Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín 5th, 2014

►Trần Đức Thảo và Công Hàm Phạm Văn Đồng 14-9-1958 – Triết gia và Lê Duẫn

Posted by hoangtran204 trên 05/09/2014

45 năm giỗ Bác: Bác làm gì kệ Bác

Tác giả:

1-9-2014

Bac hut          TranDucThao01.jpg

 

Trong cuốn “Trần Đức Thảo Những Lời Trăng Trối” của Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê, có kể câu chuyện đi xin việc làm của triết gia Trần Đức Thảo ở trang 324 và 325. Để bạn đọc dễ theo dõi, tôi xin tóm tắt nội dung:

Sau vụ đàn áp khốc liệt nhóm Nhân văn – Giai phẩm, Thảo bị tống cổ ra khỏi khoa Triết của Đại học Tổng hợp Hà Nội. Gia đình Thảo rơi vào cảnh túng quẫn, sống bấp bênh, bữa no bữa đói. Thảo cầm lòng chẳng đặng, đành hạ mình năn nỉ Đặng Thai Mai cho một suất dạy tiếng Pháp, không liên quan gì đến triết học hay chính trị cả. Đặng Thai Mai thẳng thừng: “Cụ Hồ không muốn anh dạy học nữa”.

Khó khăn chồng chất khó khăn, tai họa tiếp theo tai họa, không việc làm, không biên chế, bên bờ của sự khánh kiệt, vợ Thảo ôm đứa con nuôi bỏ nhà đi, Thảo xoay sở trong tuyệt vọng. Thôi thì xin một chân thơ ký văn phòng ở Viện Bảo tàng Lịch sử, nơi không quyền hành chính trị, kiếm đồng lương sống qua ngày. Hơn nữa, Viện này thuộc Bộ Văn hóa nơi mà Thảo quen biết nhiều.

Thảo ngỏ lời với Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên. Ông đồng ý ngay. Thảo liền đến gõ cửa nhà thơ Huy Cận, một người thân, hiểu hoàn cảnh Thảo, đang giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hóa. Huy Cận nhận lời nhưng lại trình lên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, rồi Phạm Văn Đồng lại lên thỉnh thị ý kiến Bác.

Bất hạnh cho Thảo, Bác không trả lời đồng ý hay không đồng ý mà lại nhập nhằng phán rằng: “Chỗ của Trần Đức Thảo là tại một cơ quan nghiên cứu triết học thì hợp hơn”. Đó là một lời nguyền. Từ đấy, mọi cánh cửa của các cơ quan ở Hà Nội đều cài then chốt khóa, không nơi nào dám nhận, Thảo bị ném ra rìa, bị loại khỏi xã hội, bị cô lập, bị lưu đày ngay trên chính quê hương mình.

Thực ra, Huy Cận chỉ việc lệnh cho Viện Bảo tàng Lịch sử làm thủ tục nhận Thảo. Bởi nhận một chân thư ký thì Trưởng phòng Tổ chức Cán bộ, hay Viện trưởng cũng đủ thẩm quyền quyết định. Giả như có ý kiến gì sau này thì có cớ Bộ trưởng đã đồng ý trước rồi, đâu phải mình Huy Cận chịu mà ông tìm cách thoái thác lên trên. Thế là chuyện đơn giản hóa ra nhiêu khê. Lẽ nào, Huy Cận lại không biết cách cứu Thảo đang giữa cơn hoạn nạn.

Thảo chưa phục hồi bởi cú đập Nhân văn, chưa hoàn hồn bởi trận đấu tố ở Đại học, nay lại bị giáng thêm một đòn nữa, cũng đau đến nhớ đời.

Thật đắng cay, cái chân thư ký cạo giấy thấp hèn, thấm tháp gì so với ánh hào quang của Bác. Một anh giáo quèn dậy tiếng Pháp, làm sao có thể trở thành một đối thủ thách đố ngai vàng của Bác. Bác cao thượng vị tha và nhân từ đến mức không dám làm đau một chiếc lá trên cành, nỡ lòng nào mà Bác triệt hạ mọi kế sinh nhai của một người trong cảnh khốn cùng như Thảo.

Bác đã biến một triết gia lừng danh giữa kinh thành Paris ra một kẻ thân tàn ma dại giữa Thủ đô Hà Nội.

Cũng khoảng thời gian này, Công hàm Phạm Văn Đồng 14-9-1958 ra đời. Đó là một văn bản chính thức của người đứng đầu chính phủ, liên quan đến an ninh quốc gia và sự vẹn toàn lãnh thổ, là chiến lược sách lược về ngoại giao và quốc phòng mang tầm quốc gia và quốc tế. Công hàm này sẽ phải đối mặt với những phán xét nghiệt ngã của lịch sử. Nó là công hay tội đối với đất nước, là thước đo về lòng trung thành hay sự phản bội Tổ quốc.

Dư luận cho rằng, chỉ có Phạm Văn Đồng phải chịu trách nhiệm trước lịch sử. Bác vô can.

Thảo xin chân thư ký mà mọi người và Phạm Văn Đồng còn phải xin ý kiến Bác. Huống hồ Đồng ký một văn bản quan trọng như thế mà  Bác lại không hay biết gì hết! Thật ra, Bác đã toan tính, hoạch định kỹ lưỡng từng đường đi nước bước.

Nếu chính danh, tại sao Công hàm này lại được giấu kín. Miền Bắc trước đây, không một ai biết về nó. Không học sinh nào biết rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam, trong khi con cá rô hoặc cây vú sữa của Bác nuôi (trồng) lại được mô tả kỹ lưỡng đến từng người dân.

Sách Địa lý Lớp 9 phổ thông toàn tập của Nhà Xuất bản Giáo dục Hà Nội 1974, chương Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, viết: “Vòng cung đảo từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến các đảo Hải Nam, Đài Loan, quần đảo Hoành Bồ, Châu Sơn làm thành một bức trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc”.

Ai là người soạn thảo chương này? Dựa vào tài liệu nào hay ý kiến của ai để viết như vậy? Soạn thảo từ thời gian nào? Tại sao lại mắc phải lỗi chết người này? Vai trò của Nhà Xuất bản Giáo dục ra sao? Việc thay đổi nội dung của sách giáo khoa có liên quan gì đến sự kiện Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa cũng vào năm 1974?

Viết sách để giảng dạy cho hàng triệu thanh niên miền Bắc (lớp 9 thời đó tương đương với lớp 11 hiện nay) tự phủ nhận quyền lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc, mà công nhận chủ quyền biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Trung Quốc. Đây đâu phải chuyện của Thảo đi xin việc.

Không ai tin những người làm ra cuốn sách giáo khoa này là vô tình mắc phải những lỗi kỹ thuật hay lỗi kiến thức. Từ ngày Bác mất đến khi cuốn sách ra đời mới chỉ 5 năm. Một khoảng thời gian rất ngắn. Ảnh hưởng của Bác còn rất sâu đậm trên mọi góc độ của guồng máy giáo dục hay tuyên truyền.

Từ trước tới nay, người ta cũng tin việc thủ tiêu cô Nông Thị Xuân và hủy hoại cuộc đời đứa con Nguyễn Tất Trung là do thuộc hạ lộng quyền, lộng hành. Người ta cũng tin việc khám nhà bắt giữ hai cha con ông Vũ Đình Huỳnh thư ký riêng của Bác là do phe nhóm Lê Duẩn – Lê Đức Thọ.

Việc cỏn con của Thảo mà Bác còn ra tay, thì những việc kinh thiên động địa trên, ai dám làm sai ý Bác. Tất cả chỉ biết vâng lời Bác dậy.

Thảo nêu ra một nhận định: Bác rất khéo léo tạo cho mọi người Việt Nam một thói quen tư duy rằng: Tất cả những gì hay, tốt, đẹp, có giá trị đều là của Bác, công lao của Bác, do Bác tạo dựng ra: Bộ đội của Cụ Hồ, cháu ngoan của Bác Hồ, ao cá của Bác Hồ, vườn cây của Bác Hồ, đạo đức của Bác Hồ, tư tưởng của Bác Hồ, đôi dép đơn sơ Bác Hồ, giản dị như Bác Hồ, thanh bạch như Bác Hồ, thành phố mang tên Bác Hồ.

Thế còn bao nhiêu những nỗi niềm cay đắng, đớn đau của dân tộc đã phải nếm trải từ ngày có Bác, thì tuyệt nhiên không thấy bóng dáng Bác đâu.

Thảo cũng đưa một quan sát thú vị. Mỗi khi đi công du nước ngoài, tiếp khách quan trọng ở Phủ Chủ tịch, hay đi thăm viếng các cơ sở trong nước, Bác thường đạo diễn, giàn dựng cho đoàn tùy tùng, và căn dặn: “Các chú phải ăn mặc, nói năng, ứng xử thật đúng quy cách còn Bác làm gì kệ Bác.”

Câu chuyện xin việc làm chỉ là một trong muôn vàn những câu chuyện bi hài mà Thảo kể ra. Nó không dừng lại ở nghĩa đen, mà nó gợi ý. Nó giống như định lý đảo trong toán học. Lật ngược mọi giả thuyết xem kết quả còn đúng nữa hay không. Nó mở ra một góc nhìn mới, một cách nhận thức khác về Bác: Bác làm gì kệ Bác.

September 2014

© Trần Hồng Tâm
© Đàn Chim Việt

 

>>>Tiểu sử Trần Đức Thảo

* Lầm Đường Theo Bác…

Vợ của Trần Đức Thảo là Nguyễn Thị Nhất. Bà bị áp lực của Đảng và Nhà nước đã ly dị ông để kết hôn với Nguyễn Khắc Viện – một người bạn thân của ông ở Pháp.

*“Chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo ” – Phùng Quán : Theo như lời của một bà cụ bán nước trà ở đầu khu tập thể Kim Liên, nơi mà triết gia của chúng ta cư ngụ cho đến gần lúc cuối đời:

“Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp ‘Pơ-giô con vịt’ mà mấy bà đồng nát cũng chê.

Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người…”

Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi:

“Ông đi đâu về mà nom vất vả thế.. ế.. ế. Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun.

Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái ‘pooc ba ga’, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi nả rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… ”

***Tháng 3 năm 1991, ông được cấp một vé máy bay một đi không trở lại để sống nốt những ngày cuối đời trên đất Pháp .
………

Mấy hôm trước ông bị ngã ở cầu thang hai lần, rồi lại bị tiêu chảy, trong người hết sức mệt. Ông thều thào nói với bà Bích Hồng nhờ bà gọi điện thoại cho mấy người quen nhưng bà Hồng cho biết cán bộ quản lý của sứ quán Việt Nam Cộng Sản tên Hảo cấm bà không được gọi, y còn đe đuổi bà nếu cãi lệnh. Tuy vậy vì quá thương người ốm bà cũng liều lén đi gọi. Có người đến cho ông vài viên thuốc cầm tiêu chảy được vài ngày. Đến trưa ngày 23 tháng 4 thì ông lên cơn đau và nói sảng : “Đông Âu đấy! Đông Âu đấy!”… rồi: “Nó kiểm điểm! Nó kiểm điểm!” Ông được đưa vào nhà thương và hôm sau thì mất.

 

TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO và LÊ DUẨN

Trong cuốn tự truyện ĐÈN CÙ của Trần Đĩnh dày 600 trang, xuất bản 2014, đầy những chi tiết về bản thân ông, một chàng trai theo lý tưởng chống Pháp, tham dự tổng khởi nghĩa do Cộng sản lãnh đạo ngày 19-8-1945 khi mới 15 tuổi, và năm 19 tuổi được đưa vào An Toàn Khu để làm báo Sự Thật bên cạnh các lãnh tụ như Hồ Chí Minh, Trường Chinh…và ông cũng là người được đảng chỉ định viết tiểu sử HCM vào năm 1960.

Trang 84, Trần Đĩnh kể rằng ông Hồ và Trường Chinh tham dự buổi đấu tố bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.”

Sau khi cán bộ đảng bắn chết bà Năm từ phía sau lưng. Họ đem chôn cất. Họ chọn mấy miếng ván đóng thành 1 cái thùng và bỏ xác bà Năm vào.  Thùng nhỏ so với xác Bà Năm, nên “Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô…” (trang 86)

Nhiều chi tiết lịch sử đươc ghi lại mà chính sử  bỏ qua. Sau khi sai thư ký là ông Trần Phương đến mời Trần Đức Thảo đến nhà, Lê Duẩn đọc  “Trình Bày Đề cương về Vấn Đề Con Người” riêng cho triết gia Trần Đức Thảo nghe (trang 435-441), và  xin Giáo sư Thảo cho biết ý kiến… thì:

“Ngơ ngác một lát, Thảo nói: – Tôi không hiểu gì cả.”

Tức quá, Lê Duẩn vòng ra sau GS Thảo, vòng tay ôm GS Thảo nhấc lên, giộng xuống đất mấy cái cho hả giận… rồi bỏ vào trong nhà.

Sau đó, GS Trần Đức Thảo kể lại với Trần Đĩnh: Duẩn chẳng hiểu gì về chủ nghĩa Mác… Rồi Trần Đức Thảo thì thầm vào tai Trần Đĩnh: “Làm sao Duẩn lại Mác-xít được?”

Có một chi tiết cũng đã bị chính sử Hà Nội xóa đi: Viên sĩ quan cao cấp nhất của Hà Nội là Trung Tá nhà báo Bùi Tín vào Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 và chính ông Bùi Tín đã chỉ đạo các việc cần làm vào buổi sáng hôm ấy. Bây giờ, Hà Nội không muốn nhắc tới tên của nhà báo Bùi Tín, người đã vào Dinh Độc Lập và đã tò mò mở cửa một tủ lạnh nơi này…

Trích Phan Tấn Hải
Nguồn: Anhbasam 

 

À! Còn chuyện này nữa, xém quên. 

*Trần Đĩnh vào nghề làm báo và được Trường Chinh (Tổng Bí Thư Đảng và là Chủ nhiệm báo Sự Thật) hướng dẫn viết văn.

Trần Đĩnh cũng kể về “mối tình” của ông Hồ với cô Phương Mai…

Trích trang 30:

“Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: À, cái P.M. (Phương Mai) tự nhiên mang ba lô, chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm.

Vài tháng sau, An lại về muộn. Hỏi vì sao thì An nói không thấy P.M. (Phương Mai) đến nữa. Chắc máy cụ yếu, giải đáp thuần túy sinh học. Không tính đến sở thích, gu của cụ”. (hết trích)

Đó là văn học, kiệm lời nhưng đưa sâu vào trí nhớ độc giả.

Phương Mai là ai?

Không rõ có phải Phương Mai đươc Nguyễn Minh Cần (Cựu Phó Chủ Tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội) kể trong bài “Vài mẩu chuyện về cuộc đời HCM”, trích:

“…Xin nói rõ chuyện như thế này: hồi đó, có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để việc “giải quyết sinh lý” được điều hòa thì tốt cho sức khỏe.

Và sau Hiệp định Genève 1954, người ta chọn một người “kháu” nhất trong số nữ cán bộ trẻ, đó là chị Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thanh Hóa và đưa chị từ Khu Bốn ra Hà Nội để tiến cử lên ông Hồ. Và như ta đã biết qua cuộc “loạn đàm,” chị đặt vấn đề phải có hôn nhân đàng hoàng.

Thế là… việc không thành. Rồi chị được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ thương binh và ở luôn tại Hà Nội.”(hết trích)

Chị Phương Mai đặt vấn đề? Hay là ông Hồ thấy dan díu đã đủ rồi? Dĩ nhiên, không ai có câu trả lời chỗ này…

Trần Đĩnh cũng kể về cô X. người đứng bên cạnh ông Hồ và đươc ông Hồ xem là “con nuôi.” Cô X. Những cảm xúc của Trần Đĩnh với cô X. đươc kể nơi trang 97-98 và:

“Tôi quả đang vút lên chín tầng mây… Mới hôm qua ở suối lên, dốc trơn, tôi giơ tay ra đỡ X. Bàn tay con gái tôi lần đầu nắm lâu trong đời. Và cảm giác rạo rực theo tôi mãi…”

Cô X. lúng túng, rơi chiếc thìa trên cỏ… Cô X. cũng là người làm Trần Đĩnh mơ mộng, có lúc ký tên với bút hiệu Hoàng X. là vì cô.

Nơi trang 375, Trần Đĩnh kể tiếp:

“…rồi cô cho tôi cái thìa, món kỷ niệm tôi đặt lên trên bụi lạc tiên đầy bụi ở giữa Na Sầm và Đồng Đăng, chờ vượt sang Trung Quốc. Tóm lại tình trong như đã, mặt ngoài còn e…”

Nhưng rồi Trần Đĩnh tiêt lộ, cô X. chính là cô Xuân, chết ở Hà Nội vì bị ô tô đè… (trang 183) Nhiều năm sau, người ta mới biết cô Xuân cũng là một phần giường chiếu của ông Hồ.

Đọc “Đèn Cù” của Trần Đĩnh, chúng ta nhìn rõ hơn về cach công an đàn áp những người “xét lại,” và thấy một sự thật nữa: mỗi lần chuyển biến chính sách đối ngoại, sẽ có một thành phần trong Đảng bị thanh trừng.

*Đèn Cù, 25 mỹ-kim, xuất bản bởi Người Việt Books. Có thể vào Amazon.com để mua.

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »