Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín 21st, 2014

►Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2014

Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù

Tác giả:

dencu-1

 

Phó-mát và Phở

Cùng thời điểm cuối hè 2014, ở Paris, dư luận ồn ào, Điện Elysée chao đảo vì quyển Hồi ký «Cảm ơn cho lúc đó» của bà Valérie Trierweiler, bồ cũ của Ông Tổng thống François Hollande, độc giả Việt Nam hải ngoại và cả ở trong nước cũng một lúc xôn xao không kém vì quyển «Đèn Cù» của Ông Trần Đĩnh. Một thứ tự truyện mà tác giả gọi là «Chuyện của tôi».

Cái khác nhau của 2 quyển sách, thể loại cùng na ná nhau, là «Cảm ơn cho lúc đó» bán ngay trong mấy ngày hết 200 000 quyển. Và đang in thêm 270 000 quyển nữa. Tác giả tạm đút túi không dưới nửa trìệu euros. Còn «Đèn Cù» chắc in nhiều lắm là 4000 quyển ở 2 nhà xuất bản «Người Việt» ở Californie và «Tiếng Quê Hương» ở Virginie. Tác giả Trần Đĩnh nhận được bản quyền là bao nhiêu, không biết. Nhưng chắc không có tác quyền, mà chỉ có «chút ân tình với nhau». Phía tác giả không đòi hỏi. Phía nhà xuất bản cũng không thể làm «hơn» được. Cả hai bên đều vui lòng viết và in sách là chỉ nhằm phục vụ độc giả đồng bào những thông tin hữu ích.

Buồn cho người viết, mà buồn cho độc giả nhiều hơn vì cho tới nay vẫn chưa biết thương người viết! Cũng buồn không ít cho nửa triệu độc giả Pháp là thích tìm đọc chuyện giường chiếu hơn là những sách mở mang trí tuệ. Bởi sách về tư tưởng hay có giá trị thật thường không bán tới 50 000 quyển!

Cả hai quyển đều nhắc tới lãnh tụ. «Cảm ơn cho lúc đó» đã làm cho Tổng thống Phủ phải chới với, Ông Hollande phải công khai lên tiếng đính chánh. Nhưng đính chánh lại làm cho người ta hiều đó là thừa nhận sách nói đúng. «Đèn Cù» đưa thâm cung cộng sản Hà Nội ra ánh sáng. Hà Nội đã lật đật tổ chức triển lãm Cải Cách Ruộng Đất để nói cho dân chúng biết cái hay chỉ cộng sản mới có, đó là cuộc cách mạng long trời lở đất do Hồ Chí Minh vâng lời Staline và Mao-Trạch-Đông ban hành, nhằm tước đoạt bằng bạo lực ruộng đất của người giàu đem chia cho người nghèo để rồi năm sau, đưa người nghèo địa chủ mới vào Hợp tác xã, trở thành công nhơn nông nghiệp . Lao động tùy sức, hưởng thụ tùy khả năng!

«Đèn Cù» phát hành được nửa tháng. Cả trên internet miễn phí. Lời khen nhiều mà lời phê bình cũng có tuy ít. Có độc giả không đồng ý, nêu lên những điểm mà họ cho rằng làm lợi cho cộng sản. Tây có hơn 300 thứ phó-mát nên khó có được sự nhứt trí. Việt nam mình cũng có lắm thứ phở, tái, nạm, gầu, dòn, béo, …nên nếu vấn đề có được sự đồng ý nhưng cách đưa ra không thích hợp hay không bìết cách đưa vấn đề ra thì vẫn khó có được sự đồng thuận.

Vì vậy nhận xét «Đèn Cù» mà làm hài lòng hết mọi người là việc khó làm. Khó hơn việc đánh đổ được cộng sản hà nội hiện nay nữa.

Giờ đây, Cỏ May chỉ dám lướt qua, ghi lại vài nét về con người Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù .

Đèn cù 

Khi nhận được thông tin, vào cuối tháng 8/2014, nhựt báo Người Việt sẽ phát hành quyển sách «Đèn Cù» của Trần Đĩnh. Cỏ May chưa nghe nói tới tên Trần Đĩnh bao giờ nên chưa biết ông này là ai? Làm gì, ở đâu? Còn «Đèn Cù», Cỏ May ngờ ngợ phải chăng Đèn Cù là Đèn Kéo quân của ngày Tết Trung thu người ta treo trước nhà? Còn đèn ông sao, đèn bươm bướm, …mà trẻ con cầm đi vào tối vừa hát « Tết Trung Thu đốt đèn đi chơi … Đi khắp phố phường …*» có phải là biến thể của Đèn Cù không?

Khi biết chắc Đèn Cù đúng là Đèn Kéo quân, Cỏ May bỗng nhớ tới một giai thoại về Đèn Kéo quân mà ngày nay đọng lại ở chữ Song Hỉ thường thấy trong lễ cưới.

Vào thế kỷ XI đời nhà Tống ở bên Tàu, có một sĩ tử tên Vương An Thạch, 20 tuổi, sau này làm tới Tể tướng, trên đường đi tới Kinh đô dự thi Trạng Nguyên, dừng chơn lại ở một Thị trấn nghỉ qua đêm . Họ Vương trông thấy trước nhà Mã Viên ngoại có treo một lồng đèn, tức Đèn Cù hay Đèn Kéo quân, với một vế câu đối kẻ trên hông đèn « Tẩu mả đăng, đăng tẩu mã, đăng tức, mã đình bộ » (Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt, quân ngừng đi).

Liếc mắt đọc qua, Vương An Thạch buộc miệng «Câu này dể đối mà!». Nói rồi, ông bỏ đi cho kịp trường thi.

Đèn, Đèn Cù hay đèn gì cũng vậy, phải tỏa ánh sáng. Nhưng Đèn Cù hay Đèn Kéo quân chắc chắn không cho ánh sáng mạnh có thể đẩy lùi xa bóng tối hay làm cho người ta trông thầy rỏ ràng, rành mạch người và vật. Dưới ánh sáng của Đèn Cù, người ta chỉ trông thấy lờ mờ mà thôi. Mà Đèn Cù soi rọi vào chuyện củ, chuyện lịch sử, thì người và vật lại chỉ hiện ra mông lung lắm. Ai muốn nhận diện Hồ Chí Minh, có lẽ chỉ thấy được một con người lung linh mà thôi. Nhưng nếu thấy được con người đó, qua Đèn Cù, mặc dầu có mông lung nhưng đúng hắn, con người thật của hắn, thì cũng hay lắm rồi. Người làm nên Đèn Cù như vậy cũng đã đóng góp rất lớn cho vìệc đẩy lui được phần nào cái bóng đêm dày đặc bao trùm lên đất nước Việt Nam từ gần thế kỷ nay.

Hồ chí Minh dưới ánh sáng Đèn Cù 

Một nét mặt thật khá nổi cộm của riêng Hồ Chí Minh và của nhóm lãnh đạo cộng sản Hà Nội được Trần Đĩnh phơi bày ra trong vụ án Bà Nguyễn thị Năm Cát Hanh Long bị Tòa án Cải Cách Ruộng Đất hành quyết. Khi nghe Hoàng Quốc Việt về Hà nội báo cáo vụ xử tử Bà Nguyễn thị Năm, Hồ Chí Minh bảo; «Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, và lại là một người từng nuôi cán bộ cộng sản và mẹ một chính uỷ trung đoàn Quân đội Nhân dân đang tại chức.’ Ông hẹn sẽ can thiệp, sẽ nói với Trường Chinh về chuyện hệ trọng và cấp bách này”.

Nhưng trước đó, Hồ Chí Minh viết bài «Địa chủ ác ghê» cổ vũ tiến hành Cải Cách Ruộng Đất phải triệt để đối với địa chủ, dưới tên tác giả ẩn danh CB, tức «Của Bác», đăng trên báo Nhân Dân. Trong đó, Hồ Chí Minh còn bịa chuyện kể ra số nạn nhân của Bà Nguyễn thị Năm để xách động lòng căm thù của nông dân và giải thích lý do tử hình Bà Nguyễn thị Năm là chánh đáng.

Gian ác hơn nữa là cả hai người đầu não Cải Cách Ruộng Đất, Hồ Chí Minh và Trường Chinh, đều tới dự khán phiên xử án Bà Nguyễn thị Năm. Hồ Chí Minh bịt bộ râu cá chốt ngụy trang. Trường Chinh mang kiếng đen che bớt cái mặt.

Khi sửa sai, Hồ Chí Minh khóc và xin lỗi đã phạm những sai lầm. Nhưng theo kế hoạch, Cải Cách Ruộng đất đã hoàn tất.

Về quan hệ mật thiết với Tàu, Trần Đĩnh kể lại rất chi tiết. Lý Ban có mặt sát cánh và trong nội tình cộng sản Việt Nam ngay từ đầu kháng chiến. Tên này là người tàu 100%, có vợ cũng người tàu, làm Hoa kiều vận của đảng cộng sản Hà Nội, vừa là Tỉnh ủy viên Tỉnh Quảng đông của cộng sản tàu. Hắn ta hướng dẫn Hồ Chí Minh qua Tàu lần đầu tiên với tư cách Chủ tịch nước để yết kiến Mao trạch đông sau khi Mao chiếm được lục địa hai tháng. Cùng với Lý Ban có thêm mấy tên tàu nữa, Tắc Vầy, Trương Đức Duy, …với Tàu là vô danh tìểu tốt nhưng sau đó làm Đại sứ Tàu ở Hà nội và « lời lời vào tai Hà Nội đều nặng cân lạng vô cùng».

Hồ Chí Minh qua Tàu là để làm kiểm thảo với Mao trạch-đông, Lưu Thiếu kỳ và Châu Ân lai vì đảng cộng sản Hà Nội được thừa nhận là một Chi bộ của Quốc tế cộng sản. Được làm Chi bộ Quốc tế cộng sản là nhờ Mao giới thiệu Hồ chí Minh cho Staline và Staline phân công cho Mao phụ trách cộng sản Hà Nội. Hệ lụy của sự phân công này đã nằm sâu trong vô thức của đảng viên Việt Nam nên từ đó, Hà Nội luôn luôn ý thức rỏ địa vị của mình là đàn em, kẻ dưới, yên phận đời đời biết ơn Mao Chủ tịch, đã trở thành nền móng văn hóa cộng sản Hà Nội phục tùng Tàu.

Xuân Trường cho biết «bác nhà mình chủ động khẳng định với bác Mao quan hệ giữa hai nước theo phương châm môi hở răng lạnh».

Tôn ti này, chính Hồ Chí Minh tự đặt ra. Và cũng chính Hồ Chí Minh tự nguyện mình chỉ có thể nêu ra được tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao. Hồ Chí Mình đề cao Mao, đem chủ trương phụ thuộc Tàu  làm bài học giáo dục cho đảng viên. Ông thêm vào Bản Điều lệ đảng câu «Lấy tư tưởng Mao trạch-đông làm kim chỉ nam». Còn gởi đìện văn cho đảng cộng sản tàu «Đảng Lao động Việt Nam nguyện học tập đảng cộng sản trung quốc, học tập tư tưởng Mao trạch-đông, tư tưởng lãnh đạo của nhân dân trung quốc».

Từ 1951, trên báo Nhân Dân, tuần nào cũng có vài mẫu chuyện của CB (Của Bác) phổ biến kinh nghiệm mọi mặt của Tàu. Đảng viên hảnh diện làm đàn em của Liên-xô, Anh Cả, và Tàu, Anh Hai. Sau đó, Việt Nam sẽ làm Anh Ba với các nước cộng sản ở Phi châu và Nam Mỹ.

Trần Đĩnh nói ra vài chi tiết rất thú vị. Từ tên Đảng Cộng sản Đông dương, Đảng Lao động, đều do Staline đặt cho. Mới thấy ở con người Hồ chí Minh, không có cái gì thật tình là của hắn ta, do chính hắn sáng tạo cả, ngoại trừ tình thần tuân phục và bản tánh gian ác cùng cực! Có thể nói trong đời, kẻ đánh cha, chém chú, lắt vú chị dâu, cạo đầu bà thím, cũng phải bái Hồ Chí Minh làm sư phụ!

Nhắc lại 2 tên tàu Lý Ban, sau này có lúc làm Chánh án, quyền uy tột bực, thủ tiêu không biết bao nhiêu đảng viên hà nội và Trương Đức Duy là người thu xếp hướng dẩn Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Nguyễn văn Linh, Phạm văn Đồng tham dự Hội nghị Thành Đô năm 1990.

Hà Nội lệ thuộc Bắc kinh không phải ở ngày nay, mà đã bắt đầu từ ngày Hồ Chí Minh tự tuyên bố Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa. Và mối quan hệ «sông liền sông, núi lìền núi» đã ngấm sâu vào tiềm thức của cộng sản Hà Nội. Họ không có ý thức phân biệt Việt Nam là một nước riêng biệt, người Việt Nam là một dân tộc khác hơn người tàu. Nên trong suy nghĩ của người cộng sản Hà Nội không có vấn đề mất nước cho Tàu. Chỉ có những người Việt Nam không cộng sản hay không còn cộng sản nữa mới thấy đất nước bị mất.

Đọc Đèn Cù sẽ gặp nhiều chi tiết về ngôn ngữ lạ hoắc mà Cỏ May vì lúc nhỏ ham chơi, không chịu học kỹ, nên đành ngớ ra. Số những chữ lạ này không ít.

Và khó quên giai thoại về câu đối «Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt, quân ngừng đi» . Và vế đối «Cờ bay hổ, hổ bay cờ, cờ cuộn lại, hổ biến mất».

Không biét lúc nào Đèn Cù tắt để quân cộng sản ngừng đi, đi bán nước, đi cướp giựt tài sản của nhân dân. Và ngày nào lá cờ vẽ hình con hổ bị gió cuộn lại, hổ biến mất? Đảng cộng sản ác ôn sẽ biến mất!

Thi đậu Trạng nguyên và đối được câu đối, Vương An Thạch được vợ. Hai cái vui song song. Song Hỉ!

Hết cộng sản, Việt Nam sẽ có cả ngàn cái vui. Vạn cái Vui. Vạn Hỉ!

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

* Địa Chủ Ác Ghê – tác giả C.B,  nguồn   hoangtran204.wordpress.com/cac-van-ban-tai-lieu-lich-su/

* Để tôn trọng tác giả và chứng tỏ sự sòng phẳng, những ai đọc cuốn Đèn Cù của Trần Đỉnh, dù là đọc trên mạng, cũng nên tìm tìm cách trả tiền sách cho tác giả theo giá sách hoặc theo khả năng. 

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Sự tàn bạo của công an Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2014

Nạn đàn áp sách nhiễu trầm trọng hơn nhiều so với việc bỏ tù những người viết blog

.

Helen Clark/Asia Sentinel
Lê Quốc Tuấn (dịch) 

.

 

 

 

Đúng vào thời điểm bất lợi cho Việt Nam khi đang tìm kiếm một thỏa thuận với Mỹ về việc cung cấp vũ khí, bản báo cáo đầy đủ về sự tàn bạo của công an và nỗi bất an của công chúng do tổ chức Human Rights Watch ở New York phát hành, đã soi chiếu vào các lạm dụng sách nhiễu “rộng rãi” trong hệ thống Tư pháp.

Bản báo cáo cho biết có ít nhất là 24 trường hợp tử vong và vô số trường hợp đánh đập khi bị công an giam giữ từ năm 2010 và năm 2014. Trong đó, có 14 trường hợp tử vong mà cơ quan hữu trách nhận trách nhiệm,10 trường hợp đổ lỗi cho bệnh tất hoặc tự sát. Mặc dù không nói chuyện trược tiếp được với các nạn nhân vì sợ họ sẽ gánh chịu các hậu quả khác, Human Rights Watch nói rằng đây là cuộc điều tra quan trọng đầu tiên về loại thông tin này.

Trong tháng Tám, TNS Mỹ John McCain và Sheldon Whitehouse tuyên bố sẽ thúc đẩy Quốc hội Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm về việc bán vũ khí sát thương cho quốc gia Đông Nam Á này. Các tổ chức vận động nhân quyền khác dự kiến sẽ gây áp lực lên cả Việt Nam và Mỹ để ép buộc Hà Nội phải thay đổi cách cư xử với giới bất đồng chính kiến và thường dân. Việc công khai báo cáo của Human Rights Watch đã giúp phần hiệu quả vào các áp lực này.

Rất nhiều thông tin từ bản báo cáo lấy nguồn từ phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát, bản báo cáo cũng ghi nhận là các nhà báo và báo chí cũng đối diện với những khó khan vì tính chất nhạy cảm của chủ đề.

Hà Nội thường xuyên bị tấn công về các thánh tích nhân quyền nghèo nàn. Kể từ khi Myanmar tự do hóa, một số nhà bình luận nước ngoài cho rằng Việt Nam hiện nay là nơi tồi tệ nhất trong lĩnh vực nhân quyền.

Vấn đề nhân quyền luôn được nêu ra trong hầu hết các chuyến viếng thăm của viên chức Mỹ, trọng tâm là các quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin và việc bắt giữ những người bất đồng chính kiến. Các quyền khác chỉ thi thoảng được đề cập đến, ví dụ như quyền không thể bị công an đánh chết khi vi phạm nhẹ về giao thông như lái xe gắn máy không có mũ bảo hiểm.

Nạn công an tham nhũng, tàn bạo và kém hiệu quả là sự thật lập đi lập lại, đôi khi còn tốn kém và thậm chí đẫm máu đối với đại đa số công dân Việt Nam. Bản báo cáo năm 2013 của Bộ Ngoại giao Mỹ về nhân quyền có viết: “Các lạm dụng sách nhiểu nhân quyền cụ thể gồm những việc như công an cảnh sát tiếp tục ngược đãi nghi phạm… bao gồm cả việc sử dụng sức mạnh gây chết người cũng như các bản án tù khắc nghiệt. .. Ảnh hưởng chính trị, nạn tham nhũng và thiếu hiệu quả tiếp tục làm sai lệch đáng kể hệ thống tư pháp.”

Giới bất đồng chính kiến và các blogger thường nêu các vấn đề như thế. Tuy nhiên đối với những người ở bên ngoài đang lên án thành tích nhân quyền của chế độ, quan tâm của họ về các vấn đề ấy thường đứng sau việc họ bị cầm tù. Cựu đảng viên Đảng Cộng sản Vi Đức Hồi ở Lạng Sơn đã tiểu thuyết hoá một vụ bắt giữ, sau đó là việc đánh đập và cái chết của anh Nguyễn Văn Khương 21 tuổi ở Bắc Giang, Hà Nội trong năm 2010. Sự việc anh Nguyễn Văn Khương không phải là một hành vi chống đối liều lĩnh, báo chí truyền thông địa phương đã đưa tin về cái chết của anh và đã có một cuộc phản đối lớn trong đám tang của anh. Vì việc này và những việc khác nữa, ông Hồi bị bản án tám năm tù, sau đó giảm xuống năm năm.

Cái chết gây phẫn nộ của anh Khương không phải là duy nhất trong các tiêu đề trên báo chí chính thống của Việt Nam. Năm 2011, Trịnh Xuân Tùng, 53 tuổi đã dính líu vào một cuộc cãi nhau ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội sau khi công an tìm cách phạt người tài xế xe ôm vì để hành khách không đội mũ bảo hiểm.

Vụ cãi nhau nhanh chóng trở nên nghiêm trọng, khi con gái vào thăm trong trại giam, ông Tùng than là mình bị tê liệt và tám ngày sau thì ông qua đời. Trịnh Kim Tiến, con gái ông đã phản đối và treo biểu ngữ bên ngoài cửa hàng của gia đình để phản đối cho sự vô tội của cha mình và sau đó cô thực hiện cuộc phản dối tiếp tục trên trực tuyến.

Chỉ riêng trong năm qua, Bộ Ngoại giao Mỹ đã báo cáo về chín cái chết trong tù. Trong hầu hết các vụ án, nếu công an có bị truy tố thì thường không phải là tội sát nhân, một tội trọng, mà với tội danh nhẹ để được hưởng án nhẹ hơn.

Một vụ việc khác về quyền chính trị, cưỡng chế và cướp đất, từng khiến giới viết blog, các công dân – và cả các viên chức cao cấp nhất của chính phủ khi ấy – phải quan tâm. Đầu năm 2012 Đoàn Văn Vươn, một nông dân nuôi cá, bằng vụ khí tự chế, đã đẩy lùi một lực lượng công an xông vào đất trại trục xuất ông và gia đình.

Có đến hơn 100 công an trong vụ việc và dù ông Vươn và thân nhân phải ra hầu toà, (các loại súng cầm tay không được công nhận ở VN) nhưng điểm nổi bật ở đây chính là có việc chiếm đoạt đất đai và tham nhũng ở trong nước và các lực lượng công an, đã và được phép thực thi việc chiếm đoạt bất hợp pháp ấy.

Công chúng đông đảo ủng hộ ông Vươn, gây lo lắng đến mức Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải ra lệnh điều tra, cuối cùng đã khám phá ra nhiều hành vi bất thường trong vụ cưỡng chế đất. Một số quan chức địa phương đã bị trừng phạt, nhưng số cá bị thiệt hại khi công an đến san bằng nhà đất của ông Vươn không hề được bồi thường.

Trong một cuộc biểu tình khác về đất đai ở ngoại thành Hà Nội vài tháng sau đó, 1.000 dân làng đã đối mặt với khoảng 3.000 cảnh sát cơ động, nổi tiếng với quân phục màu ô liu đậm của họ cùng trang bị thiết bị chống bạo động và súng AK47. Các cảnh quay nhanh chóng tải lên YouTube và gây phẫn nộ tương tự. Chính phủ cho rằng tất cả đã bị các “thế lực thù địch” (một mô tả gán ghép) dàn dựng nên, điều này cho thấy các nhà hoạt động dân chủ, có thể truy cập đáng kể vào nhiều nguồn thông tin và tốt hơn so với các bộ phận quay phim chính thức của nhà nước.

Tối thiểu là hai trường hợp này cũng đã cho thấy sự liên can của những người rõ ràng là đại diện của nhà nước, ngay cả khi phần lớn họ vẫn còn vô trách nhiệm. Đó là những thanh niên không (hoặc đôi khi hoàn toàn không) chính thức làm việc cho nhà nước, một loại “lực lượng dân phòng” được xử dụng để đe dọa người nông dân canh tác, những ai không chịu giao nộp đất đai hoặc để đánh phá các cuộc biểu tình về đất đai, đòi hỏi lương bổng của công nhân.

Vào tháng Tám năm nay chính phủ đã làm một số việc để thay đổi. HRW và các tổ chức khác đã thận trọng hoan nghênh Thông tư 28, do Bộ Công an ban hành, có tiêu đề là “Quy định về công tác Điều tra Hình sự trong Công an Nhân dân”. Thông tư này được xem là một cải thiện nhưng vẫn còn đôi chút chưa triệt để với những lỗ hổng và bất thường (như việc phân loại người bị tình nghi là tội phạm). Thông tư cấm “việc bức cung. .. hoặc sử dụng các biện pháp trừng phạt”.

Một nguồn chuyên môn, ẩn danh tuyệt đối, từng nói chuyện với Asia Sentinel đã cho biết “Việc tra tấn là tiêu chuẩn hành xử của công an khi những người trẻ tuổi bị bắt vì các tội phạm có thực. Công an thường đánh đập các bị cáo để “khuất phục” và tất cả các đồn công an đều có giữ các vũ khí bằng điện để dọa nạt tù nhân khiến họ phải thú tội – ngay cả dù không làm gì sai trái.”

Tuy nhiên, nguồn tin ấy cũng ghi nhận rằng mặc dù có bạo lực trên diện rộng, Hà Nội đã cho thấy ý nguyện chính trị muốn cải thiện tình hình mặc dù đó là từ “các viên cao cấp của chính phủ”, những người muốn nhìn thấy sự thay đổi.

Dù trong một hệ thống chính trị thứ bậc như ở Việt Nam, các mệnh lệnh từ trên thường đi xuống dưới rất nhanh chóng, tuy nhiên việc thực hiện ở hạ tầng, tại các thành phố nhỏ có thể mất thời gian. Thường thì, như HRW ghi nhận, các công an thấp nhất dưới phường xã, là các thủ phạm và cần phải được huấn luyện đào tạo nhất.

Công dân Việt Nam cùng có chung nỗi sợ hãi phổ biến khi bị công an chú ý. Tất nhiên giới bất đồng chính kiến là đặc biệt rủi ro nhất nhưng hầu như bất cứ ai đi quá giới hạn đều có thể bị tổn thương. Những câu chuyện về sự tàn bạo và tống tiền của công an được lan truyền rộng rãi, và trong những năm gần đây đã nổi bật trên các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát và trở thành một thứ dịch bệnh trong các blog và các bài viết trên phương tiện truyền thông xã hội.

Chính phủ đã phản đối bản báo cáo của HRW trên báo chí anh ngữ của Bộ Ngoại giao. Điều này là không có gì ngạc nhiên; một bản báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt LHQ về tự do tôn giáo tháng trước cũng bị đối xử tương tự. Tuy nhiên, các bản án nghiêm khắc đã được ban ra, một trưởng công an vừa nhận án tù 17 năm trong khi các cấp thấp hơn của ông bị từ 6 đến 12 năm.

Ông Trương Trọng Nghĩa, phó Chủ tịch hội Luật sư Việt Nam nói với phiên điều trần của Ủy ban Tư pháp Quốc hội, “nạn tra tấn vẫn còn tồn tại; [những người điều tra] đối xử với nghi phạm như kẻ thù của họ…Phán quyết sai trái, đe dọa và tra tấn gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đến bản thân chế độ. Con cháu [nạn nhân] sẽ quy trách nhiệm cho chúng ta.”

Bản báo cáo của HRW có hũu ích không ? Giới chuyên môn cho rằng có: “Họ (chính phủ VN) sẽ rất không vui vì bản báo cáo này, nhưng họ sẽ phải lưu ý đến vấn đề”

Tác giả Helen Clark là một cây bút tự do ở Úc, người đã trải qua nhiều thời gian ở VN để nghiên cứu về tình trạng nhân quyền ở đấy.

————–

Công An Ác Là Do Đảng

20/09/2014

Vi Anh 

Ngày 16/9/2014 tổ chức Theo dõi Nhân Quyền quốc tế Human Rights Watch (HRW) mở họp báo tại Câu lạc bộ Ký giả Nước ngoài ở Bangkok (Thái Lan) để công bố phúc trình đầu tiên về tình trạng tra tấn, bạo hành trong ngành công an Việt Nam.

Trong thư mời truyền thông quốc tế, HRW nhấn mạnh, “Bất an công cộng: Những cái chết trong đồn công an và sự tàn bạo của công an Việt Nam”. Phúc trình ghi chép những vụ sát hại và những cái chết không được giải thích trong đồn công an; các trường hợp được giải thích là tự tử đáng ngờ khi bị bắt về đồn công an; và nạn công an tra tấn, đánh đập người bị bắt giữ hay các nghi can, kể cả trẻ em.

Ô. Phil Robertson Phó Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á của HRW, người mở cuộc họp báo nói, HRW đã mất gần 4 năm (từ tháng 08/2010 đến tháng 07/2014) để thu thập dữ liệu, bằng chứng để đúc kết bản phúc trình. Phúc trình cho biết “Nạn bạo hành trong tù xảy ra khắp 44 trên tổng số 58 tỉnh của Việt Nam và ở cả 5 thành phố lớn. Con số những người được cho là chết vì bệnh tật trong khi giam giữ lớn đến mức đáng ngạc nhiên, dù nhiều người trong số họ đang trẻ khỏe, trong độ tuổi 20 và 30. Tình trạng bị chấn thương trong thời gian bị công an giam giữ cũng thường xuyên được ghi nhận ở khắp các địa phương trong cả nước.”

HRW nhận định, nguyên nhân do phía công an đưa ra để giải thích những cái chết của những người bị giam thường khiến người ta nghi ngờ và có cảm tưởng về sự bao che có hệ thống của Đảng Nhà Nước CSVN. Phúc trình nhận thấy báo chí trong nước đưa tin về những sự vụ này “một cách không đồng đều, gây ra những mối quan ngại nghiêm trọng về tác động tiêu cực của tình trạng báo chí bị chính quyền kiểm soát.” Chính công an cho biết là hàng chục người, trước đó khỏe mạnh về thể chất lẫn tinh thần, đã tự tử bằng cách treo cổ hoặc bằng những cách khác. HRW đề nghị Việt Nam “nên để cho báo chí làm công việc điều tra và đưa tin về những vụ lạm quyền của chính quyền”. Ông Robertson cho rằng: “Báo chí độc lập có thể giúp đưa ra ánh sáng những vụ việc dễ bị ỉm đi.” Một mặt, HRW kêu gọi nhà cầm quyền VN khẩn cấp đưa ra chính sách không dung thứ đối với hành vi bạo hành của công an, huấn luyện tốt hơn cho công an ở tất cả các cấp, đặc biệt là cấp xã, và lắp đặt hệ thống máy ghi hình ở những nơi thẩm vấn và tạm giam. Mặt khác, HRW kêu gọi nhà cầm quyền cũng cần tạo điều kiện tăng cường vai trò của trợ giúp pháp lý đối với những nghi can và người bị tạm giữ, đồng thời bảo đảm tự do ngôn luận của nhà báo và trên mạng internet. HRW cũng đề nghị Việt Nam thành lập một ủy ban độc lập để xem xét và điều tra tất cả các khiếu tố về bạo hành của công an một cách nhanh chóng, vô tư.

Hầu hết những người theo dỏi thời cuộc và người dân VN lâu nay rất thướng thấy công an của Đảng Nhà Nước CSVN càng ngày càng tàn ác với dân, người dân nào vô phước lọt vào tay công an thì kể như vào cửa tử, từ bị thương tới chết. Trong khi đó Đảng Nhà Nước cũng như toà án của Đảng Nhà Nước không có biện pháp sửa chữa, trừng trị nào tương ứng, trái lại im lặng như thị thiềng cho công an CSVN ngang tàn, độc ác với dân. Mũi vại lái phải chịu đòn, người dân VN nghĩ công an tàn ác với dân là – do Đảng, vì Đảng CSVN.

Công an CS đích thân đánh đập, bắn giết dân bằng nhiều thứ vũ khí như má trắc, súng điện, súng đạn, mà công an còn dùng du đãng, côn đồ người Việt trong nước gọi là “xã hội đen” để hành hung, sách nhiễu, làm nhục dân chúng, nhất là những nhà bất đồng chính kiến. Theo nhận xét của Bộ Ngoại giao Mỹ ghi nhận trong phúc trình Nhân Quyền năm 2010, hành động trái luật, trái đạo lý đó của công an,Đảng Nhà Nước thường bỏ qua, không trừng trị thích đáng.

Sở dĩ công an CS ngang tàn, ác độc với dân như vậy – là do Đảng CSVN. Đảng đã thuần hoá họ với nhiều đặc quyền đặc lợi, quá đầy đủ, sung sướng, và mặc thị dành cho họ một chỗ đứng cao hơn pháp luật, cho họ sữ dụng mọi phương tiện công quyền. Bù vào đó công an phải làm công cụ riêng cho Đảng CSVN, với nhiệm vụ “chủ yếu” là bảo vệ Đảng Cộng sản với bất cứ giá nào.

Chính công an tự hào, hãnh diện về nhiệm vụ và hành động tàn ác này. Nên gần đây nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày thành lập đảng CSVN, công an đưa ra khẩu hiệu, treo trước Bộ Công an số 44, Yết Kiêu ở thủ đô Hà nội, “Công an nhân dân chỉ biết còn Đảng, còn mình”.

Mà Đảng CSVN thì lúc này hơn lúc nào hết thấy quyền bính của mình bị người dân thách thức từ hình thức đến nội dung, tận gốc rễ, từ bắc chí nam. Từ khi mở cửa cho đầu tư nước ngoài vào và chuyển sang kinh tế thị trường, dân bớt cùng khổ, có ăn hơn muốn có được đối xử có nhân vị hơn, muốn “đổi đời” hơn đúng theo qui luật cách mạng dân quyền. Cách mạng thường xảy ra khi người dân khấm khá hơn, muốn tốt đẹp hơn nữa; chớ cách mạng ít xảy ra khi người dân cùng khổ.

Người dân Việt bây giờ hầu hết thành “dân oan”. Dân oan không chỉ trong nông dân, công nhân, thị dân bị CS dùng thủ tục qui hoạch trưng thu đất của dân trả rẻ mạc như cướp của dân rồi lấy đó bán cho các công ty hay làm vốn hùn với công ty ngoại quốc giá mắc hơn cả trăm lần. “Dân oan” bây giờ là toàn dân, ai cũng có thể bị công an sách nhiễu, đánh đập, làm tiền, vu oan giá hoạ.

Đảng CS cố bám lấy quyền hành độc tài đảng trị toàn diện của Đảng trên dân chúng và xã hội VN. Công an là cánh tay mặt của Đảng để làm việc đó, biến chế độ CS không phải thành cảnh sát trị mà siêu cảnh sát trị. Do đó công an, cảnh sát càng hung hăng bảo vệ đảng, tàn ác với dân, Đảng càng bao che cho công an cảnh sát bằng bất hành động. Công an cảnh sát được thế của Đảng càng lộng quyền, lộng hành, phi pháp. Đảng mặc thị cho công an dùng côn đồ tiếp tay trấn áp dân. Đảng bao che cho công an. Hầu hết những trường hợp công an bạo hành tàn nhẫn được ghi nhận, không có tin tức nào thông báo việc một nhân viên cảnh sát nào bị tòa án kết tội vì hành động của họ. HRW ghi nhận hầu hết các trường hợp dân thưa gởi công an, cảnh sát, đều “xử lý nội bộ” thôi. Nên vô phúc ai sa vào tay công an là “ từ bị thương tới chết”, kể cả người có học, luật sư, bác sĩ, nhà báo dân đen, tứ thành thị, chí nông thôn, suốt từ bắc chí nam, qua trung, lên cao nguyên.

Phúc trình của HRW là một báo động toàn cầu về tệ trạng vi phạm nhân quyền của VNCS. Tệ trạng công an CSVN ác với dân, làm chết hay bị thương người dân ngay trong đồn công an, phúc trình về Nhân Quyền trên Thế giới của Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng đã nhiều lần lên tiếng./. (Vi Anh)

————–

 

HRW công bố phúc trình đầu tiên về nạn công an VN bạo hành

Human Rights Watch nói phúc trình sắp công bố phơi bày hàng loạt các vi phạm của công an Việt Nam mà Hà Nội muốn che đậy.

Human Rights Watch nói phúc trình sắp công bố phơi bày hàng loạt các vi phạm của công an Việt Nam mà Hà Nội muốn che đậy.

—-

Trà Mi-VOA

15.09.2014

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền quốc tế Human Rights Watch sẽ mở họp báo công bố phúc trình mới về tình trạng tra tấn, bạo hành trong ngành công an Việt Nam.

Phó Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Human Rights Watch, diễn giả chính của buổi họp báo, cho hay sự kiện này được tổ chức vào sáng ngày 16/9 tại Câu lạc bộ Ký giả Nước ngoài ở Bangkok, Thái Lan. Ông Phil Robertson nói:

“Ngày mai diễn ra cuộc họp báo của chúng tôi trình bày những ghi nhận trong báo cáo về các vi phạm nhân quyền của công an Việt Nam. Đây là phúc trình đầu tiên của Human Rights Watch phản ánh về nạn tra tấn bạo hành trong ngành công an Việt Nam.”

Ông Robertson cho biết thêm Human Rights Watch đã mất gần 2 năm để thu thập dữ liệu, bằng chứng để đúc kết bản phúc trình.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói các trường hợp thường dân bị hành hung, sát hại ngay trong đồn công an đã trở nên quá phổ biến đến nỗi ngay cả báo chí kiểm duyệt gắt gao của nhà nước cũng đã loan tải các thông tin này.

Tuy nhiên, vẫn theo Human Rights Watch, thế giới bên ngoài vẫn chưa ghi nhận đúng mức độ của vấn nạn đang lan tràn này và báo cáo sắp công bố của tổ chức sẽ hé lộ tình trạng khủng hoảng nhân quyền còn bị che dấu, vốn gây tác hại nghiêm trọng đến đời sống thường nhật của người dân Việt Nam.

Human Rights Watch nói phúc trình sắp công bố phơi bày hàng loạt các vi phạm của công an Việt Nam mà nhà cầm quyền Hà Nội muốn che đậy.

Thư mời Human Rights Watch gửi tới giới truyền thông quốc tế nêu rõ báo cáo nhan đề ‘Bất an công cộng: Những cái chết trong đồn công an và sự tàn bạo của công an Việt Nam’ ghi chép những vụ sát hại và những cái chết không được giải thích trong đồn công an; các trường hợp được giải thích là ‘tự tử’ đáng ngờ khi bị bắt về đồn công an; và nạn công an tra tấn, đánh đập người bị bắt giữ hay các nghi can, kể cả trẻ em.

Báo cáo của Human Rights Watch cho thấy nạn nhân bị công an bạo hành đa số là thường dân bị tố cáo vi phạm các tội vặt vãnh như tranh chấp trong gia đình hay vi phạm luật giao thông.

Phúc trình của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cũng đề ra hàng loạt các khuyến nghị cải cách để giải quyết các vi phạm không bị xử lý ngày càng lan tràn trong ngành công an Việt Nam, trong đó có đề nghị thành lập các tổ chức độc lập chuyên thu thập dữ kiện và lập hồ sơ khiếu nại vi phạm của công an.

HRW công bố phúc trình đầu tiên về nạn công an VN bạo hành
 
  • Tải    (để nghe phúc trình của HRW)

Việt Nam ký Công ước về Chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc từ tháng 11 năm ngoái.

Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực của Việt Nam tại Liên hiệp quốc, nói việc ký Công ước thể hiện cam kết mạnh mẽ của Nhà nước Việt Nam chống lại mọi hành vi tra tấn và đối xử tàn bạo, bảo đảm ngày càng tốt hơn tất cả các quyền cơ bản của con người.

Việc luật hóa Công ước này cũng như các biện pháp xử lý vi phạm trên thực tế vẫn còn mờ nhạt trong khi báo cáo về các trường hợp bị hành hung hay bị chết oan dưới tay công an không ngừng gia tăng.

Posted in Công An | Leave a Comment »

►Phận nghèo lấy chồng Hàn Quốc

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2014

Hoài Vũ, phóng viên RFA
20-9-2014

Co-dau-Viet-305.jpg

Cô dâu Thanh Thảo cùng chồng và con trai ba tháng tuổi.

Hình do Cô Thảo cung cấp

Trong thời đại phụ nữ được tự do tìm bạn đời theo ý muốn, nhiều cô gái Việt Nam phải cất bước ra đi lấy chồng ngoại quốc dù một chữ ngoại ngữ bẻ đôi cũng không biết. Có người may mắn tìm được người chồng hiền lành, tử tế, có người không may tới mức bị chồng đánh chết. Hoài Vũ tìm hiểu các cuộc hôn nhân vợ Việt chồng Hàn trong tạp chí phụ nữ tuần này.

Nghỉ học từ năm lớp 7, Thanh Thảo bỏ nhà ở Kiên Giang đến Buôn Mê Thuột làm việc. Năm 24 tuổi, cô giấu gia đình, đi lên Sài Gòn tìm chồng Hàn Quốc. Cô chỉ nói với bố mẹ về quyết định cưới chồng vào buổi sáng của ngày cưới:

“Ba mẹ em khóc nhiều lắm. Em thì nói không có gì phải khóc cả. Mẹ em bảo đâu có đến nỗi gì mà phải qua tới bên đó. Em bảo ở đâu mà chẳng có chồng nên mẹ đừng có lo.”

Thấm thoắt đã hai năm trôi qua, Thảo trải qua đủ chuyện chìm nổi. Giờ cô định cư ở thành phố Taegu, miền đông nam Hàn Quốc, với người chồng hơn cô 18 tuổi và cậu con trai vừa gần ba tháng tuổi.

Thảo là một trong số hàng chục nghìn phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc. Kể từ năm 2004 tới năm 2009, có tới 40.000 phụ nữ Việt sang đất nước này làm dâu. Con số dâu Việt ở Hàn được cho là cao nhất trong số các phụ nữ xuất thân từ các nước Đông Nam Á.

Cuộc trao đổi tiền-tình

Các cô dâu Việt đa phần trẻ tuổi, sinh ra ở các vùng quê nghèo, còn chồng của họ đều ít nhất 40 tuổi, và làm nghề lao động chân tay. Theo các thống kê từ Hàn Quốc, trong năm 2010, hơn nửa số đàn ông trung niên vẫn còn độc thân, phần lớn là những anh trai nghèo. Thanh Thảo cho biết:

Người ta lớn tuổi, người ta nghèo, người ta không có tiền nên mới về Việt Nam để cưới vợ. Nếu họ giàu, họ đã cưới vợ Hàn Quốc, chứ cưới vợ Việt Nam làm gì. Người ta cưới mình chẳng qua là để duy trì nòi giống thôi.”

Thảo cho biết kể từ khi biết sinh con trai, gia đình đối xử với cô tốt hơn trước:

Sinh con gái thì không được như vậy đâu vì chồng em là con trưởng. Nhà chồng em có 5 anh chị em, trong đó có 2 anh em trai. Cậu út không được thờ cha mẹ, tổ tiên.”

Phần lớn các cô dâu Việt sang Hàn Quốc mong dành dụm được tiền để gửi về cho gia đình. Theo số liệu năm 2010, trung bình các cô dâu này gửi về Việt Nam khoảng 3.000 USD một năm, gấp ba thu nhập trung bình đầu người trong nước khi đó.

Thảo cũng cho hay khi chưa sinh con, cô đi làm 12 tiếng mỗi ngày ở một công ty lắp ráp xe hơi. Mỗi tháng cô gửi về nhà 1.200 đôla, và giữ lại chỉ 300 đôla để tiêu vặt.

Những cô dâu mới, chưa đi làm thì không được như vậy. Phần lớn họ chỉ dành dụm từ số tiền mà chồng cho để chi tiêu hàng ngày. Một cô dâu mới đến Hàn Quốc được 5 tháng cho biết cô dành dụm được khoảng 200 – 300 đôla để gửi về cho gia đình.

Thân gái 12 bến nước

Chân ướt chân ráo sang Hàn Quốc, cô dâu nào cũng gặp đủ khó khăn giống nhau như không hiểu tiếng, không nói chuyện được với chồng, bó buộc trong cuộc sống do chưa được đi làm. Cô Thanh Thảo còn bị cảnh trớ trêu là chồng của cô đổ bệnh sau khi vợ sang đoàn tụ mới được có hai tháng:

“Chồng em bị bệnh đúng mùa tuyết rơi nên cũng buồn lắm. Mẹ chồng đổ lỗi cho em là cưới em mất nhiều tiền quá nên chồng em đổ bệnh. Mình qua đây vì đồng tiền, vì cha mẹ. Bà mẹ chồng nói thì em chỉ biết khóc thôi.”

Gia đình chồng của Thảo gây sức ép quá nhiều, khiến cô phẫn uất, bỏ ra ngoài ở nhờ một người bạn ở một thành phố khác. Sau gần một tháng, chồng cô đến tận nơi đón cô về nhà. Cô nói:

“Cuộc sống của dâu Hàn thì ai cũng khổ hết, không ai có cuộc sống màu hồng đâu.”

Ngoài những mâu thuẫn bình thường do không hiểu ngôn ngữ, nhiều cô dâu Việt cũng cảm thấy bị chính người dân Hàn Quốc phân biệt đối xử, khiến cuộc sống của họ càng thêm ngột ngạt. Thanh Thảo chia sẻ:

“Đa phần là 70% người ta không thích mình chị ạ. Người ta mà không thích mình thì dễ biết lắm: Nhìn ánh mắt, cử chỉ là biết mà. Em cũng cảm thấy hơi ngột ngạt một chút. Em nghĩ cô dâu nào cũng là cô dâu, có khổ thì họ mới qua đây. Họ cũng đi lao động chứ có nằm ngửa mà xin tiền đâu.”

Minh Thu, 29 tuổi, lấy chồng được 5 tháng nay. Cô đã có một con trai với người chồng cũ. Anh chồng của cô qua đời hai năm trước sau tai nạn khiến anh phải nằm liệt giường cả năm trời. Tiền thuốc trị bệnh cho chồng cũ quá lớn khiến Thu và gia đình chồng lâm vào cảnh nợ nần chồng chất.

Thu sang Hàn Quốc với hy vọng đổi đời. Tuy nhiên, người chồng 47 tuổi dù bỏ ra nhiều tiền để cưới cô qua môi giới, không hề đoái hoài đến vợ vì đã có một cô bồ ở bên ngoài. Chồng cô lại rất gia trưởng, thỉnh thoảng quát cô mà mắt “trợn trừng lên” khiến cô “rùng rợn hết cả người”. Minh Thu cho biết:

“Nó coi em như người hầu. Ví dụ như 4 hôm trước, nó bắt em phải lấy khăn lau người cho nó. Mà nó đi chơi về chứ có phải đi làm đâu.”

Thu cũng đã nghĩ tới chuyện bỏ ra ngoài sinh sống và làm việc bất hợp pháp. Tuy nhiên, cô nói rằng cô không thể sống chui lủi ở đất khách quê người. Vì vậy, cô cắn răng chịu đựng để học tiếng Hàn, sau một thời gian sẽ thi quốc tịch và làm việc ở Hàn Quốc. Cô nói sau này nếu có quốc tịch, nếu chồng tốt thì cô sẽ ở lại với anh, còn không cô sẽ ly dị.

Chốn nương náu xa nhà

Nhân viên hỗ trợ cho cô dâu Việt Nam tại Trung tâm Hỗ trợ người nhập cư tỉnh An San. Photo courtesy of PNO.

Dự tính tới năm 2020, các cuộc hôn nhân đa văn hoá ở Hàn Quốc sẽ lên tới 1,5 triệu tới năm 2020, trên tổng dân số 50 triệu người ở quốc gia vốn tự hào với truyền thống đồng chủng. Chính phủ Hàn Quốc mở ra 200 trung tâm gia đình giúp các cặp vợ chồng như thế này. Mục đích là giúp đỡ những cô dâu mới hoà nhập vào đời sống ở Hàn hay hoà giải mâu thuẫn giữa con dâu nước ngoài và gia đình nhà chồng.

Hầu hết các cô dâu Việt khi mới sang đất Hàn đều phải nhờ tới những người phiên dịch tại trung tâm gia đình đa văn hoá. Phương, 25 tuổi, làm phiên dịch viên cho trung tâm ở thành phố Taegu cũng gần hai năm nay. Phương cho hay trung bình mỗi tuần cô cũng đứng ra giúp đỡ cho khoảng 15 vụ hiểu lầm giữa các cặp vợ chồng Việt – Hàn.

Chẳng hạn như trường hợp một cô dâu khi vừa mới sang liên tục gửi tiền về nhà bố mẹ đẻ. Phương giải thích cho cả hai vợ chồng hiểu về hoàn cảnh của hai bên, đồng thời đưa ra một giải pháp là chỉ gửi tiền về Việt Nam trong một thời gian nhất định. Cô khuyên người vợ cũng phải biết chăm lo cho gia đình bên này, chứ không chỉ lo cho nhà vợ.

Phương cho hay trung tâm này cũng được coi như “nhà ngoại” của các cô dâu Việt. Trung tâm có nhà tạm lánh, mỗi khi vợ chồng cơm không lành, canh không ngọt, các cô dâu Việt có chỗ nương náu. Phương kể về trường hợp một cô dâu người miền Tây tới tạm lánh vì bị chồng đánh:

“Hồi đó cô ấy đến nhà tạm lánh. Bố mẹ chồng cũng lên đây, cũng nhận lỗi. Con của cô ấy lúc đó có sáu tháng. Bây giờ thì sống không có chuyện gì cả.”

Phương cho biết trung tâm của cô giúp đỡ cho khoảng 1.000 phụ nữ ngoại lấy chồng Hàn Quốc, trong số đó người Việt là nhiều nhất và cũng kém cỏi nhất:

“Mình kém nhiều vì trình độ kém, nhiều người còn chưa học xong cấp 1. Thành ra sang bên nước tư bản này, nơi mà trình độ phổ cập giáo dục là cấp 3, phụ nữ mình hoà nhập chậm, nắm bắt thông tin kém. Phụ nữ Việt Nam mình còn nhiều thiệt thòi lắm.”

Phương nói cũng có người biết phấn đấu, học hành chăm chỉ và kiếm được việc làm ổn định. Bản thân Phương cũng lấy chồng Hàn Quốc 4 năm trước. Khi đó, cô đang học ngành kế toán ở Đại học Công nghiệp Hà Nội. Mẹ cô đã ở Hàn Quốc cả chục năm nay vì thế cô cũng muốn sang Hàn sinh sống.

Sau hai năm học tiếng, cô tự tìm hiểu về các tiêu chuẩn cho nghề phiên dịch và thi đỗ vào trung tâm hỗ trợ gia đình đa văn hoá của quận. Cô cũng chuẩn bị học thêm về ngành xã hội học, mong có việc tốt hơn. Chồng Phương làm nghề thiết kế cửa nội thất. Bản thân cô được gia đình chồng hết sức coi trọng. Cô chia sẻ:

“Nhà chồng đối xử với em như một người con dâu Hàn thôi. Kinh tế thì em quản lý, mọi việc trong gia đình đều phải có sự đồng ý của hai vợ chồng.”

Còn như Thanh Thảo quê ở Kiên Giang thì cho biết cô chỉ học nói tiếng Hàn chứ không đọc và viết được do cứ nhìn vào chữ là cô “choáng váng”. Cô mong đón bố mẹ sang Hàn Quốc bế cháu hộ để đi làm ca đêm ở công ty điện thoại. Làm như thế, lương sẽ được hơn mức tối thiểu một chút.

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

►Nổi buồn xuất khẩu lao động: Giấc mơ không trọn của Trịnh Đăng Trường

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2014

Ca Dao – Lao Động Việt

.

Đài Loan, Nam Hàn, Mã Lai… những cái tên xa lạ dần dần đã trở thành quen thuộc trong các hang cùng, ngõ hẻm, trên các ruộng đồng, làng núi xa xôi. Và những cô bé, những trai làng trẻ tuổi đã tưởng tượng, đã mơ mộng đến một vùng đất hứa. Vùng đất mà ta có thể kiếm ra tiền không mấy cực nhọc, vùng đất sẽ đưa chị, đưa em, đưa cha đưa mẹ ra khỏi cảnh nghèo đói triền miên ở làng mạc xác xơ.

Thế rồi, lần lượt người ta bỏ đất ra đi. Đi với một món nợ kếch xù trên vai, món nợ mà nếu còn ở Việt Nam, chắc không bao giờ người ta dám mượn. Mượn nợ để có ngày thoát nợ, họ nghĩ như thế! Anh đi vào miền Nam kiếm ăn, chị tham gia chương trình xuất khẩu lao động để xóa đói giảm nghèo của nhà nước… Ngôi làng bỗng chốc trở thành hoang vắng, chỉ còn ông bà già và trẻ em ở lại giữ gìn mảnh ruộng đìu hiu.

Chỉ hơn 1 giờ bay, một trong những thiên đường mơ ước đó đã hiện ra trước mắt: Mã Lai!!!. Cũng nắng miền nhiệt đới, cũng hàng dừa, cũng lũy tre, cũng biển mặn như quê hương… và một tương lai đầy hứa hẹn! Sau chuyến bay đầu tiên trong đời, những gương mặt mệt mỏi nhưng hân hoan nghĩ đến ngày mai, đến những cổ máy hiện đại mà nay mai đây mình sẽ là người điều khiển. Được ra nước ngoài đã là một sự kiện lớn trong đời, lại còn kiếm được nhiều tiền cho thằng cu, cái bé, xây lại ngôi nhà, bốc lại nắm mộ. Chỉ nghĩ tới là lòng đã lâng lâng…

Cái lạnh của máy điều hòa trong phi trường KLIA cũng không lạnh bằng cái lạnh trong lòng của họ sau khi ngồi hơn 3 tiếng đồng hồ trong phi trường mà không thấy một ai ra đón. Những gương mặt hân hoan đã biến sang ngỡ ngàng và chuyển nhanh thành sợ hãi. Họ như những con thú xa bầy, đang bơ vơ trước một cánh rừng xa lạ. Họ bám chặt lấy hành lý và bám chặt lấy nhau như tìm chút nương tựa nơi kẻ cùng cảnh ngộ. Trong một thoáng, họ cảm thấy hối hận đã đến đây và sợ hãi nghĩ đến món nợ to còn đợi ở quê nhà…

Sau những giờ phút chờ đợi dài đằng đẵng, thế rồi cũng có người đến đón họ. Không phải là chị Hai, anh Ba nói cùng ngôn ngữ. Mà là những khuôn mặt xa lạ, tiếng nói cũng xa lạ. Họ không hiểu gì hết, chỉ biết răm rắp đi theo. Đi đâu? không biết! đủ xa để họ có thể ngắm một phần xứ sở mà họ sẽ phải làm quen trong 3 năm sắp tới.

Nhóm của họ bị chia ra thành nhiều mảnh, thôi thì phận ai nấy lo. Vẫn là cái ngôn ngữ xa lạ ấy, Họ bảo ký giấy, ừ thì ký, họ bảo đưa hộ chiếu cho họ giữ, ừ thì đưa. Hỏi làm gì, mà biết làm thế nào để mà hỏi. Cái sợ nó đã ngấm vào xương tủy rồi. Từ nhỏ đến lớn, chỉ học mỗi cái vâng lời; Vâng lời là yên chuyện. Vã lại, hỏi han lôi thôi, họ đuổi về nước thì khốn!

Rồi mọi chuyện cũng đâu vào đấy, những bước bỡ ngỡ lúc đầu cũng qua. Ở quê nhà, ngủ đất đã quen, sang đây chủ cho 8 người ngủ trong 1 container, mỗi người được 1 ngăn khoảng 1 mét ngang 2 mét dài đã là hạnh phúc. Ngày làm việc 12- 14 tiếng, khuya về lọc cọc xách nồi nấu ăn, hôm nào mệt quá thì ngủ luôn đỡ tốn cơm, sáng sớm hôm sau đi làm tiếp. Một tuần làm 6-7 ngày. Chẳng cần biết mặt trời Mã Lai tròn hay méo. Bệnh ư? cứ nghỉ, họ chỉ trừ lương thôi, trừ lương có nghĩa là kéo dài nợ, thế thì đi làm vậy. Nó mắng chửi ư? cứ giả vờ điếc, gục mặt xuống tiếp tục làm như con đà điểu chui đầu vào cát. Ức quá, đình công ư, họ kêu cảnh sát Mã Lai đến bắt và trừ lương. Tìm công ty môi giới để than phiền ư? môi giới đã biến mất như tuyết dưới mặt trời nhiệt đới. Thôi thì tiếp tục đi làm mặc mọi bất công, khốn khó. Ngày lại qua ngày. Cuộc đời công nhân xuất khẩu lao động quả là thần tiên.

Đời công nhân trên đất khách buồn nhiều hơn vui. Cái buồn còn có thể phôi pha, nhưng có nhiều nỗi bất hạnh đã ghi lại những vết thương không thể nào lành bằng cả nghĩa bóng lần nghĩa đen.

Trong những ngày lang thang trên đất Mã, tôi đã gặp Trường, một trong những công nhân có số phận không may, với Trường là tuyệt cùng bất hạnh. Những vết thẹo kinh khiếp trên người Trường ám ảnh tôi trên suốt chuyến trở về. Câu chuyện thương tâm bắt đầu vào 1 tối giao thừa:

Tết Nguyên Đán năm 2010, Tại Melacca, Trường và các bạn lại ăn thêm 1 cái Tết xa nhà. Đêm giao thừa, trong container nóng bức, các anh em bày biện bánh kẹo, hạt dưa ra ăn uống. Cũng có vài bạn trổ tài nấu thịt đông, tuy không đúng cách nhưng cũng tạm để có 1 món gì đó gọi là hương vị quê hương, hưởng ké tiếng pháo từ xa vọng về để thêm nỗi nhớ gia đình. Rồi cũng xong 1 cái Tết xa quê.

Hơn 1 giờ khuya, khi mọi người chìm vào giấc ngủ, thì bỗng có tiếng la lớn: “cháy, cháy…!!!” Trường chưa kịp hiểu ra chuyện gì đang xảy ra thì đã nhìn thấy những tấm vải treo làm màn trong “phòng” đang phựt cháy. Trường vội chạy ra ngoài. Ra đến ngoài thì đã thấy một số anh em đang ở ngoài sân. Những container nơi hãng sử dụng làm chổ ở cho các công nhân đang tiếp tục cháy dữ dội. Trường sực nhớ mình để quên cái điện thoại di động trong “phòng”. Điện thoại di động là vật bất ly thân của bất cứ công nhân Việt Nam nào, nó là vật cần thiết hơn cả cơm ăn nước uống, mất nó là đứt mọi sợi dây liên lạc, nó đáng giá bằng mấy tháng lương của Trường. Không kịp suy nghĩ Trường lao trở lại chiếc container đang ngùn ngụt lửa để cứu chiếc điện thoại. Khi vào đến bên trong, Trường không biết nơi nào là chổ ở của mình, khắp nơi là lửa, tìm không được, Trường chạy trở ra thì đã quá trễ, lửa đang bao vây tứ phía, những thanh sắt ngã xuống chấm dứt lối thoát của Trường, chấm dứt một đời trai.

Công nhân Trịnh Đăng Trường những ngày mới bị cháyNhững ngày sau đó của Trường là những ngày chịu đựng sự đau đớn khủng khiếp. Sau thời gian ở nhà thương, Trường được về nhà, em của Trường đang làm ở Penang phải nghỉ việc để lo cho Trường. Cách vài ngày, Trường phải vào nhà thương để “tắm”. Một bên lỗ tai bị mất, miệng chưa lành nên Trường không ăn uống và nói chuyện được, tay chân vẫn còn băng kín. Chủ hãng của công ty chỉ trả 1 phần tiền nhà thương. Phần còn lại họ cho Trường nợ. Ngoài ra còn tiền mua những loại băng đặc biệt để băng những vết phỏng, tiền nhà thương, tiền thuốc men, tiền ăn uống cho 2 anh em…v.v Nhưng với tình trạng này, không mong gì Trường có thể hồi phục lại để đi làm, còn mong gì trả nổi nợ???

Trong lúc khó khăn mới thấy tình đồng hương là quý: Anh em công nhân đến thăm hỏi và chia sẻ. Các anh em trong Hội Thánh Tin Lành đến cầu nguyện cho Trường. Ủy ban Bảo vệ Người Lao động Việt Nam cho người đến tặng tiền, đóng góp phần nào vào chi phí nhà thương mà hiện giờ đã lên đến hàng chục ngàn tiền Mã.

Cho đến ngày hôm nay, Trường và em của Trường cũng không dám cho gia đình ở Việt Nam biết. Bà mẹ già bị bệnh cao huyết áp của Trường vẫn còn nghĩ con mình đang lao động đâu đó ở Mã Lai.

Công nhân Trường hai tháng sau khi bị cháySau hơn 6 tháng điều trị, vết phỏng đã lành nhưng hậu quả của nó để lại thật rõ nét trên thân thể Trường: Một lỗ tai đã mất, những ngón tay đã rút lại, thịt lồi lên như một tảng băng nổi, những vết thẹo kinh khiếp trên lưng như mảnh ruộng nứt nẻ vào mùa khô.

Như chưa đủ khổ, cái nóng của Mã Lai đã tiếp tay hành hạ người công nhân bạc phước này: do da đã thành thẹo, không có lỗ chân lông nên mồ hôi không thể thoát ra ngoài, do đó cái nóng không giảm đi, nó tồn đọng lại trong người, làm trong người Trường lúc nào cũng bị nóng bức khủng khiếp, suốt ngày Trường phải ngồi trước chiếc quạt máy.

Trịnh Đăng Trường 8 tháng sau khi bị cháy (tháng 10 năm 2010)Rời Việt Nam với ước vọng kiếm tiền giúp đỡ gia đình, nhưng than ôi, ngọn lửa tàn ác đã đốt cháy mộng ước đơn giản của Trường, ngọn lửa đêm giao thừa đã thiêu rụi tương lai của người thanh niên. Bây giờ, bên cạnh nỗi đau thể xác, Trường chỉ quay quắt với ý nghĩ: làm sao để trả món nợ khổng lồ? Nỗi đau của chính mình Trường có thể chịu đựng được, nhưng liệu Mẹ mình có thể chịu đựng được không khi nghe tin con mình bị nạn? Làm sao báo tin cho Mẹ? Làm sao có tiền trả nợ???

———————

Đảng CSVN làm kinh tế quá giỏi nên không thể tạo được công ăn việc làm cho người dân trong nước. Các cán bộ đảng bèn nghĩ cách xuất khẩu lao động, gởi công nhân VN ra nước ngoài làm việc. Những người này nhận lương sẽ gởi tiền ngoại tệ về giúp cho gia đình ở VN, và để trả lại số nợ khi mượn tiền làm thủ tục xuất khẩu lao động…Thân nhân đổi ngoại tệ lấy tiền VN. Thế là nhà nước in tiền polymer và lấy ngoại tệ rất dễ dàng. (Tiền vốn in 1 tờ 500.000 đồng polymer là 4-6 xu Mỹ kim. Tiền công in 20 tờ 500.000 đồng khoảng 1 đô la Mỹ, và đổi lấy gần 500 đô la.).  Đây là cách kiếm tiền nhanh nhất và lời nhất của nhà nước. Theo ngân hàng trong nước cho biết, số tiền ngoại tệ do các công nhân lao động xuất khẩu gởi về là 1,5- 2 tỷ đô la. 

Hiện đang có hơn 700.000 nguời VN đang xuất khẩu lao động tại 40 quốc gia. Họ làm đủ thứ việc gì mà người công nhân ở các nước đó chê lương ít và không muốn làm.

Posted in Nong Dan Viet Nam, xuất khẩu lao động - du sinh -con nuôi | Leave a Comment »