Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám 6th, 2014

►Tự trị đại học là một trong những “tài liệu lật đổ nhà nước”

Posted by hoangtran204 trên 06/08/2014

Đảng csvn muốn chỉ đạo và kiểm soát tất cả mọi lãnh vực như giáo dục, y tế, kinh tế, các ngành nghề như luật sư, bác sĩ, thầy cô giáo…

Mục đích của các nhân vật cao cấp của đảng csvn là muốn nắm quyền cai trị lâu dài, và khi họ về hưu thì con cái của họ lên nối ngôi.  6 Hạt Giống Đỏ: Cha truyền con nối « Trần Hoàng Blog 

Nếu các hội đoàn nghề nghiệp có quyền bầu cử chức vụ đại diện cho ngành nghề của họ một cách tự do, không bầu cho các nhân vật do đảng chỉ định, thì đảng sợ rằng những người này sẽ có ngày họp lại, bàn bạc và chỉ trích đảng và nhà nước va kết quả là con cái của họ không thể nối ngôi. 

Tuần trước, Ls Nguyễn Đăng Trừng đã bị khai trừ ra khỏi đảng csvn vì ông muốn liên đoàn luật sư phải được độc lập, và không phải là một tổ chức của đảng. Ls Nguyễn Công Trừng đấu tranh đòi hỏi Liên Đoàn Luật sư VN phải được tự do bầu bán và chức vụ chủ tịch và phó chủ tịch luật sư đoàn phải do 5.300 Ls bầu lên. Trái lại, Bộ Tư Pháp thì ra lệnh và muốn  91 luật sư đại diện cho 64 tỉnh thành mới có quyền bầu cử chức vụ chủ tịch và phó chủ tịch Liên Đoàn Luật sư VN.

Ông Nguyễn Đăng Trừng không muốn Bộ Tư Pháp cử ông Lê Thúc Anh (thẩm phán về hưu, chỉ có bằng luật sư tại chức năm 1996, và chưa từng hành nghề luật sư ngày nào) và Nguyễn Văn Minh xuống làm chủ tịch LĐLSVN. Ông Trừng cũng không muốn bầu cử theo lối chỉ dùng 91 luật sư đại diện 64 tỉnh thành, vì bầu theo kiểu này thì kể như ông Anh và ông Minh (các con gà của Bộ Tư Pháp) nắm chắc phần thắng cử.

Thành ủy Tp HCM tức giận quá nên đã họp và khai trừ ông Nguyễn Đăng Trừng ra khỏi đảng. hôm 30-7-2014.

Về Giáo Dục đại học thì đảng cũng muốn giành phần chỉ đạo. Hơn 247 trường đại học tại VN phải nằm dưới sự chỉ đạo của 1 cơ quan chủ quản là Bộ Giáo Dục và Đào Tạo.  Hiện nay Bộ Giáo Dục (hay đảng csvn) bắt buộc mỗi sinh viên phải học chính trị 25% trong tổng số thời gian thì sinh viên ấy mới được ra trường. Bộ Giáo Dục cũng bắt sinh viên học theo chương trình do họ biên soạn.  Giáo sư và sinh viên phản đối cũng không làm gì được. Rất nhiều giáo sư trong và ngoài nước đều muốn đại học phải có quyền tự trị. Theo các giáo sư, đại học muốn cho sinh viên học môn học  thì do trường đại học quyết định chứ không phải Bộ Giáo Dục quyết định như hiện nay.

[Trích] Bài viết về “tự trị đại học” (autonomie universitaire) cách đây gần 7 năm, đăng trên báo trong nước. Trong vụ án của tôi 5 năm trước, bài này đã bị xem là một trong những “tài liệu lật đổ nhà nước”! (FB Lê Công Định)

TÌM NỀN ĐẠI HỌC ĐẲNG CẤP QUỐC TẾ

Luật sư Lê Công Định
Sài Gòn Tiếp Thị ngày 15/08/2007

Tin tức Viện đại học Harvard hứa hẹn giúp đỡ Việt Nam thành lập một đại học đẳng cấp quốc tế làm nhiều người chú ý vì đó là mơ ước từ lâu của các bậc phụ huynh và những nhà giáo tâm huyết với sự nghiệp giáo dục quốc gia và cũng là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ hiện nay.

Tuy nhiên, dù các vị giáo sư khả kính và thành tâm của Harvard sẵn sàng chuyển giao tất cả “công nghệ đại học” của Harvard nói riêng và Hoa Kỳ nói chung, hoặc lắp đặt một “cỗ máy đại học” theo tiêu chuẩn Mỹ tại một nơi nào đó ở Việt Nam, thì cũng không thể ngủ một giấc mở mắt ra là thấy ngay bức tranh tươi sáng của đại học Việt Nam. Không thể nghĩ một cách đơn giản rằng với một đại học đẳng cấp quốc tế như vậy, hình ảnh nền giáo dục Việt Nam nói chung và đào tạo đại học nói riêng sẽ sớm được cải thiện.

Những nước từng có trình độ phát triển tương đồng với Việt Nam hơn 30 năm trước đây đã không đi theo con đường như vậy, tức là nhờ vả một viện đại học Âu – Mỹ lừng danh giúp đỡ. Cách làm của họ là ưu tiên xây dựng một nền tảng vững chắc chung cho toàn bộ hệ thống đại học trước. Sau đó thành lập một số đại học hàng đầu, những định chế giáo dục mũi nhọn riêng biệt này đến lượt mình sẽ giúp tạo sức bật mới cho cả hệ thống đào tạo đại học. Nói cách khác, họ chú trọng xây dựng nền móng trước vì nếu nền nhà chưa vững chắc, thì khoan nói đến ngôi biệt thự lộng lẫy.

Việc xây dựng ngay một đại học đẳng cấp quốc tế vào lúc này có nhiều điểm tương đồng với câu chuyện về vụ cháy khu siêu thị vài năm trước đây. Xe chữa cháy khổng lồ nhập từ Mỹ đã không thể vận hành trên đường phố chật hẹp của Sài Gòn để phát huy công dụng. Và kết quả đám cháy… vẫn cứ cháy! Hệ thống đại học Việt Nam nói chung cần được “nâng cấp” trước khi nghĩ đến sự hỗ trợ của Harvard hay bất cứ đại học danh tiếng nào.

Điều đầu tiên cần phải làm là thực thi ngay chính sách tự trị đại học (autonomie universitaire). Nhiều người thận trọng đang cố dùng khái niệm “tự chủ” nhẹ nhàng hơn để thay thế từ “tự trị” có thể gây hiểu lầm tai hại cho ý tưởng tách đại học khỏi sự can thiệp của bộ máy công quyền. Cho đến nay và trong tương lai gần, nhà nước vẫn và sẽ tiếp tục duy trì sự kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của các đại học, từ tổ chức thi tuyển sinh đến hoạch định chương trình đào tạo. Nếu đại học không tự trị, thì mãi mãi vẫn chỉ là trường trung học phổ thông cấp bốn thuần tuý.

Mỗi đại học phải có chủ trương đào tạo riêng biệt để các thế hệ giáo sư và sinh viên khác nhau cùng duy trì và bồi đắp nên bằng niềm tự hào chung của họ. Nhà nước chỉ nên đóng vai trò hoạch định chính sách đào tạo ở tầm vóc quốc gia, chứ không can thiệp vào chương trình và giáo trình giảng dạy riêng của từng đại học và giáo sư. Thật nguy hại khi sinh viên tốt nghiệp là những robot cùng tư duy như nhau. Giáo dục khác với sản xuất… bánh trung thu, vốn cho ra lò những sản phẩm có hình dạng và kích thước bằng nhau. Đại học là nơi đào tạo nhân tài cho quốc gia, do vậy cần tôn trọng sự đa dạng, không rập khuôn.

Đại học cũng khác với thánh đường, không thể có cái gọi là “quan điểm chính thống” và đối nghịch lại là “ngụy” như sự phân biệt giữa chính thống giáo và tà giáo. Giảng đường là nơi các luồng tư tưởng khác biệt va chạm nhau để đạt đến chân lý một cách khoa học.

Sự thiếu vắng tinh thần tự trị sẽ khiến hệ thống đại học Việt Nam mỗi lúc một yếu kém hơn dù cho các quan chức ngành giáo dục cứ loay hoay hết giải pháp này đến giải pháp khác nhằm tìm màu sắc sống động hơn trang điểm cho gương mặt buồn bã của nền giáo dục nước nhà.

Xây dựng một đại học đẳng cấp quốc tế chắc chắn không phải là cách thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay, bởi lẽ đó là giải pháp cải lương, cố né tránh giải quyết nguyên nhân yếu kém nội tại và ngần ngại cải cách mạnh mẽ hơn bằng cách trao quyền tự trị cho các đại học.

Kinh nghiệm cải cách giáo dục ở các quốc gia láng giềng như Singapore hay Thái Lan cho thấy National University of Singapore (NUS) và Chulalongkorn University không phải là hai “cỗ máy đại học” theo tiêu chuẩn Mỹ do Harvard lắp đặt tại những quốc gia này, song đó vẫn là hai đại học danh tiếng hàng đầu tại châu Á ngày nay.

—————–

Sự thất bại của giáo dục đại học VN

6-8-2014

.
Nguyễn Văn Tuấn
.
.

Giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, có lẽ là đề tài bàn luận muôn thuở. Ở VN, người ta bàn về vấn đề giáo dục đại học từ rất lâu, từ mô hình tổ chức đến phương pháp giảng dạy, và giảng viên & giáo sư. Không phải như thời trước 1975 ở miền Nam, đại học là những trung tâm dành cho giới tinh hoa của đất nước, thường chỉ tồn tại ở thành phố lớn.

Thời tôi còn đi học, chỉ có một tỉ lệ nhỏ tốt nghiệp trung học, và chỉ 10%(?) trong số tốt nghiệp trung học vào được đại học. Nói cách khác, đại học ngày đó thu hút học sinh tinh hoa của tinh hoa. Còn ngày nay đại học mọc lên từ làng xã ra thành phố. Ai cũng tốt nghiệp trung học, thì phải tìm nơi cho họ học đại học. Có thể nói VN đang trải qua một phong trào “phổ thông hoá” đại học. Hiện nay, VN có 207 trường đại học được công nhận, và con số này vẫn còn tăng. Công chúng phải phải đặt câu hỏi về vai trò của đại học vì công chúng là người gián tiếp nuôi đại học qua tiền thuế.

Có lẽ câu hỏi cơ bản đặt ra là: giáo dục đại học tồn tại để làm gì? Câu hỏi này cũng là một cách định hình và phân biệt giữa đại học và cao đẳng dạy nghề. Trong một bài viết cách đây 4-5 năm gì đó, tôi có phát biểu rằng trong một xã hội hiện đại, giáo dục bậc đại học có bốn chức năng chính:

(a) đáp ứng nhu cầu tri thức của công chúng và giúp công chúng tự khai thác tiềm năng của mình và cống hiến lại cho xã hội;

(b) sáng tạo ra tri thức mới qua nghiên cứu khoa học, và chuyển giao những tri thức này đến xã hội;

(c) cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, cần thiết cho sự phát triển của một nền kinh tế hiện đại; và

(d) vận hành như là một trung tâm văn hoá, với chức năng khai hóa xã hội, hướng dẫn dư luận, cố vấn về đường lối và chính sách cho nhà nước.

Nếu nhìn chức năng của đại học theo cái nhìn đó và đối chiếu với thực tế, tôi nghĩ đại học VN thất bại gần hết. Tôi sẽ giải thích tại sao, còn nguyên nhân thì sẽ bàn trong một dịp khác.

Đại học VN hiện nay vẫn tồn tại như là một ốc đảo, thiếu sự tương tác với công chúng, xã hội, và kĩ nghệ. Ai đã từng ghé thăm và làm việc các đại học VN, dù là đại học “hoành tráng” nhất, sẽ thấy rất rõ đó là những công sở, với cổng kính tường cao, và giờ mở cửa y như một cơ quan hành chính của Nhà nước. Thư viện thì hầu như chẳng có sách để đọc và tham khảo, mà hình như nhà trường cũng chẳng quan tâm đến thư viện (do thiếu ngân sách). Người dân rất khó tiếp cận đại học, và không có hi vọng gì để được vào đọc sách trong thư viện. Ngược lại, các đại học phương Tây là những thiết chế của cộng đồng, của người dân, ai cũng có thể ghé qua và có thể tham gia những hội thảo dành cho công chúng. Người dân cảm thấy tự hào đó là một cơ sở khoa học và văn hoá của cộng đồng mà họ đóng góp tạo dựng nên.

Khả năng sáng tạo ra tri thức mới của đại học VN cũng không đáng kể. Một thước đo về đóng góp vào tri thức khoa học là số công trình nghiên cứu trên các tập san quốc tế. Trong tổng số bài báo khoa học từ VN trên các tập san quốc tế (hiện nay ~2300 bài), các đại học đóng góp chưa đến 50%. Thật ra, trong số hơn 200 đại học, chỉ có khoảng 20 đại học là có đóng góp vào công bố quốc tế, và cũng chỉ tập trung các trường lớn. Những trường nhỏ và mới như Tôn Đức Thắng, ĐH Quốc tế, ĐH Nha Trang, ĐH Đồng Tháp, v.v. cũng có đóng góp khiêm tốn (mỗi trường đóng góp từ 5-20 bài mỗi năm). Tổng số bài báo khoa học từ tất cả các đại học VN còn thấp hơn 1 đại học của Thái Lan (như Chiang Mai hay Chulalongkorn). Tổng số bài báo khoa học từ VN chưa bằng phân nửa số bài báo của một đại học bên Singapore! Về sáng tạo, các đại học VN cũng chẳng có đăng kí bằng sáng chế quốc tế. Con số là 0. Nói chung, nghiên cứu khoa học và khả năng sáng tạo của các đại học VN chưa đáng kể. Ở đây, chúng ta chưa bàn nguyên nhân, chỉ nêu sự thật.

Những sinh viên mà đại học VN đào tạo khó tìm được việc vì không đáp ứng nhu cầu của giới kĩ nghệ. Ngay cả những người tìm được việc vẫn phải cần đào tạo lại. Một viên chức người Việt thuộc Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) nhận xét: “Hệ thống GD-ĐT [giáo dục và đào tạo] lâu nay của Việt Nam còn bất cập. Tỉ lệ người được đào tạo ra đạt tiêu chuẩn quốc tế là rất ít.” Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở trong nước, hàng năm có khoảng 20.000 sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng. Trong số này, chỉ có 50% sinh viên tốt nghiệp kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp; và trong số tìm được việc, chỉ có 30% tìm được việc đúng ngành nghề. Ngay cả những sinh viên đã tìm được việc làm, họ đều phải được huấn luyện lại, nhất là ở các công ti ngoại quốc. Trong nhiều công ti liên doanh với Việt Nam, như Intel chẳng hạn, hầu hết sinh viên Việt Nam đều phải được đào tạo lại cả về chuyên môn lẫn kĩ năng giao tiếp. Do đó, đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam.

Nhưng điều này có lẽ không ngạc nhiên, vì đầu vào còn khá thấp. Theo một nghiên cứu về kĩ năng tiếng Việt trong các sinh viên khoa ngữ văn năm 1997-1998 tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, trong số 752 sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ tư (những cử nhân văn chương tương lai), chỉ có 45% đạt yêu cầu về chính tả và 26% đạt yêu cầu về cú pháp. Do đó, không ngạc nhiên khi đầu ra cũng thấp. Trong một cuộc hội thảo với chủ đề “Toán, lí, hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” trước đây vài năm, một đại biểu của Hội Toán học Việt Nam đánh giá trình độ sinh viên tốt nghiệp trong nước như sau: “Có thể nói không quá đáng rằng, trình độ đại học hiện nay chỉ bằng đại học đại cương (hai năm đầu của đại học nước ngoài), cao học bằng đại học, và phó tiến sĩ chỉ bằng cao học”.

Đại học VN khó trở thành một trung tâm văn hoá. Chương trình giảng dạy (nhất là các môn khoa học xã hội và nhân văn) đều chịu dưới sự kiểm soát của một cơ chế vô hình nào đó. Một báo cáo của chuyên gia nước ngoài nhận xét rằng “các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn.” Vụ Nhã Thuyên vừa qua là một ví dụ tiêu biểu về bóp chết tự do học thuật. Thiếu tự do học thuật làm cho các đại học VN không thể nào hoàn thành sứ mệnh khai hóa xã hội.

Nói tóm lại các đại học VN đã thất bại trong việc thực hiện những chức năng của một đại học hiện đại. Nếu một đại học mà chỉ đào tạo và không quan tâm hay không hoàn có những hoạt động liên quan đến sáng tạo tri thức mới và đóng vai trò trung tâm văn hoá, thì có lẽ nên xem đó là trường cao đẳng. Mà, quả vậy, có thể nói không ngoa rằng, chiếu theo những tiêu chuẩn học thuật nghiêm túc, phần lớn các đại học VN chỉ là các trường cao đẳng chứ không phải đại học đúng nghĩa.

Sự thất bại này là tiền đề để suy nghĩ về việc sắp xếp lại hệ thống đại học – cao đẳng. Theo tôi, trước hết phải phân tầng các đại học thành 3 nhóm: nhóm elite, nhóm đào tạo, và nhóm địa phương. Nhóm elite gồm những đại học có thể tự chứng minh đạt được 4 chức năng tôi đề cập trên đây, đặc biệt là nghiên cứu koa học. Nhóm đào tạo không cần ưu tiên làm nghiên cứu khoa học mà chỉ tập trung đào tạo chuyên gia có phẩm chất chuyên môn tốt. Tôi nghĩ đến nhóm này như là những “college of advanced education” (CAE) của Úc thời thập niên 1980-1990. Còn nhóm “địa phương” là những đại học do địa phương quản lí, họ cũng đào tạo và ở mức độ khiêm tốn làm nghiên cứu khoa học, nhưng chức năng của họ là phục vụ phát triển kinh tế – xã hội – văn hoá của địa phương là chính. Dĩ nhiên, không ai ngăn cản một CAE hay đại học địa phương không vươn tầm trở thành một đại học elite, nhưng tạm thời phải có phân tầng chứ không thể theo chủ nghĩa bình quân được.

Tôi nghĩ sự thất bại của đại học VN có nguồn từ sự lẫn lộn giữa đại học và cao đẳng dạy nghề. Đại học là một thiết chế dành cho những “learned people” (tạm xem là học giả), nó không chỉ đơn thuần là nơi đào tạo chuyên gia kĩ thuật, càng không đơn giản là nơi dạy nghề. Nếu chỉ đào tạo chuyên gia thì nên xem đó là viện công nghệ. Đại học theo cái nhìn của tôi không thể có những môn học vốn thuộc sở trường của các cơ sở dạy nghề như “hospitality”, du lịch, nhà bếp, tiếp tân. Một đại học đúng nghĩa theo tôi phải có những môn học mà phương Tây gọi chung là liberal studies như nghệ thuật, ngôn ngữ cổ và kim, văn hoá, văn học, v.v. hay những tri thức phổ quát. Sinh viên y không chỉ học y học mà còn phải học các môn học liberal studies. Nhưng ở VN, người ta lẫn lộn giữa giáo dục đại học, đào tạo chuyên môn, và cao đẳng. Điều này dẫn đến những tranh cãi có khi vô bổ về vai trò của “đại học”, và làm cho nền giáo dục đại học thật sự bị thất bại trong vai trò đáp ứng nhu cầu tri thức và văn hoá của người dân, thất bại trong sáng tạo ra tri thức mới, và thất bại trong việc đóng góp cho nền kinh tế quốc dân.

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »