Trần Hoàng Blog

►Trong cuốn Đèn Cù, Trần Đĩnh tiết lộ: Hồ Chí Minh đã tới quan sát cuộc đấu tố đầu tiên ở Đồng Bẩm, hóa trang che bộ râu để không ai nhận ra

Posted by hoangtran204 trên 11/08/2014

Trần Đĩnh là người được tuyển chọn viết tiểu sử cho HCM 1960. Ông sống thân cận và gần gủi với Hồ Chí Minh, Trường Chinh,…trong nhiều năm và ông rất cảm mến hai người nầy. “Trần Đĩnh cũng viết hồi ký cho Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm (một trong vài ba đảng viên cộng sản đầu tiên)”

“Xưa nay nhiều người vẫn kể rằng Hồ Chí Minh không muốn giết bà Nguyễn Thị Năm, nhưng bị cố vấn Trung Cộng ép buộc nên phải giết. Trần Đĩnh đưa ra một bài báo ngắn do Hồ Chí Minh viết kết tội đích danh bà Năm đồng thời đả kích cả giai cấp địa chủ. Bài báo này, được dẫn chứng đầy đủ, dùng một bút hiệu, ký tắt, cho nên chỉ người bên trong tòa báo mới biết người viết là Hồ Chí Minh.”

Bài báo này có tên là Địa Chủ Ác Ghê, ký tên C.B.  (nguồn)

 

Ngô Nhân Dụng – Giới thiệu

“ÐÈN CÙ, Số Phận Việt Nam Dưới Chế Ðộ Cộng Sản” của TRẦN ÐĨNH

(Tự truyện của người từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh)

Thứ Năm, ngày 07 tháng 8 năm 2014

Quý vị phải lắng yên nghe bài Đèn Cù. Tự mình hát lên, hát cho thấm thía vào lòng, cho những câu dân ca văng vẳng trong đầu trong khi đọc Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Khen ai khéo vẽ (ối a) đèn cù.

Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù nó chạy vòng quanh…

Voi giấy (ối a) ngựa giấy, vòng quanh nó chạy tít mù.

Đèn Cù, cũng gọi là đèn kéo quân, là một trong số đèn Trung Thu, đồ chơi cho trẻ em và cho cả người lớn. Quý vị sẽ dần dần nhìn thấy hoạt cảnh xã hội Việt Nam những hình nhân voi giấy, ngựa giấy tít mù nó chạy vòng quanh trên màn ảnh đèn cù trong hơn nửa thế kỷ. Trong đó có Trần Đĩnh. Một nhân chứng, một người tham dự trong đám Voi giấy (ối a) ngựa giấy lần lần hồi tưởng lại những cảnh cùng nhau chạy vòng quanh (ối a) tít mù.

Nhiều tác giả đã viết về xã hội miền Bắc Việt Nam dưới chế độ cộng sản, dưới dạng hồi ký, tiểu thuyết, biện thuyết và lý luận, vân vân. Đèn Cù nổi bật lên trong tủ sách đó. Nếu không phải là kho chứng liệu quan trọng và đầy đủ nhất thì đây là cuốn sách đọc lý thú nhất. Rất nhiều chuyện mới nghe lần đầu. Rất nhiều chuyện cũ được nhìn dưới con mắt khác, thấy những khía cạnh chưa ai từng thấy. Quý vị sẽ cười, sẽ khóc, sẽ thắc mắc, sẽ dằn vặt, thao thức, kinh tởm, giận dữ, sót thương, khi bị cuốn theo những Voi giấy (ối a) ngựa giấy chạy quanh trong cái đèn cù.

Dưới cái tựa Đèn Cù, Trần Đĩnh gọi cuốn sách này là “truyện tôi.” Đọc xong thì hiểu tại sao tác giả không gọi nó là một “hồi ký” hay “tự truyện,” những loại văn quen thuộc khi người ta kể chuyện cuộc đời mình đã sống. Cuốn sách không viết theo phong cách hồi ký hay tự truyện, khi người viết có sẵn một bản đồ để viết theo, một mục tiêu muốn đạt tới. Đây cũng không phải là tiểu thuyết, tác giả không kể những chuyện mình tưởng tượng ra. “Truyện tôi” là một thể loại văn suôi mới, do Trần Đĩnh tạo ra. Mai mốt có thể sẽ không còn ai viết “truyện tôi” nữa. Mà có ai viết thì chăc chắn cũng không viết giống như Trần Đĩnh. Đèn Cù là một cuốn sách độc đáo.

 

 

Trần Ðĩnh, 1998, Trần Ðộ chụp – (hình: tác giả cung cấp)

https://hoangtran204.files.wordpress.com/2014/08/e5529-trandinh-1998.jpg

Nhưng Trần Đĩnh vẫn giữ nguyên cái đức của người viết báo, là kể sự thật, kể những chuyện thật. Ông dùng một lối viết mà đọc tới đâu người ta cũng cảm thấy ngay: Đây là những chuyện thật, sự thật được bày ra, sự thật ròng, như thịt xương còn sống, tàu lá còn xanh, như gỗ mộc không sơn phết. Những suy tư, thao thức của tác giả được trình bày riêng, bên ngoài các sự kiện. Người viết không thêm thắt tình cảm, suy tư, phê phán, như thêm mắm muối, tiêu, hành, vào cho món ăn thêm mùi vị. Như khi ông thuật lời nhà báo Tiêu Lang đã chứng kiến cảnh mấy anh du kích đặt cái xác bà Nguyễn Thị Năm vào áo quan, áo quan nhỏ quá không vừa. Mấy anh bèn đứng lên trên xác bà đẩy cho lọt xuống. “Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ.”

Hay khi ông kể chuyện về họa sĩ Phan Kế An, một trong bốn năm người cùng phụ trách báo Sự Thật lúc đầu. “Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: À, cái Z. tự nhiên mang ba lô, chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm. Vài tháng sau, An lại về muộn. Hỏi vì sao thì An nói không thấy Z. đến nữa. Chắc ‘máy’ cụ yếu, giải đáp thuần túy sinh học. Không tính đến sở thích, ‘gu’ của cụ.” Trần Đĩnh cũng nhớ trong lớp học “chuẩn bị cải cách ruộng đất” tháng Bảy năm 1953, “Cụ Hồ đến giảng cách nhật, có lúc cụ đùa hô lên trong hội trường Hồ Chí Minh Muốn Nằm!” “Rồi tay chỉ vào đầu [nói]: Từ đây thì Bác già, nhưng từ đây (tay chỉ vào bụng) thì Bác trẻ.”   (Bó tay. Hết thuốc chữa!)

Trần Đĩnh vốn là một thi sĩ, loại người thích sáng tạo ngôn ngữ, bầy đặt, đùa rỡn, vui chơi với ngôn ngữ. Đẽo gọt, mài rũa, “như thiết như tha, như trác như ma,” rùng mình sảng khoái hay quằn quại đau khổ với ngôn ngữ. Trước khi gia nhập tòa soạn báo Sự Thật, ở chiến khu Việt Bắc vào năm 1949, tuổi 19, ông đã viết báo rồi. Nhưng cuốn sách này tuyệt nhiên không dùng lối văn viết báo. Nhà báo không ai mở đầu một bài bằng mấy chữ: “Viết này vất vả,” rồi chấm câu. “Lười là rõ,” lại chấm câu. Cái khí văn đó tràn suốt tác phẩm. Có thể gọi đó là Khí văn Trần Đĩnh. Cũng như chúng ta có thể nhận ra Khí văn Phùng Quán, Khí văn Thanh Tâm Tuyền, vân vân, các thi sĩ có lúc viết văn suôi. Nó riêng biệt, văn đó đúng là người, mỗi người một vẻ.

Trần Đĩnh kể chuyện vợ nhà thơ Lê Đạt, ông bị đưa đi lao động “cải tạo” vì tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Người đàn bà mang tội là “vợ Nhân Văn”… bị “cơ quan, tập thể liên tục ép bỏ chồng” nhưng bà không bỏ…” [N]hững đêm giá buốt Thúy diễn kịch ở Hải Phòng, Đạt từ chỗ lao động cải tạo xuống tìm vợ. Không có giấy chứng minh nhân dân, Đạt không thuê được nhà trọ, hai đứa ngồi ghế vườn hoa suốt đêm nghe còi tàu thủy hú thi với gió biển.” Một câu văn ngắn cho chúng ta sống cả một đêm dài nghe tiếng tầu thủy vang vọng trong tiếng gió hú. Tác giả đóng vai một nhân chứng, một người quan sát, chỉ thuật lại những gì mình nghe, mình thấy.

Thời sau chiến tranh, báo Nhân Dân có cuộc họp năm sáu chục người “ôn lại thành tích tuyên truyền chiến tranh chống Mỹ. Nguyễn Sinh, xưa phóng viên thường trú Vĩnh Linh, Vĩnh Mốc lên nói. Lại tố cáo những chiến công giả người ta gán cho Mẹ Suốt, Trần Thị Lý sông Lấp Quảng Bình. Sông đã lấp thành tên [tên Sông Lấp] mà nhà báo cứ ca ngợi cô Lý oằn lưng chèo lái… Hầu hết nghe đều cười. Tự giễu và rộng lượng. Nhưng khi Sinh nói ở Vĩnh Linh, anh đã chứng kiến người bên kia bị ta bắt sang chôn sống kêu rất lâu dưới huyệt, tôi lại thấy mọi người mặt lạnh tanh.”

Thêm một chuyện ngôi nhà của bà Lợi Quyền, một nhà tư sản đã nổi tiếng đóng góp nhiều vàng cùng với nhà cửa trong “Tuần Lễ Vàng” thời trước kháng chiến. Sau chiến tranh Lợi Quyền vẫn còn một ngôi nhà tại Hà Nội. Đầu thập niên 1980 “được ban Tuyên Huấn Trung ương đến hỏi. Chê đắt [không mua]. Đùng một cái! Một hôm xe tuyên huấn chở mấy bao tải tiền đến mua, đắt cũng được. Ba ngày sau đổi tiền.” Tác giả ghi thêm: “Tố Hữu [phó thủ tướng đổi tiền], nguyên trưởng ban tuyên huấn đã hạ thời cơ tuyệt hảo…” Và ông nhắc lại bài Quốc Tế Ca hát rằng: “Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình!” Phê: “Quá giỏi!”   (lừa gạt quá đểu và gian trá)

 

Ở văn phòng mới dọn đến của Tổng bí thư mùa thu 1949. Hàng đầu toàn ngồi xổm, từ trái qua, vợ Hà Xuân Trường, Lê Ðạt, Hồ Chí Minh. Ngoài cùng bên phải là Trường Chinh, áo blu dông Mỹ trắng. Hàng sau đứng đầu bên trái là Hà Xuân Trường, thư ký tòa soạn báo – (hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)

Đèn Cù đầy rẫy những “đoạn phim” ngắn như vậy. Rất nhiều “clip” chợt hiện trên màn ảnh trong nửa phút, rồi chuyển ngay sang cảnh khác, liên tiếp chạy nhanh qua não bộ. Đoạn phim lưu đọng trong óc mình mãi mãi, trộn lẫn cùng những đoạn phim ngắn khác, không theo thứ tự thời gian, cũng không theo một dòng lý luận nào. Tất cả cho người đọc một toàn cảnh sống động về xã hội nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ, trước và sau khi tác giả đặt bút viết cuốn sách để đời này. Tất cả là “truyện tôi.” Nếu không có cái tôi sống, tôi quan sát, tôi rung động, tôi ghi nhớ, tôi suy nghĩ, thì không có “truyện tôi.”

Trong trí não con người đời sống vốn không có trật tự, nó chợt hiện, chợt tắt, ngổn ngang, chắp nối, không xếp đặt theo không gian cũng không theo dòng thời gian đơn tuyến và trực tuyến. Đời sống thật vẫn như vậy. Đó là cảnh Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù nó chạy vòng quanh. Cho nên Đèn Cù là một tác phẩm nghệ thuật. Đây là một sáng tác văn nghệ. Thử tưởng tượng có một người trước khi đọc không hề biết gì về bối cảnh lịch sử ở nước Việt Nam, chưa bao giờ nghe tên những nhân vật như Nguyễn Tư Nghiêm, Văn Cao, Lê Đức Thọ, Hồng Linh, Thép Mới, Lê Trọng Nghĩa, Hồ Chí Minh, Lê Đạt, Tô Hoài, Hồng Hà, vân vân; khi đọc Đèn Cù người đó cứ nghĩ đây là những nhân vật hoàn toàn do tác giả bịa ra. Độc giả nghĩ Trần Đĩnh sáng tác một cuốn truyện, sẽ thấy Đèn Cù là một thể loại tiểu thuyết mới, rất mới.

 

Tại tòa soạn báo Sự Thật: (từ trái) Diên Hồng, Nguyễn Địch Dũng, Kỳ Vân, Lê Quang Đạo, Trần Đĩnh, Trường Chinh, Lê Xuân Kỳ, Thép Mới, Hồng Vũ (sau này tự tử ở bệnh viện Nam Ninh, Trung Quốc)-(hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)

 

Suốt cuộc đời cầm bút (ông mới tập dùng máy vi tính khi đã về già), Trần Đĩnh nói, “Tôi vẫn mong rồi có một quyển sách thật sự của tôi, của chính tôi.” Bởi vì, gần suốt cuộc đời viết, lách “tôi đã tự nguyện làm thủ phạm tàn phá trước hết vào chính ngay mình. Tôi vốn yêu viết. Nhưng đã không viết nổi. Đứa thủ phạm là tôi bắt tôi viết dưới bóng tối của Thù Hằn và Dối Trá…”

Trần Đĩnh biết rất nhiều chuyện. Trần Đĩnh coi Trường Chinh là thầy trong nghề báo, được ông tổng biên tập báo Sự Thật (Trường Chinh) dậy từng chữ khi anh nhà văn 19 tuổi mới vào trong A Tê Ka (An Toàn Khu), năm 1949. Anh ngủ chung lều với Lê Quang Đạo, nhiều lần phải hất tay Lê Quang Đạo ra, và nghe lời xin lỗi, “Chúng tớ ở tù lâu ngày sinh hư.”

Anh ngồi sau lưng Hồ Chí Minh trong buổi lễ truy điệu Stalin chết; nhìn cảnh Tố Hữu diễn vai đau khổ ôm bức hình Stalin đặt lên ban thờ, sau nay nghĩ có lẽ ông ta khóc Stalin là khóc thật. Rồi nhìn thấy hộp thuốc lá Trung Hoa Bài do Hồ Chí Minh bỏ quên trên ghế bên cạnh, anh cầm lấy mang đến tận phòng, “Dạ, thưa bác, Bác để quên ạ!” Và nhìn thấy “Mặt cụ xưng lên, đầm đìa nước mắt, hai mắt húp lại… Cụ ngơ ngẩn nhìn tôi, nhìn hộp thuốc lá như không hiểu tôi vào làm gì…”

Trong lớp chỉnh huấn chuẩn bị cải cách ruộng đất năm 1953, một hôm “Cụ Hồ nói: Các chú các cô không sợ người ta kêu mình kém trí thức, ít lý luận. Họ kêu thì bảo họ rằng tôi lú nhưng chú tôi khôn. Chú tôi là Stalin, Mao Trạch Đông…”

Trần Đĩnh chắc là người đầu tiên tiết lộ Hồ Chí Minh đã tới quan sát cuộc đấu tố đầu tiên ở Đồng Bẩm, hóa trang che bộ râu để không ai nhận ra. Và Trường Chinh thì đeo kính đen tới dự, để rút kinh nghiệm mà rèn luyện các đội cải cách đấu tố cho đúng tiêu chuẩn thù ghét. Xưa nay nhiều người vẫn kể rằng Hồ Chí Minh không muốn giết bà Nguyễn Thị Năm, nhưng bị cố vấn Trung Cộng ép buộc nên phải giết.

Trần Đĩnh đưa ra một bài báo ngắn do Hồ Chí Minh viết kết tội đích danh bà Năm đồng thời đả kích cả giai cấp địa chủ. Bài báo này, được dẫn chứng đầy đủ, dùng một bút hiệu, ký tắt, cho nên chỉ người bên trong tòa báo mới biết người viết là Hồ Chí Minh.

Trần Đĩnh cũng là tác giả đầu tiên đã gặp cô Xuân (nhân vật đã được Vũ Thư Hiên kể trong Đêm Giữa Ban Ngày) ở trên chiến khu từ năm 1953, cô là “Con nuôi Bác.” Có lúc Trần Đĩnh đã nắm tay cô Xuân, khoe đã lấy tên cô làm bút hiệu viết trên báo.

Ông cũng kể chuyện đi theo Hồ Chí Minh dự mít tinh rồi “đi lượn phố, thăm trường học” ở Móng Cái, năm 1960. Hồ viết lên bảng một chữ Hán “nhân,” rồi hỏi: “Trây sấn mà chề” nghĩa là “Đây là chữ gì?” nói bằng tiếng Khách Gia, Hakka, miền Nam gọi là tiếng Hẹ; là thổ ngữ của người gốc Hoa ở địa phương này. Tác giả thắc mắc, “tại sao đến đây Cụ đi chơi phố nhiều như thế? Khéo [cụ] đã ở đây thật?” Và có lúc đi trong phố “Cụ chỉ vào một ngôi nhà phía bên kia đường nói với tôi, đi bên cạnh: Ở nhà này ngày xưa có một chị bí thư chi bộ. Tôi ngợ ngay. Có quan hệ tình cảm gì [giữa cô đó] với Bác?”

Trần Đĩnh là người đầu tiên cho biết đã nghe Hồ Chí Minh nói thông thạo tiếng Hẹ, và đoán rằng ông đã hoạt động cùng các đảng viên  cộng sản ở Móng Cái từ thời trước. Chưa có một tác giả hay một người nghiên cứu lịch sử nào biết đến chi tiết này. Độc giả sẽ không ngạc nhiên khi đọc những tình cảm thân mến của tác giả với nhân vật Hồ Chí Minh; vì đã sống rất gần gũi trong nhiều năm. Trong lần đi thăm khu gang thép Thái Nguyên, “Sau bữa cơm trưa, thấy Cụ quần áo cánh nâu đi vòng ra sau dẫy nhà tranh đến rặng chuối thay hàng rào, tôi đi theo. … Thấy tôi gần như ở ngay bên, cụ quay ngoắt lại hỏi, điếu thuốc khẽ lật bật ở môi: ‘Người ta đái cũng theo à?’ ‘Không ạ, cháu …!’ ‘Thế đứng sát vào người ta nhòm gì?’” Rồi Trần Đĩnh kể tiếp, “Chiều ấy, khoảng bốn giờ về tới chủ tịch phủ, tha thẩn ở sân chờ lấy xe đạp … bất thần chợt nhớ đến Xuân, cô con gái nuôi của Bác. Hỏi mấy người đứng tuổi nom có vẻ quen từ trên rừng. A, cô Xuân ấy hả? Lấy chồng rồi. Chồng lái xe. Nhưng chết rồi. … bị ô tô đè …”

Trong chương chót, Trần Đĩnh nêu một nhận định chung về Hồ Chí Minh: Lòng trung của Hồ Chí Minh đối với Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông là vô bờ. Cho nên lòng trung với nước Việt, dân Việt vơi đi.

Người thứ hai mà Trần Đĩnh có lòng cảm mến là Trường Chinh. Năm 1962 Trường Chinh đã nhờ Trần Đĩnh viết hồi ký, nhắc lại từ những ngày đi họp ở Pắc Bó năm 1941, với ý định dùng quá khứ vinh quang “phất một ngọn cờ tập hợp” phe mình. Nhưng sau đó tập hồi ký không dùng đến vì biết mình đã thua hẳn phe cánh Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh rồi. Nhiều người cũng muốn nhờ, vì Trần Đĩnh nổi tiếng khi viết hồi ký giúp cho người khác. Anh kể chuyện những người tù Côn Đảo, văn sống và khích động, như chính anh đã trải qua các gian khổ đó. Cuốn Bất Khuất (viết năm 1965) kể chuyện Nguyễn Đức Thuận, một người tù Côn Đảo tranh đấu trong tù, được đưa ra ngoài Bắc. Lê Đức Thọ, Tố Hữu, Hoàng Tùng chủ trương dùng câu chuyện Nguyễn Đức Thuận để tuyên truyền khích động cho người miền Bắc ủng hộ cuộc tấn công vào miền Nam. Viết Bất Khuất, cái tên do Tố Hữu đặt, Trần Đĩnh không ký tên, tiền nhuận bút cũng nhường cho Thuận. “Vì không thích nói dối.” Nhưng được những độc giả như Trần Dần khen thì vẫn thích: “Mày viết cái Bất Khuất ấy, tao thích cái grammaire.” Nguyên Hồng thì bậm môi, vuốt râu nói: “Mày, Trần Đĩnh à, mày có tâm hồn, mày có nghệ thuật nên mày viết cái ấy cho Thuận hay.”

Một lần năm 1960 gặp Vũ Kỳ (thư ký riêng của Hồ Chí Minh): “Vũ Kỳ bảo tôi sẽ cộng tác với anh viết hồi ký về Bác ‘khi Bác hai năm mươi.’ Viết xong tiểu sử, tôi (Trần Đĩnh) gửi lên cho Cụ một bản để duyệt. Cụ chữa từng trang. Có những đoạn viết ra ngoài lề: Xem lại? Hỏi lại? Bản thảo này tôi giữ.” Sau đó sách in ra, “Mừng tiểu sử chính thức đầu tiên của Hồ chủ tịch ra đời, Tố Hữu khao một bữa thịt chó thịnh soạn tại nhà” (Tố Hữu được lãnh nhuận bút 200 đồng vì có công đọc và kiểm duyệt, người viết chỉ được 400 đồng; còn “Huy Tưởng, Hoài Thanh chả [được] tẹo nào).

Trần Đĩnh cũng viết hồi ký cho Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm (một trong vài ba đảng viên cộng sản đầu tiên). Lê Đức Thọ cũng có lúc muốn nhờ. “Cậu viết giỏi lắm, tớ rất thích. Không ở tù mà viết y như thằng đã ở tù… Tớ sẽ nhờ cậu viết hồi ký cái đoạn tớ chuẩn bị tổng khởi nghĩa rất hay.” Và Thọ hứa hẹn sẽ đem Trần Đĩnh theo phái đoàn sang Paris đàm phán. Sau Trần Đĩnh không viết, “Hú vía!” Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh nhờ viết hồi ký, đều từ chối.

Trần Đĩnh làm việc gần với các lãnh tụ cộng sản Việt Nam từ năm 19 tuổi, cho nên biết nhiều chuyện. Như đến nhà Sáu Thọ, ngồi ngoài sân bên cạnh cái hầm tránh bom, thì nhận ra cái hầm này sâu 10 mét, trong khi cái hầm nhà Lê Thanh Nghị (anh đã nhiều lần xuống ẩn trong hầm này), chỉ sâu có tám mét, dù cả hai đều trong Bộ Chính Trị. Gần gũi họ, cho nên mới biết cảnh trong nhà Lê Đức Thọ một ông tướng chào Sáu Thọ xong, bước ra về mà cứ thế đi giật lùi, đến nửa cái sân mới dám quay lưng rồi tiến ra cổng. Nhìn mặt, thì ra Lê Đức Anh.

 

Tô Hoài (áo trắng) và Trần Đĩnh (quần xanh)

 

Trần Đĩnh sống trong cái đèn cù đó, trong lòng không yên. Anh bắt đầu nẩy mối bất nhẫn trong lòng khi chứng kiến những tội ác trong cuộc cải cách ruộng đất. Nhưng anh vẫn tin tưởng vào đảng, tin vào những động cơ tốt của các lãnh tụ. Chuyển biến tâm lý mạnh nhất phát sinh trong năm năm du học ở Bắc Kinh, sống qua thời kỳ các phong trào bước nhảy vọt, đánh hữu phái, công xã nhân dân, vân vân, từ 1955 đến 1959.

Trong thư viện Đại học Bắc Kinh, một góc bày các sách cũ tiếng ngoại quốc, anh được đọc cuốn “Từ số không đến vô định” của Arthur Koestler; câu chuyện một người bị Stalin bỏ tù. Anh cũng được đọc báo Le Monde trong thư viện đại học, và biết chuyện tố cáo tội ác của Stalin trong đại hội thứ 20 đảng Cộng sản Liên xô. Nhưng ảnh hưởng quan trọng nhất là do anh sống bên người Trung Hoa, anh trực tiếp gặp nhiều sinh viên cùng tuổi, được nghe, được thấy, để biết chế độ Mao Trạch Đông giả dối, tàn bạo và coi khinh mạng sống dân chúng như thế nào. Khi Mao Trạch Đông cho phép “trăm hoa đua nở” báo Nhân Dân (Bắc Kinh) cũng đăng những bài phê phán đích đáng, mở mắt anh du học sinh người Việt “được thấy trí thức Trung Quốc sôi sục chống đảng.” Quan sát thực tế, lại thấy “dân Trung Quốc khốn khổ vì đảng.” Cho nên, “Tôi bắt đầu ‘hư hỏng’ (nghi ngờ đảng) vì đã nhận ra chân tướng đại bịp.

Người ta lừa bịp đại trà được là nhờ khai thác những bản năng thấp kém của con người: Sợ và tham.” Từ đó, Trần Đĩnh chống Mao, kinh tởm Mao, sau khi về nước vẫn tiếp tục. Vì thế anh là đối thủ của đám các đồng nghiệp thần phục Mao trong báo Nhân Dân, mà anh gọi là bọn “Mao nhều.” Kiểu như Hồng Hà, người từng nghẹn ngào nói như mếu: “Tôi xin cảm ơn Mao Chủ tịch vĩ đại đã mở mắt ra cho tôi thấy Liên xô, Kroutchev là phản bội, đầu hàng, xét lại…”

Trần Đĩnh ghê sợ âm mưu lợi dụng của Mao Trạch Đông, vì nhớ mãi câu ông ta nói: “Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ.” Chủ trương này dẫn đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Mao chấp nhận chiến tranh nguyên tử. Tại Bắc Kinh, Trần Đĩnh được hai người bạn Trung Hoa làm báo tiết lộ về cuộc họp chi bộ trong Văn Nghệ Báo để nghe chỉ thị tối quan trọng. Hai anh kể, chỉ thị được ban xuống cho dân Trung Quốc thấu triệt là họ không phải sợ bom nguyên tử. “Vì dù Mỹ có ném xuống một nghìn quả bom nguyên tử, dẫu trái đất có bị tàn hoang đi nữa thì ít nhất cũng còn sót lại một huyện dân Trung Quốc, huyện ấy sẽ ương lại giống người trên trái đất này.” Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ. Cho nên Mao muốn phát động chiến tranh, “đánh Mỹ tới người Việt cuối cùng.” Mao cũng muốn đứng đầu phong trào cộng sản thế giới, sau khi thần tượng Stalin bị đàn em lật đổ. Lê Duẩn ngả theo chủ trương Mao; ghét những người muốn theo Cộng sản Nga muốn chung sống hòa bình với Mỹ và giảm bớt ách độc tài trong nước. Lê Duẩn từng ca ngợi Mao Trạch Đông là “Lê Nin của thời đại ba dòng thác cách mạng châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh.”

Đối nội, Duẩn tạo ra vụ án “xét lại, chống đảng;” đánh vào những người bị coi là thân Liên Xô. Lần đầu chỉ đánh giằn mặt bằng phê bình, kiểm thảo. Năm sau Chu Ân Lai sang Hà Nội phổ biến tin tức Mao đánh các đồng chí lãnh tụ trong đảng của ông ta rồi, Duẩn mở chiến dịch thứ hai, tống giam hết cả đám. Giống như đem họ ra làm vật “thế chấp” để được Mao ủng hộ. Trần Đĩnh cũng bị nghi ngờ, bị hạ tầng công tác, bị bắt giam và hỏi cung. Có lúc anh hãnh diện kéo chiếc xe hai bánh “diễu hành giữa thanh thiên bạch nhật, ở trung tâm Hà Nội, tươi tỉnh đi trình đường phố, nhận minh bạch đường hoàng mình chống đảng.” Lê Đức Thọ gọi Trần Đĩnh tới, kể tội đám xét lại cho nghe: “Vừa ở Paris về nghe an ninh nó nói cậu dính vào vụ chúng nó tớ… tiếc lắm… Tớ đã nói là tớ mến cậu vì cậu trẻ, cậu có tài…”

Đối với bên ngoài, Lê Duẩn bám sát chủ trương của Mao gây cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam. Theo Trần Đỉnh thì Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp không muốn đánh, nhưng không chiếm được đa số nên chịu phục tùng. Khi cuộc Cách mạng Văn hóa gây lo lắng Trung Quốc sẽ loạn lớn, Lê Duẩn thấy phải đánh ngay, đánh trước khi Bắc Kinh tan vỡ không còn chỗ dựa. Cho nên mở cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Sau này, Lê Duẩn theo Nga, chống Trung Cộng, thì lại hết lời mạt sát từ Mao Trạch Đông tới Đặng Tiểu Bình.

Đèn Cù đưa chúng ta vào một xã hội điên đảo, “sáng đúng, chiều sai, mai lại đúng.”Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù nó chạy vòng quanh…. Những đoạn phim thú vị nhất rút ra từ cuộc sống của những con người bình thường, các nhà văn, nhà báo, các cán bộ, những người qua đường.

 

Ở nhà Trần Đĩnh, trong khu văn công Cầu Giấy. Từ trái sang: vợ chồng Đoàn Viết Hoạt, Trần Đĩnh, Mây, con gái TĐ và Thiếu Khanh, con út vợ chồng Hoạt. (hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)

 

Nhà báo Minh Tường từ Hà Nội, theo đoàn quân chiến thắng vào Sài Gòn. Anh tìm được đến nhà mẹ mình, bấm chuông. Bà mẹ mở cửa ra, chấp hai tay vái lạy: “Thôi, tôi xin anh, anh đi với các đồng chí của anh đi cho mẹ con tôi yên.” Trần Đĩnh đứng với Tô Hoài trên lề đường nhìn toán tù binh Mỹ bị đưa diễn trên đường phố Hà Nội cho dân chửi rủa, ném đá. Khi người phi công cuối cùng qua trước mặt, bỗng Tô Hoài chạy ra với tay đấm vào mặt (đấm hụt). Tô Hoài giải thích, mình phải bày tỏ lập trường; nếu không có đứa nào nó báo cáo mình đứng ngoài coi trong lúc “nhân dân căm thù” thì nguy. Có ai được nghe lời Trần Độ tâm sự, sau khi đã tỉnh ngộ, viết Nhật Ký Rồng Rắn: “Này, nói thật chứ bây giờ… hễ nghe thấy cái gì là sự thật thì trong người sướng ghê lắm ấy!” Có ai được nghe một nữ nhân viên báo Nhân Dân đã về hưu bày tỏ nỗi oán hận: “Ông cha đổ bao xương máu giành được độc lập nhưng nô lệ vẫn hoàn nô lệ!” Trần Đĩnh rất gần Lê Đạt. “Một hôm Lê Đạt bảo tôi: Nhà thơ có lẽ là người yêu nước nhất. Họ chăm lo nhất đến tiếng mẹ đẻ…. Đạt nhiều lần giục tôi viết: Tiểu thuyết về mày, gia đình mày – Tôi im lặng. Biết viết là cực kỳ cô đơn. Và quả tình tôi đã thật sự cô đơn – đúng ta là bí mật – trong bao nhiêu năm với cuốn sách này.”

Sống hầu hết cuộc đời trong một xã hội mà Đảng Cộng sản và lãnh tụ chiếm “đặc quyền viết, đặc quyền nói;” chỉ dùng các nhà văn làm đầy tớ, “Ôi đã làm đầy tớ thì có đời thuở nào còn dám sáng tạo?” Bây giờ Trần Đĩnh đã viết. Lúc đầu, ông chỉ định viết để “tố cáo tội gây nội chiến Nam Bắc là sai lầm;” trong khi viết thì đổi ra hướng “phê phán toàn diện.”

“Vâng, tôi xin đối mặt với công luận đây. Tôi ăn gian nói dối thì các ông cứ việc vạch ra.” Đó là lời Trần Đĩnh, tác giả Đèn Cù. Xin mời quý vị bước vào, cùng sống trong cảnh Voi giấy (ối a) ngựa giấy, vòng quanh (ối a) nó tít mù.

Ngô Nhân Dụng

Tháng Tám, 2014

————-

Trương Huy San (Huy Đức)  Yesterday
30-8-2014
Đọc bài của bác Ngô Nhân Dụng hết sức tò mò về tác giả Đèn Cù, gặp người mới hay cụ Trần Đĩnh là người chấp bút Nguyễn Đức Thuận Bất Khuất, cuốn sách không ai “lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa” mà không phải “gối đầu giường”. Cụ Trần Đĩnh còn là người đầu tiên viết tiểu sử Hồ Chí Minh, làm việc bên cạnh Trường Chinh và nhiều nhà cộng sản. Bất ngờ hơn, cụ chính là dịch giả cuốn Linh Sơn của Cao Hành Kiện và là dịch giả của hàng chục cuốn tiểu thuyết từ tiếng Hoa, Anh và Pháp. Đã 84 tuổi nhưng sức làm việc còn như thanh niên, trí nhớ tuyệt vời và rất dí dỏm. Rất tiếc đã không gặp được nhân vật Trần Đĩnh trước khi viết Sách Bên Thắng Cuộc.

— with Do Thai Binh.

Chiều 29-8-2014 với cụ Trần Đĩnh.
Cụ Trần Đĩnh và các đồng nghiệp bên cạnh Hồ Chí Minh.
"Z", nhân vật mà họa sĩ Phan Kế An gặp... tên thật là Phương M. về sau từng làm tới thứ trưởng.

————–

—————

Võ Nguyễn Giáp bị Lê Duẩn gạt bỏ và sai Hoàng Tùng đấu đá như thế nào:

Trích TRẦN ÐĨNH, ÐÈN CÙ: Trong vụ lột lon Giáp phải nói tới công mở đường lột ngầm dai dẳng của báo đảng. Bản tin Thông tấn xã vẫn viết đại tướng Võ Nguyên Giáp như thường lệ. Một hôm, Thịnh, tay súng thiện xạ của Hà Nội, một anh sửa mo – rát nhà in bảo tôi dạo này em thấy trên bản tin Việt Nam thông tấn xã tòa soạn đưa sang cứ chỗ nào có đại tướng Võ Nguyên Giáp thì thủ trưởng Hoàng Tùng lại giập hai chữ “đại tướng” đi!

Tôi hỏi sao biết là Hoàng Tùng?

– Ô, lâu nay lệnh là chỉ tổng biên tập mới chữa bài bằng mực đỏ thôi mà…

Quá siêu! Ít lâu, nhận ra hiệu lệnh, các báo nhất tề lột nhẵn.

Quả đấm này xảy ra sau buổi Lê Duẩn đến báo Nhân Dân nói với các trưởng phó ban trở lên, rủa Giáp là đồ hèn, nghe tôi nói đánh Mỹ là tay cứ run lên như thế này (giơ tay ra run, minh họa sống động. )
Đến chiếc mũ phớt Giáp đội từ lúc dạy học ở trường Thăng Long rồi tha sang Tàu để cuối cùng diện trái khóay trong lễ ra mắt Giải phóng quân cũng bị chê nốt. Sáng ấy, báo Nhân Dân đăng bài kỷ niệm thành lập quân đội, có bức ảnh đơn vị Giải phóng quân đầu tiên với Giáp đội mũ phớt. Họp toàn cơ quan, Hoàng Tùng giơ bức ảnh lên nói với tất cả hội trường: “Lại còn đi bê cái mũ phở này lên làm gì nữa đây?” Giọng đầy miệt thị.

Dân có những ca dao hay vào bậc nhất trong kho tàng ca dao Dân chủ Cộng hòa:
Chiến trận ba mươi năm, Tướng võ không còn nguyên mảnh giáp


Trước kia đại tướng cầm quân, Bây giờ đại tướng lột quần chịem.

Hay
Ngày xưa đại tướng công đồn,

Nay thì đại tướng bít l. chị em.

Giá trị hai câu thơ này bị giảm quá nhiều vì văn hóa đòi phải viết tắt một chữ vốn là linh hồn, hơi thở, lá cờ soái của tác phẩm.

Một thày giáo ở Nam Định bảo tôi: – Không ngờ ông tướng này lại Vỡ Vụn Giáp. Có thơ rồi đấy: Nhờ Tây thành nguyên giáp. Nhờ Duẩn, Giáp vụn tan…

Sau này dân Quảng Bình tổng kết năm 1963 hai “thánh nhân” của mảnh đất này bắt đầu lụn bại. Đó là Võ Nguyên Giáp và Ngô Đình Diệm. Diệm bị mất mạng, Giáp còn mạng nhưng nhục. Diệm bị Mỹ không ưa nên quân tướng của ông xơi, Giáp bị Mao Chủ tịch ghét nên các đồng chí thân thiết của ông bôi nhọ cho bằng đủ kiểu. Sáng kiến cải tạo thủy lợi, đào kênh Đại Phong cho Quảng Bình lên 5 tấn là của ông Nguyễn Chí Thanh phụ trách nông nghiệp – việc này có thật – nhưng con kênh này về mặt phong thủy đã chặt đứt mất long mạch ở quê của hai vị Diệm và Giáp (việc này thì dân đồn).

Đánh bằng đường âm nữa thế này thì liệu có phải nhờ thày Tàu?

Tran Triet

—————

Cô Nông thị Xuân, vợ bác Hồ bị thủ tiêu ra sao ??

Ðêm Giữa Ban Ngày (ch. 34) –

tác giả Vũ Thư Hiên


Tôi sững sờ. Lại thêm một bí mật tôi được biết trong những bí mật cung đình được giữ rất kín.
– Như vậy, có thể coi như bà Xuân là bà hoàng hậu cuối cùng trong lịch sử Việt Nam ?
Ông cười chua chát :
– Có thể coi là như vậy. Và là bà hoàng hậu bất hạnh nhất trong lịch sử Việt Nam. Bất hạnh vì không một ngày được thừa nhận là hoàng hậu, vì đẻ ra đứa con không được gọi cha ruột của nó bằng cha… Tất cả diễn ra trong sự lén lút nhục nhã, như thể đó là tội lỗi.
– Ai đã giết bà Xuân ?
– Ðừng vội. Ta hãy ghi nhận sự việc này : vào một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm(14). Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Ðức, được nhận dạng. Ðó chính là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vã, theo lệnh của Trần Quốc Hoàn.
– Tại sao lại Trần Quốc Hoàn ?
– Bởi vì cô Xuân là người của cơ quan trực thuộc Trung ương, việc xảy ra phải báo cáo ngay cho Trần Quốc Hoàn biết.
– Rồi sau thì sao ?
– Chưa hết. Sau, em ruột của cô Xuân bị điều đi học một lớp y tá ở Thái Nguyên, rồi bị đưa về Cao Bằng điều trị bệnh… thần kinh. ớt lâu sau xác cô nổi lên ở một cây cầu trên sông Bằng Giang… Cô em gái họ cũng biến mất. Như vậy là cùng một thời gian, cùng một sự việc, có tới ba người thiệt mạng.
– Những đầu mối đều bị bịt ?
– Tất nhiên. Nhưng những lý do dẫn tới những cái chết đã bị lọt ra ngoài.
– Về những cái chết này không có ai điều tra hết ?
Ông Tạo cúi mặt xuống.
– Không.
– Tại sao, thưa bác ?
– Tại vì thủ phạm là một nhân vật quá to để có thể đụng tới.
– Trần Quốc Hoàn ?
– Phải. – ông thở dài – Tất cả những người biết việc này đều có lỗi với hương hồn cô Xuân và hai cô em, tất cả đã không dám làm gì để rửa mối hận cho họ. Tất cả đã cúi đầu trước guồng máy, trước uy tín của Ðảng có thể bị mất đi vì vụ bê bối này. Mọi người đều lầm khi nghĩ như vậy…
– Vì sao Trần Quốc Hoàn giết bà Xuân ?
– Ðó là một câu chuyện dài. Khi Bộ Nội Vụ, vì công tác bảo vệ, bố trí cho mấy chị em cô Xuân ở ngôi nhà của Bộ ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, thì chỉ có vài người biết họ là ai. Trong ngôi nhà này còn hai gia đình cấp vụ khác ở cùng. Thời gian trước khi cô Xuân bị giết ít lâu, Trần Quốc Hoàn thường tới đó. Việc Trần Quốc Hoàn tới thăm rồi cưỡng hiếp cô Xuân, cô em của cô Xuân biết, có nói lại cho người yêu của mình ở quê. Anh này về sau có làm đơn tố cáo gửi Trung ương.
– Và Trung ương im lặng ?
– Không phải anh ta gửi ngay lập tức. Ngay lập tức thì anh ta cũng bị giết ngay, mà mãi về sau này…
– Cụ Hồ không có ý kiến gì về mấy cái chết oan khuất đó ?
Ông Nguyễn Tạo đăm chiêu suy nghĩ.
– Có nhiều điều chúng ta không biết được. – ông nói, giọng bùi ngùi – Tôi nghĩ thân phận Bác lúc ấy cũng tội nghiệp lắm. Biết nói với ai ? Với Lê Duẩn chăng ? Hay Lê Ðức Thọ ? Hay nói thẳng với Trần Quốc Hoàn ? Tôi nghĩ Bác là con người, Bác cũng biết đau khổ. Nhưng cái thế của Bác buộc Bác phải im lặng…
– Nghĩa là, theo bác, ông Hồ không có lỗi ?
– Trong mấy cái chết nói trên ? Không.
– Nhưng sự im lặng trước cái chết của họ ? Ông Hồ cũng không có lỗi ? – tôi gặng – Bỏ ra ngoài mối quan hệ tình cảm, chỉ nói tới cái chết oan khuất của một con người, với tư cách đồng bào ?
– Thế hệ các anh khắc nghiệt trong sự phán xét. – ông thở dài – Tôi hiểu các anh. Các anh vô can. Chúng tôi thì không. Chúng tôi tự đặt mình trong sự ràng buộc với Ðảng, với những quyết định của nó, dù sai dù đúng. Chúng tôi lo lắng cho uy tín của Ðảng. Chúng tôi cảm thấy nhục nhã nếu Ðảng bị phỉ báng. Ðảng là cuộc sống tinh thần của chúng tôi, là danh dự của chúng tôi. Bác cũng vậy. Ông Cụ cũng đau đớn lắm chứ. Ông cũng là con người. Như mọi người. Các anh khác. Các anh chỉ nhìn thấy một lẽ công bằng, đòi phải có nó, đòi mọi sự phải sòng phẳng. Cái đó là phải thôi. Ðúng, chứ không sai. Nhưng có nên như vậy không nhỉ ? Hay là cần phải độ lượng hơn, thông cảm hơn với sự yếu đuối của con người ? Dù họ có là ai đi chăng nữa…

http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=uE5lKxEEpl1ZHH6WVhyEHA%3D%3D ch 34

——————————————————————————–

CÔ XUÂN BỊ GIẾT NHƯ THẾ NÀO ?

Bây giờ xin quay trở lới câu chuyện những cô gái ở Cao Bằng. Theo những điều người ta kể cho tôi trong những năm gần đây và được xác minh qua tài liệu đã xem thì có hai chi tiết hơi khác (các cô họ Nguyễn và cô Xuân chỉ có một con với ông Hồ), ngoài ra, các chi tiết khác về cơ bản đều giống nhau. Sự việc cụ thể như sau:

Cô Nguyễn Thị Xuân (tên gọi trong gia đình là Sang) và em họ, cô Nguyễn Thị Vàng, 22 tuổi, quê làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, cuối năm 1954, đã tình nguyện vào làm công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Được mấy tháng thì ủy viên Trung ương đảng, chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần Trần đặng Ninh, gặp cô Xuân nói chuyện vài lần, rồi đầu năm 1955 cho xe đón cô Xuân về Hà Nội, “nói là để phục vụ Bác Hồ”. Mấy tháng sau, cô Xuân cũng xin cho cô Vàng và cô Nguyệt (con gái của ông Hoàng Văn Đệ, cậu ruột của cô Xuân) về Hà Nội ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm. “Vì các vị lãnh đạo không cho chị Xuân ở cùng với Bác trên nhà Chủ tịch phủ, giao cho ông Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng Bộ công an, trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về 66 Hàng Bông Nhuộm, nhà của công an. Cuối năm 1956, chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung.

“Em có nhiệm vụ bế cháu”, đấy là lời Vàng kể lới cho người chồng chưa cưới của mình trước khi cô bị giết. Và cũng nhờ Vàng đã kể lại, nên chúng ta biết được những sự việc sau đây. Khoảng mồng 6, mồng 7 tháng 2 năm 1957, Trần Quốc Hoàn đến, nói chuyện vu vơ một lúc, rồi giở trò … kéo cô Xuân vào cái buồng xép, định hãm hiếp. Cô Xuân ú ớ la lên. Vàng hoảng sợ tru tréo, còn Nguyệt khiếp sợ quá co rúm lại ngồi ở trong góc. May lúc đó có tiếng cửa sổ nhà dưới xô sầm vào tường, Hoàn sợ, bỏ cô Xuân ra, rút súng lục ra dọa: “Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết”. Rồi xuống thang, ra ô tô chuồn. Mấy hôm sau, Hoàn lại đến, lên gác, đi thẳng vào phòng, ôm ghì cô Xuân hôn. Cô Xuân xô nó ra: “Không được hỗn, tôi là vợ ông Chủ tịch nước”. Nó nói: “Tôi biết bà to lắm, nhưng tính mạng bà nằm trong tay tôi” Rồi lấy súng dí vào ngực cô Xuân, nó rút ra sợi dây dù đã thắt sẵn thòng lọng tròng vào cổ cô Xuân kéo cô lên giường, tự tay lột hết quần áo, ngắm nghía, rồi hiếp cô. Cô Xuân xấu hổ lấy tay che mặt. Nó kéo tay cô và nói: “Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già, lại còn vờ làm gái”.

Từ đó cô Xuân trở thành thứ đồ chơi trong tay Hoàn. Nó bảo cô Xuân dặn cho hai em phải biết câm cái miệng, nếu bép xép thì mất mạng cả lũ. Mấy chị em lúc bấy giờ rất sợ bị giết, bàn nhau. Vàng đề nghị mấy chị em trốn đi thì cô Xuân nói: “Sau ngày sinh cháu Trung, chị thưa với Bác: bây giờ đã có con trai, xin Bác cho mẹ con ra công khai. Bác nói: cô xin như vậy là hợp tình hợp lý. Nhưng phải được Bộ chính trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê đức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được. Do đó cô đành phải chờ một thời gian nữa …

Mấy tuần trước, Bác lới hỏi chị: các cô ở đây có nhiều người lạ mặt tới thăm phải không? Chị thưa: ba chị em không có ai quen biết ở Hà Nội, còn bà con ở Cao Bằng thì không có ai biết chị em ở đâu. Bác nói không nhẽ ông bộ trưởng công an nói dối ? Chị suy nghĩ mãi mới thấy rõ, nó muốn vu cáo chị em ta liên hệ với gián điệp hoặc đặc vụ gì đó, để định kế thoát thân nếu việc của nó bị bại lộ. Bây giờ ta trốn cũng không làm sao thoát tay nó, mà nó còn vu cáo giết hại anh chị em chúng ta. Chị bị giết cũng đáng đời, chỉ rất hối hận đã xin hai em về đây để chịu chung số phận với chị.”

Đến ngày 11 tháng 2 năm 1957, vào bảy giờ tối, một chiếc xe com măng ca thường đón cô Xuân lên gặp ông Hồ đỗ trước nhà. Tên Ninh, biệt danh là Ninh Xồm, bảo vệ viên của ông Hồ, vào gặp cô Xuân nói “lên gặp Bác.” Cô Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra xe. Xe do Tạ Quang Chiến (tên này trong đội bảo vệ ông Hồ, về sau làm tổng cục phó Tổng cục Thể dục thể thao) lái đi. Sáng hôm sau, 12 tháng 2, một nhân viên công an Hà Nội đến báo tin cô Xuân bị chết vì tai nạn ô tô, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phú Doãn. Vàng vội vã đưa cháu Trung cho Nguyệt bế, lên xe công an vào bệnh viện, nhưng không được vào nhà xác. Chờ độ một tiếng sau thì có người bác sĩ ra đọc biên bản, đại ý: trên thân thể tử thi không có thương tích gì, cũng không phải bị đánh chém gì. Mổ tử thi, trong lục phủ ngũ tạng cũng không có thương tích gì, dạ dày không có thuốc độc, tử cung không có tinh trùng, chứng tỏ không bị hiếp dâm. Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nứt, nước nhờn chảy ra. Bác sĩ nói: đây có thể là nạn nhân bị trùm chăn lên đầu, rồi dùng búa đánh vào giữa đỉnh đầu. Vàng nghe xong chạy về kể lại cho Nguyệt. Hai chị em cùng khóc …

Ít lâu sau, một cán bộ công an đến bế cháu Trung đi, hai chị em không biết đem đi đâu. Sau đó, Vàng được đưa đi học lớp y tá của Khu tự trị Việt Bắc ở Thái Nguyên, còn Nguyệt thì Vàng không biết người ta đưa đi đâu, sống chết ra sao. Học được mấy tháng thì Vàng được chuyển về bệnh viện Cao Bằng và may mắn được gặp người chồng chưa cưới ở đây, kể hết mọi chuyện cho anh nghe. Cô nói với người yêu: “Em nghĩ anh chỉ bị thương nhẹ, anh còn sống được lâu, anh sẽ nói rõ cho toàn dân biết vụ bê bối này. Còn em thì chắc chắn sẽ bị chúng giết, vì em đã nói vụ này cho nhiều chị em bà con biết. Bọn hung thủ còn theo dõi em. Ở Cao Bằng, có hôm em còn thấy thằng Ninh Xồm tới gặp ông bác sĩ bệnh viện trưởng, được ít lâu họ tuyên bố em bị thần kinh, được chuyển về điều trị tới bệnh viện Hòa An.”

Đây là lời người yêu, chồng chưa cưới của cô Vàng: “Tôi chỉ được gặp Vàng có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957, cô Vàng về thăm ông cậu Hoàng Văn Đệ, hung thủ đi theo, giết chết, rồi quẳng xác xuống sông Bằng Giang, đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở Hoàng Bồ. Được tin, tôi chạy về cầu Hoàng Bồ, thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận bàn tán, cô bị đánh vỡ sọ, tiền, đồng hồ vẫn còn nguyên và người nhà đã nhận về chôn cất. Vụ này nhiều người bị giết: cô Xuân vợ Cụ Hồ Chí Minh, cô Vàng vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở trường y tá Thái Nguyên, nghe chuyện Vàng đi nói chuyện lại cũng bị giết lây. Mấy chục năm nay, tôi tím gan thắt ruột nghĩ cách trả thù cho em tôi, nhưng sức yếu thế cô, đành ngậm hờn chờ chết …”

Tiện đây, xin phép kể qua một chuyện ngoài lề có ý nghĩa. Hồi Vũ Thư Hiên còn ở Moskva, “người ta” dò biết là anh đang viết hồi ký, và hình như cũng đoán biết là anh có trong tay “những mẩu chuyện” nào đó. Thế là một hôm, “bọn trấn lột” người Việt đến nhà, chờ Hiên vào thang máy thì chúng ùa theo, đâm anh vào mông, giật chùm chìa khóa, rồi xông vào nhà. Chúng không đụng đến tiền bạc gì hết, mà chỉ tìm kiếm tài liệu và lấy các đĩa mềm máy tính, trong đó có phần hồi ký anh đang viết dở dang. Khi chúng đi rồi, Hiên gọi điện ngay cho tôi. Mấy hôm sau, anh lại báo tin rằng một tên gọi điện cho anh, bảo nếu muốn lấy lại đĩa mềm thì hãy “đến đấy, đến đấy” ở Moskva, mà theo lời anh, chỗ ấy là … ngôi nhà chung cư của cán bộ nhân viên sứ quán Việt Nam tại Nga. Hiên nói để trấn an tôi: “Cũng may là tôi đã dự phòng trường hợp này rồi. Anh yên tâm”. Sau đó không lâu, Hiên đến nhà đưa cho tôi đọc 74 trang hồi ky của anh. Và một thời gian sau nữa, anh lặng lẽ rời khỏi nước Nga, tìm nơi khác an toàn hơn để “đậu” … Tôi kể chuyện này để thấy tính nhạy cảm cao độ của những-người-nào-đó đối với “những mẩu chuyện” không chảy theo luồng lạch của “lãnh đạo” và “người ta” sẵn sàng lao vào những hành động tội ác, điên cuồng, cực kỳ phiêu lưu, chỉ cốt để … bưng bít sự thật.

——

Ban Tuyên Giáo của đảng CSVN chỉ thị Bộ Giáo Dục dạy cho các thế hệ trẻ miền Bắc những điều tàn ác

.

còn "dựng lại người " bở hơi tai nhỉ anh Doan Khac Xuyen

—–

Đèn Cù, Chương 5, trang 82 và 83 nội dung như sau:

Để có phát pháo mở đầu cuộc cải cách ruộng đất, Trường  Chinh chỉ thị báo Nhân Dân tường  thuật vụ đấu Nguyễn Thị Năm  –  Cát Hanh Long.  Tôi nhận nhiệm vụ.  Trường Chinh nói phân công tôi vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu, cáo trạng của đội.  

Tôi nói tôi không dự đấu tố thì anh bảo tôi khai thác Văn, người cấp dưỡng theo anh tới tận Đồng Bẩm và đã chứng kiến các buổi đấu tố.  Sở dĩ báo chí không dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm cách Hà Nội có vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt. 

Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, CB  (Bác Hồ)  gửi đến bài  “Địa chủ ác ghê.” Thánh hiền dạy rằng:  “Vi phú bất nhân.” Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác:  như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa  –  thế thôi.  Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát – Hanh – Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã kể các tội cụ thể và con số cụ thể. 

(Trong hồi ký nói về mười nỗi buồn của Bác Hồ, viết Bác không  tán  thành  đấu  Nguyễn  Thị  Năm  nhưng  phải  nghe  cố vấn Trung Quốc, Hoàng Tùng vô tình hay cố tình quên bài báo Bác  gây  căm  thù  cao  độ  này.  Đâm  ra  lại  đổ  cho  Bác  cái  lỗi không kiên định – nghe cả điều sai vốn trái với ý mình.) 

Dăm bữa sau bài  “phóng sự nghe kể lại,”  tôi xuống Đồng Bẩm.  Tình cờ Tiêu Lang, báo Cứu Quốc, trong đội cải cách về đây  còn  ở  lại  lo  hậu  sự.  Tôi  hỏi  chuyện  bắn,  anh  lè  lưỡi  lắc đầu mãi rồi mới kể lại. 

“Sợ  lắm,  tội  lắm,  đừng  có  nói  với  ai,  chết  tớ.  Khi  du  kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van”  các anh  làm  gì  thì  bảo  em  trước  để  em  còn  tụng  kinh.”  

Du  kich quát:  “đưa  đi  chỗ giam  khác  thôi,  im!.”  Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng.  

Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa  chủ.  Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà.  

Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất.  Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt.  Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên  vừa  giẫm  vừa hô:  “Chết  còn  ngoan  cố  này,  ngoan  cố  nổi với các ông nông dân không này?”  Nghe xương kêu răng rắc mà  tớ  không  dám  chạy,  sợ  bị  quy  là  thương  địa  chủ.  Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”  

Hình ảnh cuộc triển lãm CCRĐ ở Hà Nội 9-2014  ghi rằng: Bữa cơm của bần cố nông sau khi CCRĐ. Nhưng quan sát tấm hình ngụy tạo “thời thập niên 1950s” chén, đĩa đũa làm bằng nhựa, nồi cơm không có dính nhọ nồi vì nấu bằng trấu,…

——

4 phản hồi to “►Trong cuốn Đèn Cù, Trần Đĩnh tiết lộ: Hồ Chí Minh đã tới quan sát cuộc đấu tố đầu tiên ở Đồng Bẩm, hóa trang che bộ râu để không ai nhận ra”

  1. […] […]

  2. CUONGBAN said

    ĐÈN CÙ VÀ CU ĐEN
    “ĐÈN CÙ” LÀ BỘ “SỬ SỐNG”DUY NHẤT LÀM CỐT LÕI CHO HÌNH TƯỢNG
    TRẦN TRUỒNG CỦA “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM -GIẶC CỜ ĐỎ”

    ĐÈN CÙ gây ấn tượng đầu tiên nơi ông Nguyễn X. Nghĩa là chữ “DÂM “của Đảng ta.
    Bất chợt nhớ tới ông Lê Xuyên với đại tác phẩm “Người chờ góa” ,chắc ít người được đọc nên thấy vắng bóng trên thị trường chữ nghĩa.

    Với cái thực đơn lạ của Đảng ta là chữ “DÂM” ,không thể không nghĩ ngay tới một định nghĩa mới cho ĐÈN CÙ TRONG CHẾ ĐỘ Công SảnVN

    “ĐÈN CÙ LÀ CU ĐEN”!
    Một ý niệm mới thêm vào danh sách vô tận nghịch lý :
    TỰ DO LÀ NÔ LỆ
    XÂM LĂNG LÀ BẰNG HỮU(4tốt 16vàng)
    Cuộc cách mạng của Đảng ta đã nâng cấp:
    CU ĐEN thành LÃNH ĐẠO.
    Từ đó:
    BÁN NƯỚC LÀ ĐƯỢC QUYỀN CAO.
    Và DÂN NGU KHU ĐEN là BỌN HÈN PHẢN ĐỘNG!

    “CU ĐEN” chính là “NGUYÊN HÌNH TRẦN TRUỒNG” của “BÊN THẮNG CUỘC”
    Nghĩa là của bọn “GIĂC CỜ ĐỎ ĐẢNG CSVN”.

    Phần cốt lõi của bức tranh “ CON ĐƯỜNG GIẶC CỜ ĐỎ” KHÔNG TÌM THẤY trong sách “Bên thắng cuộc”
    Chỉ có phần ngọai hình ,trong trang phục dạ hội, bao gồm những trang trí lòe lọet của những “.phỏng vấn với những trả lời hoa mỹ !”

    Sách “bên thắng cuộc” là “MỘT CỐ TÌNH” giấu “CỐT LÕI” của “bên thắng cuộc”!

    ***Có kẻ nào khi phỏng vấn đã nói Đảng ta: ĐÁNH THUÊ và BÁN NƯỚC?

    Nhưng ĐÈN CÙ MỚI CHÍNH LÀ XƯƠNG SỐNG,TIM ÓC của “BỨC TRANH BÊN THẮNG CUỘC”!

    **Yếu bóng vía thì chỉ nên đọc :”Đèn Cù giải thiêng cách mạng cộng sản Việt nam”
    (Kính Hòa, phóng viên RFA)

    **Liều mạng đọc ĐÈN CÙ có thể bị ảnh hưởng tai hại trên hệ thần kinh nếu chả may có lúc nhập vai một trong vô vàn nạn nhân thật trong vở kịch bi thảm nhất của dân tộc VIỆT!

    **Cám ơn ông TRẦN ĐĨNH đã hòan thành cuốn sách bằng cả một đời thu thập dữ liệu, trả giá bằng cúi đầu,uất ức,hy vọng, tù đày khinh bỉ,thất vọng ê chề.
    Hận cho người , đau phận mình.

    Tất cả đã thành một tài liệu sống duy nhất để làm CỐT LÕI cho BỘ SỬ chân thực về nguyên hình của ĐẢNG GIẶC CỜ ĐỎ CSVN.

    Sách BÊN THẮNG CUỘC là cái vỏ lòe lọet vô hồn với những trang trí “lời lời châu ngọc,hàng hàng gấm thêu” không có giá trị gì khi chỉ được dùng làm khói sương che lấp cái tiền đề cốt tủy NGUYÊN HÌNH BÊN THẮNG CUỘC .

    Bản chất nguyên mẫu là Đảng CSVN ĐÁNH THUÊ, BUÔN DÂN BÁN NƯỚC đã ĐƯỢC CỐ TÌNH CHE DẤU!

    Khi ĐÈN CÙ chưa xuất đầu lộ diện, “BÊN THẮNG CUỘC” với cái ánh sáng “LẬP LOÈ LỬA LỰU”,có “ĐẢNG TA” và “THẦY TÂY” đỡ đầu , có giá trị một công trình tập hợp tài liệu công phu .

    Nhưng tên sách đã đặt nó vào một vị trí khác : SỬ !
    Từ đó CÁCH ĐỌC PHẢI KHÁC ĐI !

    “Bức xúc” về cái vụ nhập nhằng BẢN CHẤT SÁCH ,nên đã có vài lời về BẢN CHẤT BÊN THẮNG CUỘC ,KHÔNG AI KHÁC HƠN LÀ ĐẢNG CSVN HAY LÀ ĐẢNG GIẶC CỜ ĐỎ
    (Theo rõi Cuộc phiêu lưu của MỘT NHÂN VẬT mà thôi ! ĐÓ LÀ ANH LÍNH QĐND)
    ( Đọc sách : ” BÊN THẮNG CUÔC ” của Tác giả HUY ĐỨC . )

    ‘’HỌA MẤT NƯỚC “CÓ THỂ SẼ “ LÀ CHƯƠNG CUỐI CÙNG CỦA SÁCH “BÊN THẮNG CUỘC”!

    Một bộ sách vĩ đại , có tên là BÊN THẮNG CUỘC của tác giả HUY ĐÚC đã tạo được tiếng vang lớn và đươc “SỬ GIA” DUƠNG T.QUỐC ca ngợi như là một BỘ SỬ khách quan nhất mực về thời hâu chiến sau 1975.

    Nếu đựoc định danh là một tập tài liệu liên quan tới BÊN THẮNG CUỘC thì có thể nói đây là một công trình nghiêm túc và rất công phu ,dẫu có vài điểm sơ sót ( như chuyện liên quan tói BÙI TÍN hay LÊ XUAN LIỄN ) cũng không khó để chỉnh lý.

    KIỂM ĐIỂM :- NÓI CHUNG LÀ TỐT, LẺ TẺ CÁ BIỆT CÒN CHƯA TÔT .

    NHƯNG nếu xét tác phẩm với tựa sách ngắn gọn ,rõ ràng là ” BÊN THẮNG CUỘC ” thì cần phải thận trọng hơn nhiều

    Dẫu không khẳng định đó là một bộ SỬ thực sự thì ít nhất cũng phải nhìn nhận đó là một bộ ” QUASI-HISTORY BOOK” ( như chữ quasar trong thiên văn học) nghĩa là gần như SỬ .

    Tác phẩm chỉ mới phác họa đươc hình dáng bên ngoài nhưng thiếu phần cốt lõi ,đó là “XƯƠNG SỐNG VÀ TIM ÓC ” CỦA CHỦ THỂ “BÊN THẮNG CUỘC ” .

    Tác giả đã trình diện đầy đủ “TA, ĐỊCH, BẠN.THÙ” của BÊN THẮNG CUỘC ”

    NỔI TRỘI vẫn là những nhân chứng trưc tiếp tổ chức điều hành cuôc trường chinh tới ĐIỂM MỐC THỜI GIAN 1975 rồi tiêp tục tổ chức điều hành cuôc TIẾP QUẢN CAI TRỊ CẢ ĐẤT NƯỚC .

    NGHĨA LÀ CUÔN SÁCH LIÊT KÊ NHỮNG HÒN ĐÁ CẢN ĐƯỜNG, NHỮNG VŨNG BÙN PHẢI LỘI CỦA ”ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM” TỪ ĐẦU CHO TỚI HÔM NAY

    KIỂM ĐIỂM : SÁT NHƯNG CHƯA SÂU .

    BÊN THẮNG CUỘC” , đào sâu vào nội dung, cũng chỉ là MỘT CHƯƠNG NỐI TIẾP những cuốn sử cộng sản .

    ĐIỂM CHUNG CĂN CỐT ĐÓ LÀ GÌ ?

    ĐÓ LÀ DÙNG HẰNG TRIỆU CHUYỆN TIỂU TIẾT VẶT VÃNH “LÀM HỎA MÙ KHỎA LẤP ĐIỂM CỐT LÕI” !.

    ĐÓ LÀ GÌ ?

    Đó chính là ” NGUYÊN HÌNH CỦA ‘BÊN THẮNG CUỘC’ ”

    Xin tóm lược :

    – Cho tới mùa xuân 75 :
    TỔNG BÌ THƯ LÊ DUẨN nói ” TA ĐÁNH MỸ LÀ ĐÁNH CHO NGA CHO TẦU ”

    – Từ mùa xuân 75 :
    a- VỨT BỎ CHIÊU BÀI “DÂN TỘC”
    b- TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỎ 6 (SÁU) SAO (CỜ “LẠ” , của TRUNG CỘNG hay của VIỆT CỘNG ? )VỚI “4 CHỮ TỐT, 16 CHỮ VÀNG” .

    ***NGẮN GỌN :
    BẢN CHÂT “BÊN THẮNG CUỘC” chỉ gồm BỐN CHỮ

    ĐÓ LÀ “ĐÁNH THUÊ = BÁN NƯỚC ” !

    Xin góp vài chứng cứ và sự việc bổ túc:

    1 -HÀNH TRÌNH CỦA MỘT NHÂN VẬT ĐIỂN HÌNH: ANH LÍNH.

    ***LÍNH QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN_ANH LÀ AI ?

    Câu trả lời:

    Dân đang gọi anh là kẻ ”HÈN VỚI GIẶC ,ÁC VỚI DÂN”

    Đã 2 lần anh hiện nguyên hình:

    1_LÍNH ĐÁNH THUÊ

    2_LÍNH HÁN NÔ

    Hỡi ôi!Sao lại phũ phàng đến vậy

    Vậy thì phải nói cho rõ ngọn nghành.

    Từ đầu, bao nhiêu thế hệ dân Việt đi theo Đảng,chỉ bởi lý tưởng ”DÂN TỘC” chả cần biết CỘNG SẢN là cái quái gì [kể cả các lãnh tụ Đảng, đã có kẻ nào đủ sức đọc và hiểu nổi sách ”Tư bản luận” của Mác hay chưa, cùng lắm chỉ ngồi viết ”SỬ ĐẢNG” như NGUYÊN PH. TRỌNG là qúa sức rồi! ]

    Riêng các anh lính đã vào cuộc trường chinh với khẫu hiệu:”TRUNG VỚI NƯỚC” .Tới mùa xuân75 các anh đã giúp Đảng nắm quyền trên tòan đất nước, thì sự việc mới được phanh phui

    Tổng bí thư Lê Duẩn nói: ”TA ĐÁNH MỸ LÀ ĐÁNH CHO NGA CHO TÀU”

    Chiêu bài ”DÂN TỘC” hay ”NƯỚC’ ‘hoặc ”TỔ QUỐC”,đã bị vất xuống bùn,để lộ nguyên hình anh lính Q.Đ NHÂN DÂN chỉ là LÍNH ĐÁNH THUÊ cho Nga Tàu
    [ là đơn vị đặt hàng thuê đảng CSVN làm ] không hơn không kém!

    Đã nắm được quyền, vất bỏ chiêu bài ”DÂN TỘC”, Đảng thủ tiêu luôn bọn MẶT TRÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM là cái ”MẶT NẠ DÂN TỘC” đã đựơc vất xuống bùn chỉ vìsợ bọn khờ khạo này tranh ăn

    Nhưng các anh LÍNH không bị giải thể , chỉ sắp xếp lại cho đúng vị trí trong vận hội mới của ĐẢNG TA

    ĐẢNG long trọng ban chiếu chỉ bằng văn bản tối thượng gọi là ”HIẾN PHÁP”quy định nhiệm vụ mới của các anh nay sẽ là ”TRUNG VỚI ĐẢNG”

    Điều đó xác định các anh chỉ là ”LÍNH RIÊNG CỦA ĐẢNG” không hơn không kém

    Câu hỏi:
    ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ AI ?

    Công hàm PVĐ ,bản đồ nước ta năm72,sách địa lý dậy học trò ta mà HÁN TĂC đã trao cho LHQ đã cho ta thấy:

    -**Công hàm PVĐ đóng dấu ký tên thừa nhân đường lưỡi bò đã delete hải đảo của ta khỏi tổ quốc

    **Bản đồ năm72 cuả CỘNG SẢN VN phát hành đã bôi sạch hải đảo ta

    **Sách giáo khoa Đia lý đã bôi hết hải đảo ta trong đầu CON TRẺ VIỆT

    **Có cần gì thêm để kết luân rằng ĐẢNG CÔNG SẢN VN là BỌN DUY NHẤT trong lịch sử nước Việt đã chính thức bằng giấy trắng mực đen BÁN NƯỚC CHO TÀU ?

    *****Đảng CSVN đích thực là ĐẢNG HÁN NÔ BÁN NUỚC

    Các anh là LÍNH CỦA RIÊNG ĐẢNG HÁN NÔ

    Vậy danh hiệu LÍNH ĐÁNH THUÊ cho CS Nga Tàu trước đây phải được đổi lại thành LÍNH HÁN NÔ phục vụ cho CHỦ là HÁN TẶC XÂM LƯỢC

    ANH ĐÃ NHẬN RA ĐIỀU NÀY CHƯA ?

    Anh đã bị bắt buộc làm công viêc không phải của người lính chân chính đó là đi đàn áp dân oan để cướp đất,điển hình là việc tấn công chính đồng đội của anh là lính phục viên Đ.V. VƯƠN để cướp đọat hết mồ hôi,nước mắt đổ ra khai khẩn đất hoang, nay trở thành miếng mồi béo bổ cho bọn cường quyền CS lấy làm của riêng

    Anh đã bị che dấu việc đòng đội anh đã ngã gục dưới lửa đạn của bọn xâm lược Tau Công tại biên giới phía Bắc năm 79 và gần đây trong đảo GACMA .Bao nhiêu đồng đội anh đã hy sinh xương máu cho tổ quốc VN .Nhưng đảng đã dùng tấm màn bí mật để vùi kín sự việc
    Không 1bản tin, không mộ bia,không 1dòng trong trang sách SỬ KÝ.mà con em các anh phải học.
    Chuyện này chỉ lộ ra mới đây khi 1bộ phận nhân dân đòi lại sự công băng cho những người lính chết vì TỔ QUỐC ,tổ chức lễ truy điệu tại HN.

    Đảng đã trả lời bằng việc sắp xếp 1 bọn tay sai đực cái ,dùng ”TIẾNG HÁT ÁT TIÊNG KHÓC” ,chúng nhảy múa, hò reo theo điêu nhạc bài CHA CHA CHA CHINA ca ngợi đất nước Tàu phồn vinh xinh đẹp!

    Du côn an ninh trấn áp thân nhân của đồng đội đã chết của các anh đang làm lễ truy điệu

    Các anh có hiểu tại sao lại như thế không?

    Câu trả lời là;
    ***** ĐẢNG là “ĐẢNG HÁN NÔ BÁN NƯỚC” nên :

    * ĐẢNG chỉ cho phép các anh trấn áp đồng bào khi họ xuống đường biểu tình chống Tàu Công xâm lược

    *Đảng không cho phép các anh đụng tới 1 cọng lông chân TÀU XÂM LƯỢC,kể cả việc phạm húy nếu dám nhắc tới mấy chữ linh thiêng ấy!

    -Đảng ĐÃ DÂNG NẠP từng phần đất tổ VN :Thác Bản Giốc ,Aỉ Nam Quan, và biển đảo cho HÁN TẶC:

    -Nhưng chưa dừng tại đó .

    -Tổng bí thư N.P.Trọng đã giương cao ngọn cờ đỏ của HAN TẶC khác với cờ chính thức chỉ có 5sao.TRỌNG đã thêm 1sao thành 6

    Đó chính là nước VN cống nạp cho Tàu,xếp hàng cùng 5 ngôi sao cũ

    ***Hãy hỏi lại mình: ”TA LÀ HÁN NÔ hay CON DÂN đất Việt”?

    HÔM NAY HÁN TẶC TẦU CỘNG ĐÃ CHIẾM CỨ HẾT BIỂN ĐẢO TA , LẬP NHỮNG ĐẶC KHU NHƯ VŨNG ÁNG TRÊN THỰC ĐỊA TA.

    ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC ĐÃ GẦN KỀ !

    NẾU CÁC ANH ,NGUỜI LÍNH QĐND CỦA ” CỦA BÊN THẮNG CUỘC ” LẠI LẠC MỘT KHOẢNG ĐƯỜNG “ THÌ HỌA MẤT NƯỚC SẼ LÀ “TRẬN ĐẠI THẮNG CUỐI CÙNG “CỦA “BÊN THẮNG CUỘC”!!!

    **BIỂN ĐẢO đã bị HÁN TẶC CHIẾM ĐÓNG , bọn HÁN NÔ câu giờ KHÔNG KHIẾU NẠI chờ vài năm nữa qua hạn 50 năm là CHỦ NÔ TẦU CỘNG SẢN SẼ ĐƯỢC CẤP SỔ ĐỎ CHỦ QUYỀN .

    C Ờ ĐỎ 6 SAO ĐÃ LỘ DIỆN , PHẤT PHƠ GIỮA LÒNG THỦ ĐÔ HÀ NỘI
    TẦU CỘNG SẢN VUI VẺ TIẾP NHẬN LÁ CỜ 6 SAO ,KHÔNG HỀ THẤY CÓ GÌ KỲ LẠ TRONG CÁC NGHI THỨC NGOAI GIAO,

    **CỜ ĐỎ 6 SAO CHÍNH LÀ MỘT KHẾ ƯỚC BẤT THÀNH VĂN GIAO NỘP NƯỚC VIỆT CHO TẦU
    ,HÁN TẶC SẼ NỘP CHO LIÊN HỢP QUỐC ĐỂ NHẬP CẢ NƯỚC VIỆT VÀO LÀM MỘT TỈNH CỦA TẦU

    ***NHIÊM VỤ HÁN NÔ ĐÃ HOÀN TẤT MỸ MÃN , “ĐẠI CÔNG CÁO THÀNH” :

    GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỎ 6 SAO VÀNG, MANG TOÀN BỘ DẤU ẤN CỦA CHỦ NÔ HÁN TẶC, CÓ TỔ TIÊN LÀ BỌN “GIẶC CỜ ĐEN” ĐÃ TỪNG QUA CƯỚP PHÁ NƯỚC TA :
    Đảng HÁN NÔ CSVNCÓ ĐẦY ĐỦ TƯCHẤT ĐỂ CẢI DANH LÀ đảng” GIẶC CỜ ĐỎ” .

    *** CÁC ANH ,NGUỜI LÍNH QĐND CỦA ” CỦA BÊN THẮNG CUỘC

    Hãy hỏi lại mình:

    ********”TA LÀ HÁN NÔ hay CON DÂN đất Việt”? ******

    Kiểm điểm trong hàng ngũ các anh,chỉ lẻ tẻ cá biệt vài kẻ là con giòng cháu giống hay thiên tài nịnh hót mới có cơ hội vào Đảng, thành HAN NÔ quyền lực

    Đại bộ phân các anh chả có gì xuất sắc, chỉ có giòng máu kiêu hùng của giòng giống LAC HÒNG tuôn chảy trong huyết quản.Các anh không thể biến thành HÁN NÔ.

    TRẦN BÌNH TRỌNG nói ”THÀ LÀM QUỶ NƯỚC NAM CÒN HƠN LÀM VƯƠNG ĐẤT BẮC”

    *Ngừơi lính quân đôi nhân dân chính là , và chỉ có thể là ”CON EM” của nhân dân VIỆT.

    Với anh hùng Lý Thường Kiệt.,Hưng Đạo Vương , Quang Trung Nguyễn Huệ hiển linh dẫn bước, các anh sẽ đạp bằng mọi chông gai để bảo tồn non sông đất nước trước kẻ thù truyền kiếp là HÁN TẶC

    Số phận dân tộc Lạc hồng ở trong tay các anh,để không chìm sâu mấy tâng địa ngục vong nô .

    BƯỚC CUỐI CÙNG CỦA “BÊN THẮNG CUỘC” LÀ “ HÁN NÔ” HAY “ ĐẠI VIỆT”?

  3. hong hanh said

    Bao gioVN moi duoc song thuc su? Khong bi lua doi?

  4. Người thua cuộc hoặc yêu bên thua, hoặc ghét bên thắng, có thể viết mọi chuyện mà. Cứ vô tư đi. Ai đang ở chỗ người thắng cuộc thường ko cay cú. Cám ơn vì làm phiền.

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: