Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một 12th, 2014

►Bắc Kinh tấn công mạnh trước kỳ Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Á (APEC 2014)

Posted by hoangtran204 trên 12/11/2014

Bắc Kinh tấn công mạnh trước kỳ Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Á

11-11-2014

Tác giả:

danchimviet.info

Putin tặng smartphone cho Tập Cận Bình tại Hội nghị Cấp cao Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

Ông Obama đặt nền móng cho chính sách chuyển trục (theo đó, Mỹ sẽ dồn 60% lực lượng hải quân về phía Châu Á trước 2020) nhưng không hiểu như thế nào mà số ông vô cùng lận đận mỗi lần chuẩn bị công du sang châu Á.

Tháng 11 năm nay ông đến khu vực  Á Châu tham dự Hội nghị APEC lúc vừa thua trận thảm bại trong kỳ bầu cử  giữa mùa năm 2014 khi đối thủ đảng Cộng Hoà thắng lớn tại cả Thượng lẫn Hạ Viện, khiến thế giới và dân Mỹ thắc mắc liệu ông có trở thành Tổng Thống “vịt què” (lame duck) khập khễnh đi lòng vòng kêu qoạc qoạc mà chắng ai thèm quan tâm!

Năm 2013 Obama đã phải hủy bỏ chuyến công du tháng 10 do việc thương lượng ngân sách giữa Hành Pháp và Lập Pháp bị bế tắc.

Tháng 9-2011 chuyến công du Á Châu bị lu mờ vì chiến tranh Do Thái và Palestine trong cùng thời gian.

Tháng 3 và tháng 6-2010 ông hoãn viếng thăm Indonesia liên tiếp hai lần để lo vận động cho chương trình bảo hiểm sức khỏe Obamacare, rồi đến vụ nổ nhà máy dầu vùng biển Louisiana. (BP)

Trong khi đó thì Trung Quốc tấn công ráo riết về ngoại giao và kinh tế trước mỗi lần họp Thượng Đỉnh nên có thể sẽ thắng lợi năm nay. Vào tháng 10-2014 Bắc Kinh đã vận động 21 quốc gia (trong số đó có Việt Nam) ký kết thành hình Ngân Hàng Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Châu Á (Asian Infrastructure Development Bank) với số vốn ban đầu từ 50-100 tỷ USD khi ra mắt vào năm 2015.

Hoa Kỳ chống đối và can ngăn Úc, Nam Hàn và Indonesia không tham dự vì dự án này sẽ trở thành đối thủ của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) do Tây Phương hình thành từ sau Thế Chiến Thứ 2. Nhưng Á Châu hiện đang có nhu cầu 8000 tỷ USD để phát triển hạ tầng, nếu Bắc Kinh mở rộng hầu bao thì không thiếu lý do thu hút chú ý cho dù biết rằng sẽ đi kèm với những điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc cũng tương tự như Hoa Kỳ với World Bank và IMF.

Bên cạnh đó Bắc Kinh vận động thành hình Khu Vực Tự Do Mậu Dịch Châu Á Thái Bình Dương (FTAAP) gây khó khăn cho Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Hoa Kỳ. Tiến trình thảo luận TPP vốn bị trì trệ nhiều lần vì các đối tác Mỹ, Nhật, Việt Nam, v.v… đều có những thị trường cần được bảo vệ, nay đảng Cộng Hòa nắm đa số trong cả Thượng lẫn Hạ Viện thì các nước lại càng thêm dè dặt e rằng thương thảo xong với Hành Pháp Obama thì lại bị Quốc Hội Cộng Hòa chống đối bác bỏ! Hơn thế Trung Quốc dù phát triển chậm đi nhưng nếu không suy sụp vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất trong khu vực qua mặt Hoa Kỳ với tương lai không xa.

Về ngoại giao Bắc Kinh đạt được thắng lợi quan trọng khi Nhật có vẻ đã nhượng bộ công nhận giữa hai nước có tranh chấp về chủ quyền của quần đảo Senkaku / Điếu Ngư để có được cuộc gặp bên lề Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC giữa Chủ Tịch Tập Cận Bình và Thủ Tướng Abe. Dù ngôn ngữ ngoại giao rất tế nhị chỉ ghi nhận “bất đồng” nhưng thực chất như thế này cho dễ hiểu: từ trước đến giờ đất trong vườn sau nhà là của tôi nên chẳng cần tranh cãi với ai gì cả, vì rành rành cái đó là của tôi; nay phải nhìn nhận rằng anh láng giềng cũng đang dòm ngó muốn lấn đất, tức là thế thương thuyết bị lấn cấn yếu đi rất nhiều. Nguyên nhân nhượng bộ có lẽ một phần vì kinh tế Nhật đang kiệt quệ – hai tuần trước đây Ngân Hàng Trung Ương lại phải tung ra một gói kích cầu khổng lồ – nên lúc này Nhật đang cần đến thị trường Trung Quốc hơn bao giờ hết.

Thực tế là các nước châu Á đều đi nước đôi tức vừa muốn buôn bán với Trung Quốc nhưng đồng thời cần Hoa Kỳ che chở về an ninh để không bị bắt nạt quá đáng. Nhưng kế hoạch chuyển trục của Mỹ bị chê là quá chậm trong khi Hoa Kỳ đang phải lung túng đối phó trên ba mặt trận Ukraine – Afghanistan – ISIS. Đảng Cộng Hòa nay thắng cử nên dự trù Thượng Nghị Sĩ John McCaine sẽ nắm chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng, trong khi có tin đồn Bộ Trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel sắp bị mất chức đành phải hủy bỏ chuyến công du sang Việt Nam. Ông McCaine đã từng vận động thành công để bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, nhưng ông đồng thời lại đòi Mỹ phải viện trợ quân sự cho Ukraine, dội bom Syria, đem quân đánh ISIS v.v… nghĩa là cứ đánh nhau từ Đông sang Tây đến khi hết tiền thì vay nợ của Tàu để đánh tiếp mà không rõ ông có đặt trọng tâm nơi khu vực nào hay không.

Nhật, Nam Hàn, Đài Loan phần nào an tâm về sự bảo đảm của Hoa Kỳ vì chính họ là những nước giàu mạnh nên Mỹ không thể bỏ rơi. Phi Luật Tân yếu nhưng nằm xa ngoài biển nên Mỹ muốn bảo vệ cũng không khó. Indonesia và Mã Lai đông dân Hồi Giáo lại ở xa không dễ bắt nạt. Chỉ có Việt Nam vừa nằm sát Trung Quốc, trơ trọi lại què quặt nên bắt buộc phải tìm chỗ dựa nơi Mỹ cho dù biết rằng Hoa Kỳ không đứng thế mạnh nên khó lòng cạnh tranh với Hoa Lục trên địa bàn Đông Dương, giữa hai nước lại không thể nào trở thành đồng minh và Hà Nội cũng không thể biết sẽ được Hoa Kỳ hậu thuẩn đến mức nào. Lý do chính vì Việt Nam trễ nải 25 năm mê ngủ trước tham vọng của Trung Quốc, lại trì trệ không phát triển nên nay dù vội vã tìm cái phao cứu vớt nhưng vẫn là miếng mồi ngon của Bắc Kinh.

© Đàn Chim Việt

————–

Trần Hoàng: Theo Tạp Chí The Economist ngày 25-10-2014, thì nền kinh tế TQ đang đi xuống. Phát triển kinh tế của TQ ở mức 7,3% trong Quý 3 năm 2014, đây là mức thấp nhất kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu đầu năm 2009. Trước đó, từ 1980 đến 2010, mức phát triển kinh tế của TQ gần 10% trong suốt 30 năm. 

Nền kinh tế của TQ bị suy giảm vì nợ của TQ ngày càng gia tăng, các món hàng sản suất ra quá nhiều nhưng không có ai mua, doanh nghiệp không làm ăn và phát triển được vì không có khách hàng, thị trường bất động sản chết đứng, nhà bán nhưng không có ai mua. 

Tổ chức Tiền Tệ Quốc Tế IMF tiên đoán nền kinh tế của TQ sẽ vào khoảng 7,4% vào năm nay, và sau đó sẽ tụt xuống 6,3% cho đến cuối năm 2020. Theo các nhà kinh tế L. Pritchett và  Larry Summers: tỷ lệ gia tăng  trong các quốc gia có mức phát triển nhanh trong một khoảng thời gian, và sau đó sẽ sụt giảm hướng tới mức trung bình về phát triển kinh tế của toàn cầu (hiện nay đang ở mức  2% mỗi năm tính theo GDP thật sự của mỗi đầu người).  Theo các qui luật của lịch sử hàm ý nói rằng nền kinh tế của TQ  20 năm nữa ( đến năm 2033) chắc chắn vẫn còn nhỏ bé hơn của Mỹ.  “Even Dragons Tire”  The Economist, 25-10-2014

 

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

►Những động thái mới của Trung Quốc về vấn đề biển nam Trung Hoa (2007)

Posted by hoangtran204 trên 12/11/2014

 

Những động thái mới của Trung Quốc về vấn đề biển nam Trung Hoa

南シナ海問題における中国の新動向

Lời giới thiệu

Dưới đây là bài viết của chuyên gia quốc phòng NB vào tháng 9/2007. Từ đó đến nay động thái về quân sự trên biển Đông đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là việc phô trương sức mạnh của Hải quân TQ và các lực lượng tuần tra của cảnh sát biển , tuần ngư, đã mở ra các chiến dịch bắt giữ ngư dân VN đánh cá một cách thô bạo xảy ra liên tục để chứng minh chủ quyền của mình trên biển Đông trong giữa năm 2008 đến nay cho thây tác giả đã quá chủ quan và lạc quan trong nhận định về những ý đồ của TQ trong vấn đề biển “Nam Trung Hoa”. Tuy nhiên bài viết cho thấy mối tương quan giữa ASEAN-TQ và các nước lớn chung quanh như Mỹ và Nhật Bản, trong đó hé lộ những ý tưởng gắn bó chiến lược giữa  NB và các nước ASEAN để đối phó với âm mưu bành trướng của TQ trên vùng biển nầy. Đó là phát hiện lý thú mà nhóm Chuyển ngữ Bauvinal muốn giới thiệu với bạn đọc gần xa.

Lê Hoàng

飯田 将史

IIda Masafumi

Lê Hoàng chuyển ngữ

Kỷ Yếu Nghiên Cứu Quốc Phòng, số 1 tập 10 (tháng 9/2007)

Tóm tắt

Cho đến giữa thập kỷ 1990, TQ mang ý đồ mở rộng sự thống trị bằng sức mạnh trên vùng biển Nam Trung Hoa, gây ra một mối đe dọa mới của TQ đối với Đông Nam Á. Nhưng kể từ sau hậu bán thập kỷ 90, TQ đã có thái độ hợp tác với các nước ASEAN về vấn đề nầy. Thí dụ, đối với VN là nước đối nghịch lớn nhất, TQ đã xúc tiến đường lối đối thoại để phân định đường biên giới của khu vực đặc quyền kinh tế EEZ lãnh hải trên vịnh Bắc Bộ cũng như trên đất liền. Trong vấn đề biển đông, TQ tỏ tư thế sẵn sàng giải quyết thông qua thương thảo như đã thấy qua việc thực hiện thăm dò tài nguyên tay ba với VN và Philippines. Bối cảnh của sự thay đổi nói trên phát xuất từ yêu cầu bảo đảm sự ổn định của khu vực chung quanh—là nhân tố không thể thiếu—đối với sự phát triển kinh tế của TQ, cần thiết phải ngăn ngừa sự tăng cường quan hệ giữa Đài Loan và các nước ASEAN về vấn đề chủ quyền trên biển đông, và sự can thiệp của các nước lớn nằm ngoài vòng tranh chấp  như Nhật bản hay Mỹ hoặc không để mối liên kết giữa các nước nầy với ASEAN ngày càng gắn bó hơn.

Mở đầu

Vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông mà chủ yếu là quần đảo Trường Sa (Nam Sa quần đảo) vốn là điểm đối đầu nghiêm trọng và ngấm ngầm từ xưa đến nay giữa TQ và các nước ASEAN và cũng là vấn đề bảo đảm an ninh cho eo biển Đài Loan và bán đảo Triều Tiên ở vùng Đông Bắc Á. Năm 1974, TQ đã dùng vũ lực chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa (Paracel) thuộc chủ quyền của Nam Việt Nam, năm 1988 giao chiến với hải quân VN, giết hại 80 binh sĩ để chiếm đóng rặng San hô Johnson thuộc quần đảo Trường Sa. Vào thập kỷ 90, TQ gia tăng việc chiếm giữ các đảo ở quần đảo Trường Sa, năm 1992 lập ra “Luật lãnh hải”, sẵn sàng dùng vũ lực để bảo vệ chủ quyền các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa, năm 1995 tiến chiếm rặng đá ngầm Mischief(Mỹ tế) thuộc chủ quyền của Philippines.

Tuy nhiên kể từ hậu bán thập kỷ 90, thái độ đối phó của TQ về vấn đề nầy đã  thay đối rõ rệt. Nghĩa là từ thái độ cứng rắn không từ nan việc sử dụng vũ lực chuyển sang tư thế hợp tác đối thoại với các nước liên quan để làm lắng dịu vấn đè tranh chấp. TQ đã đồng ý việc thương thảo đa phương như yêu cầu của các nước ASEAN, và đồng ý ký vào “Tuyên bố về hành động của các nước liên quan về vấn đề biển Nam Trung Hoa” vào năm 2002 (Qui tắc ứng xử trên biển đông—ND chú). Vào năm 2005 đã cùng với VN và Philippines bắt đầu điều tra về tài nguyên dưới đáy biển Đông. Với những hợp tác về vấn đề biển Nam Trung Hoa như trên, mối lo ngại về sự uy hiếp của TQ đối với các nước ASEAN dần được giảm bớt. Đến năm 2003 TQ và ASEAN đã kí kết hiệp ước xây dựng quan hệ đối tác chiến lược.

Sự thay đổi về cách đối phó của TQ đối với vấn đề biển Đông đã ảnh hưởng rất lớn đến chính sách đối với TQ của các nước ASEAN cũng như tình hình trên biển Đông vốn là đường thông thương quan trọng và là nhân tố không thể không xét đến khi nghiên cứu về chính sách an ninh quốc phòng và đối ngoại của Nhật Bản. Bài viết nầy một mặt xác nhận lập trường cơ bản của TQ đối với vấn đề biển Đông, rà soát lại những phương thức đối phó của TQ trong thương thảo đối với VN là nước đối đầu mạnh mẽ nhất trong vấn đề nầy (1). Cuối cùng là phân tích những nhân tố gây nên.

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ (1838) bởi Linh Mục J.L.Taberd

TABULA GEOGRAPHICA EMPERII ANAMITICI (1838)

Trong họa đồ này, ngay điểm của quần đảo Hoàng Sa), linh mục Taberd có ghi chú: Đảo Cát Vàng. Linh mục là người đã viết trong cuốn sách “Univers, Histoire et Description de Tous Les Peuples, de Leurs Religions, Moeurs et Coutumes (1833)” là người Việt Nam gọi đảo Paracel là Cát Vàng (Hoàng Sa).

1. Căn cứ của chủ quyền lãnh hải(*phụ chú)

TQ cho rằng tất cả các quần đảo trên biển Đông như quần đảo Trường Sa (Pratlys—Nam Sa), Hoàng Sa (Paracel—Tây sa), Quần đảo san hô Maccle field(Trung Sa), Platas(Đông Sa) và cả các vùng đặc quyền kinh tế chung quanh đều thuộc lãnh hải của TQ. Về quần đảo TS là nơi xảy ra nhiều tranh chấp về chủ quyền với các nước ASEAN, TQ đã đưa ra 3 căn cứ như dưới đây khi chủ trương nó là của họ (2):

Một là, rằng TQ là nước phát hiện quần đảo Trường Sa sớm nhất. Theo chính phủ TQ, người TQ phát hiện quần đảo TS từ thời Hán, hơn 2000 năm trước. Thời Đông Hán(25-220 năm) Dương Phu đã ghi lại trong “Dị Vật Chí”『異物誌』”biển ở Kỳ Đầu Trương Hải cạn và có nhiều đá ngầm”. “Trương Hải”「張海」là tên gọi biển Nam Trung Hoa của người TQ thời bấy giờ, “Kỳ đầu”「崎頭」là các quần đảo ở biển Đông gồm cả HS và TS,và các rặng đá san hô, bãi cát, đá ngầm…Thời Đường (năm 618-907) hay Đời Tống (960-1279) các thư tịch về địa lí gọi TS và HS là “Cửu Nhủ Lỗ Châu”「九乳螺洲」, Thạch Đường「石塘」, “Trường Sa 「長沙」 、”Thiên lý Thạch Đường” 「千里石塘」 、”Thiên lý Trường Sa”「千里長沙」 、”Vạn lý Thạch Đường 「万里石塘」 、”Vạn Lý Trường sa” 「万里長沙」…

Trong bản đồ trong tập “Bản đồ họa quốc gia-thủ đô các triều đại của “Hỗn Nhất Cương Lịch Đại Quốc Đô Chi Đồ”『混一疆理歴代国都之図』 xuất bản vào thời Minh (1368-1644) có ghi “Thạch Đường”「石塘」 và “Trường Sa” 「長沙」, nhìn vào vị trí của bản đồ nầy thì “Thạch Đường” là đúng ở vị trí của Trường Sa ngày nay. Trong tập “Canh Lộ Mộ”『更路簿』 vào đời nhà Thanh (1636-1911), ngư dân có ghi lại tên gọi và vị trí của các đảo, đá san hô, bãi cát, Than, Châu, trong đó tên gọi số 83 là quần đảo TS(Pratlys).

Hai là, TQ là nước khai thác và kinh doanh đầu tiên quần đảo TS. Lịch sử của những hoạt động của người Hoa ở những quần đảo trên biển Nam Trung Hoa đã có hơn 1000 năm. Trong “Quãng Châu Ký”『広州記』 thời Phổ Đại (năm 265-420) ghi “Huyện San Hô Châu(Đông Viễn) cách 500 lý về phía Nam, người xưa đã bắt cá, san hô”. Trong hiện vật chôn cất tìm thấy ở quần đảo trên biển Đông có cả đồ gốm thời Nam Triều (năm 420-589). Dù muộn đi nữa thì những ngư dân đời nhà Minh đã đến quần đảo TS để đánh bắt hải sản. Trong cuốn “TQ Hải chỉ nam” xuất bản năm 1866 ghi rõ hàng năm vào tháng 12 hoặc tháng giêng, có khoảng 200 tàu đánh cá rời cảng Hải Nam  ra TS để mua hải sản với các ngư dân bản địa và xuôi gió mùa Tây Nam để trở về quê hương.

Ba là, TQ cho rằng họ là người hành xử quyền cai quản sớm nhất đối với quần đảo TS. Theo chủ trương nầy, TQ đã xác định khu hành chính của quần đảo trên biển Nam Trung Hoa từ đời nhà Đường, đặt các quần đảo nầy dưới quyền cai quản dưới chính phủ TQ. Trong “Nguyên Sử” và bản đồ trong “Nguyên Đại Cương Vực Đồ Tự[元代疆域図叙』 thì quần đảo TS thuộc lãnh thổ của nhà Nguyên và có ghi lại việc hải quân của nhà Nguyên đã ra tuần tra quần đảo TS. Trong nhiều bản đồ thời nhà Thanh, vẽ quần đảo TS là một phần nằm trong bản đồ của TQ.

Vào năm 1932 và 1935, Bộ tham mưu, Bộ Ngoại giao, Bộ Hải quân, Bộ Giáo dục và Ủy ban Mông-Tạng của Trung Hoa Dân Quốc xác định 132 tên gọi của các đảo ở biển Nam TH, những đảo nầy được đặt trong quản lý chung của các quần đảo TS, HS, Maccles field bank(Trung Sa), Pratas(Đông Sa) và theo TQ thì quần đảo TS là quần đảo bị NB chiếm đóng đã được trao trả. Trong thế chiến thứ hai, NB đã chiếm đóng quần đảo TS và đã đặt dưới sự cai quản của Đài Loan.  “Tuyên bố Cairo” giữa ba nước Mỹ-Anh-Nga Xô viết  vào năm 1943 qui định “phải trao trả cho TQ (Trung Hoa Dân Quốc) tất cả những khu vực mà NB đã cướp đoạt của nhà Thanh như đảo Bành Hồ, Đài Loan, Mãn Châu” một trong những mục đích chiếm đoạt của cuộc chiến, và“Tuyên bố Postdam” năm 1945 cũng đã xác nhận tương tự. Sau khi NB thua trận, TQ chủ trương rằng Đảo Đài Loan bao gồm cả vùng quản lý trước đây là quần đảo TS đã được trao trả về TQ, vì vậy từ đó chủ quyền của TQ về quần đảo TS nầy đã được khôi phục(3).

2. Mở rộng chiếm đóng bằng vũ lực

Nước CHNDTH cho rằng quyền cai quản quần đảo TS đã được trao trả cho TQ sau khi NB bại trận nhưng trên thực tế quân đội của Trung Hoa Dân Quốc(THDQ) là người đã đứng ra tiếp thu những hòn đảo nầy. Đảo Ba Bình (Itu Aba) là đảo lớn nhất trong quần đảo TS đã được hải quân THDQ tiếp quản từ quân đội NB, và Đài Loan vẫn  cai quản từ đó cho đến ngày nay(4). Sau khi tuyên bố độc lập, TQ không đủ lực lượng hải quân, chẳng có thể tiếp thu các quần đảo trên biển Nam TH. Muốn tiến ra các quần đảo trên biển Nam TH, TQ phải chờ cho đến khi  có một lực lượng hải quân đủ mạnh mới có thể thực hiện được.

TQ bắt đầu tiến quân ra biển Nam TH từ năm 1974 khi tiến hành chiếm đóng quần đảo HS. Sau khi quân Pháp rút lui vào giữa thập kỷ 1950, Nam Việt Nam chủ trương quần đảo HS và TS là của mình và đã chiếm đóng một phần quần đảo TS và một phần phía Tây quần đảo HS, còn TQ chỉ chiếm giữ phía Đông quần đảo HS. Tình huống nầy kéo dài gần 20 năm nhưng đến tháng 1/1974 thì Hải quân TQ đã tấn công vào quân Nam VN và chiếm đóng toàn bộ quần đảo HS (5).

Vào thời kì nầy sự thất trận của Nam Việt Nam đã trở nên rõ ràng, quân Nam VN trên quần đảo HS không đủ sức chống trả lại cuộc tấn công của quân đội TQ, hơn nữa là quân đội Mỹ cũng đã thu hẹp việc chi viện cho quân dội Nam VN vì vậy cho dù TQ có tấn công vào quần đảo HS thì khả năng can thiệp của nước Mỹ hầu như không  thể. Mặt khác TQ đang chi viện cho miền Bắc VN vì vậy miền Bắc cũng không thể phản đối việc quân đội TQ chiếm giữ quần đảo HS. Với bối cảnh quốc tế thuận lợi nói trên , TQ đã ra tay cưỡng đoạt quần đảo HS bẵng quân sự một cách dễ dàng.

Với chiến thắng (cuộc chiến chống Mỹ–ND chú) cuộc nội chiến, chính quyền Hà Nội ra tuyên bố chủ quyền của mình trên hai quần đảo HS-TS, phê phán việc TQ chiếm giữ HS, đặt quần đảo TS của chính quyền Sài gòn cũ dưới quyền kiểm soát của mình. Quan hệ giữa VN-TQ trở nên căng thẳng, chiến tranh Trung-Việt bùng nổ vì vấn đề Cămpuchia. Trong khi quan hệ hai nước dang căng thẳng, vào tháng 3/1988 một lần nữa TQ sử dụng sức mạnh quân sự tiến chiếm một số đảo VN đang trú đóng ở quần đảo TS. Quân VN đã đụng độ với quân TQ ở dãy san hô Johnson thuộc quần đảo TS mà VN đang chiếm giữ, khoảng 80 người bị phía TQ sát hại và bị thương. Với chiến thắng ở dãy san hô Johnson, TQ đã tiến chiếm thêm một số hòn đảo thuộc quần đảo TS. Đây cũng là thời điểm chính quyền Gorbachov ở LX đang xúc tiến chính sách hòa hoãn Đông-Tây theo thuyết ngoại giao mới, tích cực cải thiện quan hệ Xô-Trung. Mặt khác, LX cũng đã giảm bớt sự giúp đỡ cho VN dù vẫn giữ quân hệ đồng minh nhưng không có khả năng tích cực can thiệp vào sự xung đột Trung-Việt chung quanh vấn đề quần đảo TS. Có thể nói rằng TQ đã không có lý do gì để chần chừ trong việc sử dụng sức mạnh quân sự để tái chiếm các đảo nầy.

Bước vào thập ký 1990, TQ đã mở rộng việc lấn chiếm các đảo thuộc quần đảo TS. Ngày 25/2/1992 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc TQ(quốc hội TQ—ND chú) quyết định “Luật lãnh hải và khu vực tiếp giáp”(gọi tắt là Luật lãnh hải), được ban bố rộng rãi theo chỉ thị của Chủ tịch Nước Dương Thượng Côn. Luật  lãnh hải nầy ghi rõ quần đảo TS là thuộc lãnh thổ của TQ, và rằng để ngăn ngừa tàu bè nước ngoài đi lại gây hại cho lãnh hải, “nước CHNDTH có quyền thực thi mọi biện pháp cần thiết”. Ra Qui định việc “truy đuổi khẩn cấp” những tàu bè nước ngoài vi phạm luật pháp của TQ, trong đó ghi rõ là TQ sẽ sẵn sàng sử dụng cả Tàu chiến lẫn máy bay để đối phó.(6)

Những qui định của Luật lãnh hải của TQ đã gây nên một sự lo lắng cho các nước ASEAN gồm các nước có yêu cầu về chủ quyền trên quần đảo TS. Việc tiến chiếm ở quần đảo trên biển Đông không chỉ nhắm vào VN mà còn có khả năng năng đối phó cả với các nước ASEAN.  Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 25 ở Manila vào tháng 7/1992 đã ra tuyên bố ASEAN về vấn đề biển Nam TH ” nhấn mạnh đến việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông theo phương pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, yêu cấu các nước liên quan tự kiềm chế và đề xuất việc cần xây dựng qui ước cho hành động quốc tế trên biển Đông (7).

Tiếp theo những qui định  vế luật lãnh hải của TQ, tháng 5 năm ấy VN đã kí hợp đồng cung cấp quyền thăm dò cho một công ty khai thác dầu mỏ của Mỹ trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình và cam kết sẽ bảo vệ những hoạt động của công ty nầy. Tháng 7 VN đã cho quân đổ bộ lên đảo Gaven(8).

Mối lo ngại của các nước ASEAN về việc TQ mở rộng tiến quân vào biển Đông đã trở thành hiện thực vào năm 1995. TQ đã xây dựng cơ sở kiên cố trên dãy Mischief thuộc chủ quyền của Philippines. Ngày 8/2/1995 Tổng thống Ramos họp báo xác nhận TQ  đã xây dựng nhiều dãy nhà kiên cố trên dãy Mischief và nhiều tàu chiến của TQ trú đóng chung quanh. Chính phủ Philippines đã phản đối thông qua đại sứ quán của TQ nhưng chính phủ cho rằng đó chỉ là những cơ sở tránh bão do ngư dân xây dựng theo chủ trương của chính quyền địa phương, bác bỏ kháng nghị của phía Philippines. Nhằm đối phó với những hành động nêu trên của TQ, hội nghị ngoại trưởng các nước ASEAN đã nhóm họp tại Singapore ra “tuyên bố ngoại trưởng về tình hình gần đây ở biển Nam Trung Hoa”. Trong tuyên bố nầy, các ngoại trưởng ASEAN đã bày tỏ mối “lo ngại sâu sắc” trước một loạt tình huống  gây ảnh hưởng hòa bình và an ninh trên biển Nam TH, yêu cầu nhanh chóng giải quyết vấn đề gần đây ”(9). Nhưng phía TQ không rút quân ra khỏi Mischief, cho quân đội đồn trú thường xuyên và tiếp tục chiếm cứ.

3. Đề xuất “Gác tranh cãi, cùng khai thác chung”

Kể từ thập niên 1970, TQ đã dùng sức mạnh quân sự, sử dụng như một thủ doạn để uy hiếp, để ngày càng mở rộng chi phối trên biển Đông, mặt khác đưa ra phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” như một chính sách chính thức. Theo giải thích của phía TQ chính sách “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” là phương châm để giải quyết vấn đề chủ quyền trên đảo Senkaku với Nhật Bản và đó là đề xuất của Đặng Tiểu Bình (10)

Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình sang thăm Nhật Bản vào tháng 10/1978, trong buổi hội đàm với Thủ tướng Fukuda Takeo, Ông nói rằng không cần phải gấp vội giải quyết vấn đề chủ quyền các đảo Senkaku, giao cho các thế hệ tương lai tìm ra được phương cách giải quyết. Tháng 5 năm sau (1979 Đặng Tiểu Bình lại phát biểu trong lần Nghị sĩ Suzuki Zenko sang thăm TQ rằng có thể tính đến việc  khai thác  chung nguồn tài nguyên chung quanh quần đảo Senkaku, không đụng đến vấn đề chủ quyền. Tháng 6 năm 1980, TQ chính thức đưa ra đề nghị cùng khai thác tài nguyên ở chung quanh quần dảo Senkaku thông qua con đường ngoại giao. Đây là lần đầu tiên TQ công bố lập trường muốn giải quyết việc tranh chấp lãnh thổ và quyền lợi trên biển với các nước chung quanh theo mô hình “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”.

Năm 1986, TQ nói rằng cũng có thể áp dụng phương thức “Gác lại tranh cãi, cung nhau khai thác” trong vấn đề tranh chấp lãnh hãi ở biển Nam Trung Hoa. Phó tổng thống Raul của Philippines hội đàm với Đặng Tiểu Bình khi sang thăm TQ vào tháng 6/1986, ĐTB nói “Chúng ta phải gác lại vấn đề Nam Sa, không thể để cho vấn đề nầy cản trở quan hệ hữu nghị giữa TQ với Philippines hay các nước khác”, nhấn mạnh đến việc cần phải gác lại vấn đề chủ quyền. Tháng 4/1988 ĐTB còn nói với Tổng thống Akino lúc bà sang thăm TQ rằng “Khi nghĩ đến quan hệ hữu nghị giữa hai nước, chúng tôi thấy cần phải gác lại một thời gian vấn đề nầy để tìm con đường cùng khai thác”, chính thức đề nghị “gác lại những điểm khác nhau, cùng nhau khai thác”. Tuy nhiên cùng lúc ĐTB vẫn không quên nhấn mạnh chủ quyền của TQ đối với quần đảo TS.

Theo Bộ Ngoại Giao TQ, nội dung của chủ trương “gác lại tranh cãi, cung nhau khai thác” gồm 4 điểm như sau:

(1)Chủ quyền lãnh thổ của các khu vực liên quan là thuộc về TQ

(2)Khi chưa có đủ điều kiện để giải quyết toàn diện vấn đề tranh cãi về chủ quyền lãnh thổ, thì tạm ngưng tranh luận, gác lại vấn đề nhưng điều nầy không có nghĩa là TQ từ bỏ chủ quyền lãnh thổ.

(3)Có thể khai thác chung ở vùng có tranh chấp về chủ quyền.

(4)Mục đích của việc khai thác chung là nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau thông qua hợp tác, tạo điều kiện để giải quyết rốt ráo vấn về chủ quyền lãnh thổ.

Giải thích nầy cho thấy tiền đề lớn của phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” là thừa nhận  TQ vẫn có chủ quyền ở những quần đảo đang  tranh chấp. Nếu hiểu đúng thì phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” của TQ có nghĩa là  “chủ quyền là thuộc về TQ, không tranh cãi, cùng nhau khai thác”(Chủ quyền thuộc ngã, cách trí tranh luận, cộng đồng khai thác 主権属我、擱置争議、共同開発)(11)

Có thể nói, như vậy mục tiêu cuối cùng của “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”nhằm tạo điều kiện để buộc các nước phải chấp nhận chủ quyền ở những đảo đang tranh chấp thông qua việc thực hiện “cùng nhau khai thác”. Chúng tôi không cho rằng mối quan tâm của TQ về thực chất là đặt nặng đến những lợi ích thực tế trong việc khai thác chung .

4.Thương thảo song phương Việt-Trung

Quan hệ Trung-Việt được bình thường hóa vào tháng 1/1991 mặc dù vào thời điểm nầy ngoài việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, còn tồn tại những mâu thuẩn về đường phân giới trên vịnh Bắc Bộ và trên đất liền. Trong bản thông cáo chung liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ hai nước, bày tỏ ”Hai bên đông ý tiếp tục những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và ổn định khu vực biên giới giữa hai nước, khôi phục sự qua lại hữu nghị truyền thống của nhân dân quanh vùng biên giới, thúc đẩy làm phát triển hơn nữa biến biên giới  Trung-Việt thành biên giới hòa bình và hữu nghị” đồng thời nhất trí rằng “ về vấn đề lãnh thổ tồn tại giữa hai nước, hai bên sẽ thông qua đàm phán để giải quyết một cách hòa bình”(12)

Trong bản tuyên bố chung không hề đề cập đến vấn đề cụ thể như vấn đề chủ quyền Quần đảo TS hay đường biên giới trên Vịnh Bắc Bộ, có thể cho rằng hai nước Trung-Việt đã không đạt đến một sự thỏa thuận nào cụ thể về vấn đề chủ quyền lãnh thổ-lãnh hải. Có thể nói điểm đột phá trong quan hệ Trung-Việt là chuyến đi thăm TQ của TBT Lê Khả Phiêu vào tháng 2/1999. TBT Giang Trạch Dân lúc hội đàm với TBT Lê Khả Phiêu sang thăm “hữu nghị chính thức” đã đánh giá cao ” Việc giao lưu và hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và quân sự đã phát triển không ngừng và ngày càng được củng cố”,  nói rằng ”TQ muốn xây dựng một quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng hữu nghị, ổn định lâu dài hướng tới tương lai”(16 chữ vàng—ND chú)

Về động thái mới của TQ trong vấn đề biển Nam TH, và những vấn đề còn tồn tại giữa hai nước “Việc giải quyết nhanh chóng vấn đề lãnh thổ và biên giới giữa hai nước là hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước. Sự phát triển sâu đậm của quan hệ hợp tác toàn diện láng giềng hữu nghị Trung-Việt và nhận thức chung của lãnh đạo hai nước sẽ tạo điều kiện tốt đẹp để hai nước giải quyết các vấn đề lịch sử  để lại. Nếu hai bên  xuất phát từ đại cuộc  theo quan điểm  chiến lược và hữu nghị để tăng tốc quá trình đàm phán trên tinh thần “hiệp thương hữu nghị, công bằng hợp lý, nhường nhịn lẫn nhau” thì có thể tin tưởng rằng chắc chắn sẽ hoàn thành sứ mệnh lịch sử to lớn và vinh quang”. TBT Lê Khả Phiêu đã đáp lại rằng hai nước sẽ xây dựng  một đường biên giới hòa bình, hữu nghị ổn định, giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước một cách nhanh chóng với sự nổ lực chung và trách nhiệm cao” (13).

Bàn thông cáo chung Trung-Việt được công bố sau cuộc hội đàm đánh giá chuyến đi thăm TQ của TBT Lê Khả Phiêu đã đóng góp quan trọng trong việc xây dựng một quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước và hai Đảng trong thế kỷ 21, tích cực đem lại hòa bình, ổn định và phát triển cho khu vực” và ghi rõ hai bên đã “nhất trí xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng hữu nghị lâu dài và ổn định hướng đến tương lai trên cơ sở nhận thức chung của lãnh đạo hai Đảng và hai nước Trung –Việt”. Hơn thế nữa hai nước còn xác nhận việc giải quyết một cách hòa bình vấn đề biên giới, cho biết “sẽ kí kết hiệp ước về biên giới trên đất liền trong năm 1999 và trong năm 2000 sẽ giải quyết đường phân giới trên vịnh Bắc Bộ thể hiện quyết tâm xây dựng đường biên giới giữa hai nước thành đường biên giới hòa bình ổn định và phát triển  ”

Với sự thỏa thuận nầy của lãnh đạo hai nước, tháng 12/1999 TQ và VN đã lần lượt kí kết “Hiệp ước cắm mốc biên giới trên đất liền”, tháng 12/2000 “Hiệp định về đường phân chia ở thềm lục địa, vùng biển đặc quyền kinh tế và lãnh hải trên Vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp định hợp tác về nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ”. Như vậy các vấn đề cơ bản được gác lại lúc bình thường hóa quan hệ thì hai vấn đề liên quan đến chủ quyền đã được giải quyết, riêng tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông thì chưa đạt được thỏa thuận, vẫn đang được hai nước thương thảo. Dù vậy có thể nói quan hệ hợp tác giữa hai nước phát triển rất nhanh trong những năm gần đây. Sự hợp tác trên vịnh Bắc Bộ là một thí dụ cụ thể.

Các quần đảo trên biển Đông

Hơn thế nữa, để tránh việc tàu đánh cá nhỏ vượt đường biên, đụng độ gây xung đột, hai bên còn lập ra “khu vực tranh xung đột tàu thuyền nhỏ” không dùng vũ lực bắt giam, xử phạt các tàu đánh cá cở nhỏ vi phạm. Từ tháng 1/2006 hai bên tiến hành điều tra chung về nguồn tài nguyên ngư nghiệp ngoại vi trên vịnh Bắc Bộ.

Vịnh Bắc bộ là vùng rất giàu tài nguyên ngư nghiệp, những cuộc đụng độ trên ngư trường nầy giữa ngư dân hai nước không lúc nào ngưng. Trong cuộc đàm phán về hiệp định phân chia ranh giới ở Vịnh Bắc Bộ, từ quan điểm bảo vệ lợi ích thiết thực cho ngư dân nước mình, phía TQ đòi hỏi phía VN phải cùng lúc kí kết hiệp định hợp tác về nghề cá và cuối cùng hai bên đã đạt đến việc kí kết hai hiệp ước xác định đường phân chia ranh giới trên Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác về nghề cá cùng lúc. Điểm chủ yếu của Hiệp định hợp tác về nghề cá việc đặt ra “khu đánh cá chung ngoài biên giới”. Hai nước đồng ý xác định vùng biển rộng 33,000 cây số vuông tiếp giáp vùng biển đặc quyền kinh tế (EEZ) theo qui định của Hiệp định đường ranh giới, là “khu đánh cá chung ngoài biên giới”. Khu đánh cá chung nầy có thời hiệu là 12 năm và sau thời hiệu nầy sẽ tự động gia hạn trong mỗi 3 năm. Ủy ban hỗn hợp Trung Việt về nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ được thành lập hằng năm xác định số thuyền đánh bắt của hai bên trong vùng biển đánh cá chung. Hai nước đã có thể thực hiện việc giám sát, quản lý chung ở vùng biển thuộc lãnh hải của nhau tính từ đường ranh giới vào vùng biển nước mình. Phát xuất từ thực tế khó có thể đuổi ngư dân TQ ra khỏi vùng biển thuộc lãnh hải VN, ngoài khu đánh bắt chung nêu trên, hai nước còn đặt ra “vùng biển đệm trên đường biên giới” cho phép tàu đánh của TQ được phép khai thác trong 4 năm (**xem phụ chú).

Vấn đề hợp tác nghề cá trên vịnh Bắc Bộ giữa TQ-VN diến ra thuận lợi, việc hợp tác tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động trong khu vực nầy cũng diến ra tích cực. Vào tháng 9/2006 Hai nước Trung-Việt đã triển khai hoạt động điều tra chung lần đầu tiên về “khu đánh bắt chung”. Tại hoạt động kiểm tra chung nầy đội tàu kiểm soát của TQ và đội tàu cảnh sát biển của VN đã kết hợp thành một biên đội đi vào vùng đặc quyền kinh tế của nhau để kiểm tra hoạt động đánh bắt của tàu đánh cá nước mình. Tháng 4/2006 hải quân của hai nước cũng đã bắt đầu tuần tra chung trên biển  thuộc vịnh Bắc Bộ. Đây là hành động dựa trên đề xuất của phía VN.Hai nước đã kí kết ”Hiệp định tuần tra chung ở vịnh bắc Bộ của hải quân Trung-Việt” vào tháng 10/2005. Đây cũng là lần đầu tiên hải quân của TQ tiến hành tuần tra chung với hải quân của nước ngoài cho thấy quan hệ hữu nghị hợp tác hải quân của hai nước Trung-Việt ngày càng thắt chặt hơn. Hơn thế nữa TQ và VN bắt đầu tiến hành việc khai thác chung nguồn khí đốt thiên nhiên và dầu mỏ vắt ngang đường ranh giới giữa hai nước trên vịnh Bắc Bộ.

Bản đồ 1: Khu vực ngoài của Vịnh Bắc Bộ

Cuối năm 2005, Tổng công ty Dầu hỏa Hải dương TQ và Công ty Dầu hỏa Việt nam đã kí kết “hiệp định khung hợp tác khí đốt thiên nhiên và dầu hỏa trên Vịnh Bắc Bộ”. Việc hợp tác kinh tế giữa hai nước Trung-Việt đang phát triển theo những dự án có qui mô rộng lớn  hơn vịnh Bắc Bộ. “Một vòng đai hai hành lang” kinh tế là dự án hợp tác kinh tế có qui mô như vậy. Tháng 10/2004 Thủ tướng Ôn Gia Bảo sang thăm VN, đã hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh. Bản tuyên bố chung Trung Việt ghi rõ rằng “Trong khuôn khổ của Ủy ban hợp tác mậu dịch và kinh tế của chính phủ hai nước,(lãnh đạo hai nước) đã đồng ý thiết lập nhóm chuyên gia để tích cực nghiên cứu  khả năng xây dựng  hai hành lang kinh tế một vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ, “Côn Minh-Lao Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh” và “Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng- Quảng Ninh”(16)

Theo bản tuyên bố chung nầy hai con đường thông thương giữa Côn Minh (tỉnh Vân Nam) và Khu Dân tộc tự trị Choang ở Nam Ninh thuộc Tỉnh Quảng Tây với Quảng Ninh sẽ được nối kết là bước cụ thể hóa dự án xây dựng vòng đai kinh tế bao quanh Vịnh bắc Bộ. Một Ủy ban chỉ đạo hợp tác giữa hai nước Trung-Việt đã được thiết lập vào tháng 1/2006 để làm phát triển sâu đậm hơn nữa việc hợp tác kinh tế hai nước TQ-VN, Lần họp lần thứ nhất của Ủy ban nầy đã diến ra tại Hà Nội với sự chủ trì của Ủy viên quốc vụ viện Đường Gia của TQ và Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm. Ủy ban chỉ đạo hợp tác nhắm tăng cường chỉ đạo vĩ mô của cơ chế hợp tác hiện có, thống nhất toàn thể chương trình hợp tác của các ngành, các cấp của hai nước, giải quyết các vấn đề nẩy sinh nghiêm trọng trong quá trình hợp tác và quyết định về nguyên tắc mỗi năm sẽ nhóm họp một lần. Về Ủy ban chỉ đạo hợp tác nầy, Ông Đường Gia đánh giá cao rằng “Việc lập ra Ủy ban chỉ đạo hợp tác ở cấp cao nầy là một quyết định chiến lược trong tầm nhìn xa vào tương lai của lãnh đạo hai nước, hai Đảng trong tình hình mới, làm tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác nhằm tiến tới một quan hệ hợp tác toàn diện mạnh mẽ và lâu dài, láng giềng thân thiện hữu nghị Trung Việt”(17)

Bản đồ 2: Bản đồ của Công Ty Dầu Khí Hải Dương Trung Quốc. Vào năm 2002, hai vùng dầu khí LD29-1 (nằm phía Việt Nam của đường trung tuyến) và LD20-1 (nằm vắt ngang đường trung tuyến) bắt đầu bị Trung Quốc khai thác.

Ngay sau khi phiên họp lần thứ nhất của Ủy ban chỉ đạo hợp tác kết thúc TBT Hồ Cẩm Đào đã sang thăm Việt Nam. Những phát biểu của Hồ Cẩm Đào trong chuyến viễng thăm nầy và nhìn vào bản tuyên bố chung được công bố sau đó, có thể thấy được những nét đặc trưng của chính sách đối với VN của TQ.

Trước tiên, một là TQ đã tìm thấy lợi ích khi VN “bị” Đảng Cộng Sản thống trị một cách ổn định. Trong cuộc hội đàm với Nông Đức Mạnh,  Hồ Cẩm Đào đã đánh giá cao sự lãnh đạo của đảng CSVN, phát biểu “Dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, nhân dân VN đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện, đất nước đang trên đà phồn vinh. Đảng, chính phủ và nhân dân TQ ủng hộ chính sách đối ngoại và đối nội đã được Đại Hội 10 của Đảng CSVN xác định, mong rằng  nhân dân VN sẽ sớm xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa công nghiệp hiện đại giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Tiếp đó, Hồ Cẩm Đào còn đề nghị “hai bên sẽ tiếp tục giao lưu sâu hơn để Đảng giữ vững sự thống trị và củng cố lý luận của chủ nghĩa xã hội và thực tiển nhằm đóng góp vào việc xây dựng đất nước của mỗi bên”(18)

Trong tình hình tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, đối với TQ, VN là một trong số ít nước còn lại có cùng chế độ xã hội chủ nghĩa. Nếu VN thành công trong việc phát triển kinh tế và đảm bảo ổn định chính trị dưới sự thống trị của Đảng CS, thì đó cũng sẽ là chứng cứ hùng hồn chứng minh sự đúng đắn về sự thống trị độc quyền của Đảng CS ở TQ. Đối với VN cũng là điều tương tự, có thể nói VN và TQ đang ở trên một mối quan hệ dựa lẫn qua lại để cùng nhau “chính thống hóa”(chứng minh sự đúng đắn của—-ND chú) củng cố sự thống trị độc đảng của  đảng CSTQ cũng như đảng CSVN ở mỗi nước với những thành tích đã đạt được .

Đặc trưng thứ hai, TQ xem trọng sự phát triển quan hệ mậu dịch-kinh tế với VN. Tại cuộc hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh, CT Hồ Cẩm Đào đã đề nghị “hai nước kiên trì nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, thực hiện phồn vinh và phát triển chung”, cho rằng “Nắm chắc kế hoạch vĩ mô, thực hiện việc mở rộng chiều sâu hiệp định hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước, triển khai ý tưởng hợp tác xây dựng “hai hành lang một vành đai ” theo tuần tự vững chắc, nâng cao mức chuẩn của hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước. Qua việc mở rộng qui mô và cải thiện cơ cấu mậu dịch, đạt trọng tâm vào việc nắm chắc những sản phẩm thương mại chủ yếu sẽ nâng việc hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước vào một giai đoạn mới”. Trong bản tuyên bố chung Trung-Việt sau cuộc hội đàm nầy, hai bên đã đồng ý “mở rộng hơn nữa hợp tác mậu dịch-kinh tế, nâng cao về chất và tầm mức của hợp tác” thực hiện mục tiêu đưa kim ngạch mậu dịch song phương lên 15 tỷ đô la vào năm 2010, tăng tốc qui trình xây dựng”hai hành lang một vòng đai kinh tế”(19).

Để làm sâu hơn quan hệ hợp tác mậu dịch-kinh tế với VN, TQ sẽ cung cấp những cơ sở để xây dựng duy trì quan hệ tốt đẹp với VN đồng thời TQ còn đặt kỳ vọng việc làm nầy sẽ giúp kinh tế vốn trì trệ ở vùng Tây Nam TQ phát triển. Thí dụ Khu tự trị Quảng Tây của dân tộc Choang tiếp giáp với biên giới Việt Nam đang có kế hoạch thực hiện thông qua việc hợp tác kinh tế với VN (20). Kim ngạch mậu dịch với VN của khu tự trị dân tộc Choang đã tăng lên rõ rệt, năm 2005 đạt mức 980 triệu đô la, tương đương với ¾ kim ngạch mua bán với các nước ASEAN. Trong 7 năm liên tiếp Khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây là đối tác đứng hàng đầu trong các nước ASEAN. Từ năm 2004 “Hội chợ Quảng Tây-ASEAN” được mở ra hàng năm tại Nam Ninh thuộc khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây nhằm tăng cường quan hệ đầu tư, mậu dịch giữa TQ và ASEAN. Trục giao thông từ Nam Ninh kéo dài đến Singapore, lấy lưu vực sông Mêkong và khu vực hợp tác kinh tế bao quanh Vịnh Bắc Bộ làm hai cánh như đề án xây dựng ”Một trục hai cánh” của Bí thư Lưu Kỳ Bảo của khu tự trị nầy, biến khu vực hợp tác kinh tế vòng đai Vịnh Bắc Bộ thành cứ điểm mậu dịch cho TQ và các nước ASEAN với hi vọng khu vực nầy sẽ là vùng phát triển mới ở ven biển Tây Thái Bình Dương trong tương lai(21).

Vị trí Lào Cai trong một vành đai hai hành lang Kinh tê Việt-Trung

Và ba là trên cơ sở lợi ích chung về chính trị và kinh tế, TQ sẽ tăng cường quan hệ với VN theo tầm nhìn chiến lược. Sau Đại hội Đảng lần thứ 16 của Đảng CS TQ, TQ đã triển khai “ngoại giao với các nước chung quanh”  theo phương châm “láng giềng thân thiện, xem lân bang là đối tác “(Dự Lân Vi Thiện, Dĩ lân Vi Bàn 与隣為善、以隣為伴 ) trong đó đặt vị trí của VN rất cao.

Thủ tướng Ôn Gia Bảo trong lần sang thăm VN vào tháng 10/2004, trong cuộc hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh, nhấn mạnh “Đảng và chính phủ TQ trước sau vẫn rất xem trọng  quan hệ với VN, đặt vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại với các nước chung quanh của TQ”(22). CT Hồ Cẩm Đào trong lần sang thăm VN vào tháng 11/2006 cũng cho rằng “Trung-Việt, hai bên đều đứng trên quan điểm chiến lược toàn cục để nắm chắc phương hướng chính xác của việc làm phát triển quan hệ ”. Bản tuyên bố chung Trung-Việt đưa ra sau đó đã xác nhận “Hai nước Trung-Việt có chung lợi ích chiến lược trên nhiều vấn đề quan trọng”, đồng ý sẽ là “Ổn định lâu dài,  láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện hướng đến tương lai để phát triển quan hệ Trung Việt, mãi mãi là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”( “tinh thần 4 tốt”) của nhau.

Từ những đặc trưng trên, chúng ta có thể nhận định rằng TQ sẽ nổ lực làm phát triển quan hệ hợp tác toàn diện với VN trong những năm sắp đến. Với phương châm “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Nam TH đang dần lắng dịu trở lại, TQ sẽ tiếp tục mục tiêu xây dựng “đối tác chiến lược” với VN trên cơ sở tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế.

5. Bối cảnh của việc “mềm mỏng” trong đối phó của TQ

Như chúng ta đã thấy trong việc TQ chiếm đóng dãy đá ngầm Mischief, cho đến nửa thập kỷ 1990, thái độ của TQ đối với vấn đề TS rất cứng rắn, gây đe dọa rất lớn đối với các nước ASEAN. Nhưng kể từ hậu bán thập kỷ 1990 thái độ của TQ trở nên vô cùng mềm mỏng đối với vấn đề nầy như chúng ta đã thấy qua việc làm phát triển quan hệ với VN.

Sau khi chiếm đóng dãy đá ngầm Mischief vào năm 1995, TQ đã tăng cường việc xây dựng các cơ sở trên dãy đá nầy nhưng không triển khai việc chiếm cứ thêm các đảo, dãy đá khác. Mặt khác, TQ đã đáp ứng việc thương thảo đa phương với các nước ASEAN trong vấn đề TS kể từ những năm cuối thập kỷ 1990. Kể từ khi vấn đề chủ quyển trên biển Nam TH trở nên nghiêm trọng, phía ASEAN đã kêu gọi TQ thương thảo nhằm mục đích lập ra một qui chế “phạm vi hành động” trên biển Đông nhằm mục đích tránh xung đột bằng vũ lực và duy trì nguyên trạng.

Trước việc nầy, TQ đã tỏ ra khó chịu đối với việc đàm phán chính thức trong khuôn khổ đa phương về vấn đề biển Nam TH nhưng vào tháng 10/1999 phía TQ đưa ra bản dự thảo cho phía ASEAN, đề nghị “Qui tắc ứng xử” và bắt đầu bước vào đàm phán cấp thứ trưởng với các nước ASEAN (23). Cuộc đàm phán giữa TQ và ASEAN đã gặp nhiều khó khăn vì ý kiến khác nhau về phạm vi áp dụng giữa các nước liên quan, mãi đến tháng 11/2001 mới có thể đạt được sự đồng thuận. Ngoại trưởng các nước ASEAN và TQ đã kí kết vào bản “Tuyên bố về hành động của các nước liên quan đến biển Nam TH”

Bản tuyên bố nầy kêu gọi việc tranh chấp chủ quyền giữa các nước liên quan sẽ giải quyết một cách hòa bình, không đòi hỏi bằng cách dùng vũ lực hay uy hiếp bằng vũ lực, không bố trí người đến trú đóng ở những hòn đảo không có người, chủ động thông báo (cho các nước liên quan) những cuộc diễn tập quân sự và đảm bảo việc tự do đi lại trên biển (24).

Sự đồng ý nầy là một “Tuyên ngôn Hành Động”(Declaration on the Conduct) thiếu sức ép buộc như một “qui tắc hành động”(Code of Conduct) mà ASEAN yêu cầu, phía TQ cũng cho rằng tuyên ngôn nầy “không phải là một văn bản pháp lý” mà là “một văn bản chính trị”(25). Thế nhưng trong “Tuyên Ngôn Hành Động” nầy còn ghi là các nước liên quan nhất trí nổ lực tiến đên một sự thỏa thuận về “Qui tắc hành động”. Trong bản “Tuyên ngôn đối tác chiến lược hướng đến hòa bình và phồn vinh” kí kết giữa ASEAN và TQ vào tháng 10/2003, xác nhận sẽ thực hiện “Tuyên Ngôn Hành Động “ cam kết sẽ tiếp tục thương thảo về phương pháp  “theo dõi”(giám sát-follow-up) việc thực hiện bản tuyên ngôn nầy (26). Hơn nữa trong “Kế Hoạch hành động”(Action Plan) trong 5 năm theo “Đối tác chiến lược”đạt được vào tháng 11/2004, có ghi rõ là TQ và ASEAN sẽ họp định kỳ ở cấp cao để thực hiện “Tuyên Ngôn Hành Động”, nổ lực hướng đến việc thông qua “qui tắc hành động” cuối cùng. (27)

Tiếp theo  thỏa thuận “Tuyên ngôn Hành Động”, TQ đã bước sang việc khai thác cụ thể chung ở biển Nam TH. Vào ngày 1/9/2004 Công ty Dầu hỏa Hải dương TQ và công ty Dầu Hỏa quốc gia Philippines đã đồng ý thực hiện việc thăm dò điều tra dịa chấn chung. VN đã phản đối thỏa thuận này nhưng vào ngày 14/3/2005 hai công ty nầy đã mời thêm Tổng công ty dầu khí VN tham gia, đạt thỏ thuận chung giữa ba nước vể việc thăm dò địa chấn. Vùng biển thăm dò lên đến 143,000 km vuông, sử dụng sóng địa chấn trong 3 năm, lần 2 và lần 3 sẽ thu các dự liệu dưới biển để xác nhận trữ lượng Dầu mỏ và khí đốt. Chi phí của việc điều tra nầy sẽ do 3 công ty đảm trách  và cả 3 đều cùng sở hữu các dự liệu thu thập được. Sau 3 năm điều tra kết thúc các bên sẽ tiếp tục xem xét co nên tiếp tục điều tra sâu thêm nữa hay không. Việc thực hiện cuộc điều tra chung nầy được xem là không ảnh hưởng gì đến chủ trương về chủ quyền các các nước(28)

Phía TQ xem thỏa thuận nầy là bước thực tiển đầu tiên của chủ trương “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”,đánh giá cao, xem biện pháp là bước tiến quan trọng trong việc thực hiện “Tuyên Ngôn hành Động”(29). Như vậy, lý do TQ mềm dẽo hóa đối sách trong vấn đề biển Nam TH có thể phát xuất từ nhu cầu muốn gắn kết quan hệ với các nước ASEAN. Đối với TQ, các nước ASEAN là lân bang tiếp giáp TQ, nếu quan hệ với các nước nầy không ổn định sẽ gây bất lợi cho việc duy trì tình hình quốc tế ổn định—là điều kiện không thể thiếu– để phát triển kinh tế của TQ. Mặt khác ASEAN đứng thứ 4 trong đối tác mậu dịch của TQ, là một đối tác kinh tế quan trọng có nhiều tư bản Hoa thương đầu tư vào TQ. Hơn thế nữa , ASEAN còn giữ vai trò trung tâm trong Hợp tác Đông Á (10 +3) hay Hội nghị thượng đỉnh Đông Á vì vậy việc duy trì quan hệ tốt đẹp với ASEAN rất quan trọng trong việc xây dựng một Cộng Đồng Đông Á  trong chiến lược của TQ ở tương lai. Phó viện trưởng viện nghiên cứu đối ngoại của TQ, Tần Á Thanh cho rằng “Để có thể xây dựng quan hệ hợp tác chiến lược với ASEAN, TQ phải xử lý vấn đề một cách khí khái  mang phong cách của một nước lớn, phải hiểu được và quan tâm một cách hợp lý đến lợi ích của nước đối tác, phải biết nhân nhượng nhất định trên một số vấn đề theo một tầm nhìn lâu dài”(30). Có thể nói rằng thái độ mềm mỏng của TQ trong vấn đề biển nam TH là một bước nhượng bộ để duy trì “quan hệ đối tác chiến lược” với ASEAN.

Các tuyến hàng hải từ Trung Đông sang Nhật Bản

Hai là, việc tranh thủ ra tay hòa hoãn mối quan hệ căng thẳng với các nước ASEAN về vấn đề chủ quyền trên biển Đông cũng là để ngăn chận việc Đài Loan lợi dụng vấn đề nầy hòng tiếp cận các nước Đông Nam Á. Vào thập kỷ 1990, Đài Loan đẩy mạnh các hoạt động tăng cường quan hệ với các nước ĐNÁ theo cái gọi là “Chính sách hướng Nam” [南向政策」. Nguyên tổng thống Lý Đăng Huy, hay Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biền (đương nhiệm) thuộc phe đòi Đài Loan độc lập bị TQ phê phán, đã nổ lực mở rộng “không gian sống chung quốc tế” của Đài Loan, thực hiện những chuyến đi thăm các nước ĐNA không chính thức. Việc Đài Loan tiến gần với các nước ĐNÁ cũng do từ nhận thức cho rằng TQ là mối đe dọa chung cho cả hai vì vậy đối với TQ việc ngăn chận ASEAN tiếp cận Đài Loan là một việc quan trọng nhằm làm giảm thiểu mối lo ngại về sự uy hiếp của TQ đang bùng lên ở các nước ĐNÁ vì vấn dề chủ quyền ở biển Nam TH.

Hơn thế nữa, Đài Loan đòi hỏi chủ quyền trên toàn quần đảo TS, đang chiếm đóng đảo Ba Bình(Đảo Thái Bình—Itu Aba) lớn nhất, và cũng là người trong cuộc trong vấn đề biển Nam TH, vì vậy việc tăng cường khuôn khổ giải quyết vấn đề(chủ quyền) riêng với ASEAN sẽ làm cho Đài Loan không còn có cơ hội để thương lượng với ASEAN về vấn đề nầy. Ông Dương Thanh thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc tế của Trường Trung Ương Đảng CSTQ cho biết phát xuất từ cục diện lớn(đại cục) từ lợi ích của quốc gia—một lợi ích chủ yếu—rằng “việc giải quyết vấn đề biển Nam TH một cách thỏa đáng giữa TQ và các nước ASEAN là rất quan trọng”(31).

Hình ảnh thường thấy sau hội nghị cấp cao ASEAN

Ba là ngăn chận  các nước lớn khác, đặc biệt là Mỹ nhảy vào can thiệp vấn đề biển nam TH. Nước Mỹ vẫn giữ thái độ bàng quang đối với vấn đề chủ quyền ở biển Đông nhưng quan tâm lo lắng vấn đề nầy sẽ gây ra tình huống ngăn cản sự đi lại tự do trên biển(32). Mặt khác,sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ giữa Mỹ và các nước ASEAN về thực chất là đã khắng khít hơn vì lo ngại trước động thái mở rộng (phạm vi hoạt động) của Hải quân TQ. Nếu vấn đề ở biển nam TH trở nên nhạy cảm thì có khả năng nước Mỹ nhảy vào can thiệp vấn đề nầy với lí do là để đảm bảo sự tự do đi lại trên vùng biển nầy đồng thời có khả năng các nước ASEAN cũng sẽ tăng cường quan hệ với không quân Mỹ. “Một số nước ASEAN tương đối dành được một môi trường quốc tế thuận lợi trong vấn đề biển Đông nhờ vào sự cân bằng chiến lược giữa các nước lớn. Chủ trương của Chính sách Châu Á-Thái Bình Dương của nước Mỹ đã tạo điều kiện để cho các nước ASEAN duy trì lợi ích hiện có bằng sức mạnh của các nước ngoài khu vực”(33)

Cho nên điều quan trọng đối với TQ là xử lý vấn đề biển Nam TH một cách êm thắm, không để cho nước Mỹ lợi dụng vấn đề nầy để can thiệp. Thứ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của TQ nói rằng “ý nghĩa của Tuyên Ngôn Hành Động ASEAN là xử lý tốt vấn đề biển Nam TH thông qua đối thoại với các nước trong khu vực, TQ đã phát ra tín hiệu rõ ràng với bên ngoài rằng có khả năng duy trì hòa bình và ổn định của vùng biển Nam TH thông qua đối thoại”(34). Có người cho rằng hợp tác giải quyết hợp lý vấn đề biển Nam TH với các nước ASEAN “sẽ ngăn ngừa được việc các nước lớn lợi dụng vấn đề biển Đông làm con cờ để “bao vây” TQ (35).

Và điểm cuối cùng là TQ cần phải bảo đảm nguồn tài nguyên năng lượng—không thể thiếu được—cho việc phát triển kinh tế liên tục từ nay về sau. Đi cùng với sự phát triển kinh tế nhảy vọt, nhu cầu về năng lượng của nền kinh tế TQ ngày càng tăng gấp bội. Về dầu hỏa, từ năm 1993 TQ đã trở thành nước thuần nhập khẩu dầu mỏ, hiện nay là đứng hàng thứ hai sau Mỹ trong số các nước tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới.(35)

Theo ông  Xa Trường Ba, giám đốc trung tâm nghiên cứu chiến lược tài nguyên dầu mỏ-khí đốt thiên nhiên thuộc Bộ Tài Nguyên TQ, nhu cầu vè dầu mỏ năm 2010 là 380 triệu tấn và 2020 là 450 triệu tấn.(37)

Tuy nhiên đối với TQ việc xem khả năng khai thác dầu khí ở biển Nam TH như một biện pháp đảm bảo nguồn năng lượng hiện nay không mang tầm quan trọng cho lắm. Những năm gần đây TQ nổ lực thực hiện việc nhập khẩu ổn định năng lượng cũng như dành quyền khai thác dầu khí thông qua việc tăng cường hợp tác với các nước sản xuất năng lượng. Đồng thời tích cực tham gia đấu thầu quốc tế đối với các mỏ dầu có trữ lượng lớn đã qua điều tra, thăm dò. Điều nầy có nghĩa là trước mắt TQ không cảm thấy gấp vội bắt tay khai thác biển Nam TH mà chi phí khai thác có thể rất cao và chưa được điều tra toàn diện trong khi trên thế giới vẫn còn rất nhiều khu vực có thể hoạt động cung cấp ổn định năng lượng cho mình. Tất nhiên, nhìn về lâu dài, rõ ràng việc khai thác nguồn tài nguyên trên biển Nam TH mang một ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế của TQ, rất nhiều khả năng cho thấy TQ sẽ hành động để dành phần. Nếu như kết quả điều tra Trung-Việt-Phi tốt đẹp thì có khả năng TQ sẽ có chính sách đối phó mới nhằm đảm bảo quyền lợi và bước vào khai thác qui mô ở vùng biển nầy. Vì vậy,có thể nói rằng thay vì làm xấu đi quan hệ với các nước ASEAN nhằm bảo đảm tài nguyên ở vùng biển chung quanh quần đảo TS mà trước mắt không lấy gì cấp bách thì một mặt kéo các nước vào tiến hành điều tra chung để xác nhận trữ lượng tài nguyên, tránh đụng chạm với nước khác là phương sách tốt nhất đối với TQ trong tình cảnh hiện nay.

Kết

TQ là quốc gia đầu tiên thủ tướng Abe Shinzo sang thăm vào tháng 10/2006 sau khi nhiệm chức. Hai bên đã đồng ý hướng đến việc xây dựng một “quan hệ chiến lược cùng có lợi”, bắt đầu cho thấy dấu hiệu cải thiện quan hệ Nhật-Trung đã xấu đi trong thời kì của chính quyền Koizumi. Tháng 4 năm sau Thủ tướng Ôn Gia Bảo sang thăm NB,đạt được một nhận thức chung với phía NB, rằng  “hai nước sẽ cùng nhau đóng góp một cách tích cực vào ổn định, hòa bình và phát triển của Châu Á cũng như thế giới”, lập ra “Đối thoại cấp cao kinh tế Nhật-Trung” nhằm tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, đồng thời tăng cường giao lưu quốc phòng như cho các tàu chiến sang thăm qua lại hay bộ trưởng quốc phòng viếng thăm NB…. Hơn thế nữa, TQ đã bày tỏ lòng biết ơn việc NB cho TQ vay ODA đóng góp vào phát triển kinh tế của TQ, đặt kì vọng vào việc mở rộng hơn nữa vai trò xây dựng của NB trong xã hội quốc tế, “đồng tình và thông cảm với quan tâm nhân đạo của nhân dân NB” trong vấn đề bắt cóc của Bắc Triều Tiên(***Phụ chú) và tỏ ra hết sức tích cực để cải thiện quan hệ đối với NB.(39)

Mặt khác, NB luôn luôn cảnh giác cao độ các chính sách đối với NB của TQ. Trước hết là vấn đề khai thác tài nguyên ở biển Đông TH, trong tinh huống giữa TQ và NB còn nhiều vấn đề không thể bỏ qua như lãnh thổ, chủ quyền giữa hai nước, TQ vẫn tiến hành cấp tốc việc hiện đại hóa sức mạnh quân sự trong khi xã hội quốc tế đang đòi hỏi TQ phải minh bạch mà TQ hằng che dấu. Một bộ phận của NB cũng có khuynh hướng NB nên chia sẻ một nhận thức chung với các nước ASEAN—đang có vấn đề chủ quyền trên biển Nam TH– đối với TQ. Nhưng như chúng tôi đã trình bày trong bài viết nầy, TQ đang có những thay đổi lơn trong cách đối phó và mối quan ngại về sự uy hiếp của TQ đối với các nước ĐNÁ đang lắng dịu rõ rệt.

Tháng 5/2007 trong khi sang thăm TQ, Chủ tịch nước VN Nguyễn Minh Triết đã trả lời phỏng vấn của báo giới truyền thông TQ rằng “vấn đề lãnh thổ giữa hai nước là vấn đề trong nhà”, cho biết không có vấn đề gì hai nước Việt-Trung không giải quyết được. Cho biết VN sẵn sàng làm cầu nối giữa TQ và ASEAN ra sức  thúc đẩy quan hệ giữa hai bên ngày càng phát triển(40). Nhận thức đúng đắn về  sự thay đổi của TQ trong chính sách đối với các nước ASEAN như chúng ta đã thấy qua cách ứng phó trong vấn đề biển Nam TH và những tiến triển của quan hệ ASEAN-TQ theo sau là vô cùng cần thiết trong việc vạch ra chính sách Đông Á và chính sách đối Trung của NB sắp tới.

=========================================================Phụ chú:

(*)xem thêm ”Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa –

Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc” của Từ Đặng Minh Thu

Thời đại mới, số 11-  tháng 7/2007

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_TuDangMinhThu.htm

“Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên vùng biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa” của Đinh Kim Phúc

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 4(75)-2009

(**) xem thêm http://www.mofa.gov.vn/vi/cs_doingoai/cs/ns04081808401148

(***) Vấn đề bắt cóc người Nhật về Bắc Triều Tiên xảy ra trong khoảng thòi gian từ năm 1977 đến 1983. Theo công bố của chính phủ NB thì đã có 12 vụ bắt cóc về Triều Tiên với 8  Nữ và 8  Nam ở NB, trong khi  phía Triều Tiên xác nhận là 13 người (6 Nam 7 Nữ).   Có nguồn tin khác cho biết con số người bị bắt cóc lên đến 70-80 người. Đây là một trong những vấn đề ngăn cản việc bình thường hóa quan hệ Nhật-Triều. Hiện nay,vấn đề “bắt cóc” này vẫn chưa được hai nước giải quyết ổn thỏa.(HLT chú)

xem thêm:

http://en.wikipedia.org/wiki/North_Korean_abductions_of_Japanese

http://www.japanesestudies.org.uk/discussionpapers/2007/Ito2.html

=========================================================

Chú thích:

(1)中越間の領土・領海問題についてベトナム側の視点から考察したものとして、庄司智孝「ベトナム・中国間の国境線画定・領土問題」 『防衛研究所紀要』第8巻第3号( 2 0 0 6 年3月) 5 3 ~ 6 7 ページが参考になる。

Vấn đề lãnh hải-lãnh thổ Trung-Việt nhìn từ Việt Nam có thể tham khảo Shoji Michitaka”Vấn đề lãnh thổ-phân định biên giới Việt-Trung” Kỷ yếu nghiên cứu quốc phòng quyển thứ 8, tập 3(3/2006) trang 53-67

(2) 以下の記述については「南海問題」 『中国外交辞典』 (世界知識出版社、 2 0 0 0 年) 2 3 8 ページ、 「中国対南沙群島擁有主権的歴史依拠」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月 2 2 日)

những chi tiết trong bài viết lấy từ “Vấn đề Nam Sa”[Từ điển ngoại giao Trung quốc](NXB Tri Thức Thế Giới năm 2000) trang 238 “Căn cứ lịch sử chủ quyền quần đảo Nam SA của TQ”(BNGTQ home page 22.11.2000). Tham khảo

<http : //www.fmprc.

gov.cn/chn/ziliao/wzzt/2305/t10648.htm> および “Historical Evidence to Support China’s Sovereignty

over Nansha Islands,” November 17, 2000 <http: //www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19231.htm>

(3)「中国対南沙群島擁有主権的法理依拠」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月 2 2 日)

<http: //www.fmprc.gov.cn/chn/ziliao/wzzt/2305/t10649.htm> を参照。

(4)「南沙太平島」(台湾・行政院海巡署南部地区巡防局ホームページ)

<http: //www.cga.gov.tw/south/taiping/> を参照。

(5) Ramses Amer, “The Territorial Disputes between China and Vietnam and Regional Stability,” Con-

temporary Southeast Asia, Vol. 19, No. 1, June 1997, p. 87.

(6)「中華人民共和国領海及毘連区法」 『人民日報』 1 9 9 2 年2月 2 6 日。

(7) “ASEAN Declaration on the South China Sea,” July 22, 1992 <http: //www.aseansec.org/politics/pol_agr5.htm>.

(8)『読売新聞』1992年7月19日。この記事で中国軍が上陸した岩礁名がダラク礁となっているが、正確にはガベン礁であると思われる。

(9) “Statement by the ASEAN Foreign Ministers on the Recent Development in the South China Sea,” March 18, 1995 <http: //www.aseansec.org/politics/scs95.htm> .

( 1 0 )「擱置争議、共同開発」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月7日)<http: //www.fmprc.gov.cn/chniliao/2159/t8958.htm> 。英語版は “Set aside dispute and pursue joint development,” November 17,2000 <http: //www.fmprc.gov.cn/eng/ziliao/3602/3604/t18023.htm> を参照。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 1 )「南海問題」 『中国外交辞典』 2 3 8 ページ。

( 1 2 )「中越発表聯合公報」 『人民日報』 1 9 9 1 年 1 1 月 1 1 日。

( 1 3 )「江沢民与黎可漂挙行会談」 『人民日報』 1 9 9 9 年2月 2 6 日。

( 1 4 )「中越聯合声明」 『人民日報』 1 9 9 9 年2月 2 8 日。

( 1 5 ) 以下、トンキン湾における両国の協力に関する記述は、江淮「北部湾:中越合作之湾」 『世界知識』 2 0 0 6 年第 2 4 期、 2 7 ~ 2 9 ページによる。防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 6 )「中越発表聯合公報」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 4 年 1 0 月8日) <http: //www.fmprc.gov.cn/chn/wjb/zzjg/yzs/gjlb/1338/1339/t163636.htm> 。

( 1 7 )「中越双辺合作指導委員会首次会議在河内挙行」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 2 日。

( 1 8 )「胡錦濤同越共中央総書記農徳孟越南国家主席阮明哲会談」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 7 日。防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 9 )「中越聯合声明」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 8 日。

( 2 0 ) [1]亜平・梁思奇・蒋桂斌「北部湾:区域経済合作新接口」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年6月5日、 3 8

~ 4 0 ページ。

( 2 1 ) 杜新・劉偉「 “一軸両翼”推動和諧共贏」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年 1 0 月 3 0 日。

( 2 2 )「温家宝会見越共総書記農徳孟」 『人民日報』 2 0 0 4 年 1 0 月8日。

( 2 3 )「外交部発言人答記者問 東盟“南海地区行為準則”第二次磋商」 『人民日報』 2 0 0 0 年8月 3 1 日。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 2 4 ) “Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea,” November 4, 2002 <http: //www.

aseansec.org/13165.htm>.

( 2 5 )「中国与東盟簽署南海各方行為宣言」 『人民日報』 2 0 0 2 年 1 1 月5日。

( 2 6 ) “Joint Declaration of the Heads of State/Government of the ASEAN and the PRC on Strategic Partnership for Peace and Prosperity,” October 8, 2003 <http: //www.aseansec.org/15266.htm>.

( 2 7 ) “Plan of Action to Implement the Joint Declaration on ASEAN-China Strategic Partnership for Peace and Prosperity,” December 8, 2004

<http: //www.aseansec.org/16806.htm>.

( 2 8 )「中菲越簽署南海地震聯合勘探協議」 『人民日報』 2 0 0 5 年3月 1 7 日、 「中菲越打破僵局開発南海」 『環

球時報』 2 0 0 5 年3月 1 7 日および張学剛「南海:共同開発大歩走」 『世界知識』 2 0 0 5 年第7期、 3 2 ~

3 3 ページ。

( 2 9 )「変争議之海為合作之海(短評) 」 『人民日報』 2 0 0 5 年3月 1 6 日。

( 3 0 ) 王健君・劉新宇「胡錦濤越南之旅詮釈中国周辺戦略」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 5 年第 4 5 期( 1 1 月7日)

5 3 ~ 5 4 ページ。

( 3 1 ) 楊青「正確認識和処理南海権益争端」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年第3期(1月 1 6 日) 3 9 ページ。

( 3 2 ) Joshua P. Rowan, “The U.S.-Japan Security Alliance, ASEAN, and the South China Sea Dispute,” Asian Survey, Vol. 65, No. 3, May/June 2005, pp. 429-431.

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 3 3 ) 鞠海龍「南海問題能 和平解決 」 『世界知識』 2 0 0 7 年第3期、 3 0 ページ。

( 3 4 )「朱鎔基出席東盟有関会議和訪問柬埔砦取得成功」 『人民日報』 2 0 0 2 年 1 1 月5日。

( 3 5 ) 譚再文「南海共同開発的国際政治経済学」 『南洋問題研究』 2 0 0 5 年第3期、 1 3 ページ。

( 3 6 ) 十市勉「中国のエネルギー戦略と日本」 『東亜』 2 0 0 4 年7月号、 1 1 ~ 1 2 ページ。

( 3 7 )「中国、 2 0 1 0 年の石油生産量が2億トンに」 『人民網日本語版』 2 0 0 5 年 1 2 月 1 2 日。

( 3 8 ) 楊青「正確認識和処理南海権益争端」 3 9 ページ。

( 3 9 )「日中共同プレス発表」 (日本国外務省ホームページ 2 0 0 7 年4月 1 1 日)<http: //www.mofa.go.jp/mo-faj/area/china/visit/0704_kh.html>。

(40)「将越中関係推向新高度――訪越南国家主席阮明哲」『人民日報』2007年5月19日。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

(いいだまさふみ 研究部第6研究室主任研究官)

www.nids.go.jp/dissemination/kiyo/pdf/bulletin_j10_1_4.pdf

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Nội tình cuộc gặp lãnh đạo Trung – Việt tại Thành Đô, Trung Quốc 1990

Posted by hoangtran204 trên 12/11/2014

Các bạn cần chú ý: Tại sao cuộc họp này xảy ra ngày 3 và 4 tháng 9, 1990, mà đến nay mới có bài đăng trên “Tạp chí Trung Quốc 《党史纵横》“Đảng sử tung hoành” [4] bản điện tử ngày 26-8-2014.” Sự kiện này có nhằm che dấu điều gì không?

Nội tình cuộc gặp lãnh đạo Trung – Việt tại Thành Đô

Tác giả: Lý Gia Trung
Nguyên Hải  (dịch)
(Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia TPHCM)
7-11-2014

 

141017141720_do_muoi_512x288_xinhua.jpgTháng 11 năm 1991, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt chính thức thăm Trung Quốc, lãnh đạo hai nước ra Thông cáo chung, tuyên bố thực hiện bình thường hóa mối quan hệ Trung –Việt, từ đó kết thúc trạng thái đối lập trong mối quan hệ giữa hai nước kéo dài tới 13 năm. Cần nói rằng để đạt được mục tiêu ấy, cả hai bên đều đã có những cố gắng lớn, trong đó cuộc gặp Thành Đô tháng 9-1990 giữa người lãnh đạo hai nước có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nó đánh dấu điểm ngoặt trong mối quan hệ Trung-Việt, không những san bằng con đường bình thường hóa mối quan hệ này mà còn có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài tới sự tiếp tục phát triển mối quan hệ hai nước.

Thay đổi chính quyền, quan hệ Trung -Việt xuất hiện tia sáng ban mai

Năm 1975 sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc, những người lãnh đạo Việt Nam hồi đó đã không kịp thời hàn gắn các vết thương do chiến tranh mang lại, mà triệt để xa rời đường lối Hồ Chí Minh, đối nội cưỡng chế thi hành cải tạo XHCN quá “tả”, đối ngoại dựa vào sự ủng hộ của Liên Xô, ra sức đẩy mạnh chủ nghĩa bá quyền khu vực, điên cuồng chắp nối lắp ghép “Liên bang Đông Dương”. Dưới sự dẫn dắt của đường lối sai lầm đó, Việt Nam một mặt công khai chống Trung Quốc, một mặt ra sức khống chế Lào, thậm chí phát động xâm lược vũ trang Campuchia. Những việc làm của họ đã đưa nền kinh tế Việt Nam tiến gần tới miệng hố sụp đổ, hoàn cảnh quốc tế bị cô lập chưa từng thấy.

Tháng 7-1986, Tổng Bí thư ĐCSVN Lê Duẩn ốm chết. Tháng 12 cùng năm, tại Đại hội VI ĐCSVN, Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Đảng. Trong thời kỳ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ những năm 60, Nguyễn Văn Linh là thành viên ban lãnh đạo Trung ương Cục Miền Nam ĐCSVN, từng nhiều lần bí mật thăm Trung Quốc, có thái độ thành khẩn hữu hảo đối với Trung Quốc, rất được Mao Chủ tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai đánh giá cao, cho rằng ông là người lãnh đạo kế tục rất có hy vọng của Việt Nam. Nhưng sau khi kháng chiến chống Mỹ kết thúc, Nguyễn Văn Linh không tán thành chính sách đối nội đối ngoại sai lầm của người lãnh đạo đương thời, vì thế ông từng mấy lần bị gạt bỏ. Sau khi lên làm Tổng Bí thư ĐCSVN, Nguyễn Văn Linh khẩn trương uốn nắn toàn bộ cách làm sai lầm của người tiền nhiệm, đề xuất khẩu hiệu Việt Nam cần phải “làm bạn với tất cả các nước”. Ông cho rằng lúc đó Việt Nam có hai nhiệm vụ khẩn thiết nhất là rút quân khỏi Campuchia và cải thiện quan hệ với Trung Quốc.

Thế nhưng Bộ Ngoại giao do Nguyễn Cơ Thạch, – một thân tín của Tổng Bí thư tiền nhiệm, Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nắm giữ – vẫn tiếp tục hành sự theo tư duy của Lê Duẩn, tìm đủ mọi cách can nhiễu và ngăn cản sự bố trí chiến lược của Nguyễn Văn Linh. Là người lãnh đạo mới lên nắm quyền, Nguyễn Văn Linh chưa có cơ sở vững chắc trong tầng lớp quyết sách ở trung ương; một số ý tưởng của ông cũng chưa được nhiều người lãnh đạo hiểu biết và ủng hộ. Trong tình hình đó, làm thế nào mới có thể thực hiện được mục tiêu nói trên là một vấn đề hóc búa và đau đầu nhưng lại tất phải giải quyết.

Cay-xỏn Phôm-vi-hản thăm Trung Quốc ba lần xin gặp Đặng Tiểu Bình thổ lộ điều bí mật

Tháng 10-1989, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng kiêm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản thăm Trung Quốc. Hồi ấy tôi là Trưởng phòng Đông Dương, Vụ Châu Á Bộ Ngoại giao có tham gia công tác tiếp đón. Theo kế hoạch đón tiếp được Trung ương duyệt thì Thủ tướng Lý Bằng sẽ chủ trị hội đàm, Tổng Bí thư Giang Trạch Dân hội kiến và mở tiệc chiêu đãi loại thường (nguyên văn tiện yến). Nhưng phía Lào tha thiết mong muốn đồng chí Đặng Tiểu Bình có thể hội kiến Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Phía Trung Quốc tỏ ý Đặng Tiểu Bình tuổi đã cao, không thể gặp bất cứ khách nước ngoài nào, xin thông cảm. Dù vậy, Cay-xỏn Phôm-vi-hản vẫn kiên trì yêu cầu gặp Đặng Tiểu Bình, tôi nhớ là họ trước sau ba lần đề ra vấn đề này. Trong tình hình đó, qua nhiều lần nghiên cứu, bàn bạc, cuối cùng thỏa thuận mời Đặng Tiểu Bình gặp ngắn gọn có tính nghi lễ. Vì vậy Bộ Ngoại giao cũng không chuẩn bị đề cương chi tiết các điểm chính để tham khảo khi trò chuyện.

Không ngờ hai vị lãnh đạo nói chuyện lâu tới 40 phút, hơn nữa đều nói về những vấn đề có tính thực chất rất quan trọng. Cay-xỏn Phôm-vi-hản thành khẩn thừa nhận trong 10 năm qua mối quan hệ Lào với Trung Quốc ở vào trạng thái không bình thường là do chịu “ảnh hưởng từ bên ngoài”, chuyến thăm Trung Quốc lần này sẽ đánh dấu việc hoàn toàn bình thường hóa quan hệ hai nước. Đồng thời Cay-xỏn Phôm-vi-hản còn chuyển lời hỏi thăm thân thiết của Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Văn Linh tới Đặng Tiểu Bình, nói Việt Nam đã có nhận thức mới đối với tình hình Trung Quốc, thái độ đối với Trung Quốc cũng có thay đổi, còn nói Nguyễn Văn Linh hy vọng Trung Quốc có thể mời ông thăm Trung Quốc.

Đặng Tiểu Bình cũng mời Cay-xỏn Phôm-vi-hản chuyển hộ lời hỏi thăm Nguyễn Văn Linh và nói: “Tôi quen đồng chí Nguyễn Văn Linh từ lâu, tôi biết đồng chí ấy tư duy linh hoạt, rất có lý trí, công tác rất đắc lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng đồng chí ấy. Tôi mong muốn đồng chí Nguyễn Văn Linh quả quyết giải quyết dứt điểm vấn đề Campuchia. Hiện nay tôi đã già, sắp nghỉ hưu, tôi hy vọng trước khi nghỉ hưu hoặc không lâu sau khi tôi nghỉ hưu, vấn đề Campuchia sẽ có thể được giải quyết, mối quan hệ Trung Quốc – Việt Nam khôi phục bình thường, như vậy một nỗi băn khoăn (nguyên văn tâm sự) của tôi sẽ được dẹp bỏ.”

Đặng Tiểu Bình đặc biệt nhấn mạnh Việt Nam phải rút sạch sành sanh quân đội ra khỏi Campuchia. Ông nhờ Cay-xỏn Phôm-vi-hản chuyển những ý kiến đó tới Nguyễn Văn Linh. Ngoài ra Đặng Tiểu Bình còn nói một câu ý vị sâu sắc: “Nguyễn Cơ Thạch, cái người này thích hoạt động lén lút.” Lúc ấy tôi làm công tác ghi chép tại chỗ, cảm thấy câu này dường như buột miệng nói ra, nhưng trọng lượng rất nặng. Theo tôi hiểu, câu nói ấy muốn bảo Nguyễn Văn Linh rằng Trung Quốc đã mất niềm tin với Nguyễn Cơ Thạch, cho dù là giải quyết vấn đề Campuchia hay thực hiện bình thường hóa mối quan hệ Trung – Việt đều không thể hy vọng và dựa vào Nguyễn Cơ Thạch.

Nguyễn Văn Linh tiếp Đại sứ Trung Quốc để tỏ ý hữu hảo

Cay-xỏn Phôm-vi-hản trên đường về nước có dừng lại ngắn ngày ở Việt Nam, ông đã kịp thời và toàn diện chuyển tới Nguyễn Văn Linh lời nhắn của Đặng Tiểu Bình. Nghe xong, Nguyễn Văn Linh rất coi trọng, càng có hiểu biết thiết thân về “hoạt động lén lút” của Nguyễn Cơ Thạch. Ông hiểu rằng muốn cải thiện quan hệ Việt –Trung trước hết phải giải quyết vấn đề Campuchia, mà giải quyết vấn đề Campuchia như thế nào thì phải bàn với Trung Quốc. Ông còn ý thức được rằng Đặng Tiểu Bình tuy đã gửi lời nhắn nhưng lại không đưa ra lời mời mình thăm Trung Quốc. Trong tình hình đó làm cách nào để thực hiện thăm Trung Quốc là vấn đề ông cần gấp rút giải quyết.

Ngày 5-6-1990, qua sự nỗ lực của nhiều bên, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã hội kiến Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam Trương Đức Duy tại Nhà khách Trung ương ĐCSVN. Trước tiên Nguyễn Văn Linh nhờ Đại sứ Trương chuyển lời hỏi thăm của ông tới các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Lý Bằng. Nguyễn Văn Linh nói, trong thời kỳ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, ông từng nhiều lần đi Trung Quốc, đã gặp Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai, các đồng chí Đặng Tiểu Bình v.v… Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai, đồng chí Đặng Tiểu Bình là người cùng thế hệ với Hồ Chủ tịch; Nguyễn Văn Linh là học trò của họ. Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến cũng như trong nhà tù của kẻ địch, ông luôn luôn học tập và nghiên cứu các trước tác của Mao Chủ tịch bàn về cách mạng dân tộc dân chủ, được lợi không ít. Trong thời kỳ Việt Nam chống Pháp, chống Mỹ, Trung Quốc đã viện trợ to lớn cho Việt Nam về mọi mặt, cả đến gạo, bánh quy nén, dưa chua, đều do Trung Quốc giúp. Hơn nữa Trung Quốc cũng giúp Việt Nam rất nhiều về chiến lược và tư tưởng chỉ đạo, thí dụ Việt Nam làm chiến tranh nhân dân là học tư tưởng chiến tranh nhân dân của Mao Chủ tịch rồi vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Có thể nói nếu không có sự viện trợ của Trung Quốc thì Việt Nam không thể đánh bại đế quốc Mỹ.

Nguyễn Văn Linh nói, sau khi kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, toàn quốc thống nhất, Việt Nam lẽ ra nên tập trung lực lượng xây dựng kinh tế, nhưng đã xuất hiện tình hình khó khăn và phức tạp không ngờ tới, mười mấy năm nay Việt Nam càng gian khổ hơn thời kỳ chống Mỹ, đời sống ngày càng khó khăn, đặc biệt là mối quan hệ Việt –Trung xuất hiện khó khăn. Ông nói rằng Việt Nam đã làm một số việc không tốt với Trung Quốc. Ông luôn chủ trương làm sai thì phải sửa. Mong các đồng chí Trung Quốc thông cảm và bỏ qua những chuyện về mặt này, chuyện đã qua rồi thì để nó qua đi thôi. Việc quan trọng hơn trước mắt là làm tốt mối quan hệ giữa hai nước hiện nay và sau này.

Nguyễn Văn Linh nói tình hình quốc tế đang thay đổi mạnh, tình thế ở Đông Âu diễn biến rất phức tạp, tình thế Liên Xô cũng rất nghiêm trọng. Bọn đế quốc dốc sức can thiệp, ra sức làm diễn biến hòa bình, mơ tưởng một lần tiêu diệt chủ nghĩa xã hội. Trước kia mọi người nói Liên Xô là thành trì của hòa bình thế giới, nhưng hiện nay thành trì này đang lung lay. Trung Quốc là một nước lớn, Đảng Trung Quốc là một đảng lớn, lại kiên định đi con đường XHCN. Trong tình hình hiện nay, Trung Quốc có địa vị và tác dụng đặc biệt quan trọng. Chúng tôi cần Trung Quốc giơ ngọn cờ XHCN. Hai nước Việt Nam – Trung Quốc là láng giềng XHCN. Việt Nam là nước nhỏ, Đảng Việt Nam là đảng nhỏ, rất cần có sự ủng hộ và giúp đỡ của một nước lớn, đảng lớn như Trung Quốc. Nguyễn Văn Linh nói đây là lời thực lòng của ông.

Nguyễn Văn Linh nói, vấn đề Campuchia dù thế nào cũng phải giải quyết một cách hòa bình, Campuchia trong tương lai không nên thân phương Tây, cũng không được để phương Tây và Liên Hợp Quốc can thiệp quá sâu. Bởi vậy hai phía Việt Nam – Trung Quốc có thể hợp tác với nhau, từ bên trong thúc đẩy Pol Pot, Ieng Sary hòa giải với Heng Samrin, Hun Sen, đối ngoại vẫn có thể theo con đường thương lượng giữa các bên hiện nay. Ý tưởng gạt bỏ Khmer Đỏ là không thực tế.

Nguyễn Văn Linh tỏ ý ông rất muốn gặp mặt các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc cao nhất để trao đổi ý kiến một cách thấu triệt, như anh em với nhau, có thể không câu nệ nghi lễ ngoại giao. Ông nói, kinh nghiệm lịch sử cho thấy người lãnh đạo cao nhất hai nước trực tiếp nói chuyện với nhau thì dễ hiểu biết thông cảm lẫn nhau và đạt được nhất trí, cũng có thể giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng. Nguyễn Văn Linh còn nói, ông đã nhiều tuổi, muốn trước khi nghỉ hưu có thể bàn bạc cùng với người lãnh đạo Trung Quốc giải quyết xong dứt điểm vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ Việt –Trung.

Khi hội kiến, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng có mặt, nhưng nội dung nói chuyện hoàn toàn khác với luận điệu cũ rích chống Trung Quốc của Nguyễn Cơ Thạch. [Tôi] đoán rằng việc bố trí Nguyễn Cơ Thạch dự hội kiến rất có thể có dụng ý là để ông ta mặt đối mặt nghe xem rốt cuộc Tổng Bí thư nói gì, cũng có thể lúc ấy [Tổng Bí thư] còn có chút hy vọng với ông ta, dành cho ông ta cơ hội thay đổi cách làm việc. Dĩ nhiên cũng chính là do Nguyễn Cơ Thạch có mặt nên Nguyễn Văn Linh chưa nói sâu sắc, thấu triệt hơn.

Sau khi kết thúc cuộc hội kiến, Đại sứ Trương lập tức báo cáo cho bên nhà biết chi tiết nội dung cuộc nói chuyện của Nguyễn Văn Linh và thỉnh thị trong nước có chỉ thị gì. Bên nhà nghiên cứu kỹ rồi nhanh chóng trả lời rằng hãy cứ yêu cầu Việt Nam rút nhanh quân đội ra khỏi Campuchia và giải quyết ổn thỏa vấn đề liên hợp hai bên đối lập ở Campuchia sau khi rút quân, tức chính quyền Phnom Penh với ba phái lực lượng chống đối, sau đó sẽ từng bước thu xếp suôn sẻ cuộc gặp cấp cao giữa nhà lãnh đạo hai nước. Trong tình hình đó, làm cách nào để phá vỡ thế bí, thực hiện cuộc gặp với lãnh đạo Trung Quốc là vấn đề đòi hỏi Nguyễn Văn Linh suy nghĩ rất lung.

Một nhân vật bí ẩn xuất hiện ở Sứ quán cho xem mật thư

Sáng ngày 16-8-1990, một cán bộ họ Hoàng của Viện Khoa học xã hội Việt Nam đến trước cổng Đại sứ quán Trung Quốc. Ông nói với nhân viên tiếp đón của Sứ quán là có việc cần gặp Đại sứ Trương. Đại sứ đã tiếp ông này tại phòng khách Sứ quán. Vì Đại sứ Trương thạo tiếng Việt nên hai người nói chuyện không cần phiên dịch. Hoàng nói nhà ông ở gần nhà Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, tối ngày 13/8 Tổng Bí thư cho xe đón ông đến nhà nói chuyện một giờ đồng hồ. Tổng Bí thư nói ông vốn dĩ muốn một lần nữa hẹn gặp Đại sứ Trương nhưng Bộ Ngoại giao ngăn cản, nói là không cần thiết. Vì vậy Tổng Bí thư nhờ Hoàng nhắn miệng tới Đại sứ Trương.

Nói đoạn, Hoàng lấy từ túi áo ra một mảnh giấy viết thư gập lại rất nhỏ và giải thích đây là những điều ông ghi lại lời của Tổng Bí thư, đã được Tổng Bí thư soát lại không có gì sai. Trong đó có đoạn nói:

Tháng 10 năm ngoái, đồng chí Cay-xỏn chuyển tới tôi lời hỏi thăm của đồng chí Đặng Tiểu Bình và lời nhắn miệng nói đồng chí hy vọng trong những năm còn sống được thấy quan hệ Trung Quốc – Việt Nam bình thường hóa, tôi rất hoan nghênh những điều đó. Cũng vậy, tôi tha thiết mong muốn trong nhiệm kỳ tôi chủ trì Trung ương ĐCSVN khóa VI có thể khôi phục quan hệ Việt Nam – Trung Quốc để từ Đại hội VII sắp họp sẽ bắt đầu một giai đoạn mới trong quan hệ giữa hai nước. Làm được việc này tôi mới xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Việt Nam và đảng viên ĐCSVN dành cho tôi.

“Sở dĩ vấn đề Campuchia trở ngại ấy cãi nhau mãi chưa thể giải quyết là do Nguyễn Cơ Thạch luôn luôn làm chệch hướng việc này. Tôi cho rằng hiện nay người lãnh đạo hai nước cần phải bàn bạc trực tiếp và đi sâu, nhằm thanh toán hết mọi hiểu lầm và loại bỏ sự can thiệp của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Tôi tin rằng những người cộng sản chân chính của hai nước đều xuất phát từ hy vọng tha thiết bảo vệ CNXH và khôi phục tình hữu nghị trong sáng chân thành giữa hai nước để tiến hành gặp gỡ, vấn đề Campuchia nhất định có thể nhanh chóng được giải quyết. Nếu các đồng chí Trung Quốc cũng có quan điểm như vậy thì đề nghị gửi lời mời nội bộ, tôi sẽ lập tức bí mật đi Trung Quốc.

Để việc thảo luận tiến hành được chắc chắn tin cậy, để sau khi về nước tôi có thể thuyết phục có hiệu quả tập thể Ban Chấp hành trung ương và Bộ Chính trị ĐCSVN, tốt nhất nên có hai đồng chí Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng cùng tôi đi Trung Quốc.”

Điểm xuất phát tôi yêu cầu đi thăm Trung Quốc nội bộ là để đích thân thâm nhập nghe ý kiến của các đồng chí Giang Trạch Dân, Đặng Tiểu Bình, Lý Bằng, cũng là để các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc đích thân thâm nhập hiểu rõ cá nhân tôi. Hai bên cùng nhau thành khẩn tìm ra phương án giải quyết tốt nhất một loạt vấn đề, trước hết là vấn đề Campuchia. Trước mắt tôi có khó khăn nhất định nhưng tôi có niềm tin.

Nếu được các đồng chí Trung Quốc ủng hộ và giúp đỡ, tôi sẽ đi theo đường lối của Hồ Chủ tịch, thuận lợi tiến chắc tới mục tiêu trên phương diện xây dựng tình hữu nghị Việt-Trung tốt đẹp, bảo vệ CNXH và lợi ích cách mạng chung.”

Đỗ Mười mà Nguyễn Văn Linh nhắc tới là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) Việt Nam, Phạm Văn Đồng là cựu Thủ tướng Việt Nam, bấy giờ làm Cố vấn Trung ương Đảng.

Hoàng giải thích, ông hiểu ý của Tổng Bí thư là: do Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ngấm ngầm gây bế tắc, tiến trình Việt Nam – Trung Quốc giải quyết vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ hai nước bị cản trở, bởi thế Tổng Bí thư muốn đi vòng qua Nguyễn Cơ Thạch và Bộ Ngoại giao do ông ấy nắm, lãnh đạo cao nhất hai nước trực tiếp gặp nhau, sau khi bàn bạc quyết định vấn đề rồi có thể ra lệnh cho Bộ Ngoại giao quán triệt chấp hành.

Tiễn đưa Hoàng xong, việc đầu tiên Đại sứ Trương vội làm là lập tức báo cáo trong nước biết các ý kiến Nguyễn Văn Linh nhờ Hoàng chuyển giúp. Nhưng đồng thời [Đại sứ] cần xem xét một vấn đề là Đại Sứ quán có nên đề xuất với trong nước quan điểm và kiến nghị của mình hay không. Chỗ khó là bên nhà vừa mới trả lời rõ ràng yêu cầu đi thăm nội bộ Trung Quốc do Nguyễn Văn Linh đề ra hôm mồng 5 tháng 6, tức đòi phía Việt Nam trước tiên phải giải quyết vấn đề rút quân khỏi Campuchia và xúc tiến việc thành lập sự liên hợp hai bên đối lập ở Campuchia, rồi mới thu xếp cuộc gặp người lãnh đạo hai nước. Trong tình hình này, nếu lặp lại ý kiến của bên nhà thì coi như không nêu ra kiến nghị nữa; nhưng nếu đưa ra kiến nghị khác với ý kiến bên nhà thì liệu có bị hiểu nhầm là chủ trương ngược lại với trong nước chăng?

Vì việc đó, chiều hôm ấy khi vừa bắt đầu giờ làm việc, Đại sứ Trương gọi tôi và hai Bí thư thứ nhất cùng bàn bạc. Qua thảo luận, Đại sứ Trương và chúng tôi nhất trí cho rằng chức trách của Đại Sứ quán là đứng gác cho trong nước, làm tốt nhiệm vụ tham mưu. Phúc đáp lần trước của trong nước rõ ràng là đúng, nhưng hiện giờ xuất hiện tình hình mới, Nguyễn Văn Linh quyết kế đi vòng qua Nguyễn Cơ Thạch để tiến hành bàn bạc chân thành có tính thực chất với người lãnh đạo nước ta; vì vậy Đại Sứ quán nên căn cứ tình hình mới, mạnh dạn nêu ra kiến nghị mới. Thế là Sứ quán trịnh trọng kiến nghị bên nhà tích cực xem xét việc Nguyễn Văn Linh một lần nữa nêu yêu cầu thăm Trung Quốc nội bộ.

Đại sứ Trương thi hành diệu kế đến thăm Bộ Quốc phòng

Đêm 19 tháng 8, Sứ quán nhận được trả lời của trong nước. Bên nhà chỉ thị Đại sứ Trương tìm cách tránh Bộ Ngoại giao Việt Nam, gặp người tin cậy ở bên cạnh Nguyễn Văn Linh đề xuất Đại sứ muốn sớm gặp riêng Tổng Bí thư để trực diện tìm hiểu ý đồ thật sự của Tổng Bí thư; có kết quả gì lập tức báo cáo trong nước. Không còn nghi ngờ gì nữa, đối với Đại sứ, đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu và vượt trên tất cả mọi nhiệm vụ khác, nhưng chẳng nói cũng rõ mức độ khó khăn của công việc này.

8 giờ sáng ngày 20, Đại sứ Trương triệu tập cuộc họp mở rộng Đảng ủy Sứ quán nghiên cứu cách thực hiện chỉ thị của trong nước, nhưng chẳng ai đề ra được kế sách hay nào. Mọi người đều rõ, trong suốt những năm 80, Việt Nam luôn luôn coi Trung Quốc là “kẻ địch trực tiếp nhất, nguy hiểm nhất”, các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh truyền hình đều phát đi những nội dung chống Trung Quốc; trong các buổi chiêu đãi và mọi nghi thức ngoại giao, bất cứ quan chức Việt Nam nào cũng không dám nói chuyện với quan chức ngoại giao Trung Quốc. Trong tình hình như vậy, chưa nói việc chẳng có cách nào tìm gặp được người tin cậy ở bên Nguyễn Văn Linh mà ngay cả chuyện ai là người tin cậy ở bên Tổng Bí thư, cũng không ai biết.

Trong tình hình tìm không ra manh mối nào, mọi người không hẹn mà cùng nhớ tới một chuyện. Đó là ngày 6 tháng 6, tức sau hôm Nguyễn Văn Linh gặp Đại sứ Trương, Đại tướng Lê Đức Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam có gặp riêng và mời cơm Đại sứ Trương. Ngoài việc giải thích thêm tinh thần câu chuyện Nguyễn Văn Linh nói hôm mồng 5 ra, Lê Đức Anh còn nói không ít những lời hữu nghị với Trung Quốc. Thế là Đại sứ Trương quyết định thử dùng kênh thông qua Bộ Quốc phòng và Lê Đức Anh xem sao; ông chỉ thị Tùy viên quân sự Sứ quán là Thượng tá Triệu Nhuệ lập tức hành động.

Quả nhiên Đại tướng Lê Đức Anh rất vui lòng gặp Đại sứ Trương. Tám giờ sáng ngày 21, Đại sứ Trương đi một chiếc xe con không cắm quốc kỳ đến Bộ Quốc phòng Việt Nam. Lê Đức Anh thân mật bắt tay, ôm vai Đại sứ Trương và nói Đại sứ muốn gặp ông lúc nào ông đều hoan nghênh cả. Đại sứ Trương đi thẳng ngay vào vấn đề, tóm tắt kể lại một lượt việc hôm trước Hoàng Nhật Tân chuyển tới Đại sứ những lời của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, ngỏ ý bản thân Đại sứ rất muốn trực diện nghe ý kiến của Tổng Bí thư, hy vọng Lê Đức Anh liên hệ giúp. Lê tỏ ý sẽ lập tức làm ngay việc này.

Chiều hôm ấy Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam Vũ Xuân Vinh khẩn cấp hẹn gặp Tùy viên quân sự Sứ quán Trung Quốc Triệu Nhuệ và báo cho biết: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh sẽ hội kiến Đại sứ Trương vào 7 giờ 30 tối ngày 22 tại Nhà khách Bộ Quốc phòng, hai bên đều không mang theo phiên dịch viên, kiến nghị Đại sứ Trương đi xe khác, không cắm quốc kỳ. Vũ còn nói việc này chỉ có ông và Trưởng phòng Vũ Tần của Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam biết, những người khác đều không biết. Sau khi về Sứ quán, Tùy viên Triệu lập tức báo cáo Đại sứ Trương.

Có những sự việc không hẹn mà gặp nhau. Vợ chồng Đại sứ Trương vốn dĩ đã ấn định 6 giờ 30 tối ngày 22 mời cơm vợ chồng Đại sứ Malaysia, trước đó đã gửi thiếp mời. Để không thất lễ mà lại có thể bảo đảm đúng giờ đi gặp Nguyễn Văn Linh, Đại sứ quyết định giả vờ ốm, để tôi và phu nhân Đại sứ tiếp khách dùng cơm. Tối hôm ấy vợ chồng Đại sứ Malaysia đúng giờ đến Đại Sứ quán. Sau khi vào phòng khách, họ thấy Đại sứ Trương vẻ thiểu não đang ngồi trên ghế được người phiên dịch và nhân viên tiếp tân dìu đứng dậy, mệt nhọc nói: “Xin chào Đại sứ và phu nhân. Rất xin lỗi các ngài là cái bệnh Meniere [2] của tôi lại tái phát, làm cho tôi bị nhức đầu buồn nôn, vì thế tôi chỉ có thể tiếp các ngài được một lúc thôi ạ. Ông Lý, Tham tán Chính trị của Đại Sứ quán và phu nhân của tôi sẽ tiếp ngài Đại sứ và phu nhân dùng cơm.” Nghe nói vậy, Đại sứ Malaysia rất cảm động, ông nói: “Ngài Đại sứ đang đau ốm mà vẫn ra đón khách, chúng tôi thật không phải với ngài. Xin mời Đại sứ về nghỉ ngơi, chúc ngài sớm bình phục.” Nói đoạn, ông thân chinh dìu Đại sứ Trương đứng dậy, hai người bắt tay tạm biệt. Vừa ra khỏi phòng khách, Đại sứ Trương rảo bước đi tới chiếc xe đang chờ sẵn trong sân. Chiếc Toyota màu đen phóng ngay tới Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Nguyễn Văn Linh bí mật gặp Đại sứ Trương

Khi gặp Đại sứ Trương, trước tiên Nguyễn Văn Linh khẳng định ông đã nhờ Hoàng Nhật Tân là con trai Hoàng Văn Hoan chuyển lời nhắn tới Đại sứ Trương, nội dung cũng chính xác không có gì sai cả. Nguyễn Văn Linh nói bản thân ông trước nay đều cho rằng Việt Nam nên giữ quan hệ tốt với Trung Quốc. Năm 1976, tại Đại hội IV ĐCSVN, vì không đồng ý với một số biện pháp làm xấu mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc của chính quyền hồi ấy mà ông bị lên án là “hữu khuynh”. Năm 1982 tại Đại hội V ĐCSVN lại vì ông chủ trương trong giai đoạn hiện nay Việt Nam nên cho phép đồng thời tồn tại nhiều thành phần kinh tế và không đồng ý với chính sách chống Trung Quốc mà bị chèn ép ra khỏi Bộ Chính trị. Hồi ấy ông rất khó hiểu tại sao lại áp dụng thái độ như vậy với Trung Quốc. Nếu Bác Hồ còn thì nhất định sẽ không xuất hiện những chuyện kỳ quặc như thế. Nguyễn Văn Linh còn nói, chính sách của Việt Nam đối với Hoa kiều và người Hoa cũng sai lầm. Hoa kiều và người Hoa có đóng góp quý giá cho cách mạng Việt Nam, sau khi chiến thắng, Việt Nam lại kỳ thị họ, xua đuổi họ, thật là không có tình có lý.

Nguyễn Văn Linh nói, năm 1986, sau khi nhận nhiệm vụ Tổng Bí thư ĐCSVN ông quyết tâm vượt qua mọi sức cản, từng bước uốn nắn các sai lầm trước đây, khôi phục mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Trước hết là thuyết phục Trung ương ĐCSVN kiến nghị Quốc hội xóa bỏ các nội dung có liên quan chống Trung Quốc viết trong Hiến pháp. Tiếp đó lại làm các công việc trên nhiều mặt, cuối cùng ra được quyết định rút quân khỏi Campuchia. Nguyễn Văn Linh nói, trong tình hình quốc tế hiện nay, đối với Việt Nam, việc xây dựng, phát triển tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với Trung Quốc, trung tâm XHCN kiên cường này, rõ ràng là một nhiệm vụ càng quan trọng và bức thiết. Bởi vậy, ông có một nguyện vọng lớn nhất là thực hiện được việc bình thường hóa mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc vào trước Đại hội VII ĐCSVN năm 1991. Đây sẽ là một việc lớn làm phấn chấn lòng người đối với toàn đảng và toàn dân Việt Nam.

Về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh nói ông hiểu rõ tính chất quan trọng và bức thiết của việc giải quyết vấn đề này. Lẽ ra hai bên Việt Nam và Trung Quốc thông qua con đường ngoại giao để bàn bạc giải quyết vấn đề này là tốt nhất và suôn sẻ nhất. Nhưng do Nguyễn Cơ Thạch và Bộ Ngoại giao do ông ta nắm có ý đồ gây rối, hiện nay con đường này rất khó đi. Vì vậy ông nghĩ bản thân ông phải đi Bắc Kinh trực tiếp hội đàm với Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng, cùng bàn bạc phương án giải quyết tốt nhất. Nguyễn Văn Linh nói, trên vấn đề Campuchia, Nguyễn Cơ Thạch có quan điểm không nhất trí với phần lớn các Ủy viên Bộ Chính trị, ông ta luôn luôn làm sai lệch công việc. Nguyễn Văn Linh còn nói, những cuộc gặp cá nhân như cuộc gặp Đại sứ Trương hôm nay không nên quá nhiều. Nếu Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng mời ông và Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đi Trung Quốc thì đề nghị Đại sứ Trương trực tiếp đề xuất với Bộ Ngoại giao Việt Nam ý định đồng thời gặp Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Chủ tịch Nhà nước Võ Chí Công, trực diện chuyển ý kiến của người lãnh đạo Trung Quốc, làm như vậy sẽ ổn thỏa hơn.

Đại sứ Trương cảm ơn Nguyễn Văn Linh đã tiếp và tỏ ý sẽ lập tức báo cáo trong nước biết nội dung cuộc nói chuyện của ông.

Gặp gỡ bí mật Thành Đô

Chiều 28 tháng 8 năm 1990, Sứ quán nhận được chỉ thị của trong nước, đề nghị Đại sứ Trương chuyển lời tới Nguyễn Văn Linh: Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười tiến hành thăm nội bộ Trung Quốc từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9, cũng hoan nghênh Cố vấn Trung ương ĐCSVN Phạm Văn Đồng đồng thời cùng đi. Hiện nay thời cơ giải quyết chính trị vấn đề Campuchia đã chín muồi, hai phía Trung Quốc – Việt Nam cần cùng nhau cố gắng xúc tiến giải quyết thật nhanh vấn đề này và sớm thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung – Việt. Do Á Vận Hội sắp sửa tiến hành tại Bắc Kinh, vì để tiện giữ bí mật, địa điểm hội đàm sẽ thu xếp tại Thành Đô, Tứ Xuyên.

Đại sứ Trương Đức Duy lập tức họp hội nghị mở rộng Đảng ủy Sứ quán nghiên cứu tìm cách nhanh chóng nhất chuyển thông tin quan trọng của trong nước tới Nguyễn Văn Linh. Nhờ đã có kinh nghiệm lần trước nên lần này mọi người ít nhiều đã có chút vững tâm, quyết định vẫn cứ để Tùy viên quân sự Triệu Nhuệ liên hệ với Bộ Quốc phòng Việt Nam. Thế là 8 giờ sáng ngày 29, một lần nữa Đại sứ Trương gặp Lê Đức Anh, đề nghị ông giúp đỡ thu xếp để Đại sứ Trương trực tiếp báo cáo Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh biết thông tin quan trọng đến từ Bắc Kinh.

Một tiếng đồng hồ sau, Trưởng phòng Vũ Tần thuộc Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam hẹn gặp Tùy viên quân sự Triệu Nhuệ, chuyển đạt lời nhắn miệng của Lê Đức Anh nói Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ấn định 4 giờ chiều hôm ấy sẽ cùng Chủ tịch Đỗ Mười tiếp Đại sứ Trương. Để thể hiện cuộc hội kiến này được liên hệ qua kênh chính thức, Tổng Bí thư kiến nghị Đại sứ quán Trung Quốc chính thức nêu yêu cầu với Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN, nói rằng Đại sứ Trương có việc khẩn cấp hy vọng được hội kiến Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và các đồng chí lãnh đạo Việt Nam khác trong cùng ngày. Căn cứ theo sự gợi ý của Nguyễn Văn Linh, 1 giờ chiều hôm đó Đại sứ Trương đến gặp Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN Trịnh Ngọc Thái nêu ra yêu cầu nói trên.

Qua sự bố trí của Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN, 4 giờ chiều Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười hội kiến Đại sứ Trương tại Phòng khách Trung ương ĐCSVN. Đại sứ Trương chuyển tới Nguyễn và Đỗ ý kiến của Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng mời hai đồng chí thăm Trung Quốc nội bộ. Nguyễn và Đỗ đều rất vui mừng nhận lời mời, đồng ý với thời gian và địa điểm cuộc gặp do phía Trung Quốc đề xuất và nói sẽ lập tức báo cáo Bộ Chính trị Trung ương ĐCSVN, nhanh chóng xác định danh sách nhân viên đi theo và bắt tay làm công tác chuẩn bị. Nguyễn Văn Linh còn nói, nếu tình hình sức khỏe cho phép thì đồng chí Phạm Văn Đồng cũng sẽ nhất định nhận lời mời cùng đi. Sau khi về Sứ quán, Đại sứ Trương lập tức báo cáo trong nước biết tình hình cuộc gặp chiều nay.

Ngày 30, trong nước thông báo cho Sứ quán biết thu xếp lịch trình đại thể của lần gặp gỡ này, đó là: sáng ngày 3 tháng 9, chuyên cơ Việt Nam rời Hà Nội, 1 giờ trưa đến Thành Đô, buổi chiều lãnh đạo hai bên hội đàm, buổi tối phía Trung Quốc mở tiệc chiêu đãi. Sáng ngày 4 tháng 9 tiếp tục hội đàm, buổi chiều chuyên cơ Việt Nam rời Thành Đô về nước. Sau khi thỉnh thị và được trong nước đồng ý, Đại sứ Trương sẽ cùng đáp chuyến chuyên cơ Việt Nam đi Thành Đô và tham gia hội đàm.

Sáng ngày 3, tôi đi xe của Đại sứ Trương đến sân bay quốc tế Nội Bài Hà Nội, vừa để tiễn Đại sứ Trương vừa cũng là để tiễn đoàn Nguyễn Văn Linh. Phía Việt Nam tất cả có 15 người đi chuyến này, ngoài Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng ra, các nhân viên chủ yếu cùng đi còn có Chánh Văn phòng Trung ương ĐCSVN Hồng Hà (Ủy viên Trung ương Đảng), Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN Hoàng Bích Sơn (Uỷ viên Trung ương Đảng), Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm (Uỷ viên Trung ương Đảng), còn lại là các nhân viên công tác. Khi xe của Đại sứ Trương tới gần sân bay thì thấy một xe con kiểu bình thường màu đen chạy sau xe chúng tôi, ngoảnh lại nhìn, vì xe không treo màn cửa nên có thể thấy rõ người ngồi bên trong là Nguyễn Văn Linh, bên cạnh người lái xe có một cán bộ bảo vệ. Có thể thấy Nguyễn Văn Linh vẫn giữ tác phong giản dị như thế của Hồ Chí Minh. Xe chúng tôi lập tức chạy chậm lại nhường đường cho xe Nguyễn Văn Linh. Tại sân bay không làm bất kỳ nghi lễ tiễn đưa nào, đoàn Nguyễn Văn Linh và Đại sứ Trương lên máy bay xong, chuyên cơ liền cất cánh.

Sau khi từ Thành Đô trở về, Đại sứ Trương cho chúng tôi biết cuộc gặp lãnh đạo hai nước chủ yếu thảo luận cách giải quyết chính trị vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ bình thường Trung Quốc – Việt Nam. Về vấn đề Campuchia, hai bên chú trọng bàn về thành viên Ủy ban Tối cao cơ quan quyền lực lâm thời Campuchia [SNC], tức phương án phân phối quyền lực sau khi Việt Nam rút quân. Phía Trung Quốc đề xuất Ủy ban này gồm 13 thành viên, ngoài Sihanouk làm Chủ tịch ra, chính quyền Phnompenh cử 6 đại biểu, phía lực lượng chống đối gồm ba phái Campuchia Dân chủ (tức Khmer Đỏ), Ranaridh và Son Sann mỗi phái 2 đại biểu, tổng cộng 6 đại biểu. Nguyễn Văn Linh tỏ ý có thể tiếp thu phương án này của phía Trung Quốc; Đỗ Mười cho rằng bản thân Sihanouk cũng thuộc lực lượng chống đối, như vậy tỷ lệ hai bên là 6 so với 7, phía lực lượng chống đối nhiều hơn 1 ghế, dự đoán phía chính quyền Phnom Penh khó tiếp thu phương án này; Phạm Văn Đồng thì nói phương án của phía Trung Quốc đã không công bằng lại cũng không hợp lý. Cuối cùng phía Việt Nam đồng ý dựa vào phương án của phía Trung Quốc để làm công tác thuyết phục phía Phnom Penh.

Về mối quan hệ Trung Quốc – Việt Nam, hai bên đều có thái độ nhìn về phía trước, không rà lại các món nợ cũ. Lãnh đạo hai nước đều đồng ý dựa theo tinh thần “Kết thúc quá khứ, mở ra tương lai” viết một chương mới trong mối quan hệ Trung – Việt. Khi kết thúc cuộc gặp, lãnh đạo hai nước đã ký kết “Biên bản Hội đàm”. Tổng Bí thư Giang Trạch Dân còn ý vị sâu xa trích dẫn hai câu thơ của Giang Thủy, nhà thơ đời Thanh: “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, tương kiến nhất tiếu mẫn ân cừu [tạm dịch: Qua kiếp nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù]”. Tối hôm ấy Nguyễn Văn Linh xúc động viết bốn câu thơ: “Huynh đệ chi giao số đại truyền, oán hận khoảnh khắc hóa vân yên, tái tương phùng thời tiếu nhan khai, thiên tải tình nghị hựu trùng kiến.” [3]

Để bảo đảm cuộc gặp thành công, Tỉnh ủy Tứ Xuyên và Văn phòng Đối ngoại đã làm rất nhiều công việc tổ chức và chuẩn bị. Nghe nói họ đã phải đưa đi nơi khác tất cả các khách trọ ở nhà khách Kim Ngưu, để dành nơi này đón các vị khách Việt Nam ở trong hai ngày hội đàm. Đồng thời hai bên Trung Quốc – Việt Nam thương lượng giữ bí mật về cuộc hội đàm này, không phát bất cứ tin tức nào ra bên ngoài.

16 chữ vàng của mối quan hệ Trung Quốc -Việt Nam

Một năm sau cuộc gặp Thành Đô, tháng 11 năm 1991, tân Tổng Bí thư ĐCSVN Đỗ Mười và tân Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt thăm Trung Quốc. Lãnh đạo hai nước ra Thông cáo chung, tuyên bố thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung Quốc – Việt Nam.

Tháng 2-1999 lãnh đạo Trung Quốc – Việt Nam ra “Tuyên bố chung” xác định bộ khung phát triển mối quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, nói tóm tắt là 16 chữ “Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”. Các quan chức và học giả Việt Nam nói đây là “16 chữ vàng”.

Tháng 7 và tháng 11 năm 2005, lãnh đạo cấp cao hai nước Trung Quốc – Việt Nam đi thăm lẫn nhau, làm phong phú hơn nữa nội hàm của “16 chữ”, không ngừng nâng cao mối quan hệ láng giềng hữu hảo và hợp tác toàn diện lên mức độ mới, khiến cho hai quốc gia và nhân dân hai nước mãi mãi làm láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đánh dấu mối quan hệ ngoại giao hữu hảo Trung Quốc – Việt Nam được đẩy lên một chặng đường mới.

Nguồn: Tạp chí Trung Quốc 《党史纵横》“Đảng sử tung hoành” [4] bản điện tử ngày 26-8-2014.

__________________________

[1] Tác giả bài viết này có lẽ là Lý Gia Trung, từng 4 lần làm việc ở Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, lần cuối cùng làm Đại sứ. Lý học tiếng Pháp tại Trung Quốc, tiếng Việt tại ĐH Tổng hợp Hà Nội, là tác giả sách Hồ Chí Minh, một cuộc đời huyền thoại xuất bản năm 2011 ở Trung Quốc (ND).

[2] Bệnh Meniere là một rối loạn ở tai trong, gây ra chóng mặt và ù tai (ND).

[3] Chúng tôi đoán ông Nguyễn Văn Linh viết 4 câu này bằng tiếng Việt, đây chỉ là lời dịch của phía Trung Quốc “兄弟之交数代传,怨恨顷刻化云烟,再相逢时笑颜开,千载情谊又重建”. Dịch ngược lại tất nhiên không đúng với nguyên văn tiếng Việt. Tạm dịch ý: Tình anh em truyền bao đời, trong khoảnh khắc mọi oán hận tan thành mây khói, khi gặp nhau nở nụ cười, xây đắp lại tình hữu nghị muôn đời(ND).

[4] Tạp chí “Đảng sử tung hoành” ra đời năm 1988, do Phòng Nghiên cứu lịch sử đảng của Tỉnh ủy Liêu Ninh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy Liêu Ninh, Cục Lão cán bộ Tỉnh ủy Liêu Ninh phụ trách; tạp chí ra hàng tháng, có tính chất tổng hợp và thông tục, được phát hành công khai cho bạn đọc trong và ngoài Trung Quốc. (ND)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »