Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười 25th, 2014

►Phùng Q. Thanh đi Trung Quốc xin đầu hàng- Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh đi Âu châu xin tiền – Phạm Thanh Nghị đi Mỹ tự giới thiệu sẽ là TBT

Posted by hoangtran204 trên 25/10/2014

1950, Hoa Kỳ ngăn chặn sự lan tràn của cộng sản nên đã đổ quân vào Nam Hàn và Việt Nam (1965). Đến 1969-1972, Hoa kỳ thay đổi chiến lược quay sang liên kết với Trung Cộng để dễ bề đối phó với Liên Xô đang hổ trợ khu vực Trung Đông và Liên Xô dùng sức mạnh của một quốc gia có dầu hỏa để gây ảnh hưởng chính trị ở Âu Châu. (các nước châu âu đều mua dầu khí của Liên Xô và Trung Đông).

Mỹ rurt lui khỏi VN năm 1973 trong khi Trung Cộng tiếp tục giúp đỡ Việt Cộng chiếm miền Nam Việt Nam. Liên Xô cùng 16 nước Đông Âu muốn tranh với Trung Cộng để lấy lòng Việt Cộng nên cũng viện trợ vũ khí và dầu hỏa cho Miền Bắc VN. Liên Xô muốn đặt căn cứ hải quân ở Cam Ranh để đánh vào phía nam của Trung Cộng nếu như TC tấn công qua biên giới Liên Xô; cả hai nước này đã dàn 3 triệu quân dọc theo lãnh thổ từ năm 1969.

Trong chiến tranh VN, HCM và Lê Duẩn, đảng CSVN đã hứa hẹn với Vua Shihanouk là sẽ trả lại cho Cambodia một số tỉnh Miền Nam (An Giang, Châu Đốc, Tây Nình, và Đảo Phú Quốc) nếu nhà Vua đồng ý cho mượn đường để Việt Cộng chuyển bộ đội, vũ khí, vào Nam. Nhưng sau đó,  Lê Duẩn và đảng CSVN đã không thực hiện lời hứa trả đất. Pôn Pốt liền tập trung quân đội tấn công đánh phá biên giới Tây Nam của VN kể từ  tháng 5-1975.

Lê Duẩn và đảng CSVN nhận ra rằng Trung Cộng đang hổ trợ vũ khí và cố vấn cho Pôn Pốt để đòi đất. Trung Cộng liền cắt đứt liên và Lê Duẩn quay qua ký hiệp ước với Liên Xô tháng 5-1978, theo đó Liên Xô sẽ bảo vệ nếu VN bị Trung Cộng tấn công. Đồng thời Liên Xô chỉ đạo Việt Cộng phải tấn công chiếm Kampuchia và Lào để thực hiện Liên Bang Đông Dương đâú tranh với Trung Cộng và dần dần giải phóng các nước Đông Nam Á (Thái Lan, Indonésia, Mã Lai, Phi Luật Tân).

Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh…tấn công giải phóng KamPuchia 1979 và ở chiếm đóng 10 năm, nhưng sau phải rút về vì Liên Xô suy yếu và đã giảm dần viện trợ về kinh tế, lẫn dầu hỏa kể từ 1980 và hoàn toàn cắt đứt viện trợ dầu hỏa 1985. Việt Nam ở bên lề nạn đói kể từ 1976, nhưng thật sự đói trên cả toàn quốc 1985-1986.

Xưa nay chỉ sống bằng viện trợ, nay đảng CSVN và nhà nước  bị cắt hết viện trợ của cả Trung Cộng (1976) và Liên Xô (1986), thì lấy gì sống. Thế là phải chấp nhận điều kiện do Mỹ và Liên Hiệp Quốc đưa ra: rút quân ra khỏi Kampuchia trong vòng 3 năm, đổi lại Mỹ sẽ viện trợ gạo, dầu hỏa, y tế cho VN, và Mỹ sẽ bật đèn xanh cho các nước Á Châu vào VN đầu tư. Thái Lan, Nam Hàn, Mã Lai, Đài Loan nhảy vào đầu tư ở VN 1988. 

Sau khi cộng sản sụp đổ ở Âu Châu, đảng CSVN mất chỗ dựa, cùng lúc kinh tế yếu kém, lạm phát gia tăng 986% (trên giấy tờ chỉ dám ghi là 400% vì quá mắc cở) do chỉ biết in tiền và đổi tiền đê trả lương cho công nhân viên và bộ đội. Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng, (Lê Đức Anh) vội chạy qua ký Hiệp Định Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990, xin Trung Quốc hàng phục Trung Quốc. (Hồi Ký của Thứ trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ). 

Chiếu theo hiệp ước 1950 do HCM ký với Mao Trạch Đông, và Hiệp Định Thành Đô 1990, đảng CSVN phải bàn giao Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa và một số đất vùng biên giới cho Trung Cộng để trả món nợ mà TQ đã viện trợ vũ khí, quân dụng từ 1950-1975. 

Vì thế, khi TQ chiếm Hoàng Sa, Trường Sa (1956, 1988, 2014) đảng CSVN không dám lên tiếng mạnh mẻ phản đối, và đàn áp, bỏ tù bất cứ ai phản đối TQ. 

Hiện nay, đối với đảng CSVN, thần phục Trung Quốc là có lợi cho họ hơn cả. Họ sẽ tiếp tục nắm quyền, nguồn tài chánh đang làm ăn của 16 Ủy viên BCT và

178 Ủy Viên Trung Ương đảng vẫn tiếp tục ăn ra làm nên và không ai trong nước có đủ sức chống đối. 16 UV BCT  có khả năng tiếp tục nắm quyền vào năm 2016, và con cái của họ sex có thêm thời gian ngời vào  chức vụ của họ năm 2021. Việc giả vờ mua vũ khí của Mỹ là chuyện ảo vì chỉ là đòn nhứ để ngăn TQ vào Biển Đông khai thác dầu khí của VN, đây là nguồn tài nguyên duy nhát của đảng CSVN để sống còn.  Vì Kinh tế VN chỉ là gia công hàng hóa, bán các nguyên vật liệu, bán các nông phẩm và thủy sản.

Hoa Kỳ sắp bán vũ khí cho Việt Nam

October 24, 2014

Kyle Mizokami | DCVOnline lược dịch

Một buổi sáng đầu tháng Năm 2014 khi thức dậy, dân Việt Nam bỗng thấy giàn khoan của nước khác ngay trên biển của mình. Haiyang Shiyou-981, giàn khoan nặng 30.000 tấn của Tổng công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc, đặt ở 70 dặm bên trong vùng biển thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam.

Kết quả của những đụng độ trên biển làm một thuyền đánh cá bị đánh chìm, đã khiến Việt Nam đi tìm sự hỗ trợ từ một nguồn không ai nghĩ đến. Việt Nam đã yêu cầu kẻ thù cũ, Hoa Kỳ, bán vũ khí để chống lại một kẻ thù thậm chí còn cũ hơn nữa: Trung Quốc.

Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới chung đã hơn 2.000 năm. Đây đã không phải là những năm hạnh phúc đối với Việt Nam, vì Việt Nam rốt cuộc thường trở thành một thuộc địa hoặc nước chư hầu của nước láng giềng lớn hơn ở phương bắc. Việt Nam đã là nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc chính trị, kinh tế và văn hóa, trong quá trình lịch sử chung của hai nước, Việt Nam đã nhiều lần đứng lên chống lại Trung Quốc, khẳng định sự độc lập của mình.

Lịch sử đã làm cho Việt Nam cảnh giác với Trung Quốc và ý định của họ. Mặc dù Việt Nam đã được hưởng lợi về mặt kinh tế nhờ sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của Trung Quốc, nhưng cũng đã carnm thấy bấn an trước sự phát triển liên tục về sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Chi tiêu quốc phòng của Việt Nam đã tăng gấp bốn lần kể từ năm 2004, để đáp ứng trực tiếp cho ngân sách quốc phòng ngày càng tăng của Trung Quốc.

Trong tháng Sáu năm nay, nỗi lo sợ của Việt Nam đã trở tahfnh hiện thực khi các giàn khoan Haiyang Shiyou-981 được kéo đến một vị trí trong biển phía nam Trung Hoa mà cả hai nước đề có tuyên bố chủ quyền. Sự kiện này đưa đến những cuộc biểu tình nóng bỏng trên khắp Việt Nam và một cuộc đối đầu trên biển cho đến khi giàn khoan được kéo đi hai tháng sau đó.

Mặc dù hai nước có chung đường biên giới trên đất liền nhưng tranh chấp lãnh thổ của Việt Nam với Trung Quốc đang thực sự xảy ra trên biển. Công ước 1982 của Liên hiệp quốc về Luật Biển cho phép tất cả các nước tuyên bố một vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 dặm từ bờ biển của họ. Tàu nước ngoài và máy bay có thể đi qua một vùng đặc quyền kinh tế, nhưng tất cả khai thác tài nguyên mỏ, đánh bắt cá, và khoan dầu phải dưới sự kiểm soát của nước có chủ quyền ở đó. Trong khu vực biển đang tranh chấp, Việt Nam tuyên bố một vùng đặc quyền kinh tế từ bờ biển của mình, trong khi tuyên bố đặc quyền kinh tế của Trung Quốc kéo dựa trên quần đảo Hoàng Sa gần đó [đã chiếm của Viêt Nam Cộng Hòa từ năm 1974 -DCVOnline], và giàn khoan dầu đã được TQ đặt ở vùng EEZ chồng chéo lên nhau.

Với một ngân sách quốc phòng bằng 1/56 của Trung Quốc, Việt Nam có thể một là nhượng cho Trung Quốc tất cả những gì họ muốn hay hai là đi tìm một đồng minh hùng mạnh có cùng lợi ích. Hơn bốn mươi năm sau chiến tranh, Việt Nam và Hoa Kỳ, một lần nữa lại có cùng các lợi ích chiến lược, và Mỹ đang chuẩn bị bán vũ khí để Việt Nam giữ minh đôi với Trung Quốc.

Cuộc chiến đẫm máu giữa Hoa Kỳ và Việt Nam kéo dài từ năm 1965 đến 1973, Mỹ mất 58.220 binh sĩ trong chiến tranh Việt Nam, vafVieejt Nam mất 1,3 triệu binh sĩ và một triệu thương vong dân sự ở hai miền Nam Bắc. Cuộc chiến đã gây chia rẽ trong xã hội Mỹ và khiến quan hệ Mỹ-Việt trong căng thẳng nhiều chục năm và chỉ được bình thường hóa vào năm 1995.

Tuy nhiên, bất chấp những thiệt hại khủng khiếp trong chiến tranh, Việt Nam vẫn là một nước khá thân Mỹ. Trong tháng Bảy, một cuộc thăm dò của Pew Research ghi nhận 76 phần trăm người Việt Nam có một ý kiến thiên Hoa Kỳ. Cuộc thăm dò đó cũng ghi nhận chỉ có 16 phần trăm người Việt Nam đã có ý kiến thiên về phíaTrung Quốc.

Không có gì bí mật về việc Mỹ lo ngại về sự phát triển sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Mỹ, bị phân tâm bởi cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, đã bỏ quên khu vực châu Á. Cái gọi là “Xoay trục Châu Á” là một nỗ lực để chỉnh sửa thiếu sót đó, mở rộng liên minh cũ đồng thời hình thành các thỏa thuận mới với các nước không có truyền thống là đồng minh của Mỹ, nhưng chia sẻ lợi ích chung trong việc ngăn chặn Trung Quốc.

Việt Nam có muốn có toàn bộ đầy đủ các loại vũ khí hiện đại của Mỹ, nhưng thực tế tài chính và địa chính trị phải không cho phép. Vũ khí của Mỹ là loại đắt tiền – một chiếc máy bay oanh tạc chiến đấu F-35 trị giá 100 triệu USD, và toàn bộ ngân sách quốc phòng của Việt Nam chỉ có 7 tỷ USD.

Hoa Kỳ sẽ – ít nhất là trong tương lai gần – vẫn từ chối không bán vũ khí sát thương như bom hoặc hỏa tiễn cho Việt Nam. Nếu vũ khí của Mỹ gây thương vong cho Trung Quốc, bất kể ai là người có lỗi, Mỹ sẽ vẫn phải chịu trách nhiệm.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ đang cung cấp Việt Nam với vũ khí không gây chết người nhưng có thể lấy bằng chứng việc Trung Quốc xâm nhập lãnh thổ Việt Nam, và có thể dùng để công bố vi thế giới và khiếu kiện với trọng tài quốc tế. Mỹ đang đàm phán với Việt Nam để cung cấp máy bay do thám đã được tân trang. Máy bay P-3 Orion là loại phi cơ do thám trên biển bắt đầu hoạt dộng từ những năm 1950, và hiện đang được Mỹ thay thế bằng máy bay P-8 Poseidon mới hơn. Máy bay P-3 Orion tân trang có sonar và radar, với một phi hành đoàn của 11. Mặc dù cũ, P-3 Orion là loại phi cơ đáng tin cậy có khả năng giám sát một vùng biển rất lớn.

Việt Nam thường được coi như là một cường quốc trên đất liền, di sản của các cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20 chống Pháp, Mỹ và Trung Quốc, nhưng trong thực tế Việt Nam là một “cường quốc: biển. Việt Nam có một bờ biển miễn dài như bờ biển phía Đông của Hoa Kỳ, và một vùng đặc quyền kinh tế rộng 867.620 dặm vuông. Mặc dù tàu thuyền là phương tiện thích hợp nhất để thanh tra tại chỗ những tàu thuyền nước ngoài đi qua vùng EEZ, nhưng một máy bay tuần tra như loại P-3 Orion lại là phương tiện để giám sát ọt khu vực rộng lớn trên đại dương tốt nhất.

P-3 Orions thường được trang bị ngư lôi và mìn sâu để săn tàu ngầm và có hỏa tiễn chống hạm các tàu nổi. Được biết P-3 Orion bán cho Việt Nam sẽ không có vũ khí. Nhưng cũng không phải là sẽ không bao giờ được trang bị vũ khí – có rất nhiều quốc gia khác, chẳng hạn như Nhật Bản, Ấn Độ, và Pháp – là những nước có thể bán vũ khí cho Việt Nam.

Những loại vũ khí và trang thiết bị khác mà Mỹ có thể bán sẽ là radar giám sát hải phận và không phận, thiết bị thông tin liên lạc, và các loại tàu bảo vệ bờ biển khác. Có thể Hoa Kỳ sẽ bán vũ khí, sát thương, tiên tiến hơn cho Việt Nam vào một lúc nào đó, nhưng bây giờ bán vũ khí như vậy là qúa mạo hiểm đôi với nước Mỹ.

Việc rút của giàn khoan Haiyang Shiyou-981 có thể đã kết thúc cuộc tranh chấp Việt Nam và Trung Quốc, ít nhất là trong lúc này. Việt Nam cần có quan hệ tốt với Trung Quốc để giữ cho nền kinh tế phát triển, theo quan điểm đó, Việt Nam muốn khủng hoảng kết thúc càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, cả hai nước không đi đâu được, và áp của quần chúng sẽ có khả năng đưa đến những tắc khác. Về lâu dài, nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của Trung Quốc có thể buộc Trung Quốc vào một lần nữa gửi giàn khoan vào khu vực đang tranh chấp và vĩnh viến ở đó.

Trong khi đó, Mỹ đang giữ thế cân bằng với Trung Quốc. Washington cũng không cần cố gắng lắm để đi vào vai trò đó; Mỹ chỉ cần để cho cuộc khủng hoảng, hay gián tiếp là chính Trung Quốc, đưa đẩy bàn cờ Châu Á vào một sắp xếp như vậy. Quan hệ, giao hảo giữa Mỹ và Việt Nam sẽ gần gũi và tốt thế nào hoàn toàn tùy vào phản ứng của Trung Quốc.

© 2014 DCVOnline


Nguồn: The U.S. is about to sell weapons to Vietnam.. That’s bad news for China. Vietnam hopes weapons from an old enemy can counter an even older one. By Kyle Mizokami | The Week, October 23, 2014

Trung Quốc-Việt Nam lập lại quan hệ song phương sau một năm đầy biến động

21-10-2014

Carl Thayer | Trà Mi lược dịch

dcvonline.net

danchimviet online

Khi nào thì Bộ trưởng Quốc phòng TQ Thường Vạn Toàn sẽ nhận lời mời đến thăm Hà Nội? Nó sẽ là một dấu hiệu của sự tiến bộ nếu Tướng Chang sẽ tham dự lễ kỷ niệm lần thứ bẩy mươi đánh dấu ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam vào ngày 22 tháng 12 sắp tới.

Khi cuộc khủng hoảng giàn khoan Trung Quốc-Việt Nam nổ ra vào tháng Năm, giới phân tích khu vực phát biểu rằng quan hệ song phương đã lùi lại vài chục năm vì cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ khi chiến tranh biên giới năm 1979. Đánh giá như thế là quá sớm. Hiện nay, có dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh và Hà Nội đang lập lại mối quan hệ của họ như trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng giàn khoan.

Cuộc khủng hoảng giàn khoan đã gây ra những trận đối đầu giữa tàu thuyền tuần duyên của Trung Quốc và Việt Nam, sự bùng nổ chống Trung Quốc tại Việt Nam gồm cả những cuộc bạo động chống Trung Quốc, việc di tản công nhân Trung Quốc khỏi Việt Nam, sự sút giảm khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam, và Việt Nam đe dọa sẽ kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế. Thậm chí còn có lời kêu gọi của giới tinh hoa chính trị của Việt Nam là phải “thoát Trung”.

Ban đầu Trung Quốc đã giữ thái độ ngoại giao cứng rắn và từ chối tất cả những nỗ lực của Việt Nam để gửi đặc phái viên và mở ra các kênh thông tin liên lạc song phương giữa các cơ quan chính phủ và các ban ngành bị ảnh hưởng trực tiếp nhất. Lãnh đạo Việt Nam có hai mối quan tâm chính. Đầu tiên, họ không thể cho dân thấy là họ đang nằm dưới áp lực của Bắc Kinh, đặc biệt là trong khi dân chúng bùng lên chống Trung Quốc. Thứ hai, giới lãnh đạo Việt Nam muốn kiềm chế hậu quả của cuộc khủng hoảng giàn khoan và ngăn không cho nó làm tổn hại đến mối quan hệ song phương lớn hơn nữa.

Giới lãnh đạo Trung Quốc cũng đã suy nghĩ lại. Vào ngày 18 tháng Sáu, Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì đã đến Hà Nội tham dự cuộc họp thường niên của Ban chỉ đạo giám sát các quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam. Giới truyền thông và bình luận gần như chỉ tập trung chính vào nhận xét của họ Dương về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Tầm quan trọng của chuyến thăm của Dương Khiết Trì là sự có mặt của ông ta tại Hà Nội. Nó báo hiệu rằng Trung Quốc muốn ngăn chặn tranh chấp Biển Đông làm đổ vỡ các mối quan hệ song phương rộng hơn.

Chuyến thăm của Dương Khiết Trì dẫn đến các cuộc thảo luận bí mật sau hậu trường của các chuyên gia quan hệ đối ngoại của đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam. Trong tháng Bảy, Trung Quốc rút giàn khoan HD 981 ra khỏi vùng biển có tranh chấp. Vào cuối tháng Tám, Trung Quốc đón Lê Hồng Anh, đặc phái viên của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, kết thúc ứng xử ngoại giao lạnh lùng của Bắc Kinh trước các nỗ lực để đối thoại của Việt Nam.

Chang Wanquan, trái, và Phùng Quang Thanh trong một buổi lễ chúc mừng tại Bắc Kinh, tháng 17. (Hình: Tân Hoa Xã)

Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam đã tiến một bước lớn về phía trước với chuyến thăm bất ngờ đến Bắc Kinh ba ngày của đoàn đại biểu quân sự Việt Nam gồm 13 thành viên cấp cao do Bộ trưởng quốc phòng, Đại tướng Phùng Quang Thanh, dẫn đầu. Tướng Phùng Quang Thanh được người đồng cấp Trung Quốc, Tướng Chang Wanquan (常万全, Thường Vạn Toàn), mời sang thăm. Phái đoàn Việt Nam đã đến Bắc Kinh ngày 16 tháng 10 và rời TQ hai ngày sau đó.

Trung Quốc trải thảm đỏ đón tiếp Tướng Phùng Quang Thanh.

Sáng ngày 17 tháng 10 Tướng Phùng Quang Thanh đã duyệt đội danh dự của Giải phóng Quân tại Bộ Quốc phòng. Ngay sau đó hai bên đã tổ chức các cuộc thảo luận chính thức. Đến chiều Tướng Thanh đã được Phó Chủ tịch TQ, Li Yuanchao (李源潮, Lý Nguyên Triều) tiếp kiến. Vào sáng hôm sau, Tướng Phùng Quang Thanh gặp Trung tướng Fan Changlong (范长龙, Phạm Trường Long), Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương và thành viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tuy nhiên, hai bên đã không có tuyên bố chung.

Giới truyền thông Trung Quốc và Việt Nam đưa tin về ba cuộc gặp song phương của Thanh không giống nhau. Phương tiện truyền thông Trung Quốc chỉ đưa tin cho có, trong khi báo chí Việt Nam cung cấp thông tin chi tiết hơn nội dung của các cuộc gặp mặt.

Điều rõ ràng rút ra từ những bản tin đó là bầu không khí của các cuộc họp song phương giữa hai nước đã nồng ấm và tích cực hơn. Cả hai bên đều dùng công thức ngoại giao làm động lực để vượt qua mối quan hệ đã bị căng thẳng vì cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu. Ví dụ, Bộ trưởng Thường Vạn Toàn đã nhấn mạnh Trung Quốc luôn luôn quý trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác với Việt Nam và chuyến thăm của Tướng Phùng Quang Thanh, nói chung, sẽ đóng góp vào quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện và trong quan hệ quốc phòng hai nước, nói riêng.

Phó Chủ tịch Trung Quốc Lý Nguyên Triều và Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh. (Nguồn: TTXVN)

Tướng Phùng Quang Thanh bắt đầu diễn văn bằng lời chúc mừng thành tích của người Trung Quốc trong 65 năm qua. Thanh đánh giá cao sự phát triển tích cực của quan hệ Trung Quốc-Việt Nam trong những năm gần đây. Ông tái khẳng định chính sách cơ bản của Việt Nam là rất coi trọng quan hệ láng giềng tốt đẹp và hợp tác toàn diện với Trung Quốc.

Tướng Thanh cũng lưu ý rằng mối quan hệ tổng thể giữa Trung Quốc và Việt Nam đang phát triển tốt và tranh chấp về chủ quyền trên biển là trở ngại duy nhất trong quan hệ song phương.

Ngoài mặt ngoại giao, Tướng Thanh đã đưa ra năm đề nghị xây dựng lại sự tự tin và lòng tin cho cả hai bên nhằm bảo đảm là bạo lực sẽ không được sử dụng.

Theo tờ Quân đội Nhân dân, cơ quan của Quân đội nhân dân Việt Nam, TướngThanh đề nghị cả hai quân đội phải giữ bình tĩnh, kiên nhẫn, kiềm chế và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động trên biển để tránh hiểu lầm, ngăn ngừa xung đột, và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực để giải quyết tranh chấp trên biển.

Tướng Phùng Quang Thanh đề nghị quân đội phải có hành động một cách nhân đạo đối với ngư dân và không tịch thu dụng cụ dùng để kiếm kế sinh nhai của họ. Ngoài ra, quân đội cần hỗ trợ ngư dân bị nạn và tạo điều kiện cho họ làm ăn, góp phần vào lợi ích chung cho cả hai bên.

Tướng Phùng Quang Thanh Thanh khẳng định lại chính sách lâu dài của Việt Nam về việc giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông. Tướng Thanh thúc giục Trung Quốc sẽ có chung một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.

Phùng Quang Thanh yêu cầu Trung Quốc rút lại cảnh báo về du lịch sang Việt Nam để giao thương kinh tế và du lịch có thể được khôi phục lại bình thường.

Cuối cùng, Tướng Phùng Quang Thanh mời Tướng Chang sang thăm Việt Nam.

Cả hai bộ trưởng quốc phòng đã đồng ý rằng hợp tác quân đội-với-quân đội hình thành một phần quan trọng của quan hệ Trung Quốc-Việt Nam. Theo các điều khoản của một thỏa thuận hợp tác quốc phòng ký kết năm 2003, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn, tổ chức một cuộc đối thoại chiến lược cấp Thứ trưởng, thực hiện đào tạo cán bộ, tổ chức thảo luận về Đảng và công tác chính trị trong quân đội, phối hợp công việc của các đơn vị bộ đội biên phòng, và tiến hành tuần tra chung ở Vịnh Bắc Việt. Cả hai Bộ trưởng đã đồng ý rằng nghị định thư 2003 đã dẫn đến kết quả tích cực và cả hai bên cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động này trong tương lai.

Kết thúc cuộc họp của họ, cả hai bộ trưởng quốc phòng đã chứng kiến việc ký kết một bản ghi nhớ kỹ thuật về việc thành lập đường dây thông tin trực tiếp giữa hai bộ quốc phòng. Tuy nhiên không có thêm thông tin chi tiết nào khác được công bố.

Theo Tân Hoa Xã, hai bộ trưởng “đã đạt sự đồng thuận về phát triển quan hệ quân sự song phương … cam kết sẽ giải quyết đúng đắn các tranh chấp trên biển giữa hai bên.” Hai bộ trưởng tiếp tục “quyết định dần dần khôi phục và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh và ổn định của quan hệ quân sự song phương.”

Tân Hoa Xã cũng trích dẫn từ “một tuyên bố” có dòng chữ: “lực lượng vũ trang của cả hai bên cần tăng cường đoàn kết và để bảo đảm vững mạnh vai trò cai trị của đảng cộng sản của hai nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.” Cuối cùng, hai bộ trưởng đồng ý “tuân theo sự đồng thuận của cả hai nhà lãnh đạo và đóng một vai trò tích cực trong việc giải quyết các tranh chấp hàng hải và bảo vệ tình trạng hòa bình và ổn định.”

Cuộc họp giữa Tướng Phùng Quang Thanh với Phó Chủ tịch Lý Nguyên Triều cũng rất thân mật. Lý Nguyên Triều mở đầu cuộc hội thoại bằng lời ghi nhận rằng chuyến thăm của Tướng Thanh“sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ song phương, tăng cường sự hiểu biết, tin tưởng và hợp tác cùng có lợi giữa hai đảng, hai nước, và hai quân đội.” Lý Nguyên Triều cũng nhấn mạnh rằng Trung Quốc coi trọng hợp tác, hữu nghị với Việt Nam và nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác hữu nghị truyền thống của giới lãnh đạo cấp cao.

Tân Hoa Xã cho biết Phó Chủ tịch Lý Nguyên Triều kêu gọi cả hai bên “tăng cường chiến lược truyền thông, tăng cường lòng tin chính trị, giải quết tranh chấp biển đảo, thúc đẩy phát triển chung, và tăng cường hợp tác hữu hình để đảy mạnh mối quan hệ song phương về phía trước.”

Tướng Phùng Quang Thanh chuyển lời chào của các giới lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam. Thanh thông báo với Phó Chủ tịch Lý Nguyên Triều rằng mục đích của chuyến thăm này là để thúc đẩy sự thông cảm đã đạt được giữa giới lãnh đạo của họ trước đây và thúc đẩy mối quan hệ lành mạnh, lâu dài và ổn định giữa hai đảng, hai nước và và hai quân đội.

Tân Hoa Xã diễn giải phát biểu của Tướng Thanh: “Việt Nam và Trung Quốc đã duy trì liên lạc chặt chẽ và cùng hưởng lợi ích chung … quân đội Việt Nam sẵn sàng đóng góp vào sự phát triển của quan hệ song phương giữa quân đội và nhà nước cũng như hòa bình và ổn định của khu vực.”

Tướng Phùng Quang Thanh gặp Tướng Phạm Trường Long (Fan Changlong) vào sáng cuối cùng trong chuyến thăm. Theo tin của truyền thông Trung Quốc, Họ Phạm nói với khách mời, “không ai đổi được nước láng giềng. Vì lợi ích chung của Trung Quốc và Việt Nam hai nước phải sống trong hữu nghị, giải quyết phù hợp những tranh chấp và thúc đẩy phát triển chung.”

Họ Phạm cũng lưu ý rằng quân đội của hai nước có trách nhiệm quan trọng để bảo vệ và duy trì các mối quan hệ song phương và sẽ góp “năng lượng tích cực” hướng tới mục tiêu này. Ông nói,“Chúng ta nên làm cho quân đội của chúng ta cư xử tốt và không co những tuyên bố làm tổn hại đến tình cảm của cả hai bên hoặc làm những việc phá hoại quan hệ song phương nói chung.”

Báo chí Việt Nam đưa tin là Tướng Thanh đã khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ láng giềng tốt đẹp và hợp tác toàn diện với Trung Quốc và cả hai bên cần thực hiện đầy đủ sự hiểu biết chung đạt được giũa các lãnh đạo của họ. Tướng Thanh lặp lại một cách chi tiết chính sách lâu dài của Việt Nam nhằm giải quyết tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình, theo luật quốc tế, và để đạt được một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông.

Ngày 16 tháng 10, theo xu hướng tích cực trong quan hệ Trung Quốc-Việt Nam, Thủ tướng Lý Khắc Cường đã gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bên lề Hội nghị cấp cao Á-Âu tại Milan. Tin tức trích dẫn Thủ tướng Lý nói rằng Trung Quốc và Việt Nam cần phải “giải quyết và kiểm soát những khác biệt về chính sách biển … Nhờ những nỗ lực từ cả hai phía, quan hệ Trung Quốc-Việt Nam đã thoát khỏi vũng lầy gần đây và đang dần phục hồi.”

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã được trích dẫn là đồng ý và ủng hộ đẩy mạnh “hợp tác trong cơ sở hạ tầng, tài chính và thăm dò hàng hải,” ba lĩnh vực đã đạt được đồng thuận trong chuyến thăm của họ Lý tới Hà Nội vào tháng 10 năm 2013.

Trung Quốc và Việt Nam đã bắt đầu hàn gắn lại mối quan hệ song phương bằng cách sử dụng các móc nối quân sự-quân sự đáng tin cậy và không cần ngoại giao của hai bên. Những phát triển này cần được gìn giữ với một mức độ thận trọng. Tất cả những sự tôn trọng lẫn nhau, quan hệ láng giềng tốt đẹp truyền thống, và nhận thức của các nhà lãnh đạo cấp cao đã được tuyên bố trước đây.

Điều quan trọng cần lưu ý là tầm cỡ và thành phần của hai đoàn đại biểu quốc phòng. Chỉ huy quân sự ở cả hai bên biên giới và trên biển đã gặp đối tác của mình. Quan trọng hơn, những sĩ quan chỉ huy này đã chứng kiến tất cả sự đồng lòng bằng lời nói của các bộ trưởng của họ. Giới chỉ huy quân sự của cả hai bên sẽ phải thực hiện nhiệm vụ của họ sao cho phù hợp.

Theo quan điểm của Việt Nam, chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng là quan trọng để chứng minh sự thống nhất với Trung Quốc bằng cách đưa một phái đoàn rầm rộ đến Bắc Kinh.

Giới chỉ huy quân sự của Trung Quốc và Việt Nam đang cam kết đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc phòng hiện có trong một số lĩnh vực. Giới phân tích sẽ phải theo giõi sát để xác định xem việc làm có đi theo lời nói hay không.

Khi nào thì Bộ trưởng Quốc phòng TQ Thường Vạn Toàn sẽ nhận lời mời đến thăm Hà Nội? Nó sẽ là một dấu hiệu của sự tiến bộ nếu Tướng Chang sẽ tham dự lễ kỷ niệm lần thứ bẩy mươi đánh dấu ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam vào ngày 22 tháng 12 sắp tới.

Kết quả quan trọng nhất của cuộc hội đàm giữa hai Bộ trưởng Quốc phòng đã thỏa thuận về việc thiết lập một nghị định thư liên kết truyền thông trực tiếp giữa hai bộ. Đây là một dấu hiệu tích cực mà cả hai bên đều biết rằng một biến cố có thể thay đổi rất nhanh, vượt ra ngoài vòng kiểm soát và dẫn đến bạo lực chết người.

Một dấu hiệu khác cho thấy tình trạng của mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam sẽ đến tại Hội nghị thượng đỉnh APEC tổ chức tại Trung Quốc vào cuối tháng này và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tổ chức tại Myanmar vào tháng Mười Một. Liệu giới lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam sẽ gặp bên lề hội nghị và đồng ý tiến hành giải quyết sự khác biệt của họ hay không?

Gần đây Trung Quốc mở rộng đường bay trên đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa và có những chuyến thăm đến các vùng đất ở quần đảo Trường Sa của lực lượng hải quân của Trung Quốc chứng minh rõ ràng rằng các tranh chấp lãnh thổ và chủ quyền ở Biển Đông vẫn là nhân tố gây kích ứng chính trong quan hệ song phương giữa hai nước.

© 2014 DCVOnline


Nguồn: China-Vietnam Defense Hotline Agreed: What Next?. Beijing and Hanoi are looking to reset bilateral relations following a turbulent year.By Carl Thayer. The Diplomat, October 20, 2014

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »