Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười 24th, 2014

►Hai cách ngắm Đèn Cù (Bùi Tín)

Posted by hoangtran204 trên 24/10/2014

Hai cách ngắm Đèn Cù

Tác giả:  

14-10-2014

Danchimviet.info

 

Trên mạng Dân Làm Báo vừa có bài ‘Những hạn chế của Đèn Cù’ của tác giả Phan Châu Thành, chỉ ra 8 điểm yếu kém của tác phẩm mới trình làng của Trần Đĩnh.

Ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về một cuốn sách là chuyện thường tình trong cuốc sống văn học- chính trị. Trao đổi, tranh luận, cọ xát chính kiến làm cho xã hội tiếp cận với lẽ phái, với cái đẹp, cái tiến bộ, cái có ích, cũng như lắng nghe nhau, tôn trọng ý kiến khác nhau là động lực thúc đẩy cuộc sống văn hóa và học thuật.

Tôi thấy tác giả Phan Châu Thành có phần quá lời khi cảnh báo rằng cuốn sách của Trần Đĩnh có thể ‘nguy hiểm‘(!), ‘không có ích gì cho phong trào dân chủ’(!) , ‘có thể gây nhiều ngộ nhận’, ‘ không nói được cái gì mới ‘, ‘ chỉ là một cuốn sách tù mù, luẩn quẩn, không mới, không đặc sắc, như một chiếc đèn cù tầm thường ngoài đời vậy ‘.

Tôi e rằng ông Phan Châu Thành chưa nắm chắc được phương pháp, nguyên tắc  thưởng thức một tác phẩm văn học nghệ thuật hay chính trị. Thật đáng tiếc.

Trước hết, người đọc cần đặt mình vào trong điều kiện, môi trường, hoàn cảnh sống của người viết để đánh giá nhân sinh quan, lẽ sống, chính kiến của người viết; hai là cần có thái độ công bằng, khoan dung, khiêm tốn, không yêu cầu người viết phải có quan điểm, bút pháp giống hệt mình, y như mình mong muốn, cần theo quan điểm đa nguyên, mỗi người có quyền được giống và khác người ; ba là tự mình biết gạn đục khơi trong, biết nhận ra, thưởng thức những cái hay, cái đẹp, cái thiện tiềm ẩn, có khi đó không phải là chủ định của người viết. Cuối cùng là phát hiện thông điệp chính, cái thần của tác phẩm.

Phan Châu Thành còn đi quá xa sự thật, khi cho rằng những Trần Đĩnh, Trần Đức Thảo, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín đều vẫn còn thuộc hàng ngũ ‘ Hồ-Nhều ’ cả. Đã gần 10 năm nay tôi đã nhiều lần nói, viết, khẳng định rằng sau khi nghiền ngẫm kỹ, nghiên cứu thấu đáo tôi đã đi đến kết luận như đinh đóng cột rằng : «  ông Hồ là 1 nhân vật tiêu cực, có hại cho đất nước, nếu cho điểm tôi sẽ cho điểm âm, dưới zéro » ; rằng : « sẽ là may mắn cho dân tộc nếu như ông Hồ không sang Pháp, vào đảng Xã hội, rồi vào đảng Cộng sản Pháp, không sang Nga học nghề tình báo của đệ Tam Quốc tế CS, không sang Tàu gia nhập đệ Bát Lộ quân của Mao … để rồi về nước áp dụng một chế độ độc đoán phi dân chủ, phản dân chủ đến tận ngày nay ». Tôi không bao giờ đạp giày lên ảnh ông Hồ như có người thách thức, tôi không gọi ông Hồ là thằng, là lão, là tên, theo cái kiểu Phan Châu Thành không hài lòng khi thấy triết gia Trần Đức Thảo và Trần Đĩnh vẫn gọi ông Hồ là ‘ ông Cụ ‘.  Một kiểu chống Cộng sơ đẳng, ấu trĩ, không nên có ở một người làm chính trị đứng đắn, có tư cách, tôn trọng độc giả. Nhà báo lương thiện không hồ đồ, suy diễn.

 

Tôi biết Phan Châu Thành có lần bộc lộ trên mạng mong muốn cao nhất của anh là giải ảo về nhân vật Hồ Chí Minh, với bài : ‘Giải ảo về HCM như thế nào ?’. Anh nhận định rất đúng rằng lãnh đạo giáo điều bảo thủ hiện nay chỉ còn bám víu hão huyền vào nhân vật thành ‘huyền thọai ‘ này. Thế mà anh không nhận ra ‘Những lời trăng trối’ và ‘ Đèn Cù’ thực tế chính là những nhát xẻng sắc đã an táng ông Hồ xuống mấy tầng đất đen. Vâng, chôn về tinh thần, nhân cách,  còn sâu sắc hơn là chôn  cơ thể, con người.

Trần Đĩnh nói gì ?  Rằng ông Hồ bịt râu ra tận hiện trường xã Đồng Bẩm tham dự cuộc đấu tố và xử tử bà Nguyễn Thị Năm, còn tự mình viết bản cáo trạng vu cáo bà Năm giết hàng trăm nông dân, ký tên C.B. là ‘của Bác’ – ‘bác Hồ’, để đăng trên trang nhất báo Nhân Dân. Đã vậy còn giả dối nói với ông Hòang Tùng là « không thể bắn chết một phụ nữ mở màn cho Cải cách ruộng đất, cũng như không thể đánh một phụ nữ dù bằng một cành hoa -, theo cách nói nịnh đầm của dân thượng lưu Pháp ».  Ông Hồ còn hứa hão với ông Hoàng Quốc Việt là sẽ can thiệp với cố vấn Tàu để không bắn bà Năm. Trần Đĩnh vốn kiệm lời, tin ở bạn đọc thừa đủ biết cách đọc. Để làm vỡ lẽ là ông Hồ lá mặt, lá trái, tàn ác, giả dối đến độ nào. Nói thẳng ra là đểu giả, mất dạy đến độ nào. Đạo đức nào như thế. Học đạo đức ‘bác’ thì cả dân tộc, cả thế hệ trẻ sẽ thành một dân tộc lừa lọc, bịp bợm.

Một đọan rất ngắn, 1, 2 lưỡi xẻng sắc thừa đủ chôn vùi uy danh, nhân cách của ông Hồ.

Đã có ai lật mặt ông Hồ có sức thuyết phục, đau đến thế, không cãi được đến thế ? Sao lại bảo Trần Đĩnh còn ‘ Hồ nhều’, vu cáo thế là phải tội đấy. Đúng là TĐ có nói : lúc đầu tôi cũng mến ông Hồ, nhưng xin chú ý, chỉ ‘lúc đầu’ thôi. Sau ông đã ‘dứt tình’ kia mà.

Còn triết gia Trần Đức Thảo ? ‘Hồ-Nhều’ ư ? chỉ vì 2 chữ ‘ông Cụ’(!)? . Hơn một chục lần TĐT gia công giải mã ‘ông Cụ’. Sâu và cay không ai hơn được. Xin mời anh Phan Châu Thành và các bạn xem lại vài đọan trong cuốn ‘Những lời trăng trối’, có thể coi là công trình triết học sâu sắc về giải mã nhân vật Hồ Chí Minh.

– Cụ Hồ là một nhân vật vô cùng phức tạp, vô cùng thông minh, rất mưu trí, một

con người sắt đá đến mức vô cảm, vô tình, sẵn sàng chụp bắt mọi cơ hội để thành đạt. Một ý chí thành đạt không gì lay chuyển. Đây là một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời (trang 318)

– Phải hiểu rằng ‘ông cụ’ có tâm thức mình là bên trên tất cả, là một bậc kỳ lão gia

trưởng luôn luôn tỏa sáng bởi một thứ hào quang thần thoại đúng với truyền thuyết lịch sử ‘ con Rồng cháu Tiên ‘. Và đám quần thần chung quanh ‘ông cụ’ không tha thứ cho một ai dám tỏ mình là ngang hàng với ‘ Người’. Từ những tay nổi tiếng tâm huyết như Nguyễn An Ninh, Phan văn Hùm, … cho tới kẻ được đào tạo chính quy như Trần Văn Giàu, và biết bao nhiêu trí thức có uy tín khác nữa… đều là nạn nhân của thái độ như thế. Tất cả đều bị lọai bỏ một cách tàn nhẫn và vĩnh viễn. Người ta ưa kể cho nhau nghe rằng Tạ Thu Thâu chết mất xác vì câu nói: ‘ngòai Bắc có cụ, trong Nam có … tôi’(261).

– Phải biết rằng huyền thọai và vóc dáng lãnh tụ của ‘bác Hồ’ là tác phẩm của cả một công trình nghệ thuật hóa trang cao độ, một công trình điểm tô, giàn dựng, để công kênh ‘ông cụ’ lên thành một nhà lãnh đạo uy nghi, kiệt xuất, như là bậc thần bậc thánh

để dân chúng một lòng ngưỡng mộ mà sùng bái. ‘Ông cụ’ được tôn vinh làm bác, làm cha dân tộc. Họ dạy cho dân tiêu chuẩn lý tưởng, cái gì có giá trị thì cũng phải là của ‘bác Hồ, của ‘cụ Hồ’. Nào là ‘cháu ngoan bác Hồ’, ‘cây vú sữa bác Hồ’, ‘nhà sàn bác Hồ’ cho tới ‘anh bộ đội cụ Hồ’ (262).

– Guồng máy tuyên truyền cách mạng dạy dân :’ Phải sống và làm việc theo gương

‘bác Hồ’ ! Nhưng làm sao một người bình thường có thể sống với tung tích không rõ rệt, gốc gác đầy bí ẩn, nhiều tên họ lung tung, với đường lối muôn mặt như ‘bác Hồ’ được.

Hành trình gập ghềnh, khúc khuỷu của ‘bác Hồ’ thì khó có ai có thể đi theo. Từ một chú bé học chữ nho ở trong làng, từ một cậu học trò nghèo sống ở Huế, từ một ông thày giáo quèn ở Phan Thiết, từ một anh bồi hầu hạ quan Tây trên tàu thủy, từ một anh thợ chụp ảnh dạo ở Paris, từ một kẻ mượn danh một nhóm ái quốc ‘An Nam’ viết báo, viết kiến nghị gửi hội nghị quốc tế, từ một đảng viên đảng Xã hội Pháp, nay bỗng xuất hiện ở Nga, mai lại là cán bộ ở bên Tàu, nay bị đệ Tam quốc tế khai trừ vì có ’đầu óc quốc gia hẹp hòi’, mai lại thấy chạy về ẩn náu ở Trung Quốc, ở Xiêm… rồi sau lại thấy xuất hiện trở lại ở Liên Xô, nhưng chỉ được chầu rìa bên lề Đại hội kỳ 5 của đệ Tam Quốc tế… Rồi sau lại thấy ‘bác’ xuất hiện với bộ áo cà sa ở Xiêm, rồi là trong bộ quân phục Giải phóng quân Trung quốc, khi được nhận vào làm việc trong Bát Lộ Quân của đảng CS Trung quốc… Sau biết bao truân chuyên, thì rồi bỗng ‘bác’ nổi bật như một nhà chính trị của mọi cơ hội, một lãnh tụ của cách mạng ! Một con người đa năng, muôn mặt, muôn ý, muôn hướng phức tạp như thế, ai mà làm theo, noi theo tấm gương ấy được (268)

– Xét rộng ra thì tầng lớp lãnh đạo sau này chỉ là cái đuôi … của tuyên truyền giáo điều máy móc, thiếu biện chứng, phản biện chứng ! Vấn đề là không thể bắt buộc noi gương ‘bác Hồ’.  Bởi cách sống muôn mặt, đa phương, đa nguyên của ‘bác’ đâu có phải là gương sáng ?  Bởi những điều ‘bác’ đã làm nó rất khác, rất trái ngược với những điều ‘bác‘ dạy ! Bởi đảng, nhà nước đã hành động muôn mặt như ‘bác’ nên xã hội đã loạn. Trong thực tế đâu có ai sống theo lời dạy của ‘bác’?(273)

Chỉ qua vài đọan trên có thể thấy triết gia Trần Đức Thảo đã khắc họa ‘ông Hồ’ đậm nét, trúng phóc ra sao.  Bộ máy tuyên huấn tháng 5 và tháng 9 vừa qua nhân kỷ niệm ngày sinh và ngày mất của ‘ông Hồ’ vẫn còn ra rả kêu gọi thanh niên, đảng viên học tập đạo đức của  ‘bác Hồ’, để theo như triết gia nói, cả nước hóa thành Tào Tháo lừa lọc nhau cả ư ? rồi các em sẽ khai ngày và năm sinh tùy tiện, mỗi em mang hàng chục bí danh, sống đạo dức giả hết hay sao. Rồi các em có vợ có con sẽ không nhận vợ, nhận con, còn lấy con gái nuôi của chính mình cho dù chênh nhau hơn 40 tuổi, rồi để cô ta bị đập vỡ sọ vẫn dửng dưng. Học làm theo ‘bác’ như thế sẽ rối lọan to.

Riêng công trình ‘giải mã ông cụ’ của triết gia Trần Đức Thảo qua những lời trăng trối đã xứng đáng được vinh danh là công trình xuất sắc hạ bệ một thần tượng giả, dỏm, tệ hại cho toàn dân tộc. Huống gì triết gia còn triệt để phủ định chủ nghĩa Mác, kết luận nó sai, sai từ gốc đến ngọn, trong khi cương lĩnh hiện tại của đảng CS vẫn coi là cơ sở lý luận, cũng là một đòn chí tử nữa, một cống hiến đúng lúc khi đảng CS chuẩn bị Đại hội XII.

TĐT còn phủ định cả chế độ, cả đảng CS đến mức triệt để, khó ai có thể triệt để hơn, khi nói về công trình của mình:«Đây là những kinh nghiệm sống động để có thể hiểu rõ nguồn gốc của thảm kịch vẫn đang bao phủ lên thân phận dân tộc. Nó đưa tới tình trạng suy đồi đạo lý trong xã hội ta ngày nay.Một xã hội đang bị ung thối bởi căn bệnh trầm kha bất trị, căn bệnh xảo trá, căn bệnh thủ đọan của đảng » (trang 72).

Còn nhà báo Trần Đĩnh đâu phải chỉ muốn minh oan cho cánh Xét lại, theo đường lối của Liên Xô hồi đó. Đường lối ấy nếu như ông Hồ, ông Trường Chinh từng cam kết tán thành tại cuộc họp lớn 81 đảng CS ở Moscow và thuyết phục được ban chấp hành trung ương thì VN sẽ kiên trì thi đua hòa bình như giữa Tây Đức và Đông Đức, tránh việc dùng bạo lực và chiến tranh, tránh bao nhiêu sinh mạng bị hủy diệt trong cuộc huynh đệ tương tàn. Kết thúc sẽ có thể khác, dù sao vẫn còn hơn tình thế hiện nay.

Hai là minh oan cho vụ án hoang tưởng ấy còn là xây dựng nhà nước pháp quyền, lỗ hổng lớn của chế độ độc đảng phi pháp hiện nay, buộc phải xét lại cả những vụ án nhằm làm hài lòng Liên Xô khi chống Tàu, mà chính Lê Duẩn xoay trở cờ, như vụ án Chu Văn Tấn ‘ tay sai của Bắc Kinh’ (thượng tướng tư lệnh quân khu I) chết trong trại giam.

Ba là như nhà báo Trần Đĩnh nhận xét, họ không dám xét lại vụ án xét lại vì như vậy sẽ đổ vỡ, lan rộng, tóe loe ra hết, lớn nhất là vụ Tổng Cục II, vụ Lê Đức Anh chui vào đảng, 2 vụ đã được một tiểu ban kết luận nhưng tổng bí thư Nông Đức Mạnh quyết định ỉm đi, hủy đi với đa số đồng tình của bộ chính trị. Nhưng nay bộ chính trị và ban chấp hành trung ương hiện vẫn có quyền hồi tố đưa ra xem xét lại.

Vậy mà anh Phan Châu Thành cảnh báo rằng coi chừng Đèn Cù không chống Cộng, không chống chế độ hiện tại, nó có thể ‘nguy hiểm nữa’. Thưởng thức văn học, có khi nên biết đọc giữa 2 hàng chữ, sau những hàng chữ, ‘ý tại ngôn ngọai ‘.  Bàn về chủ nghĩa tập thể theo kiểu cộng sản, Trần Đĩnh nói về ‘ chất thú hoang dã, về vòng vây của chủ nghĩa tập thể, cái chủ nghĩa nó không biết nhân cách’.  Anh thêm: ‘ Cái gì đụng đến Người – con Người – là nó ghét lắm. Nhân cách chống cộng của Trần Đĩnh thể hiện ở câu nói: « Thà làm con đom đóm lập lòe tý chút ánh sáng của riêng nó, cái ánh sáng nhỏ mọn, nhưng làm nổi bật lên bóng tối bao la hãi hùng vây quanh nó ».

Anh Phan Châu Thành có nghe Trần Đĩnh mượn lời một cô gái thốt lên: ’ước gì Mỹ thả bom cho tan nát hết đi !’.  Đó, chế độ CS dẫn đến một xã hội tan hoang không còn đáng sống. Và hãy nghe anh kể khoan khoái ra sao khi nhận được câu chúc mừng của cụ thân sinh từ Sài gòn gửi ra Hà Nội khi được tin anh bị (được) khai trừ khỏi đảng CS : «  il faut célébrer la grande sortie de Đĩnh -, phải ăn mừng cuộc giải thóat lớn của Đĩnh ».

Tôi mong rằng đông đảo bạn đọc tận thưởng 2 chuỗi ngọc quý ‘Trăng trối’ và ‘ Đèn Cù’. Vẫn còn khá nhiều hạt ngọc ẩn hiện trong đó. Miễn là không định kiến, không ganh ghét, không dèm pha, công bằng và tĩnh trí. Và biết cách thưởng thức những thông điệp tâm huyết thầm kín của tác giả. Tôi thích thú mong đợi tập II của Đèn Cù.

Tác giả:  

(Tác giả gửi đăng)

Nguồn:  Đàn Chim Việt:

Hai cách ngắm Đèn Cù 
http://www.danchimviet.info/archives/90937/hai-cach-ngam-den-cu/2014/10

Những hạn chế của Đèn Cù  (cảm nhận của Phan Châu Thành)
http://danlambaovn.blogspot.de/2014/10/nhung-han-che-cua-en-cu.html

Nhận định của ông Bùi Tín về việc một số lãnh đạo VN bị tố giác cộng tác với CIA, (22-7-2004), nói về vụ khám xét và bắt ông Lê Hồng Hà.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/VietnamPolitics/141853-20040722.html

Phỏng vấn Lê Hồng Hà – Đảng chỉ còn vai trò kìm hãm xã hội (3-6-2012)
http://www.procontra.asia/?author=11

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Những người đàn bà không có hoa hồng

Posted by hoangtran204 trên 24/10/2014

dan_ba.jpg

Những câu chuyện về đàn bà

Tuấn Khanh 

Người đàn bà ngồi tựa vào tường trên lối mòn của một con hẻm. Mệt mỏi và thiếp đi cạnh quang gánh của mình. Hai đầu gánh là đủ thứ quà vặt như bánh tráng, kẹo, đến chanh, ớt… rồi có cả đồ chơi trẻ con chằng cột. Chị như muốn kéo cả thế giới chung quanh đi theo mình trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn không có ngày tháng cuối.

Hình ảnh đó đẹp đến mức tôi dừng lại, muốn chụp tấm ảnh làm kỷ niệm thì chị choàng tỉnh. Chị sợ hãi hỏi tôi chụp ảnh để làm gì. Có lẽ những cuộc rượt đuổi hàng rong trên hè phố là cơn ác mộng triền miên khiến chị không bao giờ có được chút thanh thản. Trò chuyện ít lâu, mới biết chị đi từ Quảng Ngãi vào bán hàng rong để gửi tiền về giúp cho gia đình. Tháng nhiều thì được 700-800 ngàn. Tháng ít thì 300-400 ngàn.

Người phụ nữ ấy chỉ là một trong hàng trăm ngàn con người đang lưu lạc mưu sinh trên đất nước này. Ẩn trong nụ cười hay lời rao hàng đơn giản đó, là những câu chuyện đời trôi dạt theo miếng ăn, trắc trở hơn những câu chuyện dài truyền hình giả tạo, nhưng buồn thay, chẳng có mấy người xem.

Khi chị ngồi giở mẩu giấy ghi lại tiền nong đã buôn bán trong ngày. Những ngón tay lần mò trên con số ngắn và nhỏ hơn biết bao lần những biên lai tính tiền thường nhật trong thành phố. Những ngón tay của chị nhiều ngày tháng không có được hơi ấm của chồng. Bao nhiêu người phụ nữ trên đất nước này đã bước lên chuyến xe đời khốn khó và không biết ngày nào có lại được hơi ấm từ người đàn ông của mình? Một trong những người phụ nữ như vậy mà tôi gặp nói rằng bà đã rời khỏi nhà gần 15 năm, sống một mình, làm lụng gửi tiền về quê nhưng chưa bao giờ có ý định chọn một tấm chồng khác.

Khi tôi xin được chụp hình chung với gánh hàng rong của người phụ nữ từ Quảng Ngãi, chị hốt hoảng nói không được. Hỏi mãi, thì chị mới nói thật là sợ chụp hình chung, nếu lỡ chồng đang đi làm ở quê thấy được, tưởng chị “mèo mỡ” sẽ buồn giận, tội nghiệp lắm.

Tôi cứ ước mình viết được một bài hát về người phụ nữ này, hay những người phụ nữ tương tự như vậy. Những nốt nhạc không bật ra được, cứ nghẹn lại trong hốc sâu nào đó. Những người đàn bà được mô tả đẹp như cổ tích trong văn chương, hội hoạ… thường thấy, chưa bao giờ có đủ hình ảnh quê mùa và ngọt ngào đến vậy. Không cần cầm súng hay bước ra bục tuyên hô, những người đàn bà vô danh này chống chọi cho một linh hồn đất Việt mong manh, giữa thời phụ nữ đang phải là một cái gì đó rất khác lạ.

Nhưng tôi vẫn còn nợ một bài hát khác, về những người phụ nữ Việt vô danh khác.

Trên một chuyến đi, may mắn được ngồi cùng vài cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan về thăm quê, tôi bèn xin hỏi chuyện đời sống của họ. Nói về chuyện báo chí Việt Nam vẫn mô tả cuộc sống đi lấy chồng Đài Loan như địa ngục hay nô lệ, các cô nhìn nhau, rồi nhìn tôi cười.

“Cũng có những người không may, nhưng không phải ai cũng vậy, anh à”, một cô gái đồng hương Cần Thơ giải thích. Những cô gái rất trẻ nói về cuộc sống mới của mình. Họ nói rằng đã chọn hài lòng với cô đơn, hài lòng với những khó khăn mà họ phải trãi qua, ít nhất để cho mình, cho cha mẹ mình thoát nghèo khó. Ở miền Tây, có rất nhiều nơi được đặt tên là làng Đài Loan, làng Hàn Quốc… chỉ vì những đứa con gái lấy chồng xa xứ tằn tiện chi tiêu chỉ để dựng lại nhà cho gia đình mình.

Khi được hỏi về nạn bạo hành gia đình của các cô lấy chồng ngoại quốc. Một người lại nhìn tôi cười, hỏi rằng “bộ anh không không biết là lấy chồng dưới quê xứ mình cũng bị đánh tới chết cũng không ai cứu à?”.

Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi này mở ra cho tôi một góc nhìn khác về những người phụ nữ Việt tìm duyên tha hương. Chắc chắn họ không hoàn toàn những kẻ điên cuồng hay mất nhân cách như báo chí vẫn gièm xiểm. Thật buồn khi có một thời đại mà những người phụ nữ Việt phải chọn cuộc sống khác hơn ở quê hương mình. Rất nhiều người đã phỉ báng họ. Nhưng giữa chọn lựa rất thực tế, có thể tự xoay sở cho đời mình, họ đủ thành thật để không màng một tiếng thơm hảo. Nỗi buồn xin gửi lại cho quốc gia và thời cuộc, họ chỉ là nạn nhân.

Có thể rồi những người phụ nữ này bình an, nhưng họ khó mà có được hạnh phúc. Điều mà mọi tôn giáo dạy con người đi tìm, cả thế gian mơ đến thì họ chấp nhận lìa bỏ trong kiếp sống tạm, để có thể làm được gì đó cho gia đình, hoặc không là gánh nặng ở quê nhà. Cũng như người đàn bà mưu sinh đến từ Quảng Ngãi, bao giờ thì những người phụ nữ lấy chồng xa này sẽ có, hay cảm nhận được hơi ấm của hạnh phúc đời mình?

Trong những ngày xưng tụng phụ nữ được ghi vào lịch, hình bóng “xấu xí” của những người phụ nữ này chắc không thể có trong diễn văn hay những bông hoa đẹp, dù là phô diễn. Cũng không có những bài ca nào chia sẻ, hát về họ giữa một hiện trạng đất nước thiếu những trái tim biết yêu thật thà. Những bài ca chỉ vang lên lời xảo biện.

Một đất nước thật đáng buồn, nếu chỉ còn biết có hot girl hay xưng tụng một giai cấp khoe khoang mua sắm tiền tỉ, thèm khát những vẻ đẹp bề ngoài. Khi trò vui che lấp các số phận, đến một ngày nào đó, tất cả chỉ là mồi thiêu như các loại hàng mã trong niên đại cô hồn. Thật ghê sợ những đêm hoa đăng tranh đua vùi chôn sự thật mà lẽ ra chúng ta cần phải đối diện.

Tôi ước mình viết được bài ca để hát về câu chuyện của những người đàn bà vô danh ấy, một ngày nào đó. Những số phận ấy tầm thường mà khác thường. Nhưng những nốt nhạc hiện thực vẫn chưa thể vang lên, vì vừa chớm thì đã chết lặng trong những cuộc vui hoa đăng bất tận trên đất nước này. Những tượng đài tốn kém mọc lên, những bông hoa đủ màu ngập ngụa đất nước, rực rỡ như phấn son, che lấp giọt mồ hôi hay nước mắt con người.

——

 

Chút ký ức cho một ngày ngợi ca phụ nữ

Tuấn Khanh

Trong tất cả những câu chuyện về những người phụ nữ mà tôi nhớ được, có một câu chuyện luôn ám ảnh tôi trong nhiều năm tháng. Đó là một người phụ nữ vô danh, nghèo khó như bao nhiêu người nghèo khó trên đất nước này. Tôi chọn ngày 20-10 để ghi lại chút ký ức về bà, vì nếu lỡ quên đi, chắc là tôi sẽ hối tiếc nhiều.

20140416-082121.jpg

Bà là một người bán bánh mì, đứng khép nép ở lề đi bộ gần cửa trường Pétrus Ký cũ, nơi tôi vẫn đạp xe đi học ngang qua mỗi sáng. Thời sinh viên Đại học, tiền chưa bao giờ đủ cho 2 ổ bánh mì một ngày, xe bán bánh mì của bà là nơi ưa thích của tôi và nhiều sinh viên khác vì bà vẫn luôn có một thái độ ưu ái thầm lặng với bọn mài đũng quần trên giảng đường.

Thêm một chút nước thịt, một vài miếng dưa leo; Thậm chí liếc thấy ai đó gầy gò, bà vẫn cho thêm được 1,2 miếng thịt mong mỏng. Một thông điệp quý giá và thầm lặng, nhưng mãnh liệt hơn cả những hứa hẹn về học bổng hay tài trợ tương lai từ Bộ Giáo Dục, khiến giới sinh viên rỉ tai nhau và hay ghé vào mua bánh mì trong một niềm tin trong sáng.
Nơi đó quen thuộc đến mức nhiều khi buổi chiều, đi ngang, tôi vẫn nhìn xem có bà bán nơi đó không. Nhiều năm như vậy, bức tranh ngày thường đó, tôi đã mang theo suốt cuộc đời.

Rồi một ngày, khi đạp xe đến mua bánh mì, bà chỉ còn bán bằng chiếc thúng đặt trên yên sau của một chiếc xe đạp thồ. “Xe bán bánh đâu rồi bà?”, tôi hỏi.

“À, mấy ông dẹp lề đường bắt rồi”, bà nói, tay vẫn gói bánh. Đứa con gái phụ bà kể rằng mấy ông ở Phường đến tịch thu, và nói nếu xin đóng tiền phạt, thì có thể lãnh xe về. “Dì sao mà đủ tiền đóng con”, bà nói.
Xe thì không còn, nhưng ổ bánh mì của tôi vẫn y nguyên cái tình cảm của một người nghèo vẫn dành cho giới sinh viên. Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi đạp xe đi, ăn không hết ổ bánh mì và nghĩ rất nhiều về sự bình an đã mất trong trái tim mình.

Không chỉ là một lần. Chỉ mấy tuần sau, tôi lại thấy bà chỉ còn bán bánh mì trong một cái thúng cặp nách. “Xe cũng bị lấy rồi, mấy ổng nói má em cứng đầu quá, phạt cho tởn”, đứa con gái của bà nói. Trời cho thế gian này có thứ bậc quan và dân. Quan vẫn làm chuyện của quan, dân vẫn làm chuyện dân. Và tôi cũng cầm ổ bánh mì đầy đặn như mọi khi, chạy đi, ước mong trẻ con đến phát khóc rằng phải chi mình trúng số để cho tiền bà đóng phạt.

Bánh mì của người nghèo nuôi tôi lớn. Bài học ở trường dạy tôi biết. Cuộc đời cho tôi chứng kiến để tôi hiểu, nhưng tôi vẫn suy nghĩ trẻ con.

Tôi vẫn trẻ con đến mức thời gian ngắn sau đó, tôi chạy vòng tới vòng lui để tìm người đàn bà bán bánh mì quen thuộc, thậm chỉ trễ cả giờ học đầu. Bà không còn ở đó nữa cho đến tận hôm nay. Có lẽ bà đã mưu sinh ở một nơi nào đó khác, như người ta vẫn đùa rằng năng lượng đời không tự nhiên mất đi, mà chỉ bị xô đuổi từ nơi này sang nơi khác mà thôi.

Nhiều năm sau, tôi vẫn còn bị ám ảnh về thứ ký ức nhỏ nhặt này. Cho đến một hôm, thời hiện tại, tôi chứng kiến chiếc xe Jeep dân phòng dừng ở một nơi quen thuộc. Những người đàn ông cũng có vợ, có con gái, có mẹ… đang tần tảo, nhưng hùng hổ xô, giật, đạp những thứ buôn bán nhỏ nhặt của nhiều người phụ nữ. trên tay họ là gậy, là dùi cui. Trên miệng họ là khẩu lệnh và nụ cười gằn. Tiếng la hét, tức giận, và có cả tiếng khóc thét của những người đàn bà giữa phố. Nhưng điều đó chẳng là gì trước những bộ đồng phục lạnh lùng sừng sững, tựa như vô tri.

Cũng là những người bán hàng rong, nhưng rất nhiều người, ở rất nhiều nơi sẽ được để yên khi đã nộp tiền. Thậm chí những bộ đồng phục đó chỉ quần thảo với danh sách những ai chưa đóng tiền chỗ, mà những người bán hàng cười mỉa : “ứng trước tiền phạt”.

Tôi nhớ đến người đàn bà bán bánh mì mà tôi không biết tên. Tôi hình dung những gì bà đã mất nhưng vẫn giữ lại hơi ấm khi trao từng chiếc bánh mì cho bọn sinh viên khố rách áo ôm chúng tôi.

Tôi tin vào mọi lý thuyết của sự phát triển, nhưng tôi cũng tin rằng người ta sẽ buộc phải ‘cứng đầu’ để có thể sinh tồn. Nhất là khi sống trong một quốc gia đang quá khốn khó để sinh tồn.

Ngày 20-10 hàng năm, tôi thường nhìn thấy những người đàn bà to đẹp, trang phục đắt tiền trên truyền hình. Thậm chí họ được gắn huân chương mà tôi không rõ vì lý do gì. Những giờ phút đó, tôi vẫn hay nhớ đến người đàn bà bán bánh mì mà tôi biết, cũng như hàng triệu người phụ nữ vô danh khác đang trở thành kẻ phạm luật trong một cái khung công lý quá chật chội với thực tế của một con người trên đất nước này. Tôi tôn trọng luật pháp vì tin vào tương lai, nhưng tôi vẫn luôn nhìn trừng vào nó để có thể nhận ra, ghi nhớ rằng điều gì phải cần phải thay đổi một khi đất nước này thật sự có những người biết lắng nghe và, thật sự yêu thương dân tộc này.

Thật đơn giản, vì tôi đã mang ơn những ổ bánh mì nghèo hèn vô danh, nên tôi không bao giờ có thể quên những điều đó.

Tôi là người Việt.

——————

 

Của để dành của mỗi đời người

Tuấn Khanh

Chị N, kể rằng khi chị lấy chồng được một năm, thì cả hai bàn một kế hoạch hậu sự cho đời mình bằng cách: Chồng sẽ ở lại Quảng Ngãi để chăm sóc mảnh ruộng con, giữ nhà, vợ thì sẽ đi vào Nam làm thêm, dành dụm để gửi về.

Đó là một trong những câu chuyện tôi được nghe ở vỉa hè, của những con người vô danh và lương thiện trên đất nước này. Mỗi đêm đi bán bánh tráng ở các quán nhậu trong Sài Gòn, chị kiếm được trung bình khoảng 50.000 đồng. Sau khi trừ tiền chỗ ở mỗi ngày 5.000 đồng và tiền ăn là 15.000 đồng, chị còn lại khoảng 30.000 đồng. Đó là khoản chị nịt chặt bên người, để cứ 2 hay 3 tháng thì gửi về cho chồng giữ, cũng được đâu đó khoảng 500.000 – 600.000 đồng. Phần còn lại, chị để mua quần áo, thuốc men khi đau yếu.

Chị N, đã trãi qua 15 năm như vậy trên đất Sài Gòn. Trong đó, có năm chị quay về nhà, đẻ con rồi lại quay vào Sài Gòn buôn bán tiếp. Khi có con, hai vợ chồng gia đình nghèo khó và thanh bạch đó lại càng nhọc nhằn hơn một chút vì muốn con đầy đủ. Cắp chiếc rỗ với những món quà vặt, mà vốn liếng không bằng một nửa bữa ăn nhậu ồn ào ở phố thị, chị N, nói sẽ ráng đi bán thêm chừng 5 năm nữa thì về nhà. Đôi chân có chút khuyết tật của chị đã mệt mỏi lắm rồi khi mang vác một ước mơ nhỏ nhoi là có chút tiền, để không để đói lúc già yếu.

Chị N, chỉ là một trong hàng trăm ngàn những con người đang vật vã mưu sinh ở đất Sài Gòn, với ước mơ nhỏ, dành lại chút gì cho mình trong kiếp sống mịt mờ này. Nhưng không phải ai cũng có may mắn để hoàn thành được ước mơ nhỏ đó của mình. Rất nhiều cụ già cầm vé số, chỉ về nhà trọ lúc trời sắp sáng, chỉ mong có chút tiền độ thân. Những người công nhân rất trẻ mà tôi gặp, họ cũng luôn mệt mỏi lây lất khi bị công ty trừ lương mỗi tháng vì đủ các lý do, chỉ đủ để sống tạm, không thể có dư. Cuộc sống của rất nhiều con người Việt Nam đang đi qua thời kinh tế khó khăn, với vẻ hiện sinh trần trụi nhất. Niềm tin và thụ hưởng, chỉ còn mong đủ cho ngày hôm nay.

Sẽ không có gì là đáng nói. Nếu chúng ta là chia nhau khốn khó này trong tình đồng bào, và cùng chung giấc mơ tương lai cho con cháu về sau. Chẳng có gì là xa lạ với ý nghĩa này, từ việc đối chiếu lịch sử với một nước Nhật kiệt quệ sau 1945 hay Hàn Quốc ở thập niên 1960 mà GDP chỉ bằng một nước Châu Phi nghèo. Từng con người cố gắng dành lại cho mình và dân tộc, một ngày mai sau – phần cao quý nhất từ những khổ đau mà mỗi con người tử tế còn nhận thức được.

Tôi ước mình có thể chiếu lại những thước phim đời hiện thực ở đường phố mà tôi được thấy, cho những quan chức bị khám phá có những số tiền riêng hay cơ ngơi bí mật bị phát hiện, mà giá trị không khác gì như những kho báu của cướp biển Caribbe. Tất cả những quan chức đó vẫn luôn tuyên bố rằng đó chỉ là của dành dụm, từ đồng lương của mình. Nhưng chúng ta hãy cùng nhau tự hỏi, không cần những con toán phức tạp của một vị giáo sư, bất kỳ ai cũng có thể ngỡ ngàng việc Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường Đào Anh Kiệt mất 1,6 tỷ đồng dành dụm trong “hộc bàn” làn việc hay dinh thự trăm tỉ đồng mồ hôi nước mắt mà ngài Trần Văn Truyền, nguyên Tổng Thanh tra chính phủ có được. Những con số đơn giản tính toán, trừ các chi phí sang trọng mà con cái, gia đình của các quan chức như vậy vẫn thụ hưởng, họ sẽ để dành bằng cách nào theo chiều ước mơ của đồng bào, hay hiện thực của tổ quốc mình?

Trong Hồi ký “Sống và chết ở Thượng Hải” nói về xã hội Trung Quốc những ngày điên loạn của Cách mạng văn hoá, tác giả Niệm Niệm có đề cập đến một khái niệm “Open Secret”, một sự thật – bí mật mở trong nhân dân. Tức, chuyện nghe là biết như thế nào, dù được có những vỏ bọc diễn ngôn rất hào nhoáng. Sự thật đôi khi không nằm ở lời giải thích cá nhân hay kết luận trên mặt báo, mà sự thật là sự chia sẻ im lặng – không cần nói thì ai cũng hiểu – đôi khi nằm trong nụ cười của nhân dân.

Trong bài phát biểu về vấn nạn quốc gia của ông Lê Như Tiến, đại biểu Quốc Hội, có ghi rằng “Vì thực tế những kẻ tham nhũng thường có chức, quyền và lương không hề thấp, thậm chí ‘lương khủng’, nhưng họ vẫn tham nhũng do lòng tham vô đáy, không giới hạn. Lòng tham đã ngự trị thì không biết bao nhiêu là đủ”. Tài sản và “của để dành” của nhiều quan chức ngày nay đã tinh tế hơn, thông hiểu luật pháp hơn, như là “chuyển tài sản cho người thân, con trai, con gái vị thành niên, gồm ô tô, biệt thự, đất đai, cổ phiếu…” và còn có cả các khoản kê khai được tặng-cho một cách hồn nhiên như trúng số.

Một đời người đôi khi không đủ dài để dành dụm cho mai sau, nhưng cũng quá ngắn vì hối hả trong sự tham lam vô độ. Có những con người dành dụm lặng lẽ và khó nhọc như nhịp giọt mồ hôi rơi xuống, toả sáng trong cần lao. Và cũng có những con người dành dụm bằng nhịp chạy của đôi giày được đánh bóng, giẫy đạp trên lưng đồng loại mình, với mưu tính và quyền lực

Tất cả những của để dành lại trong mỗi đời người, đều là những cuốn sách, với những chương đọc lại, vẫn tạo nên nụ cười trân trọng hay khinh bỉ.

 

——

 

Hoàng Ngọc Diêu (Úc)

Trên đường đi làmn về, có một cô sồn sồn ngồi bên cạnh. Cô ta liếc nhìn vào màn hình laptop của mình và nói: “Tôi cũng là người Hồng Kông.”

Mình hỏi cô: “Cô cũng có theo dõi sự vụ à? Cô nghĩ thế nào về chuyện nổi dậy ở Hồng Kông hiện nay?”

Cô ta đáp không ngần ngừ: “Tất nhiên tôi ủng hộ thanh niên, sinh viên Hồng Kông 100%”.

Mình hỏi tiếp: “Cô có nghĩ nhà nước Trung Quốc có bóp nghẹt nhân dân Trung Quốc và Hồng Kông không?”

Cô ta nhìn mình một cách khó hiểu rồi đáp: “Có lẽ ông thừa biết, tất cả những quốc gia cộng sản còn sót lại đều bóp nghẹt nhân dân theo mặc định. Điều này chẳng cần phải chứng minh hay thảo luận gì nữa.”

Tôi cười và đáp: “Tôi biết. Tôi cũng đi từ một đất nước mang nhãn hiệu cộng sản mà. Tôi là dân Việt Nam.”

Cô nói thêm: “Mọi con người đều có quyền sống và tự do tư tưởng. Nếu không thì chẳng khác con thú là mấy.”

Tôi hỏi tiếp: “Cô có phỏng đoán gì về diễn biến ở Hồng Kông?”

Cô ta suy nghĩ giây lát rồi bảo: “Tôi nghĩ nhà cầm quyền Bắc Kinh sẽ đè bẹp phong trào ở Hồng Kông. Họ sẽ cử đại diện đến khuyến dụ và hứa hẹn. Sau đó họ sẽ đến gặp từng cá nhân dẫn đầu phong trào để bẻ gẫy từng cá nhân.”

Tôi cười: “Tôi nghe thấy quen quen.”

Cô ta đáp: “Thì cùng một giuộc cả mà. Nếu dân Hồng Kông không mạnh mẽ, không duy trì thế đứng mà nghe lời khuyến dụ thì coi như phong trào này sẽ bị dập tắt.”

Tôi hỏi: “Cô có nghĩ có một Thiên An Môn thứ nhì ở Hồng Kông không?”

Cô nói: “Tôi không nghĩ là có một Thiên An Môn công khai nữa nhưng sẽ có Một Thiên An Môn đẫm máu đằng sau cánh cửa đóng nếu như dân Hồng Kông back down.”

———————

Đến ga Wolli Creek, cô ta xuống và còn nói: “Good luck with Vietnam too.”

Tôi cảm ơn cô.

 

 

Đường Lê Lợi,Sài Gòn 1969 :(

Đường Lê Lợi, Sài Gòn 1969  (Giang Long)

 

 

 

———-

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Về ông Lê Hồng Hà- (trong vụ án ‘cố ý làm lộ bí mật Nhà nước 1995)

Posted by hoangtran204 trên 24/10/2014

 

Về ông Lê Hồng Hà

24-10-2014

Bùi Tín
.
.

Trong bài  ►Người ‘đẹp’ nhất trong Đèn Cù trên VOA mới đây tôi có nói đến ông Lê Hồng Hà. Một số bạn ở trong nước, ở Hà nội và Hải phòng, gửi thư điện cho tôi hỏi rằng ông Lê Hồng Hà liên quan ra sao với vụ án ‘Xét lại chống đảng’. Tôi cũng vừa đọc bài của nhà báo Trần Quang Thành trên mạng Dân Luận, Dân Làm Báo (15/10/2014) hỏi tôi về việc ông Lê Hồng Hà có bị bắt giam vì liên quan đến vụ án này không; nhà báo Trần Quang Thành còn hỏi tôi rằng làm sao Trần Đĩnh có thể vác cuộn giấy báo rất nặng 150kg từ ngòai đường lên nhà in. Về chi tiết này tôi xin nói ngay là tôi dùng chữ ‘vác’ không thật chỉnh, tôi từng thấy Trần Đĩnh cùng công nhân nhà in dùng cả đòn bẩy, xe nâng, pu-li… để chuyển từng tảng giấy, cũng khá là vất vả, coi là lao động cải tạo.

Tôi cũng đính chính với nhà báo Trần Quang Thành và đông đảo bạn đọc của VOA và của các mạng đã đọc bài báo của tôi, rằng tôi đã nói sai, lầm lẫn ở một điểm: thật ra, ông Lê Hồng Hà không bị tù vì tham gia vụ án ‘Xét lại chống đảng’, mà ông bị công an Hà Nội bắt giam ngày 6-12-1995, bị tòa án nhân dân Hà Nội xét xử ngày 22-8-1996, kết án ông Lê Hồng Hà 2 năm tù giam về tội ‘cố ý làm lộ bí mật Nhà nước‘, cùng chung vụ án này với ông Hà Sỹ Phu bị 1 năm tù giam và ông Nguyễn Kiến Giang bị 15 tháng tù, theo án treo.

Trước khi bị tù, ông Lê Hồng Hà bị khai trừ khỏi đảng CS cùng với ông Nguyễn Trung Thành vì 2 ông từ năm 1993 đến năm 1995 chung ý định yêu cầu đảng xem xét lại Vụ án Xét lại chống đảng, lập một tiểu ban xem xét kết luận lại vụ án, xóa án, minh oan hoàn toàn cho hơn 30 cán bộ, trong đó có 4 ủy viên trung ương, một số tướng, đại tá, nhà báo… Các ông Đỗ Mười, Đào Duy Tùng, Phan Diễn đạo diễn thêm cuộc xử tù ông Lê Hồng Hà trong vụ án ‘cố ý lộ bí mật Nhà nước’ ngay sau khi khai trừ khỏi đảng CS 2 ông Thành và Hồng Hà thật ra là nhằm trả thù, trừng phạt và bịt mồm ông không được nói đến vụ án Xét lại chống đảng thêm nữa. Họ lấy cái cớ là ông đã có trong tay một lá thư mật của ông Võ Văn Kiệt gửi bộ chính trị và có ý phổ biến rộng, coi đó là phạm pháp (!).

Ông Lê Hồng Hà sinh năm 1926 ở Hà Nội, năm nay 88 tuổi, họat động cách mạng chống thực dân Pháp trong phong trào Việt Minh từ năm 1944-1945. Sau Cách mạng tháng Tám, ông họat động trong ngành công an Bắc bộ, dưới quyền của ông Lê Giản. Vào đảng CS tháng 7/1946, năm 1953, ông phụ trách trường Công an trung ương, năm 1958 là Chánh Văn phòng bộ Nội vụ, tức là bộ Công an hiện nay. Ông cũng từng là Vụ trưởng vụ tổng hợp của bộ công an, đồng thời là ủy viên đảng đòan của bộ công an khi vụ án mang tên chính thức là ‘Vụ án tổ chức chống đảng, chống Nhà nước ta, theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài‘ được dựng lên, Ông về hưu khi hơn 63 tuổi, năm 1989.

Là một tri thức có tư duy độc lập say mê nghiên cứu lý luận, sau khi bức tường Berlin sụp đổ cuối năm 1989, hàng lọat nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan vỡ rồi Liên Xô tan tành, Lê Hồng Hà không còn tin ở chủ nghĩa Mác – Lê, ở nền chuyên chính vô sản, ở nền tòan trị độc đảng phi dân chủ, ông quan tâm đến những ý kiến giải trình về vụ án của ông Hòang Minh Chính, người được coi là cầm đầu trong vụ án ‘Xét lại chống đảng’, rồi đồng tình sâu sắc với ông Nguyễn Trung Thành là dứt khóat phải minh oan cho tất cả các anh chị em bị coi là tội phạm trong vụ án đó. Vị thế của ông Nguyễn Trung Thành và của ông Lê Hồng Hà khi xảy ra vụ án là rất có trọng lượng để xem xét lại vụ án.

Ông Nguyễn Trung Thành khi ấy là Vụ trưởng vụ Bảo vệ chính trị của Ban tổ chức trung ương, là người trực tiếp thụ lý vụ án, còn ông Lê Hồng Hà là Chánh văn phòng bộ công an, người trực tiếp liên quan đến các giấy tờ truy tố, lệnh triệu tập, tạm giam, thi hành án. Hai ông nhất trí cho rằng vụ án này được dựng lên, không có một ai tổ chức, đứng đầu, không có danh xưng, tôn chỉ mục đích, không có chi bộ, sinh họat, chỉ là phỏng đoán, hoang tưởng, chụp mũ để phòng ngừa.

Họ rất sợ xem xét kết luận lại vụ án này ắt phải xem xét lại nhiều vụ án oan sai võ đóan khác, cả những vụ trừng phạt những kẻ bị coi là thân Trung Quốc làm gián điệp cho TQ như vụ án Chu Văn Tấn, thượng tướng chết bi thảm trong tù, hay vô vàn các vụ bỏ tù không mảy may xét xử đối với hàng chục vạn viên chức và sỹ quan của Việt Nam Cộng Hòa, cũng như các vụ xử án kiểu tiền chế, bỏ túi, nói là công khai mà không cho nhân dân vào dự, các phiên tòa xét xử các chiến sỹ đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ, cho tự do tôn giáo mấy chục năm nay.

Họ còn đặc biệt lo sợ các vụ án siêu nghiêm trọng Tổng cục 2, T4, vụ vào đảng CS của tướng Lê Đức Anh, vụ mật đàm ở Thành Đô tháng 9/1990 bị phơi bày.

Lê Hồng Hà từng là viên chức công an cao cấp, là đảng ủy viên bộ công an, nay là chiến sỹ dấn thân hàng đầu cho dân chủ. Cũng như cựu đại tá công an Nguyễn Đăng Quang vừa viết bài ‘Ai là thủ phạm đang giết sống đảng CS ?‘ để chứng minh rằng không có đế quốc hay phản động nào, chính tệ nạn tham nhũng, quan liêu, bất công, độc đóan đang tàn phá lục phủ ngũ tạng của đảng. Ở Tunisia hàng lọat công an tan hàng khi nghe các nữ sinh viên khuyên: « chớ có dại làm con chó giữ nhà, giữ của cho bọn tỷ phú ác ôn mới! »

Tôi rất mừng là ông Lê Hồng Hà vẫn còn khỏe, tỉnh táo tuy tuổi cao, ông rất tự hào được thóat đảng, trở thành con người tự do, vẫn trả lời phỏng vấn của các đài phát thanh quốc tế, và được giới thiệu khá đầy đủ trong cuốn sách ‘Đêm dày lấp lánh’ của nhà địa lý Nguyễn Thanh Giang, do nhà xuất bản Chính Luận mới phát hành (trang 207 – 215). Đất nước đang cần những con người như thế, tư duy rất tiền tiến, trẻ trung, yêu nước, thương dân, chống bất công, chống bành trướng, cổ vũ nền dân chủ thứ thật, để đất nước phát triển trong độc lập tự do, trong nền pháp trị công minh.

Bùi Tín

 

Lê Hồng Hà: Nguyên Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ.


Lê Hồng Hà

Ông có bài viết góp ý về sửa đổi Hiến pháp (ký ngày 2/4/2013).

Hồng Hà: Tên thật là Hà Văn Truờng, em Thép Mới (Hà Văn Lộc) mà Trần Đỉnh có nhắc tới trong Đèn Cù. Ông này đã qua đời năm 2011 (theo Wikipedia).


Đây là hình ông Hồng Hà trên Wikipedia 

 


Hồng Hà là ông đứng thứ nhì từ phải, và kế đó là ông Đỗ Mười. Hồng Hà nguyên Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, kiên trì theo “cách mạng” cho tới chết. 

►Người ‘đẹp’ nhất trong Đèn Cù

 

Nhận định của ông Bùi Tín về việc một số lãnh đạo VN bị tố giác cộng tác với CIA, (22-7-2004), nói về vụ khám xét và bắt ông Lê Hồng Hà…

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/VietnamPolitics/141853-20040722.html

Phỏng vấn Lê Hồng Hà – Đảng chỉ còn vai trò kìm hãm xã hội (3-6-2012)

http://www.procontra.asia/?author=11

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Đảng CSVN | Leave a Comment »