Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười 27th, 2014

►Bill Hayton: chứng minh rằng những yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông của Tàu Cộng dựa trên chứng cứ lịch sử là rác rưởi- sách mới xuất bản “Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu”

Posted by hoangtran204 trên 27/10/2014

Ngược lại, đảng CSVN đã xem Biển Đông, HS và TS thuộc chủ quyền của TQ. Lý do: đảng CSVN và nhà nước đã trao đổi Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Cộng  lấy vũ khí để chiếm Miền Bắc 1954 và “giải phóng” Miền Nam 1975, cho nên, những ai biểu tình phản đối TQ xâm lăng vùng biển đảo này (hoặc cho rằng vùng này  là của VN) đều bị  đảng CSVN và nhà nước thù ghét coi như kẻ thù.

Vì đưa bênh vực cho Việt Nam và đưa ra chứng cớ lịch sử Biển Đông, HS và TS thuộc chủ quyền của VN từ triều Nguyễn 1802, Bill Hayton đã bị ngăn cấm vĩnh viễn không cho trở lại VN, đã hai lần ông không xin được Visa vào Việt Nam để dự hội nghị Biển Đông 2012.

Tương tự, vì biểu tình phản đối TQ xâm lăng biển đảo, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, nhạc sĩ Việt Khang….đã bị án tù 4 năm-12 năm. Vì điểm tin và dịch các bài báo cảnh cáo về các hành động của TQ và bênh vực cho chủ quyền Biển Đông,  HS, TS, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đang bị bắt giam 5-5-2014 ở Hà Nội, và đang chờ đợi bản án tù đày. Hồ Cương Quyết đã hoàn tất phim Hoàng Sa và Trường Sa năm 2011, nhưng không được trình chiếu ở VN và phải chiếu ở Châu Âu. 3 năm qua, ông bị công an ngăn cấm, xua đuổi, hăm dọa, cúp điện…khi muốn trình chiếu phim ở Sài Gòn cho mọi người xem.  Hồ Cương Quyết tên thật: André Menras, là một người Pháp nổi tiếng qua bộ phim “Hoàng Sa – Việt Nam: nỗi đau mất mát” (bản tiếng Pháp “Hoang Sa Vietnam – La Meurtrissure” và bản Pháp-Anh là “La Meurtrissure – Painful Loss”). Chỉ sau khi giàn khoan của TQ vào khai thác dầu khí ở Hoàng Sa 2-5-2014, phim của ông mới được cho trình chiếu ngày 15-7-2014 ở Hà Nội. 

Trong tuần lễ từ 12 đến 16-10-2014, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh ở Đức dành 3 ngày (13, 14, 15) đi khắp nước Đức xin tiền và phân bua chuyện Biển Đông và giả vờ nhờ Đức can thiệp vấn đề chủ quyền biển đảo, nhưng khi hội nghị diễn ra ngày 16-10 tại Milano, thì Nguyễn Tấn Dũng không đưa vấn đề này lên bàn hội nghị vì lúc âý có mặt Thủ tướng Trung Quốc. Bà thủ tướng Đức Angela Merkel, thủ tướng Bỉ, thủ tướng Ý, và lãnh đạo các nước Châu Âu khác đã chưng hửng vì thái độ tráo trở nói một đàng, làm một nẻo của Nguyễn Tấn Dũng. Mời đọc ►Chuyến công du của Nguyễn Tấn Dũng ở Âu châu 10-2014 hoàn toàn thất bại:  Hành động cực kì mâu thuẫn và trái khoáy khác là, trong các cuộc tiếp xúc với các chính khách quốc tế từ Bruxelles, Berlin, Rome từ ngày 12 đến 15 tháng 10,  Nguyễn Tấn Dũng hồ hởi kêu gọi họ kết án chính sách đe dọa an ninh hàng hải quốc tế trên biển Đông, các nước Âu Châu hứa sẽ ủng hộ VN về việc này. Nhưng qua hôm sau, sáng ngày 16.10, khi đặt chân tới Milano để tham dự Hội nghị cấp cao ASEM 10 thì Nguyễn Tấn Dũng đã vội vàng xin gặp Thủ tướng Trung quốc Lý Khắc Cường cũng đang có mặt ở đây. Và trong hội nghị, Nguyễn Tấn Dũng đã không đề cập tới vấn đề hàng hải ở Biển Đông! Các lãnh đạo 10 nước Âu Châu rất ngạc nhiên về thái độ bất nhất và tráo trở của Nguyễn Tấn Dũng.

Nhiều chính khách và chuyên viên ngồi nghe ông Thủ nói rồi so sánh với những gì đang xẩy ra ở VN thì đều rất ngỡ ngàng. Trong họ có những dấu hỏi cực kì lớn: Người cầm đầu chính phủ toàn trị ở VN muốn gì? Những gì ông nói với chúng tôi có thực không?

Bill Hayton và “Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu”

25-10-2014

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

Có lẽ các bạn đã biết kí giả Bill Hayton vừa mới xuất bản một cuốn sách có tựa đề là “The South China Sea: The Struggle for Power in Asia” (Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu). Tôi chưa đọc cuốn sách (và chắc cũng không có thì giờ đọc trong tương lai gần) nhưng có nhận bài điểm sách của David Brown đăng trên Asia Sentinel (1). Đọc bài điểm sách này, tôi thấy sách có lẽ là nguồn thông tin tốt cho những ai còn quan tâm đến chủ quyền biển đảo và sự đe doạ của Tàu cộng đối với Việt Nam. Nhưng câu chuyện về mối liên hệ giữa cá nhân của tác giả với Chính phủ VN cũng thú vị.

Trong sách, Bill Hayton chứng minh rằng những yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông của Tàu cộng dựa trên chứng cứ lịch sử là rác rưởi. Ông chỉ ra rằng những chứng cứ đó không thể nào đứng vững khi xem xét đến các văn chứng của triều Nguyễn của Việt Nam. Từ 1750, triều Nguyễn đã điều các đội hải quân ra trấn giữ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đội quân triều Nguyễn còn có chức năng cứu vớt thuyền bị nạn, và mỗi chuyến hải hành, họ ghi lại trong sử sách rất cẩn thận.

Thật ra, những cái gọi là chứng cứ lịch sử của Tàu cộng về chủ quyền Biển Đông thì những học giả nghiêm chỉnh đều bác bỏ và chẳng xem ra gì. Nhưng bác bỏ những chứng cứ đó một cách có hệ thống, có khoa học, và ghi thành một cuốn sách như Bill Hayton đã làm là một công lớn. Một số học giả VN ở trong nước suốt ngày này sang tháng nọ nói về chủ quyền, về văn bản triều Nguyễn, về “chứng cứ không thể chối cãi”, nhưng chưa có ai hệ thống hoá chứng cứ thành một cuốn sách viết bằng tiếng Anh. Nói như thế để thấy cái công của Hayton là đáng kể.

Ấy thế mà Việt Nam ngày nay ngưng “lải nhải” (chữ của bài điểm sách) về chủ quyền mang tính lịch sử của mình! Thay vào đó, Việt Nam cầu khẩn thế giới tuân thủ theo luật biển UNCLOS (1994). Thái độ đó gián tiếp nói rằng Việt Nam công nhận chủ quyền của Tàu cộng trên những quần đảo họ đã đánh chiếm bằng vũ lực từ VN. Còn Tàu cộng thì họ biết các yêu sách và chứng cứ của họ yếu, nên họ dùng vũ lực và tẩy não. Họ tẩy não người Tàu rằng chủ quyền của Tàu cộng ở Biển Đông là không thể chối cãi, rằng các nước nhỏ như Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai đang chiếm biển đảo của Tàu!


Nhưng đoạn tái bút của bài điểm sách mới là thú vị vì liên quan đến cá nhân tác giả. Bill Hayton là phóng viên của đài BBC và từng công tác ở Việt Nam trong thời gian 2007-2008. Dù Bill Hayton có quan điểm và phát biểu có lợi cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh duy trì chủ quyền biển đảo, nhưng ông không được Việt Nam chào đón. Thật ra, Chính phủ Việt Nam cấm không cho ông vào Việt Nam!

Năm 2012, Bill Hayton xin visa để vào VN dự hội nghị về biển đảo do Bộ Ngoại giao VN tổ chức, nhưng đơn của ông bị bác.

Vài tháng sau, ông lại đệ đơn xin visa vào VN để phỏng vấn các quan chức cho cuốn sách này, và một lần nữa, Chính phủ VN không cho ông vào. Hệ quả là ông không có nhiều chất liệu để viết về VN trong cuộc đấu tranh chủ quyền về biển đảo. Do đó, phần liên quan đến Việt Nam trong cuốn sách này tương đối “mỏng” so với các phần khác.

Phải nói thái độ của Chính phủ VN thật khó hiểu. Theo suy nghĩ bình thường, trong khi các học giả VN chưa viết được hay chưa đủ khả năng viết được một cuốn sách như Bill Hayton, thì đáng lẽ phải chào đón một người có quan điểm “gần” VN như Bill Hayton đến VN, hay ít ra là cung cấp dữ liệu cho ông ấy. Nhưng suy nghĩ bình thường đó có lẽ không ăn khớp với suy nghĩ của Nhà nước. Nghe nói trong thời gian làm kí giả ở VN, Hayton đã có những bài làm cho Chính phủ VN không hài lòng. Nhưng tôi nghĩ việc nào ra việc đó, có thể những bài đó không hợp gu với Chính phủ, nhưng về Biển Đông thì nên sử dụng mọi quan điểm và dữ liệu từ mọi nguồn để đem lại lợi ích cho chủ quyền quốc gia.

Nếu Chính phủ VN chào đón các học giả Tàu vào VN tham dự hội nghị (và đó là quyết định hoàn toàn đúng) thì VN chẳng có lí do gì để từ chối không cho người bạn như như Bill Hayton vào VN.

____________________

(1) http://www.asiasentinel.com/book-review/south-china-sea-struggle-power-asia/

Sách “The South China Sea: The Struggle for Power in Asia”, xuất bản bởi Yale University Press, dày 320 trang, giá bán 28 USD.

* * *

David Brown – Điểm sách của Bill Hayton: Biển Đông và cuộc chiến tranh giành quyền lực ở châu Á

Tác giả: David Brown
Người dịch: Trần Văn Minh

Trong những vấn đề nan giải toàn cầu, tham vọng bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nên được đưa lên hàng đầu, cùng với thay đổi khí hậu, Thánh chiến và chống vi-rút Ebola. Vấn đề dường như không thể kiểm soát, vì thế giải quyết vấn nạn này đã trở thành sự thử nghiệm quan trọng, liệu trật tự quốc tế có thích hợp với một ‘Trung Quốc đang trỗi dậy’ hay không.

Bất kể tính thận trọng của Tổng thống Barack Obama, biết rằng tham gia vào một cuộc chiến ở nước ngoài dễ hơn là giành chiến thắng, sự đe dọa của các chiến thuật mà Bắc Kinh đặt ra trước lợi ích sống còn của Hoa Kỳ, đang lôi kéo Washington vào một cuộc đối đầu khó tránh khỏi với Trung Quốc. Cho tới một vài năm trước, có thể thấy rằng vấn đề Biển Đông là một cuộc tranh cãi giữa các nước ven biển về nguồn cá và tài nguyên dưới đáy biển, bị làm trầm trọng thêm bởi tính dửng dưng của Trung Quốc. Bây giờ đã rõ ràng là Trung Quốc không muốn đàm phán chủ quyền lãnh thổ với các nước láng giềng theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), mà chỉ quan tâm tới những điều có lợi cho họ. Washington đã phải gác lại giấc mơ về quan hệ đối tác toàn cầu với siêu cường mới trỗi dậy của châu Á, trong khi cân nhắc sự kiểm soát các tuyến đường biển quan trọng của Trung Quốc trong tương lai. Theo Bill Hayton thì Biển Đông “là vị trí đầu tiên trong tham vọng của Trung Quốc đưa tới việc đối mặt với quyết tâm chiến lược của Mỹ”.

Đây là một cuộc đối đầu mà chúng ta cần phải hiểu, và Hayton, phóng viên BBC đã từng có thời gian ở Myanmar và Việt Nam, đã cung cấp cốt truyện. Cuốn Biển Đông, với phụ đề Cuộc đấu tranh quyền lực ở châu Á mà ông nghiên cứu kỹ lưỡng và viết thật chải chuốt, đã được xuất bản tại Anh vào cuối tháng 9 và sẽ được Nhà xuất bản Yale Press xuất bản tại Mỹ vào ngày 28 tháng 10. (Cuốn sách được bán trên Amazon với giá 28 USD).

Cuốn sách dày 320 trang của Hayton chắc chắn sẽ được so sánh với một cuốn sách gần đây của Robert Kaplan có cùng chủ đề, Vạc dầu châu Á: Biển Đông và sự kết thúc của Thái Bình Dương ổn định. Đó là hai cuốn sách khác nhau. Kaplan tung ra sự khái quát nhẹ nhàng về bản sắc, lợi ích quốc gia và nỗi ám ảnh có tham vọng của các nhà lãnh đạo châu Á. Kaplan cho biết, tất cả là sự cân bằng quyền lực, một cuộc cạnh tranh diễn ra “trong cảnh quan mới và có phần hoang vu này của thế kỷ 21″. Đông Nam Á trong mắt ông là một nơi mà Trung Quốc có sứ mệnh đưa những nước chư hầu ngày xưa trở lại quỹ đạo thích hợp của họ và là nơi, nếu Washington thực tế trong sự phân tích, thì phải vui vẻ nhường lại vị thế ưu tiên cho Bắc Kinh.

Ngược lại, Hayton thì giải thích. Các chương mở đầu của ông đã dễ dàng dẫn độc giả đi qua năm ngàn năm trên Biển Đông, rằng đó là một khu vực chung bị chi phối bởi những nhà thám hiểm tiền-Mã Lai. Sau đó, các đế quốc thương mại trỗi dậy và suy tàn: Phù Nam, Champa, Majahapit và Malacca. Vào khoảng năm 1400, lần đầu tiên và duy nhất trước thời đại hiện nay, Trung Quốc trong một thời gian ngắn đã trở thành một cường quốc biển, gửi các đội tàu lớn tới Ấn Độ và Đông Phi trước khi chuyển sự chú ý của mình vào nội địa. Người Âu Châu trong việc tìm kiếm các loại gia vị, đồ gốm và lụa, đến vào những năm 1500. Tây Ban Nha thiết lập quyền thống trị trên quần đảo Philippines; ba thế kỷ sau đó, Pháp ở Đông Dương và Anh tại các bang Malay đã tạo ra các thuộc địa của họ và thậm chí bắt buộc Trung Quốc phải quy phục trước chính sách ngoại giao pháo hạm.

Những người Âu Châu, với ý định phân định ranh giới và thiết lập độc quyền lãnh thổ, đã vô tình đặt nền móng cho ý thức tinh thần quốc gia mãnh liệt, vào giữa thế kỷ 20, trở thành cựu thuộc địa và nhượng địa của họ. Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Trung Hoa (cả chính phủ Đài Loan và Bắc Kinh) tất cả tuyên bố những mảng lớn và chồng chéo trên một vùng biển mở rộng mà trong quá khứ đã nối kết họ với nhau thay vì phân chia. Tất cả đã hối hả dựng quốc kỳ của họ trên các rạn san hô, đá và những đảo nhỏ (những ‘cụm’ tập hợp) rải rác trên vùng biển rộng lớn.

Tấm thảm đắt giá mà Hayton dệt tự nó có sức hấp dẫn, nhưng tầm quan trọng đáng chú ý là sợi chỉ ông cẩn thận kéo ra: Đòi hỏi chủ quyền dựa trên chứng cứ lịch sử của Trung Quốc ở vùng biển phía nam Hồng Kông và đảo Hải Nam chủ yếu là rác vụn. Bằng chứng của Trung Quốc đơn giản là không đứng vững trước biên niên sử của các chúa Nguyễn ở Việt Nam, vào khoảng năm 1750, đã phái những cuộc thám hiểm hàng năm đến cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người Việt Nam chủ yếu khai thác các tàu đắm, chắc chắn như thế, nhưng họ đã để lại những dấu vết và lưu giữ hồ sơ cẩn thận.

Trớ trêu thay, người Việt Nam đã ngưng dựa vào những bằng chứng lịch sử của riêng mình. Thay vào đó, họ dựa vào các quy định phân chia vùng biển được hệ thống hóa trong Công ước Quốc tế về Luật biển, có hiệu lực từ năm 1994. Philippines và Malaysia cũng như vậy. Luật pháp quốc tế là nơi trú ẩn của các quốc gia nhỏ và yếu hơn. Đối với các quốc gia mạnh có ý đồ gỡ bỏ những nỗi nhục trong quá khứ, thì luật pháp quốc tế thường là sự phiền toái bất tiện. Nhà cầm quyền Bắc Kinh có lẽ biết luận điểm pháp lý của họ yếu kém; họ có thể suy diễn rằng Trung Quốc lẽ ra đã thống trị các vùng biển lân cận nếu không bị Tây phương và Nhật Bản áp bức. Đối với một thường dân Trung Quốc vấn đề đó thật giản dị. Các giáo viên và truyền thông đại chúng đã thuyết phục ông ta rằng chủ quyền của Bắc Kinh trên các vùng biển phía Nam và các quần đảo là “không thay đổi” và “không thể tranh cãi.”

Các nhà phân tích – trong số đó gồm có Hayton và tác giả bài viết này – khó có thể giải thích vì sao Bắc Kinh quá ngạo mạn, làm sứt mẻ sự kính trọng [của thế giới dành cho họ] để cho đến gần đây họ đã phải cố gắng hết sức để lấy lại. Hayton thử đưa ra quan điểm cho rằng giới lãnh đạo hải quân, các công ty dầu mỏ và chính quyền địa phương đã mạnh mẽ theo đuổi chính sách đối ngoại tự lập, kéo theo những nhà lãnh đạo cấp cao không muốn lộ vẻ yếu đuối. Lập luận trên không đứng vững trong thời đại Tập Cận Bình; trong những năm gần đây chiến thuật của Trung Quốc đã được phối hợp nhịp nhàng một cách đáng chú ý.

Các nhà phân tích khác đổ lỗi cho cơn khát dầu hỏa và khí đốt dữ dội của siêu cường đang lên. Không nghi ngờ rằng sự tăng trưởng trong tương lai của Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn cung cấp phong phú của cả hai. Nhưng chắc phải có nghi ngờ rằng Biển Đông là “Vịnh Ba Tư thứ hai” thường được đề cập trong phương tiện truyền thông Trung Quốc. Hơn nữa, ngang bằng với tỷ giá hối đoái, Trung Quốc đã không có khó khăn tìm nguồn cung ứng dầu khí bên ngoài khu vực, cũng như không nước nào có lợi ích để can thiệp vào mối thương mại đó.

Những quan sát viên phương Tây không cố gắng tìm hiểu vấn đề thường có xu hướng coi những yêu sách và tham vọng của Trung Quốc không kém giá trị hơn tất cả những nước khác. Kaplan đi xa hơn, xem luật pháp quốc tế thực ra không thích đáng trong tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, tầm mức to lớn của yêu sách lãnh thổ và chiến thuật được sử dụng trong việc theo đuổi mục tiêu của Trung Quốc, là rất quan trọng đối Mỹ và các quốc gia có lợi ích lớn trong việc duy trì một trật tự thế giới hòa bình, dựa trên luật pháp và tự do mậu dịch. Các nhà phân tích này cho rằng một “Trung Quốc đang trỗi dậy” sẽ chỉ chơi theo luật khi phù hợp với lợi ích của họ. Điều đó có nghĩa rằng, Hayton kết luận, khu vực rộng 3.5 triệu kilomet vuông này — vùng ‘biển kín’ lớn nhất thế giới — đã trở thành nơi mà bản chất khác biệt giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ có ngày xung đột.”

Mỗi năm trôi qua, sự căng thẳng tăng cao hơn. Một động lực không ổn định khó tránh khỏi việc sẽ kéo Mỹ và đồng minh châu Á chủ yếu là Nhật vào, để hỗ trợ Việt Nam và Philippines. Trung Quốc không cho thấy có dấu hiệu dịu xuống. Chưa nhìn thấy một kết cuộc hài hòa.

Tái bút: Trớ trêu thay, Bill Hayton không được chào đón tại Việt Nam. Ông là thông tín viên thường trú của BBC tại Hà Nội trong năm 2007-2008. Rõ ràng là các bài viết của ông vào thời điểm đó đã gây khó chịu cho nhà cầm quyền. Khi Hayton nộp đơn xin visa tham dự một cuộc hội thảo tháng 11 năm 2012 về các vấn đề Biển Đông do Học viện Ngoại giao Việt Nam tổ chức, ông đã bị từ chối. Vài tháng sau, Hayton nộp đơn một lần nữa, đặc biệt với yêu cầu phỏng vấn các quan chức Việt Nam cho cuốn sách sắp tới của mình. Một lần nữa ông lại bị từ chối. Kết quả là phần trong cuốn sách của Hayton nói về Việt Nam và Biển Đông tương đối “mỏng” — thiếu những chi tiết để thu hút độc giả mà cuộc nói chuyện với các chuyên gia Việt Nam có thể sẽ cung cấp. Đó là một điều đáng tiếc – và một câu chuyện khác (cho đến nay) có kết cuộc chẳng mấy hay ho gì!

David Brown là một nhà ngoại giao Mỹ đã về hưu, là người viết về các chủ đề Đông Nam Á với sự quan tâm đặc biệt đến Việt Nam đương đại. Có thể liên lạc với ông tại địa chỉ nworbd@gmail.com.

—–

Ghi chú: Bản tiếng Anh đã được đăng trên trang Asia Sentinel: Book Review: The South China Sea: The Struggle for Power in Asia. Một bản khác, tác giả viết riêng cho các độc giả Việt Nam, có phần khác với bản này.

Theo blog Anh Ba Sàm

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Sách- Báo- Hồi Ký | 1 Comment »

►Ủy Viên Trung Ương đảng CSVN Hồ Xuân Mãn thèm của lạ, nói dối, khai man…bị tước danh hiệu anh hùng LLVT

Posted by hoangtran204 trên 27/10/2014

Bái phục trung ương đảng ta, bao năm ngồi họp, bắt tay bắt chân, ôm hôn một thằng đểu cáng, một thằng đại lưu manh như thế mà tuyệt nhiên vẫn cứ chân chính như ai…

Tran Manh Hao

26-10-2014

NHÂN VIỆC ÔNG HỒ XUÂN MÃN BỊ NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN VIỆT NAM TƯỚC DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÌ KHAI MAN THÀNH TÍCH

Hóa ra, ông Hồ Xuân Mãn, nguyên Ủy viên trung ương đảng cộng sản VN, cựu bí thư tỉnh Thừa Thiên Huế, từng là tên lừa đảo lớn, một tên lưu manh sừng sỏ…đã khai man bao nhiêu thành tích chống Mỹ đểu để lừa toàn đảng toàn dân…Hiện còn mấy trăm mấy nghìn ông to bà lớn trung ương đểu, anh hùng đểu, bí thư đểu…chưa bị phát hiện…? Cách đây nhiều năm trước, Hồ Xuân Mãn là một trong ba bí thư tỉnh ùy được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khen thưởng về thành tích học tập đạo đức Bác Hồ…một cách xuất sắc nhất !

Lại nhớ cách đây lâu lắm rồi, khi ông Hoàng Văn Hoan từng nhiều năm là Ủy viên Bộ chính trị đảng CS VN, đàn em thân tín của ông Hồ, qua đường Pakistan chạy sang Trung Quốc lộ mắt Việt gian làm tay sai cho giặc Trung Cộng…bị báo Nhân Dân viết bài chửi ông này là cục cứt…

Lúc đó, kẻ viết bài này đang hớt tóc ở tiệm hớt tóc lề đường chỗ vườn hoa phố Hàng Đậu, Hà Nội. Ông hớt tóc đưa tờ ” Nhân Dân” cho mình chú ý về tìm đọc, đoạn bình luận :

Bái phục Bộ chính trị và trung ương đảng ta, bao nhiêu năm ngồi họp với cục cứt to tướng là ông Hoàng Văn Hoan mà mũi các cụ hỏng hết, không ngửi thấy mùi thối…

Nay, mượn lời ông bạn hớt tóc năm xưa mà tát nước theo mưa về vụ ông Hồ Xuân Mãn, rằng :

Bái phục trung ương đảng ta, bao năm ngồi họp, bắt tay bắt chân, ôm hôn một thằng đểu cáng, một thằng đại lưu manh như thế mà tuyệt nhiên vẫn cứ chân chính như ai…

Nhân đây, cho tôi phục thêm chú em Nguyễn Quang Lập, khi ông trời con Hồ Xuân Mãn còn làm bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên- Huế, Lập đã dám đưa tin ông Mãn vào quán bia ôm ở Huế, chưa gì đã thò tay bóp vú em tiếp viên đẹp nhất, bị em này tát bốp vào mặt, đáng đời loài trung ương ủy viên… Hi hi hi he he he

Sài Gòn 26-10-2014

T.M.H.

 

rfa.org/vietnamese

——————————-

Bí thư ham của lạ Hồ Xuân Mãn bị tước danh hiệu ‘anh hùng’

26 tháng 11 2013

Ngày 22/11/2013, Ủy ban kiểm tra trung ương đảng trong phiên họp lần thứ 21 đã ra kết luận về những sai phạm trong việc phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ” đối với ông Hồ Xuân Mãn – nhân vật đầy tai tiếng từng giữ các vị trí cao cấp trong đảng như Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.
 
Bí thư ‘ham của lạ’ Hồ Xuân Mãn hay còn được gọi là ‘Quan Mãn’, từng có nhiều tai tiếng bởi thói dê xồm khi còn đương chức. Báo Lao Động số ra ngày 26/11/2005 từng kể lại chi tiết việc quan Mãn dở thói dê xồm đối với một cô tiếp viên chỉ đáng tuổi con cháu mình ngay trong nhà hàng đông người, hậu quả là quan Mãn lập tức bị cô tiếp viên nọ cho một cái tát như trời giáng vào mặt.
 
Là một bí thư đầy tai tiếng, vậy mà trước khi chính thức về vườn, quan Mãn vẫn kịp chạy chọt để được đảng cộng sản tuyên dương là một trong những “tấm gương” điển hình tiên tiến toàn quốc về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
 
Không rõ ông Mãn đã học gì từ ‘tấm gương đạo đức HCM’?
 
Sau đó, quan Mãn cũng nhận thêm danh hiệu “Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ” do đích thân chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký phong tặng.
 
Quan Mãn không thể ngờ rằng, ngày về vườn cũng chính là thời điểm ông ta bị các đồng chí tố cáo về hành vi khai man lý lịch. Đến nay, chỉ cần tìm từ khóa “Hồ Xuân Mãn” trên google sẽ cho ra hàng triệu kết quả về nội dung những lời tố cáo.
Hồ Xuân Mãn: Kẻ khủng bố được phong tặng danh hiệu “anh hùng”

*Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trao tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ” cho bí thư Hồ Xuân Mãn

Từ những đơn thư tố cáo đã công bố, người ta phát hiện những sự thật kinh hoàng xung quanh cái gọi là danh hiệu “Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ” mà đảng cộng sản trao tặng cho Hồ Xuân Mãn.

Để có được danh hiệu này, Hồ Xuân Mãn đã khai ‘thành tích’ chống Mĩ của mình với nội dung như sau: Năm 1972, Hồ Xuân Mãn “chỉ huy tổ ba đồng chí vào ấp Phò Ninh tiêu diệt tên ấp trưởng Hoàng Sớm cùng một ấp phó, một chiêu hồi, một địa phương quân, hai cảnh sát, làm quần chúng nức lòng.”

Trong khi đó, trong lá đơn tố cáo, chính những người trong đơn vị của Hồ Xuân Mãn đã tiết lộ sự thật kinh hoàng về trận ám sát nhắm vào ông Hoàng Sớm – là một trưởng ấp dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1972, nhân lúc ông Hoàn Sớm đang tham dự một đám giỗ đông người tại thôn Phò Ninh, chính Hồ Xuân Mãn đã thản nhiên xả xúng bắn vào tất cả mọi người trong đám giỗ, mặc dù có cả ông nội và họ hàng của ông Mãn cũng đang ngồi tại đó. Hậu quả là ngoài ông Hoàng Sớm bị giết, còn có 9 người dân vô tội thiệt mạng và 8 người khác bị thương.
Việc xả súng, giết hại hàng loạt thường dân vô tội của Hồ Xuân Mãn đích thực là hành vi khủng bố và cố ý giết người. Thậm chí, hành vi này còn được đảng cộng sản xem như một ‘thành tích’ để phong tặng danh hiệu ‘anh hùng’ cho Hồ Xuân Mãn. Quả thực, nói chế độ cộng sản là một chế độ khủng bố không sai chút nào.
 
vietinfo.eu_________________

Những điều ông Hồ Xuân Mãn học từ ông Hồ Chí Minh?

Trân Văn, phóng viên RFA
2010-02-01

Cuối tháng vừa qua, Ban Chỉ đạo cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã tổ chức tuyên dương các tập thể, cá nhân được xem là điển hình trong ba năm thực hiện cuộc vận động đó.
 

Chuyện về một điển hình 

Trong số hàng trăm tập thể, cá nhân được xem là điển hình của ba năm “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, có ông Hồ Xuân Mãn, Bí thư tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông Mãn đã học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như thế nào? Trân Văn tổng hợp báo chí trong nước và dư luận dân chúng qua các diễn đàn điện tử, các blog để tường trình.

Cách nay khoảng 5 năm, trên số 327, ra ngày 26 tháng 11 năm 2005, tờ Lao Động, cơ quan ngôn luận của Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam đăng một bài viết ngắn, với tựa là “Đất cố đô có vua”. Tác giả bài viết có tựa vừa dẫn kể rằng:

Mấy hôm nay, nơi tôi đang sống, từ lề đường đến công sở, đi đâu cũng nghe người dân, cán bộ, nhỏ to đầy hả hê chuyện ông “quan” to nhất tỉnh vừa bị một nữ tiếp viên nhà hàng “dạy” cho bài học muối mặt về ứng xử với phụ nữ ngoài xã hội.

Chuyện là một bữa trưa đẹp trời, “quan” lớn cùng một số “quan” nhỏ vào ăn trưa ở một nhà hàng ven đô. Một nữ tiếp viên trẻ, mới đến làm việc của nhà hàng, như lệ thường, đến đon đả mở bia, tiếp đá cho các “quan”. Và (có lẽ cũng như thường lệ), “quan” lớn nhất đã không cầm lòng trước nhan sắc của cô tiếp viên chỉ đáng tuổi con mình nên đã… ghì đầu cô ta lại rồi hôn đánh chụt một cái vào má, trước sự chứng kiến của quan khách có mặt trong nhà hàng hôm đó!

Quá bất ngờ và cảm thấy nhục nhã bởi hành vi của vị “quan” đáng kính, cô tiếp viên đã đáp trả ngay lập tức bằng một cái tát như trời giáng vào mặt “quan”!

Trích từ báo Lao Động

Quá bất ngờ và cảm thấy nhục nhã bởi hành vi của vị “quan” đáng kính mà lâu nay cô chỉ thỉnh thoảng được thấy mặt và nghe nói toàn lời hay, ý đẹp trên ti-vi, cô tiếp viên đã đáp trả ngay lập tức bằng một cái tát như trời giáng vào mặt “quan”! Cái tát làm cả nhà hàng “chết lặng” như… sóng thần xuất hiện!

Chuyện đến đây chưa hẳn đã có đoạn kết tệ hại, nếu “quan” hành xử như một người có văn hoá (lỡ có tí bia rượu), chẳng hạn nói một lời xin lỗi. Đàng này, sau một lúc bỏ đi vào nhà vệ sinh, “quan” quay trở ra, mặt hầm hầm chỉ tay, lớn tiếng: “Đuổi, đuổi ngay cô tiếp viên không biết làm việc kia!”.

Tất nhiên chủ quán thanh toán tiền công và cho cô nghỉ việc ngay sau đó. Chưa hết, “quan” còn doạ sẽ cho đóng cửa, không chỉ nhà hàng này mà còn cả…các nhà hàng bên cạnh!

Tác giả bài viết “Đất cố đô có vua” kể thêm rồi nêu một số thắc mắc: Theo giới thạo tin “mật” thì việc ông “quan” này vào các nhà hàng ruột của mình rồi ôm hôn  các cô tiếp viên và “hơn thế” giữa thanh thiên bạch nhật như đã dẫn ở trên là “chuyện thường ngày ở huyện”. Nhưng lâu nay, các cô phần khiếp uy của “quan”, phần vì miếng cơm manh áo đành nuốt nhục, im lặng. Cái tát vừa rồi thật ra là … “đi đêm lắm có ngày gặp ma” mà thôi.

Người viết bài này đã nghĩ mãi vẫn không lý giải thỏa đáng về hành vi của “quan”.

Chẳng lẽ, “quan” cho  rằng xã hội bây giờ không có “vua”, cũng không có “dân”, nên không cần nhìn trước nhìn sau khi thực hiện những hành vi không xứng đáng với trọng trách như thế?

Hay là “quan” cho rằng, ta là “vua” của đất cố đô này nên ta muốn làm gì cũng được?

Tuy tạo ra sự xôn xao lớn trong dư luận, song giống như nhiều sự kiện khác từng xảy ra tại Việt Nam, bài “Đất cố đô có vua” nhanh chóng rơi vào quên lãng vì lãnh đạo Đảng, Nhà nước không chỉ đạo xác minh, xử lý dù nhân vật chính được xác định là vị quan “to nhất tỉnh”.

“Tấm gương tiêu biểu”

Đến cuối tháng vừa qua, bài “Đất cố đô có vua” được rất nhiều diễn đàn điện tử và blog đồng loạt đăng trở lại, ngay sau khi có tin, ông Hồ Xuân Mãn, Bí thư Tỉnh ủy của khu vực “cố đô”, được công nhận là một điển hình suốt ba năm thực hiện cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

ho-xuan-man-2-250
Hình chụp từ báo Lao Động. RFA Photo
 

Cũng thời điểm này, ông Hồ Xuân Mãn đã xuất hiện trên nhiều tờ báo trong nước để tự giới thiệu về mình với tư cách một “tấm gương tiêu biểu”, trong việc “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đồng thời công bố một số số liệu nhằm chứng minh, tỉnh Thừa Thiên – Huế, nơi đang được ông lãnh đạo đã đạt nhiều thành tích quan trọng: Chẳng hạn, trước đây, tỷ lệ người nghèo ở Thừa Thiên – Huế là 28% nhưng nay chỉ còn 8%. Thừa Thiên – Huế đã giúp 31.000 người thiểu số có nhà “4 cứng”. Thừa Thiên – Huế luôn là địa phương “nói đi đôi với làm”...     Ngay sau đó, một cư dân của Thừa Thiên Huế là ông Hà Văn Thịnh – hiện đang giảng dạy tại Đại học Khoa học Huế – đã viết bài “Xin hỏi ông Bí thư Tỉnh ủy”, gửi cho báo điện tử VietNamNet. Về tính chất, “Xin hỏi ông Bí thư Tỉnh ủy” trên VietNamNet giống như “thư chất vấn” của một trí thức sống tại Huế, gửi cho ông Hồ Xuân Mãn.

Trong “thư chất vấn” ấy, ông Hà Văn Thịnh nêu ra hàng loạt vấn đề, chẳng hạn: Nếu Thừa Thiên – Huế đã giảm được trên 70% số hộ nghèo chỉ trong một nhiệm kỳ lãnh đạo thì đó là một kỷ lục, không chỉ đối với Việt Nam mà là cả thế giới!

Đây là thành tích cần phải được nhân rộng cho 62 tỉnh, thành khác học tập. Và, tôi cho rằng nếu bỏ qua điều này là một sự lãng phí tài năng ghê gớm. Vấn đề là ở chỗ dư luận muốn biết bằng cách nào, kinh phí lấy từ nguồn nào, các công đoạn của nó được tiến hành ra sao, bởi vì trên thực tế, không thấy tỉnh Thừa Thiên – Huế có những đổi thay đột biến để tạo nên đột biến ghê gớm kể trên?

Hà Văn Thịnh.

Ông Hà Văn Thịnh nhấn mạnh: Người viết bài này đã sống và làm việc ở tỉnh Thừa Thiên – Huế 33 năm, đã chứng kiến sự thay đổi của nhiều lãnh đạo nhưng chưa hề thấy bất kỳ sự thay đổi thực sự nào từ ý tưởng, cách làm việc của những người lãnh đạo ấy.

Tôi sẵn sàng tranh luận với bất kỳ vị lãnh đạo nào về đề tài này. Chỉ cần bước qua đèo Hải Vân là thấy xấu hổ vì mình là người Huế. Sự đủng đỉnh của Huế, tính bảo thủ muôn đời của nó là điều ai cũng biết. Thật là buồn khi mình gắn bó với một quê hương mà quê hương ấy chỉ thay đổi gọi là, phát triển gọi là…

Là người dân, rất ước mong rằng các vị lãnh đạo hãy nói được sau khi đã làm được. Xin ông Bí thư Tỉnh ủy tỉnh TTH trả lời những câu hỏi của tôi.

Ông Hồ Xuân Mãn có trả lời thư chất vấn của ông Hà Văn Thịnh hay không (?). Chúng tôi đã tìm nhưng chưa thấy. Kết quả duy nhất mà chúng tôi được biết là báo điện tử VietNamNet đã lột bài “Xin hỏi ông Bí thư Tỉnh ủy”, của ông Hà Văn Thịnh ra khỏi website của họ.

Trên công luận và trong dư luận, ông Hồ Xuân Mãn còn được nhắc đến như một hoàng đế ở cố đô. Trong bài viết “Không phải là vua nhưng mộng ước cũng như… vua!”, ông Trương Duy Nhất, một nhà báo Việt Nam kể trên blog của ông về Lễ tế Nam Giao trong Festival Huế 2008: Tôi… hoảng hồn khi thấy trong nhóm quan chức phưỡn bụng trên thượng đàn trong lễ tế có một vị khoác… hoàng bào. Đó là ông Hồ Xuân Mãn, Bí thư Tỉnh uỷ Thừa Thiên- Huế. Sao ông Mãn dám… liều thế nhỉ? Hay ông nghĩ mình là … Vua?

Cũng trong bài viết vừa dẫn, nhà báo Trương Duy Nhất tâm tình: Chỉ xin nhắc mấy chuyện nhỏ. Mấy chuyện mà càng ngẫm càng thấy… sợ! Người ta đã đùa giỡn bậc tiền nhân, chọc ngoáy ông… Giời, và nhạo báng thần linh! Kinh thật!

Vì sao blogger Trương Duy Nhất nhắc đến tiền nhân, trời, thần và ông cảm thấy “kinh”? Tổng hợp một số tin đã đăng trên một số tờ báo ở Việt Nam như: Tuổi Trẻ, Giác Ngộ,… người ta được biết, hai lần Thừa Thiên – Huế tổ chức Festival là hai lần trời nổi dông, gió to, mưa lớn và sau đó sấm sét đánh xuống hoàng thành Huế, đúng vào lúc các quan chức chính quyền, từ Trung ương đến địa phương thực hiện nghi lễ tế cáo trời đất. Lần thứ nhất, sét đánh sập cửa An Hoà hôm 4 tháng 6 năm 2008 và lần thứ hai, sét đánh sập cửa Quảng Đức hôm 24 tháng 3 năm 2009!

Còn bao nhiêu tấm gương tiêu biểu?       

Ông Hồ Xuân Mãn chỉ là một trong hàng trăm cá nhân, hàng chục tập thể được tuyên dương là “những tấm gương tiêu biểu, đại diện cho hàng triệu tập thể, cá nhân cả nước đã có nhiều thành tích trong học tập và nhất là làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong ba năm vừa qua.

Năm nay, liệu sẽ có thêm bao nhiêu “tấm gương tiêu biểu, đại diện cho hàng triệu tập thể, cá nhân cả nước đã có nhiều thành tích trong học tập và nhất là làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” như ông Hồ Xuân Mãn?

Thật ra không phải chỉ trong ba năm gần đây, Đảng và chính quyền Việt Nam mới yêu cầu toàn Đảng, toàn dân học tập Hồ Chí Minh.

Tháng 3 năm 2003, Trung ương Đảng đã từng phát động một đợt “học tập tư tưởng Hồ Chí Minh”. Ba năm sau, Bộ Chính trị quyết định mở rộng đợt học tập này.

Theo một chỉ thị do Tổng Bí thư Đảng CSVN ký thì sau khi học tập “tư tưởng Hồ Chí Minh”, toàn Đảng, toàn dân còn cần “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, từ năm 2007 cho tới hết nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng CSVN, mãi tới đầu năm 2011 mới kết thúc.

Năm nay, chủ đề trọng tâm của cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” sẽ là: “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, Đảng là đạo đức, là văn minh”.

Năm nay, liệu sẽ có thêm bao nhiêu “tấm gương tiêu biểu, đại diện cho hàng triệu tập thể, cá nhân cả nước đã có nhiều thành tích trong học tập và nhất là làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” như ông Hồ Xuân Mãn?

——————————–
* Liên quan đến thói dê xồm của quan Mãn, Bảng Đỏ tui xin mời bà con xem lại bài viết Đất cố đô có “vua”! trên báo Lao Động, số ra ngày 26.11.2005. Nhân vật được gọi là ‘quan lớn’ trong bài chính là Hồ Xuân Mãn, khi ấy là bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế:LĐ số 327 Ngày 26.11.2005 Cập nhật: 10:11:57 – 26.11.2005

Đất cố đô có “vua”!


Mấy hôm nay, nơi tôi đang sống, từ lề đường đến công sở, đi đâu cũng nghe người dân, cán bộ, nhỏ to đầy hả hê chuyện ông “quan” to nhất tỉnh vừa bị một nữ tiếp viên nhà hàng “dạy” cho bài học muối mặt về ứng xử với phụ nữ ngoài xã hội.

Chuyện là một bữa trưa đẹp trời, “quan” lớn cùng một số “quan” nhỏ vào ăn trưa ở một nhà hàng ở ven đô. Một nữ tiếp viên trẻ, mới đến làm việc của nhà hàng, như lệ thường, đến đon đả mở bia, tiếp đá cho các “quan”. Và (có lẽ cũng như thường lệ), “quan” lớn nhất đã không cầm lòng trước nhan sắc của cô tiếp viên chỉ đáng tuổi con mình nên đã… ghì đầu cô ta lại rồi hôn đánh chụt một cái vào má, trước sự chứng kiến của quan khách có mặt trong nhà hàng hôm đó! Quá bất ngờ và cảm thấy nhục nhã bởi hành vi của vị “quan” đáng kính mà lâu nay cô chỉ thỉnh thoảng được thấy mặt và nghe nói toàn lời hay, ý đẹp trên ti-vi, cô tiếp viên đã đáp trả ngay lập tức bằng một cái tát như trời giáng vào mặt “quan”! Cát tát làm cả nhà hàng “chết lặng” như… sóng thần xuất hiện!

Chuyện đến đây chưa hẳn đã có đoạn kết tệ hại nếu  “quan” hành xử như một người có văn hoá (lỡ có tí bia rượu), chẳng hạn nói một lời xin lỗi. Đàng này, sau một lúc bỏ đi vào nhà vệ sinh, “quan” quay trở ra, mặt hầm hầm chỉ tay, lớn tiếng: “Đuổi, đuổi ngay cô tiếp viên không biết làm việc kia!”. Tất nhiên chủ quán thanh toán tiền công và cho cô nghỉ việc ngay sau đó. Chưa hết, “quan” còn doạ sẽ cho đóng cửa, không chỉ nhà hàng này mà còn cả… các nhà hàng bên cạnh! (YÁ tưởng này thật… khó hiểu!).

Theo giới thạo tin “mật” thì việc ông “quan” này vào các nhà hàng ruột của mình rồi ôm hôn  các cô tiếp viên và “hơn thế” giữa thanh thiên bạch nhật như đã dẫn ở trên là “chuyện thường ngày ở huyện”. Nhưng lâu nay, các cô phần khiếp uy của “quan”, phần vì miếng cơm manh áo đành nuốt nhục, im lặng.  Cái tát vừa rồi thật ra là… “đi đêm lắm có ngày gặp ma” mà thôi.

Người viết bài này đã nghĩ mãi vẫn không lý giải thoả đáng về hành vi của “quan”. Chẳng lẽ, “quan” cho  rằng xã hội bây giờ không có “vua”, cũng không có “dân”, nên không cần nhìn trước nhìn sau khi thực hiện những hành vi không xứng đáng với trọng trách như thế? Hay là “quan” cho rằng, ta là “vua” của đất cố đô này nên ta muốn làm gì cũng được?

http://www1.laodong.com.vn/pls/bld/display$.htnoidung(86,144119)

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | 1 Comment »