc chiến đấu vẫn in rõ trên nét mặt và cả trong tâm hồn mới ghê gớm và khốc liệt làm sao. Tôi ao ước được biết tác giả của tấm ảnh, để tỏ lời cảm ơn cũng như biết nó được chụp khi nào, ở đâu…

BNT nam1956BNT1955 Bao TienPhong

2anhem

Năm mươi năm trước, khi tiếp quản Thủ Đô rồi làm phóng viên báo Tiền Phong, chàng trai Bùi Ngọc Tấn không bao giờ nghĩ rằng rồi đây mình sẽ có bộ mặt như trên.

nguồn: buingoctan.wordpress.com

———-

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời ở Hải Phòng

RFA 18-12-2014

Vợ ông là bà Nguyễn Thị Ngọc Bích, cho Đài Á Châu Tự Do biết:

“Nhà tôi bị bệnh khối u ở phổi bây giờ nó di căn sang xương, nó đau xương lắm. Nhà tôi mất vào lúc 6 giờ 15 sáng ngày hôm nay 18 tháng 12. Ông ấy đau đớn làm ạ, nằm không yên không ngồi được. 10 giờ sáng mai thì liệm rồi 10 giờ sáng ngày kia sẽ đưa chôn, không hỏa táng”.

Nạn nhân “Xét Lại Chống Đảng”

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn là một trong những nạn nhân của vụ án “Xét Lại Chống Đảng” và phải ngồi tù 5 năm trời.

Sau khi ra tù ông đã được “tẩy oan” và sau đó xuất bản tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000.

Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934. Quê ông ở làng Câu Tử Ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Ông bắt đầu viết văn, viết báo từ 1954. Trước khi viết văn, ông là phóng viên báo Tiền Phong ở Hà Nội, viết với bút danh Tân Sắc.

Chuyện Kể Năm 2000

“Chuyện Kể Năm 2000” là một quyển sách nổi tiếng của Bùi Ngọc Tấn đã được dịch ra các ngôn ngữ Anh, Đức và Pháp.

Trong 600 trang sách của tác phẩm này Bùi Ngọc Tấn đã mô tả một trí thức bị chính quyền trấn áp và bắt giam cho thấy bộ mặt thật của guồng máy cai trị.

Chính vì vậy Hà Nội đã lập tức ngăn chặn, tịch thu toàn bộ cuốn sách ngay sau khi nó ra mắt vài ngày tại Việt Nam.

Bùi Ngọc Tấn đã nhận được nhiều giải thưởng của các tờ báo trong nước. Bên cạnh sự nổi tiếng của “Chuyện Kể Năm 2000”, ông cũng nhận được Giải Henri Queffenlec của Pháp vào năm 2012 cho tác phẩm “Biển Và Chim Bói Cá”.

 

Posted in Nhan Vat, Van Hoc | Leave a Comment »

► Tiếp tục suy nghĩ về những vụ bắt bớ gần đây (Nguyễn Thị Từ Huy)

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2014

Những gì diễn ra trong những năm gần đây và nhất là trong những ngày gần đây khiến tôi tự đặt cho mình câu hỏi này : phải chăng đang diễn ra một quá trình tái toàn trị hóa tại Việt Nam?

Những nghiên cứu của Hannah Arendt cho phép bà xác định rằng khái niệm chủ nghĩa toàn trị (totalitarisme) được áp dụng cho hai hệ thống duy nhất : hệ thống cộng sản Liên Xô dưới thời Staline và hệ thống quốc xã Đức thời Hitler. Sau cái chết của hai lãnh tụ toàn trị này, hệ thống toàn trị sụp đổ, cái còn tiếp tục tồn tại được gọi là hệ thống độc tài cộng sản.

Václav Havel không đồng ý với cách nhìn này. Trong những năm 70 của thế kỷ trước, ông dùng chữ chủ nghĩa hậu toàn trị (post-totalitarisme) để chỉ mô hình chính trị của các nước cộng sản Đông Âu. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là đến cuối những năm 80, ông sử dụng lại khái niệm « chủ nghĩa toàn trị » của Arendt một cách hệ thống để chỉ hình thái cộng sản Đông Âu, trong một bài viết có tựa đề là « Histoire et totalitarisme ». Có lẽ đối với Havel, những yếu tố toàn trị luôn là một đặc điểm cố hữu của chủ nghĩa cộng sản.

Nếu ta đồng ý với Arendt rằng chữ « chủ nghĩa toàn trị » chỉ phù hợp với một chế độ trong đó diễn ra việc thanh trừng hàng loạt, giết người với số lượng lớn, và giết những người vô tội, thì quả thật điều đó chỉ phù hợp với Liên Xô của Staline, và nước Đức của Hitler.

Ở các nước cộng sản khác, dù số lượng người bị giết không nhiều như ở hai quốc gia nêu trên, nhưng vẫn diễn ra những vụ giết người hàng loạt. Ở Việt Nam, điều đó đã xảy ra trong cải cách ruộng đất. Bao nhiêu người vô tội đã bị giết chỉ vì thuộc thành phần địa chủ, và kể cả khi họ không phải là địa chủ, kể cả khi họ là ân nhân của những lãnh tụ cộng sản, họ bị giết chỉ vì cần phải có một số lượng người bị giết cho đủ chỉ tiêu. Nếu đặt trong guồng máy và logic của chủ nghĩa toàn trị và chủ nghĩa cộng sản để xem xét vụ cải cách ruộng đất, ta sẽ hiểu vì sao một việc như thế có thể xảy ra, và đã xảy ra.

Có lẽ hiện đang có một quá trình tái toàn trị hóa tiệm tiến tại Việt Nam. Để xác định được nó bắt đầu từ lúc nào, cần phải có nghiên cứu, nhưng rất có thể (đây chỉ là một phỏng đoán chưa kiểm chứng) nó có nguồn gốc từ hội nghị Thành Đô, bởi trước đó Việt Nam đã biết đến một thời kỳ mở cửa với thành tựu trên nhiều mặt.

Tôi dẫn ra đây những sự kiện mà tôi dựa vào đó để suy luận về một quá trình tái toàn trị hóa có thể đang diễn ra trên lãnh thổ chúng ta.

Vụ Nhã Thuyên cho thấy sự trở về với những cuộc thanh trừng thời kỳ Nhân văn Giai phẩm. Dù rằng, về quy mô và tính chất không có sự tương đương, nhưng có một ý chí quyết tâm đưa sinh hoạt văn học nghệ thuật và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn trở lại thời kỳ Nhân văn Giai phẩm, và được thực hiện tinh vi hơn, kín đáo hơn. Thậm chí ý chí này được luật hóa bằng luật giáo dục.

Việc xuất hiện « sự tố giác của quần chúng » chính là ngôn ngữ của thời cải cách ruộng đất. Và những người bị bắt mới đây, Hồng Lê Thọ và Nguyễn Quang Lập, là những người bình thường như bao nhiêu người khác. Việc bắt bớ họ gây ngạc nhiên, gây sửng sốt bởi họ không giống Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, không giống Trương Duy Nhất và Phạm Viết Đào ở những điểm : họ không có một tuyên ngôn rõ ràng về quan điểm chính trị, không có quan điểm chống đối, không trực tiếp viết bài. Blog của họ chỉ làm nhiệm vụ đưa tin, như bao nhiêu blog khác. Thậm chí, dưới mỗi bài đăng lại trên Quê Choa đều có ghi : « Nội dung bài viết không phản ánh quan điểm của Quê Choa ». Tôi ghi theo trí nhớ, vì khi vào tìm lại blog Quê Choa để kiểm tra thì không còn tìm thấy địa chỉ của Quê Choa trên google nữa. Ngoài số lượng người truy cập và số lượng bài giới thiệu, thì Quê Choa và Người Lót Gạch cũng giống như rất nhiều những blog khác. Và mọi người ngơ ngác, không hiểu tại sao hai người này bị bắt, và do đó đã có nhiều suy luận khác nhau về nguyên nhân, một điều bình thường trong bối cảnh chẳng có nguyên nhân nào được đưa ra một cách chính thức.

Trước đây chính quyền chỉ bắt một người, bây giờ đã có dấu hiệu bắt hàng loạt, và bắt những người bình thường, theo « tố giác của quần chúng ». Đó là một dấu hiệu rõ rệt của sự quay trở lại với thời cải cách ruộng đất. Hẳn chúng ta chưa quên rằng cách đây ít lâu, có một triển lãm chính thức về cải cách ruộng đất tại thủ đô, và điều này cũng đã gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người. Khó có thể tìm thấy một lý do thích hợp cho việc tổ chức một triển lãm như vậy. Nhưng chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi nhìn nó như dấu hiệu của một quyết tâm quay trở lại với thời kỳ dã man nhất của chủ nghĩa toàn trị cộng sản. Thực ra chính quyền cũng không dấu sự dã man của mình khi chọn bắt giam hai người có tuổi và đều đang bị bệnh nặng. Thông điệp của chính quyền là : dân chúng cần biết rằng họ đang được lãnh đạo bởi một chính quyền đủ khả năng đi tới tận ranh giới cuối cùng của sự vô nhân đạo.

Khi đã đi tới chỗ bắt quả tang một nhà văn đang viết văn, có nghĩa là đi tới chỗ bắt một người bình thường đang làm công việc bình thường, thì có nghĩa mọi việc chẳng còn nằm trong bất kỳ một logic nào nữa. Ai cũng có thể bị bắt quả tang khi đang làm công việc thường nhật của mình : một nhà giáo sẽ bị bắt quả tang khi đang đứng trên bục giảng, một bác sĩ sẽ bị bắt quả tang khi đang khám cho bệnh nhân, một bà nội trợ sẽ bị bắt khi đang làm bếp, và có thể tới chỗ một ông chồng sẽ bị bắt quả tang khi đang ngủ với vợ mình… Thật ra chẳng còn gì đáng ngạc nhiên nữa kể từ khi hai cái bao cao su đã qua sử dụng bị bắt quả tang đang ở trong sọt rác của khách sạn, rồi hai xe máy bị bắt quả tang đi hàng ba… Một nhà văn bị bắt quả tang khi đang viết văn, có lẽ sự phi lý này có nhiều thi tính nhất trong số các sự vụ phi lý đã diễn ra!!!

Chúng ta thực sự không biết được chính quyền này có quyết định quay trở về tới tận cái khởi điểm chết chóc của chủ nghĩa toàn trị, lúc mà hàng loạt người vô tội bị giết không cần lý do, không cần nguyên nhân, bị giết bởi chính sự vô tội của họ. Chúng ta không biết được, không ai suy đoán được.

Chúng ta đã có bằng chứng trong lịch sử để thấy sự tàn bạo, bạo lực, bản năng giết người nằm sẵn trong con người như thế nào, và trong những điều kiện nào đó thì sự tàn bạo dâng lên và lây lan trên diện rộng. Bao nhiêu triệu người Do Thái đã bị giết chỉ vì họ là người Do Thái. Đã có bao nhiêu nghiên cứu về bạo lực, nhưng dĩ nhiên chưa ai có câu trả lời cuối cùng.

Trên cái đà gia tăng bạo lực trong xã hội hiện nay, và với sự gia tăng đàn áp, gia tăng bạo lực từ phía chính phủ mà càng ngày dân chúng càng bị buộc phải chứng kiến như trong thời gian những năm gần đây, chúng ta khó mà biết được quá trình tái toàn trị hóa này sẽ dẫn Việt Nam tới đâu.

Chúng ta cần tiếp tục suy nghĩ nếu chúng ta còn có bộ não ở trong đầu. Chúng ta cần cảm thấy đau đớn trước việc những người vô tội càng ngày càng bị bắt nhiều hơn, nếu chúng ta còn có một trái tim trong lồng ngực. Và chúng ta cần hành động nếu cuộc sống của chính chúng ta bị đe dọa. Quyền bảo vệ mạng sống là quyền tự nhiên mà tất cả mọi người sinh ra đều có, đó là quyền mà không ai ban bố được cho ai, cũng không ai tước đoạt được của ai.

Paris, 17/12/2014

Nguyễn Thị Từ Huy

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Căng thẳng quan điểm đối ngoại dẫn đến bắt nhà văn Nguyễn Quang Lập (Người Buôn Gió))

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2014

Tháng 12 năm là đỉnh điểm phát biểu về đối ngoại của những chính khách hàng đầu Việt Nam. Bắt đầu từ khi hạ viện Hoa Kỳ bác bỏ đường lưỡi bò ở biển Đông. Ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng ngay lập tức phát biểu với các cử tri, ông nhấn mạnh việc bảo vệ chủ quyền phải gắn với giữ vững chế độ, đồng thời đưa ra hàm ý cảnh cáo những ai muốn lợi dụng việc mâu thuẫn chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc để kích động việc bài Trung Quốc.

Những lời phát biểu của ông Trọng rõ ràng mang hàm ý không mặn mà gì với nghị quyết của hạ viện Hoa Kỳ, trái lại ông cho đó là mối nguy hiểm đe doạ chế độ mà đảng do ông làm TBT lãnh đạo.

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/210571/-giu-doc-lap-chu-quyen–giu-cho-duoc-che-do-.html

Cử tri đã đặt thẳng vấn đề một cách gay gắt và thẳng thắn với ông Trọng:

Cử tri kiến nghị: TQ sau khi rút giàn khoan đã có nhiều động thái ngày càng khẳng định ý đồ, dã tâm đẩy nhanh tiến độ cướp vĩnh viễn Biển Đông, Hoàng Sa và Trường Sa. Đảng, QH và Chính phủ cần có giải pháp thực sự mang tính chiến lược đối với lãnh thổ, biển đảo, đồng thời kiên quyết xử lý trách nhiệm cá nhân, tổ chức làm sai quy định của Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng an ninh, chủ quyền quốc gia.

Trong phần nêu ra, các cử tri đã gọi thẳng hành vi của TQ là dã tâm, ý đồ đẩy nhanh tiến độ. Không những thế cử tri đã bứ xúc đòi hỏi xử lý những cá nhân, tổ chức làm ảnh hưởng đến chủ quyền lãnh thổ.

Ông Trọng trả lời, đầu tiên ông đặt vấn đề này là do BCT, Trung Ương xử lý. Cách đặt vấn đề đầu tiên này khiến người hỏi bị ngợp vào ma trận của từ BCT, Trung Ương. Đưa BCT và Trung Ương ra làm bình phong vừa mang tính phòng thủ ngăn chặn các câu hỏi. Sau phần phòng thủ bằng tấm bình phong BCT, TW tiếp đến ông chuyển sang phần đe doạ. Giọng ông bắt đầu bộc lộ xếch mé đe nạt cử tri đang bức xúc:

– Hay nói cứng chỉ một vế thôi? Việc lợi dụng kích động biểu tình đập phá, hình ảnh VN còn tốt được không?

Sau khi phòng thủ bằng bình phong BCT, xếch mé đe nạt thị uy thấy tương đối đạt, ông chuyên sang giọng cảnh cáo:

– Lưu ý rằng các đối tượng xấu rất muốn kích động tình hình trong nước ta, đặc biệt là tư tưởng bài nước này, chống nước kia.

Chúng ta thấy câu hỏi cử tri đặt ra là cần làm gì để ngăn TQ, cần xử lý những kẻ đã làm mất chủ quyền? Cử tri nhận được câu trả lời của ông Trọng theo hướng khác, là làm gì, định làm loạn à, những kẻ bị xử lý là xấu kích động đặc biệt tình hình nước này bài nước kia.

Vậy là ông Trọng muốn xử lý những kẻ đặt câu hỏi chứ không phải là những đối tượng trong câu hỏi.

Thông qua câu trả lời cử tri, ông Trọng đưa lời đe doạ đến quần chúng nhân dân.

Ở phía chính phủ, ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rành mạch hơn. Trong tranh chấp chủ quyền (mà ông Trọng gọi giảm đi là mẫu thuẫn hai nước) giữa VN và TQ ông Dũng nói:

– Không thể có bạn kiểu nhà tôi là nhà anh.

Trước đó ông Dũng từng phát biểu:

– Không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông.

Ông Trọng thì nhấn mạnh hoà bình hữu nghị, tình anh em bạn bè hai nước, ông cho rằng giữ chủ quyền thì cũng phải giữ được tình bạn bè, hữu nghị.

Còn ông Dũng thì phát ngôn ngược lại, ông cho rằng bạn bè, hữu nghị mà phải mất chủ quyền thì chỉ là thứ hoà bình, bạn bè viển vông.

Cho dù nói ĐCSVN là một khối thống nhất, thì cũng không thể bác bỏ được đằng sau những phát ngôn của Đảng và Chính Phủ đối nhau chan chát. Ông Nguyễn Phú Trọng là người nắm Đảng và tư tưởng, phát ngôn và hành động của ông về việc quan hệ với Trung Quốc ngang bằng việc giữ chủ quyền là nhất quán từ trước đến nay. Những lời phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng khiến ông Trọng lo ngại sẽ dấy lên một tư tưởng bài Trung Quốc hoặc ít nhất là kích thích các cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân lên án Trung Quốc nhiều hơn. Một lẽ dĩ nhiên là sự phản ứng của người dân, cán bộ Việt Nam với TQ càng cao bao nhiêu thì uy tín của ĐCSVN càng giảm bấy nhiêu vì mối quan hệ gắn bó của ĐCSVN với TQ.

Nếu ở vị thế duy trì quan hệ như hiện tại với TQ bây giờ, gặp phản ứng của cán bộ nhân dân như vậy đã là bất lợi cho ĐCSVN. Huống chi trong những năm tới ông Trọng còn muốn quan hệ sâu nặng thêm nữa với TQ. Một kế hoạch quan hệ như vậy đã được hoạch định và triển khai trong những năm tới đây.

Ngày 17/12/2014 phó ban tuyên giáo TW Bùi Thế Đức (nên nhớ BTG của Đinh Thế Huynh với Nguyễn Phú Trọng là một ê kíp) họp tại thành phố HCM (ngay sau đợt bắt hai bloger có uy tín là Hồng Lê Thọ và Nguyễn Quang Lập, những blog có quan điểm như những cử tri đã đặt câu hỏi với ông Trọng). Tại thành phố vừa xảy ra cuộc bắt bớ này, đại diện của BTG TW Bùi Thế Đức đã hé lộ về kế hoạch tương lai quan hệ VN và TQ sẽ có những bước đổi mới đột phá gắn bó với nhau hơn. Ông Đức nói:

– Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Bùi Thế Đức đã yêu cầu, trong năm 2015 sẽ có nhiều vấn đề mang tính toàn cầu hóa và những quan hệ mở rộng hơn giữa đất nước chúng ta và các nước anh em, cũng như những vấn đề cần mở rộng trong tuyên truyền miệng, kể cả phòng chống những âm mưu trong “tự chuyển hóa” “tự diễn biến” của một số đối tượng trong cán bộ, đảng viên hiện nay… Tạp chí Báo cáo viên cần nâng cao hơn nữa các chủ đề, bài có tính chiến đầu cao, tính định hướng sắc sảo… nhằm không ngừng trở thành cầu nối tốt hơn giữa đội ngũ báo cáo viên cả nước và Đảng, Nhà nước ta….

Tất nhiên những nước anh em với Việt Nam bây giờ chỉ có mỗi TQ là phải cần mở chiến dịch tuyên truyền như vậy, ông Đức không nói ra thì người ta tất phải hiểu nước anh em đó không phải là Cu Ba hay Bắc Hàn. Ý đồ của Bùi Thế Đức phù hợp với ý đồ và lời cảnh cáo của Nguyễn Phú Trọng, nói một cách khác là Bùi Thế Đức cụ thể hoá hơn lời nói của Nguyễn Phú Trọng thành một chiến dich. Chiến dịch đó là thanh trừng những ý kiến phê phán, phản đối việc quan hệ với Trung Quốc càng sâu sắc tới đâu thì chủ quyền biển đảo, lãnh thổ Việt Nam lại càng mất đến đó.

Mâu thuẫn trong quan điểm đối ngoại, lo sợ những bloger uy tín, có lượng đọc lớn, có quan điểm phê phán quan hệ TQ sẽ làm dư luận nghiêng thêm về phía kia. Đồng thời muốn những năm tới còn gắn chặt sâu hơn nữa với TQ không bị ngăn cản, chỉ trích. Thì việc bắt giữ những bloger như Nguyễn Hữu Vinh, Hồng Lê Thọ, Nguyễn Quang Lập là điều tất nhiên.

Chiến dịch bắt bớ này có bài bản và chọn lựa. Một Nguyễn Hữu Vinh đại diện cho dòng cán bộ, đảng viên, con nhà cách mạng. Một Hồng Lê Thọ, giáo sư, Việt Kiều, từng ủng hộ CSVN trong những năm trước 1975. Một nhà văn già yếu, bệnh tật nhưng uy tín được nhiều người mến mộ. Thông điệp mà Nguyễn Phú Trọng cùng bộ sậu thân Tầu đưa ra với dư luận là bất kể vị trí nào, giai cấp nào nếu chống Tầu, tức có ý “bài nước nọ” hoặc “tự chuyển hoá, tự diễn biến” của một số đối tượng đảng viên… đều sẽ bị xử lý nghiêm khắc.

Khái quát lại là Nguyễn Phú Trọng cùng bộ sậu muốn gắn kết với Trung Quốc hơn, để ngăn chặn những ai ý đồ đó. Nguyễn Phú Trọng đã cảnh cáo và chỉ ra những loại người cần xử lý. Những người bị bắt vừa qua là những đối tượng nằm trong những lời kêu gọi xử lý của Nguyễn Phú Trọng và của Bùi Thế Đức.

Việc bắt bớ này sẽ khiến những ai ủng hộ lời phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng, hoặc bị lời ông Nguyễn Tấn Dũng kích thích mà phê phán, chỉ trích TQ sẽ phải đắn đo, dè chừng đến số phận của mình.

Trong ngày hôm qua 16/12/2014 Cục trưởng bảo vệ an ninh chính trị nội bộ của Trung Quốc đã sang thăm và làm việc với ông Tô Lâm, thứ trưởng công an phụ trách an ninh Việt Nam. Hai bên đã trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ đấu tranh, trấn áp. Trước đó vài hôm, người viết bài này đã đặt suy luận rằng cơ quan an ninh bảo vệ chính trị nội bộ của Việt Nam là cơ quan tiến hành bắt giữ những blogger nêu trên dưới sự chỉ đạọ của Nguyễn Phú Trọng và Ban Tuyên Giáo trung ương.

Những phát ngôn, hành động của các cá nhân, tổ chức, cơ quan trên trong vài ngày qua đã dường như cho thấy suy luận đấy không phải là vô căn cứ.

Giá như là vô căn cứ thì lại là một chút an ủi. Vì như thế việc, những người bị bắt không phải là làm sạch những lực cản để năm tới đây Việt Nam gắn sâu con đường làm nô lệ hoàn toàn cho Trung Quốc.

* * *Kết thúc thì vẫn như thường lệ, đây là những lời tào lao của một kẻ thiếu tư cách, các bạn đọc giải trí, đừng tin.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Nghĩ gọn về Anh Ba Sàm ( Bs. Phạm Hồng Sơn)

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2014

Nghĩ gọn về Anh Ba Sàm

Phạm Hồng Sơn

16- 12- 2014

Theo một nguồn khả tín, Tướng Tô Lâm, một ngôi sao đang lên nhanh của Bộ Công an, đồng môn thuở C500 của Anh Ba Sàm, từng gặp trực tiếp Anh Ba Sàm để khuyên nhủ. Nhưng, Anh Ba Sàm, cho đến khi bị bắt, hẳn chưa một ngày rời Ba Sàm. Có lẽ chỉ có những người đã ấp ủ, trăn trở và rất tha thiết với Tự do hơn tất cả mọi thứ mới có ứng xử như Anh Ba Sàm đã thể hiện: tiếp tục tình bạn nhưng “anh đường anh tôi đường tôi” dù “anh” đã dốc bầu tâm giao và dù “anh” là một chỉ huy quyền uy của lực lượng chuyên chính hiện hành. Chắc chắn tâm giao đó, khuyên nhủ đó phải được hiểu theo hai mặt, là những cam kết, hứa hẹn, tưởng thưởng, viễn cảnh không nhỏ về vật chất và ở mặt kia là một đe dọa của thì tương lai gần cùng những tương lai xa hơn đầy tai ương, uy hiếp.

Chắc chắn nhiều người đã từng hoài nghi, nghi ngờ Anh Ba Sàm. Việc bắt Anh Ba Sàm đã làm chỉ số tín nhiệm và tin tưởng nơi anh tăng vọt, nhưng, tôi tin, sự thận trọng, nghi ngờ chưa hẳn đã hết. Song, tôi cũng tin những người khó tính nhất, thận trọng nhất phải thừa nhận bản kết toán về truyền thông do Anh Ba Sàm tạo ra có số dư dương rất lớn thuộc về khai trí giúp nhận chân lịch sử, xóa đi những ảo tưởng về lãnh tụ, xua đi những huyễn hoặc về chính trị nhằm “phá vòng nô lệ” cả Tàu và ta. Càng thấy giá trị và ấn tượng ghê gớm nếu ta lại đặt số dư đó ở giữa hai vật, một bên là tấm thẻ Đảng đỏ thẫm của một cố Ủy viên Trung ương, cựu đại sứ tại Liên Xô (cái nôi của toàn trị cộng sản) còn bên kia là bộ quân phục sĩ quan an ninh màu cỏ tối đã bạc. Nhưng hình ảnh này không còn thuộc riêng cá nhân và gia đình Anh Ba Sàm nữa, nó đã thành một biểu tượng chung cho đặc tính hấp dẫn, khơi gợi thiện tính trong con người của Dân chủ Tự do. Bất kỳ hốc tối, khoảng băng giá nào của xã hội cũng có thể sẽ bén hoặc bắt tia lửa Dân chủ.

Xem thế, những hoài nghi, nghi kị đã và đang tồn tại có điều gì đó thật nhẫn tâm. Nhưng tình trạng lòng người hoang mang, chao đảo như vậy không phải là điều mới hay là trường hợp đầu tiên. Cách đây chừng 15 năm, khi ấy các “nhà hoạt động” còn hiếm hơn “lá mùa Thu”, bản thân tôi, người có ít kinh nghiệm, đã chứng kiến ít nhất một trường hợp tương tự. Tình trạng mù mờ, hoài nghi xót xa và không dễ chia sẻ, không thể lý giải được ngay một cách thấu đáo như thế vừa là hệ quả tất yếu vừa là một bi kịch không chỉ của đương sự, nghề nghiệp cá nhân, lịch sử gia đình mà còn là của lịch sử một dân tộc đã phải chịu nhiều tráo trở, là hệ lụy rất khó rời ngay được của một xã hội đã phải vượt thoát, sống còn bằng luồn lách với gần như mọi thủ đoạn trên nửa thế kỷ. Nhưng đó cũng là thách thức, là thử thách đối với tất cả những người muốn tiến bộ. Mọi sự nghi ngờ theo năm tháng dai dẳng đến đâu cuối cùng chỉ làm tăng thêm giá trị, niềm tin, ngưỡng phục, phẩm hạnh cho cái thật, dĩ nhiên chỉ khi cái thật đó không bải hoải, không bị giết chết bởi nghi ngờ.

Những chi tiết trình bày như thế không thể tránh được hệ quả gợi lên trong tâm trí nhiều người về nỗi cô đơn, lẻ loi của Anh Ba Sàm. Tuy nhiên, dù chúng ta không thích, đó vẫn là một thực tế hiển hiện của thân phận những người tranh đấu cho nhân quyền, tự do, dân chủ tại Việt Nam từ nhiều thập niên qua cho tới tận hôm nay, dù đã có những cải thiện. Đã có nhiều trăm người ký tên thật vào các thỉnh nguyện đòi trả tự do cho Anh Ba Sàm (và nhiều người khác) – một vượt bực so với chỉ 5 năm trước. Nhưng đã có bao nhiêu người có hành động mang tính rời xa thực sự cái Đảng, cái chính thể đang trấn áp Anh Ba Sàm (cùng nhiều người khác), như trả thẻ Đảng, bỏ ngành công an, tuyên bố rời những chức vị chẳng danh giá cho lắm, v.v., vì Anh Ba Sàm? Hiện thực này khiến tôi không thể không liên tưởng tới một hoạt cảnh múa đôi:

Bên này, nhà độc tài ngày càng phát ra những ngôn từ, những động tác, hình thái mới gần hơn với dân chủ nhưng quyết không để cái gì làm tổn hại tới các thiết chế độc tài, bên kia, người bị trị cũng ngày càng xướng ra những phát ngôn ủng hộ dân chủ, biểu tỏ phản đối trấn áp tự do nhưng cũng quyết không làm điều gì tổn hại tới danh vị, đặc quyền bản thân do độc tài ban phát.

Song, nói như thế không có nghĩa cố tình không biết đến những tấm lòng thơm thảo, những con tim đang trăn trở, nhức nhối, những chuyển động âm thầm trong lòng người. Nhưng nếu trung thực và mạnh dạn, chúng ta phải thấy rằng độc tài từ bao năm qua luôn đưa tay ghìm bớt tiếng cười khi liếc mắt nhìn những thỉnh nguyện có những lập luận rằng “người ấy” là “người yêu nước”, “không vi phạm pháp luật”, “không phải bất đồng chính kiến”, “không muốn làm anh hùng”, “đang đầy bệnh tật”, “rất ôn hòa”, “vì sự thật”, “đã có công với Đảng”, “thuộc gia đình cách mạng”, “chỉ vì lợi ích của Đảng” v.v.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nên nhớ cái sự “một mình” (alone), chứ không phải “cô đơn” (lonely), luôn là một thuộc tính bất biến của mọi khai phá, sáng tạo.

Tôi đã từng có lần yếu đuối rất đáng trách thốt ra lời “Thương anh” với người vì tự do mà bị lao tù. Nhưng nghĩ thêm, đối với những người bị lâm nạn vì đã khát khao tự do thực sự, cái “tình thương” đó không phải là điều họ cần nhất.

(Bảy tháng và 11 ngày sau khi Anh Ba Sàm cùng đồng sự bị bắt. Cuối ngày thứ Mười, ngày đã hết lệnh tạm giữ – tối đa 09 ngày – phải chuyển sang lệnh tạm giam,tức có “khởi tố”- thủ tục tố tụng tối thiểu để giam giữ lâu dài và đưa đến các thủ tục khác: truy tố, xử án, kết án – sau khi nhà văn Nguyễn Quang Lập, chủ blog Quê Choa bị bắt.)

© 2014 Phạm Hồng Sơn

nhucaytrevn.blogspot.com

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

►Đèn cù Tập II: Tư duy kinh tế của giới lãnh đạo VN, thái độ đối xử với kiều bào, và bị Tàu coi thường trong mối quan hệ

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2014

 

Đèn cù Tập II: Tư duy, đối xử với kiều bào và quan hệ với Tàu

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

17-12-2014

Đèn Cù Tập II có dành vài chương để viết về sự sụp đổ của các chế độ XHCN bên Đông Âu, và một số suy nghĩ của giới lãnh đạo chóp bu. Qua đó, chúng ta cũng có thể có vài ý niệm về suy nghĩ của các vị đang nắm quyền lèo lái con thuyền đất nước thời đó. Không nói ra thì chắc nhiều người cũng có thể đoán được là tư duy của họ còn rất nhiều hạn chế.

Chuyện tư duy

Chúng ta biết rằng ông Lý Quang Diệu được đánh giá cao ở Việt Nam và trên thế giới. Dù người ta không mặn mà với kỉ luật sắt của Singapore, nhưng ai cũng phải công nhận ông là một người có tài chiến lược. Có người tặng cho ông danh hiệu nhà độc tài tốt bụng (benevolent dictator). Nhưng có thời ở Việt Nam, ông Lý Quang Điệu là một đối tượng bị báo chí Nhà nước chửi như tát nước. Tay sai đế quốc. Chống cộng. Chống nhân dân Việt Nam. Ông Diệu được giới lãnh đạo VN tặng cho rất nhiều cái nón.

Nhưng đùng một cái, VN “mặn nồng” với ông Lý Quang Diệu. Ông Võ Văn Kiệt từng mời ông Diệu làm cố vấn và cộng tác. Nhưng ông Diệu từ chối, và nói rằng nếu không có Mĩ gật đầu thì VN vô phương phát triển. Ông Diệu nói rằng Mĩ là chìa khoá, Mĩ là động cơ để phát triển. Ngay cả Tàu cũng phải ôm lấy Mĩ mà phát triển, thì VN không nên xem thường Mĩ.

Sau 1975, một nhóm chuyên gia kinh tế báo cáo cho ông Lê Duẩn rằng các nước như Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore tiến mạnh là nhờ làm gia công cho các nước giàu có. Nghe xong, Lê Duẩn nạt lại: Lại muốn học chúng làm nô lệ ư? Mà, chẳng phải ông Lê Duẩn mới có tư duy bảo thủ và ngạo mạn đó, ông Tố Hữu cũng thế. Khi một thứ trưởng Bộ Y tế trình rằng các hãng dược phẩm ở miền Nam lúc đó đang thất nghiệp, và ông đề nghị làm thuốc kháng sinh cho khối Comecon. Tố Hữu quát: Trẻ con! Độc lập mà đi gia công?! Anh tưởng Comecon mà không ngoạm nhau à? (Trang 282). Tư duy kinh tế của giới lãnh đạo VN thời mới thắng cuộc là như thế.

Mãi đến 1999, khi VN kí hiệp định thương mại với Mĩ, mà vẫn có vài người có tư duy chống Mĩ! Trong Đèn Cù, tác giả Trần Đĩnh kể rằng sau khi hiệp thương được kí 2 ngày thì Đỗ Mười chỉ thị phải nhớ rằng Mĩ vẫn là kẻ thù của VN và của thế giới. Đỗ Mười còn nói ai thò tay kí vào hiệp thương thì đáng tội “bán nước”. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, người tích cực vận động cho hiệp định, sau đó phải “ra đi”, nói đúng hơn là bị truất phế khỏi chức bộ trưởng.

Đối xử với Việt kiều và người ngoại quốc

Có thể nói rằng “thành tích” đối xử với Việt kiều và người ngoại quốc của VN không có gì đáng khoe. Nói đúng ra là họ có thái độ hai mặt, ngoài mặt thì nói hay, đằng sau lưng thì nói xấu. Có thể xem đó là thái độ xảo trá và tiểu nhân. Trong Đèn Cù tập II, Trần Đĩnh kể nhiều chuyện cho thấy thái độ xảo trá như thế.

Đặng Chấn Liêu là một quan chức của Liên Hiệp Quốc, theo tiếng gọi của cụ Hồ về Việt Nam đóng góp xây dựng XHCN. Ông trở thành chủ nhiệm bộ môn tiếng Anh của Đại học Sư phạm Hà Nội. Tuy nhiên, ông lại là nạn nhân của Hoàng Văn Hoan, người nghi ngờ ông Liêu là tình báo của Anh. Ông Liêu còn dính dáng vào vụ “án xét lại”, nên lao đao ở Hà Nội một thời gian dài. Những người đau khổ thường có khả năng đúc kết triết lí cuộc đời rất hay. Trong một cuộc trò chuyện cùng Trần Đĩnh và Gs Tôn Thất Tùng, ông Đặng Chấn Liêu tổng kết quan sát về qui luật hành xử của chế độ như sau:

“Chúng mình nhìn người bằng con mắt thân thiện vì chúng mình cảnh giác trước tiên với cái xấu ở trong bản thân; còn họ, tự nhận là cách mạng cao quí, họ luôn cảnh giác với người khác để kịp thời giáo dục, uốn nắn. Họ với chúng ta cơ bản ngược giò nhau, họ bắt buộc phải tự khẳng định vai trò lãnh đạo, dạy dỗ chúng ta. Cái mặc cảm ưu việt này dẫn tới đòi dân phải có mặc cảm tự ti với họ. Mặc cảm tự ti này là dấu hiệu dân tin tưởng đảng, yếu tố hàng đầu của thắng lợi, khốn nạn là thế đấy.” (Trang 297).

Một Việt kiều khác là Mỹ Điền, từ Anh về miền Bắc Việt Nam, cũng với ý đồ xây dựng XHCN. Ông là con của một địa chủ ở miền Nam. Ông được phân công đi làm cán bộ Cải cách ruộng đất ở Thái Bình. Người trong đoàn nói với ông rằng từ nay trở đi, ông phải gọi mẹ là “Con địa chủ”. Là người miền Nam rất thẳng thắn, ông dứt khoát phản đối và không chấp nhận cách gọi mất dạy đó. Ngày hôm sau, ông được cho về Hà Nội. Về Hà Nội, ông trở thành một giáo viên dạy tiếng Anh, và một trong những học trò của ông là Nguyễn Dy Niên, người sau này trở thành Bộ trưởng Bộ ngoại giao. Mỹ Điền nói với tác giả Trần Đĩnh rằng “Tôi đã ở trong quân đội Bình Xuyên sau Cách mạng tháng 8. Tôi cũng đã ở nội phủ cộng sản. Tôi thấy sao? Nội phủ phần lớn là hoạn quan. Bình Xuyên phần lớn là dân anh chị. Phải công bằng mà nói là dân anh chị lại quân tử, nói là giữ lời. Hoạn quan thì không à nha.” (Trang 304).

Một trí thức miền Nam khác là Phạm Trung Tương cũng bị đối xử không tốt. Ông Tương từng làm cò cảnh sát, nhưng lại là người có cảm tình với Việt Minh. Ông giúp Việt Minh trong cuộc tổng khởi nghĩa và được ghi nhận công trạng. Sau đó, ông được tập kết ra Bắc, rồi thất nghiệp do lí lịch đen. Mỹ Điền thấy thương nên “tâu” với Ung Văn Khiêm về tình trạng của Phạm Trung Tương, ông Khiêm giới thiệu cho ông Tương về làm ở nhà xuất bản Ngoại văn, chuyên dịch sách báo.

Sau 1975, ông Tương quay về quê Trà Vinh. Tỉnh uỷ Trà Vinh “đì” ông rất tận tình. Nhà ông bị cắt điện, sống tối om. Bệnh viện từ chối không điều trị cho ông. Một hôm, Lê Duẩn xuống Trà Vinh nói chuyện cùng giới trí thức. Duẩn đứng trên bục nhìn xuống thấy một người quen quen, ông bèn đi xuống gặp ông Tương, rồi nói trước hội trường: Người con ưu tú của miền Nam đây! Tối hôm đó, nhà ông Tương lập tức có điện, và bệnh viện đến nói với ông rằng từ nay luôn có một phòng cho ông đến điều trị bất cứ lúc nào.

Frida Cook là đảng viên Đảng cộng sản Anh, bà tình nguyện sang Bắc VN làm giáo viên dạy tiếng Anh. Sau 1975, bà lại sang VN, và nhờ Mỹ Điền dẫn đi thăm các trại cải tạo, đó là thứ hiếm mà bà nói thế giới không có được. Đến cổng trại, bà gặp một ông cụ, và hỏi sao ông vào đây. Ông cụ trả lời rằng ông là viên chức chế độ VNCH. Bà Cook kêu lên: “Ôi, tôi nghe giới thiệu thì toàn là những ác ôn!”

Khi VN sang chiếm Campuchea, bà Cook gửi trả VN những huy chương, bằng khen mà VN đã từng trao cho bà trong thời chiến. Bà nói “tôi từ lâu đã ngửi thấy ở họ một cái gì …”. Nhưng bà Cook không biết rằng cả chục năm trước, an ninh Việt Nam đã cho rằng bà ấy là một gián điệp Anh được gửi sang VN để phá hoại. Nhà nước VN gắn huy chương cho mụ ấy cốt để che mắt và mò phá tuyến của mụ ấy (trang 303).

Đèn Cù còn đề cập đến Gs Trịnh Xuân Thuận, một nhà vật lí thiên văn có tiếng qua những tác phẩm khoa học phổ thông. Thân phụ ông Thuận là Trịnh Xuân Ngạn, từng làm việc trong toà án dưới thời VNCH. Sau 1975, ông Ngạn bị chính quyền mới bắt đi tù cải tạo. Ông Thuận nhờ chính phủ Pháp can thiệp để cứu ông bố ra tù (Tran 315). Năm 2005, VN vinh danh ông Thuận cùng 14 nhà khoa học Việt kiều khác ở nước ngoài. Nhưng những người trong giới cầm quyền có lẽ chưa đọc cuốn “Hỗn độn và hài hoà” mà trong đó ông Thuận viết rằng “Tôi thông báo cái chết của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.

Quan hệ với Tàu

Tháng 2/1999, ông Lê Khả Phiêu (lúc đó là tổng bí thư) đi thăm Tàu. Người ta ngạc nhiên vì sự chậm trễ này. Thường thì sau khi ai đó nhậm chức tổng bí thư, Tàu mời sang thăm ngay, còn đằng này, ông Phiêu nhậm chức từ năm 1997, mà mãi đến 1999 mới được mời sang thăm Tàu.

Buổi tiếp đón không có diễn văn, chỉ có hội đàm, rồi chiêu đãi, và hạ màn. Trong buổi chiêu đãi, Giang Trạch Dân ca bài “Bông hồng nhỏ của tôi”, còn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thì hát bài “Cây trúc xinh”, có lẽ ý nói trúc mọc một mình, không cần đến “bạn”.

Tiền Kỳ Tham, từng là phó thủ tướng Tàu có viết hồi kí, và ông dành 2 chương để viết về VN. Trong đó có nói về chuyến thăm của Lê Khả Phiêu. Theo hồi kí này, đoàn của ông Phiêu chờ mãi chẳng thấy phía chủ nhà Tàu nói gì cả. Xem lịch thì thấy 2 giờ chiều Giang Trạch Dân có lịch đón đoàn VN, ông Phiêu bèn dẫn đoàn đến nơi, nhưng thật ra giờ đó thì Giang tiếp thống đốc Hồng Kong, nên Tiền Kỳ Tham nói đoàn ông Phiêu phải chờ đến 5 giờ chiều! Ông Phiêu đưa cho họ Tiền một tờ giấy gồm một số chữ, và đề nghị Tiền đưa cho Giang. Giang Trạch Dân mở ra đọc, đọc xong, lẳng lặng vo lại và ném vào sọt rác. Giang lấy tờ giấy khác và viết theo ý của y (Trang 354). Nghe nói Giang viết 16 chữ: “Sơn thuỷ tương liên, lí tưởng tương thông, văn hoá tương đồng, vận mệnh tương quan.”

Nhận được giấy của Giang viết, ông Phiêu hỏi Tiền Kỳ Tham tại sao không có chữ “bình đẳng” hợp tác như ông Phiêu nêu ra. Tiền Kỳ Tham viết: “Tôi không trả lời Phiêu mà chỉ cười và nghĩ thầm rằng, người lãnh đạo cao nhất như Phiêu mà không hiểu nổi rằng: xưa nay có bao giờ Việt Nam được bình đẳng với Trung Quốc!

Nhưng khi về đến VN, đoàn ông Phiêu mở cuộc họp báo và tuyên bố chuyến đi thăm Tàu là “thành công tốt đẹp“!

Hồi kí của Tiền Kỳ Tham còn quan tâm đến văn học VN. Trong hồi kí, họ Tiền nhắc đến các tác phẩm văn học VN bị cấm lưu hành, trong đó có tập thơ của Nguyễn Duy. Họ Tiền dẫn câu thơ của Nguyễn Duy:

Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng;
Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn.

Nói chung đọc qua những trang trong Đèn Cù Tập II, chúng ta dễ nhận ra rằng giới cầm quyền VN chẳng tin tưởng vào ai, kể cả chính người của họ, còn kiều bào và người nước ngoài thì chỉ là “hoa lá cành” cho họ mà thôi. Một điều cũng thể hiện khá rõ nét là những gì mà giới lãnh đạo Tàu và Mĩ hay nói về giới cầm quyền VN: đó là không đáng tin cậy, vì nói một đằng làm một nẻo.

——-

Tóm tắt:

1. Sau 1975, một nhóm chuyên gia kinh tế báo cáo cho ông Lê Duẩn rằng các nước như Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore tiến mạnh là nhờ làm gia công cho các nước giàu có. Nghe xong, Lê Duẩn nạt lại: Lại muốn học chúng làm nô lệ ư?  1999, sau khi VN kí hiệp định thương mại với Mĩ, mà vẫn có vài người có tư duy chống Mĩ! Đỗ Mười chỉ thị phải nhớ rằng Mĩ vẫn là kẻ thù của VN và của thế giới. Đỗ Mười còn nói ai thò tay kí vào hiệp thương thì đáng tội “bán nước”. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, người tích cực vận động cho hiệp định, sau đó phải “ra đi”, nói đúng hơn là bị truất phế khỏi chức bộ trưởng.

2. “thành tích” đối xử với Việt kiều và người ngoại quốc của VN không có gì đáng khoe. Nói đúng ra là họ có thái độ hai mặt, ngoài mặt thì nói hay, đằng sau lưng thì nói xấu. Có thể xem đó là thái độ xảo trá và tiểu nhân.

3. người lãnh đạo cao nhất như Phiêu mà không hiểu nổi rằng: xưa nay có bao giờ Việt Nam được bình đẳng với Trung Quốc!

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »