Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám 7th, 2014

►Thư cảm ơn của chị Lê Thị Minh Hà, vợ anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh

Posted by hoangtran204 trên 07/08/2014

THƯ CẢM ƠN HOA KỲ, NHÂN DÂN HOA KỲ VÀ ĐẠI SỨ QUÁN HOA KỲ TẠI VIỆT NAM
6-8-2014
.

Chị Lê Thị Minh Hà và bà Jenifer Neidhart de Ortiz Tham tán chính trị đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam.

Tôi là Lê Thị Minh Hà, địa chỉ 5/2 – ngõ 4D, Đặng Văn Ngữ, Đống Đa, Hà Nội, là vợ ông Nguyễn Hữu Vinh (mọi người thường gọi là Ba Sàm) bị cơ quan an ninh điều tra khởi tố bắt giam về hành vi “Đăng tải các bài viết có nội dung không đúng sự thật trên mạng Internet, xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, quy định tại điều 258 bộ luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Hiện đang bị tạm giam tại trại giam B14 Bộ Công An, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Vụ việc này đã được báo chí đăng công khai. Cá nhân tôi và gia đình đã có đơn kêu oan lên các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam nhưng chưa được trả lời. Ngày 10/07/2014, tôi vô cùng xúc động được bà Jenifer Neidhart de Ortiz tham tán chính trị gặp và chia sẻ với tôi và gia đình.

Tục ngữ Việt Nam có câu “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, “ Rằng qua cơn hoạn nạn mới hiểu lòng nhau”. Đại gia đình tôi trân trọng cảm ơn sự quan tâm của nhà nước Mỹ, nhân dân Mỹ và Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam.

Xin trân trọng cảm ơn
Hà Nội, ngày 06/08/2014

 

 

 

THƯ CẢM ƠN PHÁI ĐOÀN LIÊN MINH CHÂU ÂU TẠI VIỆT NAM..

Tại trụ sở của phái đoàn Liên Minh Châu Âu ngày 5/8/2014

Tôi là Lê Thị Minh Hà, địa chỉ 5/2 –

ngõ 4D, Đặng Văn Ngữ, Đống Đa, Hà Nội, là vợ ông Nguyễn Hữu Vinh (mọi người hay gọi là Ba Sàm) bị cơ quan an ninh điều tra khởi tố bắt giam về hành vi “Đăng tải các bài viết có nội dung không đúng sự thật trên mạng Internet, xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, quy định tại điều 258 bộ luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Hiện đang bị tạm giam tại trại giam B14 Bộ Công An, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Vụ việc này đã được báo chí đăng công khai. Cá nhân tôi và gia đình đã có đơn kêu oan lên các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam nhưng chưa được trả lời. Ngày 05/08/2014, tôi vô cùng xúc động được bà Delphine Malard, trưởng ban Chính trị, báo chí & thông tin cùng nhiều Đại sứ, Phó Đại sứ, Tham tán chính trị báo chí và tuyên truyền nhiều nước trong khối Liên Minh Châu Âu gặp chia sẻ với tôi và gia đình.

Tục ngữ Việt Nam có câu “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, “ Rằng qua cơn hoạn nạn mới hiểu lòng nhau “. Đại gia đình tôi trân trọng cảm ơn sự quan tâm của phái đoàn Liên Minh Châu Âu tại Việt Nam.

Xin trân trọng cảm ơn
Hà Nội, ngày 06/08/2014

 

Bài liên quan:

►Luật sư nói với đài BBC: ‘Chưa có cơ sở’ nói Ba Sàm sắp được thả- 22-7-2014)

►”Xin đừng quên blogger anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh”  (21-7-2014)

►Đơn khiếu nại của vợ Nguyễn Hữu Vinh ( Ba Sàm) (10-7-2014)

►Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đã bị Bộ Công An bắt giữ ở Hà Nội vào ngày 

►Vụ bắt Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh: Phía trước là một cơn bão lớn (11-5-2014)

 

Ý kiến của Trần Hoàng và ►Ý kiến của các blogger khác Về việc bắt giữ anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh

►Nguyễn Hữu Vinh ĐÃ bị bắt, nhưng blog Ba Sàm thì không- basam.info đã mở lại phần comment

 

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

►Tuyệt vọng vì đảng CSVN chỉ thích làm đầy tớ cho TQ, Hoa Kỳ đã vẽ một lằn ranh quanh Nhật, Hàn, đóng chốt ở Singapore và Mỹ chấp nhận nhìn Việt Nam bị “Phần Lan hoá” bởi Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 07/08/2014

1987, biết Liên Xô và Đông Âu sắp sụp đổ, Mỹ viện trợ thực phẩm và y tế cho Việt nam, và cử hàng chục giáo sư luật khoa của Viện Đại Học Harvard qua VN soạn thảo bản hiến pháp (dự tính VN sẽ theo con đường dân chủ); lúc này TT George Bush (thuộc đảng Cộng Hòa) đang nắm quyền.Nhưng tham lam và ngu dốt thay, Nguyễn Văn Linh, Đổ Mười, Lê Đức Anh, Phạm Văn Đồng…và đảng CSVN đã chọn con đường thần phục Trung Cộng. Bọn này đã ký Hiệp Ước Thành Đô 3 và 4-9-1990 chấp nhận đi theo Trung Cộng tới cùng với 16 chữ vàng và 4 tốt. 

Chưa mất niềm hy vọng, TT Clinton (đảng Dân Chủ) vừa nhận chức TT 1993, đã lập tức bình thường hóa quan hệ ngoaị giao với VN năm 1995 , và bảo trợ cho VN vào WTO, nhưng Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Tấn Dũng đã nhường bước cho Trung Cộng vô WTO trước, và bị TQ lữa gạt , kéo dài thời gian cho mãi tới 2006 thì VN mới vào WTO. 

Muốn bắt cá hai tay, vừa chơi với Trung Cộng cùng lúc với Mỹ, Lê Đức Anh, Phan Văn Khải, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn  Tấn Dũng, qua viếng thăm Mỹ các năm tiếp theo sau. Cái đuôi đỏ lộ ra khi ban Tuyên Giáo và công an dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Tấn Dũng đã bắt bớ 400 người VN tranh đấu trong lãnh vực nhân quyền, tôn giáo, và đặc biệt là bỏ tù tất cả những blogger VN nào biểu tình phản đối và có tư tưởng chống Trung Cộng (giai đoạn 2006-2014). 

Phùng Quang Thanh và đặc biệt Nguyễn Chí Vịnh đã ngã hẳn về Trung Cộng năm 2010 sau các chuyến viếng thăm Trung Quốc trước đó. 

Cùng thời gian 2008-2013, sau nhiều năm cử nhiều chiến hạm Mỹ ghé thăm VN để biểu lộ sự thân thiện, cuối cùng Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Pannetta  đã viếng thăm vịnh Cam Ranh 2012 để đánh giá lần cuối về ưu thế quân sự của Vịnh Cam Ranh so với căn cứ hải quân Mỹ đặttại eo biển Malacca. Singapore đã quá khôn ngoan mời Mỹ đặt căn cứ quân sự gần Malacca 11-2011. 

Vào lúc này cũng là lúc đảng CSVN đã ngã hẳn về Trung Cộng nên không muốn cho Mỹ thuê Vịnh Cam Ranh. 

Trung Cộng biết cá nằm trong rọ nên đem giàn khoan HD-981 vào khoan dầu 2-5-2014. 

Đảng CSVN và Nhà nước không bao giờ dám kiện Trung Cộng ra Liên Hiệp Quốc hay tòa án quốc tế vì Trung Cộng có đầy đủ hồ sơ ký kết giữa HCM và Mao Trạch Đông 1950-1966, công hàm Phạm Văn Đồng, và thỏa thuận Thành Đô mà nhóm Nguyễn Văn Linh, Đổ Mười, Lê Đức Anh, Phạm Văn Đồng,…đã ký kết. Gần đây nhất là thỏa thuận Hiệp Định trên bộ ký ngày 31-12-1999 và năm 2000, cùng với  thỏa hiệp ký năm 2011

Hiểm họa Trung Cộng và bài học “Phần Lan hóa” (Finlandization)

Ảnh minh hoạ. Nguồn: kampucheakrompost.blogspot.com

.

Tác giả: 

6-8-2014

 

Trong bài viết Việt Nam đối diện với việc “Phần Lan hóa” từ Trung Quốc (Vietnam Faces ‘Finlandization’ from China) cuối tháng Năm vừa qua trên báo Asiasentinel, David Brown, một cựu nhân viên ngoại giao Mỹ, viết: “Như vậy, trong khi Washington dường như đã sẵn sàng vẽ một lằn ranh quanh Nhật Bản, Hàn Quốc và cũng có thể Singapore và eo biển Malacca, Hải quân Hoa Kỳ đang từ bỏ việc đương đầu tại một khoảng xa cách từ bờ biển Việt Nam.” Tác giả viết tiếp “Điều đó có thể được hiểu rằng, Mỹ đang dự định chấp nhận nhìn Việt Nam bị “Phần Lan hoá”.

Tháng 9 năm 2010, trong một bài viết trên tờ Wall Street, Andrew Krepinevich, Chủ tịch Trung tâm Định ước Ngân sách và Chiến lược (the Center for Strategic and Budgetary Assessments) cũng cảnh báo Trung Cộng đang tiến hành “Phần Lan hóa” Thái Bình Dương: “Liên Xô chưa bao giờ thành công “Phần Lan hóa” Châu Âu. Nhưng sự đe dọa vừa trở lại từ phía Trung Cộng, quốc gia này đang cố gắng “Phần Lan hóa” Tây Thái Bình Dương. Cách phát triển quân sự của một quốc gia mở ra cánh cửa cho thấy ý định của nó, và Trung Cộng rõ ràng đang tìm kiếm để gây hiệu quả tuần tự nhưng quyết định vào cán cân quân sự Mỹ-Trung. Mục đích của Trung Cộng là ngăn chận Mỹ trong việc bảo vệ các quyền lợi lâu dài trong khu vực – và để lôi kéo các đồng minh dân chủ của Mỹ vào quỹ đạo của nó.”

Trong chính luận Tranh chấp Mỹ-Trung, một cảnh giác cho lòng yêu nước trên talawas hơn bốn năm trước, người viết cũng có bàn tổng quát về trường hợp các quốc gia độn như Thổ Nhĩ Lỳ và Phần Lan. Để có thể tồn tại trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh các nước này đã phải áp dụng nhiều chiến lược đối ngoại và đối nội khác nhau. Trong lúc Thổ Nhĩ Kỳ chủ trương cứng rắn chống Liên Xô, đứng hẳn về phía Tây phương, Phần Lan chủ trương các chính sách đối ngoại và đối nội nhượng bộ Liên Xô. Người viết cũng đã phân tích chọn lựa của Thổ Nhĩ Kỳ trong chính luận Hiểm họa Trung Cộng và bài học Thổ Nhĩ Kỳ cách đây hai năm và lần này bàn đến trường hợp Phần Lan.

Với chủ trương bành trướng Nga Hoàng của Vladimir Putin và ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Hán của Tập Cận Bình đang cháy rộng, khái niệm “Phần Lan hóa” lại lần nữa được nhắc nhở khá nhiều: “Phần Lan hóa” Ukraine, “Phần Lan hóa” Đài Loan và cả khả năng “Phần Lan hóa” Việt Nam.

Trước khi bàn đến việc liệu Việt Nam có thể sẽ bị “Phần Lan hóa” với sự thỏa thuận ngầm của Mỹ như David Brown phân tích hay thực tế đã bị “Phần Lan hóa” sau mật ước Thành Đô, cần tìm hiểu các điều kiện địa lý chính trị, lịch sử và quốc phòng của Phần Lan trong quan hệ với Liên Xô trước và sau Thế chiến thứ hai cũng như sự ra đời của khái niệm này.

“Phần Lan hóa” là gì?

“Phần Lan hóa” (Finlandization) có nghĩa “để trở nên Phần Lan” là một khái niệm chính trị để chỉ ảnh hưởng của một cường quốc trên các chính sách đối nội, đối ngoại và quốc phòng của một quốc gia láng giềng nhỏ, bị cô lập, không phải là thành viên của một liên minh quân sự và không nhận được sự bảo vệ của các cường quốc. Khái niệm vẫn còn nhiều tranh cãi, mang nặng cảm tính này bắt nguồn từ chính sách của chính phủ Phần Lan trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh từ 1947 đến 1990 để đáp ứng với thực tế chính trị và bảo vệ được chủ quyền đất nước, hay vắn tắt là để tồn tại.

Phần Lan trước Thế chiến thứ hai

Năm 2013 dân số Phần Lan có 5.5 triệu, tuy nhiên trong giai đoạn “Phần Lan hóa” trong những năm 1940 quốc gia này chỉ có khoảng 4 triệu dân, đa số sống ở các khu vực miền nam, nhiều nhất tại thủ đô Helsinki và vùng phụ cận. Vì là một nước quá nhỏ chia sẻ biên giới với các nước lớn nên Phần Lan cũng gặp nhiều lận đận. Suốt 600 năm, Phần Lan bị Thụy Điển đô hộ. Các viên chức Thụy Điển được cử đến cai trị Phần Lan. Dù đương đầu với hiểm họa bị đồng hóa, Phần Lan vẫn giữ được bản sắc văn hóa, ngôn ngữ và tiếng nói riêng. Khi phong trào cải cách tôn giáo của Martin Luther lan rộng đến Thụy Điển và Phần Lan, Tân Ước được dịch sang tiếng Phần Lan và đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân. Sau chiến tranh giữa Nga và Thụy Điển vào cuối thế kỷ 17, Nga chiếm Phần Lan.

Năm 1912, vua Nga, Alexander I nâng cấp Phần Lan từ hàng tự trị lên cấp quốc gia đặt thủ đô tại Helsinki. Cũng vào thời điểm đó tinh thần quốc gia Phần Lan do Tiến sĩ Johan Vilhelm Snellman nuôi dưỡng, bắt đầu phát triển mạnh. Để chống lại chính sách đồng hóa của Nga Hoàng, Johan Vilhelm Snellman kêu gọi người dân Phần Lan tuyệt đối không dùng tiếng Nga.

Cách Mạng CS Nga 1917 bùng nổ, Phần Lan tuyên bố độc lập. Tuy nhiên bị ảnh hưởng chính trị Nga, cánh tả trong chính phủ Phần Lan rất mạnh và thực hiện một cuộc đảo chánh. Quân chính phủ do tướng Gustaf Mannerheim chỉ huy phản công và đánh bại quân phiến loạn. Phần Lan chính thức trở thành nước Cộng Hòa năm 1919 với K.J. Ståhlberg là tổng thống đầu tiên. Biên giới giữa Nga và Phần Lan được công nhận theo hiệp ước biên giới Tartu ký kết năm 1920. Quan hệ giữa Phần Lan và Liên Xô rất căng thẳng, và quan hệ giữa Phần Lan và Đức cũng không tốt đẹp gì hơn.

Tháng Tám 1939, Hitler và Stalin ký thỏa hiệp không xâm phạm nhau trong đó có điều khoản Hitler đồng ý nhường Phần Lan cho Stalin. Khi Phần Lan từ chối việc cho phép Liên Xô xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Phần Lan, Stalin tấn công Phần Lan vào tháng 11 năm 1939. Chiến tranh Mùa Đông (Winter War) bùng nỗ. Tuy Phần Lan thua nhưng đã gây thiệt hại trầm trọng cho phía Liên Xô. Sau Chiến tranh Mùa Đông (1939) là Chiến tranh Tiếp Tục (Continuation War) (1941-1944). Trong thời gian này Phần Lan đứng về phía Đức và đem quân tấn công Liên Xô để chiếm lại các phần đất bị mất trong Chiến tranh Mùa Đông và nhiều phần đất khác của Liên Xô. Chính Anh Quốc cũng đã tuyên chiến với Phần Lan năm 1941. Năm 1944, Phần Lan ký hiệp ước đình chiến với Liên Xô.

Phần Lan sau Thế chiến thứ hai

Tại hội nghị Paris 1946, Đồng Minh ân xá cho Phần Lan và các nước đã đứng về phía phe Trục như Romania, Bulgaria, Hungary và cho phép các nước này trở thành hội viên Liên Hiệp Quốc. Phần Lan và Liên Xô ký các hiệp ước hòa bình lần nữa vào những năm 1947 và 1948. Trong giai đoạn này Phần Lan quá yếu về khả năng quân sự so với Liên Xô nên đã buộc phải nhường vùng đất phía nam cho Liên Xô. Đứng trước sự phân cực đang hình thành trong sinh hoạt chính trị thế giới, Phần Lan đối diện với một thực tế chính trị thế giới hoàn toàn bất lợi. Đức Quốc Xã, đối trọng với Liên Xô sụp đổ, không có đồng minh quân sự, bị cô lập về địa lý chính trị, các quốc gia trong vùng Đông Âu lần lượt trở thành chư hầu CS của Liên Xô, các quốc gia vùng Baltic như Estonia, Latvia, Lithuania đều bị sáp nhập hẳn vào Liên Xô. Ưu tiên hàng đầu của chính phủ Phần Lan, vì thế, bằng mọi giá để khỏi bị trở thành một “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa” trong Liên Bang Xô Viết.

Quá sợ Liên Xô nuốt sống như trường hợp các nước vùng Balkan, Phần Lan lấy lòng Liên Xô bằng cách từ chối viện trợ Mỹ trong kế hoạch viện trợ kinh tế Marshall. Tuy vậy, Phần Lan ngấm ngầm thiết lập quan hệ kinh tế với Anh, Mỹ và các chính phủ Anh, Mỹ cũng tìm cách yểm trợ Phần Lan để hy vọng nuôi dưỡng chế độ dân chủ non trẻ tại quốc gia nhỏ ở Bắc Âu này. Chính sách “Phần Lan hóa” ra đời.

Nội dung của “Phần Lan hóa ”:

– Về đối ngoại. Phần Lan theo đuổi một chính sách đối ngoại rất mềm dẽo, nhân nhượng, không làm mất lòng Liên Xô, trung lập. Liên Xô trong thực tế không xem Phần Lan như là một nước Trung Lập đúng nghĩa mà luôn xem quốc gia này phụ thuộc vào các chính sách đối ngoại phát xuất từ điện Kremlin. Chẳng hạn, khi đại sứ Phần Lan Max Jakobson được đề cử vào chức vụ Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, Liên Xô chẳng những không ủng hộ mà còn dùng quyền phủ quyết để bác bỏ vì không muốn thấy một chính khách Phần Lan đóng vai trò quan trọng trong tổ chức chính trị thế giới.

– Về đối nội. Loại trừ các thành phần lãnh đạo quốc gia có khuynh hướng chống Liên Xô và ủng hộ các thành phần thân Liên Xô. Theo tài liệu của CIA, Liên Xô duy trì mối quan hệ mật thiết với các chính khách thân Liên Xô đứng đầu là Tổng thống Juho Kusti Paasikivi (1870-1956) và sau đó là Tổng thống Urho Kekkonen (1900-1986). Liên Xô có quyền phủ quyết các chính sách của Phần Lan và can dự vào nội bộ Phần Lan qua trung gian đảng CS Phần Lan, Liên Đoàn Dân Chủ Nhân Dân, Quốc Hội Phần Lan với đa số thuộc cánh tả.

– Về văn hóa giáo dục. Để vừa lòng Liên Xô, Phần Lan áp dụng chính sách tự kiểm duyệt, tự kiểm soát và thân Liên Xô. Chính phủ Phần Lan ngăn chận các phương tiện truyền thông có cái nhìn tiêu cực về Liên Xô. Trên 1700 cuốn sách có nội dung chống Liên Xô trước đó bị xếp vào thể loại “sách bị cấm”. Các phim ảnh không có lợi cho Liên Xô như The Manchurian Candidate, Day in the Life of Ivan Denisovich v.v. đều không được phép chiếu.

– Về quốc phòng. Hiệp ước Hữu Nghị Hợp Tác Phần Lan-Liên Xô 1948 (Finno-Soviet Pact of Friendship, Cooperation and Mutual Assistance) quy định Phần Lan phải có trách nhiệm chống lại các lực lượng thù địch của Liên Xô khi các lực lượng này tấn công Liên Xô ngang qua ngã Phần Lan và nếu cần sẽ kêu gọi sự giúp đở quân sự của Liên Xô. Phần Lan không được liên minh quân sự với một quốc gia thứ ba. Điều này do Liên Xô đặt ra để giới hạn Phần Lan gia nhập NATO giống như trường hợp Đan Mạch và Na Uy. Trước đó, trong hiệp ước ký kết giữa hai nước, Phần Lan đã nhường 10 phần trăm lãnh thổ cho Liên Xô.

Nhắc đến “Phần Lan hóa” không thể bỏ qua vai trò của Tổng thống Phần Lan Urho Kekkonen, người lèo lái chính sách này trong suốt 26 năm làm tổng thống. Những người phê bình Urho Kekkonen cho rằng ông ta là con cờ của Liên Xô trong khi những người ủng hộ xem ông như là một trong những anh hùng của Phần Lan vì đã bảo vệ được chủ quyền Phần Lan trong một hoàn cảnh chính trị thế giới vô cùng khó khăn.

Công tâm mà nói, trong suốt dòng lịch sử, lãnh thổ Phần Lan là bãi chiến trường cho các tham vọng bành trướng của Thụy Điển và sau đó là Nga Hoàng. Sau Thế chiến thứ hai, hầu hết các quốc gia vùng Baltic và Balkan đề nằm trong quỹ đạo Liên Bang Sô Viết. Lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ của quốc gia này đều bị xóa bỏ. Ý thức được điều đó, mục tiêu hàng đầu của Kekkonen là bảo vệ chủ quyền Phần Lan, bảo vệ nền Cộng Hòa Phần Lan bằng mọi giá, không thể để Phần Lan trở thành một xứ tự trị như thời Nga Hoàng hay một “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa” của Stalin. Mặc dù nhân nhượng Liên Xô rất nhiều trong các lãnh vực chính trị, quốc phòng Phần Lan cũng có lợi về kinh tế vì Liên Xô là quốc gia nhập cảng lớn nhất sản phẩm của Phần Lan. Sự sụp đổ của Liên Xô đã gây ra những suy thoái kinh tế trầm trọng tại Phần Lan. Sau giai đoạn phục hồi, Phần Lan đã phát triển một cách vượt bực. Ngày nay Phần Lan hội nhập cao vào sự nền kinh tế thế giới và là một trong những quốc gia phát triển nhanh nhất thế giới.

Trở lại với quan hệ Trung Cộng và CS Việt Nam trong cái nhìn so sánh giữa Liên Xô và Phần Lan.

Trung Cộng sau Thiên An Môn

Chính sách đối ngoại của Trung Cộng trong thời gian 1990 nhằm mục đích thoát khỏi sự cô lập quốc tế và ổn định chính trị nội bộ sau biến cố Thiên An Môn. Những thành tựu kinh tế của chính sách bốn hiện đại hóa từ đầu thập niên 1980 đã đạt một số thành tích đáng kể nhưng tất cả đều rất mong manh, yếu kém. Các cường quốc dân chủ vẫn còn trừng phạt kinh tế sau khi Đặng Tiểu Bình ra lệnh tàn sát nhiều ngàn sinh viên Trung Quốc yêu dân chủ tại Thiên An Môn đầu tháng 6, 1989.

Như hầu hết các quốc gia CS, kế hoạch chung của cả nước luôn chế ngự và đồng thời duy trì tính cân đối của các chính sách đối ngoại cũng như đối nội trong mỗi thời kỳ. Để thoát khỏi sự cô lập và phục hồi vị trí của Trung Cộng trong bang giao quốc tế , Đặng Tiểu Bình theo đuổi chính sách đối ngoại mềm dẽo trong đàm phán biên giới với hàng loạt các nước lân bang trong đó có Việt Nam. Chính sách của ho Đặng được gọi là chính sách 20 nét chữ “bình tĩnh quan sát, giữ vững trận địa, bình tĩnh ứng phó, giấu mình chờ thời” (lengjing guancha, chenzhuo yingfu, wenzhu zhenjiao, taoguang yanghui, yousuo zuowei).

Sự sụp đổ của hệ thống Liên Xô làm Trung Cộng không còn lo ngại vòng vây Liên Xô từ hướng Việt Nam nhưng lại có mối lo mới nguy hiểm và hùng mạnh hơn nhiều, đó là Mỹ. Như người viết đã trình bày trong các bài trước, thời điểm 1990 đối tượng cạnh tranh của Trung Cộng là Mỹ và Nhật chứ không phải Liên Xô hay chư hầu của nó là CSVN và mục tiêu bành trướng của họ Đặng không chỉ giới hạn ở các cù lao trên biển, vài ngọn núi đất ở Hà Giang mà cả Thái Bình Dương. Và để giới hạn sự đe dọa của Mỹ, Trung Cộng đã làm hòa với CSVN. Hai bên đã mở các cuộc đàm phán vào năm 1991 và đạt đến thỏa hiệp vào năm 1993 sau mật ước Thành Đô.

Việt Nam sau Liên Xô

Sau khi hệ thống CS tại châu Âu sụp đổ, nền kinh tế của các nước CS còn lại của khối COMECON trong đó có Lào, Cu Ba và CSVN trở thành đàn gà mất mẹ. Trong bài bình luận nhân dịp kỷ niệm 20 năm bức tường Bá Linh đổ, tạp chí The Economist nhận xét chung rằng khi chế độ thực dân ra đi, các nước cựu thuộc địa ít ra còn hưởng được các phương pháp quản trị, hệ thống tư pháp và nhiều trường hợp cả ngôn ngữ nhưng chế độ CS ra đi không để lại gì ngoài nghèo đói, ngục tù và lạc hậu.

Số phận của đảng CSVN như chỉ mành treo chuông. Trong giờ phút sinh tử đó, lãnh đạo CSVN xem dấu hiệu hòa hoãn của Đặng Tiểu Bình như chiếc phao giữa biển. Họ vui mừng bám lấy. Dĩ nhiên, với bản chất thâm độc, đầu óc tính toán của lãnh đạo Trung Cộng, món lễ vật của đàn em CSVN dâng lên trong ngày quy phục thiên triều lần nữa phải là một lễ vật đắt giá. Món nợ máu xương từ năm 1979 trở về trước hẳn được Đặng Tiểu Bình đòi cả vốn lẫn lời.

Hội nghị bí mật tại khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên diễn ra trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 giữa phía Việt Nam gồm Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh và phía Trung Quốc gồm Giang Trạch Dân và Lý Bằng thực chất là lễ cam kết một loại “công hàm” khác, trầm trọng hơn nhiều so với “công hàm Phạm Văn Đồng”. Chiều ngày 7 tháng 11 năm 1991 tại Nhà khách Chính phủ Điếu Ngư Đài Bắc Kinh, Giang Trạch Dân tuyên bố “Nhưng chúng tôi hy vọng giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể khôi phục mối quan hệ mật thiết giữa hai Đảng và hai nước do những người lãnh đạo thuộc thế hệ lão thành xây dựng nên.” Họ Giang muốn nhắc nhở lãnh đạo CSVN về thời kỳ mà đảng CSVN thở bằng bình oxyen Trung Cộng trong các thập niên 1950, 1960.

Trung Cộng muốn Việt Nam những gì Liên Xô muốn Phần Lan và nhiều hơn nữa:

– Giống như Liên Xô áp dụng với Phần Lan, Việt Nam phải “trung lập” trên danh nghĩa. Phần Lan luôn tuyên bố trung lập và Liên Xô ủng hộ vị trí trung lập của Phần Lan nhưng thực chất có quyền phủ quyết hầu hết các chính sách đối ngoại của Phần Lan. CSVN cũng thế. Họ luôn tuyên bố “quan hệ hợp tác bình đẳng cùng có lợi” với mọi quốc gia trên thế giới nhưng thực chất chỉ “hợp tác” với sự đồng ý của Trung Cộng. Bất cứ khi nào có dấu hiệu làm trái ý, Trung Cộng sẽ dùng mọi biện pháp hèn hạ nhất để trừng phạt như trường hợp giàn khoan HD981 vừa qua, bất chấp dư luận thế giới khinh khi.

– Giống như Liên Xô áp dụng với Phần Lan, các chính sách an ninh quốc phòng của Việt Nam không được đi ngược với chính sách quốc phòng của Trung Cộng, không được độc lập trong toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Cộng. Để thỏa mãn Trung Cộng, Việt Nam theo đuổi một chính sách quốc phòng “ba không” tự sát: (1) không tham gia các liên minh quân sự, (2) không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, (3) không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia. Các điều khoản này tương tự các điều khoản của hiệp ước mà Phần Lan phải ký với Liên Xô năm 1948.

– Giống như Liên Xô đã cướp đất của Phần Lan, CSVN đã chấp nhận vị trí đặc quyền, đặc lợi của Trung Cộng trong Biển Đông. Như đã viết, khi thỏa hiệp bán nước Thành Đô vừa ký kết xong, ngày 25 tháng 2 năm 1992, Quốc vụ viện Trung Cộng thông qua “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” quy định lãnh hải rộng 12 hải lý, áp dụng cho cả bốn quần đảo ở Biển Đông trong đó có quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Ba tháng sau đó, Trung Cộng ký hợp đồng khai thác dầu khí với công ty năng lượng Crestone, cho phép công ty này thăm dò khai thác dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam và hứa sẽ bảo vệ công ty Creston bằng võ lực. Ngoài ra, Trung Cộng còn ra lịnh cấm đánh cá, thành lập các đơn vị hành chánh cấp huyện tại Hoàng Sa và Trường Sa.

– Giống như Liên Xô đã áp lực với lãnh đạo Phần Lan, Việt Nam cũng thực hiện các chính sách tự kiểm duyệt các tin tức gây mất lòng Trung Cộng, giới hạn các phim ảnh, sách báo có nội dung tiêu cực về chế độ CS tại Trung Quốc, ngăn chận mọi ý kiến, phản ứng dù rất ôn hòa của người dân trước các hành động gây hấn, xâm lược lộ liễu của Trung Cộng. Tháng Sáu vừa qua, các báo VnExpress, Thanh Niên, Người Lao Động, Tiền Phong, Giáo Dục đã phải đồng loạt lấy xuống các hình ảnh và tin tức liên quan đến ngày kỷ niệm Tàn Sát Thiên An Môn. TS Nguyễn Quang A, một trong những thành viên chủ trương Diễn đàn Xã hội Dân sự phát biểu với RFA:“Điều đó chứng tỏ rằng những thế lực trong Đảng Cộng sản Việt Nam còn gắn rất chặt với Trung Quốc. Tôi tin chắc chắn là họ nghe theo lệnh của Bắc Kinh để họ làm như vậy.”

– Bên cạnh các điểm giống nhau nêu trên, một điểm khác biệt có tính quyết định đối với tương lai của dân tộc Việt Nam: Trung Cộng quyết tâm bảo vệ đảng CSVN. Làm gì thì làm, nói gì thì nói, lãnh đạo CSTQ cũng biết hiện nay chỉ còn năm đảng cầm quyền mang nhãn hiệu búa liềm. Nắm giữ Việt Nam về mặt lý luận tư tưởng không chỉ để bảo vệ cơ chế mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước. Và do đó, bị “Phần Lan hóa” trong quỹ đạo Trung Cộng cũng có nghĩa ngày nào Trung Cộng còn do đảng CS cai trị ngày đó nhân dân Việt Nam lại cũng sẽ tiếp tục chịu đựng dưới ách chủ nghĩa độc tài toàn trị Lê Nin không có Mác. Tổng thống Phần Lan Urho Kekkonen phải khuất phục Liên Xô chỉ vì để bảo vệ chế độ cộng hòa và chủ quyền đất nước, lãnh đạo CSVN bám vào chiếc phao Trung Cộng chỉ vì quyền lực và quyền lợi riêng của đảng CS.

Những phân tích trên cho thấy có khả năng cao Việt Nam đã bị “Phần Lan hóa” qua mật ước Thành Đô. Và Việt Nam, như một dân tộc, chỉ có thể tự thoát khỏi quỹ đạo Trung Cộng tức tránh khỏi nạn bị“Phần Lan hóa” bằng (1) dân chủ trước Trung Cộng, (2) đoàn kết dân tộc để vượt thoát và thăng tiến, (3) chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia trong tranh chấp Thái Bình Dương, (4) sát cánh với láng giềng cùng hoàn cảnh và tham gia các liên minh tin cậy như đã trình bày trong chính luận Để thắng được Trung Cộng.

© Trần Trung Đạo

Tham khảo:

– “Finlandization” in Action: Helsinki’s Experience with Moscow”, Directorate of Intelligence Report. CIA

–  China’s ‘Finlandization’ Strategy in the Pacific , Adrew F. Krepinevich, The Wall Street Journal Sept 11,2010

–   Vietnam Faces ‘Finlandization’ from China, David Brown, AsiaSentinel, May 22 2014

–  Finland, a country study, Library of Congress , Eric Solsten and Sandra W. Meditz, December 1988

–  THE POWER OF C ENTRAL AND EASTERN EUROP AFTER1945 Mart Laar

–  China’s Foreign Relations After Tiananmen: Challenges for the U.S. Robert S. Ross, Allen S. Whiting and Harry Harding, The NBR Analysis, 1990.

–  Regime Insecurity and International Cooperation, M. Taylor Fravel, International Security, Vol. 30, No. 2 (Fall 2005), pp. 46–83 © by the President and Fellows of Harvard College

–  Wikipedia.org The Molotov–Ribbentrop Pact 

–  Wikipedia.org on Finland 

–  Korean Reunification Would Cast Off China’s Shadow , Mark P. Barry, World Policy

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Đơn gửi các vị tuyên huấn, tuyên giáo ĐCSVN về thỏa hiệp Thành Đô 9/1990

Posted by hoangtran204 trên 07/08/2014

Đơn gửi các vị tuyên huấn, tuyên giáo ĐCSVN

.

3-8-2014

 

 

 

189101-BuonGio-400

.

Kính thưa ông Đinh Thế Huynh, uỷ viên BCT, trưởng ban tuyên giáo trung ương ĐCSVN
Kính thưa ông Phạm Văn Linh, phó trưởng ban tuyên giáo phụ trách thông tin đối ngoại ĐCSVN
Kính thưa ông Bùi Thế Đức, phó trưởng ban tuyên giáo phụ trách tuyên truyền đối nội.
Kính thưa Nguyễn Thanh Tuấn, trung tướng ,cục trưởng cục tuyên huấn thuộc tổng cục chính trị bộ quốc phòng

Kính thưa các ông nhà báo đi đầu trên lãnh vực phòng chống diễn biến hoà bình, chủ động đấu tranh phản bác với những thông tin sai lệch là các ông Nguyễn Như Phong, Hồ Quang Lợi, Nguyễn Văn Minh, Bùi Thế Kỷ, Trần Đăng Thanh…..

Đầu tiên tôi xin đánh giá cao những thành tựu trong lĩnh vực các ông phụ trách ở các năm vừa qua. Đội ngũ phóng viên, báo chí , tuyên truyền viên đã chủ động kịp thời, cung cấp những thông tin nhanh nhạy và đối phó phản bác kịp thời những thông tin sai lệch trong dư luận.

Hiện nay trong dư luận nhân dân đang có hai bài viết của hai lão thành cách mạng đó là thiếu tướng quân đội Lê Duy Mật và đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang. Nội dung hai bài viết này đều đòi làm sáng tỏ vấn đề mà lãnh đạo ĐCS VN đã cam kết với ĐCSTQ tại Thành Đô , bài viết được đưa lên trang cá nhân của đại tá Bùi Văn Bồng có đoạn.

 “ Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….
Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”. (Hết trích) (1).”

http://bongbvt.blogspot.de/2014/08/thieu-tuong-le-duy-mat-co-hay-khong-mot.html

Đoan trích trên hiện nay đang gây hoang mang cho đại đa số quần chúng nhân dân. Dư luận rất bức xúc, đòi hỏi ĐCSVN phải trả lời rõ xem sự việc này thực hư thế nào. Trái với những phản ứng kịp thời ở nhiều vụ khác, chẳng hạn như những vụ tranh chấp đất đai tôn giáo ở Hà Nội hay Nghệ An. Hoặc gần đây vụ Hội Các nhà báo độc lập và các vụ biểu tình liên quan đến biển Đông. Trong những vụ việc này báo chí và cơ quan tuyên huấn, tuyên giáo đồng bộ cấp tốc có bài trả lời hoặc phản ảnh quan điểm của Đảng và nhà nước CHXHCN Việt Nam.

Thế nhưng đến nay, một việc trọng đại thế này, có ảnh hưởng đến uy tín của Đảng lãnh đạo và tất ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước mà vẫn chưa có lãnh đạo ban, cục, vụ nào có ý kiến hồi đáp.

Nếu thông tin này là sự thật, đề nghị chính phủ đưa gấp chương trình bắt buộc học tiếng Trung Quốc vào giáo trình giảng dạy phổ thông. Chuẩn bị tốt cho nhân dân những kiến thức cơ bản để hội nhập nhanh chóng, hoà mình vào cuộc sống chung của đại gia đình các dân tộc Trung Hoa. Cùng góp sức dưới lá cờ đại nghĩa do tổng bí thư Tập Cận Bình giương cao xây dưng một nước Trung Hoa phồn thịnh, đại cường.

Trong vấn đề hội nhập có đôi chút những mâu thuẫn tư tưởng giữa hai dân tộc, vấn đề này nhìn chung đã được các ban, ngành tuyên giáo, tuyên huấn giải quyết tốt. Nhiều bài viết , thông tin, phát biểu đã định hướng nhân dân ta về mối quan hệ nồng thắm giữa hai đất nước anh em, nghĩa tình sâu đậm. Mặc dù còn đôi chút bất đồng, mâu thuẫn nhỏ trên biển Đông, nhưng cơ bản thì tư tưởng đại bộ phận dân chúng đã được thuyết phục rằng Trung Việt như anh em một nhà.

Về văn hoá nhờ sự nỗ lực phổ cập rộng rãi phim ảnh, sách báo TQ trong nhiều năm qua. Kết quả khá mỹ mãn, đại đa số nhân dân đều hiểu biết sâu sắc văn hoá Khổng Tử, lịch sử, các nhân vật kiệt xuất Trung Quốc.

Về tôn giáo, nhiều chùa chiền đã được xây dựng với kiến trúc Trung Hoa và các sư sãi được gửi đi học tập tại Trung Quốc rất nhiều, họ đã nắm được những vị trí chủ chốt trong giáo hội Phật Giáo VN và không ngừng đưa Phật Giáo Vn hoà nhập với Phật giáo Trung Hoa.

Về kinh tế, mọi hàng hoá, nguyên vật liệu, công nghệ, thiết bị sản xuất, đội ngũ công nhân kỹ thuật, nhà thầu của TQ đã chiếm lĩnh gần trọn thị trường kinh tế VN. Người dân Vn đã hoàn toàn quen thuộc với hàng hoá TQ cũng như cung cách làm việc kiểu TQ tại các nhà máy, khu công nghiệp, khi kinh doanh.

Về quốc phòng hai bên đã gắn bó mật thiết, nhiều cuộc trao đổi, họp tập diễn ra đều đặn.

Nếu việc sát nhập vào TQ để thành một tỉnh hoặc khu tự trị là có thật, thì các vấn đề trên đã chuẩn bị tốt, đề nghị biểu dương những ban , ngành, lãnh đạo đã thực hiện. Duy có điều về ngôn ngữ đến nay bộ giáo dục vẫn chưa đưa chương trình dạy tiếng Trung Quốc vào phổ cập trong nhà trường, điều này sẽ gây khó khăn cho nhân dân VN khi gia nhập đại gia đình dân tộc Trung Hoa.

Thắc mắc này là có tính xây dựng, nếu thoả hiệp Thành Đô là có thật. Xin Đảng và Chính Phủ có những biện pháp đồng bộ hơn nữa, cụ thể hơn nữa để giúp nhân dân ta hội tụ các điều kiệp hội nhập Trung Hoa. Đủ bản lĩnh để nắm bắt vận hội mới, thời cơ mới.

Còn nếu việc thoả hiệp là không có thật, xin sớm công bố toàn văn những văn kiện đã ký kết ở Thành Đô. Để nhân dân không thụ động trông chờ , tự lực cánh sinh tiếp tục công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam.

Chúc các vị có sức khoẻ dồi dào, để phục vụ Đảng được lâu dài.

FB Người Buôn Gió

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | Leave a Comment »

►Thiếu tướng Lê Duy Mật yêu cầu đảng CSVN tổng kết cuộc chiến 1979-1984 và công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô

Posted by hoangtran204 trên 07/08/2014

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

                                      Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

    Hà Nội ngày 20 tháng 07 năm 2014

Kính gửi: Đ/C Tổng Bí thư  BCHTW Đảng
Các đ/c Uỷ viên Bộ Chính Trị
Các đ/c Uỷ viên Ban Bí thư TW Đảng
Các đ/c ủy viên Trung ương Đảng khóa XI.

Tôi là: Lê Duy Mật – Thiếu tướng – Nguyên Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 2 và Tư lệnh Mặt trận 1979-1984 (Hà Giang) thay mặt một số đảng viên xin được nêu thắc mắc và kiến nghị như sau:

Cuộc chiến tranh biên giới 1979 – 1984 cũng là một trong những cuộc chiến đẫm máu vô cùng đau thương trong lịch sử nước ta. Đây là cuộc chiến tương tự các cuộc chiến Bạch Đằng,Chi Lăng, Đống Đa, nhưng tại sao đã qua 30 năm mà cuộc chiến này vẫn không được tổng kết, đúc rút kinh nghiệm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ Tổ quốc cấp thiết trước mắt. Việc tổng kết này vô cùng cần thiết và sẽ rất hữu ích khi mà đối tượng chiến đấu vẫn là một, khi mà quân xâm lựợc đang cận kề chứ không xa xôi như trong các cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ. Bên cạnh đó các chính sách đối với gia đình liệt sĩ và những người chống xâm lược năm 1979 – 1984 ,chúng tôi đã nhiều lần đề nghị nhưng vẫn không được giải quyết ,mà chỉ có những lời hứa hẹn xuông.
Phải chăng có một nguyên nhân mà chúng tôi săp nêu lên sau đây.

Chúng ta đều biết mọi tiêu cực trong xã hội hiện nay từ Trung Quốc gây ra, khiến cho nước ta sản xuất lẹt đẹt, lạc hậu, đã thế, họ lại còn có những lời sỉ nhục đôi với cả dân tộc ta :“Việt Nam là con hoang, loại vô liêm sỉ, phải cho thêm vài bài học”.
Vậy mà, lãnh đạo ta không hề có một phản ứng nào!

Rồi khi bọn xấu trà trộn trong đám biểu tình được xúi giục phá phách gần 1000 nhà máy của Hàn Quốc, Đài Loan,Singapore,Trung Quốc, thì công an lúc đó làm ngơ , sau đó mới xuất hiện, chỉ xử lý qua loa và xin lỗi xin đền bù thiệt hại cho họ. Trong khi đó Tung Quốc đâm phá gần 30 tàu ,thuyền của chúng ta thì không quyết liệt đòi bồi thường, mà chỉ “nhẹ nhàng” lên án.

Khi có hiện tượng bất thường nho nhỏ về dân sự thì lập tức nửa đêm đại sứ của Việt Nam ở Bắc Kinh bị gọi đến để nhận thư phản kháng, còn khi Trung Quốc gây hại cho ta thì chỉ có cán bộ Bộ Ngoại giao Việt Nam đến gặp cơ quan Lãnh sự Trung Quốc tại Hà Nội để giao công hàm phản kháng.

Lạ lùng nhất là tỉnh ủy Quảng Đông mà lại ngang nhiên gửi công văn cho Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu phải thực hiện 16 việc phải làm. Một thái đọ trịch thượng ,coi thường nước ta rất vô lễ mà ta vẫn chịu đựng.

Trung Quốc tự tiện cho giàn khoan vào xâm nhập lãnh hải Việt Nam bất chấp mọi ý kiến phản đối của nhân dân ta và dư luận các nước lên án. Khi rút đi, họ tuyên bố là do họ đã xong việc. Trung Quốc làm như vậy mà ta vẫn khen Trung Quốc là bạn tốt,16 chữ vàng và 4 tốt. Đến nỗi dư luận thế giới cũng phải ngạc nhiên về thái độ quá ư nhu nhược của chúng ta.

Ngạc nhiên hơn là Nhà nước đàn áp những người biểu tình chống xâm lược ở trong nước mà chỉ khuyến khích biểu tình ở nước ngoài.

Chẳng lẽ một dân tộc Việt Nam anh hùng đã ba lần chiến thắng Nguyên Mông, đã có Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu mà nay lại hèn kém như vậy sao! Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là ở Thỏa hiệp Thành Đô ngày 4/9/1990 của một số vị lãnh đạo. Chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào mà chỉ biết sau này những hiện tượng tiêu cực xảy ra đã thể hiện nội dung của bản Thỏa hiệp đó . Xin trích một đoạn Thỏa hiệp Thành Đô: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ.Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh , như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông,Tây Tạng,Quảng Tây….

Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên , và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020)  để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.” .(Hết trích)  (1) .

Vì vậy, chúng tôi yêu cầu trong hội nghị TW này,  Bộ chính trị , Ban Bí thư cần công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô, để chứng minh thực hư thế nào.Nếu Thỏa hiệp Thành Đô là đúng như vậy thì rõ ràng là một bản thỏa hiệp rất nguy hiểm cho đất nước như là phản bội Tổ Quốc.  Vì vậy, chúng tôi đề nghị Hội nghị TW xem xét và ra tuyên bố phản bác bản thỏa hiệp đó ,chấn chỉnh lại tổ chức, kỷ luật những người đã ký và những người thực hiện sau này. Có như vậy Đảng ta mới thực sự là một Đảng chân chính ,dám nhận khuyết điểm ,dám công khai khuyết điểm như Bác Hồ đã nói :” Một Đảng mà không dám nhận khuyết điểm, công khai khuyết điểm là một Đảng hỏng”.

Theo điều lệ Đảng (điều 3 khoản 3), Đảng là của nhân dân lao động, Đảng của toàn thể đảng viên vì vậy chúng tôi có quyền yêu cầu phải công khai các hoạt động của những người lãnh đạo để dân biết ,dân bàn, dân làm, dân kiểm tra như trong các Nghị quyết TW đã đề ra .

Trên đây là những kiến nghị tâm huyết và bức xúc của đảng viên. Tôi mong rằng: Bộ chính trị, Ban bí thư nên tôn trọng ý kiến của các đảng viên cơ sở và thực hiện các việc nói trên .Tóm lại là:

1-  Tổng kết cuộc chiến tranh chống quân xâm lược năm 1979 ,thực hiện chính sách qui tập mồ mả ghi công các anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược cũng như bao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc trước đây của dân tộc ta, tổ chức kỷ niệm trọng thể hàng năm.

2-  Công khai bản Thỏa hiệp Thành Đô tháng 9/1990 để toàn dân, toàn Đảng biết được thực hư và ra tuyên bố để giải thích các hiện tượng tiêu cực . Thỏa hiệp Thành Đô là thứ ung nhọt đang di căn khắp cơ thể đất nước ta.

Nguy cơ mất nước đang là sự thật, mong các đồng chí có lương tâm ,vì sự nghiệp của tổ quốc mà thực hiện cho được. Nếu ở Hội nghị Trung ương X này không ra được bản tuyên bố thì yêu cầu đưa vào chương trình Đại hội Đảng bất thường hoặc Đại hội 12.

Chúng tôi chờ mong hồi đáp của các đồng chí.

Kính

Thiếu tướng Lê Duy Mật

© Đàn Chim Việt

——————————————–

(1) Theo tin của Tân hoa xã Trung Quốc và báo Hoàn cầu Trung Quốc

http://www.danchimviet.info/archives/89406/mot-thieu-tuong-yeu-cau-tong-ket-cuoc-chien-1979-1984-va-cong-khai-thoa-thuan-thanh-do/2014/08

 

http://bongbvt.blogspot.com/2014/08/thieu-tuong-le-duy-mat-co-hay-khong-mot.html#more

 

————————

 

 

 

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Đại Tá an ninh Nguyễn Đăng Quang: Phải công bố các thỏa thuận Thành Đô tháng 9/ 1990 cho nhân dân biết

Posted by hoangtran204 trên 07/08/2014

Đại Tá an ninh Nguyễn Đăng Quang: Phải công bố các thỏa thuận Thành Đô cho nhân dân biết

3-8-2014

Nguyễn Tường Thụy: Bài viết của Đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang, một người bạn thân thiết của anh em đấu tranh Hà Nội. Ông am hiểu nhiều nhưng luôn toát ra vẻ chân thành, khiêm tốn, bình dị. Gọi điện cho tôi, ông nhờ sửa lại cho ông lỗi chính tả, trình bày. Nhưng tôi để nguyên những gì ông viết.

(…)

Chụp ảnh lưu niệm tai Hội nghị Thành Đô 1990. Phạm Văn Đồng người đứng thứ ba từ bên trái, hàng đầu.

.

Gần 1/4 thế kỷ đã trôi qua kể từ Hội nghị Thành Đô, nhiều thành viên đoàn VN tham dự hội nghị này không còn nữa, nhưng hậu quả để lại của cuộc gặp này là khôn lường, gây ra những thiệt hai to lớn và nguy hiểm cho đất nước và nhân dân ta ở hầu hết các lĩnh vực : từ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, văn hóa-giáo dục, chủ quyền đất nước, chính trị nội bộ đến vấn đề an ninh quốc gia trên phạm vi toàn lãnh thổ, từ biên giới phía Bắc cho đến các tỉnh miền Tây Nam bộ, từ biển Đông vào đến các tỉnh ven biển và giáp với biên giới Lào và Cămpuchia, và đặc biệt là vùng Tây Nguyên chiến lược. Không thể thống kê hết những vấn đề nói trên, chỉ xin đề cập đến một vài sự việc nổi cộm sau :

– Từ sau Hội nghị Thành Đô,cuộc chiến tranh xâm lược của TQ ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta (17/2/1979) không được nhắc đến nữa, thậm chí những hoạt động của người dân tưởng niêm và vinh danh các liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến này hoặc các cuộc biểu tình yêu nước chống TQ xâm phạm biển đảo và sát hại ngư dân ta đều bị ngăn cấm và đàn áp? Hơn 35 năm đã trôi qua, tại sao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc,chống xâm lược bành trướng phương Bắc này cũng như việc TQ dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (1974) và đảo Gac Ma của ta ở Trường Sa (1988) không được tổng kết và đưa vào lịch sử và sách giáo khoa để giáo dục lòng yêu nước cho học sinh,sinh viên và thanh niên ta?

– Tại sao ta cho phép hoặc không ngăn chặn việc TQ thuê hàng trăm ngàn héc ta rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới chiến lược phía Bắc với thời hạn lâu dài 50-70năm?

– Một khu vực có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng,rất nhạy cảm về mặt an ninh-quốc phòng là Tây Nguyên( Ai kiểm soát Tây nguyên thì có thể khống chế được toàn bộ bán đảo Đông Dương!) thì TQ lại dễ dàng được phép đưa hàng ngàn công nhân vào đây để thực hiện dự án bauxite đầy nghi ngờ và tranh cãi không những về an ninh-quốc phòng mà cả về hậu quả sinh thái-môi trường cũng như về hiệu quả kinh tế-xã hội, mặc dù có hàng ngàn cựu cán bộ lãnh đạo,nhân sỹ trí thức và các nhà khoa học lên tiếng kiến nghị Bộ Chính trị,Quốc hội và Nhà nước dừng dự án này!

-Tại sao các công ty TQ lại trúng đến 80-90% các gói thầu trọn gói EPC (thiết kế-mua sắm-xây dựng) trong các dự án về KT-XH,đặc biệt là các dự án nhiệt điện, và tại sao ta chấp nhận hàng chục ngàn lao động phổ thôngTQ(có phép và không phép)vào thực hiện các dự án này? Tại sao ta ta lại để cho thương nhân và các doanh nghiệp TQ tự tung tự tác trên khắp lãnh thổ của ta,lừa đaỏ nông dân ta,lũng đoạn và phá hoại nền kinh tế đất nước ta một cách dễ dàng như chốn không người như vậy?

– Gần đây TQ ngang ngược và trắng trợn hạ đặt giàn khoan HD.981 để khoan thăm dò dầu khí sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN mà ta lại không dám nhân cơ hội này kiện TQ ra trước tòa án quốc tế như Philippines đã làm ? Do ta chưa chuẩn bị kịp hồ sơ pháp lý hay vì một nguyên nhân nào khác? Trong vụ giàn khoan này TQ đã không chỉ chà đạp luật pháp và chủ quyền của VN mà còn vi phạm thô bạo Công ước Luật biển 1982 (UNCLOS) của LHQ. Dư luận rộng rãi trên toàn thế giới phản đối,lên án TQ và đồng tình,ủng hộ VN. Rất tiếc ta lại không tận dụng thời cơ và lợi thế này để vạch mặt bọn “vừa ăn cướp vừa la làng!” Trung Quốc không chỉ ngang ngược mà họ còn phi lý và trịch thượng nữa! Qua hang thông tấn chính thứcTân Hoa Xã, họ đưa ra ” 4 yêu sách VN không được làm” trong đó họ đề cập xa gần và bóng gió đến thỏa thuận Thành Đô 1990!
– v.v…

Xung quanh Hội nghị thượng đỉnh và các thỏa thuận mà VN đã ký với TQ ở Thành Đô có nhiều phân tích, đánh giá, nhận định,thông tin trái chiều, thậm chí cả những đồn thổi nguy hiểm,bất lợi về mặt dư luận… làm người dân hoang mang,bán tín bán nghi,không biết đâu là hư,đâu là thực ! Mọi hiện tượng trên sẽ chấm dứt một khi Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối quan hệ Việt-Trung,đặc biệt là các thỏa thuận mà lãnh đạo ta đã ký với TQ ở Thành Đô.

Là chủ nhân ông của đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết về những vấn đề trọng đại của quốc gia, trong đó có sự thật về quan hệ VN-TQ trong những năm qua, đặc biệt là các thỏa thuận đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990. Hơn nữa, Điều 4 Hiến pháp 2013 đã ghi rất rõ: “ĐCSVN… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân,phục vụ Nhân dân,chịu sự giám sát của Nhân dân,chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.” Do vậy việc Lãnh đạo Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối bang giao Việt-Trung và các thỏa thuận đã ký với TQ ở Thành Đô là một việc nên làm,cần làm và phải được làm vì điều này chỉ có lợi cho Nhân dân và Đất nước .

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI sẽ sớm nhóm họp Hội nghị Trung ương lần thứ 10 trong thời gian tới để duyệt xét mối quan hệ VN-TQ và đưa ra các quyết sách liên quan . Nhân dân rất kỳ vọng một trong các quyết sách này là Đảng sẽ báo cáo cho toàn dân biết sự thực về mối quan hệ với TQ trong 1/4 thế kỷ qua trong đó có các thỏa thuận mà lãnh đạo Đảng ta đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990 kèm theo một lời tạ lỗi chân thành ! Nếu đúng thì đây sẽ là một trong các quyết định dũng cảm, hợp lòng dân và quan trọng nhất trong lịch sử tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mong lắm thay !

Hà Nội, 3/8/2014.

NĐQ.

FB Nguyễn Tường Thụy

 

 

 

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | 1 Comment »