Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu, 2014

►Thua Trung Quốc trên mặt trận thông tin?

Posted by hoangtran204 trên 14/06/2014

Thua Trung Quốc trên mặt trận thông tin?

13-6-2014

Nguyễn Văn Tuấn

Nhiều khi đọc tin tức từ VN tôi cảm thấy bức bối, khó chịu và bất lực. Trong khi VN đang bàn về có nên kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, thì họ đã làm trước ta.

Trong khi các quan chức ngoại giao bận rộn họp báo ở Hà Nội thì ở bên Mĩ họ đã lên đài CNN xuyên tạc ta.

Nay Bộ ngoại giao Trung Quốc còn đệ trình lên LHQ rằng VN khiêu khích họ. Họ toàn nói ngược, nhưng nói trước VN.

Những bản tin như thế làm tôi bực mình vì chẳng biết các quan chức VN ở đâu mà không “phản công” kịp thời, và để cho Tàu làm trước và tự tung tự tác như thế. Tôi tự tin rằng nếu mình trong vai trò có trách nhiệm mình sẽ làm hết mình để huy động chuyên gia hay chính mình phản bác từng điểm một của Tàu và tận dụng mọi thời cơ và thời gian. Nhưng mình chẳng có vai trò gì, mà chỉ là người xem từ xa, và do đó cảm thấy bất lực.

Thật ra, VN cũng thua Trung Quốc trên mặt trận khoa học. Trên các tập san khoa học quốc tế, tính đến nay có khoảng 50 bài nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa. Trong số này phân nửa là xuất phát từ Trung Quốc. Việt Nam chỉ có 3 công trình liên quan, và phần lớn chỉ từ Ts Nguyễn Hồng Thao.

Tôi tự hỏi mấy người làm về khoa học xã hội trong Viện KHXH ở đâu và làm gì trong mấy chục năm qua? Rất có thể thời gian qua, họ không được quan tâm đến vấn đề này thì cấp trên không cho phép vì đảng vẫn còn “nồng ấm” với Tàu. Cũng có thể họ có quan tâm nhưng vì chưa làm quen với văn hoá công bố quốc tế và văn hoá khoa học, nên tiếng nói từ VN còn rất hạn chế. Nhưng trong học thuật, chứng từ rất quan trọng, và bài báo khoa học là chứng từ. Thành ra, khi xem xét chứng cứ, giới học thuật sẽ nghiêng về Trung Quốc hơn là VN.

Tôi nghĩ vấn đề Biển Đông là rất hệ trọng, đòi hỏi phải có sự can thiệp và tiếng nói của cấp cao nhất của Nhà nước. Ấy thế mà các lãnh đạo, ngoại trừ thủ tướng, đều im lặng. Người Tây phương có câu “im lặng đáng sợ” rất thích hợp trong bối cảnh hiện nay. Trong không khí im lặng đáng sợ đó thì có dấu hiệu đùn đẩy. Ngư dân “được” khuyến khích ra vùng biển tranh chấp để hứng chịu những cú húc của Trung Quốc, và thậm chí chịu chết. Nhà nước không kiện Trung Quốc nhưng đùn đẩy việc làm đó cho… ngư dân! Bao nhiêu thiết bị hiện đại và đắc tiền không phát hiện Trung Quốc đang xây công trình ở Gạc Ma, nhưng ngư dân phát hiện và… tố giác! Người bình thường như chúng ta đọc những tin đó còn phì cười, huống chi là Trung Quốc. Nếu muốn “chơi game” thì cũng nên chọn cách chơi cho sòng phẳng và chính danh, chứ cứ núp ló như thế thì còn gì là thể diện quốc gia. Trung Quốc chúng nó “chơi game” cấp thấp, chẳng lẽ VN cũng thấp như chúng hay sao?

Trong khi chính quyền tỏ thái độ nhũn nhặn, khiêm cung và núp ló với kẻ thù (có thể xem Trung Quốc là kẻ thù), thì trong nước người đấu tranh chống kẻ thù một cách ôn hòa lại bị sách nhiễu. Đọc lá thư của thi sĩ Đỗ Trung Quân và thư trả lời của Nhà văn Nguyên Ngọc tôi rất sốc. Tôi không ngờ một người hiền lành như ĐTQ mà bị an ninh giam lỏng như anh mô tả. Đọc thư của Nhà văn Nguyên Ngọc tôi mới biết những ai kí tên vào Văn đoàn Độc lập Việt Nam đều bị — không ít thì nhiều — sách nhiễu. Tại sao lại đối xử với người dân mình một cách thù hằn như thế, trong khi với kẻ thù thì lại tỏ qua quá nhẫn nhịn và khiêm cung?

VN đang thua Trung Quốc trên mặt trận thông tin, và đó là sự thật. Chúng ta thua không phải vì chúng ta bất tài hay thiếu lẽ phải, mà vì những qui trình mang tính thiết chế giới hạn khả năng ứng phó của các quan chức và giới khoa học. Trong môi trường phải chờ “ý kiến cấp trên” thì việc phản bác quá chậm trễ và chẳng có tác dụng gì. Trong môi trường mà quan chức dè dặt và sợ hãi cái ghế của mình thì im lặng có lẽ là lựa chọn duy nhất của họ. Nếu trong môi trường tự do học thuật và tự do tư tưởng, mỗi khi có quan điểm sai trái và bất lợi cho VN, các học giả ở ngoài có thể phản bác lập tức. Do đó, để không thua Trung Quốc trong mặt trận thông tin, cần phải tháo gỡ những cái gọi là “chờ ý kiến cấp trên” cho giới học thuật, và trả tự do cho các văn nghệ sĩ.

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Trung Quốc tung tài liệu về HS và TS lên báo và tiết lộ bọn bán nước cầu vinh

Posted by hoangtran204 trên 14/06/2014

Đảng và nhà nước trả lời sao đây khi tờ   (Globaltimes) Hoàn Cầu Thời Báo của Trung Quốc đưa các bằng cớ bọn bán chủ quyền biển đảo của VN để đổi lấy vũ khí và viện trợ? 

Hoàn Cầu Thời Báo sẽ tiếp tục đưa thêm các tài liệu bí mật của bọn bán biển đảo cho TQ để lấy vũ khĩ, luông thực đánh chiếm Miền Nam Việt Nam 1954-1975.

Dưới đây là các tài liệu mà TQ đã gởi lên Liên Hiệp Quốc ngày 9-6-2014. 

Trung Cộng đã gởi đơn lên TỔNG THƯ KÝ LIÊN HIỆP QUỐC để khẳng định chủ quyền của HOÀNG SA. Lá đơn có đính kèm 5 tài liệu chứng minh chủ quyền:
.
Tài liệu đính kèm 1/5: Bản Đồ Những Địa Điểm Khoan Dầu của công ty Trung Quốc
Tài liệu đính kèm 2/5: Bản Tuyên Bố của Trung Cộng về Chủ quyền Lãnh hải ngày 4/9/1958.
.
Tài liệu đính kèm 3/5: Công Hàm ngày 14/9/1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi trả lời bản Tuyên Bố của Thủ Tướng Chu Ân Lai
.
Tài liệu đính kèm 4/5: Bìa và trang 19 của “TẬP BẢN ĐỒ THẾ GIỚI” của Cục Đo Đạc và Bản Đồ thuộc Phủ Thủ Tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hà Nội, 1972.
.
Annex 5/5: Bản chụp bài học “NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA” trong cuốn “ĐỊA LÝ – LỚP CHÍN PHỔ THÔNG – TOÀN TẬP” của NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1974
BẢN ĐỒ NHỮNG địa điểm khoan dầu của công ty Trung Quốc. Hai vị trí khoan dầu cách bờ biển Việt Nam từ  133 – 156 HẢI LÝ
TUYÊN NGÔN 4-9-1958 CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG QUỐC VEÈ LANH HẢI của Trung Quốc
CÔNG HÀM trả lời CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG GỬI THỦ TƯỚNG CHU ÂN LAI NGÀY 14/9/1958
BÌA CỦA “TẬP BẢN ĐỒ THẾ GIỚI” DO CỤC ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ, THUỘC PHỦ THỦ TƯỚNG NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, HÀ NỘI, 1972.
TRANG 19 CỦA “TẬP BẢN ĐỒ THẾ GIỚI” DO CỤC ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ, THUỘC PHỦ THỦ TƯỚNG NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, HÀ NỘI, 1972.
Tài Liệu đính kèm 5/5: BÌA CỦA CUỐN “ĐỊA LÝ – LỚP CHÍN PHỔ THÔNG – TOÀN TẬP” CỦA NXB GIÁO DỤC, HÀ NỘI, 1974; và 2 trang bài học 
Bản chụp 2 trang bài học “NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA” trong cuốn “ĐỊA LÝ – LỚP CHÍN PHỔ THÔNG – TOÀN TẬP” của NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1974
Thông Tấn Xã AP đưa tin:

China takes dispute with Vietnam to UN  (9-6-2014)

Trung Quốc mang vụ tranh chấp với Việt Nam ra Liên Hiệp Quốc. Phó Đại sứ của TQ ông Wang Min ddã gởi giấy tờ (và 5 tài liệu đính kèm nới trên) tới LHQ, và nhờ Tổng Thư Ký LHQ gởi đến cho 193 nước hội viên của LHQ. 

Trung Quốc đã đưa tranh cãi với Việt Nam xung quanh việc họ đặt giàn khoan trên Biển Đông ra Liên Hiệp Quốc hôm thứ Hai ngày 9/6, hãng tin Mỹ AP tường thuật từ trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York.

Theo đó, Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội ‘xâm phạm chủ quyền’ của họ và ‘cản trở một cách phi pháp’ hoạt động thăm dò của công ty dầu khí Trung Quốc.

Phó Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc Vương Minh đã gửi ‘thư bày tỏ lập trường’ của họ về hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 trên Biển Đông đến Tổng thư ký Ban Ki-moon hôm 9/6 và yêu cầu người đứng đầu tổ chức này cho lưu hành đến tất cả 193 quốc gia thành viên của Đại hội đồng.

Trong văn bản này, Trung Quốc nói đã có bốn công dân Trung Quốc ‘bị giết hại dã man’ và hơn 300 người bị thương trong các cuộc bạo loạn ở Việt Nam.

Lá thư cho biết Công ty dầu khí Hải dương quốc gia Trung Quốc đã có các hoạt động thăm dò địa chất ở khu vực này trong vòng 10 năm qua và việc đưa giàn khoan ra đây chỉ là ‘sự tiếp tục công việc thăm dò thường xuyên’ và giàn khoan này ‘nằm hoàn toàn trong phạm vi chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc’.

Bắc Kinh nói Hà Nội đã cản trở hoạt động của giàn khoan ‘một cách phi pháp và cưỡng ép’ với việc điều tàu có vũ trang ra khu vực và đâm tàu Trung Quốc.

“Việt Nam cũng triển khai người nhái và các thiết bị hoạt động dưới nước ra vùng biển này và thả xuống biển rất nhiều chướng ngại vật bao gồm lưới cá và các vật trôi nổi,” lá thư viết.

Văn bản lên án các hành động của Việt Nam ‘đã xâm phạm chủ quyền Trung Quốc’, ‘đe dọa nghiêm trọng đến các công dân Trung Quốc đang làm việc trên giàn khoan và vi phạm luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển’.

Trung Quốc cũng đưa ra nhiều dẫn chứng chứng minh quần đảo Hoàng Sa mà họ gọi là Tây Sa ‘là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc mà không có bất kỳ tranh chấp nào’.

AP đã tìm cách gọi cho phái bộ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc và phát ngôn nhân của nước này để hỏi về phản ứng nhưng không có ai trả lời.

Trước đó, phái bộ Việt Nam tại Liên Hợp Quốc đã gửi thư cùng công hàm lên Tổng Thư ký Ban Ki-moon để phản đối giàn khoan và các tàu hộ tống của Trung Quốc ‘trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam’.

Nguồn: vietnamlambao.blogspot.com.au
—————————————–

 

(*) Nhận thấy đây là vấn đề nghiêm trọng, Thùy Trang xin dịch lại về TUYÊN BỐ mới nhất ngày 9/6/2014 của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, cùng những hình ảnh, tài liệu mà phía Trung Quốc đưa ra.
http://www.chinesetoday.com/big/article/885702 ). Nguyên văn dưới đây:
.
LẬP TRƯỜNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIÀN KHOAN “981” và KHIÊU KHÍCH của Việt NamThứ nhất, công việc giàn khoan “981”Ngày 2/5/2014, Giàn khoan doanh nghiệp Trung Quốc thực hiện các hoạt động trong vùng tiếp giáp Trung Quốc Hoàng Sa (bản đồ vị trí công việc xem phụ lục 1), nhằm thăm dò các nguồn tài nguyên dầu khí. Hiện nay, giai đoạn đầu tiên đã được hoàn thành, giai đoạn thứ hai bắt đầu vào ngày 27. Trước và sau khi hoạt động để xây dựng là 17 hải lý từ vùng biển quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Hoàng Sa trong đường cơ sở lãnh hải Trung Quốc cách bờ biển đất liền Việt Nam khoảng 133 đến 156 dặm biển.

Trong 10 năm qua, doanh nghiệp Trung Quốc đã được tiến hành hoạt động thăm dò trong khu vực có liên quan, bao gồm khảo sát địa chấn và các hoạt động khác trong vùng. Tất cả công việc của “981” tiếp tục khoan thăm dò là một quá trình thường xuyên hoàn toàn trong chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc.

Thứ hai, sự khiêu khích của Việt Nam

Sau khi Trung Quốc bắt đầu hoạt động, Việt Nam đã triển khai một số lượng lớn các tàu, bao gồm tàu, trong đó có vũ trang, hoạt động can thiệp va chạm mạnh mẽ trái pháp luật Trung Quốc , trong lĩnh vực thực hiện nhiệm vụ để bảo vệ an ninh, các tàu hộ tống của chính phủ Trung Quốc đã chính thức được gửi đến bảo vệ. Việt Nam đã cho “thợ lặn” đặt rất nhiều lưới, mảnh vỡ trôi nổi và các vật cản khác.

Lúc 17:00 ngày 07 tháng sáu, phía Việt Nam đã điều lên đến 63 tàu, đổ xô vào khu vực cảnh báo của Trung Quốc, va chạm đạt 1.416 lần vào các tàu của Trung Quốc.

Các hành vi trên của Việt nam đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Trung Quốc, chủ quyền và quyền tài phán Trung Quốc, gây nguy hiểm nghiêm trọng sự an toàn của nhân viên Trung Quốc, và giàn khoan “981”, trong đó đã vi phạm nghiêm trọng ” Hiến chương Liên Hợp Quốc,” 1982″ qui ước luật pháp quốc tế Liên Hợp Quốc về Luật biển “năm 1988.” để ngăn chặn bất hợp pháp an toàn hàng hải “và” vi phạm  an toàn đặt trên nền tảng cố định của Nghị định, qui định về thềm lục địa là hành vi bất hợp pháp “, bao gồm, phá hoại tự do hàng hải và an ninh trong vùng biển gây phương hại đến hòa bình và ổn định trong khu vực.

Việt Nam đã can thiệp mạnh mẽ bất hợp pháp trong các hoạt động bình thường trên biển của các doanh nghiệp Trung Quốc. Việt Nam đã làm ngơ các cuộc biểu tình chống các doanh nghiệp Trung Quốc trong nước. Vào giữa tháng 5, hàng ngàn tội phạm Việt Nam đã đốt phá hoại các doanh nghiệp Trung Quốc, tàn bạo giết chết bốn người và làm bị thương hơn 300 công dân Trung Quốc tại Việt Nam, gây ra thiệt hại tài sản đáng kể.

Thứ ba, phản ứng của Trung Quốc

Vấn đề phân giới cắm mốc hàng hải của Trung Quốc giữa quần đảo Hoàng Sa và bờ biển lục địa của Việt Nam. Cả hai bên theo quy định theo công ước 1982, “Công ước của Liên Hợp Quốc” vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Trong nguyên tắc phân định, khu vực này có thể không trở thành vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Hai bên vẫn chưa được chứng minh được trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa vùng biển phân định ranh giới của nước nào.

Trên hành động khiêu khích của Việt Nam trên biển, Trung Quốc đã kiềm chế, duy trì một mức độ cao , đề phòng cần thiết, gửi tàu đến hiện trường để bảo vệ hoạt động an toàn công cộng, bảo vệ có hiệu quả các hoạt động sản xuất ra nước ngoài và an toàn hàng hải. Trong khi đó, kể từ 2 tháng nay, Trung Quốc thông báo cho Việt nam hơn 30 lần, yêu cầu họ chấm dứt các hoạt động can thiệp bất hợp pháp. Đáng tiếc, là sự can thiệp bất hợp pháp của Việt Nam vào hoạt động của Trung Quốc vẫn tiếp tục.

04 Tháng Chín 1958 “Cộng hòa Nhân dân Chính phủ Trung Quốc về các báo cáo lãnh hải” (Nguồn: Bộ Ngoại giao trang web)

Thứ tư, quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ Trung Quốc

(A) quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc, không có tranh cãi.

Trung Quốc lần đầu tiên phát hiện ra, và hoạt động phát triển sớm nhất, thẩm quyền đầu tiên quần đảo Hoàng Sa. Thời nhà Tống Trung Quốc (960-1126 AD) Chính phủ đã đặt  quần đảo Hoàng Sa  trong thẩm quyền của mình, và gửi hải quân đi tuần tra biển. Năm 1909, chính phủ nhà Thanh của Trung Quốc ở Quảng Đông đã gửi Đô đốc Lee Jun đi kiểm tra quân đội của ông quần đảo Hoàng Sa, và treo cờ Gun trong đảo Yongxing, tuyên bố chủ quyền. Năm 1911, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc công bố vùng biển gần Hoàng Sa Bluff County đã được đặt dưới thẩm quyền của đảo Hải Nam.

Trong Thế chiến II, Nhật Bản xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa. Theo một loạt các văn bản quốc tế của chính phủ Trung Quốc trong tháng 11 năm 1946, sau khi Nhật đầu hàng vào năm 1945, đã tổ chức, phân công cán bộ cấp cao, nhân buổi lễ tiếp nhận tàu chiến đi quần đảo Hoàng Sa, và dựng lên một tượng đài để tưởng niệm các binh sĩ. Nhật đã đóng quân chiếm đóng bất hợp pháp đặt Quần đảo Hoàng Sa cho nước ngoài.
 Quần đảo Hoàng Sa thuộc thẩm quyền của chính phủ Trung Quốc.

Năm 1959, chính phủ Trung Quốc thiết lập cơ quan quản lý “Hoàng Sa thuộc quần đảo Nam Sa.” Tháng 1 năm 1974, quân đội Trung Quốc đã đuổi chính quyền Sàigòn ra khỏi các đảo san hô quần đảo Hoàng Sa và Oasis Nam. ” Lãnh hải Hoàng Sa cơ sở ban hành năm 1992 Lãnh hải và Cộng hòa Nhân dân Vùng tiếp giáp của Trung Quốc” và chính phủ Trung Quốc công bố vào năm 1996 đã khẳng định Trung Quốc có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và lãnh hải. Trong năm 2012, chính phủ Trung Quốc thành lập chính quyền tỉnh thuộc Shashi đảo Yongxing trong quần đảo Hoàng Sa.

(B) trước năm 1974, chính phủ Việt Nam chưa bao giờ phủ định hay phản đối chủ quyền Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa, cả về tuyên bố chính phủ của họ, lưu ý, hoặc trong các tờ báo, bản đồ và sách giáo khoa Việt nam, được chính thức công nhận từ lãnh thổ thời cổ đại Hoàng Sa là của Trung Quốc.

Ngày 15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam Yong Wenqian gặp Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam charg Li Zhimin, long trọng nói: “Theo thông tin về phía Việt Nam, từ một quan điểm lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa . phải thuộc về lãnh thổ Trung Quốc “Bộ Ngoại giao Việt Nam đã cho Li Lu, Quyền Giám đốc Châu Á biết khía cạnh cụ thể hơn nữa , giới thiệu tại Việt Nam, cho biết:.” Trong lịch sử, Tây Sa và quần đảo Nam Sa vào đầu thời nhà Tống khi nó đã thuộc về Trung Quốc “

04 Tháng Chín 1958, chính phủ Việt Nam đã ban hành một tuyên bố (xem phụ lục 2), thông báo rằng chiều rộng lãnh hải của Trung Quốc 12 dặm, nêu rõ: “Quy định này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ, trong đó có Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa. ….. “. 06 tháng 9, tờ báo chính thức của Đảng Lao động Việt Nam “De Volkskrant” trong các văn bản của các ấn bản đầu tiên được công bố trong lãnh thổ Trung Quốc tuyên bố vùng biển của chính phủ.

14 tháng 9 1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng (xem Phụ lục 3) đã gặp Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, đã long trọng tuyên bố: “Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam công nhận và ủng hộ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, ngày 04 Tháng Chín 1958 tuyên bố về quyết định của lãnh hải “,” Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam phải tôn trọng quyết định đó. “

09 Tháng 5 năm 1965, Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã xác định, tuyên bố của chính phủ Mỹ,  quân đội Mỹ đã ban hành một tuyên bố tại Việt Nam văn bản “vùng chiến sự” cho rằng: “Tổng thống Hoa Kỳ Johnson đưa ra toàn bộ chiều rộng của biển gần bờ biển của Việt Nam với 100 hải lý, và Hoàng Sa là khu vực của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ ” là một mối đe dọa trực tiếp đến an ninh của các nước láng giềng và của đảng CSVN, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. “

Tháng 5 năm 1972 Thủ tướng Chính phủ Việt nam đã giao cho Cục đo lường vẽ bản đồ Việt nam Việt Nam với bản in “bản đồ của thế giới”, với những cái tên Trung Quốc đánh dấu quần đảo Hoàng Sa (xem Phụ lục 4). 1974 Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam lớp chín THPT, “Địa lý” trong sách giáo khoa nêu rõ “Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc,” trong một bài học (xem Phụ lục 5) đã viết: “Từ Nam Sa, quần đảo Tây Sa đến Hải Nam, đảo Đài Loan, Bành Hồ Quần đảo Zhoushan, …… các quần đảo này đã cúi hình để bảo vệ Trung Quốc đại lục tạo thành một “Vạn Lý Trường Thành”.

Chính phủ Việt Nam vi phạm các cam kết được thực hiện bởi các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc về quần đảo Hoàng Sa, vi phạm nghiêm trọng “ngược ngạo” các nguyên tắc khác của pháp luật và các chuẩn mực trong quan hệ quốc tế.

Thứ năm, xử lý đúng đắn tình hình

Trung Quốc luôn duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, thúc đẩy hợp tác và phát triển trong khu vực, mà còn là một lực lượng nhiệt tâm bảo vệ các mục đích và nguyên tắc của “Hiến chương Liên Hợp Quốc”, các chỉ tiêu cơ bản của quan hệ quốc tế và luật pháp quốc tế và nguyên tắc cơ bản. Trung Quốc không muốn nhìn thấy xung quanh mình bất kỳ tình trạng bất ổn nào xảy ra.

Trung Quốc hy vọng quan hệ Việt-Trung đang phát triển tốt, nhưng không thể từ bỏ nguyên tắc của chúng tôi. Các kênh truyền thông giữa Trung Quốc và Việt Nam không bị cản trở. Trung Quốc thuyết phục Việt Nam duy trì hòa bình và ổn định của quan hệ song phương và tôn trọng chủ quyền biển Nam của Trung Quốc, tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc.

Việt Nam ngay lập tức phải ngăn chặn các hoạt động can thiệp vào lãnh hải Trung Quốc và lập tức rút lui của tất cả các tàu và nhân viên để giảm bớt căng thẳng, hành động càng sớm càng tốt để khôi phục lại sự tĩnh lặng cho vùng biển. Trung Quốc sẽ tiếp tục nỗ lực để liên lạc với phía Việt Nam để đấu tranh xử lý đúng đắn tình hình hiện nay.

 

Trần Hoàng: Luôn mồm chụp mũ nguời nầy phản động, ngừơi kia phản động. Vậy bọn phản động nào in các tài liệu trong sách giáo khoa cho học sinh miền Bắc học? Bọn nào ký công hàm công nhận biển đảo của Việt Nam thuộc về chủ quyền của Trung Cộng?  

Sách GK cho ra năm 1974 tức phải chuẩn bị từ trước đó, 1972-1973 chả hạn, và đó rất có thể là sự chuẩn bị kín đáo của Tàu để tạo thêm cơ sở Tàu cộng sẽ đánh Hoáng Sa năm 1974, bên cạnh công hàm Phạm Văn Đồng mà Tàu cộng đã thủ túi sắn từ 1958.

Thời đó, 1972-1974, miền Bắc vô cùng khó khăn, TQ và LX phải nuôi và trang bị cho CSVN hầu như 100%, từ cái kim, sợi chỉ đến miếng calathầu đen, lương khô, súng đạn, quần áo, giầy dép… và những việc như in sách báo và SGK thường cũng do TQ và LX làm luôn gần hết.

Vậy thì khả năng sách GK Địa lý Lớp năm 1974 này do TQ in bên Quế Lâm là rất cao. Ở Quế Lâm TQ có nhà in sách tiếng Việt cho người Việt rất lớn, phục vụ các loại trường đào tạo quan trọng của VN đóng bên đó (để trốn bom đạn Mỹ) như trường Thiếu sinh quân – trường Trỗi (tướng Vịnh học ở đấy, anh vợ tôi và chú ruột tôi học ở đấy…), các loại trường cán bộ, trường đảng, trường quân sự, phụ nữ… Có lẽ đây cũng là nơi in các loại sách của T.Lan và Trần Dân Tiên cho Hồ trước đó?

Việc SGK này in ở đâu cũng dẽ tìm ra, nếu CSVN thực sự muốn tìm ra?

PCT 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 2 Comments »

►Ai đang làm khánh kiệt đất nước (phần 5)- các Tướng công an cứu Nguyễn Tấn Dũng trong vụ Vinashin như thế nào

Posted by hoangtran204 trên 13/06/2014

13-6-2014

Dương Vũ
.
.

Trả lời câu hỏi của một độc giả cho biết thêm thông tin về một số Thứ Trưởng Công An. Nay xin thông tin thêm như sau.

Đang lấy ý kiến nhưng toàn bộ thành viên Bộ Chính Trị không ai có ý kiến nào khác về việc tặng thưởng Huân Chương Quân Công hạng nhất cho Tướng Tô Lâm, Thứ Trưởng Bộ Công An. Mà thành tích đặc biệt để tặng thưởng Huân Chương Quân Công cho Tướng Tô Lâm là thành tích giải quyết vụ Vinashin và vụ Văn Giang.

Vụ Vinashin có thực sự là vụ án mà Tướng Lâm xứng đáng được tặng thưởng?

Nếu xét về mặt ý đồ và mục đích, Tướng Lâm đã hoàn thành xuất sắc đối với vụ này nhưng không phải đứng trên góc độ của công lý và sự thật mà là việc dẹp tan mọi hệ quả mà vụ án này có thể gây ra.

Vinashin là vụ án kinh tế điển hình với mô hình kinh tế nhà nước không hiệu quả. Là biểu tượng của sự phá hoại và tham nhũng của của Việt Nam.

Với thiệt hại khoảng 86 ngàn tỷ (hơn 4 tỷ USD) tại thời điểm phanh phui và đến giờ là hơn 128 ngàn tỷ (hơn 6 tỷ USD). Kẻ trực tiếp Phạm Thanh Bình cùng đồng bọn chỉ bị xử lý xử lý với tội danh liên quan đến rất ít (1000 tỷ) còn con số to đùng của sự thất thoát không được nhắc đến. Cao nhất chỉ tù có thời hạn. So với Vinalines thì thất thoát hơn rất nhiều, thế mà Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc tử hình. Phạm Thanh Bình, Trần Quang Vũ chắc vài năm nữa lại ra. Người đứng đầu Chính Phủ Nguyễn Tấn Dũng đứng trước quốc hội nói XIN LỖI một câu thế là xong.

Với thành tích dẹp như vậy, Tướng Lâm xứng đáng được tặng thưởng quá chứ?

Nhân đây, xin nhắc lại về việc vụ Vinashin bị chìm xuồng như thế nào?

Tình thế rất căng thẳng trước đại hội và sự nghiệp của Nguyễn Tấn Dũng căng thẳng vì liên quan đến Vinashin.

Khi đó, vận mệnh Nguyễn Tấn Dũng nằm trong tay trưởng ban kiểm tra trung ương Nguyễn Văn Chi. Ông Chi khi đó rất tự tin. Thậm chí còn có niềm tin có thể làm Chủ Tịch Nước vì là người miền trung.

Song, tình thế đã thay đổi bởi bàn tay của bộ sậu của Anh Ba X ở Bộ Công An.

Nguyễn Văn Hưởng sử dụng người con nuôi của mình là Hưng Tano hối lộ bà Nguyễn Thị Thủy, Phó Chủ Tịch Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, vợ Ông Chi. Chụp ảnh, quay film, ghi âm làm bằng chứng.

Đang cuộc họp Bộ Chính Trị, Ba X dúi vào gầm bàn cho Chi bản báo cáo. Mặt Nguyễn Văn Chi tái dại. Thế cờ đảo người. Tham gia phi vụ này có Nguyễn Văn Hưởng, Tô Lâm, Phạm Minh Chính và Bùi Nam.

Nguyễn Tấn Dũng thoát hiểm. Nguyễn Văn Chi về vườn.

Hưng Tano còn được sử dụng thêm một lần nữa gần đây khi Hưng tố cáo Phúc (Bảo Việt) để đánh vào nhóm Phúc và Thắm Ocean, cũng tức là đánh vào Sinh Hùng. Phúc bị bắt. Thắm thì bị câu lưu không thể hoàn toàn tự do.

Còn trong phi vụ Văn Giang tháng 4 năm 2012, Tướng Lâm đã huy động lực lượng đông đảo tới 2000 công an phục vụ mục đích giải phóng mặt bằng cho dự án khu đô thị Ecopark mà thực chất là cướp đất của dân 3 xã Phụng Công, Cửu Cao và Xuân Quan. Nhưng có ai biết được rằng, cạnh đó, Nguyễn Văn Thông (chủ tịch Hưng Yên) đã cấp cho Tô Lâm hơn 1 ngàn hecta, rộng gấp đôi diện tích của Ecopark. Khu này đứng tên em ruột Tô Lâm là Tô Dũng. Việc sẵn sàng sử dụng lực lượng hùng hậu để đàn áp và cướp của dân nằm trong ý đồ nhiều mục đích mà Lâm và băng nhóm quan chức Hưng Yên muốn thực hiện.

Nay, Khoa béo, một đệ tử của Đại Quang và cả của Tô Lâm được đưa về làm Phó Giám Đốc Công An Hưng Yên cũng là để đảm bảo quyền lợi của Lâm ở đây.

Tô Lâm sinh năm 1957, quê Xuân Cầu, một làng của Huyện Mỹ Văn (Mỹ Hào và Văn Lâm cũ), tỉnh Hưng Yên. Sở dĩ có tên là Lâm bởi lúc đẻ Lâm là đê Văn Lâm vỡ.

Tô Lâm là con trai ông Tô Quyền, nguyên Cục Trưởng Cảnh Sát Giao Thông, nguyên giám đốc Công An Hải Hưng.

Tô Lâm thành đạt bởi sự năng động của mình hơn là lý do con trai ông Cục Trưởng.

Khi đi học từ chính trị hay ngoại ngữ, Tô Lâm luôn chọn học với các ủy viên trung ương.

Tô Lâm nhận con cháu lãnh đạo về đơn vị mình dù năng lực thế nào không quan trọng. Trước có Phan Minh Hoàn (Hoàn ty), con ông Sáu Khải. Trần Quốc Liêm, em vợ Ba X. Con trai giám đốc công an Tuyên Quang, con trai giám đốc Công An Ninh Bình, con gái giám đốc Công An Hà Nam, con trai chủ tịch Sơn La… Nhận về chỉ để làm cảnh.

Cuộc đời may mắn và thành đạt như vậy, nhưng Tô Lâm vẫn có một nỗi đau. Đó là việc, Lâm bị vợ cũ (tên Loan) bỏ để đi theo người tên Đức, nhân viên quèn ở Tổng Cục Du Lịch).

Công Lý có thể chỉ là một diễn viên hài nhưng Thiên Lý sẽ không tha thứ cho kẻ dám đàn áp những người đồng hương, những người đồng bào để cướp đất và đẩy họ vào con đường khốn khó.

Tuy không được đánh giá nhiều về độ mưu mẹo so vớ Tướng Nguyễn Văn Hưởng, nhưng Tướng Lâm khôn khéo và ít kẻ thù hơn Tướng Hưởng.

Tô Lâm còn có công, cùng với Trần Đại Quang đã không có hành động gì khi xảy ra bạo động đập phá ở Bình Dương, Đồng Nai và Hà Tĩnh ngoài việc đổ lỗi cho Việt Tân gây ra bạo loạn.

Với lực lượng an ninh hùng hậu, ko có việc gì khác ngoài đàn áp dân oan mất đất và mất tự do.

Nếu ở xã hội văn minh, Tô Lâm và Trần Đại Quang ít nhất bị cách chức cho đến bị truy tố về tội thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng.

Một đất nước thiệt hại vài tỷ đô Thủ Tướng chỉ xin lỗi, doanh nghiêp bị phá hoại lãnh đạo Bộ Công An coi như không phải việc của mình. Giặc vào tận nhà, Bộ Trưởng Quốc Phòng bảo không có gì. Dân mình kể cũng lành nhất thế giới.

Quay trở về với vụ Vinashin, phải nói tới Phạm Minh Chính và Bùi Nam, Phạm Minh Chính quê Thanh Hóa. Chính trưởng thành nhanh sau khi làm thư ký cho một người đồng hương khác là Hoàng Ngọc Nhất. Nhất ngã ngựa vụ Năm Cam nhưng Chính không sao.

Chính được Ba X đưa về Quảng Ninh còn nhằm giúp giải quyết với những vấn đề liên quan đến Trung Quốc. Chính cho Trung Quốc thuê đất lên đến 120 năm. Dâng các mỏ cho Trung Quốc.

Vợ Chính, ngoài thời gian mỗi tuần xuống Quảng Ninh một lần để “thu tô” thì có mặt ở nhà Anh Ba X, giải quyết mọi công việc hậu cần cho gia đình anh Ba X từ thông cống trở đi.

Anh Ba X đang chuẩn bị đưa Chính về lại Bộ Công An thay Trần Đại Quang sẽ làm một vị trí khác, có thể là Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn.

Khi đó sẽ là canh bạc tồi với Bùi Nam và Tô Lâm. Những ứng cử viên tiềm năng cho vị trí Bộ Trưởng Công An khi Đại Quang thay đổi.

Về phần liên quan đến Trung Quốc. Trung Quốc thuê đất dọc biên giới của 16 tỉnh.

23 trong tổng số 31 dự án nhiệt điện ở Việt Nam của Trung Quốc mà trong vòng 4 năm tới không có thiết bị thay thế. Một ngày đẹp trời, họ đồng loạt đóng điện, Việt Nam chìm trong bóng tối.

80% mỏ của Việt Nam nằm trong tay Trung Quốc. Các dự án trên 50 triệu đô, Tổng Thầu là Trung Quốc.

Phó Thủ tướng điều hành kinh tế ngành là người Trung Quốc.

Tổng điều hành an ninh quân đội, tướng một mắt Lê Đức Anh do Trung Quốc chăm sóc sức khỏe.

Việt Nam chắc còn mỗi cái tên chưa thuộc về Trung Quốc.

Về phần ngân hàng, xin nhắc lại rằng, ngoài Ngân Hàng Nông Nghiệp đã tan nát, các ngân hàng quốc doanh khác như Vietcombank, Vietinbank và Bidv đang được Nguyễn Văn Bình tẩu tán. Sau khi thâu tóm xong sẽ đến lượt Vietnam Airlines, Vinaphone, mobile phone…

Và cái chân sắp tới của Bình ruồi sẽ là Phó Thủ Tướng thay Vũ Văn Ninh. Tuy nhiên, Bình quê Phú Thọ đang chiến đấu với Bộ Trưởng Tài Chính Đinh Tiến Dũng. Dũng được Bùi Nam, dân Ninh Bình giúp đỡ đấu lại Bình trong vụ này. Bình tố Dũng để cho nước ngoài làm xổ số điện toán. Đầu tư 200 triệu đô nhưng năm đầu tiên đã thu được 600 triệu, lãi 400 triệu đô và các năm sau lãi khủng hơn nhiều. Đây là lĩnh vực trong nước làm được, cần gì cho nước ngoài vào.

Nếu có điều kiện, chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin về những nhân vật tiếp theo.

Dương Vũ

 

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Thoát Trung -Phò 3X- phải coi chừng một sai lầm bi đát!

Posted by hoangtran204 trên 13/06/2014

Thoát Trung, nhưng coi chừng một sai lầm bi đát!

“…Nguyễn Tấn Dũng có thể không phải là người nhiệt tình nhất với chính sách phục tùng Trung Quốc nhưng cũng không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông. Muốn “thoát Trung” mà lại “phò Dũng” là rất sai, sai một cách bi đát…”

Nguyễn Gia Kiểng

Nguồn: ethongluan.org

Một tháng rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Bắc Kinh đưa giàn khoan vào vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Giàn khoan vẫn còn đó, nhưng dư luận thế giới đã ngoảnh sang những vấn đề khác. Bắc Kinh đã thành công một bước trong tiến trình bình thường hóa sự chiếm đoạt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Bước tiến này mở đường cho những hành động lấn chiếm khác.

Hành động của Bắc Kinh đáng lẽ là một sự dại dột và đã phải thất bại bẽ bàng; không những thế còn tạo cho Việt Nam một cơ hội để tái khẳng định chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa và các quyền lợi chính đáng trên Biển Đông theo qui định của luật pháp quốc tế. Trong những ngày đầu khi Trung Quốc vừa đưa giàn khoan HD-981 vào hải phận Việt Nam lập trường của các chính phủ -Hoa Kỳ, Châu Âu cũng như các nước trong khu vực Thái Bình Dương- đã đồng thanh lên án hành động của Trung Quốc như là một sự khiêu khích. Ngược lại không một quốc gia nào bênh vực Trung Quốc cả. Một cách mặc nhiên thế giới đã nhìn nhận Hoàng Sa và vùng biển chung quanh không phải là của Trung Quốc, nghĩa là của Việt Nam hay ít nhất có thể được coi là của Việt Nam.

Điều gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam phản ứng một cách mạnh mẽ, dù ôn hòa, đối với Trung Quốc và đưa vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc?

-Chắc chắn Trung Quốc sẽ xấc xược phủ nhận thẩm quyền của Tòa Án Công Pháp Quốc Tế (International Court of Justice) và cũng sẽ sử dụng quyền phủ quyết nếu Việt Nam đưa vấn đề ra Hội Đồng Bảo An. Nhưng đó là tất cả những gì mà chúng ta chờ đợi. Trung Quốc sẽ bị cô lập và lên án, chủ quyền của Việt Nam sẽ được thừa về mặt tình cảm, Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt hơn nhiều nếu tái diễn sự khiêu khích. Có mọi triển vọng là họ không dám tái diễn vì Trung Quốc vừa rất lệ thuộc vào thế giới vừa không đủ mạnh để thách thức thế giới, hơn nữa lại đang sắp đi vào một cuộc khủng hoảng lớn. Tóm lại giàn khoan của Trung Quốc sẽ rút đi sau một vài tháng chi phí tốn kém, sau khi bị lên án và khiến Việt Nam được bênh vực.

Nhưng thực tế đã không như vậy bởi vì chính quyền cộng sản Việt Nam đã không có phản ứng. Hành động xâm lược của Trung Quốc vẫn tiếp tục và không còn lôi kéo sự chú ý của thế giới nữa. Lần sau nếu tình trạng này lặp lại sự chú ý của thế giới sẽ còn ít hơn. Lẽ phải lúc đó sẽ chỉ là lý của kẻ mạnh.

Những gì chính quyền CSVN đã làm, như phổ biến một thư luân lưu tới các thành viên LHQ một tháng sau khi sư kiện khởi đầu, một vài tuyên bố nguyên tắc và một số tàu cá và cảnh sát biển tới gần hiện trường, không đáng được coi là một phản ứng. Ngay cả nếu chính quyền CSVN muốn dâng biển và đảo cho Trung Quốc trong một thỏa hiệp ngầm họ cũng khó có thể phản ứng yếu hơn.

Hành động của Trung Quốc vừa là một hành động lấn chiếm vừa là một hành động chiến tranh bởi vì họ đem theo cả hàng trăm tàu chiến và đánh phá các tàu của Việt Nam, kể cả tàu của cảnh sát biển Việt Nam. Trước một biến cố nghiêm trọng như vậy bất cứ một chính quyền nào trên thế giới cũng đã phải thông tin và giải thích đầy đủ cho nhân dân biết những gì xảy ra qua thông điệp long trọng của quốc trưởng và thủ tướng cùng với những phát biểu của các bộ trưởng và các cấp lãnh đạo chính trị để động viên toàn dân đoàn kết trong cố gắng giữ nước, đồng thời lập tức đưa vấn đề ra công pháp quốc tế.

Nhưng chúng ta đã thấy gì?

Ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn không nói gì trước hội nghị trung ương của đảng cộng sản diễn ra đúng lúc Trung Quốc đang trắng trợn xâm phạm vùng biển Việt Nam và cũng không thấy có ủy viên trung ương đảng nào tỏ ra bức xúc. Hình như đối với ông Trọng và đảng cộng sản không có vấn đề gì cả.

Về phía nhà nước cả chủ tích nước lẫn thủ tướng đều không tuyên bố gì với quốc dân. Quốc hội cũng không có phản ứng. Ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang kêu ca trong một buổi tiếp xúc với cử tri một quận rằng “anh phải rút đi chứ, nhà tôi chứ đâu phải nhà anh!”. Không khác gì một người dân oan trong số hàng triệu dân oan của chế độ. Ông chủ tịch thừa biết những tiếng kêu than này có tác dụng gì. Ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ nói trước hội nghị ASEAN một phần rất nhỏ những điều mà mọi người đều đã biết và cũng không dám kêu gọi hậu thuẫn của thế giới, sau đó cũng chỉ trả lời với ký giả nước ngoài, tại nước ngoài, rằng “không chấp nhận đánh đổi chủ quyền để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc”.Không một cấp lãnh đạo quốc gia nào trong trường hợp Việt Nam khi ra nước ngoài và bị các ký giả chất vấn có thể nói yếu hơn.

Ông đại tướng bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh được một cơ hội bằng vàng để bảo vệ lập trường của Việt Nam khi tham dự Đối Thoại Shangri-La 13. Trước đó cả thủ tướng Nhật Shinzo Abe lẫn bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đều đã mạnh mẽ tố giác hành động của Trung Quốc và tuyên bố sẽ không để Trung Quốc lộng hành trên Biển Đông, sẽ sẵn sàng giúp các nước trong vùng, kể cả Việt Nam, phương tiện tự vệ. Một chính quyền Việt Nam quan tâm bảo vệ chủ quyền không thể mong đợi nhiều hơn. Tuy vậy ông Thanh đã tuyên bố rằng “quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp”và vụ giàn khoan HD-981 chẳng có gì nghiêm trọng vì “mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng”. Chẳng khác gì bảo Mỹ, Nhật và thế giới đừng xía vào, hãy để mặc Việt Nam giải quyết với Trung Quốc. Nhưng giải quyết như thế nào? Ông Thanh chỉ dám đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”. Thật khó có thể có một bộ trưởng quốc phòng bất xứng hơn.

Bộ ngoại giao cũng không dám triệu tập đại sứ Trung Quốc để phản đối dù đây phản ứng nhẹ nhất trong trường hợp này. Các chính phủ triệu tập đại sứ trong những trường hợp không quan trọng hơn nhiều; thí dụ như Bắc Kinh đã triệu tập đại sứ Mỹ tại Trung Quốc để phản đối việc năm sĩ quan Trung Quốc bị tố giác là có hoạt động gián điệp. Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam là một đại sứ hay một thái thú? Tệ hơn nữa, bộ ngoại giao còn làm một việc rất vô ý thức là triệu tập đại điện sứ quán Trung Quốc (nhấn mạnh: đaị diện sứ quán chứ không phải đại sứ) sau khi một tàu cá Việt Nam bị đụng chìm ngày 26-5. Như vậy là việc Trung Quốc tìm dầu trong hải phận Việt Nam không nghiêm trọng bằng một chiếc tàu cá bị đụng chìm? Chỉ một tháng sau khi hành động xâm lược của Trung Quốc diễn ra phái bộ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc mới cho phổ biến một thư luân lưu đến đại diện các nước, nhưng đây cũng chỉ là một thông báo mà thôi chứ không kêu gọi một hành động quốc tế nào cả.

(Đến đây xin mở một ngoặc đơn. Sự nhu nhược này không phải do lỗi của bộ ngoại giao, mà là vì bộ ngoại giao không có quyền quyết định. Chính sách cũng như hành động đối ngoại hoàn toàn ở trong tay một một vài người trong bộ chính trị; những người này khống chế được bộ máy đảng và nhà nước và quyết định chính sách đối ngoại một cách hoàn toàn bí mật. Ngay cả những cấp lãnh đạo, kể cả đa số ủy viên trung ương đảng, cũng chỉ biết đến những thay đổi định hướng đối ngoại rất lâu sau khi chúng đã thành một thực tế. Cuối thập niên 1950 Lê Duẩn và Lê Đức Thọ quyết định theo Trung Quốc (để có thể phát động nội chiến) và thanh trừng những phần tử bị cáo buộc là “xét lại chống đảng” vì thân Liên Xô. Không ai biết. Gần mười năm sau họ đổi hướng 180 độ và theo Liên Xô chống Trung Quốc. Cũng không ai biết. Năm 1984 sau khi Liên Xô bối rối không bảo vệ được chế độ CSVN nữa, Nguyễn Văn Linh được đưa trở lại bộ chính trị rồi trở thành tổng bí thư để thực hiện chính sách đầu hàng và thần phục Trung Quốc cùng với Lê Đức Anh và Đỗ Mười. Vẫn không ai biết. Trí thức Việt Nam còn tung hô Nguyễn Văn Linh như một người của đổi mới mà không biết rằng ông ta chỉ là người của Trung Quốc).

Chính quyền CSVN đã không nói gì với nhân dân. Họ không cần giải thích gì cả bởi vì họ không thấy có một bổn phận nào đối với nhân dân Việt Nam cả; họ là một lực lượng chiếm đóng và thống trị chứ không phải là một chính quyền Việt Nam. Họ còn dùng bọn côn đồ – mà họ vẫn thường dùng để hành hung những người dân chủ – để gây bạo động và lấy đó làm cớ để cấm đoán những cuộc biểu tình của những người yêu nước phản đối hành động xâm lược của Bắc Kinh. Nếu họ thực sự là dụng cụ của Trung Quốc để bán đứng đất nước họ cũng không thể làm khác.

Chúng ta có thể tự hỏi tại sao Trung Quốc lại làm như vậy? Hành động của họ đáng lẽ phải là một hành động ngu xuẩn rất có hại cho họ, nhưng họ đã thành công bởi vì họ biết trước phản ứng của Hà Nội. Tất cả diễn ra như một kịch bản đã được chuẩn bị trước.

Không thể loại trừ khả năng là giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã có những thỏa ước không được công bố và Bắc Kinh đã dựa vào đó để hành động. Nếu không thì không ai có thể giải thích tại sao chính quyền Hà Nội không đưa vấn đề ra công pháp quốc tế dù sau hơn 20 lần tiếp xúc vẫn chỉ nhận được một câu trả lời trịch thượng của Bắc Kinh là không có gì để thảo luận cả vì họ hoàn toàn đúng. Người ta có thể nghĩ như vậy khi đọc lại bản tuyên bố chung Việt – Trung ngày 21/06/2013 sau chuyến thăm viếng Bắc Kinh của ông Trương Tấn Sang:

“Hai bên hoan nghênh Thỏa thuận sửa đổi liên quan tới Thỏa thuận thăm dò chung trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa doanh nghiệp hữu quan hai nước, nhất trí mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận, kéo dài thời hạn thỏa thuận, cùng nhau thúc đẩy hoạt động thăm dò chung đối với cấu tạo dầu khí vắt ngang đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ sớm đạt được tiến triển tích cực”. (Tác giả tô đậm những cụm từ đáng chú ý).

Thỏa thuận sửa đổi nào? Thoả thuận thăm dò chung nào? Khu vực thỏa thuận nào? Mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận tới đâu? Nhân dân Việt Nam không được biết, tất cả đều chỉ là những cam kết dấm dúi giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và quan thày Trung Quốc của họ.

Cũng không nên quên câu nói của thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh – một người rất thận cận với ông Dũng đồng thời cũng là một trong những người nhiều quyền lực nhất hiện nay – đại diện Việt Nam trong cuộc đàm phán Việt – Trung năm 2012: “Việt Nam không còn bất cứ băn khoăn gì khi hợp tác với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực .Không còn bất cứ băn khoăn nào, vậy việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và Trường Sa coi như đã xong? Nếu quả thực như thế thì Trung Quốc có quyền làm những gì họ đang làm. Có những lúc mà ngôn ngữ không đủ để nói lên sự ngạc nhiên và phẫn nộ.

Cũng đáng ngạc nhiên và thất vọng không kém là thái độ của nhiều trí thức Việt NamHọ chống ách lệ thuộc Bắc Kinh và muốn “thoát Trung” nhưng lại ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng. Đối với họ Nguyễn Tấn Dũng là người tiến bộ, thân phương Tây và dám đối đầu với Bắc Kinh. Lý do là vì ông đã gửi con đi du học Mỹ, đã gửi thông điệp đầu năm nói tới “đổi mới thể chế” và “xây dựng dân chủ” và mới đây đã công khai phản đối việc Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sau đó lại tuyên bố không chấp nhận quan hệ lệ thuộc.

Tại sao lại có thể nông cạn và dễ tính đến thế được? Việc ông Dũng gửi con sang du học tại Mỹ không chứng minh gì cả; phần lớn các lãnh tụ chóp bu Nga và Trung Quốc cũng làm như thế, chính bản thân Tập Cận Bình cũng đã thực tập tại Mỹ. Chính quyền Trung Quốc cũng vừa tiết lộ là có hơn một nghìn quan chức tỉnh Quảng Đông gửi con du học các nước phương Tây. Gửi con đi học tại Mỹ không có nghĩa là thân Mỹ. Mà dù có được đào tạo tại phương Tây cũng không có nghĩa là đã trở thành người dân chủ. Cho tới thập niên 1980 hầu như tất cả các chế độ Châu Mỹ La Tinh đều là những chế độ độc tài mafia do những kẻ tốt nghiệp tại các trường đại học Mỹ cầm đầu. Bachar al Assad, tên độc tài khát máu tại Syria, tốt nghiệp tại Anh. Giáo dục quả nhiên thay đổi cách suy nghĩ nhưng thường phải một hai thế hệ. Người ta cố tình gán cho Nguyễn Tấn Dũng những chủ trương mà ông không bao giờ có, hơn nữa còn chống lại một cách hung bạo. Có những vị hân hoan vì ông Dũng nói tới “phát huy dân chủ” trong bài thông điệp đầu năm, nhưng đó hoàn toàn chỉ là thứ dân chủ mà ĐCSVN đã nói tới từ thời Việt Nam Dân Chủ Công Hòa, nghĩa là dân chủ kiểu xã hội chủ nghĩa, cái dân chủ mà bà Nguyễn Thị Doan đánh giá là ưu việt gấp triệu lần dân chủ đa nguyên đa đảng. Hoàn toàn không có gì mới. Điều chắc chắn là ông Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố “nhất định không để nhen nhúm những tổ chức đối lập”. Đó là xây dựng dân chủ? Cũng đừng quên rằng chính ông Dũng đã ký quyết định 97/2009/QĐ-TTg cấm phản biện và khai tử nhóm IDS.

Ca tụng ông Dũng là dám chống Trung Quốc cũng chỉ là lấy mơ ước làm sự thực, hay tệ hơn nữa là tán tụng kẻ có quyền, một thái độ chẳng có gì đáng tự hào. Về vụ HD-981 ông Dũng đã chỉ nói một phần nhỏ những điều mà mọi người đã biết. Còn câu “không chấp nhận đánh đổi chủ quyền để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc”thì quả là vớ vẩn. Có gì (đáng gọi) là khảng khái? Ai có thể nói ngược lại? Ông Dũng còn phải cố gắng nhiều, rất nhiều, nếu muốn chứng tỏ thực tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc.

Điều chắc chắn là ông Dũng đã góp phần quyết định đưa Việt Nam đi sâu vào thế lệ thuộc Trung Quốc.

Lệ thuộc Trung Quốc là chọn lựa chiến lược của ĐCSVN từ giữa năm 1984 và là trách nhiệm chung của các bộ chính trị từ đó. Nhưng cũng có những điều chủ yếu thuộc trách nhiệm của hành pháp, nghĩa là thủ tướng. Như cho Trung Quốc thuê dài hạn rừng đầu nguồn; cho Trung Quốc thuê những vùng biển rộng lớn để khai thác hải sản; cho các doanh nghiệp Trung Quốc đưa công nhân ồ ạt sang Việt Nam và tổ chức như những khu riêng của người Hoa; cho người và hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam không kiểm soát; xuất khẩu hàng hóa Trung Quốc mang nhãn made in Vietnamsang Hoa Kỳ và Châu Âu đưa thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc lên 24 tỷ USD; cho Trung Quốc trúng thầu gần hết các dự án và sau đó thi công một cách bê bối v.v.

Cũng đừng quên Nguyễn Tấn Dũng là người bảo vệ dự án Bô-xit Tây Nguyên một cách quả quyết nhất, tuyên bố “dự án này phải tiếp tục vì là một chủ trương lớn của Đảng”. Đinh Đăng Định chỉ có tội phản đối dự án này mà bị cầm tù tới chết. Riêng về điểm này phải nhìn nhận là ông Trương Tấn Sang đã tỏ ra có trách nhiệm hơn và phần nào đã bênh vực những người phản đối.

Điếu Cày có tội gì mà bị xử tới 12 năm tù sau khi đã ở tù 3 năm? Anh chẳng viết hay tuyên bố gì đáng nói. Tội duy nhất của Điếu Cày là đã tổ chức những cuộc biểu tình chống ngọn đuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008. Nguyễn Xuân Nghĩa bị xử 6 năm tù -và còn bị công an cho thường phạm đánh trong tù- chỉ vì căng những biểu ngữ “Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam”. 

Không thể nói rằng đây là chính sách của Đảng; chính sách phục tùng Trung Quốc là của Đảng nhưng sự hung bạo là của Nguyễn Tấn Dũng. Cũng không nên quan trọng hóa quá đáng vai trò của bộ chính trị. Ông Dũng chẳng coi bộ chính trị ra gì, bộ chính trị muốn kỷ luật ông mà không được, muốn đưa hai ông Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào bộ chính trị cũng không được.

Nguyễn Tấn Dũng mạnh hơn bộ chính trị vì kiểm soát được đa số trong ban chấp hành trung ương. Ai thắc mắc điều này có thể nhìn vào những bản án dành cho Trần Huỳnh Duy Thức và Cù Huy Hà Vũ. Duy Thức sử dụng tài liệu do văn phòng Trương Tấn Sang cung cấp để tố cáo Nguyễn Tấn Dũng tham nhũng và lãnh 16 năm tù trước sự bất lực của phe Trương Tấn Sang, Hà Vũ đòi kiện Nguyễn Tấn Dũng về vụ Bô-xit và lãnh 7 năm dù thuộc diện con cháu công thần và được nhiều che chở ngay trong đảng.

Bản hiến pháp mới vừa có hiệu lực từ đầu năm nay trong đó nét đậm nhất là rập khuôn theo chế độ Trung Quốc cũng là do ông Dũng đưa ra trước đại hội Đảng thứ 11; chỉ có điều là sau đó có quá nhiều vụ bê bối bị phát giác khiến ông không giành được chức tổng bí thư đảng như dự tính.

Cũng Nguyễn Tấn Dũng vừa ra chỉ thị cấm biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm hải phận Việt Nam. Tại sao cấm những cuộc biểu tình chính đáng này? Và tại sao không thấy trí thức trong nước nào lên tiếng mạnh mẽ phản đối quyết định này? Ông Dũng viện cớ ngăn ngừa những bạo loạn như dã xảy ra tại Bình Dương, nhưng ai điều động bọn côn đồ đập phá? Bọn này rõ ràng là được công an bảo kê. Chúng chỉ có vài chục đứa mà dám đến các doanh nghiệp đòi phải để công nhân ngừng làm việc để đi biểu tình và khi được trả lời là công nhân đã đi biểu tình rồi thì đòi vào khám nhà máy xem còn công nhân không. Nhà máy cầu cứu thì được công an lời là “không thể làm gì cả”.

Tại sao công an lại không thể làm gì cả, trừ khi được lệnh cấm can thiệp? Rồi sau những thiệt hai to lớn đã có sĩ quan công an nào bị khiển trách không? Bình thường trước một sư kiện nghiêm trọng như vậy chính bộ trưởng công an phải tự kiểm điểm, thậm chí phải từ chức hoặc bị cách chức. Nên nhớ rằng công an hoàn toàn ở trong tay ông Dũng. Giải thích hợp lý nhất là chính ông Dũng đã tạo ra những cuộc bạo loạn này để có cớ cấm những cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Nhưng giải thích này có thể chưa đủ. Có thể còn có cả sự phối hợp với Trung Quốc – cả trong vụ giàn khoan HD-981 lẫn những diễn tiến sau đó – để tạo ra một tình trạng căng thẳng vừa biện minh cho sự suy sụp kinh tế không thể che giấu được nữa vừa giúp Nguyễn Tấn Dũng lấy cớ vãn hồi an ninh trật tự làm một cuộc đảo chính – công khai hoặc ngầm – thu tóm mọi quyền lực trong tay và vô hiệu hóa các đối thủ. Rất có thể. Bởi vì Trung Quốc không thể tìm được một đồng minh lý tưởng hơn ông Dũng, ông vừa hợp tác tận tình với Trung Quốc vừa thẳng tay đàn áp những người chống Trung Quốc. Ai cũng phải thấy là vụ giàn khoan HD-981 đã chỉ có lợi cho Nguyễn Tấn Dũng.

Nguyễn Tấn Dũng có thể không phải là người nhiệt tình nhất với chính sách phục tùng Trung Quốc nhưng cũng không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông. Muốn “thoát Trung” mà lại “phò Dũng” là rất sai, sai một cách bi đát.

Có thể nói gì thêm về Nguyễn Tấn Dũng?

Khi lên làm thủ tướng ông tuyên bố nếu không dẹp được tham nhũng ông sẽ từ chức. Thực tế là tham nhũng không giảm đi, cũng không thể nói là tăng lên, mà phải nói là đã bùng nổ dưới chính phủ của ông Dũng. Hối lộ, vơ vét, móc ngoặc, mua quan bán chức đã trở thành qui luật dưới chính quyền Nguyễn Tấn Dũng. Phải nói một cách thật rõ rệt: nếu không dẹp được tham nhũng thì đất nước không có tương lai. Nguyễn Tấn Dũng không dẹp mà còn giúp tham nhũng bành trướng. Như vậy không thể viện dẫn bất cứ lý do nào để ủng hộ ông.

Ông Dũng đã khởi xướng ra “sáng kiến” dùng bọn côn đồ làm cánh tay nối dài của công an để hành hung dân oan và những người dân chủ. Tôi được nghe hai tiếng “đầu gấu” lần đầu tiên từ ông Hoàng Minh Chính qua điện thoại năm 2002. Ông Chính cùng các thân hữu tới tòa án ủng hộ Lê Chí Quang đang bị xét xử. Ông la lên: “Chúng nó dùng bọn đầu gấu đánh anh em dân chủ!”. Lúc đó ông Dũng vừa lên làm phó thủ tướng nhưng quyền lực át hẳn ông thủ tướng rất lu mờ Phan Văn Khải. Vài năm sau chính ông Hoàng Minh Chính cũng bị bọn đầu gấu xô đẩy và bị ném đồ dơ bẩn khi đi chữa bệnh ở Mỹ về, người nhà bị hành hung. Hiện tượng đầu gấu liên tục phát triển cùng với quyền lực của ông Dũng, đến mức giờ đây khó phân biệt công an và côn đồ. Hầu như không có người dân chủ trẻ nào không bị đánh, kể cả các phụ nữ như Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Hoàng Vi.

Dưới chính quyền của ông Dũng công an trở thành hung bạo. Hiện tượng tra tấn nghi can, dùng thường phạm đánh chính trị phạm trong nhà tù, đánh người, thậm chí đánh chết người, trong đồn công an ngày càng trở thành bình thường. Đó chủ yếu là thành quả của ông Dũng. Không thể nói rằng trách nhiệm của ông Dũng chỉ là đã không kiểm soát được công an. Ông nắm rất vững lực lượng công an, ông xuất thân là một công an và từng là thứ trưởng trực bộ công an. Công an không thể làm những gì mà ông cấm.

Nhiều người nói hãy cứ tập trung phát triển kinh tế rồi sẽ có dân chủ. Những người này không hiểu kinh tế và nói bậy. Nhưng ngay cả như thế thì Nguyễn Tấn Dũng cũng không phải là người lãnh đạo quốc gia chấp nhận được. Ông tỏ ra rất thiếu bài bản về kinh tế.

Một vài thí dụ:

– Ít lâu sau khi chính thức lên làm thủ tướng ông sang thăm Mỹ và tìm gặp Alan Greenspan, vừa mãn nhiệm kỳ chủ tịch ngân hàng trung ương Mỹ, để chiêm ngưỡng một thiên tài kinh tế. Chỉ một thời gian ngắn sau thế giới nhận ra Alan Greenspan là thống đốc tồi nhất từ một thế kỷ và đã gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu chưa từng có.

– Cuối năm 2007 ông Dũng tung ra 150 nghìn tỷ đồng để mua 9 tỷ USD làm cả nước điêu đứng vì vật giá tăng vọt, lý do là để “hỗ trợ đồng đô la” vì sợ hối suất đồng đô la Mỹ sẽ giảm sút nghiêm trọng so với đồng tiền Việt Nam; dự đoán này sai một cách lố bịch vì điều ngược lại đã xảy ra. Đồng đô la lúc đó bằng 15.000 đồng Việt Nam, ngay sau đó nó đổi lấy 18.500 đồng.

– Cuối năm 2008 chính phủ của ông Dũng trổ tài một lần nữa. Thấy thực phẩm lên giá đột ngột họ ra lệnh cấm xuất cảng gạo vì nghĩ rằng giá gạo sẽ còn tăng thêm và sợ bán hố. Sau đó thì giá gạo xuống nhanh và nông dân khốn khổ. Thực ra giá thực phẩm chỉ biến động trong một thởi gian ngắn, ngay lúc ông Dũng lấy quyết định ngớ ngẩn đó thị trường gạo đã trở lại bình thường rồi.

Năm 2009 ông Dũng tung ra “gói kích cầu” 8 tỷ USD để kích thích tăng trưởng kinh tế. Theo lời bộ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư Bùi Quang Vinh thì số tiền 8 tỷ USD này đã mất toi và “doanh nghiệp bây giờ chết hết rồi”.

Sai lầm tai hại nhất của ông Dũng là lập ra những tập đoàn lớn, bắt chước các chaebol của Hàn Quốc dù không có những cấp lãnh đạo tương xứng và cũng không có cả những công ty đúng nghĩa. Kết quả là tất cả 127 tập đoàn đều lỗ nặng vì chỉ là những ổ lãng phí và tham nhũng. Chúng đang gánh một tổng số nợ gần 100 tỷ USD. Ai sẽ trả cái giá kinh khủng của sự ngu dốt này nếu không phải là thế hệ đang lớn lên? Trung bình mỗi người Việt Nam sẽ phải trả 1000 USD (22 triệu đồng) vì sự bất tài, tham nhũng và tính vĩ cuồng của chính quyền Nguyễn Tấn Dũng. Trong kỷ nguyên tri thức này không một quốc gia nào có thể chấp nhận một người lãnh đạo thiếu hiểu biết như ông Dũng mà không tàn lụi. Ngày nay người ta không còn có thể nói là đã có các cố vấn vì các vấn đề đã trở thành quá phức tạp và các dữ kiện thay đổi quá nhanh chóng. Muốn tuyển chọn các cố vấn có thực tài và sau đó trọng tài giữa các đề nghị phức tạp thì bắt buộc phải có một trình độ nào đó mà ông Dũng hoàn toàn không có.

Điều quan trọng cần được đặc biệt lưu ý là Việt Nam vừa để mất một cơ hội bằng vàng để vươn lên. Năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới vốn và kỹ thuật nước ngoài đã ồ ạt đổ vào nước ta. Khối lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lớn hơn tổng số đầu tư vào tất cả các nước trong vùng. Khối lượng đầu tư nước ngoài to lớn này có lúc đã tạo ra ảo tưởng, nhưng sau đó sự bất tài, tham nhũng và những vụ án chính trị thô bạo đã khiến các nhà đầu tư chán ngán bỏ đi. Họ sẽ chỉ trở lại nếu Việt Nam thay đổi chế độ chính trị.

Đặc tính nổi bật và phải lên án nhất của ông Dũng là sự hung bạo đối với những người dân chủ. Những vụ trước đây bị xử 2 hoặc 3 năm – như thế đã là rất thô bạo vì các nạn nhân hoàn toàn vô tội – có thể bị xử trên 10 năm trong mấy năm gần đây sau khi ông Dũng đã thu tóm được phần lớn quyền lực trong tay. Vào năm 2007 Lê Thị Công Nhân bị xử 3 năm tù, Nguyễn Văn Đài 4 năm, nhưng từ năm 2010 trở đi Trần Huỳnh Duy Thức bị xử 16 năm, Điếu Cày 15 năm, Tạ Phong Tần 10 năm, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm, Đỗ Thị Minh Hạnh 7 năm. Sự hung bạo đã tăng gấp ba.

Tóm lại Nguyễn Tấn Dũng là một người rất thiếu kiến thức và khả năng, rất tham nhũng, rất tận tình với Trung Quốc và rất hung bạo đối với những người dân chủ và những người chống chính sách lệ thuộc vào Bắc Kinh. Hơn nữa còn là người đã gây thiệt hại lớn nhất – về mọi mặt kinh tế, xã hội, đạo đức và môi trường – cho đất nước từ hơn mười năm nay. Người ta có thể không dám đả kích ông Dũng vì ông là người đầy quyền lực và rất hung bạo, nhưng ủng hộ và ca tụng ông là chuyện khác.

Làm sao không khỏi phiền lòng khi đọc thư ngỏ của nhiều trí thức có uy tín đánh giá những lời tuyên bố mơ hồ, chung chung, vớ vẩn của ông Dũng “thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta”. Ý chí của nhân dân ta đâu phải chỉ có thế. Hay khi đọc lời thuật rằng “cuộc hội thảo về “thoát Trung” là do cảm hứng vì những lời tuyên bố của thủ tướng”. Cảm hứng quá hời hợt. Và làm sao có thể thảo luận về “thoát Trung” nếu, như ban tổ chức yêu cầu, không được phép phê phán một chính quyền coi phụ thuộc Trung Quốc là điều kiện để tồn tại? Cần nhấn mạnh lệ thuộc Trung Quốc không phải là yêu cầu của nhân dân Việt Nam mà chỉ là nhu cầu sống còn của chế độ cộng sản.

Các trí thức đang ủng hộ ông Dũng và muốn ông Dũng có thế mạnh hơn nữa phải rất cảnh giác. Họ có thể sắp được mãn nguyện đấy, nhưng đó sẽ chỉ là một thảm kịch cho đất nước.

Để kết luận, xin có một lời cải chính nếu những gì vừa viết ở trên có thể khiến độc giả nghĩ rằng tôi bi quan. Không, tôi không hề bi quan. Trái lại tôi tin rẳng chúng ta có thể lạc quan. Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh lịch sử quan trọng, hạn kỳ dân chủ có thể rất gần.

Dù muốn hay không Trung Quốc cũng sẽ không thể là một chỗ dựa cho chế độ cộng sản Việt Nam nữa. Trung Quốc đã tích lũy quá đủ mâu thuẫn và khó khăn và đang sắp đi vào một cuộc khủng hoảng rất lớn. Khủng hoảng kinh tế, tài chính và môi trường. Khủng hoảng mô hình, chính trị, đồng thuận và căn cước. Chính sự thống nhất của Trung Quốc cũng sẽ không được bảo đảm. Trung Quốc sẽ phải dồn mọi cố gắng để lo cho chính mình và sẽ không còn sức lực và ý chí để tiếp tục chính sách bành trướng bá quyền. Dù muốn hay không quan hệ lệ thuộc Việt Trung cũng sẽ phải chấm dứt.

Vấn đề lớn của chúng ta không phải là “thoát Trung” mà là “giải Cộng” nghĩa là chấm dứt chế độ độc tài đảng trị trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Ngay cả nếu kịch bản Nguyễn Tấn Dũng thâu tóm mọi quyền lực xảy ra thì nó cùng lắm cũng chỉ có thể làm chậm lại đôi chút chứ không thể ngăn chặn tiến trình dân chủ hóa. Nó sẽ chỉ là một sự chuyển hóa từ độc tài đảng trị sang độc tài cá nhân, và sự chuyển hóa này cũng chỉ là một chặng đường quen thuộc trong tiến trình đào thải của các chế độ độc tài.

Chúng ta còn một lý do quan trọng khác để tin tưởng: một tầng lớp trí thức chính trị, tầng lớp mà chúng ta chưa bao giờ có trong suốt dòng lịch sử, đang hình thành. Đó là những trí thức trẻ. Họ hiểu biết về chính trị và tình hình thế giới hơn hẳn thế hệ cha anh, không ràng buộc với chế độ, không khiếp sợ cũng không trông đợi gì ở bạo quyền và thẳng thắn chọn lựa dân chủ. Họ đã nắm được chìa khoá của tương lai, kể cả tương lai rất gần. Sự chuyển giao thế hệ sắp hoàn tất. Đất nước phải thay đổi vì đã thay da đổi thịt.

Kỷ nguyên tự do dân chủ sắp mở ra và các thế hệ mai sau sẽ nhận diện những con người của đất nước hôm nay. Ở thời điểm này quỵ lụy, luồn cúi không chỉ là bệ rạc mà còn là dại dột.

Nguyễn Gia Kiểng
(06/2014)

 

 

Bài liên quan

 

► Ai đang làm khánh kiệt đất nước (p. 4)- những cá nhân trong tập đoàn 3 X

►Ai đang làm khánh kiệt đất nước (phần 5)- các Tướng công an cứu Nguyễn Tấn Dũng trong vụ Vinashin như thế nào

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Không dám hó hé biểu lộ hành động nào phản đối TQ, nhưng sai công an văn hóa canh giữ các thành viên Văn Đoàn Độc Lập

Posted by hoangtran204 trên 13/06/2014

Nguyên Ngọc

12-06-2014

Ngày hôm nay, 12/04/2014, trên trang mạng bolapquechoa có đăng thư ngỏ của nhà thơ Đỗ Trung Quân gửi nhà văn Nguyên Ngọc và Văn đoàn Độc lập Việt Nam, sau đó được trang mạng Văn Việt của Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam (gọi tắt là BVĐVĐ) đăng lại ngay tức thời (nếu bị tường lửa, mời vào link này.

Trong thư có đoạn: “… tôi được một nhân vật thuộc ngành an ninh thông báo lý do canh giữ tôi đến hôm nay ngoài việc xuống đường [chống China xâm lược] như dư luận trong và ngoài nước đã biết, tôi còn là THƯ KÝ VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP, còn là cầu nối, một trạm liên lạc của Văn đoàn”.

Nhà thơ Đỗ Trung Quân yêu cầu VĐĐL trả lời công khai ông có được giao chức trách nói trên hay không?

Về vấn đề này, BVĐVĐ xin chính thức tuyên bố:

1/ Nhà thơ Đỗ Trung Quân là một thành viên của BVĐVĐ trên cơ sở tự nguyện tán thành Tuyên bố của BVĐVĐ và đăng ký tham gia BVĐVĐ. Ngoài tư cách đó, ông chưa được giao bất cứ công việc gì của BVĐVĐ.

2/ Việc mỗi thành viên BVĐVĐ nhận và thực hiện công việc theo sự phân công của Trưỏng ban – nhà văn Nguyên Ngọc là việc hoàn toàn nội bộ của BVĐVĐ. Không ai có quyền, bất kể nhân danh tổ chức hay cơ quan nào, sách nhiễu các thành viên BVĐVĐ về việc này.

3/ Trong suốt thời gian từ khi BVĐVĐ tuyên bố ra mắt (03/03/2014), đã có những hiện tượng sách nhiễu, gây khó khăn với không ít thành viên BVĐVĐ, như: ngăn cản các thành viên BVĐVĐ xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng (báo chí, truyền hình…), lặp lại đúng hệt các thủ đoạn xấu xa đối với Nhân văn Giai phẩm cách đây hơn nửa thế kỷ; gây áp lực với nơi làm việc của thành viên và trực tiếp với thành viên để “vận động” họ rút tên khỏi BVĐVĐ; vu cáo trắng trợn rằng BVĐVĐ là một tổ chức chính trị hoạt động nhờ tài trợ nước ngoài…

Những hành vi trên đã không lay chuyển được đại đa số thành viên BVĐVĐ. Nhiều người đã khẳng khái trả lời KHÔNG với mọi áp lực nhằm buộc họ rút tên khỏi BVĐVĐ.

4/ BVĐVĐ kịch liệt phản đối những hành vi sách nhiễu nói trên đối với các thành viên BVĐ, vì:

Đó là những hành vi vi phạm pháp luật và Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội của công dân.

Vu cáo, xúc phạm uy tín danh dự của tổ chức và công dân.

Chia rẽ khối đoàn kết dân tộc trong lúc đất nước đòi hỏi sự đồng thuận, một lòng của toàn dân, đặc biệt của giới trí thức, để đối phó với cuộc xâm lược của China đang diễn ra vô cùng nguy hiểm trên mọi mặt trận, trong đó văn hoá là một mặt trận hết sức then chốt.

5/ Lập trường nghệ thuật của BVĐ đã thể hiện rõ trong Tuyên bố Vận động ngày 03/03/2014, đó là: “góp phần tích cực xây dựng và phát triển một nền văn học Việt Nam đích thực, nhân bản, dân chủ, hiện đại, hội nhập với thế giới, có thể đóng vai trò tiền phong đúng như nó phải có trong sự nghiệp phục hưng văn hóa, phục hưng dân tộc mà lịch sử đang đòi hỏi.”

Lập trường chính trị của BVĐ đã thể hiện rõ trong Tuyên bố về vụ giàn khoan Hải Dương 981 chỉ 4 ngày sau khi China kéo giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. BVĐ tự hào là tổ chức dân sự đầu tiên ở Việt Nam lên tiếng chính thức về sự kiện nghiêm trọng này, phản đối mãnh liệt hành động xâm lược của China và ủng hộ Nhà nước Việt Nam thi hành mọi biện pháp mạnh mẽ và tỉnh táo để bảo vệ chủ quyền đất nước.

Trang mạng vanviet.info của BVĐVĐ ra mắt từ 19/3/2014 đến nay đã thể hiện cụ thể lập trường nghệ thuật và chính trị trên, thu hút lượng bạn đọc và cộng tác viên đông đảo, mặc dù ở nhiều nơi bị chặn bằng tường lửa.

6/ Những tổ chức nghề nghiệp yêu nước có lập trường và hoạt động lành mạnh như BVĐVĐ không có lý do gì là đối tượng sách nhiễu, ngăn cản của bất cứ cơ quan, tổ chức nào với lý do an ninh chính trị tư tưởng văn hoá.

BVĐVĐ yêu cầu các cơ quan hữu trách chấm dứt những hành vi sách nhiễu bất hợp pháp của một số cá nhân, tổ chức đối với BVĐVĐ và các thành viên BVĐVĐ. BVĐVĐ tuyệt đối tin tưởng rằng lý tưởng và những việc làm đúng đắn của mình luôn được sự ủng hộ và hưởng ứng của đông đảo người viết văn và bạn đọc trong, ngoài nước.

Ngày 12/6/2014

Thay mặt Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam

Nguyên Ngọc

Nguồn: anhbasam.wordpress.com 

——————–

Thư ngỏ nhà thơ Đỗ Trung Quân gửi Văn Đoàn độc lập

Đỗ Trung Quân 

Kính gửi nhà văn Nguyên Ngọc

Kính gửi Văn đoàn Độc lập

 

Thưa ông.

Từ hơn một năm nay, sau những cuộc xuống đường mà tôi có tham gia mỗi cuối tuần thứ Bảy và Chủ Nhật cửa nhà tôi luôn được canh giữ bởi 4 an ninh thường phục.

 Hoặc không cho tôi ra ngoài nếu tình hình biển Đông căng thẳng, hoặc chỉ canh gác gây áp lực tâm lý với tôi như một kiểu đàn áp tâm lý.nhưng tôi đã dần quen, quen đến nỗi chỉ thông báo mình bị giám sát mà không hề có hình ảnh nào để chứng minh. Điều ấy khiến tôi cũng bị dư luận nghi ngờ rằng có thật chuyện ấy hay không ? Ngày Chủ Nhật 8 tháng 6 –  2014 tôi buộc mình phải chụp hình một trong hai an ninh trẻ làm nhiệm vụ canh giữ trước hẻm ngõ nhà tôi [ tôi đã đưa hình ảnh lên mạng FB  hình một an ninh phải che mặt khi tôi chụp ảnh ]

Thưa ông.

Khi Nhà nước, chính phủ và báo chí đã công khai lên tiếng gọi đích danh kẻ hai mặt là Trung Quốc, lẽ ra công an phải chấm dứt canh giữ một người xưa nay xuống đường bày tỏ thái độ chống ngoại xâm quyết liệt nhưng ôn hòa như tôi, trái lại họ vẫn canh giữ tôi như hiện tại . Tôi khó hiểu vì điều ấy.tôi chỉ có thể kết luận chính quyền nói một đàng làm một nẻo hoặc ai đó tư thù cá nhân tôi,nhưng điều khó hiểu ấy đã được minh bạch sau đêm tôi tham dự kỷ niệm chúc mừng Nữ hoàng Anh Elizabeth Đệ nhị mà tôi là khách được Lãnh sự quán Anh tại tp HCM mời cùng nhiều nhân vật khác mà tôi cũng không xa lạ trong thành phố này.

Thưa ông

Trong buổi tiếp xúc ấy tôi được một nhân vật thuộc ngành an ninh thông báo lý do canh giữ tôi đến hôm nay ngoài việc xuống đường như dư luận trong và ngoài nước đã biết, tôi còn là THƯ KÝ VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP  , còn là cầu nối , một trạm liên lạc của Văn đoàn.

Thưa nhà văn lão thành kính mến

Vì lý do đó tôi xin được ông xác nhận cho vài điều cần thiết, xác nhận bởi sự minh bạch của chúng ta

1-     Tôi có phải là thư ký và là trạm liên lạc của Văn đoàn hay không ?

2-     Nếu không, tôi thật sự thất vọng bởi hóa ra tôi có tiếng mà không có miếng, mong Văn đoàn hoặc trao cho tôi chức trách ấy cho đúng khẳng định của an ninh, hoặc tôi phải xin rút tên khỏi Văn đoàn vì ngoài việc ký tên, tôi chỉ là kẻ đang chịu những trách nhiệm không có thật

Thưa ông

Việc ký tên vào danh sách 61 [ 62 ? ] người của Văn Đoàn là do tôi tự nguyện.Mục đích nó đã nằm trong tuyên ngôn của Văn đoàn tôi không nhất thiết dẫn lại. Nhưng thú thật xưa nay tôi ít được thông báo những quyết định mang tính tuyên ngôn của Văn đoàn , thậm chí còn không rõ ai là những người phụ trách từng mảng văn học của Văn đoàn. Tôi không có gì thắc mắc ngoại trừ kết luận của an ninh tư tưởng thành phố như đã hé cho tôi biết. Vậy trở lại vấn đề, tôi chỉ muốn xác minh kết luận ấy mà thôi còn việc họ tiếp tục canh giữ tôi hay không với tôi là vô nghĩa. 

Tôi có trách nhiệm thông báo cùng Văn đoàn , kính chúc anh chị em bình an

Sài gòn 12 – 6 – 2014

Đỗ Trung Quân – Nhà thơ – Nhà báo đã nghỉ hưu non

Tác giả gửi Quê Choa

http://nguoiviettudoutah.org/2011/wp-content/themes/arthemia/scripts/timthumb.php?src=/wp-content/uploads/2014/06/ca.jpg&w=150&h=150&zc=1&q=100

 

thư ngỏ kính gửi nhà văn Nguyên Ngọc và Văn đoàn độc lập

13-6-2014

Kính thưa ông và Văn đoàn

Ngay sau khi có thư ngỏ của tôi trên blog Quê Choa và trên mạng Internet cũng như FB cá nhân, tôi đã được thư ngỏ phản hồi nhanh chóng  của ông đại diện cho Văn đoàn điều ấy khiến tôi yên tâm với tôn chỉ của Văn đoàn ngoài việc hoạt động cho một nền văn học ngay ngắn và mở rộng vì quyền tự do sáng tác, còn là lên tiếng kịp thời cho mọi thành viên khi gặp những vấn đề có dấu hiệu trấn áp dưới mọi hình thức, đi ngược quyền con người và sáng tác như trong Hiến pháp đã quy định

Với tư cách cá nhân , tôi trân trọng cảm ơn Văn đoàn qua tiếng nói chính thức , công khai và minh bạch của ông trong trường hợp của tôi về vai trò trong văn đoàn như “ ngộ nhận “ hay quy kết của an ninh nhà nước Việt Nam

Tôi trân trọng cảm ơn Văn đoàn và câu trả lời của tôi sau thư ngỏ của ông , nhà văn đại diện Văn đoàn với an ninh Việt Nam việc tôi có rút tên hay không là : KHÔNG !

Kính chúc ông sức khỏe và anh chị em văn đàn bình an

Đỗ Trung Quân – Nhà thơ

Tp HCM 13- 6 -2014

http://vanviet.info/van-de-hom-nay/thu-ngo-thu-hai-cua-nha-tho-do-trung-quan-kinh-gui-nha-van-nguyen-ngoc-va-van-doan-doc-lap/

———–

13-6-2014

sau vấn đề liên quan đến Văn đoàn độc lập, sẽ đến vấn đề tôi kiện Ban Tuyên giáo khi ra lịnh miệng cấm nhắc, sử dụng tên tuổi tôi trên phương tiện truyền thông như báo chí và truyền hình, xuất bản . xin chú ý thẻ nhà báo, quyền nhà báo của tôi còn nguyên vẹn, thẻ nhà văn , quyền nhà văn của tôi còn nguyên vẹn.quyền công dân của tôi còn nguyên vẹn, mọi lịnh miệng không văn bản đều trái pháp luật.
kiện để khẳng định cây khế nhà tôi chi hữu chủ !
.nay thông báo !
P/S Anh chị em nào am hiểu luật pháp xin giúp cho nhà thơ, đa tạ !

———————–

 

định nhờ anh em bên báo Pháp luật TP tư vấn đơn kiện tuyên giáo của tôi, ngờ đâu như thế này thì còn làm ăn, kiện tụng chi .nhưng nếu họ xử tôi được bằng lịnh miệng mà không ai lên tiếng thì sẽ đến lúc bạn đồng nghiệp nào đấy cũng sẽ bị xử y thế mà thôi
.
Photo: định nhờ anh em bên báo Pháp luật TP tư vấn đơn kiện tuyên giáo của tôi, ngờ đâu như thế này thì còn làm ăn , kiện tụng chi .nhưng nếu họ xử tôi được bằng lịnh miệng mà không ai lên tiếng thì sẽ đến lúc bạn đồng nghiệp nào đấy cũng sẽ bị xử y thế mà thôi

 

———————-

DANH SÁCH

BÁO CÁO VIÊN BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY Tp HCM
(16 đồng chí)

1- Đồng chí Thân Thị Thư – UVTV- Trưởng Ban;

2- Đồng chí Huỳnh Thanh Hải – TUV- Phó trưởng Ban;

3- Đồng chí Nguyễn Thị Thanh Kiều – Phó trưởng Ban;

4- Đồng chí Lê Công Đồng – Phó trưởng Ban;

5. Đồng chí Huỳnh Văn Chúm – Phó trưởng Ban;

6. Đồng chí Đinh Thị Hương Liên – Hàm Phó trưởng Ban;

7. Đồng chí Hoàng Quốc Đạt – Trưởng phòng Huấn học;

8. Đồng chí Hồ Hoàng Luân – Trưởng phòng Nghiên cứu Dư luận xã hội;

9. Đồng chí Nguyễn Công Tĩnh – Trưởng phòng Khoa giáo;

10. Đồng chí Nguyễn Thị Thu Hoài – Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công tác tư tưởng Thành phố;

11. Đồng chí Ngô Thanh Sơn – Phó Phòng Tuyên truyền;

12. Đồng chí Đoàn Thanh Hùng – Phó Phòng Huấn học;

13. Đồng chí Lê Văn Minh – Chánh Văn phòng Ban;

14. Đồng chí Dương Thế Trung – Phó chánh Văn phòng Ban;

15. Đồng chí Lê Tú Lệ – Trưởng phòng Văn hóa – Văn nghệ;

16. Đồng chí Tô Đại Phong – Giám đốc Trung tâm Thông tin Công tác tư tưởng Thành phố

 

Nguồn:  đại biểu nhân dân

—————-

 

TP HCM bổ nhiệm Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy mới

Thứ Tư 14:13 20/07/2011
Bà Thân Thị Thư, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Dân vận Thành ủy TP HCM, được điều động giữ chức vụ Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy TP HCM.
Bà Thân Thị Thư tặng hoa cho các nữ CNLĐ tiêu biểu tháng 3-2010. Ảnh tư liệu
Thành ủy TP HCM vừa công bố hai quyết định điều động và bổ nhiệm nhân sự mới. Theo đó, bà Thân Thị Thư, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Dân vận Thành ủy TP, được điều động giữ chức vụ Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy TP, thay bà Nguyễn Thị Quyết Tâm vừa được bầu giữ chức vụ Chủ tịch HĐND TP nhiệm kỳ 2011-2016.Đồng thời, ông Nguyễn Văn Rảnh, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy TP, Bí thư Đảng ủy khối Dân – Chính – Đảng TP được điều động giữ chức vụ Trưởng ban Dân vận Thành ủy TP, thay bà Thân Thị Thư.

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Tòa Phúc thẩm đã lén lút xử kín nhà văn Phạm Viết Đào hôm Thứ Hai, 9-6-2014, y án 15 tháng tù

Posted by hoangtran204 trên 13/06/2014

Tin mới nhất về nhà văn Phạm Viết Đào:
Tòa Phúc thẩm đã lén lút xử kín nhà văn Phạm Viết Đào
Hôm thứ Hai đầu tuần (9/6/2014) Tòa phúc thẩm đã lén xử KÍN và y án Sơ thẩm, tức là án tù 15 tháng cho nhà văn Phạm Viết  Đào. Tòa không báo cho vợ con ông biết, nên cả vợ và con đều không có mặt, cũng không có luật sư, vì ông tự bào chữa.
Trước đó 1 tuần, vợ và con ông đã liên hệ với Tòa để hỏi về lịch phiên xử phúc thẩm nhưng tòa không trả lời, bảo cứ chờ. Bất ngờ, ngày 9/6 tòa lén lút xử mà không báo cho gia đình, đến hôm nay vợ con ông vào thăm bác mới biết chuyện đó.
Phạm Viết Đào là một nhà văn, một blogger yêu nước, với tinh thần chống Tàu rất quyết liệt. Ông đã thu thập hồ sơ về chiến tranh Biên giới 1979 và phỏng vấn nhiều tướng lĩnh, sĩ quan, binh lính tham gia chiến trường, nhằm cung cấp cho hậu thế những hiểu biết chân thực về cuộc chiến tranh này. Em trai ông là một Liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến tranh Biên giới.
Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, xin cùng nhớ tới Nhà văn – Blogger yêu nước, Phạm Viết Đào! Mong ông giữ gìn sức khỏe!
 P.V.K

TIN MỚI NHẬN: TÒA PHÚC THẨM ĐÃ LÉN LÚT XỬ KÍN NHÀ VĂN PHẠM VIẾT ĐÀO (Tễu).

* Trương Duy Nhất: 15 tháng tù

*Phạm Viết Đào: 15 tháng tù

*Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh: sẽ bị 15 tháng tù?

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Qua TPP, Đòi Nghiệp Đoàn Độc Lập Cho Công Nhân Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2014

Sự cần thiết phải có một nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam

21-2-2014

viettudan.net

Kính thưa quý vị,
Qua lời kêu gọi của Giáo sư Nguyễn Phúc Liên, Giáo sư cũng đã cho thấy sự cần thiết phải có một nghiệp đoàn độc lập ở Việt Nam, nhất là trong giai đoạn này, chấp nhận một nghiệp đoàn độc lập là một thử thách đối với VN nếu muốn vào TPP.Có lẽ nhiều quý vị chưa được biết, nhưng đã từ lâu, một quá trình vận động cho sự hình thành của các nghiệp đoàn tự do, độc lập ở VN đã và đang diễn ra một cách âm thầm, lặng lẽ, nhưng đối với đảng CSVN đó vẫn là một đe doạ nên họ tìm đủ mọi cách đàn áp. Nhiều người bị bắt vào tù, bị thủ tiêu bằng cách giả tai nạn xe cộ, mất tích…v. v…
Kết quả của quá trình vận động lâu dài này là sự ra đời của Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do.Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do ( gọi tắt là Lao Động Việt ) ra mắt tại Bangkok, Thailand ngày 17/1/2014 vừa qua Lao Động Việt là một tổ chức gồm 3 tổ chức trong nước :

-Nghiệp đoàn Độc Lập,
-Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông,
-Phong trào Lao Động Việt, 
1 tổ chức ở hải ngoại : Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam                                         

phóng viên Mặc Lâm có mặt tại đại hội và phỏng vấn : http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/free-viet-labor-fede-01212014054852.html  
Thông cáo báo chí về Đại Hội lần thứ Nhất Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do, link:http://danlambaovn.blogspot.fr/2014/01/ai-hoi-lan-thu-nhat-lien-oan-lao-ong.htmlSau đây xin lược sơ để quý vị có thể hiểu được quá trình vận động này. Dĩ nhiên, chúng tôi không thể nói hết tất cả, nhưng cũng mong giúp cho quý vị có một cái nhìn khái quát về các vận động của Lao Động Việt trong thời gian qua:Để chuẩn bị cho một Liên Đoàn Lao Động Tự Do, một số tổ chức đã được tuần tự ra đời trong nước và hải ngoại:

– Tháng 6 – 2006 : Nghiệp Đoàn Độc Lập ( Nguyễn Khắc Toàn, Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài, Lê Trí Tuệ…. và rất nhiều người khác)
 Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài bị bắt, Lê Trí Tuệ trốn sang Kam-Phu-Chia và bị mất tích cho đến hôm nay. Nguyễn Khắc Toàn rời chức chủ tịch NĐĐL

– Tháng 10- 2006 : Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông ra đời: Nguyễn Tấn Hoành ( Đoàn Huy Chương); Đoàn văn Diên, Nguyễn thị Lê Hồng, Trần Quốc Hiền…v.v..
Không lâu sau đó, tất cả đều bị bắt.

Hiện Đoàn văn Diên, Nguyễn thị Lê Hồng đã được thả, Đoàn Huy Chương vẫn còn trong tù, Trần Quốc Hiền đang tị nạn tại Thái Lan

– 28-30/6/2006: Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Động VN ra đời tại Ba Lan với Ban Chấp Hành: Trần Ngọc Thành, Nguyễn Thanh Trang, Nguyễn Ngọc Bích….UB này ra đời nhằm yểm trợ cho các tổ chức nghiệp đoàn trong nước. 
– Tháng 12/2009: Đại hội kỳ 2 của UB BV NLD VN tại Kuala Lumpur, Malaysia với sự tham gia của công nhân VN đang làm việc tại Malaysia và VN. 
CS VN đã tìm cách phá đại hội, nhưng không thành.
Sau đại hội, do yêu cầu của CSVN, chính quyền Mã Lai đã cấm 3 thành viên của UBBV NLD VN không được vào Mã Lai
( anh Trần Ngọc Thành và GS Nguyễn Ngọc Bích đã bị giữ tại phi trường Mã Lai  – năm 2010 (TNT) và 2014 ( GS NNB) ( anh Trần Ngọc Thành đã viết thư cho Bộ Ngoại Giao Mã Lai yêu cầu huỷ án lệnh này và đã được chấp thuận) 
GS Nguyễn Ngoc Bích bị chặn tại phi trường Malaysia : http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/pro-ng-n-bic-prohi-t-malsy-01212014051207.html– 2010: Phong trào Lao Động Việt ra đời: Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ thị Minh Hạnh
Sau cuộc vận động đình công thành công ở hảng giầy Mỹ Phong (Trà Vinh) với gần 10000 công nhân đình công đòi quyền lợi và nhân phẩm cho công nhân. Hùng, Hạnh và Chương đều bị bắt và kết án 7 ( Chương, Hạnh) và 9 (Hùng) năm tù.

– Ngày 17/1/2014:
 Liên Đoàn Lao Động Việt ra mắt tại Bangkok , Thailand ( xem link và bài dưới đây )
Kính thưa quý vị,
Công nhân chiếm 4,5% tổng số dân số, tuy nhiên đây là giới bị bóc lột nhiều nhất. Tổng Liên đoàn lao động VN là cánh tay nối dài của đảng CS VN, cấu kết với chủ để bóc lột công nhân, hầu hết các cuộc đình công tại VN là do công nhân tự phát chứ không hề được sự hậu thuẩn của Tông Liên đoàn lao động VN, chẳng những thế, công nhân đình công còn bị đàn áp, bắt bớ. Hàng ngàn công nhân ngộ độc thực phẩm không hề thấy Tổng Liên đoàn lao động VN  lên tiếng.
Chính vì thế, sự ra đời của một tổ chức Nghiệp đoàn độc lập tại VN là cần thiết và dứt khoát phải có !
Các tổ chức nghiệp đoàn độc lập trong nước tuy bị đàn áp, bắt bớ, nhưng họ vẫn tồn tại và chỉ đợi thời cơ là sống dậy và tiếp tục hoạt động.
Lao Động Việt ra đời để hậu thuẩn cho các tổ chức nghiệp đoàn trong nước bằng nhiều cách khác nhau.Xin quý vị vào các trang dưới đây để biết thêm về Lao Động Việt http://laodongviet.org/Uy ban Bảo Vệ Người Lao Động VN

http://baovelaodong.com/   (tiếng Việt) 

http://protectvietworkers.com/   (tiếng Anh)

Facebook:
https://www.facebook.com/laodong.viet

Rất mong sự tiếp tay của quý vị bằng mọi hình thức để Lao Động Việt có thể giúp cho công nhân Việt Nam một cách hữu hiệu hơn.
Mọi ý kiến đóng góp, xin liên lạc:

laodongV@…

 

Đại hội Lần thứ nhất Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do

Trần Ngọc Thành

Trong hai ngày 17, 18 tháng 1 năm 2014, tại thành phố Bangkok, thủ đô Vương Quốc Thái Lan đã diễn ra Đại Hội lần thứ nhất Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do, gọi tắt là Lao Động Việt (LĐV).

Đại Hội quy tụ trên 20 đại biểu từ các nước trên thế giới như Bỉ, Đức, Pháp, Áo, Ba lan, Úc, Mỹ, Việt Nam, Mã Lai, Thái Lan, ngoài ra tại Đại Hội cũng hiện diện một số vị khách quốc tế: ông Bent Gehrt thuộc tổ chức Workers Rights Consortium, luật sư Charles Hector thuộc Workers Hub for Change, Giáo sư Sarah Kaine và Emmanuel Josserand thuộc Đại Học Kỹ Thuật Sydney.

Lao Động Việt là một tổ chức kết hợp của Công Đoàn Độc Lập Việt Nam, Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam, Phong Trào Lao Động Việt Nam và Ủy Ban Bảo vệ Người Lao Động Việt Nam.

Nhằm bênh vực và bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam, ngày 20 tháng 10 năm 2006 tại Việt Nam đã tuyên bố thành lập “Công Đoàn Độc Lập Việt Nam”.

Từ ngày 27 đến 29 tháng 10 năm 2006, tại Warszawa, thủ đô nước Cộng Hòa Ba lan, Hội nghị quốc tế về quyền lao động tại Việt Nam đã được tổ chức, quy tụ gần 80 đại biểu và khách mời từ các nước trên thế giới như Canada, Mỹ, Úc, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đức, Ba Lan, Tiệp, Nga, dưới sự bảo trợ của Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan, Hiệp Hội Tự Do Ngôn Luận Ba Lan. Hội nghi đã diễn ra tại sảnh đường chính của Quốc Hội nước Cộng Hòa Ba Lan, nhằm mục đích ủng hộ Công Đoàn Độc Lập Việt Nam, ủng hộ cuộc tranh đấu của công nhân và người lao động Việt Nam chống lại sự bóc lột thậm tệ của giới chủ.

Ngày 07 tháng 1 năm 2007, cũng tại Việt Nam, tuyên bố thành lập Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam.

Tuy nhiên, sau khi được chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thẳng tay đàn áp những người sáng lập và thành viên của Công Đoàn Độc Lập Việt Nam, Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam, nhiều người phải vào tù, nhiều người khác phải trốn chạy khỏi Việt Nam và xin tỵ nạn chính trị ở nước ngoài.

Những người tranh đấu cho quyền thành lập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của công nhân và người lao động phải rút vào hoạt động bí mật và tiếp tục phát triển dưới một tên mới là Phong trào Lao Động Việt.

Với sự hỗ trợ của Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Động, Phong Trào Lao Động Việt đã phát hành và chuyển đến người lao động trên 20 ngàn ấn bản “Bảo vệ Lao Động”, hướng dẫn công nhân và người lao động phương pháp tranh đấu để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, mở tiệm internet gần khu tập thể của công nhân để công nhân có thể tiếp cận được các nguồn thông tin cần thiết; Giúp đỡ, hướng dẫn công nhân tổ chức đình công khi bị giới chủ áp bức và bóc lột quá đáng.

Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không ngừng truy lùng những người tranh đấu cho quyền nghiệp đoàn, đàn áp, bắt bớ, sa thải những người tổ chức đình công.

Đầu năm 2010, ba nhà hoạt động tranh đấu cho quyền lợi công nhân là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương và Đỗ Thị Minh Hạnh bị bắt và bị tòa án cộng sản tuyên án 9 năm tù cho Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, 7 năm tù cho Đoàn Huy Chương và Đỗ Thị Minh Hạnh.

Giới chủ tại Việt Nam với sự đồng lõa và hỗ trợ của nhà cầm quyền cộng sản không ngừng bóc lột sức lao động của công nhân, người lao động không còn con đường nào khác là dùng đình công để tự bảo vệ mình.

Từ năm 1995 đến nay đã có trên 5000 cuộc đình công tại Việt Nam, có nhiều cuộc có trên 10 ngàn, 20 ngàn công nhân tham gia.

Tại Việt Nam cũng có tổ chức công đoàn là Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, nhưng đây là một tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản Việt Nam, được lập ra nhằm mục đích kiềm tỏa và kiểm soát công nhân. Chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao ĐộngVN, ông Đặng Ngọc Tùng là Ủy viên trung ương đảng công sản Việt Nam, lãnh đạo các cấp của tổ chức này cũng là đảng viên hoặc do đảng cộng sản chỉ định.

Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, là lực lượng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội nhưng lại bị đối xử bất công nhất. Rất cần thiết phải có một tổ chức nghiệp đoàn đúng nghĩa để bênh vực và bảo vệ quyền lợi của công nhân và người lao động.

Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do ra đời nhằm mục đích đó.

Đáng lẽ ra Đại Hội lần thứ nhất LĐV phải được tổ chức tại Việt Nam, nhưng trong điều kiện hiện nay, để tránh bị đàn áp, LĐV buộc phải tổ chức tại Bangkok.

Đại Hội I LĐV đã thành công tốt đẹp.

Ban lãnh đạo và toàn thể thành viên quyết tâm tranh đấu để LĐV được hoạt động công khai và hợp pháp tại Việt Nam.

LĐV đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản VN trả tự do ngay tức khắc cho các nhà tranh đấu cho quyền nghiệp Đoàn là Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc hùng và Đỗ Thị minh Hạnh đang bị cầm tù.

LĐV đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải trả tự do ngay tức khắc cho ông Lê Trí Tuệ, một thành viên sáng lập Công Đoàn Độc Lập Việt nam hoặc phải bạch hóa tình trạng ông Lê Trí Tuệ đã bị mất tich từ 6 năm nay tại Căm Pu Chia. Chắc chắn nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam là kẻ chủ mưu trong việc bắt cóc ông Lê Trí Tuệ.

LĐV đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản Việt nam trả tự do tức khắc cho các tù nhân lương tâm đang bị giam giữ tại các nhà tù trên khắp đất nước Việt nam.

Thay mặt Ban chấp hành LĐV.

Trần Ngọc Thành

(24.01.2014)

 

*Lá thư dưới đây cho thấy Gs Nguyễn Phúc Liên đã phần nào đoán trúng cuộc biểu tình biến thành bạo động ở Bình Dương ngày 13 và 14-5-2014.

Điều tức cười là cuộc bạo loạn do đảng CSVN giật dây; trong đó, công an Bình Dương vờ vịt không tuần tra, không trả lời các cuộc gọi cầu cứu của bảo vệ công ty khi đám đông đến đốt phá 481 công ty ở Bình Dương. Nhưng trong đó, chỉ có 14 công ty Trung Quốc. 

—– Forwarded Message —–
From: NGUYEN PHUC LIEN
Sent: Thursday, February 20, 2014 5:35 AM
Subject: Fwd: QUA TPP, ĐÒI NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP CHO CÔNG NHÂN VIỆT NAM
 
Chủ đề:
PHÁT HIỆN VÀ VIỄN TƯỢNG BẠO ĐỘNG
CỦA QUẦN CHÚNG NỔI DẬY
Bài 18:
QUA TPP,
ĐÒI NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP
CHO CÔNG NHÂN VIỆT NAM
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 20.02.2014
 
            Cách đây 5 năm, Nhà báo NGUYỄN KHẮC TOÀN ở Hà Nội kêu gọi thành lập Nghiệp đoàn Độc lập cho Công nhân Việt Nam. Tại Sài Gòn, một nhóm Thanh niên cũng đứng lên thành lập Nghiệp Đoàn Độc Lập cho Công nhân. Nhưng rồi Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn đã phải bị bịt miệng và nhóm thanh niên tại Sài Gòn bị truy nã. Tất nhiên chúng ta hiểu rằng CSVN độc tài khó lòng cho quyền lập Hội cho Công nhân.
            Ngày nay, CSVN đang ở tình trạng phá sản Kinh tế và rất tha thiết đến việc vào được TPP (TransPacificPartnership/ Hiệp Hội Xuyên Thái Bình Dương). Qua việc tha thiết vào được TPP của CSVN, chúng ta có thể đấu tranh để CSVN chấp nhận cho quyền lập Hội mà cụ thể cho một Nghiệp Đoàn Công nhân Độc lập.
            TPP là một Hiệp Hội tự do Mậu dịch và tất nhiên liên hệ mật thiết với sức Lao động của Công nhân, một yếu tố chính trong sản xuất, nguồn của những trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong TPP.
            Chúng tôi xin đề cập đến những điểm sau đây:
=>       Những Hiệp Hội Thương Mại trong vùng Kinh tế Thái Bình Dương
=>       Hiệp Hội TPP giữa 12 nước
=>       Đòi hỏi của Tổng Liên Đoàn Lao Động Hoa kỳ
 
Những Hiệp Hội Thương Mại
trong vùng Kinh tế Thái Bình Dương
 
            Ngoài APEC được tổ chức thường niên như dịp gặp gỡ giữa các nước thuộc vùng Thái Bình Dương để thảo luận những vấn đề Kinh tế, Thương mại, còn có hai Tổ chức chặt chẽ hơn nhằm Tự do Mậu dịch:
1)       CAFTA (China-Asean Free Trade Agreement/ Thỏa thuận Trung quốc-Đông Nam Á về Tự do Mậu dịch).
Hà nội đã bị Trung quốc ép ký 10 thoả ước ( Trương Tấn Sang, Bắc kinh 6/2013) nhằm , sớm đưa Việt Nam vào quỹ đạo của TQ bành trướng bá quyền qua CAFTA (China Asean Free Trade Agreement) !
Tiến sĩ Chan Yuk Wah đã nhận định như sau :
… ” Thứ nhất, trong kế hoạch Trung Quốc – ASEAN, đường biên giới Việt – Trung là nút quan trọng để Trung Quốc gắn kết với phần còn lại của Đông Nam Á.
Quỹ đạo Trung Quốc + ASEAN
Bước vào thiên niên kỷ mới, xuất hiện viễn kiến phát triển mới xuất hiện khi Trung Quốc tìm cách thúc đẩy quỹ đạo Trung Quốc + ASEAN. Một số kế hoạch khoanh vùng đặc biệt được giới thiệu từ 2004, ví dụ Khu Kinh tế “Hai hành lang, Một vành đai” (hai hành lang gồm Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, và Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng; vành đai nghĩa là khu phát triển Việt Nam – Quảng Tây – Quảng Đông và Hải Nam).
Ngoài ra, còn có ý tưởng về chương trình hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ, chương trình kinh tế “Một trục, Hai cánh” (trục đi từ Nam Ninh đến Singapore; hai cánh là Tiểu vùng Sông Mekong một bên và bên kia là các khu vực cảng Nam Trung Hoa và ASEAN).
Tất cả những kế hoạch này là nhằm hướng tới thành lập CAFTA (Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc – ASEAN).”
Hiệp Hội này không có Hoa kỳ can thiệp vào mà lãnh đạo chính là Trung quốc.
 
2)         TPP (TransPacificPartnership/ Hiệp Hội Xuyên Thái Bình Dương)
TPP khởi đầu là 4 nước và đang được thương thảo để mở rộng ra 12 nước sau đây: Mỹ, Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Mã Lai, Mexico, Tân Tây Lan, Peru, Singapore và Việt Nam.
            Chúng tôi sẽ trình bầy chi tiết hơn trong đoạn tiếp liền sau.
 
Hiệp Hội TPP giữa 12 nước
 
Theo nhận định của Tác giả Donald EMMERSON, thì Trung quốc muốn nhấn mạnh đến một Tổ chức Đông Á gồm các quốc gia Đông Nam Á và Trung quốc, Nhật, Nam Hàm thêm vào, nghĩa là không có Hoa kỳ. Nhưng trong cuộc Họp APEC ngày 12/13.11.2011 tại Hạ Uy Di, lợi dụng vấn đề An Ninh chung Thái Bình Dương, nhất là vấn đề Biển Đông, Hoa kỳ đề nghị một Hiệp ước rộng lớn hơn gọi là Hiệp Hội Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership TTP). Các quốc gia Vùng Thái Bình Dương, vì vấn đề An Ninh, cần sự hiện diện của Hoa kỳ, một quốc gia ưu thế về quân sự. Khi Hoa kỳ đặt Căn cứ quân sự tại Uøc cũng trong ý hướng an ninh Thái Bình dương này, nhằm giảm mối đe dọa về an ninh từ Trung quốc.
Hoa kỳ không minh nhiên loại Trung quốc ra khỏi Thị trường Tự do Mậu dịch Thái Bình Dương, nhưng đặt những điều kiện khắt khe cho Hội viên của Hiệp Hội, như:  
=>       Tự do Kinh doanh, nghĩa là dân chủ hóa Kinh tế. Chính trị không độc đoán nắm trọn sinh hoạt Kinh tế nữa.
=>       Tôn trọng quyền lao động quốc tế
=>       Tôn trọng bản quyền tư hữu trí tuệ
=>       Tôn trọng Môi trường
=>       Để Tỷ giá Tiền tệ uyển chuyển đối với Đo-la
Những điều kiện trên đây  đụng vào vấn đề LƯỠNG NAN của Cơ chế Chính trị Trung quốc. Phải chăng đây là là những điều kiện bắt buộc Trung quốc phải thay đổi Chính trị, nếu không thì không thể là Hội viên của Hiệp Hội Xuyên Thái Bình Dương về Kinh tế/ Thương mại. Những điều kiện này đánh thẳng vào Kinh tế và Chính trị Trung quốc. Nếu khắt khe với Trung quốc như trên, liệu Hoa kỳ và TPP có đòi hỏi xít xao những điều trên đối với Việt Nam hay không ?
 
Đòi hỏi của Tổng Liên Đoàn Lao Động Hoa kỳ
 
            Xem những điều kiện trên đây, chúng ta thấy những khó khăn: (i) về phía nội bộ Việt Nam trong việc tự cải tổ từ gốc của Mô hình Kinh tế của mình và (ii) về phía đòi hỏi rất chính đáng của Liên Đoàn Lao Động Hoa kỳ trong việc bảo vệ sức Lao động cho mọi nước thành viên của Hiệp Hội.
 
(i) về phía nội bộ Việt Nam    
Qua cuộc Phỏng vấn Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH do Phóng viên MẶC LÂM, chúng ta thấy Ts Lê Đăng Doanh nêu ra những khó khăn sau đây:
Việt Nam bước vào sân chơi TPP thì một là phải có những cải cách mạnh mẽ và điều ấy cho đến nay Việt Nam có đề ra phương hướng sẽ cải cách nhưng còn nhưng biện pháp cụ thể thì chưa thấy rõ.           
Điều đáng lo nhất đối với Việt Nam là về mặt hàng công nghiệp với quy định xuất xứ của sản phẩm. Thí dụ như đối với sản phẩm dệt may thì TPP quy định từ sợi trở lên phải có hàm lượng TPP 70%. Điều đó có nghĩa là người Việt Nam phải phát triển công nghiệp và dịch vụ trợ giúp cho dệt may như nhuộm, chỉ may, cúc áo, chất độn để cho hàm lượng đạt được 70% . So với hiện nay chủ yếu là nguyên liệu Trung Quốc là nước không phải TPP chiếm đến 60-70% tùy từng loại mặt hàng, đấy là một thách thức.
Một thách thức cuối cùng nữa là Việt Nam có chấp nhận cải cách hay không.
            Trong hiệp định TPP nó có những quy định phải công khai việc mua sắm của chính phủ, quy định về luật công đoàn tức là quyền tự do lập công đoàn của người lao động…hiện nay chúng ta đang hy vọng Việt Nam có thể tiến những bước tiến mạnh mẽ để có thể kết thúc đàm phán TPP trong thời gian gần nhất. Có tin nói sẽ cố thực hiện trong năm 2014 này.
TPP không phải là chiếc đũa thần, mà chiếc đũa thần chính là sự cải cách của con người Việt Nam, nhà nước VN. TPP chỉ có thể là chất xúc tác, kích thích để VN có thể mạnh mẽ hơn trong việc thực hiện cải cách mà thôi chứ TPP không làm thay được cho VN
            Ts Lê Đăng Doanh không nói ra một cách minh nhiên qua câu kết luận trên đây. Chúng tôi luôn luôn theo rõi những nhận định của Ts Lê Đăng Doanh và xin nói ra một cách công khi ý tưởng của Tiến sĩ: CSVN phải thay đổi chính cái Cơ chế hiện hành nghĩa là không được dùng độc tài Chính trị để giữ Chủ dạo cả nền Kinh tế quốc dân. Đó mới là cải cách thực sự.
(ii) về phía đòi hỏi rất chính đáng của Liên Đoàn Lao Động Hoa kỳ
            Sau đây là thái độ rất chính đáng của Liên đoàn Lao Động Hoa kỳ để bảo vệ sức Lao động cho bất cứ Cộng nhân nào trong mọi thành viên của TPP:
Hành pháp Hoa Kỳ còn chịu nhiều áp lực của các tổ chức lao động Hoa Kỳ. Tổng Liên Doàn Lao Động Hoa Kỳ (American Federation of Labor and Congress of Industrial Organizations viết tắt là AFL-CIO), môt trong những tổ chức lao động lớn nhất ở Hoa Kỳ, bao gồm 56 công đoàn với 12.5 triệu đoàn viên, tố cáo rằng chương Lao Động của thỏa ước TPP đã không đề cập tới những tiêu chuẩn lao động cốt lõi của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế và cũng không hề nói những điều lệ lao động có thể buộc thi hành được hay không. AFL-CIO tuyên bố tiếp rằng AFL-CIO đã tranh đấu cam go để thiết lập được một chương mạnh mẽ về lao động trong thỏa ước TPP hầu bảo đảm rằng công nhân của bất cứ một quốc gia nào trong TPP, kể cả Việt Nam, có thể sử dụng những quyền căn bản như quyền lập hội và quyền thương thuyết tập thể…”
            Đòi hỏi này là đòi hỏi phải thay đổi chính Cơ chế CSVN. Nhận định về khó khăn thay đổi của Ts Lê Đăng Doanh trên đây chính là ở điểm này.
Nếu không đổi Cơ chế và cho dù vào được TPP vì những lý do Chính trị hay Quân sự do Hoa kỳ ưu đãi, CSVN vào TPP như một hỏa mù mỵ dân mà hậu quả lại làm cho Việt Nam tràn ngập hàng những nước trong vùng để giết Kinh tế quốc dân tại sân nhà.
 
Kết Luận ngắn
 
            Chúng tôi muốn qua những lời Kết Luận ngắn của bài này là kêu gọi những Phong trào đang đấu tranh cho Nhân Quyền coi như liên hệ đến TPP hãy dồn lực vào việc đòi cho Công nhân Việt Nam có quyền lập Hội,  cụ thể là Nghiệp Đoàn Lao Độc Lập cho Công nhân Việt Nam. Quyền bảo vệ SỨC LAO ĐỘNG của Công nhân là Nhân quyền hàng đầu  thiết thân phải bảo vệ cho họ vậy.
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 20.02.2014

Posted in Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »

►Công Đoàn phải thực sự bảo vệ quyền và lợi ích của công nhân

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2014

Công Đoàn phải thực sự bảo vệ quyền và lợi ích của công nhân

11-6-2014
.
Ts. Nguyễn Đình Thắng
.
.

Mấy ngày gần đây ở trong nước có nhiều tiếng nói về nhu cầu thành lập công đoàn tự do và độc lập. Đây là thời điểm thuận lợi hơn trước vì quyền thành lập hay tham gia công đoàn tự do và độc lập đang là điều kiện tiên quyết để Việt Nam được gia nhập Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Tuy nhiên, muốn đạt hiệu quả, những người hoạt động công đoàn độc lập trong tương lai cần:

(1) Đặt quyền và lợi ích của công nhân là trọng tâm duy nhất;

(2) Chứng minh khả năng tổ chức công nhân;

(3) Bảo vệ được thành viên;

(4) Có đủ chuyên môn để đối tác với các công đoàn kỳ cựu và có ảnh hưởng trên thế giới.

Quyền và lợi ích của công nhân là trọng tâm duy nhất

Trở ngại lớn nhất của các tổ chức của người Việt trong lãnh vực công đoàn là bị quốc tế dị nghị về thực chất: công đoàn chỉ là bình phong cho chủ đích chính trị ngầm ẩn. Chính bởi vậy Solidarity Center, bộ phận quốc tế của tổ chức công đoàn lớn nhất Hoa Kỳ là AFL-CIO, trong bao năm đỡ đầu cho liên đoàn lao động độc lập của Miến Điện, nhưng tuyệt nhiên tránh né mọi quan hệ với các tổ chức lao động của người Việt. Đây cũng là thái độ của nhiều công đoàn quốc tế mà tôi tiếp xúc trong nhiều năm qua.

Sự dị nghị này có căn cứ vì đã từng có tổ chức mang danh nghĩa bảo vệ quyền lao động nhưng lại đứng tên chung với một số đảng chính trị trên các tờ bích chương về Hoàng Sa và Trường Sa dán lén ở đôi ba chỗ trong nước; hay kết hợp với các tổ chức chính trị để thực hiện chương trình “giao lưu trong ngoài” với người ở trong nước qua ngả Thái Lan; hay tuyên bố lấy công đoàn làm xúc tác cho sự thay đổi chế độ theo mô hình Ba Lan.

Khả năng tổ chức công nhân

Trong con mắt của các tổ chức công đoàn Hoa Kỳ, chưa một tổ chức nào của người Việt chứng minh được khả năng tổ chức công nhân trong hay ngoài nước. Thậm chí, có tổ chức đã đến Mã Lai để tập hợp người Việt lao động “xuất khẩu” nhưng chính thành viên của tổ chức đã bị chính quyền sở tại câu lưu và trục xuất. Nếu chưa đủ sức để hoạt động ở môi trường mở như Mã Lai, thì khó có thể hiệu quả ở môi trường đóng như Việt Nam. Những tổ chức công đoàn quốc tế rất tinh tường và bén nhậy trong nhận định và rất cẩn thận khi chọn đối tượng hợp tác.

Bảo vệ thành viên hoạt động

Một công đoàn phải chủ trương và chứng minh được khả năng bảo vệ thành viên hoạt động, một điều vừa thể hiện đạo đức vừa thể hiện nội lực. Nếu không bảo vệ được chính thành viên của mình thì chắc chắn không đủ sức để bảo vệ quyền và lợi ích của công nhân nói chung. Cho đến nay chưa một tổ chức của người Việt hoạt động cho người lao động nào chứng minh được khả năng bảo vệ thành viên của mình.

Không những vậy, có tổ chức đã giao phó công tác nguy hiểm cho thành viên mà không hề chuẩn bị các biện pháp bảo vệ hay giải cứu. Năm 2009, đích thân tôi lập hồ sơ tị nạn cho một thành viên của một tổ chức hoạt động công đoàn. Hoạt động trong nước đã bại lộ nên người ấy phải lánh nạn ở Thái Lan. Nhưng chỉ ít lâu sau, người ấy xin rút hồ sơ tị nạn với lý do tổ chức chỉ thị phải quay về Việt Nam cho công tác thành lập phong trào lao động. Chẳng bao lâu người này bị bắt cùng với số nhân sự hợp tác. Tất cả đều đang ở tù.

Các tổ chức nhân quyền và công đoàn quốc tế luôn đặt nặng vấn đề đạo đức và khả năng bảo vệ thành viên. Tuy có thể không biết rõ nội tình như vừa kể, nhưng họ chỉ cần nhìn sự kiện là suy ra được bản chất.

Trình độ chuyên môn

Hoạt động công đoàn là một trong số các hoạt động xã hội dân sự lâu đời nhất cho nên cũng phát triển nhất về tính chuyên nghiệp. Người hoạt động công đoàn phải được đào tạo, không chỉ qua sách vở mà phải qua sự trầm mình trong phong trào công đoàn thế giới. Qua đó họ hiểu được các nguyên tắc về hoạt động công đoàn, nắm được các phương thức tổ chức và bảo vệ công nhân, và nối kết được với giới hoạt động công đoàn trên thế giới.

Một dấu hiệu rất rõ của tính thiếu chuyên môn là khi thành viên của tổ chức đội rất nhiều nón, nghĩa là cùng một người mà lại hoạt động trong nhiều lãnh vực qua nhiều tổ chức với nhiều mục tiêu khác nhau. Hoạt động trải rộng nên mong manh, tản mác và hời hợt. Nếu không may một trong các mục tiêu lại mang tính cách chính trị, thì lời nói hay việc làm dù của chỉ một người lại làm tăng sự dị nghị sẵn có đối với thực tâm và thực chất của toàn thể tổ chức mang danh nghĩa bảo vệ người lao động.

Trong tình trạng bị lánh xa bởi các công đoàn có uy tín thì thật khó cho thành viên của tổ chức tìm được cơ hội và môi trường để nâng cấp trình độ chuyên môn. Đây là vòng lẩn quẩn khó thoát ra.

Muốn thoát thì phải khởi sự từ đầu với một tổ chức không tì vết và thực sự vì quyền và lợi ích của người lao động. Tổ chức ấy phải tập trung phát triển khả năng tập hợp và tổ chức công nhân, chủ trương bảo vệ thành viên bằng mọi giá, và đào tạo nhân sự chuyên môn để đối tác với các công đoàn trong thế giới tự do. Tuy “vạn sự khởi đầu nan” nhưng như vậy mới tránh được những dị nghị hầu như vĩnh viễn không thể xoá bỏ.

Sự dị nghị ấy chúng tôi đã trải qua khi vận động để các công đoàn lao động ở Hoa Kỳ cùng lên tiếng cho Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương. Họ đều tránh né vì quan ngại về những tổ chức tự nhận là đứng đằng sau những nhân sự này. Biết rằng cố gắng thêm cũng vô ích, đầu năm nay chúng tôi chuyển hướng: tập trung vào khía cạnh tù nhân lương tâm và tìm sự yểm trợ của Quốc Hội Hoa Kỳ. Đó là lý do mẹ của Đỗ Thị Minh Hạnh được sắp xếp điều trần ngày 16 tháng 1 vừa qua trước Uỷ Hội Nhân Quyền Tom Lantos của Hạ Viện Hoa Kỳ. Qua buổi điều trần ấy chúng tôi nối kết mật thiết hồ sơ Hạnh – Hùng – Chương với vấn đề TPP cho Việt Nam.

Do cùng mục đích đẩy lùi TPP cho Việt Nam và nhờ uy tín của một số dân biểu Hoa Kỳ ủng hộ Hạnh – Hùng – Chương, một số tổ chức công đoàn Hoa Kỳ bắt đầu nhìn nhận rằng ba nhân sự này thực tâm tranh đấu cho công nhân nên bị tù đày, mặc dù vẫn giữ nguyên thái độ dị nghị đối với các tổ chức người Việt liên đới. Kết quả là ngày càng thêm công đoàn Hoa Kỳ nêu hồ sơ của bộ ba này trong các cuộc vận động hậu trường về TPP. Sự nhập cuộc của các công đoàn này đang tạo một chuyển hướng trong chính giới Hoa Kỳ đối với Việt Nam: rõ ràng hơn, cứng rắn hơn, và dứt khoát hơn.

Chúng tôi không hoạt động công đoàn nhưng nghĩ rằng công đoàn độc lập là tuyệt đối cần thiết cho Việt Nam. Qua những chia sẻ kinh nghiệm, tôi cầu mong rằng các người lao động khốn khó ở Việt Nam sẽ thực sự được đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích bởi những công đoàn tự do và độc lập đúng nghĩa và thực sự của chính họ.

Bài liên quan:

Xã Hội Dân Sự Phải Độc Lập Với Các Đảng Chính Trị

http://machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2875

TPP cho Việt Nam: 90% xác suất sẽ bị đẩy lùi trừ khi…

http://machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2866

 

—-

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích bị chặn không được vào Malaysia

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-01-21

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích tại phi trường Kuala Lumpur hôm 21 tháng 1 năm 2014.

Gs Nguyễn Ngọc Bích (trái)

Sáng hôm nay 21 tháng Giêng năm 2014 Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích bị chặn lại tại phi trường Kuala Lumpur không cho nhập cảnh vào Malaysia khi ông đáp chuyến bay từ Bangkok sang Kuala Lumpur để làm việc. Hải quan Malaysia không giải thích lý do thỏa đáng nào khi bị yêu cầu cho biết lý do.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cho chúng tôi biết diễn tiến sự việc như sau:

“Khi vào phi trường Kuala Lumpur mấy người khác không bị gì cả nhưng tới phiên tôi thì tự nhiên nó chặn và nói rằng chúng tôi có lệnh không cho ông vào Mã Lai. Tôi hỏi lại sao lại có chuyện như vậy thì họ bảo tôi cũng không có câu trả lời cho ông chỉ vì trên headquarter nói với chúng tôi là không cho ông vào thế thôi, mặc dù ông có giấy tờ đàng hoàng.

Tôi bảo ông có thể giải thích vì sao hay không thì họ nói tôi chỉ có thể nói với ông như thế này: có phải lần trước ông vào Mã Lai vào năm 2009 phải không? Tôi nói là đúng như vậy. Họ lại nói sau khi ông vào Mã Lai lần đó thì giữa năm 2010 chúng tôi có lệnh không cho ông vào.”

Khi chúng tôi hỏi liệu có sự liên hệ nào giữa việc Malaysia đã từng cản trở ông Trần Ngọc Thành không cho nhập cảnh giống như trường hợp của giáo sư hôm nay hay không, giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trả lời:

“Rõ ràng nó có sự liên hệ với kỳ họp vào tháng 12 tại Kuala Lumpur của Ủy ban bảo vệ người lao động. Sau đó anh Trần Ngọc Thành cũng bị Malaysia không cho vô. Về sau anh Thành than phiền với sứ quán của Ba Lan vì anh ấy là công dân Ba Lan nên sứ quán này phản đối Malaysia về chuyện đó. Tôi nghĩ rằng chuyện của tôi hôm nay và anh Trần Ngọc Thành đều có liên hệ tới vụ đó chứ còn Hà Nội nó viện cớ cho rằng mình khủng bố nó chặn mình thì đây là lần thứ hai nó làm việc này.”

Được biết Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích vừa tham dự đại hội thành lập Liên đoàn Lao động Việt Tự Do tại Bangkok và chuyến đi này của ông cũng nằm trong công tác vận động lao động người Việt tại Malaysia tham gia vào liên đoàn này.

Posted in Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »

►Công đoàn tỉnh Aichi dọa kiện đại sứ quán Việt Nam tại Nhật

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2014

http://www.conongviet.com/ChinhTri/web271208-chua%20bao%20gio%20nguoi%20viet%20nam%20mang%20nhuc%20voi%20the%20gioi%20nhu%20bay%20gio.htm

Công đoàn tỉnh Aichi dọa kiện đại sứ quán Việt Nam tại Nhật

Sau nhiều vụ việc làm ăn bẩn thỉu, gian lận, trộm cắp của cơ quan chức quyền Việt Nam tại nhật như:

– Vụ PCI (một tập đoàn chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn của Nhật phải đưa hối lộ để được trúng thầu các dự án thực hiện bằng tiền viện trợ của Nhật tại Việt Nam)

– Vụ nhân viên, tiếp viên và phi công của Vietnam Airlines, tổ chức trộm cắp hàng hóa trong các trung tâm mua sắm tại Nhật để vận chuyển hàng gian về Việt Nam tiêu thụ

– Vụ “tu nghiệp sinh” Việt Nam bị các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của chính quyền CSVN bóc lột như nô lệ

– Vụ lãnh sự quán CSVN tại Osaka tại Nhật bán passport Việt Nam cho tất cả mọi người

– Vụ đại sứ quán CSVN bị một công đoàn địa phương tại Nhật kiện

Trên nhiều diễn đàn điện tử tại Nhật, nhiều người Nhật cực đoan đang kêu gọi tẩy chay người Việt, đuổi hết người Việt về nước, cắt vĩnh viễn các khoản viện trợ cho Việt Nam.

Có người so sánh viện trợ cho Việt Nam uổng hơn là đổ tiền vào… cống, bởi tiền thuế của họ đang được dùng để nuôi bọn “giòi bọ” ở Việt Nam…

Cảnh sát Nhật khám xét toàn bộ các văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật.

Người phát ngôn của Vietnam Airlines vừa chính thức xác nhận: Tất cả các văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật vừa bị cảnh sát Nhật lục soát để tìm kiếm hàng hóa bị ăn cắp.

Vụ tai tiếng liên quan tới Vietnam Airlines bắt đầu từ ngày 10 tháng 8, sau khi cảnh sát quận Kumamoto bắt quả tang hai “tu nghiệp sinh” người Việt đang ăn cắp hàng hóa của một trung tâm mua sắm. Hai “tu nghiệp sinh” này đến Nhật để làm việc cho một công ty xây dựng hồi tháng 2. Mỗi tháng họ nhận được 70,000 Yen nhưng bị các doanh nghiệp “xuất khẩu lao động” của chính quyền CSVN “trấn lột” 50,000 Yen/tháng nên không đủ sống và được một nhân viên của Vietnam Airlines tại Nhật tuyển mộ để đi ăn cắp mỹ phẩm…

Báo chí Nhật cho biết, cảnh sát Nhật đã xác định có tới 85 người Việt liên quan tới tổ chức trộm cắp này. Ðồng thời, cảnh sát Nhật tuyên bố, việc đưa “tu nghiệp sinh” Việt Nam sang Nhật làm việc có dấu hiệu buôn người nên đã đề nghị cảnh sát hình sự quốc tế hợp tác điều tra.

Hôm 17 tháng 12, cảnh sát Nhật đã bắt quả tang Ðặng Xuân Hợp, phi công của Vietnam Airlines đang vận chuyển hàng gian về Việt Nam. Cảnh sát xác định có khoảng 50 nhân viên (bao gồm cả phi công lẫn tiếp viên hàng không) của Vietnam Airlines dính líu đến tổ chức trộm cắp và vận chuyển hàng gian đang bị điều tra. Vì các nghi can cùng cho biết những Văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật là nơi cất giấu hàng trộm cắp nên một đợt khám xét những văn phòng này vừa được thực hiện.

Theo báo điện tử VnExpress, người phát ngôn của Vietnam Airlines chỉ xác nhận cảnh sát Nhật đã khám xét các văn phòng của hãng này và đã “làm việc” với một số tiếp viên, phi công. Phía Vietnam Airlines từ chối bình luận trước khi giới hữu trách ở Nhật công bố thông tin.

“Tu nghiệp sinh” Việt Nam tại Nhật – một loại nô lệ

Vụ bê bối liên quan tới Vietnam Airlines tại Nhật không chỉ giới hạn trong phạm vi tổ chức-vận chuyển-tiêu thụ hàng ăn cắp. Báo chí Nhật và một số du học sinh tại Nhật đã cung cấp thêm nhiều thông tin để lý giải vì sao “tu nghiệp sinh” Việt Nam tại Nhật phải tham gia vào các tổ chức trộm cắp do nhân viên Vietnam Airlines tổ chức.

Về lý thuyết, “tu nghiệp sinh” là một dạng học nghề nên dù sang Nhật để làm thuê song không được trả lương mà chỉ được hưởng “trợ cấp”. Ðó là sự bất công thứ nhất mà người nghèo ở Việt Nam phải gánh chịu khi chập nhận sang Nhật làm thuê.

Bất công thứ hai là muốn được đi sang Nhật làm “tu nghiệp sinh”, những người nghèo ở Việt Nam phải đóng khoảng 1 triệu Yen/người cho Sovilaco hoặc Suleco (những doanh nghiệp quốc doanh, độc quyền xuất khẩu lao động sang Nhật). Vì sợ “tu nghiệp sinh” bỏ trốn, Nguyễn Gia Liêm – đại diện của Bộ Lao Ðộng Thương Binh Xã Hội CSVN được cử sang Nhật để “giám sát, bảo vệ quyền lợi cho người lao động Việt Nam” đã yêu cầu giới chủ ở Nhật thu giữ passport, thẻ ngoại kiều của “tu nghiệp sinh” nhằm bảo vệ quyền lợi cho Sovilaco hoặc Suleco. Ða số chủ hãng của Nhật chỉ dám giữ passport của “tu nghiệp sinh” vì thu giữ giấy tờ tùy thân của người khác là vi phạm luật pháp của Nhật.

Gần như tất cả “tu nghiệp sinh” tại Nhật phải làm việc khoảng 20 tiếng/ngày và 7 ngày/tuần nhưng chỉ được trả “trợ cấp” 70,000 Yen/tháng (khoản thu nhập chỉ bằng một nửa mức thu nhập tối thiểu) vì là… “tu nghiệp sinh”. Bất công thứ ba là 50% khoản trợ cấp 70,000 Yen/tháng đó được giới chủ Nhật chuyển vào tài khoản của Sovilaco hoặc Suleco tại Nhật, để Sovilaco hoặc Suleco khống chế “tu nghiệp sinh”: Một mặt ngăn ngừa họ bỏ trốn do lao động cực nhọc, lương thấp, mặt khác để hưởng tiền lời. Nếu “tu nghiệp sinh” đau bệnh, xin trở về nguyên quán sớm hoặc có lỗi lầm dẫn tới bị sa thải trước khi “hợp đồng gửi đi làm tu nghiệp sinh” hết hạn, Sovilaco hoặc Suleco sẽ tịch thu toàn bộ số tiền 50% đã giữ mỗi tháng để “bồi thường các thiệt hại do vi phạm hợp đồng”. Ðó là chưa kể, mỗi tháng, một tu nghiệp sinh còn phải trả cho Sovilaco hoặc Suleco 10,000 Yen “quản lý phí”.

Một blogger người Việt có nickname là “Minh T”, sống tại Nhật khẳng định: “Với 25,000 Yen còn lại, phải dành 10,000 Yen trả tiền nhà/tháng, 15,000 Yen để trả các loại chi phí ăn, uống, điện, nước, ga,… gái không làm điếm, trai không ăn cắp cho bọn hàng không Việt Nam mới là chuyện lạ vì họ đã bị bóc lột đến tận xương tủy. Mong sao cảnh sát Nhật phối hợp với ICPO (Hình cảnh Quốc tế), điều tra,hốt hết bọn bất lương trong các đường dây buôn người của chính phủ Việt Nam như họ đã tuyên bố”.

Viên chức ngoại giao Việt Nam tại Nhật: Bẩn thỉu và thô lỗ

Bên cạnh các scandal “PCI”, “Vietnam Airlines”, “Tu nghiệp sinh”,… các viên chức ngoại giao của Việt Nam tại Nhật cũng đang tạo ra vô số tai tiếng.

Từ dư luận, báo chí Nhật đã cử phóng viên điều tra việc các cơ quan ngoại giao của Việt Nam tại Nhật bán giấy tờ giả. Một phóng viên Nhật đã thử liên lạc và cuối cùng mua được một passport từ lãnh sự quán CSVN tại Osaka với giá chỉ có 30,000 Yen, dù anh ta hoàn toàn không phải là công dân Việt Nam và không biết nói tiếng Việt.

Ngoài vụ “Quốc tịch Việt Nam trị giá 30,000 Yen”, tòa đại sứ CSVN tại Tokyo cũng đang nằm trong tầm ngắm do bị nghi chuyên chứng thực các bằng lái xe giả (để người sử dụng được miễn thi lấy bằng lái xe tại Nhật). Sở Cảnh sát Tokyo đã ban hành một chỉ thị, theo đó, những giấy tờ do tòa đại sứ CSVN chứng thực chỉ có giá trị sử dụng sau khi đã được Bộ Ngoại Giao Nhật chứng thực lại, rằng con dấu của Tòa Ðại sứ CSVN trên giấy tờ là dấu… thực.

Vụ mới nhất, đang khiến dân chúng Nhật phẫn nộ đó là việc một viên chức của tòa đại sứ CSVN tại Nhật lăng mạ công đoàn tỉnh Aichi (Airoren), một chi nhánh thuộc Tổng Công Ðoàn Nhật. Trước đó, Airoren đã nhận sự ủy thác của tổ chức công đoàn đại diện cho các công nhân làm việc cho Toyota, yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho 64 “tu nghiệp sinh” Việt Nam, vốn đang bị Sovilaco, Suleco của phía chính quyền CSVN và các công ty trung gian ở Nhật bóc lột.

Sau khi Airoren liên lạc với 64 “tu nghiệp sinh” này để làm các thủ thục thay mặt họ nộp đơn kiện đòi quyền lợi, cả 64 người đã bị viên chức của tòa đại sứ CSVN tại Nhật gọi lên “làm việc”. Trong buổi “làm việc” đó, “tu nghiệp sinh” được yêu cầu chấm dứt quan hệ với Airoren bởi Airoren là một “tổ chức phi pháp” hoạt động như “Mafia”. Ai đó trong số 64 “tu nghiệp sinh” đã bí mật ghi âm và sau khi băng ghi âm được chuyển cho Airoren, Airoren đã gửi văn bản phản kháng cho chính quyền CSVN, yêu cầu thủ tướng CSVN phải xin lỗi, nếu không, họ sẽ kiện đại sứ quán CSVN ra tòa án Nhật.

Trước sự kiện này, blogger có nickname “Minh T” nhận xét: “Chắc chắn những nhân viên của tòa đại sứ là đảng viên cộng sản. Họ phải hiểu rằng Ðảng cộng sản là đại diện của giai cấp công nhân nhưng họ đã không đứng về phía công nhân mà còn sỉ nhục người ta. Họ là nhân viên ngoại giao nhưng quên mất nghiệp đoàn lao động là biểu tượng của nhân dân lao động Nhật”. Cũng blogger “Minh T” kể tiếp: “Tanaka Masao – một cảnh sát viên của tỉnh Gunma đang tham gia điều tra vụ hàng không Việt Nam, có cha từng là cố vấn quân sự cao cấp của Việt Minh, nói như thế này với báo chí Nhật: Tôi không thể tưởng tưởng và hiểu được, tại sao một dân tộc có 4,000 năm văn hiến, dũng cảm, lại để thế hệ con cháu phải đi làm nô lệ ở xứ người như vậy”.

Gia Ðịnh

 

2 công ty SOVILACO và SULECO là 2 trong số hàng ngàn công ty dịch vụ của sở lao động của 64 tỉnh thành, và 600 phòng lao động quận /huyện, các cán bộ đương chức đương quyền thành lập. Giám đốc các công ty dịch vụ là  các đảng viên đảng CSVN và con cái của họ. Họ lo giấy xuất cảnh, mua vé máy bay, làm giấy tờ cho người đi lao động cầm thế nhà đất cho ngân hàng để lấy tiền trả cho 2 công ty dịch vụ kiếm việc làm nầy. 

Hiện nay, VN có khoảng 500.000 – 750.000 lao động xuất khẩu đang làm việc cho các nước ngoài. Người VN lao động xuất khẩu có mặt trên 40 quốc gia. 

Chính phủ VN xuất khẩu người vì có nhiều điều lợi cho họ. Một, nhà nước CS  không đủ khả năng tạo công ăn việc làm cho người dân. Và điều quan trọng nhất là những người nầy đi làm việc ở nước ngoài và dành dụm GỞI TIỀN ĐÔ về cho thân nhân ở VN, và sau cùng NHÀ NƯỚC in tiền ra để thu đổi tất cả số ngoại tệ nầy vào tay họ. (giá in 1 tờ 500.000 đồng tiền polimer là 5 cents tiền Úc. Nhà nước chi 1 đô Úc, mua được 20 tờ 500.000 đồng VN polimer. Sau đó, dùng 20 tờ giấy 500.000 đồng nầy để đổi lấy 500 đô la Mỹ. Đến đầu năm 2015, thì VN trực tiếp mua giấy, và in tiền ở Hà Nội, không cần thuê Úc in tiền polimer nữa.)

Posted in xuất khẩu lao động - du sinh -con nuôi | Leave a Comment »

► Ai đang làm khánh kiệt đất nước (p. 4)- những cá nhân trong tập đoàn 3 X

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2014

 

Ai đang làm khánh kiệt đất nước (phần 4)

Viết thêm về những cá nhân trong tập đoàn Ba X

Dương Vũ
31-5-2014

Người ta đồn ông Nguyễn Văn Hưởng chính là bộ não của anh Ba. Tất cả mưu mô, thủ đoạn của anh Ba đều xuất phát từ tướng Hưởng. Ông Hưởng còn đi khoe rằng bản giải trình trong TƯ 4 của Anh Ba X là do tao viết. Trên tinh thần là chối bỏ tất cả, gạt tất cả ra ngoài và không thừa nhận bất kỳ điều gì và sẽ chẳng có ai dám chất vấn gì nữa đâu. Quả nhiên là vậy. Cho đến hôm nay, tướng Hưởng vẫn có vai trò quan trọng trong sơ đồ đánh đồng chí của anh Ba X. Nhưng tướng Hưởng cũng không quên tranh thủ vơ vét cùng với Bình Ruồi (thống đốc ngân hàng). Tướng Hưởng đã gom cho mình vô cùng nhiều tài sản có giá trị và dựng lên được đệ tử ruột là Tô Lâm.

Tướng Hưởng có cổ phần ở ngân hàng Techcombank, Eximbank và nhiều ngân hàng nữa. Tướng Hưởng đã để lại cho con căn nhà hơn 500m vuông mặt Hồ Tây (bên hông chùa Kim Liên – Tây Hồ) để dọn sang căn biệt thự rộng gần 1.500 mét vuông tại Vincom Village (Long Biên). Căn nhà ở mặt Hồ Tây còn có vườn hoa đằng trước do đích thân Thủ Tướng chỉ đạo lãnh đạo Hà Nội làm phục vụ tướng Hưởng. Căn nhà này có giá trị khoảng 200 tỷ đồng. Căn nhà mới ở Vincom Village có giá thị trường khoảng 100 tỷ.

Nhà của tướng Phạm Quý Ngọ rộng 1800 mét vuông được xây dựng không phép với kiến trúc Pháp. Chưa kể căn nhà rộng rãi hơn 800 mét vuông của cậu con trai là thiếu tá công an Phạm Mạnh Hùng.

Liên quan đến thiếu tá Hùng, Dương Chí Dũng và Dương Tự Trọng khai: ngoài việc đưa tiền cho Bộ Trưởng Trần Đại Quang, anh em nhà Dũng – Trọng còn bị con trai tướng Ngọ là Hùng xin đểu 2 tỷ đồng khi Hùng đã biết họ dính án.

Hùng sinh năm 1981 nhưng đã là trưởng một phòng của Cục Cảnh Sát Kinh Tế C46. Trước khi Phạm Quý Ngọ chết, Đại Quang hứa đưa Hùng lên Cục Phó trong thời gian sớm nhất. Nhưng đây là con người chuyên cờ bạc, gái gú và nghề chính là đòi nợ thuê và ăn chặn. (Nếu có điều kiện, chúng tôi sẽ thông tin thêm những vụ việc mà Hùng tham gia). Chính trong phiên tòa của Dương Chí Dũng, Dũng đã khai ra Hùng.

Cũng tại Vincom Village Long Biên, thiếu tướng Nguyễn Đức Chung (Chung Con), giám đốc Công An Hà Nội có 3 căn biệt thự liền nhau, rộng gần 1000 mét vuông.

Tiền ở đâu ra để mua khối tài sản lớn thế này? Chỉ cần làm rõ là có thể kết thúc một hành trình tội ác của các quan chức.

Chung Con còn khoe, muốn vào ăn cơm nhà anh Ba X lúc nào, chỉ cần điện thoại trước là có cơm. Chung Con còn là con nuôi của Lê Hồng Anh, thường trực Ban Bí Thư và kết nghĩa với Bộ trưởng Trần Đại Quang và Bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị.

Không chỉ Chung Con, kể cả loại giang hồ vặt như Dũng Cò Lả ở Tây Hồ hay anh em Sơn Lừa, Đông Toát cũng có thể đến nhà anh Ba X bất kỳ lúc nào.

Trở lại vai trò của tướng Hưởng, đến hôm nay đây vẫn là bộ não của anh Ba X và của tập đoàn của X.

Hưởng cùng với Bình Ruồi gom tiền của các đại gia có tội, các chủ ngân hàng để lấy ngân sách đi mua phiếu, để hối lộ, để khống chế các trung ương ủy viên và đại biểu quốc hội và tập thể Bộ Chính trị.

Hưởng thông minh, sắc sảo đến mức khi Hưởng tạm lui về sân sau, phần công việc của Hưởng đã san cho cả Tô Lâm và Nguyễn Chí Vịnh mà hai nhân vật này cũng không thể làm được như Hưởng.

Con trai tướng Hưởng là Nguyễn Hoàng Linh. Linh sinh năm 1971, học không hết cấp 3 vì lêu lổng. Hưởng phải đưa lên nhờ Tòng thị Phóng (lúc Tòng Thị Phóng đang là Chủ Tịch Sơn La) để Linh học hết bổ túc văn hóa lấy bằng trung học. Bà Phóng bị Hưởng khống chế vì một số vấn đê liên quan đến lý lịch.

Linh đã lái xe đâm chết một người ở ngã 4 Phùng Hưng và Trần Phú nhưng sau đó hồ sơ được làm sạch, đưa người khác vào thế chỗ. Hiện nay Linh đã là Cục phó thuộc Tổng cục Tình báo (Tổng cục 5).

Trước khi làm việc cho ngành công an – Cục An Ninh Chính Trị 1 (A35), Linh từng làm việc tại Trung Tâm Báo Chí Bộ Ngoại Giao. Linh lấy tiền hướng dẫn báo chí nước ngoài mà không nộp cho cơ quan. Nhưng mỏ quýt dày cho móng tay nhọn. Trước khi bầu Trung Ương, Trung Tâm cho người lên đòi tiền bà Hiền, vợ tướng Hưởng và bà Hiền buộc phải trả nợ thay Linh vì sợ ảnh hưởng đến bầu bán. Mặc dù không nhiều nhưng cũng cố tỏ ra hoàn cảnh, trả nhiều lần, mỗi lần vài chục triệu.

Linh giỏi gái và cờ bạc.

Nếu có dịp, chúng tôi sẽ giới thiệu thêm về bà Phóng trong mối phụ thuộc tướng Hưởng.

Về vai trò của Bộ Trưởng Công An Trần Đại Quang.

Quang quê gốc Nam Định, họ hàng với nguyên Thứ Trưởng Giáo Dục Trần Văn Nhung nhưng bố Quang sang Kim Sơn Ninh Bình ở nhà vợ. Bố Quang mất sớm, anh em Quang được họ hàng giúp đỡ. Quang chu đáo việc thờ cúng và họ hàng. Hàng năm, giỗ bố Quang thì mời rất đông người về ăn tận Ninh Bình. Họ hàng nhà Quang có tới 7 người tu để hồi hướng công đức cho anh em nhà Quang và vì thế trong con đường sự nghiệp Quang cũng gặp may mắn.

Hàng tháng, nhóm đồng hương Kim Sơn vẫn tụ họp ngày 3 âm lịch hàng tháng tại số 1 Ông Ích Khiêm để bàn cách trợ giúp đăng thông tin có lợi cho Quang.

Trong ngành công an, việc tốt nghiệp trường cao đẳng ngoại ngữ công an ở Sóc Sơn thường không được trọng dụng. Rồi thì việc làm cho Cục A16, cục chống phản gián Trung Quốc cũng không được ưu ái như cục chống phản gián Mỹ. Nhưng Quang vẫn nhanh chóng lên được chức Tổng Cục Phó An Ninh.

Khi quy hoạch nhân sự năm 2006, không có chân cho Quang vì Tổng Cục An Ninh khi đó, chỉ quy hoạch lên thứ trưởng là trung tướng Thi Văn Tám. Nhưng rồi, Cao Ngọc Oánh ngã ngựa. Quang thế chân Cao Ngọc Oánh bên Tổng Cục Cảnh Sát.

Khi Lê Thế Tiệm không vào được Ban Bí Thư, và rồi về hưu. Dàn Thứ Trưởng cũ có Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Văn Hưởng cũng về, Trương Hòa Bình thì sang Tòa Tối Cao. Dàn thứ trưởng đàn em mới lên như Phạm Minh Chính, Phạm Quý Ngọ, Tô Lâm, Bùi Nam thì chưa vào Trung Ương. Chỉ còn hai người là Quang và Đặng Văn Hiếu. Đặng Văn Hiếu chỉ là dân văn phòng, không có con. Chỉ có cậu con nuôi làm ở Công An Hoàn Kiếm nên cũng chả chạy đua. Vì thế Quang một mình một ngựa, một đường.

Chưa bao giờ Đại Quang lại là Bộ trưởng tiền bạc như bay giờ. Quang rất sợ nhân viên kiện chính danh về tuổi tác. Đinh Văn Hùng, cựu Bi Thư Ninh Bình là ngươi giúp chứng nhận tuổi tác cho Quang từ 1950 thành 1956. Quang bị đánh và Hùng chịu trận. Hùng bị kỷ luật, về hưu sớm. Hùng liên quan đến vụ buôn lậu trống đồng cổ. Nguyễn Đức Nhanh và Chung Con đánh vụ này.

Nhiều người có công bảo vệ Quang và dựng Quang lên như ông Sáu Khải, tướng Ba Toàn đến nay phải thất vọng hoàn toàn về con người Quang.

Quang đưa em ruột là Trần Quốc Tỏ, trong vòng 4 năm, từ anh đội phó lên làm Tổng Cục Phó Cảnh Sát và mới đây nhất, Tỏ đã được luân chuyển làm phó bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên.

Chẳng hiều là Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước và Trung Ương có biết những điều này không?

Chính Đại Quang cũng chỉ đạo khổi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đặng Thị Hoàng Yến khi Yến đã yên vị ở Mỹ. Quang khởi tố để làm hài lòng anh Ba X. Vì một số lý do an toàn mà không thể công khai ở đây tại thời điểm này, nhưng cuối cùng kế hoạch đó đã không thực hiện được.

Khi Quang làm Thứ Trưởng phụ trách phía Nam, Quang cầm của Văn Thanh Liêm, Tổng Giám Đốc Sabeco, khoảng 100 tỷ. Vì thế mà Liêm làm thất thoát 500 tỷ vẫn không sao.

Quang có một đệ tử là Phan Văn Anh Vũ, sinh năm 1975 ở công ty 79 hay còn gọi là Vũ Nhôm. Quang đưa Vũ vào ngành công an với quân hàm trung tá an ninh. Cấp cho xe Mercedes biển xanh 80B. Vũ chuyên thu tô ở miền Trung cho Quang.

Quang còn có người em rể vợ gọi là Út, ở miền Nam ra, chuyên độc quyền khai thác cát vàng ở Phú Thọ. Ai nhảy vào đều bị bắt. Mỗi ngày kiếm khoảng 2 tỷ. Không phải nộp đồng thuế nào.

Quang đưa Bùi Ngọc Phi, phó giám đốc Công An Hưng Yên về làm giám đốc Hải Dương. Cả ban thường vụ tỉnh ủy phản đối, nhưng Quang vẫn đưa về cho bằng được.

Ở Hưng Yên, Phi nổi tiếng bảo kê cho cờ bạc và xã hội đen. Gặp Phi thì gặp ở sân golf dễ hơn ở nơi làm việc. Chả thế mà vụ việc Công An Hải Dương bị đền cho chủ bán bạch tuộc thì rồi xã hội đen trả thù bằng cách đổ xăng lên số bách tuộc gần đây ở Hải Phòng. Vụ này do Phi đạo diễn.

Quang đưa Khoa béo, gốc Ninh Bình, về bổ xung làm phó giám đốc Công An Hưng Yên. Khoa béo bị dính phốt chạy án cùng Lê Nam (con ông Lê Tẩu) trong vụ PMU18. Nhưng rồi Lê Nam vẫn được lên tướng. Khoa béo cũng vào được quy hoạch rồi chạy từ Cục Bảo Vệ Chính Trị sang Cục An Ninh Kinh Tế. Rồi từ trưởng phòng, Quang đưa về Hưng Yên.

Như nói ở trên, Quang gốc Nam Định. Nên cùng với Phan Văn Vĩnh, Quang và Vĩnh quyết định tất cả các án cho đến nhân sự. Nếu như Lê Hồng Anh bị cho là không có chuyên môn, phụ thuộc vào dàn đệ tử và cấp phó, Lê Hồng Anh chỉ ăn tiền tổ chức nhân sự (hay còn gọi là tiền chạy chức) thì Quang ăn tất. Từ án cho đến đến chức. Lê Quý Vương hay Tô Lâm cũng cay lắm nhưng vì có cùng chung một chủ nên phải ra mặt vui vẻ.

Kết hợp với Trần Công Phàn (phụ trách án hình sự) và Bùi Mạnh Cường (phụ trách án kinh tê) là hai Viện Phó Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cáo dân gốc Nam Định, 4 người này khống chế tất cả án ở Việt Nam. Bỏ đi tất cả án tham nhũng, kinh tế liên quan đến tập đoàn Ba X và những người quanh họ. Bắt những ai không phải của họ.

Trước đây thì còn có thêm Hoàng Nghĩa Mai. Nay Hoàng Nghĩa Mai nghỉ ở Viện Kiểm Sát thì được Trần Đại Quang và Ba X đưa sang làm trợ lý cho Út Anh. Mặc dù Út Anh (Lê Hồng Anh) đã có Trung Tướng Vũ Thanh Hoa là trợ lý về tư pháp thì cần gì Hoàng Nghĩa Mai? Các trợ lý khác rất khó chịu về điều này. Bản thân Ban Tổ Chức Trung Ương bị ép.

Nhưng Hoàng Nghĩa Mai là cánh tay nối dài sang bên Đảng của Ba X. Ai cũng biết, chuyện nội bộ của Đảng là do ( thường trực Ban Bí Thư) Út Anh điều hành chứ không phải Tổng Lú. Và như vậy, có Hoàng Nghĩa Mai ở đó Ba X yên tâm. Hoàng Nghĩa Mai còn có cô bồ tên Hoa, vụ trưởng một vụ ở Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao. Điều này ở Viện ai cũng biết.

Nhân đây nói thêm về quan hệ Ba X và Út Anh (Lê Hồng Anh) qua lời con gái anh Ba X. Ba Phượng nói: mọi người cứ nói Ba với chú Út mâu thuẫn nhưng thực chất Ba và Chú Út tuy hai là một, tuy một là hai. Cái sẹo trên mặt Ba là do Chú Út chở xe máy đi nhậu về bị tai nạn.

Vì thế, tiền thì Ba X cầm, chính trị thì Út điều hành. Đất nước nằm trong tay ai?

Về phần Đại Quang, bản thân Đại Quang thì vẫn mơ hồ và tham vọng về lời hứa của anh Ba đưa lên làm Thủ Tướng.

Nhưng còn một lời thề danh dự nữa của anh Ba X mà Quang không biết, khi quân của Quang vừa bắt Kiên Bạc: Có 3 người, kể cả quỳ xuống lạy Ba X, cũng không bao giờ bỏ qua và cân nhắc. Đó là Đại Quang, tội dám phản bội; Bá Thanh, tội dám định lật và coi thường Ba X; Vương Đình Huệ, tội dám đánh vào sân sau của Ba là đòi truy thu thuế hơn 1000 tỷ đồng của Dầu Khí (PVN) khi Ba X đã hứa mồm rằng cho để lại PVN chi tiêu riêng. Huệ con dám truy thu và tính lại thuế của TCT xăng dầu (Petrolimex) vì đây là sân sau của Ba X và của Sinh Hùng. Sinh Hùng thì còn quy cho Vương Đình Huệ là ăn cháo đá bát…

Cũng dễ hiều khi chính Quang chỉ đạo bắt Kiên Bạc, nhưng ngay sau đó lại giao việc điều tra cho Phạm Quý Ngọ. Việc giao vụ án Kiên Bạc cho Ngọ để gửi thông điệp đến cho anh Ba: Tôi xin lỗi, không biết đây là sân sau thực sự của anh, giờ biết rồi nên tôi để đệ tử của anh là Ngọ toàn quyền quyết định. Mong anh yên tâm. Bản thân Quang là người đầu tiên được báo về lời khai của Dương Chí Dũng là Ngọ chỉ đạo trốn nhưng rồi vụ án này lại được giao cho Ngọ. Vì còn một bí mật nữa là chính Anh Ba X dùng máy điện thoại của một vệ sĩ riêng điện trực tiếp cho Dương Chí Dũng nói: Chú lánh đi một thời gian.

Tất cả các quyết định của Quang đều không cắt nghĩa được logic, tại sao lại để Ngọ điều tra vụ án Dương Chí Dũng và Kiên Bạc.

Đêm bắt Kiên Bạc, nhà riêng anh Ba ở Phan Đình Phùng sáng đèn cả đêm để anh Ba bàn mưu tính kế với thuộc hạ. Ngay sau khi bắt Kiên, rất nhiều nhân sự đã phải bỏ đi nước ngoài để nằm chờ anh Ba tài giỏi ở nhà giàn xếp. Kể cả em Phượng nhà anh Ba cũng phải bỏ đi.

Dàn đệ tử này thậm chí đã làm sẵn hộ chiếu Nam Phi, nếu có biến thì sẽ qua Nam Phi.

Sau khi bắt Kiên Bạc, Bình Ruồi ý thức được sự nguy hiểm nên đã sụt gần 5kg. Bản thân Ngọ đã từng khoe với nhiều người: Thẳng Bình ruồi xin gặp tao 3 lần mà tao chưa cho gặp.

Thế rồi việc gì đến phải đến, Bình đã nộp cho Ngọ ở nước ngoài khi Ngọ đi chữa bệnh với số tiền khoảng 10 triệu USD. Thế là trong cáo trạng, Ngọ và Hoàng Nghĩa Mai gạt tất cả trách nhiệm của Thống Đốc trong các vụ án liên quan đến ngân hàng. [tướng Phạm Qúy Ngọ đi chữa bệnh gan, ghép gan, và chết đầu năm 2014]

Thêm nhân vật nữa cần công khai.

Chúng tôi xin cung cấp thêm về một nhân vật trợ giúp đặc lực cho Ba X, đó là Phan Trọng Kính.

Phan Trọng Kính, thư ký của ông Đỗ Mười, mặc dù đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn rất năng nổ ủng hộ Ba X. Kính đến gặp Tổng Lú, truyền đạt ý kiến ông Đỗ Mười, yêu cầu Tổng Lú nghỉ và nhường lại chức Tổng Bí Thư cho Ba X.

Điều này Ông Đỗ Mười không hề biết. Ông Đỗ Mười già yếu và ít đi lại. Kính thường đi lại và hoạt động nhân danh ông Đỗ Mười. Sẽ như thế nào đây nếu ông Đỗ Mười biết được chuyện này?

Ba X trả công kính bằng 4 cái biệt thự.

Thưa ông Tổng Lú, 90 triệu người dân đóng thuế để một thằng phá và nó nuôi đám của nó. Đất nước tan nát và khánh kiệt rồi. Ông không thể mũ ni che tai. Không phải nước tới chân thì ông mới nhảy đâu. Nước nó ngập đầu ông rồi.

Trong khi Trung Quốc xâm lược như vậy, ông trốn chui chốn lủi đi đâu? Đến chuyện trong nước cũng chả thấy ông đâu.

Ông nhiều chữ thì về làng dạy hoc chứ ông đừng mang cái lý thuyết giáo điều Marxism Leninism của ông, với cái đầu lú lẫn dẫn cả dân tộc này xuống hố nữa.

Trong thời gian tới, nếu điều kiện cho phép chúng tôi sẽ tiếp tục công khai về những thủ đoạn của tập đoàn độc tài tham nhũng đục khoét này.

Posted in Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | 1 Comment »

►Không bao giờ được phép tùy tiện đàm phán hay nhượng bộ các vấn đề về lãnh thổ, nghe chưa?

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2014

Khi họ thấy họ có thể lấy con gà tây của chúng ta, chúng ta mất đi tất cả

Không bao giờ được phép tùy tiện đàm phán hay nhượng bộ các vấn đề về lãnh thổ.

Vấn đề Biển Đông không phải là vấn đề của một bình nước mà nếu như Tàu lấy trộm một nửa bình nước rồi thì Việt Nam nói rằng: “Được rồi, lần này tao sẽ cho qua, nhưng đừng bao giờ để tao bắt được mày lần nữa”. Bởi vì, trong quan hệ với Trung Quốc hoặc Việt Nam phải đáp trả bằng tất cả sức lực của mình cho dù phải chết hoặc nằm tênh hênh ra cho Trung Quốc hiếp đáp hết lần này đến lần khác chứ không có sự lựa chọn nào tốt hơn.

Thomas Friedman, tác giả đã ba lần đoạt giải Pulitzer với những Thế giới phẳngChiếc Lexus và cây Oliu… đã kể trong cuốn Từ Beirut đến Jerusalem câu chuyện về một người Ả-rập như sau:

>>> Phalanxist.wordpress.com 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Hoàng Sa – Những diễn biến lịch sử theo các tài liệu của Wikileaks

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2014

 

Hoàng Sa – Những diễn biến lịch sử theo các tài liệu của Wikileaks

Hoàng Ngọc Diêu

10-6-2014

Lật lại các điện tín mà Wikileaks đã lưu trữ và công bố trên trang của họ [1], mình có thể liệt kê các biến cố quan trọng theo tình tự thời gian:

1) Ngày 11 tháng Một năm 1974, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) bất thình lình tuyên bố Hoàng Sa là của họ. Ngày 16 tháng Một năm 1974, tàu Lý Thường Kiệt (HQ-16) ra Hoàng Sa để kiểm sát thì phát hiện có hai “tàu cá” của Trung Quốc ở đó.

Chiều ngày 16 tháng Một năm 1974, Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc thay mặt chính phủ VNCH chính thức lên tiếng lên án thái độ phi pháp của nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc về việc tuyên bố sai sự thật và việc xâm nhập lãnh thổ Việt Nam bất hợp pháp. Ngoại trưởng Bắc liệt kê những bằng chứng chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của VNCH:

– Vua Gia Long năm 1802 đã hình thành quân đội kiểm soát quần đảo Hoàng Sa theo tài liệu của Đại Nam Nhất Thống Chí.

– Vua Minh Mạng năm 1834, trình điều Huế đã có bản đồ Hoàng Sa trong Hoàng Việt Địa Du.

– Thời Pháp thuộc đã có sắc luật 156/SC vào ngày 16 tháng Sáu năm 1932 ấn định Hoàng Sa thuộc quản lý hành chánh của tỉnh Thừa Thiên.

– Vua Bảo Đại một lần nữa ra quyết định Hoàng Sa thuộc quản lý hành chánh của Thừa Thiên vào 30 tháng Ba năm 1938.

– Toàn quyền Đông Dương một lần nữa xác định quyền quản lý Hoàng Sa thuộc chính phủ bảo hộ vào ngày 5 tháng Năm 1939.

– Dưới thời đệ nhất VNCH, sắc lệnh 174-NK vào năm 1961 quyết định quần đảo Hoàng Sa thuộc Định Hải, Hoà Vang, Quảng Nam thay vì Thừa Thiên.

– Dưới thời đệ nhị VNCH, sắc lệnh 079-BNV quyết định Định Hải sáp nhập với Hoà Long thuộc Hoà Vang.

– Phái đoàn Việt Nam tham dự hội nghị San Francisco năm 1951, đã tuyên bố quần đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam và không có bất cứ quốc gia nào trong 51 nước tham dự đã phản đối. [2]

 

dainamnhatthongtoando.jpg 

 

“Đại Nam nhất thống toàn đồ” vẽ năm 1838 triều Minh Mạng, có thể hiện hai địa danh Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa bằng chữ Hán. 

2) Ngày 18 tháng Một năm 1974, ngoại trưởng Vương Văn Bắc với vai trò thành viên dự khuyết của nước VNCH gởi thư đến chủ tịch LHQ Gonzalo J. Facio về thông tin đã được phát thanh vào chiều 16 tháng Một năm 1974 [3].

3) Ngày 19 tháng Một năm 1974, hải quân VNCH và hải quân CHNDTH đụng độ tại Hoàng Sa. Báo Hoà Bình, một tờ báo độc lập của Nam Việt Nam lên tiếng chỉ trích cộng sản Bắc Việt hoàn toàn im lặng trong khi họ rêu rao việc đấu tranh cho độc lập và trọn vẹn lãnh thổ [4].

4) Ngày 20 tháng Một năm 1974, đại diện VNCH gởi thư cho chủ tịch LHQ thỉnh cầu triệu tập cuộc họp khẩn cấp để giàn xử việc CHNDTH cưỡng chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực và phía VNCH hiểu được tình trạng có thể thiếu sự ủng hộ của các thành viên của Hội Đồng Bảo An LHQ [5] và bức thư này đã được ký nhận [6].

5) Ngày 21 tháng Một năm 1974, chính phủ Hoa Kỳ ghi nhận việc phía VNCH đã kêu gọi Hội Đồng Bảo An LHQ triệu tập cuộc họp khẩn cấp [7].

6) Ngày 21 tháng Một năm 1974, Hội Đồng Bảo An LHQ cho biết đã gặp phía VNCH và đại diện VNCH nhận thấy sẽ có những khó khăn để tìm 9 phiếu ủng hộ từ Hội Đồng Bảo An LHQ nhưng phía VNCH cho biết họ sẽ làm việc với phía Anh, Pháp, Indonesia và Úc cũng trong ngày [8].

7) Ngày 21 tháng Một năm 1974, Hội Đồng Bảo An LHQ cũng đã chuyển thư thỉnh cầu của phía VNCH đến tổng thư ký LHQ Kurt Waldheim [9].

8) Ngày 21 tháng Một năm 1974, chủ tịch Hội Đồng Bảo An LHQ, Facio đã gặp gỡ phía VNCH và VNCH cho biết họ xác nhận cần tiến hành cuộc họp khẩn cấp với Hội Đồng Bảo An LHQ và cần 3 ngày để sắp xếp nhân sự có mặt ở New York. Facio cũng cho biết chiều ngày 21 tháng Một năm 1974, ông bắt đầu làm việc với từng đại diện của Hội Đồng Bảo An LHQ, bắt đầu với Trung Quốc và sẽ cho phía VNCH biết tình hình vào sáng 22 tháng Một năm 1974 [10].

9) Chiều ngày 21 tháng Một năm 1974, chủ tịch Hội Đồng Bảo An LHQ, Facio đã gặp gỡ phía CHNDTH và cho biết phía CHNDTH rất giận dữ và họ xác định chuyện Hoàng Sa là chuyện nội bộ của Trung Quốc và việc ông chủ tịch làm việc với các thành viên Hội Đồng Bảo An LHQ để đưa đến cuộc họp khẩn này có thể dẫn đến việc xâm phạm chủ quyền quốc gia Trung Quốc. [11]

10) Cũng trong chiều ngày 21 tháng Một năm 1974, theo Kissinger, đại sứ Phương (của VNCH) đã gọi cho Hummel [12] và Stearns [13]. Phương cho biết dù nhận thấy những điểm bất lợi của vụ họp khẩn này của Hội Đồng Bảo An LHQ nhưng VNCH không có chọn lựa nào khác trong tình thế này. Hummel và Stearns cho biết họ e ngại rằng phía Trung Quốc sẽ đưa ra một phiên bản khác và lật ngược thành chuyện VNCH đã khiêu khích và xâm chiếm và sự vụ sẽ trở nên rắc rối và bất lợi cho phía VNCH. Họ cũng cho biết, trong tình trạng này, sự từ chối khiếu nại của VNCH sẽ có hại cho VNCH [14].

11) Cũng trong ngày 21 tháng Một năm 1974, Kissinger đánh giá tình thế bất lợi của VNCH do thành viên của Hội Đồng Bảo An LHQ có những thay đổi: Iraq thay Ấn Độ, Mauritania thay Sudan, Byelorussia thay Nam Tư và hai thành viên mới là Costa Rica và Cameroon vốn chưa có quan hệ tốt với VNCH. VNCH cần 9 phiếu thuận (trong 15 phiếu) trong tình trạng gấp rút này e rất khó thành [15].

12) Ngày 22 tháng Một năm 1974, Phillipines cho biết quan điểm của họ về vụ Hoàng Sa là “thái độ xâm lấn của Trung Quốc là kết quả của việc Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam”. Sự vụ này cho thấy Philippines nên tiếp tục duy trì căn cứ của Hoa Kỳ tại Phillipines. Phillipines cũng nhận định sự vụ này nhắm vào phía VNCH khiến Hà Nội ắt đã vỗ tay tán thưởng. Tuy nhiên, Hà Nội có lẽ cũng đã nhận ra rằng sự mất mát Hoàng Sa là sự mất mát không thể lấy lại được [16].

13) Ngày 22 tháng Một năm 1974, Mã Lai yêu cầu cho biết thêm chi tiết về sự vụ và nghi ngờ rằng đây là một trong những bước đầu tiên Trung Quốc kiểm soát tất cả các đảo trong khu vực mà họ đã công bố chủ quyền [17].

14) Ngày 22 tháng Một năm 1974, Liên Xô cho biết nhận định của họ về sự vụ cần được giải quyết giữa các phía liên can (VNCH, CHNDTH và Phillpines). Theo Liên Xô, Bắc Việt (VNDCCH) chưa bao giờ xác nhận chủ quyền của họ ở quần đảo Hoàng Sa. Theo Trifonov, sự vụ này diễn ra do VNCH muốn hợp tác với Mỹ để khai thác dầu hoả [18].

15) Ngày 22 tháng Một năm 1974, chủ tịch Hội Đồng Bảo An LHQ, Facio liên lạc với phía VNCH và đánh giá tình hình. Ông cho rằng VNCH đang nằm trong thế bất lợi để có thể có đủ phiếu thuận. Theo thẩm định của ông,

Phiếu thuận: Úc, Áo, Anh, Mỹ và Costa Rica

Phiếu chống: Beylorussia, Trung Quốc, Indonesia, Iraq và Liên Xô

Phiếu trắng: Careroon, Pháp, Kenya, Maritania và Peru [19].

16) Ngày 23 tháng Một năm 1974, phía Indonesia xác nhận quan điểm của họ là Hoàng Sa thuộc Trung Quốc theo hội nghị San Francisco 1951. Tuy nhiên, đại diện Indonesia từ chối xác định vị thế của họ trước cuộc họp của hội đồng bảo an LHQ [20].

17) Ngày 23 tháng Một năm 1974, đại sứ Martin cho biết vì thiếu mối quan hệ ngoại giao giữa VNCH và Peru cho nên Peru sẽ chọn phiếu trắng trong cuộc họp của Hội Đồng Bảo An LHQ [21].

18) Ngày 23 tháng Một năm 1974, ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc kêu gọi SEATO áp dụng điều khoản 4 của hiệp định Manila và kêu gọi các quốc gia trong hiệp hội SEATO có những động thái cần thiết [22].

19) Ngày 23 tháng Một năm 1974, theo Kissinger thì chính phủ Hoa Kỳ đã nhận được tuyên bố phía Indonesia cho rằng Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc và được quốc tế công nhận [23].

20) Ngày 23 tháng Một năm 1974, chủ tịch Hội Đồng Bảo An LHQ đã xác nhận phổ biến bức thư của đại sứ VNCH Nguyễn Hữu Chi, đại diện VNCH như thành viên dự khuyết của Hội Đồng Bảo An LHQ trình bày sự vụ Hoàng Sa [24].

21) Ngày 23 tháng Một năm 1974, Kissinger chuyển gởi thông tin đến phía VNCH về việc Costa Rica xác định ủng hộ VNCH. Tuy nhiên tình thế vẫn rất bất lợi cho phía VNCH vì chỉ có 5 phiếu thuận, 5 phiếu trắng và 5 phiếu chống [25].

22) Ngày 24 tháng Một năm 1974, Kissinger cho biết phản ứng của SEATO với sự vụ VNCH kêu gọi ngày 23 tháng Một năm 1974 là “tiêu cực” (negative) và Hoa Kỳ rất ngờ vực khả năng của SEATO [26].

23) Ngày 25 tháng Một năm 1974, ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc gởi thông điệp qua đại sứ thường trực Nguyễn Hữu Chi về việc phía VNCH rút thỉnh cầu kêu gọi cuộc họp khẩn cấp dựa theo quyết định của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhưng mong mỏi Hội Đồng Bảo An LHQ ghi nhận trường hợp này và xử lý sao cho thích hợp [27].

24) Ngày 25 tháng Một năm 1974, chính phủ Pháp xác nhận việc Pháp dự định bỏ phiếu trắng là không đúng sự thật. Tuy nhiên, đại diện chính phủ Pháp cho rằng sự vụ rất phức tạp và ngay lúc này họ không thể chọn ủng hộ bên nào. Pháp muốn biết quan điểm cụ thể của Hoa Kỳ như thế nào [28].

________________________________________________________________

Nhận định cá nhân:

– Sự việc xảy ra nhằm lúc có những điểm bất lợi cho VNCH vì Hội Đồng Bảo An LHQ vừa thay đổi thành viên thường trực. Trong đó, Iraq thay Ấn Độ, Mauritania thay Sudan, Byelorussia thay Nam Tư và hai thành viên mới là Costa Rica và Cameroon vốn chưa có quan hệ mật thiết với VNCH. Byelorussia thuộc USSR thì việc ủng hộ VNCH là việc không thể.

– Chính phủ VNCH đã cố gắng hết sức để vận động cả Hội Đồng Bảo An LHQ lẫn tổ chức SEATO nhưng SEATO không mang lại kết quả nào tích cực.

– Liên Xô dù đang va chạm với Trung Quốc nhưng không muốn ủng hộ VNCH và cũng không muốn ra mặt đối chọi với Trung Quốc trong việc ra phiếu thuận cho VNCH.

– Indonesia và China bắt đầu quan hệ ngoại giao từ năm 1950 nhưng bị ngưng vào năm 1967 vì biến cố Gestok năm 1965 tại Indonesia. Tuy nhiên, Indonesia luôn luôn xác định Hoàng Sa là của Trung Quốc và cho đến phút chót, vị trí bỏ phiếu chống VNCH của Indonesia vẫn không thay đổi mặc dù theo dư luận chung của quốc tế, quần đảo Hoàng Sa thời điểm này vẫn thuộc dạng“dispute” (tranh chấp). Indonesia đã tạo thêm bất lợi cho VNCH.

– Pháp có thái độ mập mờ về việc ủng hộ VNCH với chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa mặc dù trong thời Pháp thuộc, Pháp đã nhiều lần xác định cơ quan hành chánh cho Hoàng Sa. Sự quyết định chậm trễ và mập mờ của Pháp đã góp phần vào việc VNCH phải huỷ bỏ cuộc họp khẩn cấp về sự vụ Hoàng Sa.

– Nếu Ấn Độ và Sudan vẫn còn là thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ và Indonesia và Pháp có động thái tích cực và chính xác hơn thì có lẽ VNCH đã có thể chiếm 9 phiếu thuận trên 15 phiếu và sự vụ đã được khép lại.

– Hội Đồng Bảo An LHQ và phía Hoa Kỳ đã làm việc rốt ráo và có những đóng góp ý kiến có giá trị vì nếu VNCH không nắm tình hình mà lao vào cuộc biểu quyết và bị phủ quyết thì sự vụ sẽ vĩnh viễn khép lại và Việt Nam sẽ vĩnh viễn mất Hoàng Sa.

– Phía VNCH và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã quyết định rút đơn thỉnh cầu và đó là một quyết định đúng đắn vì nếu VNCH bị phủ quyết thì sự vụ sẽ vĩnh viễn khép lại và Việt Nam sẽ vĩnh viễn mất Hoàng Sa.

– Sau 1975, chính phủ VNDCCH chưa bao giờ đưa sự vụ Hoàng Sa ra LHQ. Cho đến ngày nay, Hoàng Sa đã trở thành căn cứ và thuộc đơn vị hành chánh “Tam Sa” nhưng chính phủ CHXHCNVN chưa bao bao giờ có bất cứ động thái rốt ráo và quyết liệt nào cả.

Chú thích:

[1] wikileaks.org

[2] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974SAIGON00752_b.html

[3] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974USUNN00175_b.html

[4] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974SAIGON00859_b.html

[5] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974USUNN00188_b.html

[6] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974STATE012722_b.html

[7] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974STATE012732_b.html

[8] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974USUNN00190_b.html

[9] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974USUNN00192_b.html

[10] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974USUNN00194_b.html

[11] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974USUNN00203_b.html

[12] Hummel, Arthur William, Jr. trợ lý Đông Á – Thái Bình Dương sự vụ của Hoa Kỳ.

[13] Stearns, Monteagle, phó trợ lý Đông Á – Thái Bình Dương sự vụ của Hoa Kỳ.

[14] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974STATE013405_b.html

[15] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974STATE013407_b.html

[16] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974MANILA00775_b.html

[17] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974KUALA00310_b.html

[18] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974MOSCOW01036_b.html

[19] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974USUNN00219_b.html

[20] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974JAKART00961_b.html

[21] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974SAIGON01039_b.html

[22] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974BANGKO01283_b.html

[23] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974STATE014788_b.html

[24] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974USUNN00233_b.html

[25] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974STATE015338_b.html

[26] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974STATE015405_b.html

[27] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974SAIGON01040_b.html

[28] http://search.wikileaks.org/plusd/cables/1974PARIS02298_b.html

 

wikileaks_-logo.jpg

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Không thể “Thoát Trung” mà không “Thoát Cộng” (-Hà Sĩ Phu)

Posted by hoangtran204 trên 10/06/2014

8-6-2014

Từ hơn một tháng nay, giàn khoan Trung Quốc thăm dò dầu khí chỉ cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý, nằm sâu trong khu vực mà Việt Nam khẳng định là vùng đặc quyền kinh tế, tạo sự phẫn nộ và lo lắng cho người Việt khắp nơi.

Vào chiều ngày 5/06/2014, tại trụ sở Liên hiệp các hội Khoa học kĩ thuật Việt Nam, Hà Nội, đã diễn ra một cuộc hội thảo mang tên « Làm sao để thoát Trung ? ». Hội thảo do Quỹ Văn Hóa Phan Chu Trinh tổ chức.

Về sự kiện này Tiến sĩ Hà Sĩ Phu trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành đã bình luận như sau :

Trần Quang Thành : Thưa tiến sĩ Hà Sĩ Phu, mấy ngày hôm nay dư luận rất quan tâm đến một cuộc hội thảo tổ chức tại 53 Nguyễn Du Hà nội về vấn đề làm sao để thoát Trung, riêng tiến sĩ nghĩ thế nào về vấn đề này?

Hà Sĩ Phu : Bây giờ thì thoát Trung trở thành ý nghĩ chung của nhiều người rồi. Thấy mình bị phụ thuộc vào Tàu nhiều quá, bọn nó đè nén mình, thậm chí sẽ là một cuộc Bắc thuộc kiểu mới. Nó đến nơi rồi, gần quá rồi, cho nên kể cả những người từ những phía khác nhau cũng gặp nhau ở chỗ “thoát Trung” !

Thế nhưng đi vào cụ thể cũng còn khác nhau rất nhiều đấy. Thứ nhất về nội dung thoát Trung là thoát những gì thì cũng dễ hiểu thôi, thoát Trung là phải thoát cả từ ngày xưa cơ, trước khi có Cộng sản mình cũng đã bị ảnh hưởng Trung Quốc rất nhiều. Phong kiến ngày xưa cũng chịu ảnh hưởng Trung Quốc rất nặng chứ không phải chỉ từ chủ nghĩa cộng sản ta mới bị Trung Quốc đè nén như thế đâu. Điều đó là rất đúng. Thoát Trung là cả một vấn đề rất lớn, nó kéo dài rất nhiều thế kỷ rồi.

Nhưng thoát Trung liên quan đến thoát Cộng như thế nào thì tôi thấy trong cuộc hội thảo đó chưa được đặt ra một cách cụ thể rõ ràng, tuy cũng có người nhắc đến. Nhưng quan trọng là thế này, bây giờ muốn thoát Trung thì gặp trở ngại gì ? Chính cái chủ nghĩa Cộng sản, đảng Cộng sản là yếu tố cản trở cái việc thoát Trung hiện nay, vì thế trước mắt không thể thoát Trung mà lại không tấn công vào cái yếu tố Cộng sản được, vẫn còn thể chế Cộng sản này mà muốn thoát Trung thì khó, cực kỳ khó. Ví dụ đơn giản thế này, muốn biểu tình chống Trung Quốc thôi, một việc quá nhỏ trong chuyện thoát Trung. mà cũng bị cấm. Nhân ngày kỷ niệm cuộc đàn áp Thiên An Môn, báo chí cũng muốn đưa một cái tin về sự kiện cách đây 25 năm rồi, ôn lại lịch sử Trung Quốc thôi, cũng phải rút bài xuống. Những việc nhỏ như thế cũng không làm được huống chi là một việc quá to lớn như việc thoát Trung? Tôi đồng ý thế này, thoát Trung là một vấn đề lớn kéo dài và liên quan rất nhiều, còn thoát Cộng chỉ liên quan đến một giai đoạn ngắn hơn, nhưng cái ngắn hơn này lại đang là trở ngại như cái núi Thái sơn nó chặn cái đường thoát Trung, cho nên không thể thoát Trung mà lại không cần thoát Cộng! Tôi mới đọc bài của ông Ngô Nhân Dụng, tôi rất thích là sau khi đã giải thích nhiều ở phần trên rồi ông ấy mới kết luận rằng: vậy thời phải thanh toán chủ nghĩa cộng sản mới thoát Trung được. Tôi rất đồng ý với kết luận rất rõ ràng đó.

TQT : Thưa tiến sĩ Hà Sĩ Phu, ông đã khẳng định là “muốn thoát Trung trước hết phải thoát Cộng, vậy làm thế nào để thoát được Cộng?

HSP : Hiện nay đây mới là bài toán khó nhất đấy, nói thoát Trung thì rất dễ nhưng nói đến chuyện thoát Cộng thì lại rất rắc rối, ý kiến lại phân tán rất ghê. Trong cuộc hội thảo vừa rồi không phải là không có người nghĩ đến cái điều là muốn thoát Trung thì phải thoát Cộng bởi vì Cộng chính là một cái núi Thái sơn nó chặn đứng quá trình thoát Trung, không thể tiến hành cái gì hết. Nhưng mà nói hết sự thật ấy ra bây giờ là rất khó. Chuyện đấu tranh dân chủ trong nước chính là chuyện thoát Cộng đấy. Đấu tranh để giành lấy độc lập dân tộc, giành chính quyền thì đó là chống ngoại xâm, còn thoát Cộng chính là chống nội xâm. Đây là quan hệ giữa chống nội xâm và chống ngoại xâm.

Trước đây, khi Trung Quốc nó chưa thò cái nanh vuốt quá lộ liễu ra thì vấn đề dân chủ trong nước là rất khó, khộng biết làm thế nào, không biết phất cái lá cờ gì để tiến hành việc dân chủ trong nước được. Vì vừa thò ra cái tư tưởng phê phán Đảng, đòi thanh toán cái độc tài Đảng trị, thì bị đàn áp dễ như không. Thế nhưng bây giờ rất hay, Trung Cộng nó chơi những trò vỗ mặt mình, thế nên nhà nước này cũng không thể im tiếng như trước được nữa cho nên cũng phải đồng thuận với nhân dân lên án Trung Cộng. Thêm một lá cờ chống ngoại xâm thì cái chống nội xâm mới phát triển lên được. Cho nên cái anh Tàu nó lại giúp mình, mặc dù nó chơi đểu thế. Nó làm cho mình cũng dễ đấu tranh cho cái dân chủ. Tóm lại là thế này: quan hệ giữa thoát Cộng và thoát Trung chính là quan hệ giữa chống nội xâm và chống ngoại xâm đấy.

Thế thì làm cái gì trước và sẽ làm như thế nào? Tôi nghĩ hai cái đó nó nhịp nhàng, tức là không thể nói làm cái này xong rồi mới làm cái kia được. Tôi biết nhiều anh em ở hải ngoại cho rằng phải thanh toán xong cộng sản trong nước thì mới tính đến chuyện chống Tàu được, nhưng như vậy thì làm không nổi đâu. Vì thứ nhất không biết bao giờ mới thanh toán được cái nội xâm, nội gián, trong khi chưa chống được cái nội xâm ấy thì ngoại xâm đã tấn công ta rồi, trong nước chưa có dân chủ thì lãnh thổ Tổ quốc đã mất rồi! Thế thì không thể nói cái nào trước cái nào sau được đâu mà hai cái phải đồng thời, nhịp nhàng và tùy theo tình hình. Nếu Trung Quốc gây hấn thêm nữa, thì ngay cả Trường sa cũng đang bị đe dọa, lúc nào cũng có thể bên miệng hố chiến tranh. Theo ý kiến của anh Ngô Nhân Dụng cũng không cần phải lo âu quá mà cũng đừng có ảo tưởng quá. Nhưng tôi nghĩ cũng phải nhịp nhàng mà tùy theo tình hình, không thể nói dứt khoát phải thoát Cộng trước hay thoát Trung trước, hai việc đó phải làm đồng thời nhịp nhàng và tùy theo tình hình.

TQT : Trong cuộc chống Trung Quốc xâm lược hiện nay nổi lên một nhân vật là ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông có nhiều tuyên bố mạnh mẽ về vấn đề chống Trung Quốc xâm lược. Ông nói tình hữu nghị không thể viển vông, ông còn nhắm vấn đề phải kiện Trung Quốc ra quốc tế. Nhưng cũng có một vị cách mạng lão thành là cụ Nguyễn Trọng Vĩnh nói không hiểu được lời ấy nói thật hay giả, tiến sĩ Hà Sĩ Phu nghĩ thế nào?

HSP : Cái này cũng không mới gì: Bác Tấn Dũng thì cũng nói nhiều điều hay rồi nhưng mà đúng là nói xong lại chưa làm được cái đó, dù rất có cảm tình với thủ tướng thì cũng không thể bênh vực vì ông ấy nói mà không làm gì cả. Tôi nghĩ thế này, trong tình hình hiện nay cả giới lãnh đạo họ quá kém về mọi mặt, kém về dân chủ đã đành rồi mà còn kém cả vấn đề chống ngoại xâm. Họ rất là nhu nhược, rất là hèn. Thế thì ai nói ra điều gì tốt một tý ta vẫn phải túm lấy những câu đó để ta động viên đã. Tất nhiên phải phân biệt lời nói với con người. Lời nói đó hay thì ta cũng ghi nhận, động viên, rồi ta yêu cầu là nói rồi thì phải làm. Thái độ hơi cực đoan là xổ toẹt, tức là bất cứ câu nói nào hay dở cũng xổ toẹt hết. Đã đành xổ toẹt cũng có cơ sở bởi ông này nói hay nhiều quá nhưng chẳng làm gì. Có khi ông cũng nhằm giành ghế trong Đại hội Đảng sắp tới thôi. Thế nhưng cũng cứ động viên để gợi mở một khả năng khác, có khi vì đang bị cả một cái hệ thống o ép nên ông ấy cũng bó tay chưa làm được? Dù sao nói ra một lời tốt cũng hơn là hèn mạt hoặc im lặng không nói gì hết. Thế nhưng mình cũng không thể nhẹ dạ để bị lừa hết cái nọ đến cái kia. Cho nên phải nói như cụ Vĩnh (Nguyễn Trọng Vĩnh), nói thẳng cũng rất cần thiết. Cụ phê bình ông Nguyễn Tấn Dũng nói dối, phê bình luôn cả ông Phùng Quang Thanh với tư cách một ông tướng cha dạy một ông tướng con, tôi thấy những thái độ như thế là đều có ích cả.

TQT : Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì bảo là kiên quyết chống Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Thế nhưng đại tướng Phùng Quang Thanh thì bảo cái việc giàn khoan chỉ là việc nhỏ thôi chứ tình hữu nghị Trung Quốc – Việt Nam vẫn rất là đẹp đẽ, vẫn là 16 chữ vàng. Vậy có phải là trống đánh xuôi kèn thổi ngược không?

HSP : Thì đúng quá, ở cái hội nghị Shangrila rất lạ là thủ tướng thì coi như là quan văn nhưng vẫn nói mạnh, thế còn quan võ thì rất kém phải nói là cái câu của ông Phùng Quang Thanh kém, kém nhất! Thứ nhất là muốn xem có kiện hay không lại phải chờ xem thái độ của họ thế nào đã, thứ hai là vẫn còn ôm cái 16 chữ vàng là cái mà cả thiên hạ họ chửi hết cỡ rồi, nên thái độ ông Phùng Quang Thanh này là không chấp nhận được.

Tôi xin mở ngoặc nói thêm thế này, anh có đọc bài của ông Phạm Đình Trọng, là người đồng đội với ông Phùng Quang Thanh trước đây? Trong một trận đánh ông Phạm Đình Trọng mô tả Phùng Quang Thanh cũng là một chiến sỹ dũng cảm cho nên mới được lên chức, tức là người cũng yêu nước và dũng cảm, vốn không phải là người hèn, tôi thấy chuyện ấy rất hay. Cái hèn, cái tồi tệ của một người vốn hèn vốn tồi tệ thì thực ra không có gì đáng quan tâm. Nhưng cái hèn, cái tồi tệ của người trước đây vốn không hèn không tồi tệ mới nói lên rằng cái hèn cái tồi tệ này không phải là của cá nhân nữa mà của cả một hệ thống, đã nằm ở trong cơ chế đó thì cũng phải tồi tệ thôi. Cái tồi tệ của cơ chế đã đến mức độ làm cho những người vốn tử tế cũng không tử tế được nữa, trước đây không hèn giờ cũng không thể không hèn, chứng tỏ cái hèn mạt tồi tệ không còn là của cá nhân nữa mà nó là của cái hệ thống. Tướng Phùng Quang Thanh nếu không phải nằm trong cái hệ thống này, cái Bộ Chính trị này, chắc ông ấy cũng không đến nỗi hèn như thế.

TQT : Tiến sĩ Hà Sĩ Phu vừa nói vấn đề cải cách cơ chế thì thông điệp đầu năm 2014 của ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rất mạnh vấn đề cải cách cơ chế nhưng mà gần 6 tháng của năm 2014 đã trôi qua tiến sĩ thấy vấn đề cải cách cơ chế như thế nào?

HSP : Nghe cái vấn đề cải cách cơ chế của ổng thì cũng nhiều người bàn đấy. Có phải là cải cách cái “thể chế chính trị” không hay là cải cách thể chế một cách chung chung? Mà cải cách thể chế chính trị thật tức là phải cải cách hệ thống, là hệ thống Cộng Sản, hệ thống Mác Lê nin! Cải cách hệ thống thật sự thì phải bỏ cái chủ nghĩa Mác Lê nin, bỏ được CS thì thành một nước dân chủ văn minh như các nước bình thường! Nhưng tôi nghĩ nói như thế thì ông Nguyễn Tấn Dũng cũng chưa thể làm được, không thể làm được, vì muốn làm được thì dũng khí cá nhân rồi phải có tổ chức, mà bao quanh thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện nay chả có một lực lượng nào có thể tin cậy được, hoặc cùng là một cánh tham nhũng, cũng phi dân chủ đàn áp biểu tình. Còn có một cánh không nhỏ Đảng viên có tiến bộ, người ta gọi là cánh “cải lương”, cũng hy vọng vào ông ấy, nay cũng mất lòng tin với ông Dũng rồi nên không có lực lượng nào đáng tin cậy đứng đằng sau thủ tướng cả, vậy thì cá nhân thủ tướng dẫu có những thiện ý cũng không có cái bối cảnh để mà triển khai.

Nhưng quan trọng nhất là bên cạnh vẫn có một thằng Tàu rất to, ta công nhận là Tàu hiện nay cũng không phải là mạnh đâu, nó cũng đang có rất nhiều khó khăn nội bộ, nhưng sức mạnh của nó vẫn đủ để kiềm chế VN, bởi VN hiện nay đang nằm trong tay nó rồi, mọi thứ nằm trong ống tay áo của nó rồi! Dù đồng ý rằng TRUNG QUỐC không hề mạnh như chúng ta tưởng nhưng trong tình trạng yếu nó vẫn đủ sức kiềm chế VN! Ví dụ ông Dũng đòi cải cách thể chế mà bỏ cái CNCS này đi để khỏi có tình trạng hai đảng làm việc với nhau để quyết định số phận đất nước thì Tàu nó sẽ hủy ngay cái “chỗ” (nhân vật) đó. Nếu ông Dũng muốn thành Pu tin, bỏ cái Trung Cộng đi mà đi với nhân dân thì mới có một Pu tin thật, mới thoát Trung hoàn toàn, nhưng ở VN trong những điều kiện cụ thể hiện nay thì làm sao làm được như vậy? Thế nên những câu “cải cách thể chế” của ông Dũng cũng không ra ngoài cái quy luật chung (của ông) là chỉ nói thế chứ không làm được.

TQT : Như vậy thủ tướng có thể thoát Trung được không để nhân dân đứng sau thủ tướng thưa tiến sĩ?

HSP : Thì tôi vừa nói rồi, nếu quả thật thủ tướng mà muốn thoát Trung thật, không có ôm ấp một cái hữu nghị viển vông, nhân dân sẽ đứng sau ông ngay. Nhưng mà ông cũng chỉ nói thế chứ làm thì không làm, ví dụ ông nói là chống Tàu thì tại sao những người biểu tình yêu nước thôi ông lại bắt, ông lại không cho biểu tình diễu hành? Hiện ông là thủ tướng ông điều khiển chứ ai nữa, dù tổng bí thư thì đang nắm bí thư tổng quân ủy, thì thôi ông Dũng chưa tác động được vào mạng quân đội, nhưng ông vẫn đang điều hành chính phủ…, nhưng vừa nói xong thì ông làm ngược lại, thế thì có ai tin nữa? Mặc dù chúng ta rất là rộng lòng, sẵn sàng chờ đón những thay đổi nên ai nói lời nói tốt thì ta cũng muốn động viên ngay, thế nhưng một lần bất tín vạn sự bất tin, bất quá tam thì đâu có tin được? Đến cụ Vĩnh cũng là người rất rộng lòng nhưng cũng không thể tin nổi.

TQT : Xin chân thành cảm ơn tiến sỹ Hà Sĩ Phu đã có những ý kiến rất thẳng thắn và quan tâm đến tình hình đất nước.
(8/6/2014)

Nguồn: Chuyển Hoá

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Không mặc cảm, không ảo tưởng- hãy Thoát Cộng ngay (-Ngô Nhân Dụng)

Posted by hoangtran204 trên 10/06/2014

Không mặc cảm, không ảo tưởng

Ngô Nhân Dụng

Người-Việt (3-6-2014)-

Mỗi ngày chúng ta nhận được hàng chục, hàng trăm tin tức về các sự kiện, biến cố, những lời tuyên bố, các ý kiến và bình luận, về tình trạng căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Biển Ðông. Những người Việt Nam nặng lòng với đất nước đang sống trong một cơn bão thông tin và xúc động.

Ðây chính là lúc chúng ta cần giữ lòng bình tĩnh và tỉnh táo, không mặc cảm, không ảo tưởng.

Một thứ mặc cảm nên xóa bỏ là sợ. Một tờ báo Nam Hàn loan tin ngày 23 Tháng Năm, Cộng sản Trung Quốc đưa 300 ngàn quân đến Quảng Tây, nhiều người lo sợ Trung Cộng sắp tấn công đến nơi. Có người ở Hà Nội cho biết đã “thấy trên đường Cầu Rẽ-Pháp Vân có nhiều đoàn xe quân sự chở theo pháo hạng nặng và xe tăng chạy hướng Nam-Bắc nhằm về phía biên giới”; rồi tính chuyện rút tiền ở ngân hàng về phòng bất trắc. Nhưng chiến tranh không dễ gì xảy ra, quyết định gây chiến không giản dị như trong thời trong truyện Tầu, Tam Quốc Chí. Tương quan quốc tế bây giờ cũng không giống năm 1978, 79. Thời 35 năm trước, nước Việt Nam hoàn toàn bị cô lập trong cả vùng Ðông Nam Á cũng như trên thế giới, vì đảng Cộng sản Việt Nam chỉ biết bám lấy Liên Xô, mà Lê Duẩn tuyên bố là tổ quốc thứ nhì của ông. Trung Cộng tấn công, Liên Xô không cứu được, chỉ có dân và lính chết oan khốc.

Nhưng nếu bây giờ Trung Cộng định tấn công, thì họ cũng phải tính trước. Giả thử họ đánh, chiếm được Hà Nội rồi thì họ sẽ làm gì đây? Lập thành quận, huyện của Trung Quốc như thời quân Minh; hay lập một chính phủ bù nhìn? Một ngàn năm Bắc thuộc cho thấy dân tộc Việt không bị khuất phục, bây giờ người Việt còn quật cường hơn trước nhiều. Có ai muốn thử sức hay không? Hơn nữa, ngày nay Trung Cộng còn yếu hơn thời Minh Thành Tổ, còn lo đối phó với phản ứng của các nước khác. Mỹ, Úc, Liên Hiệp Âu Châu, Nhật Bản, Ấn Ðộ, không thể khoanh tay nhìn Trung Cộng đánh, chiếm một nước láng giềng mà không làm gì cả. Tối thiểu, họ sẽ trừng phạt về kinh tế từng bước một, như đang áp dụng trong trường hợp Ukraine. Trung Cộng vốn đang bị các nước Ðông Nam Á nghi ngờ và họ càng lánh xa; có nước nào nhìn Trung Cộng lộng hành mà không lo đến số phận mình hay không? Mỗi nước trên đây chỉ cần giảm số hàng nhập cảng từ Trung Quốc 10% thì nền kinh tế đang mong manh sẽ sụp đổ. Putin chưa ngấm đủ các đòn phong tỏa kinh tế mà đã phải rút quân ở biên giới Ukraine về. Kinh tế Trung Quốc còn mong manh hơn Nga nhiều, nếu bị thế giới tẩy chay thì hàng trăm triệu công nhân thất nghiệp, chế độ cộng sản sẽ đổ, làm sao Tập Cận Bình dám gây thêm rắc rối? Ông Tập Cận Bình mới khẳng định rằng Trung Quốc sẽ không gây thêm rắc rối trong vùng Nam Hải (người Việt gọi là Biển Ðông); mà chỉ có phản ứng cần thiết nếu bị nước khác khiêu khích. Có thể tin rằng đó là chính sách của đảng Cộng sản Trung Hoa.

Một mặc cảm lo sợ khác là bị Trung Cộng tấn công về kinh tế. Nhưng kinh tế là những cuộc trao đổi; anh kiếm lời thì tôi cũng kiếm lời; anh làm khó cho tôi thì anh cũng bị thiệt hại. Năm 2010, Trung Cộng đã ngưng nhập cảng cá hồi từ Na Uy để trả đũa việc trao giải Nobel Hòa Bình cho Lưu Hiểu Ba. Năm 2012, họ cấm nhập cảng chuối từ Philippines sau các cuộc xung đột trên biển. Nhưng cuối cùng, đâu cũng vào đó cả, cả hai nước bị “trừng phạt” vẫn sống ung dung.

Kinh tế Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ rộng lớn, nhưng có lợi cho họ hơn cho người mình. Năm ngoái, hai nước trao đổi hơn 50 tỷ đô la Mỹ về thương mại, trong đó người Việt mua và trả cho Trung Quốc 37 tỷ mà bên mình chỉ bán cho họ được 13 tỷ. Chấm dứt tình trạng cán cân mậu dịch chênh lệch đó thì người Trung Hoa bị thiệt nhiều hơn người Việt. Những năm qua, trong các cuộc đấu thầu ở nước ta, các công ty Trung Quốc trúng thầu 90% các dự án về điện và 80% các dự án về giao thông. Ðó là một tình trạng bất bình thường, đáng nghi ngờ. Có áp lực, tham nhũng, đút lót ở đâu đó, ai biết? Không những thế, các nhà thầu Trung Quốc luôn luôn gây đình trệ khi thi hành dự án, đòi tăng ngân sách mới tiếp tục, lại còn mang hàng chục ngàn công nhân lậu sang chiếm công việc của lao động Việt Nam. Ðó là tình trạng bất bình đẳng nên chấm dứt càng sớm càng tốt. Nếu các công ty Trung Quốc ngưng đầu tư vào mỏ bô xít, ngưng khai thác gỗ rừng ở Việt Nam thì dân Việt còn mừng nữa!

Tình trạng kinh tế bị ràng buộc đến mức bị lệ thuộc hiện nay là do chính sách ngoại giao sai lầm của đảng Cộng sản, bám lấy 16 chữ vàng và 4 cái tốt; hậu quả của hội nghị Thành Ðô nhục nhã năm 1990. Chấm dứt tương quan bất bình đẳng đó mới mở được một con đường thoát cho kinh tế Việt Nam trong tương lai.

Tại hội nghị Shangri-La ở Singapore, Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã tuyên bố nước Nhật sẽ hợp tác với Mỹ, Ấn Ðộ, Úc Châu, cùng bảo vệ luật pháp quốc tế và an ninh hàng hải trong vùng biển Ðông Nam Á. Ðây là một lời cảnh cáo trước cảnh Trung Cộng đem giàn khoan dầu tới vùng Biển Ðông. Nhưng mối lo của Trung Cộng không phải chỉ là việc Nhật hứa viện trợ 10 chiếc tầu thủy cho Philippines để bảo vệ hải phận, hay hứa sẽ giúp một chiếc tàu cho Việt Nam. Mối lo chính của Bắc Kinh là nhân cơ hội này ông Abe sẽ tiến hành nhanh hơn quá trình đưa nước Nhật trở lại làm một “quốc gia bình thường,” để tự vệ và bảo vệ các đồng minh, trong đó ông kể tới các nước Ðông Nam Á. Bình thường hóa, nghĩa là Nhật Bản sẽ giải thích lại bản Hiến Pháp hòa bình, tái lập quân đội, sản xuất và xuất cảng vũ khí, gửi quân ra nước ngoài. Cũng tại hội nghị Shangri-La, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ hoan nghênh các ý kiến của thủ tướng Nhật. Ác mộng của Trung Cộng là thấy một nước Nhật Bản tái vũ trang và có thể chế tạo vũ khí nguyên tử bất cứ lúc nào. Theo quyền lợi của những người lãnh đạo ở Bắc Kinh, họ có muốn giúp cho nước Nhật có thêm cơ hội liên kết với các nước Ðông Nam Á và Mỹ chặt chẽ hơn hay không?

Phải xóa bỏ hai thứ mặc cảm sợ hãi đối với Trung Cộng. Nhưng cũng không nên nuôi ảo tưởng rằng các nước lớn như Nhật Bản, Mỹ cũng lo việc bảo vệ nước Việt Nam. Các quốc gia trên thế giới đều chỉ lo bảo vệ quyền lợi của họ. Năm 1974, Mỹ không giúp Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Hoàng Sa, vì lúc đó họ chỉ cần thỏa hiệp để rút khỏi Việt Nam, để lại cho Trung Cộng và Việt Cộng mầm mống một cuộc tranh chấp, thanh toán lẫn nhau sau này.

Tại hội nghị Shangri-La khi Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Chuck Hagel gặp Tướng Vương Quan Trung (Wang Guanzhong), phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Cộng, ông nhắc nhở rằng Trung Quốc đã có những hành động đơn phương gây xáo trộn ở Scarborough Reef, tại Second Thomas Shoal, và đưa giàn khoan dầu tới quần đảo Paracels. Ông Hagel nhắc tới hai vụ gây hấn với Philippines trước, vụ xâm lấn vào lãnh hải Việt Nam sau; vì nước Mỹ có những thỏa hiệp về an ninh, quân sự với Philippines, không có ràng buộc nào với Việt Nam. Cho nên chúng ta không nên nuôi ảo tưởng rằng có thể nhờ vả vào nước Mỹ trong cuộc tranh chấp với Trung Cộng.

Chính quyền Mỹ luôn luôn khẳng định rằng họ hoàn toàn trung lập về chủ quyền các đảo trong vùng Biển Ðông. Ðối với quyền lợi của dân Mỹ, các mỏ dầu khí dưới đáy biển thuộc chủ nhân nào thì cũng không ảnh hưởng đến việc mua bán của họ. Một nhà bình luận Mỹ đặt câu hỏi: “Chúng ta (người Mỹ) có cần quan tâm đến chuyện một công ty Trung Quốc hay Việt Nam hút dầu từ đáy biển chung quanh quần đảo Paracels rồi đem bán hay không? Chúng ta có quan tâm đến về chuyện một ngư dân nghèo người Philippine hay một ngư dân nghèo Trung Hoa đánh được cá ở Scarborough Shoal hay không? Nước Mỹ có đánh nhau với Trung Quốc về mấy bãi đá và tảng đá ngầm giữa đại dương hay không?”

Cuối cùng, cần xóa bỏ các mặc cảm, cũng xóa bỏ cả các ảo tưởng. Người Việt Nam chỉ có thể trông cậy vào sức mình để bảo vệ quyền lợi quốc gia, những thứ còn có thể bảo vệ được.

Chiến lược lâu dài của đảng Cộng sản Trung Hoa là gậm nhấm từng mảnh một, trong khi vẫn nói là sẵn sàng thảo luận với các nước khác trong vùng Biển Ðông, miễn là thảo luận song phương. Trong lâu dài, thủ đoạn này chỉ có lợi cho họ. Họ sẽ đặt thế giới trước những “sự đã rồi,” như việc thành lập huyện Tam Sa trước đây, và việc đem giàn khoan vào hải phận nước ta mới rồi. Thế giới sẽ dần dần chấp nhận những ‘sự đã rồi” này, hoặc chỉ phản đối lấy lệ.

Nước Việt Nam không thể để mình bị rơi vào trong cái bẫy đó. Cần có một chính phủ Việt Nam thực sự do dân Việt bầu cử tự do lập nên. Cần có một chính quyền thoát ra khỏi cái vòng dây trói buộc 16 chữ vàng và 4 cái tốt; sẵn sàng giao hảo với các nước khác mà không sợ làm mất lòng Trung Cộng. Cần một chính quyền cho dân được tự do kinh doanh, phục hồi kinh tế để dân giầu, nước mạnh. Muốn như vậy, cần phải chấm dứt chế độ cộng sản.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Tuyên cáo của Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do- (Ls Lê Thị Công Nhân và ông Trần Ngọc Thành)

Posted by hoangtran204 trên 09/06/2014

Để hình thành tổ chức thật sự tranh đấu và bảo vệ quyền lợi của ngưởi công nhân Việt Nam, cần phải có nhiều công đoàn độc lập. Những công đoàn do chính người dân thành lập như Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do thì độc lập với công đoàn do đảng csvn và nhà nước thành lập.

Tất cả công đoàn cở sở hiện nay đều là công đoàn nhà nước, và  trực thuộc Tổng Liên Đoàn Lao Động VN. Đứng đâù TLĐLĐVN là Ủy Viên Trung Ương Đảng Đặng Ngọc Tùng làm chủ tịch.

Tuyên cáo của Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do

Kính chào Ban Biên Tập Dân Luận,

Tiếp theo lời kêu gọi của 16 tổ chức xã hội dân sự tại chùa Liên Trì vừa qua. Lao Động Việt (LĐV) đã ra Tuyên Cáo này nhằm công khai hoá sự hoạt động của LĐV trong nước.

Đây cũng là một bước thăm dò phản ứng của Hà Nội, đồng thời cũng là một bằng chứng về sự hiện diện của LĐV trong nước, qua đó, LĐV có thể dùng đó làm bằng chứng cho 12 nước trong TPP cũng như ITUC.

Kính nhờ Ban Biên Tập đăng Bản Tuyên Cáo này trên trang nhà dùm

Rất cám ơn

Kính chúc Dân Luận mãi vững tiến.

Ca Dao

 

TUYÊN CÁO CỦA LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT TỰ DO 

Ngày 9 tháng 6 năm 2014

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trên danh nghĩa là một nhà nước của Liên Minh Công Nông song trong thực tế đã phản bội quyền lợi của hai khối dân đông nhất này trong cộng đồng dân tộc. Bằng chứng là hàng triệu dân oan lây lất trên toàn quốc và người lao động Việt Nam chưa bao giờ bị bóc lột như ở qui mô hiện tại, phơi bầy ra một sự cách biệt giàu nghèo chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.

Bởi Tổng Liên Đoàn Lao Động VN, cũng trên danh nghĩa là đại diện trực tiếp cho quyền lợi của người lao động, nhưng vì là một tổ chức ngoại vi tức công cụ của Đảng CSVN nên không thể bảo vệ nổi những lợi ích của giai cấp công nhân Việt-nam nên:

1/ Từ ngày 20/10/2006, Công Đoàn Độc Lập Việt Nam đã ra đời.

2/ Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam cũng đã thành hình ngày 30/12/2006 tại Việt Nam.

3/ Phong Trào Lao Động Việt cũng đã được lập ra ngày 29/10/2008 tại Việt Nam.

Mặc dầu bị đàn áp, tù đầy (như trường hợp Luật sư Lê Thị Công Nhân của Công Đoàn Độc Lập VN, toàn ban lãnh đạo của Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông VN, và ba người chủ chốt trong Phong Trào Lao Động Việt là Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đỗ Thị Minh Hạnh) ba tổ chức trên đã kết hợp với Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam (được thành lập ngày 29/10/2006, tại Ba Lan) thành Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do, viết tắt là Lao Động Việt (LĐV), ra mắt tại Đại Hội lần thứ 1, tổ chức tại Bangkok, Thái Lan, ngày 17/1/2014.

Việc thành lập và hoạt động của các tổ chức nói trên là căn cứ vào những điều khoản như Điều 53, Điều 69 của Hiến Pháp 1992 nước CHXHCN Việt Nam và Điều 25 và Điều 28, Chương 2, của Hiến Pháp 2013 của nước CHXHCN Việt Nam (những văn bản có tính cách pháp lý cao nhất của quốc gia) cũng như căn cứ vào các Quy Ước Quốc Tế số 87 (ngày 9/7/1948 về Tự do Nghiệp đoàn và bảo vệ quyền hoạt động nghiệp đoàn) và 98 (ngày 1/7/1949 về quyền tổ chức và cộng đồng thương thảo) của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (International Labor Organization).

Quá trình thành lập Lao Động Việt trong 8 năm qua cũng là nằm trong xu hướng dân chủ hóa đất nước và là một đòi hỏi không thể bỏ qua của phong trào lao động thế giới (ITUC, AFL-CIO…) trong tiến trình Việt Nam đang tìm cách tham gia vào Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership, TPP).

Hôm nay, ngày 9/6/2014, Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do quyết định ra thông cáo này để công khai hóa sự hiện diện của Lao Động Việt (LĐV) trong cộng đồng các xã hội dân sự hiện có mặt ở Việt Nam, nhằm bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người lao động VN, những quyền lợi mà hiện không có ai bảo vệ.

Nhân dịp này, Lao Động Việt đòi hỏi nhà cầm quyền VN phải tức khắc trả tự do cho các nhà tranh đấu cho quyền lao động ở VN, đặc biệt: các anh Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và cô Đỗ Thị Minh Hạnh–mà giờ đây đã được nhiều tổ chức nhân quyền trên thế giới (Amnesty International, Freedom Now, Defending the Defenders…) và Quốc hội Mỹ lên tiếng bảo vệ.

Đại diện LAO ĐỘNG VIỆT:

Trần Ngọc Thành, Chủ tịch
Lê Thị Công Nhân, Phó Chủ tịch
Đoàn Huy, Phát ngôn nhân – E-mail: congnhanbinhduong05@gmail.com

——-

 

 

Posted in Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »

►Cứ mỗi đại án là có một vài tướng Công an bị nướng. Liệu có thành quy luật?

Posted by hoangtran204 trên 08/06/2014

Hầu hết các đại án nầy đều  xảy ra dưới thời 3x.

Liệu có thành quy luật: Mỗi đại án nướng một vài tướng Công an?

Nguồn blog Cầu Nhật Tân

(7-6-2014) Vụ Dũng “tổng” nướng tướng Oánh, tướng Quắc.  (1)-coi thêm ở cuối bài 

Vụ Năm Cam nướng tướng Huy, tướng Nhất. 

Hiện, nhiều đồng chí vẫn rình rập đòi nướng nốt tướng Việt Thành.

Vụ Dũng “chàm” Vinalines nướng tướng Ngọ.

Vào những phút cho đá bù giờ, đồng chí Dũng còn tố thêm một tiểu tướng và một đại tướng nữa. [Thiếu tướngTrần Quang Tiệp, và Đại tướng Trần Đại Quang]

Số phận các cụ này vẫn còn là ẩn số và phụ thuộc vào những dàn xếp trên sân khấu chính trị Đại hội tới. Vụ Bầu Kiên, cũng vẫn phút 92 bù giờ, đồng chí này đi bóng ngoạn mục rồi co chân sút thẳng vào khung thành tướng Thịnh Bộ Công an (Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ CA, Cục trưởng C46).

Nói về vụ Bầu Kiên lại phải lần giở về Nghị quyết Trung ương 4 phòng, chống tham nhũng, lãng phí, những hiện tượng cục bộ, lợi ích nhóm, hư hỏng, suy thoái biến chất trong cán bộ đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, rồi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, rồi quyết định đưa 10 vụ án vào diện Ban theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo (trong đó có vụ Bầu Kiên), rồi Quyết định 17-QĐ/BCĐTW thành lập 07 Đoàn công tác kiểm tra, giám sát việc thanh tra, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.

Đoàn công tác số 3 (được giao địa bàn phức tạp nhứt) do cụ Thanh, Phó Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương làm Trưởng đoàn, làm việc tại Bộ Công an, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Tòa án Nhân dân tối cao.

Trong đấu tranh chống tham nhũng (trong đó có các vụ việc nghiêm trọng dư luận xã hội quan tâm), cơ quan chỉ đạo là Ban Chỉ đạo PCTN mà cụ Trọng là Trưởng Ban, cụ Thanh là Phó Ban thường trực. Các cụ khác như cụ Chủ, cụ Thủ, cụ Công, cụ Kiểm, cụ Tòa chỉ là ủy viên thường. Nhiều vấn đề được quyết rốt ráo ngay tại Ban Chỉ đạo nhằm tránh đưa ra Bộ Chính trị, Trung ương, nơi mà cụ Thanh cụ Trọng không có tiếng nói quyết định. Có vấn đề rất phức tạp, buộc phải đưa ra Bộ Chính trị cho ý kiến, phức tạp chính là chỗ này đúng như một tờ báo đã nói: cho dù tuyên án bầu Kiên thì vụ việc vẫn chưa kết thúc.

Ngay từ đầu, vụ án đã đi theo lối dích dắc: khi báo cáo trước các cụ để xin ý kiến bắt đồng chí Kiên thì chỉ tập trung vào món vàng (cụ nào từng chơi vàng ở sàn ACB, tường tận các ngón võ mới biết nó phức tạp thế nào). Được tin này, đồng chí Lý Xuân Hải ở Sài Gòn mới yên tâm và vẫn thoải mái đi đánh gôn, uống bia, sau đùng cái làm quả khởi tố, tam giam đồng chí Hải bị xộ khám mới vỡ tiếp ra cái vụ tín dụng ngân hàng to đùng, rồi lại liên tục gọi hỏi, vân vê các đồng chí Xuân Giá, Trung Cang, Trầm Bê, Thành, Hồng Anh … mới ngã ngửa ra nhiều điều khủng khiếp liên quan các cụ X, Y, Z … Rồi đồng chí Trung Cang bị khởi tố, cho tại ngoại, cấm xuất cảnh, cho xuất cảnh, dụ về nước, bắt tạm giam … Hòa Phát ban đầu bảo bị lừa, sau lại lúng ba lúng búng trước tòa rằng không bị lừa …

 

 

Dường như qua mỗi lần dích dắc, các đồng chí đại gia đều ít nhiều thoát tội hoặc giảm nhẹ. Điều đó không hoàn toàn đúng vì như vậy thì Nghị quyết 4 phá sản à? Chít. Chuyện bi chừ hóa to, liên quan đến uy tín lãnh tụ, đến uy tín của Đảng chứ không phải chơi đâu, nhất là vụ Biển Đông vừa qua khiến một số cụ uy tín xuống thấp, một số cụ lại tăng chỉ số Index vốn trước đây ở mức dưới đáy, sắp xếp ghế Đại hội 12 đến nơi rồi. Cái này nằm ở dích dắc trên sân khấu chỗ các cụ X, Y, Z. Thế nên người ta thấy một bên cứ kéo dây thít thật mạnh, một bên thì cố chống, gỡ rồi phản thùng khi có cơ. Giống y như trò kéo co hay đá bóng ý các cụ ạ. Kịch tính của cuộc chơi rõ nhất là màn chém gió phút bù giờ của đồng chí Kiên trước tòa, và ở giây cuối đồng, chí này công khai tố cáo tướng Thịnh (cái này, người ít biết thì thấy thú vị, người biết nhiều thì bảo nó hài hước).

Giở lại cái quy luật nghiệt ngã mỗi đại án nướng một vài tướng Công an. Tướng Thịnh (được đeo lon tướng nhờ thành tích phá vụ đồng chí Kiên) luôn phân trần là khi bắt tớ có báo cáo, xin chỉ đạo của cụ X, Y, Z chứ không phải không. Đương nhiên các cụ không chối, nhưng chỉ đạo kiểu “đảm bảo đúng người, đúng tội, không làm oan sai, đồng thời tránh bỏ lọt tội phạm” thì vụ nào chẳng giống vụ nào, phải không các cụ. Một số nguồn tin cho hay, việc mở rộng điều tra vụ án sau này có nhiều nội dung nằm ngoài báo cáo xin ý kiến chỉ đạo ban đầu. Hơn nữa, đồng chí trực tiếp báo cáo xin ý kiến chỉ đạo vừa khuất núi, điều này khiến thế của tướng Thịnh yếu hơn lúc mới nổ súng. Cuộc chơi với một rừng luật nhưng lại chơi theo luật rừng thì số phận các cầu thủ trên chiếu thật mong manh phải không các cụ. Có một điều chắc chắn, ngày mai (9/6), tòa có tuyên án thế nào thì cuộc chơi này vẫn chưa thể kết thúc.

 

 

(1) Chuyện Về Tướng Phạm Xuân Quắc Và Tướng Cao Ngọc Oánh

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►ASEAN và Việt Nam thời biển động

Posted by hoangtran204 trên 08/06/2014

ASEAN và Việt Nam thời biển động

7-6-2014

Trần Hoàng

 

Trong liên quan với vụ việc Giàn khoan HD-981 thời gian vừa qua, Việt Nam lại một lần nữa gặp phải một thất bại ngoại giao đáng kể. Mặc dù chính phủ Việt Nam tuyên truyền qua báo chí trong nước là những tuyên bố mạnh mẽ của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị cấp cao ASEAN tại Myanmar ngày 11.5.2014, lên án việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào sâu lãnh hải Việt Nam, kêu gọi các nước ASEAN lên tiếng phản đối Trung Quốc và đề nghị đưa các nội dung liên quan tới tranh chấp trong Biển Đông vào tuyên bố chung của hiệp hội, đã gặp được đồng thuận và ủng hộ của các nhà lãnh đạo của tổ chức khu vực này, nhưng sự thực mà ai cũng biết là trong tuyên bố chủ tịch, các nước ASEAN chỉ  “biểu thị các quan ngại đặc biệt trước các diễn biến trong Biển Đông” và “kêu gọi các bên… thực hành tự kiềm chế, không dùng tới đe dọa hay sử dụng vũ lực, và giải quyết tranh chấp bằng các phương tiện hòa bình theo các nguyên tắc phổ cập của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước về Luật Biển năm 1982.”, hoàn toàn không đả động một lời tới Trung Quốc. Các Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN tuy sau đó có đưa ra một tuyên bố riêng về Biển Đông, nhưng lời lẽ thì không khác gì mấy lời lẽ của tuyên bố chủ tịch trên.

Thất bại này là thời điểm để Việt Nam cân nhắc lại một cách có tính phê bình quan hệ của mình với ASEAN; mà trước hết là xem xét lại những sai lầm, thiếu sót và sao nhãng của bản thân để thu được những bài học bổ ích và xác định hướng đi cho thời gian tới.

Những căng thẳng trong Biển Đông tầm cỡ như vụ việc Giàn khoan HD-981 từ trước tới nay có nhiều và phản ứng chung của các nước ASEAN từ trước tới nay vẫn vậy, vẫn là chung chung, không có tuyên bố rõ ràng, dứt khoát gì đặc biệt. Nhiều nước ASEAN vẫn luôn nêu cao quan điểm không can thiệp vào công việc nội bộ, từ chối không đưa các vấn đề song phương vào các chính sách, tuyên bố chung.

Điển hình gần đây nhất là vụ đụng độ trực tiếp giữa Philippines và Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough kéo dài từ tháng 4 tới khoảng tháng 7 năm 2012 với kết quả là Trung Quốc chiếm kiểm soát thực sự bãi cạn này và những vùng biển xung quanh và tiếp theo là việc Philippines đệ đơn kiện Trung Quốc lên Tòa án Quốc tế về Luật Biển (international Tribunal for the Law of the Sea). ASEAN thực chất đã hoàn toàn im lặng trong thời gian vụ việc xảy ra. Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 20 tại Phnom Penh 2-3.4.2012 và sau đó tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN vào ngày 29.5.2012, các quốc gia thành viên đã không đưa ra bất kỳ một tuyên bố hay thông cáo nào ủng hộ nước thành viên của họ là Philippines. Tiếp sau đó, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 45 họp vào các ngày 9-13.7.2012, khi Philippines đòi hỏi tuyên bố chung phải phản ánh các cuộc tranh luận quanh vấn đề tranh chấp giữa nước này và Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough, Việt Nam muốn tuyên bố chung nói đến các vùng đặc quyền kinh tế EEZ thì do mâu thuẫn trong nội bộ ASEAN, nhất là quan điểm chống đối của nước giữ ghế chủ tịch Campuchia, hội nghị này kết thúc mà không đưa ra được kỳ một thông cáo chung nào, một sự việc lần đầu tiên xảy ra trong lịch sử 45 năm của tổ chức này.

Đó là thái độ phản ứng của ASEAN nói chung. Còn thái độ phản ứng chính thức của Việt Nam là như thế nào? Rất đáng tiếc là cũng không có gì đặc biệt, lời lẽ của  Việt Nam có thể nói là hết sức chung chung và không thể ngoại giao hơn, “Việt Nam hết sức quan ngại tới vụ việc Scarborough và kêu gọi các bên tham gia cần thực hành kiềm chế và giải quyết các xung đột một cách hòa bình dựa trên nền tảng của luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông, nhằm gìn giữ hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn biển tại Biển Đông và khu vực.” (Xem Scarborough Shoal dispute of ‘concern’ trên Việt Nam News ngày 26.4.2012)

Tuyên bố chính thức của các nước ASEAN khác trước vụ việc này cũng chẳng có gì hơn, nếu không nói là còn xấu hơn. Thí dụ như Malaysia, tuy lúc đầu có tuyên bố “ủng hộ kêu gọi của Philippines cho một giải pháp hòa bình” (nhấn mạnh được bổ sung) trong tranh chấp Scarborough với Trung Quốc theo luật pháp quốc tế (xem Malaysia too wants peace in Panatag Shoal trên Inquirer), thì chỉ một thời gian ngắn sau đó, trước việc Trung Quốc tăng cường tuần tra hải giám Biển Đông, nước này đã cho các nước ASEAN biết rằng họ có thể làm việc riêng với Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp trong Biển Đông, không cần để ý tới yêu sách (chủ quyền) của các nước khác. “Chỉ vì các anh có kẻ thù không có nghĩa là kẻ thù của các anh cũng là kẻ thù của tôi.” (Xem Malaysia Splits With Asean Claimants on China Sea Threat trên Bloomberg ngày 29.8.2013.)

Chỉ cần xem xét vụ việc trên cũng thấy Việt Nam không nên và không thể mong đợi ủng hộ gì hơn từ phía ASEAN. Hơn nữa, hoàn toàn không có gì là quá đáng khi nói Việt Nam cũng không có tư cách gì để đòi hỏi một sự ủng hộ cao hơn. Mặt khác, có thể thấy ASEAN càng ngày càng hiện hình rõ là một tổ chức khu vực không có gì là hùng mạnh, có thế lực đáng kể, cả về mặt kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao, nếu không muốn nói là lỏng lẻo và yếu kém.

Vài nét sơ lược về hội nhập của Việt Nam vào ASEAN

Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN vào tháng 7 năm 1995, nhưng việc “đi lại” giữa hai bên đã bắt đầu từ những năm cuối thập kỷ 70 thế kỷ trước, sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975.

Trong cuốn Hồi ức và Suy nghĩ của Trần Quang Cơ, nguyên thứ trưởng ngoại giao Việt Nam, người ta có thể đọc thấy: “Nể sợ sức mạnh quân sự và ý chí kiên cường của Việt Nam, mặt khác lo ngại mối đe dọa từ nước Trung Hoa khổng lồ tăng lên một khi Mỹ rút khỏi Đông Nam Á, đồng thời lại có yêu cầu phát triển kinh tế, các nước ASEAN sốt sắng bình thường hóa cải thiện quan hệ với Việt Nam.” Nhưng “… (Việt Nam) làm cao trước việc ASEAN ngỏ ý muốn Việt Nam tham gia tổ chức khu vực này…”

Các tài liệu phân tích nước ngoài về thời kỳ này nói chung là thống nhất với nhận xét của ông Trần Quang Cơ. Tuy có khác biệt nhất định trong quan điểm, xu hướng nói chung của năm nước sáng lập ASEAN, đặc biệt là Malaysia, là quan tâm tới việc lôi kéo Việt Nam vào tham gia ASEAN. Vào tháng 2 năm 1973, tức là chỉ vài tuần sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27.1.1973, sau một hội nghị đặc biệt của ASEAN, các Bộ trưởng Ngoại giao các nước thành viên đã ra tuyên bố chung thể hiện rõ mong muốn mở rộng hiệp hội. Trong các Hội nghị Thượng đỉnh của ASEAN  các năm 1976 và 1977, các nước thành viên đều biểu thị sẵn sàng phát triển quan hệ có thành quả và hợp tác hai bên cùng có lợi với các nước khác trong khu vực, nhắm định trước hết là tới Việt Nam. Động cơ ASEAN muốn lôi kéo Việt Nam về phía mình trước hết gồm có động cơ an ninh, sau là động cơ kinh tế.

Cần nhắc lại ở đây là một trong những lý do chủ yếu dẫn đến sự ra đời của ASEAN là lo ngại trước sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á. Hai thế lực cộng sản chính ở Đông Á và Đông Nam Á lúc đó là Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên Việt Nam không phải là đối tượng để họ lo ngại chính, nỗi lo sợ lớn nhất là Trung Quốc. Điều này không chỉ xuất phát từ sức mạnh nổi trội của Trung Quốc mà còn vì những chính sách hung hãn của nước này. Tất cả năm nước sáng lập ASEAN đều phải đối đầu với thực trạng Bắc Kinh tìm cách điều động các nhóm cộng sản, trong đó có nhiều nhóm của Hoa kiều, đột nhập vào lãnh thổ, sau đó thâm nhập vào đời sống chính trị, xã hội các nước này. Quan hệ của các nước ASEAN, đặc biệt là Indonesia và Philippines, với Trung Quốc vì thế xấu đi một cách nghiêm trọng từ những năm cuối thập kỷ 1960.

Sau khi Mỹ rút quân khỏi Nam Việt Nam, tuy có những e dè nhất định trước quốc gia có định hướng cộng sản Việt Nam, các nước ASEAN có tính toán rằng nếu Việt Nam trở thành thành viên ASEAN, nghiễm nhiên nguy cơ đe dọa của nước cộng sản này sẽ không còn nữa; hơn thế nữa, Việt Nam sẽ trở thành rào cản vững chắc phía Bắc trước tiềm năng bành trướng của Trung Quốc (một sứ mệnh Việt Nam đã đảm nhiệm trong nhiều thế kỷ). Vì Việt Nam đóng vai trò lãnh đạo ở Bán đảo Đông Dương nên việc nước này hội nhập vào ASEAN sẽ làm cho vai trò, thế lực của tổ chức này sẽ được cải thiện đáng kể. Ngoài ra, ASEAN còn có quan tâm lớn tới thị trường Việt Nam và các cơ hội đầu tư vào nước này.

Việt Nam đã từ chối không tham gia ASEAN. Sau khi không bình thường hóa quan hệ với Mỹ, Việt Nam định hướng vào Liên bang Xô-viết. Thời kỳ từ năm 1978 tới năm 1989 thực chất là thời kỳ các nước ASEAN hiệp lực, có hợp tác với Trung Quốc ở mức nhất định, đối phó với Việt Nam sau Chiến tranh Biên giới Tây Nam, với việc Việt Nam đem quân vào Campuchia tháng 12.1978. Từ thời điểm này trở đi và sau thất bại ngoại giao, Việt Nam dần dần rơi vào thế cô lập, chỉ có quan hệ đáng kể  với Liên bang Xô-viết, và tình trạng này kéo dài mãi tới đầu thập kỷ 1990. Sau khi Liên bang Xô-viết tan rã, Việt Nam rơi vào thế hoàn toàn cô lập, khủng hoảng kinh tế trầm trọng và tìm cách bằng mọi giá thoát ra khỏi tình thế bi đát này. Năm 1992, Việt Nam biểu thị sự quan tâm gia nhập ASEAN và sau các đợt đàm phán, trở thành thành viên chính thức của tổ chức khu vực Đông Nam Á này vào tháng Bảy năm 1995. Tuy nhiên, tuyên bố chính thức về ý định gia nhập ASEAN của Việt Nam chỉ được đưa ra sau khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, để tránh nước này phật ý.

Vì các lý do tương tự như những lý do trong các năm 1970 đã nêu ở phần trên, các nước ASEAN đồng tình và chào đón ý tưởng hội nhập của Việt Nam. Thực chất là ASEAN và Việt Nam đều cần đến nhau để tăng đối trọng trong quan hệ của họ với “người khổng lổ” Trung Quốc. Việt Nam không gặp phải cản trở gì lớn trong quá trình thương thuyết hội nhập. Tuy nhiên, nước này hình như lại quá hài lòng với vai trò thành viên trong ASEAN, không có nhiều nỗ lực tìm kiếm, xây dựng các mối liên kết chặt chẽ, ở mức độ sâu sắc, với các quốc gia khác trên thế giới.

Một tổ chức khu vực nhiều phần yếu kém

Trong so sánh tương đối với các chức khu vực khác trên thế giới, ASEAN được cho là một tổ chức lỏng lẻo và có phần yếu kém. Trong bài viết có tiêu đề “Thất bại của ASEAN” (The Failure of ASEAN) đăng trên The Chicago Journal of Foreign Policy ngày 21.1.2014, tác giả Tommie Thompson có những đánh giá hết sức xác đáng:

“… khác với các tổ chức khu vực khác như Liên minh châu Âu hay Liên đoàn Ả-rập, ASEAN thiếu một khung cơ cấu tổ chức chặt chẽ. Một phần, đó là do quá khứ lịch sử khác biệt của các dân tộc Đông Nam Á. Khác với châu Âu hay Trung Cận Đông, các nước Đông Nam Á có lịch sử phát triển dân tộc, cơ cấu nhà nước, bản sắc văn hóa khác nhau; các yếu tố dẫn đến việc thành lập của ASEAN là một quá khứ thuộc địa chung và vị trí gần gũi, chứ không phải là thống nhất văn hóa hay các mối quan tâm lợi ích chung rõ ràng (xin cân nhắc các mối quan tâm lợi ích khác biệt của các nước Đông Nam Á với các hình thức nhà nước khác nhau, từ dân chủ tới độc tài quân sự triệt để).

Hiện nay, các giá trị của nhóm ASEAN, được gọi là ‘Con đường ASEAN’, nhấn mạnh vào chủ nghĩa tự nguyện và tự quyết – ban đầu, thậm chí một tuyên bố công khai không đồng tình với một hay nhiều thành viên khác cũng không được cho phép đưa ra. Mặc dù điều này có thể bảo vệ các nước Đông Nam Á trước một kiểm soát kiểu gia trưởng từ phía một tổ chức siêu dân tộc, điểm mà họ lo ngại do quá khứ lịch sử thuộc địa, nó khiến tổ chức này trở nên vô tác dụng trong việc giải quyết các vấn đề khu vực có ý nghĩa quan trọng. Mục đích chính của điều này, ít nhất là về mặt thực tế, là bảo vệ chủ quyền dân tộc. Một thí dụ: trong những năm 1970, nhằm theo đuổi hội nhập kinh tế, với tuyên bố Vùng Hòa bình, Tự do và Trung lập ZOPFAN, ASEAN tập trung vào việc cắt giảm ảnh hưởng của phương Tây. Hơn nữa, cơ cấu tổ chức của ASEAN về cơ bản khác với cơ cấu tổ chức của các tổ chức khu vực khác ở chỗ là nó hoạt động như một diễn đàn không chính thức hơn là một trường đàm phán. Cách thức này dựa vào các đồng thuận yếu lỏng, thậm chí còn kém mạnh mẽ so với các thỏa thuận không ràng buộc của Liên Hiệp Quốc được tăng cường hiệu lực bởi ‘các chuẩn mực quốc tế’, làm cho cộng tác chung trở thành bất khả thi. Nhiều nước, tuy vậy, ý thức được vấn đề này và theo đuổi các cuộc cải tổ, nhưng quan tâm lợi ích đối kháng từ các nước khác như Indonesia – một nước luôn đề cao ý tưởng không can thiệp – ngăn cản những thay đổi như vậy.

Các vấn đề khu vực hiện nay làm hiện rõ sự cộng tác lỏng lẻo trong nội bộ ASEAN. Một thí dụ: những nước liên quan tới tranh chấp lãnh thổ trong Biển Đông đã quyết định không dùng ASEAN để giải quyết các vấn đề ngoại giao thay cho đàm phán riêng; ban đầu các nước ASEAN có yêu sách (chủ quyền) cho rằng ASEAN phải cho ra một đối trọng với yêu sách (chủ quyền) của Trung Quốc, nhưng sau đó họ ý thức được rằng các nước thành viên không liên quan tới tranh chấp này khó có thể ủng hộ ý tưởng này – điềunày thể hiện thất bại của ASEAN trong việc tăng cường thống nhất khu vực. Một vấn đề khác, cấp bách hơn, là khói mù (haze). Từ những năm 1990, toàn bộ Đông Nam Á phải đương đầu với nạn khói mù tràn khắp, chủ yếu là do kỹ thuật canh nông đốt nương làm rẫy của Indonesia. Thiếu một khung tổ chức mạnh hơn, Indonesia sẽ không có động cơ chấm dứt kỹ thuật triệt phá này, yếu tố này sẽ tạo ra các yếu tố ngoại thị kinh tế và y tế, sức khỏe trong vùng.

Cần phải làm gì đây? Một loạt các cải cách là cần thiết, nhưng những cải cách quan trọng nhất gồm có một phương cách để các nước thành viên phải chịu trách nhiệm cho hành động của họ và một điều khoản ép buộc tuân thủ mạnh hơn – họ (các nước thành viên ASEAN) phải coi nhẹ bớt đi nguyên tắc không can thiệp của mình, cả về mặt triết lý lẫn thực tiễn. Điều này có thể thực hiện được, thí dụ như bằng cách sử dụng các phương tiện trừng phạt kinh tế truyền thống, cho từ chối tuân thủ hay cho phép các nước thành viên được công khai phê phán các nước thành viên khác.” (Hết trích dẫn)

Ngay giới phân tích trong các nước ASEAN cũng có đánh giá ASEAN là yếu kém. Thí dụ như Phó giáo sư  Eduard C Tadem tại khoa Ngiên cứu châu Á trường đại học Philippines Diliman nhấn mạnh: “Với danh nghĩa là một cộng đồng, ASEAN hiện là một thất bại, khi ý niệm chủ quyền dân tộc đang tiếp tục làm xói mòn hội nhập, trong lúc bản sắc riêng của hiệp hội vẫn đang chưa tinh kết.” (Xem bài viết Asian as a group is a failure, academic insists trên The Nation Multimedia ngày 24.8.2013).

Về mặt hội nhập kinh tế, năm 2003 ASEAN đã đưa ra một kế hoạch đầy hoài bão xây dựng cái gọi là Cộng đồng Kinh tế ASEAN tới năm 2015. Tuy nhiên, theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á ADB thì có khả năng rất cao là mục tiêu này sẽ không đạt được đúng hạn, và các nước thành viên hiệp hội này sẽ còn có nhiều việc phải làm sau năm 2015. (Xem cuốn The ASEAN Economic Community: A Work in Progress do ADB xuất bản tháng 12 năm 2013.)

Nói thêm ở đây là có một nguyên nhân quan trọng nữa dẫn đến tình trạng yếu kém, “mỗi người một ngả” trong ASEAN: đó là tổ chức này thiếu một hay một hai quốc gia hùng mạnh, thực sự nổi trội, có khả năng cộng tác chặt chẽ với nhau, đóng vai trò lực liên kết và đầu kéo cho cả nhóm. Ngay cả Liên minh châu Âu, một tổ chức khu vực được cho là có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn nhiều như đã nói tới ở trên, nhưng do cũng dùng nguyên tắc đồng thuận hoàn toàn trong việc đưa ra quyết định cho nhiều vấn đề quan trọng, nên đã nhiều lần rơi vào tình thế “điêu đứng”, bế tắc (thí dụ như trong vấn đề khủng hoảng nợ nần của Hy Lạp), và khó có thể ra khỏi nếu không có ý chí quyết tâm, động thái quả quyết của các nước đầu tầu là Đức, Pháp và sau này có thêm Ba Lan. ASEAN chưa có được điều này.

Thiếu sót trong đa dạng hóa các mối liên kết chặt chẽ, có chiều sâu

Như đã có nhắc tới ở trên, sau khi tạm thoát khỏi tình trạng hoàn toàn cô lập vào đầu thập kỷ 1990, gia nhập ASEAN vào tháng Bảy năm 1995, có thể thấy Việt Nam hoặc là không có nhiều nỗ lực, hoặc là không thành công trong việc tìm cách xây dựng, mở rộng và đa dạng hóa các mối quan hệ đặc biệt, sâu sắc hơn với các quốc gia trên thế giới. Tuy Việt Nam ngay sau đó đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ và có tăng cường đáng kể quan hệ với Liên minh châu Âu, nhưng các quan hệ này là hạn chế và phần lớn chỉ trong lĩnh vực kinh tế và chút ít trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, hoàn toàn không có gì là đặc biệt. Quan hệ với Nhật Bản và Hàn Quốc tuy có lên cấp nhưng cũng chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế và đầu tư. Những năm gần đây, Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với Liên bang Nga, đồng minh trước đó của mình, hai nước có ý định thiết lập quan hệ cộng tác chiến lược, nhưng bề sâu hiện thời của quan hệ này không đủ để giúp Việt Nam tăng thêm sức lực, thấy tự tin hơn, củng cố được chỗ đứng của mình trong khu vực và trên trường quốc tế.

Có thể là Việt Nam đã thấy quá hài lòng khi có được tư cách thành viên trong ASEAN và quan hệ rộng khắp mọi mặt với ban đầu là 5, sau là 9 nước còn lại của hiệp hội này. Và có thể đã quá trông mong vào ASEAN, hy vọng quá trình hội nhập sẽ được tiến triển theo chiều sâu với tốc độ nhanh. Điều này đáng tiếc không xảy ra. Vì thế, về bản chất, quan hệ hiện nay của Việt Nam với các nước thành viên ASEAN là những quan hệ tiêu chuẩn trong khuôn khổ lỏng lẻo, thiếu đoàn kết của tổ chức này. Tức là ngay cả trong các nước thành viên ASEAN gần gũi nhất, Việt Nam không có được những quan hệ, liên kết thực sự chặt chẽ, sâu đậm – chứ chưa nói tới quan hệ chiến lược hay liên minh – để có thể có chỗ dựa, hay ít hơn là giúp đỡ, hoặc ít nhất là ủng hộ mạnh mẽ.

Nhìn rộng ra nữa khỏi khu vực ASEAN thì thấy càng “trống trải” với Việt Nam. Vì thế, Việt Nam thực sự vẫn cô độc, tình thế này càng hiển hiện rõ khi “có sự”, khi chúng ta phải đối đầu với các vấn đề nan giải, những thách thức vượt quá sức lực hạn chế và tầm vóc quốc gia bé nhỏ của mình. Các vụ việc liên tiếp trên Biển Đông, mới đây nhất là vụ giàn khoan HD-981, cũng như còn nhiều vụ việc chắc chắn sẽ xảy ra ở khu vực này chỉ làm cho thực trạng này thêm hiện hình rõ hơn và thêm bi đát.

Hướng đi bắt buộc

Không thể bác bỏ được ảnh hưởng to lớn của ASEAN cho sự phát triển của Việt Nam trong những năm trước đây. Điều này chắc chắn sẽ còn đúng trong nhiều năm tới.

Việc ASEAN không thỏa mãn được các đòi hỏi và mong đợi của Việt Nam không có nghĩa là Việt Nam nên thờ ơ với tổ chức này. Các mặt hạn chế, yếu kém hiện nay của Hiệp hội các nước Đông Nam Á là kết quả của các thiếu sót của tất cả các nước thành viên tham gia. Vì thế, Việt Nam phải cùng các nước thành viên trong khu vực Đông Nam Á gắng sức đẩy mạnh các công cuộc cải cách và nâng cấp tổ chức khu vực này của mình. Không còn cách chọn lựa khác, các nước ASEAN, trong đó có và trước hết là Việt Nam, phải từng bước tăng cường hợp tác một cách trung thực, chân thành, thẳng thắn hơn, đoàn kết hơn, biết đặt lợi ích chung  lớn hơn của cộng đồng lên trên các lợi ích, các quan tâm dân tộc nhiều hơn.

Mặt khác, Việt Nam phải đánh giá lại quan hệ có “bề sâu” quá mức của mình với Trung Quốc. Đồng thời chọn lựa, thiết lập và xây dựng các quan hệ thực sự có bề sâu với một số quốc gia khác, có thể là trong khu vực hoặc ngoài khu vực, có thể trước hết là với các quốc gia có chung các mối quan tâm hàng đầu. Quan hệ như vậy đòi hỏi ở mức độ cao hơn thái độ thực sự chân thành, trung thực, rõ ràng, nhất quán, dám mạnh dạn đương đầu với các mối đe dọa, nguy hiểm. Liên kết có bề sâu, nếu cần, sẽ đặt nền móng cho quan hệ chiến lược hay liên kết liên minh, cả trong an ninh và quốc phòng, quân sự. Đã đánh mất nhiều cơ hội, Việt Nam hiện nay không có nhiều thời gian cho việc này.

Không thể nói là giới lãnh đạo Việt Nam đã không ý thức được sự cần thiết phải có các quan hệ, liên kết sâu sắc. Chắc chắn là họ biết rõ, nhưng đã gặp quá nhiều khó khăn và cản trở để thực hiện các bước đi có kết quả. Các lý do chính có thể kể đến là quan hệ quá “đặc biệt” với Trung Quốc và chế độ chính trị cũng quá “đặc biệt” nốt của Việt Nam hiện nay, khiến giới lãnh đạo các nước, dù có quan tâm thực sự, cũng bị “bó tay bó chân”, không có được sự ủy thác, ủng hộ cần thiết của người dân nước họ. Không còn khả vọng nào khác trong tình thế cấp bách hiện thời, hai tảng đá chặn đường này đòi hỏi một cách giải quyết dứt khoát và táo bạo.
Thời gian vừa qua (lại một lần nữa) rộ lên ý kiến cho rằng Việt Nam phải nắm lấy vai trò lãnh đạo ASEAN, dẫn dắt tổ chức này đối đầu, chống lại áp lực hung hãn mọi mặt từ Trung Quốc, rằng ý tưởng như thế đã được Mỹ ủng hộ từ hậu trường. Đây là một ý tưởng huyễn hoặc, đầy ảo tưởng.

Xét theo khía cạnh năng lực, Việt Nam không có đủ điều kiện để lãnh đạo ASEAN, cả về kinh tế lẫn quân sự, xã hội. Sau hơn hai thập kỷ có tốc độ tăng trưởng đáng kể, chúng ta mới chật vật ra khỏi nhóm các quốc gia có thu nhập thấp, vào được nhóm thu nhập trung bình thấp, ngay sau đó tốc độ tăng trưởng giảm sút đáng kể. Tính theo sức mua tương đương PPP (cách tính cho Việt Nam có các con số đẹp hơn) thì thu nhập đầu người của Việt Nam đang ở sát mức trung bình cho cả nhóm ASEAN, xếp thứ 4 từ dưới lên, hơn được ba nước Myanmar, Campuchia, Lào; xếp theo tổng giá trị sản phẩm kinh tế quốc dân GDP thì Việt Nam đứng 5, cũng từ dưới lên, hơn được ba nước trên và Brunei . Xét theo chỉ số phát triển con người HDI thì Việt Nam cũng chỉ ở mức trung bình của ASEAN. (Xem Members states of the Association of Southeast Asian Nations và List of ASEAN countries by GDP (nominal) trên Wikipedia). Như vậy, về khía cạnh sức mạnh và trình độ phát triển kinh tế, xã hội rõ là Việt Nam không có đủ năng lực lãnh đạo và chắc cũng chẳng có nước nào chịu chấp nhận vai trò lãnh đạo của Việt Nam. Xét theo khía cạnh quân sự thì Việt Nam có thể được coi là có quân đội khá mạnh, nhưng cũng chẳng có gì quá nổi trội. Chúng ta hiện nay không có đủ năng lực dù là chỉ để “giữ nhà”.

Xét theo khía cạnh uy tín, yếu tố tiếp theo mà người lãnh đạo phải có, thì thấy ý tưởng dẫn đầu ASEAN đối đầu với Trung Quốc còn không hợp lý hơn. Uy tín của Việt Nam có thể nói là ở dưới đáy trong những năm vấn đề Campuchia kéo dài; từ những năm 1990, nó chỉ được cải thiện chút ít, nhưng không đảm bảo được cho Việt Nam có tiếng nói đáng kể dù chỉ trong khu vực. Thử nhìn thái độ của Campuchia hay Thái Lan là thấy được. Quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc diễn biến ra sao, Việt Nam “đi đêm” với Trung Quốc thế nào, các nước ASEAN đều biết rõ, vậy họ có chấp nhận để Việt Nam lãnh đạo đối chọi với Trung Quốc không? Một nước không dám, dù chỉ là lên tiếng ủng hộ một nước khác trong cùng hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn như chính mình có đủ tư cách lãnh đạo không?
Cứ giả sử được cho cơ hội để lãnh đạo ASEAN thì không biết Việt Nam sẽ thu được những ích lợi gì trong tương lai, nhưng trước mắt, với 10 thành viên đang mỗi người một ngả, ai cũng khăng khăng bám chặt lợi ích của riêng mình, có thể giẫm đạp lên lợi ích của nước khác, lại luôn giơ cao tấm bảng không can thiệp vào công việc nội bộ thì đây là một công việc còn khó hơn là “dời non lấp bể”, ngoài sức tưởng tượng của một quốc gia thành viên. Nó trước tiên sẽ rút cạn kiệt mọi nguồn lực, sức lực, trí tuệ của Việt Nam. Nếu có ai tặng cho vai trò lãnh đạo ASEAN, Việt Nam cũng không nên ôm vào. Đó là “món quà của người Danaans”, đem lại nhiều tai họa và phiền muộn hơn là giá trị thực sự.

Việt Nam hoàn toàn chưa có sức mạnh “cứng” cũng như sức mạnh “mềm” cần thiết. Phải chờ ít nhất  10-20 năm nữa Việt Nam mới có thể nghĩ đến ý tưởng này.

Cái Việt Nam cần lúc này không phải là lãnh đạo ai đó mà là bình lặng, dồn mọi tâm trí, sức lực vào công cuộc cải tổ, xây dựng đất nước, chăm lo đến đời sống, quyền lợi của người dân. “Hữu xạ tự nhiên hương”, một khi Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, có tiềm lực kinh tế, quân sự dồi dào, người dân được đảm bảo chắc chắn các nhu cầu, quyền lợi cơ bản thì tự khắc Việt Nam sẽ có được vị thế xứng đáng.

© 2014 Trần Hoàng & pro&contra

http://www.procontra.asia/?p=4504

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Muốn thoát Trung mà có Cộng sản quang vinh lãnh đạo, búa liềm bất diệt, và lại có bác Hồ ngồi đó canh chừng thì đến mùa quýt mới …thoát thai được.

Posted by hoangtran204 trên 07/06/2014

 

Tường thuật trực tiếp: TỌA ĐÀM “LÀM SAO ĐỂ THOÁT TRUNG?”

xuandienhannom.blogspot.com

(5-6-2014) Từ 1h30, đã có nhiều vị học giả, nhà nghiên cứu và người quan tâm đã có mặt tại hội trường tầng 4 của trụ sở Hội Liên hiệp các hội Khoa học kĩ thuật Việt Nam, 53 Nguyễn Du, Hà Nội. Lúc đầu định làm ở tầng 3, sau phải dời lên tầng 4 là nơi có sức chứa lớn hơn.

13h50, hội trường đã hết chỗ.  

Đến dự có các vị: Phạm Toàn, Nguyễn Quang A, Nguyên Ngọc, Phạm Chi Lan…

14h00: Giáo sư Chu Hảo phát biểu mở đầu cuộc tọa đàm.

Hôm nay, chúng ta tổ chức hội thảo về vấn đề lớn của đất nước mà nhiều người quan tâm. Đến dự, về phía Quỹ Phan Chu Trinh, có Nhà văn Nguyên Ngọc, chủ tịch Quỹ Phan Chu Trinh là đơn vị tổ chức cuộc tọa đàm này.

Hội thảo này có được từ cảm hứng về lời phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Philippines. Thoát  Trung ở đây là Thoát khỏi ảnh hưởng tiêu cực của Trung Quốc.

Tọa đàm này có các diễn giả sau: TS. Giáp Văn Dương, GS. TS Trần Ngọc Vương, TS Phạm Gia Minh, TS. Đinh Hoàng Thắng.

Mở đầu, TS, Giáp Văn Dương sẽ trình bày trong 30 phút. 
Sau đó, các diễn giả khác, mỗi người 15 phút.  

TS. Giáp Văn Dương:

Chúng ta bàn về Thoát Trung, tức là bàn về các ảnh hưởng tiêu cực của Trung Quốc, chứ không phải là “bài Trung”. 

Một ngày của chúng ta…gắn chặt với hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc. Năm 2010: 90 % các dự án tổng thầu rơi vào tay các công ty Trung Quốc. Đặc biệt các dự án nhiệt điện.

TQ đang chi phối kinh tế, đời sống, tư tưởng….của chúng ta. 

Tương quan Việt – Trung:
Việt Nam: Dân số: 90 triệu; GDP – 170 tỷ USD
TQ: Dân số: 1,4 tỷ;  GDP _ 10000 tỷ USD

Thoát Trung: 3 câu hỏi
– Thoát đi đâu?
– Thoát cái gì ? – Thoát những ảnh hưởng tiêu cực từ TQ, không cho chúng ta phát triển, về chính trị, kinh tế, quân sự
– Thoát để làm gì? -để đất nước phát triển, để đất nước văn minh 
– Thoát thế nào? 

Làm sao để thoát Trung?
– Muốn thoát Trung thì phải phát triển, chạm ngưỡng các nước phát triển, khi mức thu nhập bình quân đầu người 10.000 USD / năm. Cả nước là 1.000 tỷ USD. 

Muốn phát triển phải có 3 tiên đề:

– Lợi ích quốc gia phải đặt lên trên hết.
– Phải phát triển bền vững dựa trên chất lượng thể chế và nhân lực.
– Phát triển để ổn định. Ổn định chỉ đạt được nếu phát triển. 

Để phát triển phải có 7 trụ cột:

– Con người tự do: (Tự do thân thể, Tự do tư tưởng, tự chỉ hành vi, tự trọng đạo đức)
– Giáo dục khai phóng (Phát triển kỹ năng, năng lực giải quyết vấn đề thay vì ghi nhớ; Phát triển khoa học –công nghệ, thực học, thực nghiệp)
– Xã hội dân sự (Tạo sự năng động, sáng tạo cho XH; Giảm tải cho nhà nước; Giải tỏa căng thẳng, ẩn ức đám đông, …)
– Hành chính  phục vụ: (Giảm thiểu chồng lấn giữa hành chính và chính trị; Coi hành chính như một dịch vụ công, phục vụ phát triển chứ không kiểm soát phát triển; Thúc đẩy hành chính điện tử, giảm thiểu thủ tục, hậu kiểm…)
– Thể chế dân chủ.. 
–  Kinh tế thị trường (Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, bỏ đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa“; cạnh tranh bình đẳng…)
– Nhà nước pháp quyền (tam quyền phân lập, Không ai đứng trên và đứng ngoài pháp luật, có cơ chế giám sát quyền lực, thưởng phạt nghiêm minh..)

Phát triển dưới đe dọa?

Một cá nhân thì làm được gì?

– Tự thân khai sáng, tự cứu mình trước khi trời cứu
– Đẩy mạnh khởi nghiệp, sáng tạo, đổi mới, làm việc chăm chỉ,,,,để phát triển
– Thực hành và bồi đắp 7 trụ cột ….trong phạm vi của mình. 

LS Trần Vũ Hải hỏi: Các đề xuát của TS rất hay, nhưng nếu ai đó mà thực hiện một trong những đề xuất này thì bị bắt giữ. Vậy TS nghĩ gì?

TS. Giáp văn Dương: Thưa anh, như vậy thì chứng tỏ người ta chưa muốn “thoát Trung”. 

TS. Phạm Gia Minh trình bày về Thoát Á, Thoát Trung.
Xem bài tại đây: Một số ý kiến đóng góp vào cuộctọa đàm với chủ đề THOÁT TRUNG

GS. TS Trần Ngọc Vương trình bày ý kiến: 

Trả lời câu hỏi “Thoát Trung là thoát những gì”. Tôi trả lời thẳng:

1-Lệ thuộc và ràng buộc vào TQ không phải là định mệnh lịch sử của Dân tộc VN. Tâm lý nô lệ TQ vẫn rất đậm trong tất cả các tầng lớp.

Nhật bản, Hàn quốc cũng trong vùng văn hóa Hán nhưng đã thoát ra một cách ngoạn mục cho nên người Việt làm được.

2-Thoát Trung là thoát cái gì. 

Trung Quốc có vô vàn cái hay cái đẹp, chúng ta không thoát, chúng ta phải đọc, thưởng lãm, nhâm nhi nó.

Thoát thứ 1: THOÁT KHỎI DÃ TÂM CỦA NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC TỒN TẠI HƠN 2000 năm chưa bao giờ giới cầm quyền TQ muốn có bên mình một VN mạnh.

 

Khẳng định THOÁT KHỎI DÃ TÂM CỦA NGƯỜI CẦM QUYỀN TQ. 

 

Thoát thứ 2: Chúng ta hãy thoát khỏi cái tâm lý bị bóng đè của chính người Việt.

 

Ngay từ thời Sĩ Nhiếp sang đây, tuyên truyền trong tầng lớp người Hán di cư sau đó là người Việt quý tộc sau là những tầng lớp khác tâm lý “Nam nhân bắc hướng”. Mong ngóng, sung thượng, thờ phụng, kính ngưỡng đối với những giá trị Trung hoa.

 

Người phương nam nhưng cứ mong ngóng về TQ, và cái giá trị của người phương nam ở mãi tận bên TQ.

 

Chúng ta phải tự mình soi cho kỹ và tiêu diệt cái thằng Việt gian trong mình, nghĩa là không trung thành với quốc gia, với cộng đồng, mà luôn mong ngóng đi ra ngoài.

 

Chỉ có nước lớn mới bắt nạt nước nhỏ, chỉ có bọn TQ mới cậy quyền thế bắt nạt nước nhỏ.

 

Căn tính nô lệ hóa, cái kỳ vĩ Trung hoa ở trong mỗi chúng ta mà chúng ta luôn hướng về nó như hướng về một bản giá trị vĩnh hằng.

 

Thoát thứ 3: Thoát khỏi toàn bộ những mặt trái của thiết chế chính trị văn hóa mà người Việt đã du nhập vào ý thức hay vô thức. Đã đến lúc phải tự kiểm điểm xem tốt, xấu, sâu và rộng đến đâu.

 

Vừa muốn khác nhưng vừa muốn vô tốn (không kém) và bất dị (không khác). 

 

Minh Mạng đi lạc dòng. Người ta hướng mãnh liệt sang Phương tây nhưng ông hướng về đời thái tổ trung quốc, Hướng tới với mục đích rằng MÌNH TÀU HƠN CẢ NHÀ THANH. 

 

Tái hiện mô thức văn hóa TQ thời cổ. Một ngày nào đó ta nói cho các người biết người hán sẽ khăn gói sang đây để học lại văn hóa của mình.

 

Hiện tượng tán phát và phát tán kết tủa văn hóa = hóa thạch ngoại biên. Một hiện tượng văn hóa sinh ra ở một vùng rồi di chuyển sang vùng khác đạt tới giá trị đỉnh cao của hiện tượng văn hóa đó.

 

Thoát thứ 4: thoát những cái biểu hiện căn tính trong bản thân con người (não trạng) đã trở thành quán tính của người việt do toàn bộ tiếp thu thể chế văn hóa tinh thần.

 

Quy chế: là một nước bán đảo 3310 cây số bờ biển, 3440 km bờ biển LHQ, top 11 quốc gia có tỷ lệ bờ biển trên tỷ lệ diện tích => là quốc gia biển.

 

Châu âu, quốc gia biển phát triển kinh tế biển => thành đế quốc. nghĩa nào đó CHỦ NGHĨA TƯ BẢN RA ĐỜI TỪ BIỂN.

 

TQ 18000 km bờ biển không lọt top theo chỉ tiêu của thế giới.

 

Pháp gia và nho gia = đều là hệ tư tưởng lục địa. úp mặt vào đất chỉ biết có đất thôi.

TS. Đinh Hoàng Thắng:
Xem bài tại đây: Để “thoát Trung”có thể thành hiện thực
Nhưng TS Thắng không nói lại bài viết đó.

TS. Nguyễn Vy Khải:
Chúng ta muốn thoát Trung QUốc, thì trước hết phải hiểu Trung QUốc, là Chủ nghĩa Đại Hán hiện đại. 

1 bạn trẻ: Nếu dân muốn thoát Trung, mà lãnh đạo không muốn thì sao?

….Phần thảo luận và ý kiến phát biểu của khách tham dự, sẽ cập nhật sau….

Một số hình ảnh của buổi tọa đàm:

 GS. Ngô Đức Thọ và Thạc sĩ Đào Tiến Thi và nhiều người có mặt đúng 14h00 

nhưng đã hết chỗ, phải đứng ngoài hội trường và rồi kéo nhau đi cafe

 

 TS. Giáp Văn Dương

  

 TS. Phạm Gia Minh

 

 GS. TS Trần Ngọc Vương

Về hội thảo “Làm gì để thoát Trung” đang diễn ra tại 53 Nguyễn Du, Hà Nội.

Bà Đầm Xòe

(5-6-2014) Đọc thông báo trên blog xuandienhannom, đúng 14 h 2 phút Bà Đầm xòe có mặt tại số nhà 53, Nguyễn Du, Hà Nội. Trong khi leo cầu thang để lên tầng 4 (không phải tầng 3 như thông báo) gặp nhiều người từ tầng trên đi xuống, mình có hỏi bâng quơ “sao lại xuống thế này?”, trả lời “hết chỗ”.

Mình lên tầng 4 thấy người đứng kín cả hai cửa phòng ra vào hội trường, mồ hôi nhễ nhại. Cố chen vào thì thấy trên chủ tịch đoàn có ba người, một người trẻ tuổi đầu húi cua đang nói, nhưng mình chẳng nghe được lời gì, phía dưới chật kín người ngồi (cỡ 200 người trong một hội trường rộng khoảng 150 m2). Mừng là dân mình nhiều người quan tâm đến “sự nghiệp” thóat Tầu Cộng của dân tộc.

Đưa máy anh ra chụp bỗng thấy phía trên là câu khẩu hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm, bên trái là hai lá cờ búa liêm và ngôi sao năm cánh, phía dưới là tượng bác Hồ, phía chính giữa là màn hình hiện lên hai “khẩu hiệu:

Mình chợt lóe lên suy nghĩ:

Hai khẩu hiệu này trương lên giống như một như lời đe dọa thóat Trung;

Muốn thoát Trung mà “mồm miệng” lại đặt trong cái rọ Cộng sản quang vinh, muôn năm, búa liềm bất diệt và lại có bác Hồ ngồi đó canh chừng thì đến mùa quýt mới thoát Trung được.

Thế là chán. Mình theo bước những người đang xuống cầu thang đi về.

Mời các bạn xem ảnh:




Bà Đầm Xòe

Nguồn: Blog Bà Đầm Xòe

 

——–

 

Tuyên truyền, sự thật và lòng can đảm

Lã Việt Dũng

 

thoattrung.jpg

Chiều 5/6/2014, một hội thảo “Làm sao để thoát Trung” diễn ra ở Hà Nội.

Một cuộc hội thảo hội tụ khá nhiều những cây đa cây đề của giới trí thức Hà Nội, những người đã ký bản yêu cầu sửa đổi hiến pháp, còn gọi là nhóm 72.

Mặc dù đã có những phát biểu đanh thép, nhưng sự thú vị lại không đến từ những học giả, mà đến từ câu hỏi của các bạn trẻ:

– Đồng ý là chúng ta cần thoát Trung, vì chúng ta đang ở bờ vực. Nhưng chúng ta thoát rất giỏi, thoát từ bờ vực này sang cái vực khác còn sâu hơn, thì sao?

– Các bác nói phải liên minh với nước khác để thoát Trung, vậy nhỡ đến lúc nước đó có vấn đề với Việt Nam, thì lại tìm nước khác nữa liên minh để thoát à?

– Các bác phát biểu rất hay, nhưng đề tài này không mới. TV nói, báo nói, vỉa hè cũng nói. Nhưng sau nói là làm gì? Các bác phất cờ đi?

Những câu hỏi đó được sự vỗ tay nhiệt liệt, nhưng câu trả lời là: im lặng!

Người cộng sản rất giỏi tuyên truyền, và họ có cả bộ máy để làm việc đó. Chỉ cần quăng những câu hỏi không có đáp án vào sinh viên, vào công chức, vào dư luận viên là mọi nỗ lực thoát Trung, mọi nỗ lực thay đổi sẽ rơi vào bế tắc.

Nếu đưa những câu hỏi trên thoát ra khỏi không gian chật hẹp của buổi hội thảo, vào thế giới tự do, không khó để có câu trả lời. Trong phạm vi của buổi hội thảo, của cái xã hội tù túng, đó không phải là các câu hỏi “không có đáp án”, mà là những câu hỏi “không dám có đáp án”. Để trả lời các câu hỏi đó, cần phải nhìn thẳng vào sự thật, chứ không phải “một nửa sự thật” như tinh thần của buổi hội thảo.

Vì chỉ dám tiếp cận “một nửa sự thật”, nên ngay từ đầu, chủ toạ – bác Chu Hảo – đã đặt ra một loạt rào cản. Không quá khích (cái dạo này hay được dùng, có vẻ cứ muốn né tránh là người ta đổ cho quá khích), không bức xúc, không đả kích, có quyền dừng những câu hỏi nhạy cảm… đã làm phần hội nhiều hơn phần thảo, nên dù cũng có nhiều phát biểu mạnh mẽ, nhưng né tránh và không giải pháp.

“Một nửa sự thật” đó thể hiện rõ nét trong bài “Làm sao để thoát Trung” của anh Giáp Văn Dương, diễn giả chính của chương trình. Ngay từ đầu, anh đã đặt rào cản bằng cách giải thích sự khác biệt của từ “làm sao” và “làm thế nào”. Theo đó, bài của anh chỉ nêu vấn đề “làm sao” mang tính lý thuyết, còn “làm thế nào” là việc của chính phủ.

Bài của anh có thể tóm tắt làm ba phần như sau:

1. Thoát Trung

– Thoát đi đâu: thoát đi ra phần còn lại của thế giới

– Thoát cái gì: thoát khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của Trung Quốc

– Thoát thế nào: muốn thoát khỏi Trung Quốc, cần phát triển hơn Trung Quốc. Vậy nên trả lời câu hỏi thoát thế nào đồng nghĩa với trả lời câu hỏi phát triển thế nào.

2. Làm sao để phát triển: phát triển 7 trụ cột

– Con người tự do
– Giáo dục khai phóng
– Xã hội dân sự
– Hành chính phục vụ
– Thể chế dân chủ
– Kinh tế thị trường
– Nhà nước pháp quyền

Anh nêu cả 7 trụ cột, nói kỹ về giáo dục nhưng không chỉ ra được trong hoàn cảnh hiện nay phải ưu tiên cái gì.

3. Chúng ta (cá nhân, không đề cập đến chính phủ) có thể làm gì?

– Nâng cao năng suất lao động (tự khai sáng, tự cứu mình, đẩy mạnh khởi nghiệp, sáng tạo, đổi mới, làm việc chăm chỉ…)

Nghe bài của anh, mọi người hiểu: Muốn thoát Trung, phải phát triển, muốn phát triển, phải lao động, việc khác có chính phủ lo! (dạo này chính phủ đang có uy tín, nên nhiều người hay dùng từ“chính phủ lo” thay cho “đảng và nhà nước lo”)

Đó là một lập luận logic và hợp lý, rất hợp lý nếu chúng ta đang ở … Mexico, và vấn đề không phải thoát Trung, mà là thoát Mỹ – chỉ cần phát triển hơn Mỹ là thoát. Nhưng ở nơi ấy, trong thế giới tự do, câu hỏi “làm sao để thoát Mỹ” chắc chắn là một câu hỏi ngớ ngẩn. Chính người Mỹ có lẽ đang phải đặt câu hỏi: “làm sao để thoát Mexico”.

Vậy đâu là sự thật? Theo tôi, một nửa sự thật còn lại nằm ở câu hỏi: “Tại sao phải thoát Trung?” mà không hiểu vô tình hay cố ý đã bị né tránh (mình đứng lên định hỏi thì bị chặn). Bao đời cha ông ta muốn thoát Trung (cả người Nhật, người Hàn), đến nay chúng ta lại tiếp tục phải thoát Trung. Chúng ta chắc chắn không muốn thoát một nước Trung Hoa dân chủ, vì nó công bằng và đem lại nhiều cơ hội. Chúng ta muốn, và cần phải thoát khỏi một nước Trung Hoa Cộng Sản, như cha ông ta muốn thoát một nước Trung Hoa phong kiến, vì chỉ những nước độc tài toàn trị, độc tài phong kiến mới sẵn sàng chà đạp nhân dân mình, chà đạp nhân dân dân tộc khác để bảo vệ quyền lực của thiểu số, bảo vệ lợi ích của thiểu số và duy trì ý thức hệ của thiểu số.

Sự thật rõ ràng nhưng trần trụi. Chúng ta thoát ý thức hệ của Trung Cộng thế nào, nếu đó cũng là ý thức hệ của chúng ta? Liệu chúng ta có dám thoát nổi mình? Trả lời thẳng thắn câu hỏi đó là điều không thể với bác Chu Hảo, với anh Giáp Văn Dương và những cuộc hội thảo nằm trong toà nhà của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam. Nhưng khi không thể thì đừng nên nói, đừng nên hội thảo chỉ để nói một nửa sự thật, vì một nửa sự thật vẫn là giả dối, và sự giả dối lại giúp ích đắc lực cho bộ máy tuyên truyền.

“Muốn thoát Trung, phải thoát Cộng. Muốn thoát Cộng, phải dân chủ, đa đảng”. Để nói ra điều đó cần một sự can đảm như một cậu bé (có lẽ vì trẻ và ngây thơ) dám hét lên “Hoàng đế cởi truồng!”trong truyện cổ, và để thực hiện nó còn cần sự can đảm gấp nhiều lần. Hi vọng những thành viên trong câu lạc bộ Phan Chu Trinh, những người tổ chức cuộc hội thảo này có thể một lần lên tiếng, một lần thực hiện, một lần can đảm đáp lại lời trách cứ bi ai của cụ:

“Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.”

Cuối cùng, xin mạo muội trả lời ý kiến của các bạn trẻ, khi đã mạnh dạn tiếp cận sự thật:

1. Chúng ta đang ở trên bờ vực, đó là bờ vực làm nô lệ cho chủ nghĩa đại hán bá quyền Bắc Kinh, bờ vực của sự độc tài toàn trị, không có một bờ vực nào lớn hơn. Vì vậy, khi thế giới văn minh chìa tay cho chúng ta, hãy mạnh dạn nắm lấy và đi cùng họ. Tất nhiên, trong tiến trình dân chủ, chúng ta sẽ có sai lầm, sẽ có va vấp, nhưng hãy tin vào chính mình. Với sự tự do lựa chọn, tự do bầu cử, tự do quyết định, chúng ta sẽ đủ minh mẫn để tìm ra giải pháp cho mình, chắc chắn tốt hơn giải pháp của những người tự cho là đỉnh cao trí tuệ nhưng khư khư ôm lấy cái học thuyết đã thất bại mấy trăm năm.

2. Có thể chúng ta không liên minh với nước này chống nước kia, nhưng chúng ta buộc phải liên minh với nước khác để bảo vệ chủ quyền. Sự liên minh này không phải là sự ràng buộc ý thức hệ, mà là liên minh theo tiêu chuẩn tự do, dân chủ, nhân quyền. Tất nhiên, cái gì cũng có giá của nó, nhưng cái giá phải trả bao giờ cũng rẻ hơn việc mất tất cả vào tay Trung Quốc.

3. Thoát Trung và thay đổi quan hệ với Trung Quốc là một vấn đề phức tạp, nằm ngoài khả năng của một cá nhân, một cuộc hội thảo, của các tổ chức XHDS và nằm ngoài cả khả năng của ĐCS do những ràng buộc và nợ nần hiện tại. Cần phải có những giải pháp chính trị từ những tổ chức chính trị chuyên nghiệp.

Trên đây là những gì mình thu hoạch được sau buổi hội thảo, mong mọi người chỉ giáo!

Lã Việt Dũng

———————

 

(Khách Kẹt Đường )

Muốn THOÁT TRUNG phải THOÁT CỘNG.
Muốn THOÁT CỘNG phải THOÁT HỒ (CHÍ MINH).
Bởi vì chính HỒ CHÍ MINH đã lội ngược lịch sử, đưa Tổ quốc ta vào tròng CỘNG SẢN, ngày càng lún sâu, lệ thuộc hoàn toàn vào TQ, và từ đó VN bị vướng vòng TRUNG THUỘC từ năm 1945 đến nay.
Do đó THOÁT HỒ là đầu mối của cả THOÁT CỘNG và THOÁT TRUNG cùng một lúc.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Tòa quốc tế đòi Bắc Kinh đưa bằng chứng về đòi hỏi chủ quyền Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 07/06/2014

 

Tòa quốc tế đòi Bắc Kinh đưa bằng chứng về đòi hỏi chủ quyền Biển Đông

4-6-2014

Đức Tâm

Nguồn RFI 

 

Tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc, hôm qua, 03/06/2014, yêu cầu Trung Quốc, trong vòng sáu tháng, cung cấp các luận cứ và bằng chứng để biện hộ cho các đòi hỏi về chủ quyền ở Biển Đông, cho dù Bắc Kinh đã từ chối tham gia vụ kiện mà Manila đã khởi xướng từ năm ngoái.

 

Trong thông cáo được công bố ngày hôm qua, tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc, có trụ sở tại La Haye, Hà Lan, đã đề nghị, từ nay đến 15/12/2014, phía Trung Quốc cung cấp các luận cứ và bằng chứng cụ thể, phản bác đề nghị của phía Philippines.

Năm ngoái, chính phủ Philippines đã đệ đơn, đề nghị tòa án Liên Hiệp Quốc xem xét tính pháp lý của các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc dựa trên bản đồ đường chín đoạn ở Biển Đông – mà Việt Nam thường gọi là bản đồ hình lưỡi bò do Bắc Kinh đưa ra. Theo bản đồ này, gần như toàn bộ diện tích Biển Đông thuộc về Trung Quốc.

Hôm nay, các quan chức Philippines, lại một lần nữa, kêu gọi Trung Quốc tham gia vụ kiện để có được một giải pháp hòa bình và bền vững cho các tranh chấp lãnh thổ.

Sau khi chính thức đệ đơn kiện Trung Quốc, ngày 30/03/2014 vừa qua, Philippines đã hoàn tất hồ sơ, cung cấp luận cứ và bằng chứng, phản bác các đòi hỏi về chủ quyền, lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông.

Thông cáo ngày hôm qua của tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc cũng cho biết, vào tháng trước, chính phủ Trung Quốc đã gửi thông báo nhắc lại rằng Bắc Kinh « không chấp nhận vụ kiện lên tòa án trọng tài do Philippines khởi xướng », nhưng theo các thẩm phán của tòa án trọng tài, thì thông báo nói trên không liên quan gì đến việc Trung Quốc chấp nhận hoặc tham gia thủ tục kiện.

Mặt khác, tòa án trọng tài cũng nêu khả năng tiếp tục nghe phía Philippines trình bày luận cứ của mình, cho dù Trung Quốc không tham gia và xác định các bước tiếp theo, sau khi tham khảo ý kiến các bên liên quan.

Từ đầu tháng Năm, Trung Quốc đã đưa giàn khoan dầu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, làm cho tình hình ở Biển Đông căng thẳng. Trong bối cảnh đó, nhân chuyến công du Philippines vào tháng trước, lần đầu tiên, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố là Hà Nội đang xem xét các hành động pháp lý chống lại các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo giới quan sát, nếu Việt Nam kiện, thì chắc chắn Trung Quốc sẽ chống lại, giống như trường hợp đối với Philippines. Vừa qua, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, tướng Nguyễn Chí Vịnh cho biết, Trung Quốc đã nhiều lần khuyên can Việt Nam không đưa vụ việc ra trước tòa án Liên Hiệp Quốc.

 

—————

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Thủ tướng nói “Thật hay dối”

Posted by hoangtran204 trên 07/06/2014

Thật hay dối

Nguyễn Trọng Vĩnh

Trong nhiệm kỳ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông đã để cho tham nhũng phát triển tràn lan, thất thoát hàng nghìn tỷ của Nhà nước từ những tập đoàn kinh tế quốc doanh do ông trực tiếp quản lý, đã để cho bán rừng, bán bãi biển, cho thuê dài hạn các địa bàn xung yếu về quốc phòng như các cảng Vũng Áng, Cửa Việt, để cho nợ xấu ngân hàng quá lớn. Ông đã vay nợ chồng chất, “chắt, chút” chúng ta phải trả đến bao giờ cho hết. Ông đã cưỡng chế, đàn áp nông dân, thu hồi đất cho những tư bản địa ốc, đã bắt bớ đàn áp những người bất đồng chính kiến, yêu cầu dân quyền, dân chủ. Ông tăng đủ thứ giá: xăng, dầu, điện, nước, viện phí, học phí… gây ra tình trạng xã hội người nghèo thì lầm than, kẻ giàu bất chính thì phè phỡn, và còn nhiều vấn đề nữa.

Có thể nói trong nhiệm kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: kinh tế suy thoái, xã hội xuống cấp, văn hóa đạo đức suy đồi, đất nước tụt hậu rất xa, không khí xã hội ngột ngạt.

Thế mà, khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào lấn chiếm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của chúng ta, trong khi dự Hội nghị VEF ở Philippines, ông Dũng đã nói được câu: “Cả dân tộc Việt Nam phản đối việc làm sai trái này của Trung Quốc… chúng tôi kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình…”. Trả lời phỏng vấn của các nhà báo, Thủ tướng phát biểu được một câu khá hay:“Chúng tôi mong muốn có hòa bình, hữu nghị, nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ vùng biển và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ thứ hòa bình hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.

Câu phát biểu này của ông Dũng làm tôi ngạc nhiên, tự hỏi mình mà cũng là hỏi ông Dũng: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thức tỉnh tinh thần dân tộc rồi ư? Lòng yêu nước trong ông đã trỗi dậy rồi ư? Nếu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thật quyết tâm chống xâm lược, ly khai khỏi chủ nghĩa Đại Hán thì nhân dân và tôi sẽ bỏ qua những sai trái trước đây, hợp tác với Thủ tướng (Thủ tướng cũng gắn bó với dân) để bảo vệ độc lập chủ quyền của Tổ quốc, phát huy ý chí tự chủ, tự cường.

Hay là những lời nói trên đây của Thủ tướng Dũng chỉ là mỵ dân và nhằm thu hút phiếu bầu trong Đại hội 12 sắp tới, sau khi có vị thế rồi, lại quay lưng, thực hiện độc tài, nhiều tăng, nhiều cấm, lại đàn áp?

Nếu những lời nói trên là thật lòng thì Thủ tướng hãy thực hiện dân chủ, hãy trả tự do cho những tù nhân lương tâm, tập hợp mọi chính kiến, mọi tầng lớp, cá nhân yêu nước thành một khối đại đoàn kết dân tộc để chống xâm lược, bảo vệ chủ quyền đất nước, Thủ tướng phải vượt quyền Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng quá thân Trung Quốc và luôn mê mẩn tôn sùng “16 chữ và 4 tốt”, kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.

Các luật sư quốc tế cũng như trong nước đã phân tích ưu thế của Việt Nam về chính nghĩa, về các chứng cứ lịch sử và pháp lý và đây là thời cơ thuận lợi, dư luận thế giới ủng hộ ta. Dù Trung Quốc sợ không tham dự và tuyên bố không thi hành phán quyết của Tòa án, chúng ta vẫn thu được thắng lợi chính trị. Thủ tướng phải tăng cường lực lượng quốc phòng đồng thời phải kết thân với Mỹ, Ấn, Nhật mặc dù chúng ta không chủ trương đối đầu quân sự với Trung Quốc./.

N. T. V.

 

———

Một số ý kiến bạn đọc

*Trước đây mấy tuần, trên Dân luận đã có ý kiến trong còm là :

ĐỪNG NGHE THỦ TƯỚNG NÓI, HÃY XEM THỦ TƯỚNG LÀM.

Người ta cũng đã nhắc lại lời hứa của thủ tướng khi mới lên ngôi là nếu không chống được tham nhũng thì thủ tướng về hưu. Thủ tướng giữ được lời hứa bằng việc làm cụ thể, nghĩa là thủ tướng càng chống thì tham nhũng càng lên cao, như dùng sào mà chống thì phải cao chứ. Đấy “thành tích chống tham nhũng” của thủ tướng là thế đấy. Hết ý chưa?

Có lần trên VTV còn thấy thủ tướng phát biểu rằng HS là bãi chim ỉa, không biết có ai còn nhớ không? Thời gian gần đây thì đài báo thường phát các chương trình về biển đảo và hô hào thanh niên sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc,

KHÔNG BIẾT CẬU ÚT NGUYỄN MINH TRIÊT CỦA THỦ TƯỚNG THÌ CÓ HÀNH ĐỘNG GÌ CỤ THỂ ĐỂ BẢO VỆ TỔ QUỐC? Hay chỉ ngồi ở TƯ Đoàn hô hào thanh niên bảo vệ Tổ quốc?

Còn con cái các quan chức khác nữa thì có đóng góp gì vào việc bảo vệ tổ quốc hay chỉ ra tay vơ vét cho đầy túi tham làm cho dân lao động đã nghèo lại nghèo thêm. Nếu như quan chứ nào gương mẫu cho con em ra hải đảo úy lạo bộ đội làm nhiệm vụ ngoài đó rồi đài báo đưa tin rùm beng thì may ra còn tạo được niềm tin là con em các cụ gương mẫu, thanh niên cả nước phải học tập theo như học tập bác Hồ. Thôi thì cụ nào đó đang làm ở TƯ điện cho quý tử đang ở nước ngoài về có mặt trong buổi lễ ra quân hè thanh niên 2014 để động viên thanh niên xong, rồi bay trở lại nước ngoài cũng được. Thì cứ HỀ một tí cho mọi người vui.

Dạo này không thấy công an đi cướp đất, thay vào đó thì đi cướp chợ ở các thành phố, ngày nào công an cũng tích cự đi ăn cướp của những người buôn thúng bán mẹt ở vỉa hè. Công an đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn khẩu hiệu “kết hợp an ninh với kinh tế”, nghĩa là đi ăn cướp chợ tạm, cướp vỉa hè thì giữ được trật tự an ninh vỉa hè vừa có phần thêm thu nhập, làm kinh tế không mất vốn của công an là đi ăn cướp thì đúng là “sáng kiến tối ưu” của chế độ CS.

 

*Thủ tướng nghĩ đến bảo vệ tổ quốc quá nhỉ. Thế ai quyết định cho Trung quốc vào khai thác bâu xít ở Tây Nguyên? Ai bán đất rừng biên giới cho Trung quốc? Hãy xem cái dinh cơ là của nổi cuả thủ tướng trước đã rồi hãy phán xét lòng yêu nước của thủ tướng sau. Lại còn chuyện thủ tướng lấy tiền đâu cho cả ba quý tử đều ăn học ở các nước tư bản, nay về nước để xây dựng CNXH hay để làm giầu? Của nổi của thủ tướng cũng chưa lộ hết, còn của chìm của thủ tướng thì toàn gửi ngân hàng nước ngoài mấy ai biết được.

Vết nhơ của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng là ký cái công hàm 1958, còn thủ tướng ký quyết định cho Trung quốc vào vùng chiến lược Tây Nguyên vào năm nào thì thủ tướng có nhớ không? Đó là vết gì? Thủ tướng quản lý đất thế nào mà để đâu đâu trên đất nước ta cũng có phố người Hoa? Đây là là vết gì nữa?

Cái ông viết bức thư trên khen thủ tướng thì liệu ông có đủ hai mắt không? Phải biết nhìn toàn diện vào bao quát chứ, nhìn trước, nhìn sau, nhìn bên phải, bên trái, nhìn trên, nhìn dưới rồi hãy phán xét và nhận định. Ở thủ tướng còn một bí mật quốc gia nữa: thủ tướng đẻ năm 1949, năm 1960 thì đi bộ đội. Thủ tướng công bố tiểu sử trên đài báo là trình độ văn hóa “đại học”, vạy thủ tương học các trường cấp 1; 2; 3 và đại học thì là các trường nào? Ở đâu? Thời gian nào? Ai dám công bố cái bí mật này của thủ tướng. Chỉ thấy các ông thủ tướng nhiều nước khác trên thế giới khi ra nước ngoài đều dùng tiếng Anh, còn thủ tướng chỉ biết mỗi một từ tiếng Anh là “đô la”. Hay thủ tướng lại muốn học ông Lê Đứ Thọ đối đáp với Kissingerở Hội nghị Paris thế kỷ trước, ông Gơ hỏi bảo ông Thọ “Tôi có 7 bằng, trong đó có bằng TS, còn ông có bằng gì?” Ông Thọ trả lời: “Con tôi là TS”. Nay bảo thủ tướng không biết tiếng Anh thì thủ tướng bảo “Con tôi nói tiếng Anh như gió.”

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Bạn nghĩ gì về tương lai của đảng cộng sản Trung Quốc?- “Đảng chỉ có hai sự lựa chọn: Dân Chủ, hoặc Chết”

Posted by hoangtran204 trên 05/06/2014

“Những người hoạt động tại Thiên An Môn Trung Quốc 1989: bây giờ họ đang ở đâu?”

By Anjali Tsui and Esther Pang, CNN

Trần Hoàng (dịch một vài đoạn trong phim và bài viết của CNN. Đang bận…Sẽ dịch phần còn lại sau. )

Hong Kong-CNN (5-6-2014)

Để tưởng niệm năm thứ 25 của cuộc đàn áp ở Bắc Kinh, CNN đã nới chuyện với vài nhà bất đồng chính kiến thiên về dân chủ, mà một số những người này là ở trong số hàng ngàn sinh viên biểu tình trong ngày định mệnh 4-6-1989 ở Bắc Kinh. 

Chai Ling 

Điều lôi kéo chúng tôi đến tụ tập tại TAM là tình yêu lớn lao dành cho đất nước, và con người;…để rồi đối diện với một điều mà chúng tôi không thể tưởng tượng được… Vào đêm mùng 3 rạng ngày 4 của cuộc thảm sát ấy, tôi có mặt ở đấy cùng với khoảng 5000 sinh viên. Và chúng tôi đã quá sửng sốt khi hay tin là cuộc thảm sát đang diễn ra. Và chúng tôi đã nhìn thâý những áo sơ mi nhuốm đầy máu. Chúng tôi quá kinh hoảng, không thể nào tin được những gì chúng tôi đang chứng kiến. 

Hỏi: Hiện đang có một cuộc đàn áp mạnh mẻ nhất của chính quyền TQ đang diễn ra còn hơn cả năm ngoái, trong lúc ghi nhận cuộc tưởng niệm 25 năm ngày Thiên An Môn, như vậy mà cô vẫn còn hy vọng cho tương lai của TQ. Tại Sao vậy?

Chai Ling: “Cách đây 25 năm, sinh viên chúng tôi có mặt tại quãng trường Thiên An Môn biểu tình muốn đòi hỏi 3 sự cải cách: thứ nhất, cải cách kinh tế; thứ nhì cải cách về chính trị; và thứ ba , cải cách về mặt tinh thần…

Trong 25 qua, Trung Quốc có cải cách kinh tế, nhưng đã trở thành độc tài xấu xa về kinh tế. Có khoảng cách rất lớn giữa người giàu và người nghèo, và  quá nhiều tham nhũng. Và  không có cải cách nào về chính trị, có cải thiện chút ít về mặt (cải cách) tinh thần. TQ đã trải qua một sự thay đổi chưa từng có trong tiền lệ của lịch sử”

Hỏi: Cô lớn lên trong một gia đình quân đội và rất quen thuộc với họ. Cả hai cha mẹ cô đều tham gia trong Quân Đội Giải Phóng TQ..Giờ đây, 25 năm trôi qua, giờ đây có phải cô đã ở tiến tới một cương vị nào đó và hiện nay cô có thể chấp nhận về sự kiện đàn áp đẩm máu xảy ra trong đêm ấy không?

Chai Ling: “Tôi lớn lên trong một gia đình quân đội. Các cô, các dì, các chú bác và các cậu của tôi là những bộ đội. Bởi vậy tôi không thể tin rằng họ đã trở thành những con quái vật sử dụng súng máy bắn  những sinh viên vô tội. Điều đó thật là kinh hoàng,” Chai Lin đã nói như vâỵ…

Sau cuộc thảm sát ngày 4-6-1989, Chai Ling đã trốn tránh rời khỏi Bắc Kinh, cô trốn trong một cái thùng và tới Hồng Kong. Về sau, cô đã di cư qua Mỹ. Giờ đây, sau 25 năm trôi qua, cô vẫn còn nhớ lại những người đã tự hy sinh tính mạng của họ cho một giấc mơ Trung Quốc tự do và thịnh vượng. 

Hỏi: 25 năm trôi qua, theo quan điểm của cô, TQ đã tiến bộ hay thụt lùi về các mặt như dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, 

Chai Ling: Tôi muốn dùng cơ hội nầy để nói với chủ tịch Tập ( Cận Bình) rằng:

“Giấc mơ Trung Quốc không thể nào đoạt được bằng cách hy sinh các quyền cá nhân cho giấc mơ quốc gia. 

Giấc mơ ấy có thể đạt được theo cách khác.

Cách duy nhất mà TQ có thể đạt được giấc mơ là bảo vệ nhân quyền cho mỗi cá nhân. “

————-

Nói về Thiên An Môn.

“Một số bạn bè của chúng tôi đã lẫn trốn trong nhiều tháng và nhiều năm trời, một số khác bị tù nhiều tháng hoặc nhiều năm. Chúng tôi đã mất mát rất nhiều: Gia đình, tài sản, giáo dục, và tự do,” Chai Ling cho biết.

Cách đây 25 năm, sinh viên chúng tôi có mặt tại quãng trường Thiên An Môn biểu tình muốn đòi hỏi 3 sự cải cách: thứ nhất, cải cách kinh tế; thứ nhì cải cách về chính trị; và thư ba , cải cách về tinh thần…”

Trong 25 qua, Trung Quốc có cải cách kinh tế, nhưng đã trở thành độc tài xấu xa về kinh tế. Có khoảng cách rất lớn giữa người giàu và người nghèo, và  quá nhiều tham nhũng. Và  không có cải cách nào về chính trị, có cải thiện chút ít về mặt (cải cách) tinh thần theo Chai Lin.

Một phần trong đời sống của Chai Lin ở Mỹ là tham gia vào các hoạt động chính trị và phi lợi nhuận. 

(Ngày ấy, Chai Ling 23 tuổi, hiện nay 48 tuổi)

 

 
Chai Lin, 24 tuổi, ở Washington năm 1990 nhân lễ kỷ niệm năm thứ nhất cuộc thảm sát ở Thiên An Môn.
Chai Ling, 2014
2. WANG DANG
Wang Dan, 1989, một trong các thủ lĩnh của sinh viên. (1989)
Sau cuộc đàn áp ngày 4-6-1989, Wang Dang là sinh viên đứng hàng đầu trong danh sách những người bị nhà nước TQ  truy nã. Anh đã bị tù 6 năm. Sau đó, anh vượt thoát khỏi TQ và đến Hoa Kỳ. Hiện nay, Wang Dang là giáo sư chính trị học tại Viện Đaị học Đài Loan. 
“Will China enter into a dialogue of openness suggested by Deng Xiaoping in 1978? Will it carry out ‘political restructuring’ as promised by Wen Jiabao at the United Nations General Assembly in 2010? Or will it stay the course and straddle what some observers refer to as a Leninism-plus-Consumerism strategy? According to Wang Dan, the choice is simple. My final question was what he would like to say to the leadership in Beijing today. ‘Think about the party’s future,’ Wang replied. ‘There will be only two choices: Democracy, or die.’
Liệu TQ sẽ tham dự vào một cuộc đối thoại mở như đã được đề nghị bởi Đặng Tiểu Bình? Liệu TQ sẽ quyết định thay đổi chính trị như đã hứa hẹn bởi cựu Thủ Tướng Ôn Gia Bảo tại Hội Đồng LHQ vào năm 2010? Hay TQ sẽ tiếp tục con đường mà một số các nhà quan sát thời cuộc gọi là theo “chủ nghĩa Lê Nin cộng thêm vào khuynh hướng gia tăng chủ nghĩa cá nhân và tiêu thụ.”
Ông có muốn nói điều gì với các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay không?
Theo Wang Dan, sự lựa chọn rất đơn giản.
Wang Dan trả lời: Tương lai của đảng chỉ có hai lựa chọn: Dân chủ hay là chết”
BLOOD IS ON THE SQUARE

A song was heard in China   (Một bài ca)
in the city of Beijing.    (Trong thành phố Bắc Kinh)
In the spring of 1989  (Vào mùa xuân 1989)
you could hear the people sing. (Bạn có thể nghe nhiều người ca)
And it was the song of freedom (Và đó là bài hát về tự do)
that was ringing in the square, (Đã và đang vang lên trong quãng trường)
the world could feel the passion of (Thế giới có thể cảm nhận được sự đam mê của)
the people gathered there. (những người đang tụ tập ở đó)
Oh children, blood is on the square. (Ôi những đứa con, máu đổ trên quãng trường)

For many nights and many days, ( Trong nhiều đêm và ngày)
waiting in the square. (chờ đợi trong quãng trường)
“To build a better nation” (“Đê xây dựng một quốc gia tốt đẹp hơn”)
was the song that echoed there. ( là bài ca đã vang vọng ở đó)
“For we are China’s children, ( Vì chúng ta là những đứa con của Trung Hoa)
we love our native land,  (chúng ta yêu đất mẹ)
for brotherhood and freedom (vì tình huynh đệ và tự do)
we are joining hand in hand.” (chúng ta nắm tay nhau)
Oh children, blood is on the square. (Ôi những đứa con, máu đổ trên quãng trường)

Then came the People’s army (Rồi Quân đội Nhân dân đến)
with trucks and tanks and guns. (với xe tải, xe tăng và súng)
The government was frightened (Nhà nước đang lo sợ)
of their daughters and their sons. (những đứa con của họ)
But in the square was courage and (Nhưng bên trong quãng trường là lòng can đảm và)
a vision true and fair, (lòng cảm nhận chân thành và tin tưởng)
the Army of the People would not harm ( Quân đội Nhân dân sẽ không làm hại )
the young ones there. (những thanh niên đang có mặt ở đó)
Oh children, blood is on the square. (Ôi những đứa con, máu đổ trên quãng trường)

On June the 3rd in China, (Vào ngày 3 tháng 6)
in the spring of ’89, (mùa xuân 89)
an order came from high above (một lệnh đến từ cấp cao nhất) Đặng T. Bình
and passed on down the line. (và truyền xuống cấp dưới)
The soldiers opened fire, (Những người lính đã bắn)
young people bled and died, (những người trẻ đổ máu và chết)
the blood of thousands on the square (Máu của nhiều ngàn người trên quãng trường)
that lies can never hide. (những lời nói dối không bao giờ có thể che dấu)
Oh children, blood is on the square. (Ôi những đứa con, máu đổ trên quãng trường)

For four more days of fury (Trong  4 ngày của bạo lực)
the people faced the guns. (nhiều người đối mặt với súng)
How many thousands slaughtered (Bao nhiêu ngàn người đã bị giết)
when their grisly work was done? (khi công việc bắn giết đáng ghê tởm của họ đã xong)
they quickly burned the bodies (Họ đã nhanh chóng chôn cất những xác thân)
to hide their coward’s shame, (để che dấu hành động tội ác côn đồ của họ)
but blood is thick upon their hands and (nhưng máu dính lên tay họ và)
darkness on their names. (bôi đậm tên của họ )
Oh children, blood is on the square. (Ôi những đứa con, máu đổ trên quãng trường)

There are tears that flow in China (Những giòng nước mắt chảy )
for her children that are gone. (dành cho những đứa con đã qua đời )
There is fear and there is hiding, (Sợ  hải và trốn tránh)
for the killing still goes on. (vì hành quyết đang  diễn ra)
And the iron hand of terror can (Và bàn tay sắt của bọn khủng bố có khả năng)
buy silence for today, (mua lấy sự im lặng cho đến hôm nay)
but the blood that lies upon the square (nhưng máu  trên quãng trường)
cannot be washed away.(không thể nào gột rửa)
Oh children, blood is on the square. (Ôi những đứa con, máu đổ trên quãng trường)

 

Trần Hoàng (dịch)

Posted in Thiên An Môn - Trung Quốc | 5 Comments »

►Cuộc cách mạng ở Thiên An Môn 4-6-1989 suýt thành công

Posted by hoangtran204 trên 05/06/2014

Cuộc cách mạng suýt thành công

Cập nhật: 13:42 GMT – thứ tư, 4 tháng 6, 2014

Thiên An Môn là cuộc cách mạng đã gần thành công. Nó làm lay chuyển chế độ Trung Quốc tới tận gốc rễ.

Theo một nghĩa nào đó thì cuộc cách mạng này khác với quan niệm của đa số người phương Tây về nó.

Tất nhiên, khía cạnh trung tâm của Thiên An Môn là vụ quân đội Trung Quốc lạnh lùng bắn vào các sinh viên không bạo lực đêm 3-4 tháng Sáu 1989.

Nhưng một vài khía cạnh quan trọng khác đã bị lãng quên.

Một trong số đó là sự ủng hộ sinh viên sẵn tồn tại trong hệ thống chính trị của Trung Quốc cao tới đâu.

Một mặt khác nữa là bạo lực nổ ra từ những người dân thường trên khắp Trung Quốc do sự giận dữ đối với hệ thống Cộng sản.

Tôi đã dành cả tháng trời đi bộ loanh quanh quảng trường, lắng nghe các sinh viên đang chiếm cứ nơi này.

Lúc đó họ chắc chắn rằng lãnh đạo Trung Quốc, ông Đặng Tiểu Bình, chính trị gia độc tài tự bản năng, chưa bao giờ là người muốn cam kết đổi mới, đã hết đời.

‘Tử địa thực sự’

Trung Quốc cho xe tăng tới phá nát lều trại của những người biểu tình đòi dân chủ

Nhưng không. Sau một tháng chính quyền Trung Quốc bị tê liệt, ông Đặng cuối cùng cũng tìm được một vị tướng và ép quân lính phải chuẩn bị xả súng vào đám sinh viên và dẹp sạch quảng trường.

Đêm hôm đó tôi thu người dưới một bức tường thấp và chứng kiến vụ bắn giết bắt đầu. Nhóm làm phim và tôi cuối cùng cũng phải rời quảng trường khi không còn đủ băng ghi hình. Chúng tôi trốn vào Khách sạn Bắc Kinh.

Từ trên ban công của căn phòng ở tầng bảy, chúng tôi quan sát những người lính bắn hết loạt đạn này tới loạt đạn khác vào đám đông trên Đại lộ Trường An. Tôi đếm thấy có 46 người chết và ít nhất 80 người bị thương.

Cũng từ ban công này, người quay phim của BBC ghi lại một số hình ảnh nổi tiếng nhất về vụ thảm sát: thân thể người được chở đằng sau xe đạp kéo và mang tới bệnh viện, một phụ nữ gào khóc trên phố khi bị trúng đạn, một người đàn ông mang theo túi mua hàng đứng chắn trước dãy xe tăng.

Tới ngày nay, chính phủ Trung Quốc vẫn giữ quan điểm rằng không một ai chết trên Quảng trường Thiên An Môn.

Điều này có thể là đúng nếu xét theo nghĩa đen, bởi vì nơi người ta bị giết không phải trên chính quảng trường mà là Đại lộ Trường An, chạy dọc phía trước quảng trường.

Đào sâu chôn chặt

Trung Quốc chính thức coi Thiên An Môn là vụ bạo động phản cách mạng

Không có vụ thảm sát, Đặng Tiểu Bình sẽ không thể tiếp tục cầm quyền.

Giai đoạn đầu của cuộc biểu tình, hồi tháng Năm, thậm chí rất nhiều quan chức cao cấp trong đảng đã quay lại chống ông.

Tôi dõi theo hàng triệu người hân hoan chen nhau vào quảng trường, trong khi hơn một chục xe diễu hành từ từ tiến qua, nó cho thấy cấu trúc chính của nhà nước Trung Quốc.

Có xe mang theo tướng lĩnh quân đội, thẩm phán và các đại diện của cấu trúc hệ thống đảng. Thậm chí có cả một người từ lực lượng cản sát mật.

Các quan chức trên xe đều vẫy tay và hô to yêu cầu ông Đặng Tiểu Bình rời đảng.

Ngày nay, bất kỳ khi nào tôi gặp các quan chức của Trung Quốc, tôi vẫn luôn tự hỏi liệu họ có từng ở Quảng trường Thiên An Môn ngày hôm đó, ủng hộ sinh viên.

Trải qua nhiều năm, những quan chức này đã tìm cách leo lên trong hệ thống, họ đã đưa ra rất nhiều thay đổi mà các sinh viên đòi hỏi.

Nhưng người ta vẫn không thể nào tự chọn lấy chính phủ cho mình, hoặc thậm chí bảo vệ quyền lợi của mình để làm được điều đó một cách quá công khai.

Điều đó là bởi vì hệ thống chính trị Trung Quốc đã nhận diện sự kiện 3-4 tháng Sáu 1989 là bạo động phản cách mạng.

Đêm hôm đó, không chỉ có các sinh viên biểu tình ôn hòa trên đường phố. Có nhiều đám đông những người dân thường thuộc tầng lớp lao động, đã xông ra và tấn công quân lính, cảnh sát, an ninh mật và bất kỳ biểu hiện nào của giới cầm quyền Cộng sản mà họ tìm thấy.

Đi xe qua Bắc Kinh vào ngày hôm sau, tôi nhìn thấy hết tòa nhà cháy này tới tòa nhà khác, và các thân thể cảnh sát, quan chức bị cháy đen vẫn nằm trên mặt đất.

Rất nhiều quan chức Trung Quốc vẫn thực sự tin rằng Trung Quốc chỉ có thể đứng vững nhờ một chính phủ cứng rắn.

Nếu ai cũng được phép nói và yêu cầu tự do hoàn toàn, người ta tranh luận rằng, hệ thống này sẽ sụp đổ và Trung Quốc sẽ dễ dàng bị chia rẽ.

Dù những người nắm quyền 25 năm trước nghĩ gì đi nữa, giờ đây họ tin rằng cách duy nhất bảo vệ tương lai của Trung Quốc là đào sâu chôn chặt.

>>>Mời các bạn coi tiếp trên đài BBC  các loạt bài viết về Thiên An Môn

Posted in Thiên An Môn - Trung Quốc | Leave a Comment »

►Cộng sản độc ác như thế nào? Tên sát nhân Deng Xiaoping và lính Trung Quốc đã đối phó với các sinh viên vào ngày 4-6-1989 như thế nào?

Posted by hoangtran204 trên 05/06/2014

“Xe tăng chạy tới lui trên thi thể những người bị giết chết, cho đến khi xác của họ bị nghiền nát. Những gì còn lại sau đó bị xe ủi chất thành đống, để rồi bị súng phun lửa thiêu ra tro”.

Cựu Thủ tướng Úc Bob Hawke nói trong nước mắt khi ông đọc lại báo cáo từ tòa đại sứ Úc ở Bắc Kinh, 5 ngày sau cuộc thảm sát diễn ra trên Quảng trường Thiên An Môn ngày 4/6/1989.

“Nghiền nát tâm hồn và thân xác của tuổi trẻ, có khác nào nghiền nát tương lai của chính đất nước Trung Quốc,” ông nói trước các sinh viên Trung Quốc đang có mặt tại lễ tưởng niệm ở tòa nhà Quốc hội Úc, nhiều người quấn băng tang.

Đối với Thủ tướng Bob Hawke, sự kiện Thiên An Môn cũng đã cướp đi của ông một người bạn – Tổng bí Thư Triệu Tử Dương, người bị thanh trừng khỏi hàng ngũ Đảng Cộng sản và giam lỏng cho đến chết vì sự đồng cảm với phong trào sinh viên.

BBC giới thiệu một số đoạn phóng sự được thực hiện tại Bắc Kinh trong những ngày đầu tháng Sáu năm 1989 khi phong trào đấu tranh dân chủ do sinh viên dẫn dắt bị đàn áp đẫm máu.  (Coi Phim ở cuối bài)

"Xe tăng chạy tới lui trên thi thể những người bị giết chết, cho đến khi xác của họ bị nghiền nát. Những gì còn lại sau đó bị xe ủi chất thành đống, để rồi bị súng phun lửa thiêu ra tro".</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Cựu Thủ tướng Úc Bob Hawke nói trong nước mắt khi ông đọc lại báo cáo từ tòa đại sứ Úc ở Bắc Kinh, 5 ngày sau cuộc thảm sát diễn ra trên Quảng trường Thiên An Môn ngày 4/6/1989.</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>"Nghiền nát tâm hồn và thân xác của tuổi trẻ, có khác nào nghiền nát tương lai của chính đất nước Trung Quốc," ông nói trước các sinh viên Trung Quốc đang có mặt tại lễ tưởng niệm ở tòa nhà Quốc hội Úc, nhiều người quấn băng tang.</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Đối với Thủ tướng Bob Hawke, sự kiện Thiên An Môn cũng đã cướp đi của ông một người bạn - Tổng bí Thư Triệu Tử Dương, người bị thanh trừng khỏi hàng ngũ Đảng Cộng sản và giam lỏng cho đến chết vì sự đồng cảm với phong trào sinh viên.

NGÀY 20-5-1989

BBC

Yesterday 4-6-2014

Chiều tối 20/5/1989, quân đội được lệnh bắt đầu tiến vào Bắc Kinh. Tuy nhiên, hàng trăm nghìn người dân và các sinh viên đã phong tỏa các tuyến đường chính dẫn vào thủ đô.Người dân Bắc Kinh cũng khôn khéo tìm cách tác động tâm lý quân đội, kêu gọi họ không vì quyền lợi của một số ít mà chống lại nhân dân, đồng thời tiếp tế lương thực, nước uống cho các binh sỹ.

Nhiều người còn đưa con nhỏ ra nói chuyện với các quân nhân, khiến nhiều người trong số họ tỏ ra xúc động và hứa sẽ không bắn vào người dân. Nhiều sỹ quan cao cấp sau đó đã đã từ chối sử dụng vũ lực trấn áp biểu tình và yêu cầu mệnh lệnh viết tay từ Đặng Tiểu Bình.

Năm ngày sau đó, quân đội rút lui trong tiếng reo “Quân giải phóng Nhân dân muôn năm” của người dân.

Tức giận trước hành động kháng lệnh của quân đội, Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh cho các tướng lĩnh thân cận gặp mặt từng chỉ huy và thông báo họ sẽ bị xử tử nếu tiếp tục kháng lệnh.

Đặng Tiểu Binh sau đó đã ra lệnh cho quân đoàn 27,28 từ các tỉnh bên ngoài tiến vào Bắc Kinh. Quân đoàn 38 sở tại, được cho là có nhiều cảm tình với người dân, bị tước vũ khí trước ngày xảy ra cuộc thảm sát.

.
Photo: Chiều tối 20/5/1989, quân đội được lệnh bắt đầu tiến vào Bắc Kinh. Tuy nhiên, hàng trăm nghìn người dân và các sinh viên đã phong tỏa các tuyến đường chính dẫn vào thủ đô.</p>
<p>Người dân Bắc Kinh cũng khôn khéo tìm cách tác động tâm lý quân đội, kêu gọi họ không vì quyền lợi của một số ít mà chống lại nhân dân, đồng thời tiếp tế lương thực, nước uống cho các binh sỹ.</p>
<p>Nhiều người còn đưa con nhỏ ra nói chuyện với các quân nhân, khiến nhiều người trong số họ tỏ ra xúc động và hứa sẽ không bắn vào người dân. Nhiều sỹ quan cao cấp sau đó đã đã từ chối sử dụng vũ lực trấn áp biểu tình và yêu cầu mệnh lệnh viết tay từ Đặng Tiểu Bình.</p>
<p>Năm ngày sau đó, quân đội rút lui trong tiếng reo "Quân giải phóng Nhân dân muôn năm" của người dân.</p>
<p>Tức giận trước hành động kháng lệnh của quân đội, Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh cho các tướng lĩnh thân cận gặp mặt từng chỉ huy và thông báo họ sẽ bị xử tử nếu tiếp tục kháng lệnh.</p>
<p>Đặng Tiểu Binh sau đó đã ra lệnh cho quân đoàn 27,28 từ các tỉnh bên ngoài tiến vào Bắc Kinh. Quân đoàn 38 sở tại, được cho là có nhiều cảm tình với người dân, bị tước vũ khí trước ngày xảy ra cuộc thảm sát.

square010.jpg

square011.jpg

square012.jpg

square013.jpg

square014.jpg

square015.jpg

square016.jpg

square017.jpg

square018.jpg

square019.jpg

square020.jpg

square021.jpg

square022.jpg

square023.jpg

square024.jpg

square025.jpg

square026.jpg

square027.jpg

square028.jpg

square029.jpg

square030.jpg

square031.jpg

square032.jpg

square033.jpg

square034.jpg

square035.jpg

square037.jpg

square036.jpg

danluan.org

 

The Tank Man – Thiên An Môn Viet-sub [3/5]

 

Bản Tin trên BBC news ngày 3-6-1989

Tư liệu về đàn áp ở Thiên An Môn/ Tiananmen Square

 

“Quý anh có dịp tìm xem chúng nó đối xử với bộ đội nữ của Quân Đội Cộng Sản Việt Nam trong chiến tranh biên giới 1978-1979 thì mới thấy Thiên An Môn chỉ là cuộc Cưỡi Ngựa Xem Hoa thôi ạ!”

Xem http://huynh-tam.blogspot.fr/2013/08/huynh-tam_9670.html

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

►Cuộc gặp mặt trước Đài Tưởng Niệm Nạn nhân của CNCS (nhà báo Bùi Tín và T.s. Cù Huy Hà Vũ ở D.C.)

Posted by hoangtran204 trên 04/06/2014

2-6-2014

Bùi Tín

VOA 

 

T.s. Cù Huy Hà Vũ và nhà báo Bùi Tín tại Washington D.C. – Hình Nguyễn Quốc Khải, 2-6-2014

 

Thủ đô Washington DC nắng đẹp, rừng cây xanh, thảm cỏ xanh với đủ loại hoa phô diễn giữa bàu trời xanh trong lành. Tha hương ngộ cố tri. Cảnh đẹp càng thêm tuyệt vời khi gặp lại bạn cũ xa vắng lâu ngày trên đất bạn, cách quê hương một đại dương.

Hai bạn vong niên tôi gặp lại hôm nay là anh Cù Huy Hà Vũ và chị Dương Hà, vợ anh. Tôi vốn là bạn thân với 2 nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận. Kỷ niệm vui của tôi với Huy Cận là từng lững thững bên bờ sông Seine giữa Paris cùng đọc thơ “ Nắng chia nửa bãi chiều rồi /Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá sầu …”.

Hà Vũ ôm tôi, xúc động, gọi tôi bằng “chú” trong khi mắt cụ già gần 90 xuân xanh này ngấn lệ. Cũng như tôi từng bồi hồi lo cho anh khi anh bị bắt rồi vào nhà tù với bản án trả thù quá nặng 7 năm tù và 3 năm quản chế, khi anh bị những cơn đau tim trong tù do bệnh tim bẩm sinh.

Hai ngày dạo quanh thủ đô Washington DC giữa thiên nhiên lộng lẫy đầy hoa, Hà Vũ kể không hết chuyện. Chuyện trong tù dĩ nhiên là đầy ắp. Chuyện bị bắt, bị lấy cung, chuyện cãi trước tòa. Chuyện phiên xử phúc thẩm. Chuyện sinh hoạt trong tù. Rồi 4 lần tuyệt thực, nhưng hồi phục cũng nhanh, chỉ trong 3 ngày lên gần 4 kí. Sút cân sức giảm, nói hụt hơi, nhưng vẫn cố hét to để tỏ phong độ với các “em cai tù “. Mọi người cười vang khi Hà Vũ kể anh đã dày công, nhân danh người hiểu sâu luật pháp, huấn luyện lại cho số cai tù trẻ về những hiểu biết sơ đẳng về nhân quyền, về tôn trọng nhân phẩm của người tù, từ đó chấm dứt thói buộc người tù gọi các cai tù là “ông“ và xưng “cháu” cho dù cai tù chỉ đáng tuổi con cháu của tù nhân. Qua đó Hà Vũ được phần lớn cai tù nể trọng, gọi là “tiến sỹ luật”, có người còn gọi đùa với ẩn ý quý mến là “thưa tổng thống”.

Hà Vũ kể rằng anh đã để lại trong trại hơn 2 ngàn trang nhật ký – 15 tập vở khổ A4 – anh cần cù viết đều đặn, được trại giam lưu giữ nhân bản gửi về bộ Công an, ghi lại những suy nghĩ của anh về chế độ, về nhà tù, về các diễn biến thời sự, về tương lai đất nước. Sắp đến anh sẽ cố nhớ và ghi lại, dù biết rằng rồi sẽ có lúc anh có thể thu hồi lại nguyên bản những trang gốc ấy được hiến pháp bảo hộ.

Tuy nhiên anh đã tìm cách gửi ra đăng trên các mạng internet bài “ Vận nước nhìn từ Trường Sa”, bài “ 30/4/1975: Giai nhân và Quái vật”, đặc biệt là bản góp ý về bản hiến pháp 1992. Đến nay quản lý trại giam vẫn không biết anh làm cách nào để chuyển ra ngoài những tài liệu ” nóng” ấy. Anh cười vui : việc làm chính nghĩa bao giờ cũng có người tiếp sức dù bất kỳ ở đâu.

Hà Vũ khẳng định rằng việc chính quyền toàn trị buộc phải thả anh ra mà không có một thỏa thuận hay điều kiện nào giữa các bên. Phía Hoa Kỳ chỉ làm cho họ hiểu rằng nếu không thả luật sư Cù Huy Hà Vũ thì mọi chuyện trong quan hệ 2 nước sẽ ách tắc, từ kinh tế, tài chánh, an ninh quốc phòng đến bán vũ khí sát thương, trao đổi về an toàn hạt nhân.

Trước khi lên chiếc máy bay Korean Air Line lúc 18 giờ tối 6/5, đại diện bộ CA dúi vào tay anh tờ quyết định “tạm hoãn thi hành án vì lý do sức khỏe “, không một lời giải thích nào khác. Xe ô tô đưa thẳng anh từ Yên Định ra sân bay Nội Bài. Tại đây cô Dương Hà chờ anh. Anh yêu cầu ghé về nhà riêng trên đường Điện Biên Phủ để thắp hương trước bàn thờ Cụ thân sinh, họ không hé miệng trả lời. Chiến thuật ngậm tăm.

Điều rất lý thú là phía Hoa Kỳ rất trọng thị khi thuyết phục anh nhận lời mời sang Hoa Kỳ để nghỉ ngơi và làm việc. Bà Jenifer L. Neidhart de Ortiz tham tán đặc trách về nhân quyền của sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội đến trại giam nói rõ rằng “ Chính phủ Hoa Kỳ rất quan tâm đến trường hợp của Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, mời ông sang Hoa Kỳ để có dịp thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình, qua đó thúc đẩy quá trình dân chủ hóa VN và góp phần thắt chặt mối quan hệ giữa 2 nước Mỹ – Việt ”.

Cuối cùng bà Jenifer nói: “ Chúng tôi rất vui mừng và vinh dự được ông tiếp nhận lời mời” – We are very pleased and honored by your acceptance. Bà thuyết phục rằng: ”Chúng tôi mời ông sang Hoa Kỳ vì lợi ích chung thiết thực “ – by significant public interest, còn khẳng định: ông sẽ làm việc trong môi trường được kính trọng nhất là môi trường Đại học. Cuộc đối thoại được quay phim, ghi âm, với sự có mặt của ông Mạnh, phiên dịch của sứ quán Hoa Kỳ.

Trên con đường ra sân bay, đại diện Hoa Kỳ còn nói rõ phía chính phủ Hoa Kỳ có nhã ý sẵn sàng tiếp nhận
thân nhân cùng đi theo luật sư Hà Vũ như các con và cháu ông nếu như ông muốn. Anh Hà Vũ rất xúc động cám ơn thiện chí đặc biệt ấy và nói rõ anh quan tâm trước hết là bắt tay vào làm việc vì nhân dân và đất nước.
Đến Hoa Kỳ là những ngày bận rộn thu xếp chỗ ăn ở và gặp ngay một số thượng nghị sỹ và dân biểu Hoa Kỳ, đặc biệt là ông Ben Cardin Chủ tịch Tiểu ban Đông Á – Thái Bình Dương đúng vào lúc ông chuẩn bị sang Hà Nội. Anh Hà Vũ dứt khoát yêu cầu phía Mỹ cần tạo áp lực mạnh hơn đòi tự do ngay cho tất cả người tù chính trị, chấm dứt việc họ dùng làm con tin để mặc cả, để câu giờ, nhất là khi bọn bành trướng Trung Quốc phơi bày rõ dã tâm xâm lược nước ta. Đây là một thời cơ lớn.

Anh cho biết anh chậm ra mắt họp báo để cám ơn đồng bào trong ngoài nước cũng là do phải làm một số việc gấp và tìm hiểu xem những điều kiện làm việc sắp tới sẽ ra sao, có thể có hiệu quả thiết thực hay không.

Hà Vũ sẽ làm gì trên đất Mỹ? Con người say mê hành động, và hành động sao cho có hiệu quả này đang có nhiều dự tính. Nước Mỹ sẽ tạo cho anh những điều kiện tuyệt hảo. Trung tâm Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy) mời anh làm việc như một nhà nghiên cứu, một giáo sư. Anh đã tốt nghiệp Luật và Kinh tế ở Pháp. Anh cũng từng du học ở Hoa Kỳ. Đại học Thủ đô – Washington University cùng một số Đại học khác đã mời anh đến nói chuyện, giảng bài. Anh vui mừng có dịp đóng góp phần thiết thực của mình cho sự nghiệp dân chủ hóa đất nước đầy cam go thử thách, nhưng cũng đầy cảm hứng mới mẻ.

Anh đang ôn nhớ lại lịch sử VN mà anh là nhân chứng sống. Anh hiểu rõ vụ Cải cách Ruộng đất. Anh biết rõ vụ Nhân văn Giai phẩm. Anh biết sâu nền Pháp lý cũng như nền Tư pháp VN. Anh hiểu chi ly bộ máy an ninh chìm nổi, hệ thống Công an VN. Anh hiểu người dân mình, đồng bào mình, tuổi trẻ và nhịp thở của xã hội. Trong anh còn có tâm hồn nghệ sỹ dễ rung cảm, anh là họa sỹ, có những bức tranh độc đáo, xuất thần.

Hôm nay anh Hà Vũ và chị Dương Hà cùng bè bạn đi dạo cảnh thủ đô Hoa Kỳ, ghé thăm Đài Tưởng niệm chiến tranh VN và đặc biệt là Tượng tưởng niệm 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa CS. Đài đặt tại góc 2 đại lộ Massachusetts và New Jesey, chỉ cách Tòa nhà Quốc Hội chừng 1 kilomet, hình một phụ nữ giương cao ngọn đuốc Tự Do. Tượng màu đen tuyền, biểu thị niềm đau xót mất mát, để nhắn nhủ, thức tỉnh mọi người còn sống rằng :
Chủ nghĩa Cộng sản áp dụng vào thực tế cuộc sống chỉ là chết chóc, chiến tranh, đói khổ lầm than không sao kể xiết, là tội ác còn kinh khủng gấp bội tội ác của bọn phát xít Hit Le.

Bức tượng được khánh thành ngày 12/6/2007 bởi tổng thống G.W.Bush, có đại diện của hơn 60 nước; đại diện của VN là nhà thơ Nguyễn Chí Thiện từng ở tù của Cộng sản VN hơn 27 năm.

Tại đây chúng tôi nói với nhau rằng làm sao để những người VN còn mang danh hiệu CS có dịp đến đây tìm hiểu và suy ngẫm về chủ nghĩa CS hiện thực, được coi là Tội Ác, là Ác Quỷ của thế kỷ XX đã qua, và rút ra cho mình bài học bổ ích nhất cho mỗi người, khi mỗi người chỉ có một cuộc đời.

Cù Huy Hà Vũ từng là nạn nhân sống của chủ nghĩa CS toàn trị. Anh bị họ bạc đãi, vu cáo, trả thù một cách hèn hạ, độc ác. Anh đã tự vượt lên bằng nghị lực, nhân cách, trí tuệ của mình và cùng nhân dân và thế giới dân chủ giành lại tự do cho bản thân.

Hôm nay đứng trước bức tượng tiêu biểu cho hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa CS đồng nghĩa với Tội Ác trên toàn thế giới, Hà Vũ lớn tiếng tuyên bố : “ Tôi còn sống ngày nào là tôi dồn hết sức mình cho cuộc đấu tranh khốc liệt nhằm sớm loại trừ chủ nghĩa cộng sản toàn trị tội ác trên đất nước VN thân yêu, cùng nhân dân giành lại quyền sống tự do trong nhân phẩm “.

Chị Dương Hà ghi âm lời của người chồng quý mến của mình vào máy ảnh nhỏ. Là một nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa CS VN, chị kể ngay tại địa điểm này :” Em không ngủ yên. Suốt 2 năm 8 tháng anh ở trong tù, tâm trạng em luôn hoảng loạn. Đêm nghe tiếng chuông reo là tưởng như tim ngừng đập. Nghĩ ngay có thể là tin anh ấy mất trong trại giam. Mình góa chồng từ đêm nay.” Chị lau nước mắt, rồi nở một nụ cười tươi.

Cuộc rong chơi hôm nay ngang dọc thủ đô Washington DC thật vui, niềm vui sâu lắng của hội ngộ, của “ ly hương ngộ cố tri ”, trên dất tự do giữa mùa hoa nở, khi hoa Dân chủ của Trí tuệ và Tâm huyết loài người cũng đang bừng nở lan tỏa ra toàn thế giới, không thể bỏ sót một khu vực, một vùng, một góc nào trên trái đất tuyệt vời này.

Bùi Tín (VOA)

Tác giả: 

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tù Chính Trị | Leave a Comment »

►Nhân viên Ngân hàng Bắc Á tố cáo hành vi tham nhũng của Phùng Quang Thanh và Cục Tài chính Bộ Quốc phòng

Posted by hoangtran204 trên 04/06/2014

Nhân viên Ngân hàng Bắc Á tố cáo hành vi tham nhũng của Phùng Quang Thanh và Cục Tài chính Bộ Quốc phòng

3-6-2014

Tập thể cán bộ nhân viên Ngân hàng Bắc Á

 

Dân Luận: Đây là một lá đơn tố cáo được gửi về Dân Luận qua email. Do chưa có điều kiện kiểm chứng, chúng tôi mong độc giả tham khảo với thái độ dè dặt, và nếu được xin bổ sung các thông tin để làm rõ vụ việc.

Kính gửi trang mạng Dân Luận đơn tố cáo của tập thể cán bộ nhân viên Ngân hàng Bắc Á về hành vi tham nhũng của ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh và tay chân tại Cục Tài chính, Bộ Quốc phòng. Kính mong được đăng tải, xin cảm ơn!

1- Lá đơn ngày 16/5/2013 đã gửi từ lâu nhưng không được xử lý

 

don_lan_1_trang_1.png

don_lan_1_trang_2.png 

 

phong_bi.png 

2- Lá đơn ngày 20/1/2014 đã gửi cũng chưa được cơ quan chức năng tiếp nhận và xử lý

 

don_lan_2_trang_1.png 

 

don_lan_2_trang_2.png 

Kính mong được đăng tải để rộng đường dư luận và vạch trần các hành vi hút máu nhân dân của ông Phùng Quang Thanh và tay chân tại Cục Tài chính, Bộ Quốc phòng

Tập thể cán bộ nhân viên Ngân hàng Bắc Á

 

—————-

Ý Kiến Bạn Đọc

*

Hi hi,

Đấy là số tiền (345 tý = 17 triệu đô!) vẫn còn chưa thể lấy được, chưa dám lấy, vì chắc nhiều tướng cùng biết đến cả rồi, “cũng không phải lớn lắm” so với số tiền lưu động qua tay họ hàng năm, nhưng các tướng còn đang nghĩ cách xà xéo chia nhau sao cho “sạch sẽ”, mà chưa ra…

Trong thời gian đó thì các tá được giao “bảo giữ tạm” và đang tìm cách mút vặt đó mà. Về lý thuyết, tiền đó đang ở trong két của đơn vị, tức lãi suất bằng 0, nên nếu cho nó vào NH với lãi suất 1-2%/tháng rồi “đút vào, rút ra”… thì mỗi tháng các tá cũng kiếm được 3-4 tỷ lẻ chia nhau đều đều…

Đây là việc làm công khai và phổ biến ở 101% các đơn vị kinh tế của quân đội, an ninh, và nhất là của đảng… vì không ai quản lý tài chính họ cả trừ …đảng. Mà đảng thì luộn bận rộn tìm cách “dẫn năm châu đến đại đồng” vốn cũng chưa ra… Các doanh nghiệp NN cũng có hiện tượng này nhưng với quĩ tiền mặt thôi, cỡ vài tỷ đổ lại, và là thu nhập riêng của bộ phận văn phòng hay kế toán thôi, các giám đốc thường cho qua để mình còn ăn các quả lớn…

Tôi biết một thàng cục trưởng cục tài chính của Hải Quân, đại tá thôi, nó từ thằng kế toán của Đăng kiểm Hàng hải sang HQ vì mất việc những năm 80s, nó nổi tiếng được quân chủng “tin cậy” giao “tay hòm chìa khóa” vì khi nó “giữ” tiền của cả quân chủng HQ thì các tư lệnh HQ yên tâm là: luôn luôn được nó cảm ơn hậu hĩnh đều đặn gấp mấy lương tướng (coi như nó phát lương, và nó cũng khoe thế, còn nhà nước chỉ phát phụ cấp), và “không bị thất thoát đồng nào” – các tướng của VN chỉ nghĩ được đến trình độ thế thôi: 500 tỷ giao nó “giữ ở két riêng” sau 1 năm vẫn còn 500 tỷ là tốt rồi! Giống như là: “Mang 500 quân đi trấn giữ biên ải mà không thằng quân nào chết hay ốm đau là quá giỏi!” Hi hi, các tướng quên rằng 500 thằng quân không những không chết mà còn đẻ ra bao nhiêu con rơi trong thời gian đóng quân kháp các vùng…

Có ba điều mà các tướng HQ không biết về thằng đại tá đó, đó là nó có cả một hệ thống chân rết bên ngoài do vợ quản lý để xoay vòng vốn mà nó “giữ” gồm: gửi ngân hàng, cho vay nặng lãi, và đảo vốn ngân hàng cho các con nợ của ngân hàng… Từ đó, cái mà nó dùng để “phát lương chính” cho hầu như cả bộ tư lệnh HQ ở HN và HP chỉ là phần nhỏ so với cái mà vợ chồng nó giữ lại…

Thứ hai, bao giờ nó cũng chậm giao tiền cho các đơn vị được hưởng theo lệnh trên để nuôi quân cho đến khi họ “hiểu ra” và chung chi lại cho nó, vì nó nói đó là để biếu lại các sếp và đó là theo lệnh ngầm của chính các tướng. Thấy các tướng luôn bênh vực hay “ca ngợi” nó thì dần dần tất cả các hải đoàn từ X15, X26 ở QN, HP đến X55, X72 ỏ SG, VT đến X81..xx ở Cần thơ, Cà Mau… đều phải nộp phí cho nó thì mới có tiền hàng quí về phát lương còm và nuôi quân đói.

Thứ ba, dù nó không quản phần đầu tư cho vũ khí của binh chủng HQ là phần lớn hơn nhiều nữa, nhưng phần nó “giữ” lại là phần HQ được lĩnh đều đều từ NSNN nên thực ra rất lớn, và phần góp của nó vào việc làm bất lực, tê liệt hay vô hiệu sức và tinh thần chiến đấu của binh chủng HQVN hiện nay có khi là cao nhất!

Hiện về bề nổi thì nó “chỉ có” chừng hơn mười biệt thự cao cấp rải rác ở Mỹ Đình, bên Hồ Tây, khu Gia Lâm… để cho thuê. Và nó nói thẳng là nó không thèm lên tướng, vì như vậy đồng nghĩa với việc dời bỏ chức vụ cục trưởng quèn mà nó giữ hàng hơn chục năm nay. “Đại tá mà phát lương cho các tướng thì lên tướng làm gì!” là câu của nó.

Nếu không biết nó, tôi sẽ tin nó là người Tàu mất! Người Tàu chắc là phải mang ơn nó và sẽ phải mong nó sống lâu trên chức vị hiện nay!

Nhưng vì biết nó, khá rõ, có lúc tôi lại mong Tàu đập chết hết chúng nó đi để dân Việt mình mới ngóc đầu lên được. Biết các bác sẽ nói tôi cực đoan, nhưng đó là thực sự những gì tôi nghĩ.

Và, nếu CSVN, QĐND VN có thể bắt nhốt và xét xử những suy nghĩ và tư tưởng của tôi thì chắc họ sẽ cho tôi chừng hơn 100 án chung thân vì những suy nghĩ như trên đó. Nhưng ngay cả khi đó, họ cũng không làm thay đổi được suy nghĩ của tôi (về họ).

Với suy nghĩ và tư tưởng dân chủ của toàn dân Việt hôm nay cũng vậy thôi, CSVN không thể bỏ tù! Chỉ có chúng ta còn quá sợ, còn chưa đủ tin nhau nên tự cầm tù tư tưởng của mình mà thôi.

PCT

—————

*Quân đội và Cảnh sát là hai vệ sỹ đặc biệt của một quốc gia. Sứ mệnh cao cả của quân đọi là bảo vệ đất nước. Tương tự, sứ mệnh của cảnh sát là bảo vệ nhân dân. Bất cứ quốc gia nào dù lớn nhỏ giàu nghèo đều nhất nhất thro cùng quy chế như vậy.
Nhưng hiện nay tại Việt Nam thì quân đội và cảnh sát lại là công cụ bảo vệ riêng CQ, riêng Đảng CS đang chiếm độc quyền cai trị đất nước. Nếu một người ngoại quốc bình thường biết được điều này, hẳn họ sẽ vô cùng kinh ngạc và xót xa cho cái xư sở đáng thương này.
Cớ làm sao, đang từ trọng trách vinh quang bảo vệ dân-nước lại có thể quay ngoắt sang coi việc bảo vệ đảng phái là thiêng liêng hơn ?. Để có câu trả lời đúng đắn không thể không nhắc tới hai chữ Quyền Lợi. Khi cả 3 nhân tố Đảng-Quân đội-Cảnh sát đều cùng chung một quyền lợi thì sự phụ thuộc, gắn kết vào nhau là cần thiết. Để khiến cho quân đội và cảnh sát trung thành với mình, Đảng đã thực thi một mánh lới thâm trầm thư tối kỵ đối với một CQ lành mạnh. Đó là ‘Đảng hoá’ hai ngành này. Không chỉ các sỹ quan phải là Đảng viên mà Đảng còn cài cắm trực tiếp Đảng viên vào dưới hình thức chuyên biệt gọi là ‘Chính trị viên’ để kiểm soát chăt hơn. Đồng thời Đảng lại tự ‘quân đọi và cảnh sát hoá’ chính mình bằng cách phân phối chức tước về Đảng trong CQ cho các tướng lãnh quân đội, cảnh sát nắm giữ. Như vậy thử hỏi còn sự ràng buộc nào chắc chắn hơn ?
Chính vì những lẽ trên mà tại VN hiện nay, quân đội và cảnh sát tham gia kinh doanh, đầu tư rất kinh hồn, làm giàu bằng thứ quyền lực hợp pháp mà Đảng ban phát, chỉ biết ‘còn Đảng còn mình’, còn đâu lòng dạ, sinh lực để giữ nước, bảo vệ dân

 

*Đây chỉ là mấy đồng tiền lẻ , gửi NH Bắc Á để tiện lấy ra tiêu vặt ấy mà. Tiền chẵn đã gửi NH Thụy Sĩ cả rồi!

*

 

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►’Nhiều người Mỹ hối tiếc vì Hoàng Sa 1974′ – Việt Nam chẳng có sách lược nào để đối phó với TQ ở Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 04/06/2014

thứ ba, 3 tháng 6, 2014

BBC– Tiếng Việt

Trước những gì Trung Quốc đang thể hiện ở Biển Đông, Hoa Kỳ nay thấy ‘hối tiếc’ vì từng ‘bật đèn xanh’ để Trung  Quốc chiếm thuận lợi các đảo ở Hoàng Sa từ tay chính quyền Việt Nam Cộng hòa năm 1974, theo một nhà phân tích tình hình châu Á và Trung Quốc từ Mỹ.

Hoa Kỳ có vẻ đã đánh đổi một lợi ích ngắn hạn, để ngày nay nhận lấy việc để cho vị thế quân sự và chính trị chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương bị Trung Quốc thách thức, vẫn theo ý kiến này.

Trao đổi với BBC hôm 02/6/2014 từ Đại học Maine, Hoa Kỳ, Giáo sư Ngô Vĩnh Long nói:

“Theo tôi biết, trong nội bộ hai đảng ở Mỹ là đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa, đúng là có nhiều người nuối tiếc.”

Lúc đó Mỹ đang chơi lá bài Trung Quốc và Mỹ kéo những chiến hạm của họ ra xa để họ không can dự, để cho Trung Quốc có thể đánh chiếm.

“Khi Trung Quốc lấy quần đảo Hoàng Sa, chiếm một số đảo ở Hoàng Sa và chiếm một số đảo ở Trường Sa, là cố tình để xây dựng cơ sở để chiếm lĩnh toàn bộ Biển Đông, gây mất an ninh và bắt chẹt thế giới.”

Theo Giáo sư Long, xâu chuỗi các sự kiện qua nhiều năm, có thể thấy những động thái của Trung Quốc tại Biển Đông nay đã là một vấn đề an ninh ở cấp độ thế giới mà không chỉ còn riêng ở tầm khu vực.

Ông nói: “Đây là vấn đề an ninh của khu vực, vấn đề an ninh của toàn thế giới, chứ không chỉ là vấn đề Trung Quốc đặt một giàn khoan hay là vấn đề tranh cãi chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc về đảo Hoàng Sa.”

Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng chính giới Mỹ đã nhận ra ‘lỗi lầm’ khi tính toán sai và để Trung Quốc nay có điều kiện thuận lợi ‘thách thức’ và ‘lấn lướt’ Mỹ ở khu vực, đe dọa an ninh quốc tế. Nhưng nhà phân tích cũng liên hệ trách nhiệm với quốc tế và ở khu vực của Việt Nam trong đối sách với các thách thức của Trung Quốc.

Ông Long nói: “Lúc đó, Mỹ vẫn còn chơi lá bài Trung Quốc, Mỹ ủng hộ Trung Quốc rất mạnh. Nhưng bây giờ là lúc khác, bây giờ mọi người thấy rõ ràng rằng năm 1974 và năm 1988, và sau đó Mỹ để cho Trung Quốc chiếm một số đảo của cả Philippines là những lỗi lầm. Bây giờ Mỹ và các nước trong khu vực thấy đây là lỗi lầm, mà bây giờ họ thấy đây là sự đe dọa cho cả khu vực và cho cả thế giới.

“Nếu bây giờ Việt Nam không cương quyết, tôi nghĩ đây đúng là lúc mà không phải chỉ có một, hai, ba hay bốn người trong lãnh đạo ở Việt Nam sẽ bị lịch sử lên án sau này, mà nhiều người trên thế giới sẵn sàng lên án Việt Nam là không giúp họ bảo vệ an ninh trong khu vực và cho thế giới mà (VN) lại ỡm ờ.”

Hôm 30/5, Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng nói với hãng tin Mỹ Bloomberg rằng Việt Nam đã ‘chuẩn bị xong’ các bằng chứng và đã sẵn sàng để kiện Trung Quốc về vụ giàn khoan Hải Dương 981. [Chúng ta đừng bao giờ tin lời Nguyễn Tấn Dũng, ông ta tuyên bố như vậy để tìm hậu thuẩn vây cánh ủng hộ để bầu ông ta ở lại thêm một nhiệm kỳ làm thủ tướng (lần 3)  hoặc tranh đoạt chức  tổng bí thư đảng. Tuổi về hưu được tăng lên, đã được ông ta ký nghị định và sẽ có hiệu lực năm 2016, là năm có đại hội đảng csvn và đảng sẽ bầu lại thủ tướng và TBT]

Trong khi đó, hôm 31/5, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh nói với diễn đàn Shangri-La rằng quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn ‘tốt đẹp’ và kêu gọi Trung Quốc ‘cùng đàm phán’ với Việt Nam về vụ hạ đặt giàn khoan. [TQ muốn giải quyết song phương, và buộc VN cũng phải giải quyết song phương, và phải theo chính sách tam không; nếu không, TQ sẽ tung ra các hiệp ước  mật mà đảng svn đã ký kết với TQ.]

Bình luận về những phát biểu này, Giáo sư Long nói: “Tôi hy vọng rằng Việt Nam nói nhún nhường như thế, nhưng lại có đi đêm phía sau, tất nhiên nói nhẹ nhàng như vậy để mua thời gian, nhưng đằng khác chuẩn bị để có những quan hệ tốt hơn với Nhật Bản, Philippines, Malaysia và qua đó với Mỹ…

“Bề ngoài nói như vậy là một chuyện khác, nhưng tôi mong rằng phía bên trong có những bước đi chắc chắn, chứ nếu một sự thoái lui… thì cái đó rất đáng tiếc cho đất nước.”

‘Nước cờ không thể thối lui’

Về khả năng giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể có ‘thỏa thuận ngầm’ để Việt Nam không kiện, nhà phân tích bình luận: “Không biết là lãnh đạo Việt Nam có nghĩ là họ có thể đàm phán song phương với Trung Quốc hay không, nhưng nếu họ làm như thế thì Việt Nam sẽ cô lập mình đối với toàn thế giới và như vậy Việt Nam sẽ bị Trung Quốc càng ngày càng bắt chẹt.

“Đây là một cơ hội rất lớn cho Việt Nam để chứng minh cho thế giới biết rằng khi Trung Quốc lấy đảo Hoàng Sa và chiếm một số đảo ở Trường Sa là cố tình để xây dựng những cơ sở ở đó để chiếm lĩnh toàn bộ Biển Đông, gây mất an ninh và bắt chẹt thế giới.”

Theo Giáo sư Long, đây là thời điểm quyết định để Việt Nam xử lý dứt điểm vấn đề chủ quyền biển đảo với Trung Quốc.

Ông nói: “Đây là một cơ hội rất tốt để Việt Nam vận động sự ủng hộ của thế giới. Bây giờ thụt lùi, thì rõ ràng không những mất mặt cho Thủ tướng Dũng, mà còn cho các nước khác thấy là họ ‘bị lừa’ hay sao đấy.”

Ông nói tiếp: “Tôi nghĩ rằng đã dũng cảm nói ra rồi, dân chúng ủng hộ rồi, thế giới họ cũng vỗ tay rồi, mà bây giờ rụt đi nữa, thì không những anh mất tiếng đối với thế giới, mà anh cũng để cho những đối thủ của anh ngay trong nước dùng cái đó để tấn công anh để hạ anh.

“Tôi nghĩ rằng những người ủng hộ đường lối của Thủ tướng nên thúc đẩy Thủ tướng. Nghĩa là đây là nước cờ cũng như là nước cờ cuối rồi mà anh đã đi một nước cờ như vậy, mà anh lại thối lùi nữa, anh sẽ không những thua mà lại có hại cho đất nước nữa,” Giáo sư Long nói với BBC.

———–

SÁCH LƯỢC ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

Nguyễn Hưng Quốc

2-6-2014

Yesterday
Việt Nam có sách lược gì để đối đầu với những sự gây hấn của Trung Quốc, cụ thể nhất là qua vụ giàn khoan HD-981? 

Có lẽ không ai biết cả. Thủ tướng (Nguyễn Tấn Dũng, ở Philippines) nói một đàng, Đại tướng (Phùng Quang Thanh, ở Singapore) nói một nẻo. Thủ tướng hơi hơi cứng; Đại tướng thì lại mềm xìu. Thủ tướng muốn khều lại Trung Quốc một chút; Đại tướng thì từ đầu đến cuối chỉ thích xoa và vuốt. Vậy là sao?

Thật ra, cũng không có gì khó hiểu. Việt Nam tìm mọi cách để tránh đương đầu với Trung Quốc. Họ cương vừa đủ để bày tỏ lập trường, và đặc biệt, để trấn an dân chúng trong nước nhưng lại không muốn tạo bất cứ một cái cớ gì để Trung Quốc tấn công.

Trước mắt, nếu sách lược này có thể chấp nhận được, về phía Trung Quốc, nó lại bất lợi, nếu không muốn nói là tai hại, từ góc nhìn của phương Tây: Không ai hiểu được Việt Nam muốn gì cả. Không hiểu, người ta sẽ không tin. Không tin, người ta sẽ không làm bạn. Không làm bạn, người ta sẽ không giúp.

Về lâu dài, chính sách này chỉ có hại. Tránh làm cho Trung Quốc giận cũng đồng nghĩa với việc khuyến khích Trung Quốc cứ lấn tới. Không tranh thủ được sự giúp đỡ từ bên ngoài, Việt Nam cứ cô đơn mãi.

Hiện nay, đối diện với lực lượng áp đảo của Trung Quốc chung quanh giàn khoan HD-981, Việt Nam hoàn toàn cô đơn. Với chính sách lập lờ và mập mờ như thế này, vài năm sau, khi Trung Quốc gia tăng mức độ uy hiếp hơn nữa, chắc chắn Việt Nam lại cũng vẫn cô đơn.

Và vì cô đơn nên lại vẫn tiếp tục nhượng bộ.

Việt Nam càng nhượng bộ, Trung Quốc càng lấn tới.

Lấn tới đâu nhỉ?

—-

ĐT Phùng Quang Thanh trong bài diễn văn 3 phút đã không dám nhắc đến tên của Mỹ, Nhật…ông ta chỉ muốn xây dựng tình hữu nghị với TQ, và giải quyết các tranh chấp bằng đàm phán song phương với TQ

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Việt Nam thay Tổng GĐ đường sắt- Nhật Bản tạm ngừng cấp viện trợ ODA cho Việt Nam sau vụ phát hiện phải hối lộ 16 tỷ đồng cho 6 cán bộ Cty Đường sắt Việt Nam và Bộ GTVT

Posted by hoangtran204 trên 03/06/2014

Vậy là tuyến đường sắt đô thị Hà Nội tạm ngừng xây dựng, chờ cho đến khi nào Hà Nội đưa ra  kế hoạch nào ngăn chận cán bộ tham nhũng vòi hối lộ thì Nhật mới xuất tiền ra làm tiếp.

Việt Nam thay tổng giám đốc đường sắt

3-6-2014

BBC  Tiếng Việt

Bộ trưởng Đinh La Thăng nói tổng giám đốc đường sắt ‘đạo đức trong sáng’ nhưng không làm được việc

Bộ trưởng Giao thông Vận tải Việt Nam quyết định cho thay Tổng Giám đốc Đường sắt Việt Nam, trong bối cảnh đang có điều tra nghi án nhận hối lộ từ Tập đoàn JTC (Nhật Bản).

Ông Nguyễn Đạt Tường mất chức tổng giám đốc, để chuyển sang làm thành viên chuyên trách Hội đồng Thành viên của Tổng Công ty này.

Quyết định thay ông Nguyễn Đạt Tường đã có trong tháng Năm, nhưng được công bố chính thức hôm 3/6.

Ông Vũ Tá Tùng, nguyên phó tổng giám đốc Đường sắt Việt Nam, chính thức lên thay vị trí của ông Nguyễn Đạt Tường kể từ ngày 3/6. Ông Tùng cũng đang kiêm chức Tổng Giám đốc Đường sắt Sài Gòn khi có quyết định này.

Cùng ngày 3/6, Nhật Bản thông báo tạm ngừng viện trợ ODA các dự án đường sắt cho Việt Nam.

Bộ Giao thông Vận tải không nói việc ông Nguyễn Đạt Tường mất chức tổng giám đốc là có liên quan tới cuộc điều tra nghi án nhận hối lộ từ Tập đoàn JTC (Nhật Bản).

Bộ trưởng Giao thông Đinh La Thăng nói ông Tường là người “đạo đức trong sáng” nhưng “công việc anh làm không tốt nên buộc phải thay”.

“Anh đứng đầu một đơn vị, công việc trì trệ thì anh phải làm việc khác cho phù hợp, lý do chỉ có thế,” Bộ trưởng Thăng cho biết.

Sau quyết định trên, ông Thăng cũng phản bác lại ‎ ý kiến cho rằng bộ Giao thông chỉ xử lý “nhân viên bán vé” chứ không dám đụng đến cán bộ cấp cao.

“Nói chỉ xử lý nhân viên mà không dám xử lý cấp trên thì tôi không hiểu phải xử lý như thế nào nữa, vậy không lẽ tôi tự xử tôi? Tôi tự cách chức Bộ trưởng thì mới làm hài lòng dư luận?” bộ trưởng Thăng được trích lời trên Dân trí nói.

Theo báo Dân trí, lãnh đạo của bộ Giao thông cũng đang yêu cầu thay thế 10 vị trí cấp cao khác tại công ty này.

Nghi án hối lộ

Hồi cuối tháng Ba, một quan chức Công ty Tư vấn giao thông Nhật Bản (JTC) khai với cơ quan công tố Tokyo việc hối lộ một quan chức Việt Nam 66 triệu yen (tương đương 16 tỷ đồng) để giành dự án có sử dụng vốn ODA trị giá 4,2 tỷ yen. Đây là một phần trong dự án xây dựng tuyến đường sắt trên cao ở Hà Nội.

Đến đầu tháng Năm, sáu cán bộ cao cấp của Công ty Đường sắt đã bị khởi tố, tạm giam để điều tra, bao gồm Phó Tổng giám đốc Trần Quốc Đông, hai Phó giám đốc Ban Quản lý các Dự án Đường sắt Phạm Quang Duy và Phạm Hải Bằng, Trưởng phòng dự án 3 Nguyễn Nam Thái, Giám đốc Ban quản lý dự án đường sắt (thuộc bộ Giao thông) Trần Văn Lục, cùng với Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Ban quản lý dự án đường sắt (thuộc Công ty Đường sắt).

Các cán bộ cấp cao này bị cáo buộc các tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” và “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Tuy vậy, hiện chưa ai bị cáo buộc tội “nhận hối lộ”.

‘Ngừng ODA’

Vụ bê bối đã “ảnh hưởng không nhỏ đến sự tin cậy của người dân [Nhật Bản] đối với những dự án viện trợ ODA”, ông Kimihiro Ishikane, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Ngoại giao Nhật Bản, cho biết trong cuộc họp với bộ Giao thông Việt Nam vào ngày 2/6.

Cũng trong cuộc họp, Nhật Bản cho biết đã tạm ngừng viện trợ ODA các dự án đường sắt cho Việt Nam cho đến khi Hà Nội kết luận điều tra và có những bước ngăn ngừa các vụ việc tương tự xẩy ra, hãng thông tấn Kyodo đưa tin. Cụ thể, khoản nợ cho giai đoạn đầu của dự án đường sắt số 1 sẽ bị tạm ngưng.

Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội cho biết sẽ xem xét nối lại viện trợ trong cuộc gặp mặt giữa hai bên vào cuối tháng, khi có đánh giá về nỗ lực từ phía Việt Nam.

 

———

Nhật Bản tạm ngừng cấp ODA cho Việt Nam sau vụ hối lộ

HANOI, June 2, Kyodo

Nguyễn Công Huân lược dịch

Nhật Bản đã nói với chính phủ Việt Nam vào thứ hai rằng họ sẽ tạm ngừng hỗ trợ phát triển chính thức do có một trường hợp bị cáo buộc hối lộ liên quan đến dự án đường sắt đô thị Hà Nội do Nhật Bản tài trợ, Đại sứ quán Nhật Bản tại đây cho biết.

Chính phủ Nhật Bản đã thông báo cho Hà Nội về việc đình chỉ hỗ trợ phát triển tại một cuộc họp song phương để ngăn chặn những vi phạm, Đại sứ quán cho biết, sau khi sáu quan chức đường sắt Việt Nam bị bắt giữ vào tháng Năm vì một hợp đồng dành cho Công ty Tư Vấn Giao Thông Nhật Bản (Japan Transportation Consultants Inc – JTC) có trụ sở ở Tokyo.

Như điều kiện để nối lại ODA, Tokyo yêu cầu mà Hà Nội điều tra xem có bất cứ điều gì bất hợp pháp liên quan đến các hợp đồng liên quan đến Tổng Công Ty Đường sắt Việt Nam do nhà nước quản lý, hoặc JTC, và rút ra các biện pháp để ngăn vụ việc tương tự tái diễn, Đại sứ quán cho biết.

Tại cuộc họp tiếp theo vào cuối tháng này, phía Nhật Bản sẽ xem xét liệu có nên tiếp tục ODA sau khi nghiên cứu kết quả của các biện pháp điều tra và phòng ngừa của Việt Nam, Đại sứ quán cho biết.

Tại cuộc họp hôm thứ hai, các quan chức Nhật Bản đã thông báo cho đối tác Việt Nam rằng Tokyo sẽ đình chỉ các khoản vay cho giai đoạn đầu của việc xây dựng tuyến đường sắt số 1 của dự án đường sắt đô thị, Đại sứ quán cho biết.

JTC cho biết trong tháng Tư rằng một ủy ban độc lập thấy rằng công ty này đã trả tiền 160 triệu Yên tiền lại quả cho các quan chức tham gia vào các dự án tại Việt Nam, Indonesia, Uzbekistan từ năm 2009 đến năm 2014. Riêng khoản tiền dành để đảm bảo thắng thầu trong dự án sử dụng vốn ODA tại Việt Nam ước tính đạt 66 triệu yên.

Chính quyền Việt Nam đang điều tra vấn đề này sau khi bắt giữ sáu quan chức đường sắt, trong đó có Trần Quốc Đông, Phó Tổng giám đốc Đường sắt Việt Nam.

== Kyodo

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Trong khi Tập Cận Bình siết chặt thêm gọng kìm, trên danh nghĩa của các con, các bà mẹ Thiên An Môn: Không muốn trả thù, nhưng từ chối sự lãng quên

Posted by hoangtran204 trên 03/06/2014

Theo báo Los Angeles Times, 2-6-2014, Tập Cận Bình siết chặt thêm gọng kìm:  “Nhiều người Trung Quốc đang bị bắt giữ hay bị công an ngăn cản không cho ra khỏi nhà để ngăn ngừa họ tổ chức những hoạt động đánh dấu buổi tưởng niệm. 

Tuần trước, tổ chức Ân Xá Quốc Tế (International Amnesty) nói rằng: mấy chục người TQ đã bị bắt giữ bao gồm nhà hoạt động dân sự Hu Jia, ông ta đã hăm dọa sẽ tuyệt thực để kỷ niệm biến cố Thiên An Môn, và giờ đây các bà mẹ của các thanh niên đã chết năm 1989 cũng sẽ tham gia tuyệt thực.

Trong số những người bị bắt giữ năm nay, còn có những người đã tổ chức lễ tưởng niệm trong nhà. Đây là lần đâu tiên chính quyền TQ đã bắt không cho tưởng niệm ngay cả ở trong nhà. 

“Đây là lần đầu tiên việc tổ chức lễ tưởng niệm trong nhà đã bị ngăn cấm”, Louisa Lim, tác giả của cuốn sach mới đướcj xuất bản gần đây,  “The People’s Republic of Amnesia: Tiananmen Revisited, nói về sự đàn áp những buổi lễ tưởng niệm liên quan tới cuộc thảm sát Thiên An Môn.   ( Trần Hoàng, dịch từ Los Angeles Times)

 

4-6-1989 một thanh niên chở hai người bị bắn tới bệnh viện gần đó ( ở Bắc Kinh) -Liu Heung Shing/Associated Press

Các bà mẹ Thiên An Môn: Không muốn trả thù, nhưng từ chối sự lãng quên

3-6-2014

Quảng trường Thiên An Môn, 1989. 

Hàng chục ngàn thanh niên trẻ tuổi trong số những người nầy sau đó đã bị  đảng cộng sản sát hại…Chủ nghĩa cộng sản là giấc mơ của vài người, nhưng là ác mộng của nhân loại.  

Thuỵ My

(Patrick Saint-Paul, Le Figaro 30/05/2014,

(tựa trong nguyên tác “Au nom des fils de Tiananmen”)

Những bà mẹ của các thanh niên đã bị sát hại trong sự kiện ngày 4 tháng Sáu năm 1989 tiếp tục đấu tranh để được tưởng niệm họ và cho công lý. Nhưng gần đến ngày kỷ niệm 25 năm Mùa xuân Bắc Kinh, Tập Cận Bình lại siết chặt thêm gọng kìm, do sợ hãi một sự thật có thể làm chao đảo chế độ.

Mỗi năm, Bắc Kinh lại sống với nhịp điệu “những vụ mất tích mùa hè”. Gần đến ngày 4 tháng Sáu, thời điểm “nhạy cảm” nhất trong năm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chính quyền Trung Quốc lại buộc nhiều “nhà ly khai” hoặc chỉ đơn giản là các thân nhân những người mất tích phải “đi nghỉ mát”.

Nhân kỷ niệm 25 năm vụ đàn áp đẫm máu phong trào biểu tình sinh viên năm 1989, các nhà quan sát và những người chủ trương tự do Trung Quốc chờ đợi xem thái độ của nhà cầm quyền có thay đổi hay không dưới sự cai trị của tân lãnh đạo Tập Cận Bình, mà một số người hy vọng ông ta là một nhà cải cách… Trên thực tế, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) năm nay lại siết chặt thêm chủ trương cấm nêu lên “các sự kiện” ở quảng trường Thiên An Môn, khiến khó thể hy vọng đến cải cách chính trị.

“Các vị đã làm đúng khi đến đây trước khi người ta bắt tôi đi ‘nghỉ mát’. Cần phải tiếp tục kể lại câu chuyện của chúng tôi”. Bà Đinh Tử Lâm (Ding Zilin) thổ lộ với Le Figaro như vậy vào đầu tháng Hai. Con trai của bà là Tưởng Tiệp Liên (Jiang Jielian) là một trong những sinh viên đầu tiên đã ngã xuống dưới những lằn đạn, hôm 03/06/1989.

 

Bà Đinh Tử Lâm bên cạnh ảnh con trai, bị sát hại tại Thiên An Môn ngày 03/06/1989. 

Là người sáng lập phong trào Các bà mẹ Thiên An Môn, một hiệp hội tập hợp những người mẹ của các sinh viên bị giết chết trong vụ thảm sát 1989, Đinh Tử Lâm bị giám sát cao độ từ đầu tháng Ba. Công an cấm vào căn hộ của bà ở Bắc Kinh cũng như mọi tiếp xúc với người ngoại quốc. Và vài tuần trước ngày kỷ niệm 25 năm Thiên An Môn, bà cùng với chồng đã biến mất, bị đưa đi quản chế ở một nơi nào đó không ai biết ở xa thủ đô Trung Quốc, cũng giống như hàng mấy chục nhà đấu tranh nhân quyền khác.

Năm nay, bà Đinh Tử Lâm sẽ không được đến mặc niệm tại địa điểm mà con trai bà đã bị một viên đạn cướp đi mạng sống hôm 3 tháng Sáu năm 1989, bị chính quyền ngăn trở như mọi năm. Bà kể lại: « Con trai tôi sinh ngày 2 tháng Sáu năm 1972. Mỗi năm, tôi đều mừng sinh nhật cháu vào ngày 2/6 trước khi cúng giỗ cháu vào ngày hôm sau. Ngay cả an ninh cũng biết chuyện này. Mỗi năm, các nhân viên công an đều nói với tôi là họ hiểu nỗi đau của tôi to lớn như thế nào ». Nhưng họ lại không thương hại bà cụ bị bệnh tim sinh năm 1932,
đã từng bị lên cơn đau tim vào cuối năm 2013. Bà nói: « Tôi không còn kể câu chuyện về con trai tôi từ nhiều năm qua. Nhưng sắp đến ngày kỷ niệm, tôi đã viết ra một cuốn sách, khiến tôi nhớ lại tất cả những chuyện cũ. Trái tim tôi đã không chống chọi được với nỗi đau ».

« Tôi đã cấm con tôi ra đi »

 

Sinh viên đang dựng tượng Nữ thần Dân Chủ 

Vào mùa xuân 1989, trên quảng trường rộng mênh mông ở trung tâm Bắc Kinh, địa điểm mang tính biểu tượng nhất của quyền lực Trung Quốc, các sinh viên đòi hỏi dân chủ và tự do đã được dân chúng tham gia ủng hộ, trong một không khí hồ hởi lan truyền khắp đất nước. Trước bức chân dung của Mao, họ dựng lên bức tượng « Nữ thần Dân Chủ » theo mô hình tượng « Nữ thần Tự Do » của Mỹ.

Bà Đinh thở dài não nuột: « Con trai tôi chỉ mới 17 tuổi, nhưng từ hai năm trước nó đã tranh đấu cho sự tiến triển của xã hội, đòi hỏi được tự do và dân chủ hơn. Cháu thường xuyên đến quảng trường Thiên An Môn để ủng hộ các sinh viên. Chồng tôi cổ vũ con trai. Nhưng tôi là đảng viên Cộng sản trung thành và một lòng tin vào Đảng từ năm 1960, tôi biết Đảng có thể đối xử tồi tệ với người dân như thế nào, từ khi một số đồng nghiệp của tôi bị đánh đập cho đến chết trong Cách mạng văn hóa.

Tôi nói với các học trò và với con tôi là đấu tranh chống lại Đảng chỉ vô ích. Nhưng từ khi lệnh thiết quân luật được ban bố hôm 20/5, các cháu chỉ có mỗi một ý tưởng trong đầu: đó là xuống đường. Chúng nó trách tôi trung thành với Đảng một cách mù quáng. Tôi thì tôi chưa bao giờ hy vọng là phong trào này có thể mang lại một sự thay đổi nhỏ bé nào. Tôi chỉ muốn bảo vệ các cháu thôi ».

 

Sinh viên dựng lều chiếm cứ Thiên An Môn 

Sau bảy tuần lễ chiếm đóng quảng trường, các sinh viên bị quân đội truy sát đêm 3 rạng 4 tháng Sáu. Giải phóng quân Trung Quốc huy động hàng chục ngàn lính với hàng trăm chiến xa hỗ trợ, và nổ súng. Tưởng Tiệp Liên không còn ở tại chỗ từ khi quân đội công bố thông báo với giọng điệu hết sức đe dọa, đòi hỏi sinh viên rời các lều trại trên quảng trường.

Cha của cậu đã đến phía tây thành phố, nhìn thấy các đoàn quân tiến về phía Thiên An Môn và cố làm giảm nhẹ những lo ngại của họ. Bà Đinh Tử Lâm nhớ lại: « Con trai tôi không ngừng lặp lại, nghĩa vụ của nó là phải xuống đường để hỗ trợ cho các bạn sinh viên. Tôi cấm cháu ra ngoài. Nó giận dữ bảo rằng, nếu tất cả các bậc cha mẹ đều như chúng tôi, thì đất nước chẳng còn chút hy vọng nào ».

 

Quân đội đổ vào quảng trường 

« Chúng tôi không muốn trả thù »

Bất lực, bà đóng cửa nhốt con trai trong nhà vệ sinh. Nhưng hai mẹ con vẫn tiếp tục đối thoại qua cánh cửa. Đinh Tử Lâm kể tiếp qua hơi thở nghẹn: « Nó hỏi tôi, làm cách nào có thể cứu được các sinh viên. Tôi trả lời rằng nếu tất cả mọi người dân Bắc Kinh đều xuống đường, thì không một ai dám bắn vào họ. Suốt cả đời, tôi hối tiếc đã nói câu này. Tôi chỉ có một mình. Nếu chồng tôi có mặt bên cạnh, có lẽ hai vợ chồng đã có thể giữ được con lại ».

Vào lúc 22 giờ, Tưởng Tiệp Liên nhảy qua cửa sổ nhà vệ sinh và la to: « Vĩnh biệt mẹ! ». Chàng thanh niên sau đó bị giết chết vào lúc 23 giờ 10 phút.

 

Máu đã đổ trước cường quyền! 

Từ đó đến nay, bà Đinh Tử Lâm thệ nguyện trung thành với lý tưởng của người con, mà bà đã lập một bàn thờ trên đó đặt bình tro cốt của con trong phòng khách. Chân dung của chàng trai được treo trên tường, bên cạnh nhiều bằng tưởng thưởng của các tổ chức bảo vệ nhân quyền. Một tấm ảnh do bà Lưu Hà (Liu Xia), vợ của giải Nobel hòa bình đang bị giam cầm là Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo) chụp, được đặt đối diện với bức tượng kỷ niệm người con trai.

Cựu giáo sư triết của trường đại học Bắc Kinh danh giá, Đinh Tử Lâm đấu tranh không ngơi nghỉ cho tiến bộ xã hội và cho tự do. Vào Đảng năm 1960, bà là một trong số 303 nhà trí thức Trung Quốc ký tên vào Hiến chương 08, được công bố ngày 10/12/2008 để đòi hỏi cải cách chính trị và xúc tiến phong trào dân chủ Trung Quốc.

Nhưng nhất là năm 1992 bà đã thành lập một mạng lưới gồm 150 bà mẹ, Các bà mẹ Thiên An Môn, mà những người con đã ngã xuống đêm 3 rạng 4 tháng Sáu năm 1989 tại Bắc Kinh, mà chính quyền từ chối mọi tiếp xúc với báo chí. Đến 1993, bà bị cấm giảng dạy. Kể từ đó, chính quyền liên tục quấy nhiễu để ngăn cản Đinh Tử Lâm tiếp xúc với các bà mẹ có con bị sát hại khác. Nhà nước thúc giục bà sang tị nạn ở Đài Loan, nơi một bộ phận trong gia đình bà đã định cư từ năm 1949 nhưng bà chưa bao giờ nhượng bộ.

 

Sơ tán các sinh viên bị thương 

Là lãnh đạo Các bà mẹ Thiên An Môn, bà Đinh Tử Lâm không ngừng đòi hỏi sự thật và công lý về vụ thảm sát tháng Sáu năm 1989. Bà nhắc lại: « Chúng tôi không muốn trả thù, nhưng từ chối sự quên lãng. Và chúng tôi chỉ có ba yêu sách đơn giản: một cuộc điều tra để tìm ra sự thật về những gì đã diễn ra; công lý phải được thực thi và những kẻ chịu trách nhiệm phải bị đưa ra xét xử, đặc biệt là Lý Bằng (Li Peng), người đã công bố lệnh thiết quân luật ; bồi thường cho gia đình các nạn nhân ».

Những yêu cầu của bà chưa bao giờ thay đổi. Nhưng Đảng lo ngại nếu đáp ứng, sẽ xảy ra một cơn địa chấn chính trị mà các rung chấn sẽ làm bản thân Đảng sụp đổ. « Hai mươi lăm năm sau, tôi tự hỏi, ai sợ hãi ai ? Tôi hy vọng Tập Cận Bình sẽ là một đại đế sáng suốt và tử tế. Nhưng tôi không ảo tưởng, sự kiện ông ta ngưỡng mộ Mao khiến tôi lo sợ. Tôi không còn hy vọng mọi việc sẽ thay đổi » – Đinh Tử Lâm than thở, đã gần kiệt sức.

 

Cuộc đấu tranh không cân sức 

Đó là lý do khiến bà chuyển giao chức trách đứng đầu Các bà mẹ Thiên An Môn, lo ngại lý tưởng đấu tranh của thế hệ mình sẽ biến đi khi họ qua đời vì tuổi già. Nâm Vĩ Kiệt (You Weijie), 61 tuổi, có chồng bị sát hại trong vụ Thiên An Môn, lên thay. Trong căn hộ ở Bắc Kinh bị công an quản chế hồi đầu tháng Ba, tân chủ tịch chia sẻ: « Tôi biết những rủi ro chứ, áp lực không ngừng tăng lên đối với chúng tôi từ đầu năm. Nhưng tôi không thể xóa đi câu chuyện lịch sử này, và muốn rằng cuộc chiến đấu cho công lý được tiếp tục ».

Chồng bà là Dương Minh Hồ (Yang Minghu), nhân viên của Ủy ban Xúc tiến Thương mại Trung Quốc, năm ấy 42 tuổi. Người vợ góa kể lại: « Chúng tôi thức giấc vào nửa đêm 3 rạng 4 tháng Sáu bởi những tràng súng nổ. Sau khi nhìn qua cửa sổ, chồng tôi lo ngại và quyết định đi cùng với các sinh viên về phía Thiên An Môn. Tôi không đi với anh ấy vì phải lo cho con trai nhỏ năm tuổi ». Vào lúc hai giờ sáng, một viên đạn đã xé toang khung chậu và bàng quang của Dương Minh Hồ.

 

Một thế hệ hào hùng không còn được biết đến 

Giới trẻ Trung Quốc không biết đến Thiên An Môn

Nâm Vĩ Kiệt tìm được chồng vào sáu giờ sáng tại bệnh viện. Anh chống chọi được hai ngày rồi mới qua đời. « Chúng tôi ủng hộ 100% các yêu sách của sinh viên, tất cả không phải là điều sai lầm. Nếu chính quyền thời đó đáp ứng, Trung Quốc đã có một số phận tốt đẹp hơn. Chúng tôi có được phát triển kinh tế. Nhưng thiếu vắng mở cửa chính trị, chúng tôi sống trong một xã hội phi đạo đức với trái tim bệnh hoạn. Nếu Trung Quốc tiếp tục tận dụng con đường này, thì cuối cùng sẽ sụp đổ. Không thể tiếp tục lâu dài mà không có mở cửa về dân chủ, vì dân chủ là điều kiện của tự do. Tiện nghi vật chất, mà các đảng viên được hưởng lợi là chính, không thể thay thế được ».

Vụ đàn áp đẫm máu đêm 3 rạng 4 tháng Sáu đã làm cho hàng trăm người chết, thậm chí hơn một ngàn, theo một số nguồn tin. Các bà mẹ Thiên An Môn đã chính thức nhận dạng được 202 nạn nhân – một công việc tỉ mỉ chủ yếu dựa trên các ảnh chụp những xác chết, theo Nâm Vĩ Kiệt. Chính mắt bà trông thấy xác của bảy người tại bệnh viện Tongren nơi chồng bà được đưa đến, nhưng hôm đó chỉ nhận ra được ba thi thể.

 

Có bao nhiêu thanh niên đã bị giết hại trong Mùa xuân Bắc Kinh??? 

Bà nhận xét: « Nhiều gia đình không biết người thân của mình đã biến mất như thế nào, hay không dám nói ra do sợ bị trả thù. Người ta không biết có 1.000 hay 3.000 người bị giết chết. Chỉ có mỗi mình chính quyền mới biết được danh sách. Ngày nào mà họ công bố và nhìn nhận trách nhiệm, sẽ là một dấu hiệu tiến bộ vô biên cho tự do và dân chủ của đất nước ».

Từ năm 1989, chế độ cộng sản đã nỗ lực tránh mọi sự nhắc nhở đến biến cố Thiên An Môn. ĐCSTQ cấm đoán các phương tiện truyền thông chính thức, trên internet và sách mọi liên tưởng đến vụ đàn áp Mùa xuân Bắc Kinh, cho đến nỗi đại đa số thanh niên Trung Quốc không hề biết đến vụ thảm sát này. Gần đến ngày kỷ niệm 25 năm Thiên An Môn, chế độ càng siết chặt thêm gọng kìm. Nâm Vĩ Kiệt tóm tắt: « Mỗi năm, khi chúng tôi đi về phía các nghĩa trang nơi chồng, con chúng tôi được chôn cất, luôn luôn công an còn đông đảo hơn là thân nhân các nạn nhân ».

Theo blog Thuỵ My

Mời bạn ghé qua blog của Thụy My để đọc các bài khác….

 

Posted in Thiên An Môn - Trung Quốc | Leave a Comment »

►Tưởng niệm cuộc thảm sát 4-6-1989 – Những hồn ma Thiên An Môn

Posted by hoangtran204 trên 03/06/2014

Những hồn ma Thiên An Môn

3-6-2014

Tháng 6 2, 2014

Ian Johnson

Phạm Vũ Lửa Hạ dịch

Trong bài viết sau đây, ký giả Ian Johnson điểm hai cuốn sách mới về Thiên An Môn: Cộng hòa Nhân dân Lãng quên: Nhìn lại Thiên An Môn(The People’s Republic of Amnesia: Tiananmen Revisited) của Louisa Lim, do Oxford University Press xuất bản, và Những người lưu vong Thiên An Môn: Những tiếng nói của cuộc đấu tranh đòi dân chủ ở Trung Quốc (Tiananmen Exiles: Voices of the Struggle for Democracy in China)của Rowena He [Hà Tiểu Thanh] do Palgrave Macmillan xuất bản. Ian Johnson là phóng viên đóng tại Bắc Kinh của tờ The New York Times. Ông đã giành giải Pulitzer Prize cho tin bài về Trung Quốc, và đang viết một cuốn sách về việc Trung Quốc đi tìm các giá trị.

_____________

Mỗi độ xuân về, một người bạn lớn tuổi của tôi tên là Từ Giác đến nghĩa trang Bát Bảo Sơn ở ngoại ô mạn tây Bắc Kinh để đặt hoa trên mộ của chồng và con quá cố. Bà luôn sắp xếp đi viếng vào ngày 5 tháng 4, nhằm lễ Thanh Minh. Lịch cổ truyền Trung Hoa có ba ngày lễ để tưởng niệm người chết, trong đó quan trọng nhất là Thanh Minh – quan trọng đến nỗi vào năm 2008, sau mấy chục năm cố gắng cấm đoán các tập quán tôn giáo truyền thống, chính quyền đã công bố đó là ngày lễ toàn quốc và cho người dân được nghỉ một ngày để làm tròn bổn phận của mình. Ngày nay các quan chức Đảng Cộng sản cũng tham gia; gần như năm nào cũng vậy, truyền hình quốc gia chiếu cảnh họ viếng thăm đài tưởng niệm các liệt sĩ cộng sản hay cúng bái Hoàng Đế, theo thần thoại là vị vua sáng lập của dân tộc Trung Hoa, tại một lăng mộ hùng vĩ trên sông Hoàng Hà.

Nhưng tưởng nhớ có thể đặt ra những câu hỏi khó chịu. Vài ngày trước cuộc viếng mộ dự kiến của Từ Giác, hai công an đến nhà bà và cho biết họ sẽ có một ân huệ đặc biệt dành cho bà. Họ sẽ đích thân hộ tống bà đến nghĩa trang và giúp bà quét dọn hai ngôi mộ và đặt hoa. Họ đặt điều kiện là sẽ không đi vào ngày 5 tháng 4 dễ bị xúc động. Thay vì thế, họ sẽ đi sớm vài ngày. Bà biết mình không có lựa chọn nào khác nên đành chấp nhận. Năm nào họ cũng tạo ra cảnh tượng lạ: một bà lão đến bằng ô tô đen với bốn công an mặc thường phục, theo bà đến ngôi mộ của hai người thân đã ra đi của bà.

Con trai của Từ Giác bị lính bắn chết. Chỉ vài tuần sau, tóc chồng bà bạc trắng. Năm năm sau, ông qua đời. Khí tử liễu, bà giải thích: uất ức đến chết. Trên bia mộ của chồng có khắc một bài thơ lý giải nguyên nhân giết chết hai người:

Xin dâng một bó hoa tươi
Tám cánh loa kèn
Chín đóa cúc vàng
Sáu bông tulip trắng
Bốn nụ hồng đỏ
Tám-chín-sáu-bốn: ngày 4 tháng 6 năm 1989

Đó là cái ngày mà Đảng Cộng sản xưa nay cố gắng hết sức để xóa khỏi ký ức người dân.

Vào đêm ngày 3 rạng ngày 4 tháng 6, lãnh tụ tối cao của Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình, và một nhóm lãnh đạo cao cấp phát lệnh cho Quân đội Giải phóng Nhân dân đàn áp Bắc Kinh. Với mục đích bề ngoài là giải tán sinh viên biểu tình khỏi Quảng trường Thiên An Môn, đó thực ra là một cuộc phô trương vũ lực đẫm máu, một lời cảnh báo rằng chính quyền sẽ không chấp nhận việc công khai phản đối sự cai trị của họ. Đến thời điểm đó, các cuộc biểu tình đã lan đến hơn tám mươi thành phố trên khắp Trung Quốc, với hàng ngàn người biểu tình kêu gọi có một hình thức chế độ chính trị cởi mở hơn, dân chủ giúp chấm dứt nạn tham nhũng, đặc quyền, và sự tàn bạo của chế độ cai trị cộng sản.[i] Cuộc thảm sát ở Bắc Kinh và bạo lực do chính quyền chỉ đạo ở nhiều thành phố khác cũng là lời nhắc nhở rằng quyền lực của Đảng Cộng sản xuất phát từ nòng súng. Trong những thập niên tiếp theo nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ đáng kể, giúp hàng trăm triệu người thực sự giàu lên và có cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng đằng sau đó là một lời răn đe, một thông điệp nhắn nhủ rằng chính quyền sẵn sàng tàn sát một số bộ phận dân chúng nếu họ cư xử không phải phép.

Khi tôi trở lại Trung Quốc làm báo vào đầu những năm 1990, các sự kiện Thiên An Môn đã trở thành một tấn tuồng được trình diễn vào mỗi mùa xuân. Cứ đến gần ngày đó, những người bất đồng trên khắp Trung Quốc sẽ bị triệu tập, an ninh ở Bắc Kinh tăng gấp đôi, kiểm duyệt được siết chặt. Đó là một trong nhiều ngày nhạy cảm trong lịch cộng sản, những ngày ngầm cấm kỵ phản ánh nỗi sợ chủ yếu của bộ máy điều hành đất nước. Cứ như thể ngày 4 tháng 6, hay lục tứ trong tiếng Hoa, đã trở thành một ngày Thanh Minh mới, một ngày mà chính quyền xấu hổ khi phải thừa nhận là nó tồn tại. Hiện nay những vụ bắt bớ trong tháng 5 và tháng 6 đã bớt đi nhưng vẫn là một phần trong đời sống thường nhật của hàng trăm người trên khắp Trung Quốc, chẳng hạn như Từ Giác, mẹ của một nạn nhân Thiên An Môn.

Còn lại gì? Tác giả Christa Wolf dùng cụm từ này làm nhan đề cho một truyện vừa có bối cảnh ở Đông Berlin vào cuối thập niên 1970. Một phụ nữ nhận thấy mình bị theo dõi và cố gắng khắc ghi một ngày trong đời mình vào ký ức để bà có thể nhớ lại vào một thời điểm nào đó trong tương lai khi mọi việc được bàn luận tự do hơn. Đó là câu chuyện về sự uy hiếp và nỗi khát khao bị đè nén. Đây có phải là cách thích hợp để nghĩ về Thiên An Môn, xem nó như một hồi kịch đóng băng trong thời gian, chờ đến lúc được công nhận thực sự và có kết cục trong một tương lai mơ hồ nào đó?

HAI cuốn sách mới tìm hiểu các sự kiện Thiên An Môn từ góc nhìn này. Một cuốn có bối cảnh ở Trung Quốc và bàn về việc kiềm chế ký ức; cuốn kia có bối cảnh ở nước ngoài và bàn về việc gìn giữ ký ức. Cả hai cuốn đồng ý rằng ngày 4 tháng 6 là một thời điểm trọng đại trong lịch sử Trung Quốc đương đại, một bước ngoặt làm chấm dứt lý tưởng và sự thử nghiệm của thập niên 1980, và đưa đến một Trung Quốc siêu tư bản chủ nghĩa và siêu nhạy cảm của thời nay.

Cả hai cuốn sách không nhận là kể lại tường tận vụ thảm sát đó, hay những sự kiện dẫn đến vụ thảm sát. Câu chuyện lịch sử đó được kể lại trong cuốn Dẹp yên nhân dân: chuyện quân đội đàn áp phong trào dân chủ Bắc Kinh (Quelling the People: The Military Suppression of the Beijing Democracy Movement) của Timothy Brook, một sử gia được đào tạo kinh viện biết sử dụng khả năng phân tích và truy tìm dữ kiện để tìm hiểu vụ thảm sát này.[ii] Tuy cuốn sách của Brook không dẫn một số tác phẩm quan trọng xuất bản trong những năm 2000 (đặc biệt là hồi ký của tổng bí thư thời đó Triệu Tử Dương[iii] và tuyển tập những tài liệu [nhà nước] bị rò rỉ gọi là Hồ sơ Thiên An Môn [The Tiananmen Papers]), Dẹp yên nhân dân vẫn là cuốn sách sử hay nhất kể về những sự kiện ở Bắc Kinh. Lời kết của ông tóm  tắt phần lớn những gì được viết về sau:

Những sự kiện ban đầu ngày càng chìm sâu vào trạng thái quên lãng mà trong đó nhiều người, cả ngoại quốc lẫn Trung Quốc, muốn thấy chúng biến mất, khi một mối quan hệ mới và có lợi hơn với nền kinh tế thế giới bắt buộc thế hệ kế tiếp tránh lo ngại về nhân quyền.[iv]

Hai cuốn sách mới lấy bối cảnh thời kỳ hậu Thiên An Môn, tìm hiểu xem sự kiện Thiên An Môn đã góp phần định hình xã hội Trung Quốc ra sao, và có ảnh hưởng ra sao đối với một số nhân vật chủ yếu từng tham gia sự kiện đó và nay đang sống lưu vong.

Cuốn Cộng hòa Nhân dân Lãng quên: Nhìn lại Thiên An Môn của Louisa Lim có nhan đề tuyệt vời, cho thấy phần lớn những gì chúng ta xem là đương nhiên ở Trung Quốc ngày nay là do những nỗ lực quên hoặc vượt qua vụ thảm sát đó. Cuốn sách này là một loạt chân dung những người từng tham gia ở Thiên An Môn hoặc chịu ảnh hưởng của nó, trong đó có một số đã xuất hiện trong chương trình chuyên đề của Đài Phát thanh Quốc gia Mỹ (NPR) – tác giả làm phóng viên của NPR ở Bắc Kinh trong nhiều năm. Cấu trúc kể chuyện riêng rẽ của sách có một số nhược điểm, chủ yếu là ở đầu sách thiếu một phần kiến thức nền tảng hoàn chỉnh về vụ thảm sát – những diễn biến dẫn đến sự kiện, diễn ra như thế nào và tại sao.

Nhưng Lim mở đầu bằng một chương hữu ích tên là “Người lính”, mô tả cơ chế của vụ giết chóc, theo lời kể của một anh lính quèn thuộc đơn vị trong Quân đội Giải phóng Nhân dân được lệnh giải tán quảng trường. Ai cũng đã biết rằng quân đội không giải tán được quảng trường, trước tiên tập trung binh lính ở ngoại ô, rồi chỉ cố gắng nửa vời để tiến vào Bắc Kinh trong nhiều ngày liên tiếp khi các đám đông quần chúng nài nỉ và chọc ghẹo những người lính trẻ, bảo họ đừng nghe theo lời tuyên truyền của các chính ủy và quay lại doanh trại của họ. Cuối cùng, khi binh lính nhận được lệnh dứt khoát để ra tay, họ gây thương vong khủng khiếp cho dân thường, những thương vong mà ta có thể lý giải – tùy theo quan điểm của mỗi người – là do binh lính được huấn luyện kém, các thủ đoạn thô bạo của cấp trên, hoặc là một nỗ lực có chủ đích để bình định bằng khủng bố.

Lim phả hơi thở sinh động vào những kết luận tổng quát này thông qua nhân vật của mình, một thanh niên u mê, bị tẩy não thuộc một đơn vị bị lén lút đưa vào thành phố trên những phương tiện giao thông giả trang trông như xe buýt công cộng, trong khi các đơn vị khác đi bằng tàu điện ngầm. Đó là cách duy nhất để đơn vị của anh vượt qua được các chiến lũy dân sự và để nhanh chóng tuồn binh lính và vũ khí vào Đại Lễ đường Nhân dân, một trong những tòa nhà chính yếu trên quảng trường mà họ dùng làm nơi triển khai cuộc tấn công. Trong những ngày sau vụ thảm sát, chúng ta biết có chuyện còn đáng ngạc nhiên hơn – dân thường bắt đầu nhanh chóng đứng chung phía với binh lính, ít nhất là ở nơi công khai:

Anh không tin là sự trở mặt này xuất phát từ nỗi sợ, mà do ước nguyện sâu xa – thậm chí là điều cần thiết – muốn đứng chung phía với những người chiến thắng, bất luận tổn hại đến đâu: “Đó là một cơ chế tồn vong mà người dân ở Trung Quốc đã dần dần học được nhờ sống lâu dưới chế độ này. Để tồn tại, tất tần tật đều là tuân thủ thượng lệnh.”

Cuốn sách tiếp tục với những chương khác xây dựng xung quanh chân dung của nhiều nhân vật khác nhau. Chúng ta gặp một lãnh tụ sinh viên về sau thành một doanh nhân, một sinh viên đương đại tò mò nhưng cẩn trọng về quá khứ, một quan chức có đầu óc cải cách luôn bị chính quyền theo dõi, một lãnh tụ sinh viên sống lưu vong, người mẹ của một sinh viên đã chết, và một thanh niên có đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Mỗi nhân vật giúp Lim đưa ra các nhận định tổng quát hơn về việc chuyện lãng quên tổn hại ra sao đối với một người, và đối với một xã hội.

Trong chương về vị cựu quan chức, Bào Đồng (Bao Tong), Lim cũng sử dụng các hồi ký mới xuất bản để chất vấn các luận điểm chủ yếu về cách chúng ta hiểu các mưu toan chính trị nội bộ đã dẫn đến cuộc thảm sát. Cho đến nay, phần lớn các nhà quan sát giả định rằng sinh viên đã gây ra sự chia rẽ trong giới lãnh đạo, với Đặng Tiểu Bình đứng về phe cứng rắn chống lại Triệu Tử Dương, tổng bí thư có chủ trương cải cách và có phần thông cảm với sinh viên. Đây cũng là quan điểm của Bào Đồng cho đến khi ông đọc hồi ký của thủ tướng thời đó Lý Bằng, vốn cũng là một người có đường lối cứng rắn. Lý Bằng cho rằng từ trước đó khá lâu Đặng Tiểu Bình đã phật ý với các khuynh hướng tự do của Triệu Tử Dương. Khó mà biết được liệu cách lý giải này có đúng hay không, nhưng Lim đúng khi nhấn mạnh điều này, cho thấy ngay từ đầu Triệu Tử Dương đã sa cơ thất thế ra sao:

“Điều này chẳng liên quan gì đến sinh viên,” Bào Đồng nói với tôi. Ông tin rằng Đặng đã dùng sinh viên làm công cụ để phế truất người được chỉ định kế nhiệm ông. “Ông ta phải tìm ra được một lý do. Sinh viên càng đấu tranh mạnh mẽ, Đặng Tiểu Bình càng có lý do. Nếu sinh viên đều về nhà, Đặng Tiểu Bình chẳng có lý do gì.”

Điều này đặt ra câu hỏi được bàn luận nhiều trong một phần tư thế kỷ qua là liệu sinh viên có thể tránh bị thảm sát hay không nếu họ đã giải tán vài ngày trước khi hành động quân sự có vẻ trở thành tất yếu. Tuy nhiên, khi xem lại tư liệu, ta có cảm nhận rằng không chỉ sự thất sủng của Triệu Tử Dương mà cả vụ thảm sát cũng gần như là điều tất yếu. Đặng Tiểu Bình trước đó đã luôn phản đối bất cứ sự bất đồng chính trị nào và ông dường như quyết tâm dứt khoát phát đi một thông điệp rằng sự chống đối công khai sẽ không được dung thứ.

TUY nhiên, mối quan tâm lớn hơn của Lim là sự kiện Thiên An Môn có ý nghĩa ra sao trong xã hội ngày nay. Bà nhiều lần chứng minh rằng những người dưới bốn mươi tuổi biết rất ít về Thiên An Môn. Trong một chương, người sinh viên từng hoạt động nay thành doanh nhân thấy chẳng nghĩa lý gì đem chuyện Thiên An Môn nói với cô vợ trẻ của mình. “Lý do họ không thích nói về năm 1989 không phải là vì đó là một chủ đề nhạy cảm chính trị hoặc nó khiến họ thấy khó chịu. Chỉ đơn giản là nó chẳng nghĩa lý gì với họ.”

Điểm này được thể hiện mạnh hơn trong một chương về một sinh viên Trung Quốc đại lục mà Lim gặp tại một cuộc triển lãm về vụ thảm sát này ở Hong Kong (ở đó một bảo tàng chuyên về Thiên An Môn vừa mở cửa). Bà thấy chàng trai này, tên là “Feel” vì anh có “cảm nhận đặc biệt” về tiếng Anh, rất tất bật và háo hức muốn biết nhiều hơn. Nhưng về sau khi bà đến thăm anh tại trường ở Trung Quốc, anh trầm ngâm và cẩn thận, biết càng ít càng tốt về chuyện đã xảy ra và tuân theo các chuẩn mực xã hội yêu cầu phải phớt lờ chuyện đó. Lim giải thích sự nói dối và ngờ vực phổ biến trong giới trẻ bằng cách trích dẫn một phát biểu của người đoạt giải Nobel Hòa bình Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo) nói rằng Trung Quốc đã bước vào một thời đại “trong đó người ta chẳng còn tin vào bất cứ điều gì và trong đó lời nói của họ không đi đôi với hành động, vì họ nói điều này nhưng lại có nghĩa khác.”

Một trong những điểm quan trọng nhất của Lim là Thiên An Môn khiến bạo lực trở thành điều có thể chấp nhận trong thời kỳ cải cách hiện nay. Sau bạo lực của thời kỳ Mao Trạch Đông, người ta đã hy vọng rằng các bất đồng xã hội sẽ không được giải quyết bằng vũ lực – rằng sẽ không còn Hồng Vệ binh lục soát nhà để lùng bắt các kẻ thù có thật cũng như tưởng tượng, hay sử dụng đại trà các trại lao động. Và tuy nhiều loại bạo lực trong những hình thức bạo lực tàn khốc này đã được hạn chế, Đảng thường xuyên dùng vũ lực chống lại những người phản đối mình, khám xét và giam giữ một cách phi pháp những người chỉ trích. Biểu tình chưa chấm dứt. Dù nhà nước liên tục nói về sự hài hòa xã hội và chi tiêu nhiều cho “việc duy trì ổn định” hơn cho các lực lượng vũ trang, Trung Quốc còn đầy rẫy hàng chục ngàn cuộc biểu tình quy mô nhỏ mỗi năm, “các tiểu Thiên An Môn” như lời của Bào Đồng nói với bà. Có khi là biểu tình vô thưởng vô phạt của người lao động về hưu đòi lương hưu, nhưng có khi là biểu tình của những người cố giữ không để nhà của mình bị cướp đi, và họ bị trừng phạt bằng các cuộc tấn công bạo lực của bọn côn đồ nhà nước hoặc bằng các màn hạ sát phi pháp của bọn công an trật tự đô thịthành quản [cách gọi tắt của Sở Quản lý Hành chính và Chấp pháp Thành thị, N.D.]

Lim kể chuyện sinh động và rõ ràng. Bà nhanh nhẹn chuyển đổi qua lại giữa chuyện kể của các nhân vật và các chiêm nghiệm tổng quát, điểm xuyết cả hai bằng các tình tiết ngắn, cay nghiệt, ví như chuyện một nghệ sĩ cắt đứt một phần ngón tay để phản đối vụ thảm sát, nhưng nay thấy ông không thể giải thích lý do với đứa con trai mười hai tuổi. Rõ ràng Lim đã suy nghĩ và quan tâm rất nhiều về sự kiện Thiên An Môn, và bà chấp nhận rủi ro lớn khi viết cuốn sách này; nếu ta lấy lịch sử làm căn cứ, cuốn sách này có thể khiến bà khó trở lại Trung Quốc, ở đó chính quyền có danh sách đen gồm những học giả và ký giả có tác phẩm đụng đến các chủ đề nhạy cảm. Bởi vậy cuốn sách của bà đầy can đảm, nghiên cứu một trong những vết thương đau đớn nhất của Đảng Cộng sản.

Chương cuối của Lim là một trong những chương đáng đọc nhất, nhưng cũng cho thấy một số trở ngại của cuốn sách này. Thay vì phác họa chân dung một nhân vật, bà kể lại vụ đàn áp người biểu tình ở Thành Đô, một thành phố lớn ở miền tây nam và là trung tâm tri thức quan trọng thứ nhì của Trung Quốc. Lim đào xới các công điện của Bộ Ngoại giao Mỹ và qua phỏng vấn nghe các nhân chứng kể về sự đàn áp hết sức bạo lực các cuộc biểu tình ở đó. Đây là một chương đọc đến sợ, viết đầy cao hứng.

Tuy nhiên, đôi khi Lim hơi gấp gáp khi mô tả các phát hiện mới mẻ của mình. Các tác giả khác đã đưa ra luận điểm tổng quát cho rằng điều đã xảy ra vào năm 1989 là một phong trào trên toàn quốc, nhất là trong cuốn The Pro-Democracy Protests in China: Reports from the Provinces (Biểu tình đòi dân chủ ở Trung Quốc: Tường thuật từ các tỉnh,xuất bản năm 1991), do Jonathan Unger chủ biên. Về các sự kiện ở Thành Đô, các tác giả đã bàn về chúng, nhất là nhà văn Liệu Diệc Vũ.[v] Lim đáng được khen vì đã kể lại các sự kiện dưới một hình thức hoàn chỉnh hơn, và vì đã tìm ra rất nhiều thông tin mới. Nhưng việc người ngoài cuộc thường xem sự kiện ngày 4 tháng 6 chỉ là chuyện ở Bắc Kinh chủ yếu phản ánh sự thật là các sự kiện trên toàn quốc năm 1989 vẫn chưa được đề cập trọn vẹn trong một cuốn sách. Có lẽ điều này cho thấy nhiều về sự thiển cận và tủn mủn của các nghiên cứu học thuật hiện đại hơn là về chủ đề chính “sự lãng quên” của Lim.

ROWENA He [Hà Tiểu Thanh] cũng đưa bức tranh vượt ra khỏi ranh giới Bắc Kinh trong câu chuyện cảm động và rất riêng tư về cuộc đời của một người di cư chính trị, Những người lưu vong Thiên An Môn: Những tiếng nói của cuộc đấu tranh đòi dân chủ ở Trung Quốc.[vi] Nay là một giảng viên dạy một môn học nổi tiếng về Thiên An Môn cấp đại học tại Harvard, Hà Tiểu Thanh chỉ mới là học sinh trung học trong đợt biểu tình năm đó. Song bà vẫn hăng hái tham gia các cuộc biểu tình ở Quảng Châu, quê của bà tại miền nam Trung Quốc, bà xuống đường dù cha mẹ cảm thấy bất an. Sau khi các cuộc biểu tình bị dẹp tan ở đó, bà ngoan ngoãn học thuộc lòng luận điệu tuyên truyền của chính quyền để có thể thi đỗ đại học, tốt nghiệp, và cuối cùng kiếm được một việc làm tốt trong thời kỳ kinh tế Trung Quốc bắt đầu bùng nổ.

Tuy nhiên, trong thâm tâm bà không thể quên được các cuộc biểu tình. Rốt cuộc, bà khiến gia đình và bạn bè ngạc nhiên khi nghỉ việc để sang Canada học cao học. Bà chọn chuyên ngành giáo dục với suy nghĩ rằng giáo dục có ý nghĩa quan trọng để tránh một sự kiện Thiên An Môn khác. Bà cũng bắt đầu kể chuyện lịch sử về cuộc nổi dậy này.

Cuốn sách của bà được viết theo truyền thống nghiên cứu tự sự học thuật đương đại, qua đó bà kể chuyện của chính mình theo cách giúp nhấn mạnh quan điểm của mình. Chúng ta biết về quãng đời bà lớn lên trong Cách mạng Văn hóa, những khó khăn gia đình bà gặp phải, và chuyện lý tưởng của cha bà đã bị đập tan ra sao trong thời Mao Trạch Đông. Bà theo mẹ rong ruổi với một gánh hát, và đi đi lại lại giữa thành thị và nông thôn trong khi cha mẹ bà phải chật vật thích nghi với những chiều hướng chính trị của thời kỳ đó. Tất cả những chi tiết này giúp chúng ta hiểu cảm giác bị mắc bẫy mà thế hệ Thiên An Môn cảm nhận khi lớn lên trong thời Mao Trạch Đông, và nỗi khát khao xuất phát từ cảm giác đó được thoát ra và đi theo phong trào năm 1989.

Chuyện của chính tác giả được cân đối bằng ba câu chuyện khác của các nhân vật nổi tiếng tham gia biểu tình: các lãnh tụ sinh viên Dịch Đan Hiên (Yi Danxuan), Thẩm Đồng (Shen Tong), và Vương Đan (Wang Dan). Những lời hỏi đáp của bà được điểm xuyết bằng các phần mở ngoặc chú thích các câu trả lời, những lúc im lặng, và tâm trạng của những người nói chuyện với bà.

Dù chuyện của Thẩm Đồng và Vương Đan đã được khá nhiều người biết, những câu hỏi thăm dò nhẹ nhàng và các hiểu biết sâu sắc về tâm lý giúp chúng ta hiểu cái lý tưởng đôi khi vị kỷ của những nhân vật này, những người lao mình vào phong trào sinh viên mặc cho cha mẹ nài nỉ đừng tham gia. Như Dịch Đan Hiên kể với tác giả:

Bạn bè và tôi chẳng bao giờ nghĩ rằng chính quyền sẽ ra lệnh cho quân đội nổ súng dù ngay từ đầu cha tôi đã nói là sẽ có chuyện đó. Đúng là chúng tôi chẳng hiểu rõ bản chất của chế độ này.

Những nhân vật trong sách của Rowena He có thể được xem là những kẻ thất bại. Thua cuộc, họ buộc phải sống ở nước ngoài, nơi họ luôn ở trong tâm trạng ngờ vực và bất an – cũng chẳng đáng ngạc nhiên nếu biết rằng chính quyền tiếp tục tìm cách lẻn vào máy vi tính của họ và theo dõi nhất cử nhất động của họ. Cho dù họ đã tạo dựng cuộc sống có ích cho chính mình trong môi trường kinh doanh hay học thuật, theo cách viết của tác giả,

xét về nhiều mặt Thiên An Môn là một bi kịch vẫn tiếp diễn vì các nạn nhân không còn được xem là nạn nhân, còn bọn thủ ác không còn được xem là kẻ thủ ác. Thay vì thế, kẻ thủ ác đã trở thành người thắng cuộc trong bối cảnh một “Trung Quốc vươn lên”.

Nhưng Rowena He có những mối quan tâm sâu xa hơn là chỉ tính ai thắng ai bại. Thay vì thế, bà cố hình dung chuyện gì xảy ra khi điều ta yêu quý bị tiêu diệt. Nó có thật sự chết đi hay vẫn sống dưới những dạng khác? Phải chăng ký ức của những người lưu vong không giá trị bằng hiện thực của một chế độ quả đầu chính trị và kinh tế mà lâu nay đã xóa sạch lý tưởng của một thế hệ trước? Tầm nhìn nào có khả năng tồn tại lâu dài hơn?

Với tôi, nghiên cứu là một trải nghiệm về không gian và thời gian, một mối liên kết giữa nơi này và chốn kia, giữa quá khứ và tương lai, với chúng ta sống ở hiện tại, cố gắng biến các giấc mơ cũ thành hiện thực. Cội rễ luôn còn đó, nhưng các giấc mơ của ta có thể chết đi. Tôi hy vọng cuốn sách này sẽ giữ cho các giấc mơ đó còn sống mãi – không chỉ những giấc mơ của chính tôi mà cả các giấc mơ của những người khác.

Thảng hoặc, cuốn sách của Rowena He lãng mạn thái quá và chú trọng quá nhiều vào trải nghiệm của các sinh viên để xem đó là tiêu biểu của toàn phong trào đấu tranh này – hàng ngàn người lao động cũng đã tham gia, và hầu như chẳng được nhắc đến. Nhưng tôi thấy cuốn sách này lý giải đầy thuyết phục và rất hay về một trải nghiệm quan trọng trong đời sống Trung Quốc đương đại. Ta không nên quên rằng, vì sự kiện Thiên An Môn, một số trí thức thuộc hàng vĩ đại nhất của Trung Quốc ở cuối thế kỷ hai mươi đã chết ở xứ người. Phương Lệ Chi (Fang Lizhi), Lưu Tân Nhạn (Liu Binyan), và Vương Nhược Vọng (Wang Ruowang) nằm trong số những người nổi tiếng nhất. (Phương Lệ Chi và Lưu Tân Nhạn từng cộng tác với The New York Review).

Về mặt này, phong trào lưu vong của Trung Quốc tương đồng với các cộng đồng lưu vong lớn ở Châu Âu trong thế kỷ 20: người Ba Lan ở London, người Nga ở Paris, sự lẩn tránh và ngờ vực của các sắc dân thiểu số Đông Âu và Xô-viết ở Munich thời chiến tranh lạnh. Họ đôi khi bị chế nhạo và chỉ còn làm phông trong các tiểu thuyết gián điệp, nhưng họ cũng có phẩm giá của mình và thành tựu lớn lao, mặc dù họ hầu như không được biết đến nhiều ở quê hương sau khi Bức màn sắt sụp đổ.

SỐNG ở Trung Quốc ngày nay, người ta nhận ra rằng nhà nhà người người lãng quên và lưu vong là chuyện phổ biến, nhưng cũng phổ biến không kém là ý nghĩ cho rằng các sự kiện Thiên An Môn vẫn còn có ý nghĩa – rằng chúng tiếp tục hiện diện, không chỉ theo nghĩa tiêu cực về việc gây ra trấn áp và kiểm duyệt, mà còn theo nhiều cách tích cực. Tôi được nhắc về các phóng viên của tờ New York Times Nicholas Kristof và Sheryl WuDunn; họ đã đặt nhan đề cho cuốn sách bán chạy trong những năm 1990 của họ về thời kỳ đó là China Wakes (Trung Quốc thức tỉnh). Ngày nay, một cuốn sách như vậy có lẽ sẽ bàn về GDP, sự di cư của nông dân [lên thành thị], và các hàng không mẫu hạm, nhưng các tác giả thiên tài ở chỗ cũng bàn đến Thiên An Môn, không chỉ như là một bối cảnh cho tăng trưởng kinh tế – trong đó lý thuyết cho rằng sự cất cánh kinh tế, về căn bản, là sự đền bù cho trấn áp chính trị – mà còn là một sự thức tỉnh nói chung của người Trung Quốc, cho dù các khía cạnh chính trị của sự thức tỉnh đó đã bị lu mờ trước sự phát triển kinh tế trong một phần tư thế kỷ qua.

Nếu điều này nghe có vẻ ngây thơ, hãy nhớ là gần đúng một thập niên sau Thiên An Môn, mười ngàn người biểu tình lặng lẽ bao vây khu đầu não lãnh đạo Trung Nam Hải của Đảng Cộng sản ở Bắc Kinh, đòi cho Pháp Luân Công được hợp pháp hóa. Phải chăng họ đã không nhận ra thông điệp tàn bạo của chính quyền, hay họ đang ở một mức độ tiềm thức nào đó được khích lệ bởi một ý thức đang gia tăng của dân thường – một ý thức cảm nhận rằng họ cũng có quyền?

Những người biểu tình Pháp Luân Công bị đàn áp dữ dội, trong đó có tra tấn, và hiện nay phần lớn người dân thận trọng hơn về việc kêu gọi thay đổi. Nhưng khi nói chuyện với các trí thức, nhà hoạt động, giáo viên, mục sư, cha xứ, và nhà đấu tranh vì môi trường trong những năm qua, tôi đã nhận thấy rằng hầu như tất cả đều nói rằng Thiên An Môn là một thời điểm hệ trọng trong đời họ, giây phút mà họ thức tỉnh và nhận ra rằng xã hội cần được cải thiện. Ví dụ, không thể nào trùng hợp ngẫu nhiên mà nhiều lãnh tụ Tin Lành quan trọng ở Trung Quốc bàn về Thiên An Môn theo chiều hướng này, hoặc hàng ngàn cựu sinh viên – không phải những lãnh tụ nổi tiếng đang lưu vong hay ở tù, mà là những người tràn ngập các quảng trường và đường phố ở các thành phố Trung Quốc cách đây hai mươi lăm năm – đang lặng lẽ đấu tranh cho các quyền hợp pháp và vận động cho các vấn đề môi trường.

Đúng là nhiều người trong số này đã ít nhất bốn mươi tuổi, và ta có thể có băn khoăn hợp lý, như tác giả Lim, về thế hệ sắp đến, thế hệ mà lý tưởng của họ có thể nghe ấu trĩ hoặc không liên quan. Nhưng những người theo đuổi lý tưởng chỉ chiếm thiểu số trong bất cứ xã hội nào. Thói ngờ vực cay nghiệt và thói chuộng vật chất là rất đáng lo ngại, nhưng chính người Trung Quốc – kể cả giới trẻ – hàng ngày vẫn bàn về sự hiện diện và mối nguy của chúng khi trao đổi trực tiếp với nhau hoặc khi thảo luận trên mạng.

Cũng không kém phần mãnh liệt là nỗi khát khao phổ biến về một điều gì khác – một cuộc tìm kiếm các giá trị và ý nghĩa sâu sắc cho cuộc sống. Có người Trung Quốc tìm được điều này trong sinh hoạt tôn giáo, nên tôn giáo có tổ chức liên tục phát triển mạnh. Nhưng nhiều người cũng tích cực theo những cách khác. Có người đang hồi sinh và tái tạo các truyền thống, hoặc chiêm nghiệm câu hỏi từ ngàn xưa của người Trung Quốc là làm sao để sống không chỉ một kiếp bình thường gồm lao động, kết hôn và tạo dựng gia đình, mà còn là một cuộc đời có đạo đức. Quả là sẽ quá nông cạn nếu ta quy kết mối quan ngại này chỉ là do Thiên An Môn, nhưng một phần của cái động lực nhân văn này chắc chắn có cội nguồn từ lý tưởng vô tận của thời kỳ đó. Có lẽ đây là một cách khác, ít mô phạm hơn để nhìn về Thiên An Môn: xem đó là một sự hy sinh, không chủ tâm và không ai muốn, đã giúp định hình một thời kỳ mới.

Đây chắc chắn là cách nhìn của Rowena He. Sau vụ thảm sát, bà trở lại trường trung học, ngang ngạnh mang băng đen tưởng niệm người đã khuất. Thầy cô buộc bà phải tháo băng đen, và bà đã khóc đầy cay đắng, nghĩ rằng giấc mơ đã chấm dứt:

Khi tôi bị buộc phải tháo băng đen năm 1989, tôi nghĩ rằng mọi việc xem như đã chấm dứt. Các thi thể đã bị nghiền nát, những cuộc đời đã bị hủy hoại, các tiếng nói đã bị dập tắt. Họ có súng, nhà tù, và các cỗ máy tuyên truyền. Chúng tôi chẳng có gì cả. Song, bằng cách nào đó chính vào ngày 4 tháng 6 các hạt giống dân chủ đã được gieo trong tim tôi, và nỗi khát khao tự do và nhân quyền đã ấp ủ. Như vậy hóa ra đó không phải là một sự kết thúc, mà là một sự khởi đầu khác.

 __________

Ảnh 1: Binh lính Trung Quốc quan sát cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn vào tháng 5 năm 1989 trước khi quân đội được lệnh tấn công. (Ảnh: Ken Jarecke/Contact Press Images)

Ảnh 2: Dựng tượng Nữ thần Dân chủ, Quảng trường Thiên An Môn, tháng 5 năm 1989 (Ảnh: Alon Reininger/Contact Press Images)

Nguồn: Ian Johnson, The Ghosts of Tiananmen Square, The New York Review of Books, số ra ngày 5/6/2014

Bản tiếng Việt © 2014 Phạm Vũ Lửa Hạ & pro&contra

Phạm Vũ Lửa Hạ dịch


[i] Số thành phố có biểu tình được nêu rõ trong một triển lãm sau vụ thảm sát ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự ở Bắc Kinh và được James Miles trích dẫn trong The Legacy of Tiananmen: China in Disarray [Di sản của Thiên An Môn: Trung Quốc hỗn loạn] (University of Michigan Press, 1996).

[ii] Độc giả cũng nên lưu ý tác phẩm của Ngô Nhân Hoa, một người tham gia biểu tình ở Thiên An Môn và tác giả của hai tác phẩm bằng tiếng Hoa, cùng với một cuốn sách sắp xuất bản của Jeremy Brown thuộc Đại học Simon Fraser. Cảm ơn Perry Link đã nhắc đến các tác phẩm này.

[iii] Được Jonathan Mirsky điểm trên tạp chí The New York Review of Books, ngày 2/7/2009.

[iv] Stanford University Press, 1998, trang 218. Cuốn sách này được xuất bản lần đầu vào năm 1992. Ấn bản năm 1998 có thêm lời bạt, và câu này được trích dẫn từ đó.

[v] For a Song and a Hundred Songs: A Poet’s Journey Through a Chinese Prison (Vì một bài hát và một trăm bài hát: Hành trình của một nhà thơ qua một nhà tù Trung Quốc), nhà xuất bản Houghton Mifflin Harcourt, năm 2013, được Perry Link điểm trên tạp chí The New York Review of Books ngày 24/10/2013. [Chú thích của người dịch: độc giả có thể đọc một bài khác của Ian Buruma điểm cuốn sách này trên tạp chíThe New Yorker ngày 1/7/2013; xem bản dịch tiếng Việt Ngục tù của trí tuệ.]

[vi] Độc giả có thể đọc một phiên bản của lời giới thiệu do Perry Link viết cho cuốn sách này đăng trên NYRblog ngày 31/3/2014 với nhan đềChina After Tiananmen: Money, Yes; Ideas, No (Trung Quốc sau Thiên An Môn: tiền thì được, tư tưởng thì cấm). [Chú thích của người dịch: một phiên bản khác dài hơn của cùng tác giả Perry Link có nhan đề “The Specter of June Fourth” đăng trên trang China File ngày 20/4/2014; xem bản dịch tiếng Việt Bóng ma Lục Tứ.]

Mời các bạn ghé blog của Phạm Vũ Lửa Hạ đọc nha. 

Chuyến đi cầu viện 1950 

Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping) đang quàng vai bá cổ đồng chí HCM.

 

Đặng Tiểu Bình trong chiến tranh biên giới Việt Trung

>>>Lãnh đạo CSVN ở đâu trong ngày quân Trung Quốc tràn qua biên giới? 17-2- 1979…thì ra, các đỉnh cao trí tuệ của loài người đang bận chia chác tiền của, nhà cửa, đất đai  trong cuộc đánh tư sản X3 ở Sài Gòn 1978, nên không hề hay biết rằng: 300-600 ngàn quân TQ đã mất 6 tháng- 8 tháng chuẩn bị để áp tới biên giới  Việt Trung. 

Chiến dịch X-3: đánh tư sản thương nghiệp 1978 «  do Đỗ Mười lãnh đạo. ..

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

►Thủ đoạn mập mờ

Posted by hoangtran204 trên 02/06/2014

30-5-2014

Ngô Nhân Dụng

cong-ham-ban-nuoc-1958-cua-Pham-van-Dong-sm

Một bạn đọc, ký tên Dang Nguyen , đã góp ý kiến về bức công hàm Phạm Văn Ðồng 1958 như sau: “Ðiểm khác biệt cần làm rõ là chế độ chính trị ở hai miền Nam-Bắc và cả hai đều được quốc tế công nhận là hai nước. Vì thế, nó không như lập luận của tác giả (Ngô Nhân Dụng) rằng ông Phạm Văn Ðồng nhân danh nước Việt nam – có lãnh thổ từ ải Nam Quan đến Cà Mau. Sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị là hai khái niệm riêng biệt – trong thời điểm lịch sử của Việt Nam.” Một độc giả khác, ký tên Tran, nhận xét: “Bức công hàm của Phạm Văn Ðồng làm người đọc cảm thấy không rõ ràng, mập mờ khó hiểu, nhất là không đề cập gì tới Hoàng Sa và Trường Sa…”

Trong bài trước, ký giả không bàn đến dư luận hay ý kiến của thế giới đối với bức công hàm Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Tranh chấp pháp lý về chủ quyền lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa trên ý nghĩa bức công hàm đó trong tương quan giữa hai đảng cộng sản, và giữa hai quốc gia do họ đang cai trị vào thời điểm họ trao đổi văn thư này.

Về điểm thứ nhất, vào năm 1958, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tự coi họ làm làm chủ cả hai miền Nam, Bắc (hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng theo quan niệm này). Trong việc giao thiệp giữa hai bên, Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) chấp nhận quan điểm này của Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng). Trung Cộng chỉ lập bang giao với miền Bắc. Họ không công nhận chính quyền miền Nam, dù trong thời gian Hội Nghị Genève 1954, Chu Ân Lai đã tỏ ra muốn bắt cá hai tay, chính phủ Ngô Ðình Diệm từ chối.

Vì vậy, khi Phạm Văn Ðồng viết cho Chu Ân Lai, ông ta nhân danh toàn thể nước Việt Nam, không riêng miền Bắc. Bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam muốn “nói lại,” rằng ông Ðồng không thể đem tặng Trung Cộng những quần đảo mà ông ta không có quyền quản lý, lý luận này không thể đứng vững vì mâu thuẫn với điều Việt Cộng chủ trương năm 1958.

Chúng tôi đồng ý với vị độc giả ký tên Tran, là văn thư của Phạm Văn Ðồng có vẻ mập mờ, tính chất mập mờ này chắc là do cố ý. Ðúng là bức công hàm không nhắc đến tên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa). Tuy nhiên, bản văn đã viết rằng: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Nói như vậy tức là tán thành cả văn bản lẫn ý nghĩa tổng quát trong bản tuyên bố của Trung Cộng. Mà trong bản tuyên bố đó, Bắc Kinh nêu rõ ràng tên các quần đảo trên như thuộc quyền của họ. Tán thành bản tuyên bố tức là đồng ý họ làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, không thể nào chối bỏ hay giải thích đã hiểu lầm được.

Trong bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Bắc Kinh đoạn mang số một nói rõ ràng là các hòn đảo và chu vi quanh các đảo Ðài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa, đều thuộc Trung Quốc.

Văn thư của Phạm Văn Ðồng viết mập mờ, không nói gì đến những tên Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng nội dung cả bức thư viết rõ ràng là chính quyền Cộng Sản Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên các quần đảo này. Phạm Văn Ðồng còn viết rằng chính phủ ông ta “tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Bây giờ, những người thừa kế Phạm Văn Ðồng tìm cách giải thích bằng cách dẫn chứng riêng một đoạn “tôn trọng hải phận 12 hải lý,” để nói rằng bức thư trên chỉ nói về chủ quyền 12 hải lý do Bắc Kinh nêu ra thôi, chứ không đồng ý Hoàng Sa hay Trường Sa thuộc Trung Quốc. Nhưng nói như vậy chỉ là cắt lấy một đoạn nói về một vấn đề kỹ thuật (hải phận 12 dặm biển chứ không phải 14, 15 hoặc 120 dặm). Trung Cộng sẽ nhắc Việt Cộng không nên “đoạn chương thủ nghĩa,” chỉ cắt một câu mà bỏ quên những câu quan trọng hơn trong văn thư của Phạm Văn Ðồng. Họ sẽ vạch ra ông Ðồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958;” mà nội dung đầy đủ như đã nêu trên. Không những thế, ông Ðồng nói sẽ ra lệnh cấp dưới “tôn trọng quyết định ấy,” “trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.”

Viết những chữ “trong mọi quan hệ … trên mặt bể” này là ký một “văn tự bán nước.” Bây giờ, Trung Cộng ngang nhiên đem giàn khoan HD-981vào hải phận nước ta, họ nói chỉ là thể hiện câu văn “tôn trọng quyết định ấy … trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Tóm lại, Việt Cộng không thể nào “cãi chày, cãi cối với Trung Cộng về bức công hàm năm 1958 được, dù Phạm Văn Ðồng đã cố ý viết một cách mập mờ.

Mập mờ là một thủ đoạn chính trị, đã được các đảng cộng sản sử dụng triệt để, nhất là khi nói với dân. Một câu nói mập mờ được ghi vào lịch sử là câu viết trong lời kêu gọi các cựu sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hòa đi trình diện “học tập cải tạo;” trong đó mập mờ nói rằng họ hãy đem theo đồ dùng cá nhân và lương thực “đủ trong 30 ngày.” Nghe vậy, ai cũng tưởng thời gian “cải tạo” chỉ kéo dài 30 ngày là dài nhất. Mấy trăm ngàn người đã bị mắc lừa vì câu nói mập mờ này. Nhưng trong nghề nói mập mờ thì Việt Cộng chỉ là học trò của Trung Cộng.

Trong điều kiện nào thì thủ đoạn nói mập mờ sẽ thành công? Khi kẻ nói mập mờ cũng là kẻ nắm dao đằng chuôi. Một câu mập mờ, nước đôi hay nước ba, có thể giải thích bằng nhiều lối khác nhau. Khi đó, anh nào đeo khẩu súng to hoặc nắm còng số 8 trong tay, anh ấy sẽ bắt anh yếu phải chấp nhận nghe theo lối giải thích của mình.

Năm 1975, 76, các tù binh “cải tạo” đã vào trong hàng rào kẽm gai rồi thì không thể đòi hỏi Việt Cộng hiểu câu “đủ trong 30 ngày” theo lối mình, hiểu rằng chỉ đi tù 30 ngày. Năm 2014 bây giờ Việt Cộng cũng không thể bắt Trung Cộng hiểu bức thư của Phạm Văn Ðồng không nói đến tên Hoàng Sa, Trường Sa tức là không dâng cùng Hoảng Sa, Trường Sa cho Bắc Kinh. Họ quên rằng trong các thủ đoạn lưu manh thì Trung Cộng vẫn chỉ là thày của Việt Cộng. Học được thói nói năng mập mờ, đem áp dụng để đánh lừa dân chúng trong nước mình thì dễ. Nhưng không thể đánh lừa cả tên “đồng chí anh em” đã dạy trò gian trá đó cho mình; trong khi nó viện trợ cho từng cây kim, từng hạt gạo, và súng, đạn, mìn, bẫy, để theo đuổi cuộc chiến tranh “chống Mỹ tới người Việt cuối cùng!”

Trong việc bang giao, khi nào thì người ta hay dùng thủ đoạn nói mập mờ? Thường người ta nói với nhau những điều không rõ ràng khi cả hai bên đều bị kẹt, không ai muốn nhường ai nhưng không ai muốn quyết liệt nói thẳng. Người lãnh đạo nhiều nước vẫn hay nói mập mờ để đánh lừa người nước khác. Chúng ta vẫn còn nhớ đặc sứ của ông Richard Nixon khi dụ chính phủ miền Nam tham dự hội nghị Paris đã hứa hẹn những gì với ông Nguyễn Văn Thiệu. Trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa thời đó, ai cũng biết bên nào mạnh hơn, có khả năng để nói mập mờ, sau thành tráo trở. Ngày nay, ông Karzai, tổng thống Afghanistan chọn một cách đối xử khác đối với chính phủ Mỹ. Ông đòi hỏi các thỏa thuận phải viết theo ý của mình, viết rõ ràng, không thể hiểu lầm được. Ðịa vị của ông Karzai, đối với chính phủ Mỹ, cũng không mạnh hơn bao nhiêu so với ông Nguyễn Văn Thiệu thời 1970, hoặc ông Phạm Văn Ðồng đối với Trung Cộng vào năm 1958.
Nhưng tại sao Karzai dám tỏ thái độ cứng rắn như vậy? Bởi vì ông ta không sợ, và tin rằng việc ông làm mang lại lợi ích cho dân ông. Tại sao chính phủ Mỹ phải chiều theo ý ông Karzai và người lên kế nhiệm ông?

Vì chính quyền Mỹ phải hành sử theo cung cách một chế độ tự do dân chủ, với lối sống dựa trên tính chất minh bạch, công khai. Sau thời ông Nixon, Quốc Hội Mỹ đã làm nhiều thứ luật hạn chế quyền quyết định của các vị tổng thống; trong đó có những quyền thương thuyết và thỏa hiệp trong vòng bí mật. Ở các nước khác, dù họ không làm ra những đạo luật bắt người cầm quyền phải làm mọi việc công khai, nhưng dư luận dân chúng, báo chí, các nhà chính trị đối lập, cũng có giá trị ngăn cản hoặc ràng buộc như những đạo luật.

Cũng vậy, chính quyền các nước dân chủ tự do rất khó dùng lối nói mập mờ đối với người dân của họ. Chúng ta có thể thông cảm rằng con người hay tránh không nói thẳng, không nói rõ ràng, nếu không bị bắt buộc. Vì người ta muốn tránh không quả quyết nói về bổn phận, trách nhiệm của mình đối với người khác cho rõ ràng; vì làm thế là bị ràng buộc. Các nhà chính trị trên thế giới đều thực hành câu tục ngữ của người Việt: “Làm trai cứ nước hai mà nói.”

Cho nên, trong chế độ tự do dân chủ các đại biểu của người dân phải làm ra những luật lệ bắt buộc bên hành pháp phải nói rõ ràng, chính sách của nhà nước thì không được mập mờ. Người ta tự nhiên làm như vậy vì những người nắm quyền, hành pháp cũng như lập pháp đều chịu trách nhiệm trước dân, do dân cử ra bằng lá phiếu tự do.

Ngược lại, thủ đoạn nói mập mờ chuyên được đem áp dụng trong các chế độ độc tài chuyên chế. Kẻ cầm quyền nói nước đôi, nước ba, rồi đến lúc cần đem giải thích theo một ý nghĩa phù hợp với quyền lợi của phe đảng họ nhất. Bọn lãnh tụ độc tài chuyên chế quen thói đánh lừa dân như thế mãi cũng được; vì họ có còng số tám. Nhưng khi tính đem áp dụng mưu mẹo lừa bịp đó với những kẻ mạnh hơn mình thì cuối cùng chỉ thiệt. Thiệt hại cho riêng họ không nói làm gì, họ còn gây tai hại cho cả nước Việt Nam nữa!

Theo Người Việt

 

Tài liệu Mật: Bản Tuyên Bố của Chu Ân Lai 4-9-1958- TT

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »