Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu 24th, 2014

►Thoát Cộng, thoát Trung và Thoát chết

Posted by hoangtran204 trên 24/06/2014

Iris Vinh Hayes, Ph.D.
thep-mau.jpgQuỹ thời gian của Việt Nam đã cạn. Việt Nam đã tới tận đầu cuối của sợi dây đu chính trị và an ninh quốc gia. Ở thời khắc lịch sử này Việt Nam chỉ có hai sự chọn lựa dứt khoát: “Death by China” hoặc là “Re-birth by US-Japan”.

Nếu như ĐCSVN và những người đang cầm nắm quyền lực điều hành đất nước kiên định thà là cho Việt Nam “chết bởi tay Trung Cộng” để bảo vệ ĐCSVN và tư lợi của riêng mình thì vận mệnh Việt Nam chắc chắn sẽ bi đát.

Tuy nhiên, toàn dân Việt, dầu là đang ở nơi nào trên mặt đất này, cũng không để cho đất nước mình “chết bởi bàn tay Trung Cộng” một cách thầm lặng. Đặc biệt là nhân dân quốc nội chắc chắn sẽ “tính toán sòng phẳng và trọn gói” với ĐCSVN. Một khi đã không thể kềm hãm được sự phẫn nộ, nhân dân trước hết có thể sẽ dùng máu của ĐCSVN để đáp trả bọn xâm lăng Trung Cộng và để rửa sạch trang sử ô nhục của dân tộc.

Không, tôi chưa từng chủ trương bạo động. Cũng không cổ xúy bạo động. Chỉ là dự cảm không lành cho một “bất hạnh lớn” đang lù lù tiến tới. Hy vọng là những người Việt chân chính đang là đảng viên trong hàng ngũ ĐCSVN kịp thời từ bỏ tổ chức bán nước hại dân này mà quay về với đại thể dân tộc. Hy vọng là những người Việt chân chính đang là quân nhân trong hàng ngũ QĐNDVN kịp thời từ bỏ Tổ Quốc XHCN của tổ chức bán nước hại dân này mà quay về bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam. Hy vọng là những người Việt chân chính đang là cán bộ trong hàng ngũ CANDVN kịp thời từ bỏ thái độ “còn đảng còn mình” ngu trung với tổ chức bán nước hại dân này mà quay về bảo vệ an ninh cho công dân Việt Nam. Đừng để cho máu của người Việt thêm một lần nữa chảy tràn vì cộng nô bán nước hại dân.

Nếu như Việt Nam chọn lựa con đường “Tái sanh nhờ Mỹ-Nhật” thì đây là một số việc cơ bản mà Việt Nam cần nhanh chóng tiến hành:

  1. Thanh lọc nội bộ một cách triệt để và toàn diện.
  2. Loại trừ ĐCSVN ra khỏi cơ chế và quyền lực nhà nước thông qua Quốc Hội.
  3. Chuyên nghiệp hóa vai trò Đại Biểu Quốc Hội.
  4. Luật hóa quyền cắt đặt những cố vấn riêng chung quanh mình để hỗ trợ cho vai trò Đại Biểu Quốc Hội chuyên nghiệp.
  5. Giải thể Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, trả lại tự do và tự chủ cho các đoàn thể và tổ chức xã hội. Thành lập một mặt trận chấn hưng đức trí Việt Nam.
  6. Trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm và dân oan. Khuyến khích sự tham dự và phát triển của các xã hội dân sự. Tuyệt đối tôn trọng nhân quyền và dân quyền.
  7. Tái cơ cấu hệ thống chính quyền trên nền tảng của một thể chế chính trị dân chủ và tự do.
  8. Tách rời quân đội ra khỏi hoạt động chính trị. Chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa lực lượng vũ trang. Tham gia vào liên minh quân sự “an ninh tập thể” của Đông Nam Á do Nhật Bản đề xuất.
  9. Công nhận quyền tự do tư hữu. Cải tổ kinh tế một cách sâu, rộng và toàn diện. Bỏ hẳn cái đuôi “theo định hướng XHCN”.
  10. Loại trừ cơ chế áp đặt ý thức hệ. Cải tổ giáo dục và đào tạo một cách sâu, rộng và toàn diện.

Nhân dân Việt Nam cần phải làm gì trước hiện tình của đất nước? Rất đơn giản: Hãy làm một công dân có trách nhiệm. Đó là, hãy đứng lên, thật đông, cùng nhau xác lập quyền lực của toàn dân. Nếu ngay cả một điều đơn giản như thế này cũng không thể hoặc không dám thì nói chi đến việc hy sinh máu xương để bảo vệ tổ quốc.

Cụ thể hơn, nhân dân quốc nội cần phải dứt khoát “Thoát Cộng” nếu muốn “Thoát Trung” và “Thoát Chết” bằng cách:

  1. Hãy từ bỏ ĐCSVN. Từ nay không nói tới ĐCSVN, không kiến nghị với ĐCSVN, không khiếu nại với ĐCSVN, không tham gia họp hành bầu bán ĐCSVN…
  2. Hãy triệt tiêu quyền lực của ĐCSVN. Không hợp tác với ĐCSVN, không nghe lệnh của ĐCSVN, không tạo cơ hội cho ĐCSVN, không dung thứ cho sự lộng quyền của ĐCSVN…
  3. Hãy làm mọi thứ có thể để củng cố quyền lực của Thủ Tướng và của Quốc Hội. Không vì một Nguyễn Tấn Dũng hoặc một cá nhân nào mà chỉ vì vai trò Thủ Tướng và vai trò Đại Biểu Quốc Hội của một nhà nước pháp quyền cần phải có đủ sức mạnh. Đừng nhầm lẫn giữa quyền lực của một cá nhân đang nắm vai trò và quyền lực của chính vai trò dầu là ai đang nắm nó (củng cố institution). Chính vì Thủ Tướng và Quốc Hội không có đủ quyền lực cho nên ĐCSVN mới dễ dàng thao túng lũng đoạn chính quyền và đất nước.

Sự toàn vẹn lãnh thổ và tương lai của 90 triệu dân tùy thuộc vào một điều kiện đơn giản; đó là, phải gỡ cho được bàn tay phù thủy của ĐCSVN đang khống chế hệ thống chính trị và chính quyền của Việt Nam. Nhân dân Việt Nam có thừa khả năng để gỡ bỏ nó.

Một con voi to bị giam giữ chỉ bởi sợi giây nhỏ buộc vào cọc là tại vì nó đã bị buộc từ lúc nhỏ và bị buộc quá lâu đến đổi quên rằng mình đã lớn và có thừa sức mạnh để bức sợi dây to hơn nhiều. Tôi kỳ vọng Việt Nam không là con voi vô vọng đó.

Iris Vinh Hayes, Ph.D.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►EVN mua điện của TQ gấp 3 giá thường: Kẻ nào nối giáo cho Trung Quốc?

Posted by hoangtran204 trên 24/06/2014

Ngoài mặt thì tuyên bố: không đánh đổi chủ quyền để lấy tình hữu nghị viễn vông…nhưng thực chất là từ 2009 cho đến nay, TT Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh cho Hoàng Trung Haỉ mua điện củ TQ với giá cao để giúp các doanh nghiệp Trung Quốc làm giàu. Trong khi các doanh nghiệp tư nhân thủy điện VN chào bán điện với giá rẻ thì EVN không mua. 

 (8-9-2012)

Nay, 2014, kinh tế Trung Quốc đang gặp khó khăn, EVN mua điện của TQ gấp 3 lần giá thường!

EVN là tập đoàn con cưng của TT Nguyễn Tấn Dũng, dẫu EVN mắc nợ kinh hoàng, không ai có thể đụng đến được.

Mua điện gấp 3 giá thường: Kẻ nào nối giáo cho Trung Quốc? 

Nguồn: boxitvietnam

Phản nghịch! 

Khác hẳn với làn sóng “thủy triều đỏ Trung Hoa” những năm trước, con sóng cuồng bạo tàn dập mang tên HD 981 vào năm nay đã làm rách toạc đáy con thuyền chính trị Việt Nam vốn đã mục nát, khiến bục tung những khoảng tối tăm bẩn thỉu bị khuất tất lâu ngày.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), từng được một tờ báo Anh vinh phong là “cậm ấm hư hỏng” do người mẹ đỡ đầu của nó là Bộ Công thương, là tiếp dẫn ngoan ngoãn vô song cho chiến dịch tiếp tay cho Trung Quốc đến mức phản nghịch tình dân tộc.

Đất Việt – tờ báo của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và là một trong những xung kích phản biện vượt qua sợ hãi nhất trong hệ thống truyền thông nhà nước – mới đây đã cùng với GS TS Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội – hé lộ một “bí mật quốc gia”: từ nhiều năm qua, EVN đã mua điện từ các doanh nghiệp Trung Quốc với giá gấp đến 3 lần mức thông thường của doanh nghiệp Việt Nam.

Thậm chí, EVN mua điện của Trung Quốc với giá cao cả ở thời điểm nguồn cung cấp trong nước dồi dào, vin vào lý do vì hợp đồng mua điện với Trung Quốc được ký từ năm 2005 và chính thức mua điện từ 2009. Thái độ kinh doanh bất chấp này đã bất chấp một thực tế là trong thời gian gần đây, nguồn điện trong nước được tăng cường nhiều hơn, nhiều nhà máy điện ngoài EVN chưa huy động hết công suất, có thời điểm điện dư thừa, giá lại rẻ hơn nhiều giá điện Trung Quốc bán cho Việt Nam. Nhưng bởi lối hành xử đầy ngờ vực, EVN đã cố tâm mua điện trong nước với giá chỉ bằng 1/3 giá mua điện của Trung Quốc, kèm theo các điều kiện rất khắt khe.

Đến năm 2013, giới chuyên gia phản biện độc lập đã không còn giữ nổi bình thản: một lượng lớn điện thương phẩm mua từ Trung Quốc với giá cao và có xu hướng tăng nhanh những năm gần đây đã làm méo mó quá nhiều thị trường điện.

Cơ chế độc quyền vong bản đã phát triển đến mức trong khi nhiều doanh nghiệp sản xuất điện của Việt Nam sẵn sàng chịu lỗ để hòa lưới điện, khi suốt từ năm 2011 khi báo chí Việt Nam dồn dập phẫn nộ trực chỉ vào trách nhiệm của EVN về quan điểm “người Việt dùng hàng Trung”, doanh nghiệp thuộc loại độc trị theo cung cách thời chủ nghĩa tư bản dã man này vẫn quay mặt làm ngơ với hình ảnh tàu Bình Minh bị Trung Quốc cắt cáp và ngư dân Việt bị người “đồng chí tốt” đẩy vào vòng khốn quẫn ngay trên vùng biển quê hương.

Bởi từ một góc nhìn khác, ai cũng biết Trung Quốc sở hữu khối doanh nghiệp có biệt tài “quà cáp” hẩu nhất thế giới.

Ai phải bù lỗ và gánh nợ? 

Ở Việt Nam, EVN là một trong những dẫn chứng sống động và dối trá nhất về việc người ta đã mượn lý thuyết kinh tế chỉ huy thời chiến để trục lợi như thế nào vào thời bình. Trong điều kiện nền chính trị độc đảng, thủ đoạn lợi dụng càng trở nên thâm ý hơn. Độc quyền và đặc lợi cũng vì thế đồng nghĩa với tội đồ, đối với nền kinh tế và đời sống dân sinh.

Với trường hợp EVN, đó chính là tội ác.

Năm 2011, vào lúc nền kinh tế Việt Nam dợm chân vào suy thoái, sự đổ bể của hai thị trường chứng khoán và bất động sản đã kéo theo một phát minh không tiền khoáng hậu kể từ thời mở cửa 1990: những doanh nghiệp nhà nước đặc trưng bởi chủ thuyết “giá chỉ có tăng chứ không giảm” như EVN và Petrolimex (Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam) đã tạo thành cặp song sinh có chung hậu môn. Hàng loạt chiến dịch đầu tư trái ngành của các tập đoàn này vào chứng khoán, bất động sản và bảo hiểm rốt cuộc đã tích đọng gánh nợ đến trên 40.000 tỷ đồng.

Trong suốt ba năm qua, toàn bộ số nợ nần đó đã được EVN và Petrolimex tuồn qua tuyến đại tràng để đổ lên đầu người dân đóng thuế.

Nhưng cũng trong suốt ba năm qua, bất chấp những đợt tăng giá điện vô tội vạ của EVN, đã không có bất cứ cuộc kiểm tra nào được làm tới nơi tới chốn. Tất cả những dấu hiệu khuất lấp về tài chính và số lương “nghèo khổ” ít nhất vài chục triệu đồng theo đầu người ở tập đoàn này mà dư luận bức xúc từ năm 2011, đã hầu như không bị cơ quan chủ quản của EVN là Bộ Công thương phản cảm. Không những thế, những lãnh đạo cao nhất của Bộ Công thương như ông Vũ Huy Hoàng vẫn không ngơi nghỉ một chiến dịch khác: PR cho “cậu ấm hư hỏng” của mình.

Đó là một dạng PR không mới, nhưng lại chỉ được dư luận người dân Việt đặt tên chính thức từ năm 2012: PR chính sách. Chủ thể của hoạt động này chính là cái tên “nhóm thân hữu” – một chủ đề mà chưa một ủy viên bộ chính trị nào đủ can đảm hay liêm sỉ để mổ xẻ trước bàn dân thiên hạ.

Cũng không quá khó hiểu là những động thái PR chính sách đã xuất hiện không ít lần, kể cả ở cấp Chính phủ.

Nhóm thân hữu, về bản chất, lại có mối quan hệ ruột rà và móc xích giữa các chính khách ở các cấp khác nhau, từ dưới lên và từ trên xuống. Trong từng trải của người dân Việt Nam, thực tế sinh tồn của các doanh nghiệp lệ thuộc vào chính sách từ nhiều năm qua đã chứng tỏ một nguyên tắc bất thành văn: chỉ có chính sách mới tạo ra được lợi nhuận; để đến lượt mình, lợi nhuận phải quay lại “nuôi” chính sách.

Cũng là “nuôi” các chính khách.

Công nghệ “giết sống” 

Giá xăng dầu và điện lực phi mã tất yếu dẫn đến lạm phát đội mồ sống dậy. Trong thực tế, chỉ số tiêu dùng CPI bị tác động không nhỏ và lập tức kích hoạt hàng loạt đợt tăng giá của hàng tiêu dùng, thực phẩm, giá vận tải hành khách và hàng hóa, giá nhà trọ…, làm khốn khó hơn cho đời sống công nhân và dân nghèo vốn đã quá khó khăn.

Đời sống dân sinh ấy cũng liên đới quá đỗi hữu cơ với íty nhất 80% lực lượng vũ trang và gần 3 triệu công chức viên chức nhà nước. Vài năm gần đây, ngay cả cảnh sát giao thông còn bị “đói” thì giới nhân viên an ninh không than thở mới là chuyện lạ.

Thế nhưng đối mặt với tất cả những trớ trêu và nghịch lý tận cùng ấy, lãnh đạo Bộ Công Thương vẫn hầu như khóa khẩu, trong khi vài ba viên chức cấp vụ của bộ này vẫn cố gắng “an dân” bằng thuyết minh việc tăng giá xăng dầu và điện không ảnh hưởng nhiều đến CPI.

Nhưng vào năm 2013, một cuộc thanh tra của Thanh tra chính phủ đã phát hiện trong bảng giá thành của mình, EVN đã hạch toán cả các công trình xây bể bơi, sân tennis và biệt thự vào giá bán điện. Giá bán điện lại được phổ cập cho mặt bằng dân trí thấp kém trong dân chúng. Và thêm một lần nữa, người ta có được bằng chứng về cái được coi là “trận đánh đẹp” của EVN: cuộc chiến bù lỗ vào dân.

Sau khi tăng giá liên tục trong ba năm qua, nợ ngân hàng của EVN đã được rút bớt. Nhưng chỉ là bớt một ít. Với hơn 30.000 tỷ đồng thất bát từ đầu tư trái ngành, EVN luôn phải đối mặt với tương lai phá sản nếu không thanh toán được cho các chủ nợ.

Trong khi đó, một con số lần đầu tiên được công bố là EVN chính là doanh nghiệp vay nợ ngân hàng lớn nhất Việt Nam, với hơn 118.000 tỷ đồng. Đây là mức dư nợ lớn nhất mà hệ thống ngân hàng dành ưu ái cho một tập đoàn nhà nước.

Với nợ nần khổng lồ và số lỗ do đầu tư trái ngành, người ta ước tính EVN phải tăng giá điện liên tục đến năm 2017-2018 thì mới may ra “hòa vốn”.

Thế nhưng cái điểm hòa vốn ăn thịt lẫn nhau ấy lại có thể khiến những người dân nghèo nhất phải quyên sinh. Bởi theo nguyên lý từ thời tư bản dã man, nếu doanh nghiệp độc quyền có được lợi nhuận, nhân dân chắc chắn phải mất đi phần lớn thu nhập của mình; còn nếu doanh nghiệp độc quyền hòa vốn, nhân dân phải chịu lỗ hoặc phá sản.

Không chỉ mất tài sản, người dân còn phải trả giá bằng cả sinh mạng bởi lối hành xử vô lương tâm của những quan chức độc quyền nhà nước. Vụ xả lũ đồng loạt của 15 nhà máy thủy điện ở miền Trung vào cuối năm 2013 đã “giết sống” đến năm chục mạng người nghèo nơi rốn lũ.

Tất cả đều biết cấp trên trực tiếp của các nhà máy thủy điện là EVN, còn thủ trưởng trực tiếp của EVN là Bộ Công thương. Tuy nhiên sau vụ “giết sống” trên, nhiều phóng viên báo chí quốc doanh đành nuốt nhục vì bị cơ quan tuyên giáo “chặn họng”. Nhân quả là đã không có bất kỳ một quan chức vô cảm và vô trách nhiệm nào phải đối mặt với vành móng ngựa, mặc dù chính vào lúc người dân chết chìm trong nước lũ xả trắng mênh mông, Bộ trưởng công thương Vũ Huy Hoàng còn bận “công du “ ở nước ngoài.

Tán tận lương tâm chắc chắn là từ ngữ hiển thị đầy đủ nhất tâm địa của các doanh nghiệp độc quyền và những quan chức “tận Trung” trong những năm suy thoái kinh tế qua. Kinh tế càng xuống dốc, đời sống người dân càng túng quẫn, thái độ sống chết mặc bay càng lên ngôi, chủ nghĩa thực dụng, lợi nhuận và vong quốc càng “hiển thánh”.

Tận Trung: Kẻ nào nối giáo? 

Hãy trở về với câu chuyện tán tận lương tâm dân tộc khi EVN mua điện Trung Quốc cao gấp 3 lần giá bình thường.

Một lần nữa, báo chí nhà nước bùng lên câu hỏi: Những ràng buộc có nghi vấn trong hợp đồng mua bán điện với Trung Quốc và sự cố Hiệp Hòa liên quan tới việc sử dụng thiết bị Trung Quốc mới đây khiến dư luận đặt nghi ngờ về sự hiện diện quá lớn của Trung Quốc trong ngành điện Việt Nam. Phải lý giải điều này như thế nào, khi mà thiết bị Trung Quốc vốn bị coi là chất lượng kém, bãi rác công nghệ của thế giới? Liệu có thể đặt nghi vấn về lợi ích nhóm trong việc này?

Ông Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển khẳng định: Với tình trạng độc quyền như EVN hiện nay và thiếu minh bạch trong kinh doanh trên thị trường điện ở Việt Nam, trách nhiệm trong việc này trước hết là do chính cơ chế quản lý kiểu bộ chủ quản lâu nay không được thay đổi, tiếp đó là các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành điện mà cụ thể là Bộ Công thương và cả EVN trong tổ chức và quản lý điện Việt Nam. Mấu chốt của vấn đề phải là nhanh chóng xóa bỏ tình trạng độc quyền của EVN, chấm dứt tình trạng một tay nắm cả mua bán, phân phối, điều độ…

Nhưng xem ra, những câu hỏi trên vẫn còn quá hiền lành trong bối cảnh quyền tự do báo chí vẫn trong “bước đi đầu tiên của thời kỳ đầu tiên của giai đoạn quá độ” ở Việt Nam.

Bởi trong tận cùng của bản chất, tán tận lương tâm quan chức và hậu quả của nó không thể không liên quan đến trách nhiệm của giới lãnh đạo chính phủ, những người đã im lặng hoặc “bật đèn xanh” cho EVN gây nên các chiến dịch tăng giá quốc nội và giảm giá quốc ngoại.

Sau ba năm kể từ lúc các chiến dịch “thủ ác” được kích phát dồn dập và bất chấp oán thán dân tình, kẻ tội đồ EVN đã có đủ thời gian chứng tỏ nó có năng lực gây ra tội ác ghê gớm đến thế nào, kể cả thành tích nối giáo ngoại xâm kinh tế.

Không chỉ bị lên án dữ dội bởi dư luận trong nước, khối u độc quyền doanh nghiệp quốc doanh ở Việt Nam còn bị nhiều chính phủ xã hội dân sự trên thế giới và các tổ chức quốc tế chỉ trích kịch liệt, bởi hiện trạng bệnh hoạn đó đi ngược lại với những cam kết về “xóa độc quyền và hoàn thiện nền kinh tế thị trường” mà Chính phủ Việt Nam đã hùng dũng cam kết trước cộng đồng quốc tế.

Hiện trạng bệnh hoạn trên lại không thể xa cách với bản thông điệp đầu năm 2014 của người đứng đầu chính phủ. Đã sáu tháng trôi qua, cam kết “xóa độc quyền” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã không còn mang tăm hơi nào của một thứ quyết tâm sủi bọt.

 

 

 

 Phạm Chí Dũng

 

BÀI LIÊN QUAN

 

Posted in Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

Thoát xạo :-( thoát cộng – thoát Trung)

Posted by hoangtran204 trên 24/06/2014

Thoát Xạo

Bảy Đa
.
.

(24-6-2014) Theo ngôn ngữ Việt Nam, động từ “nói xạo” là một hành động nói những gì không phải là sự thật. Trong giao tiếp hàng ngày, ta thường bắt gặp những từ như: dối trá, giả dối, ba xạo, ba láp, dóc tổ, xạo bà cố, “nổ”, láo toét… Tất cả đều mang chung một ý nghĩa như động từ “nói xạo”. Bài viết này xin phép được dùng từ “xạo” cho nó gần gũi thay cho tất cả những từ có liên quan để nói về “tầm ảnh hưởng” của nó.

Phải công tâm mà nói, trong mấy vụ việc  gần đây, Cộng sản Trung Quốc nói xạo thuộc hàng sư tổ so với Cộng sản Việt Nam. Thí dụ, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 08/6/2014 tố cáo Việt Nam đâm tàu của họ với con số lên đến hơn 1.400 lần trước công luận quốc tế cũng đủ cho thấy họ nói xạo có “bản lĩnh và đẳng cấp” như thế nào. Trong vụ tàu cá Việt Nam bị đâm chìm, Trung Quốc lớn tiếng cho rằng tàu Việt Nam tự đâm vào tàu Trung Quốc rồi chìm!!! Mới đây Tân Hoa xã lại xạo trắng trợn: “cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng, hơn một tháng qua, Việt Nam không từ thủ đoạn nào quấy nhiễu hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 ở Tây Sa. Đối mặt với sự khiêu khích của Việt Nam, Trung Quốc buộc phải điều tàu công vụ đến bảo vệ giàn khoan…”. Toàn những lời lẽ dối trá phải nói là cực kỳ trơ trẽn được phun ra từ ông bạn vàng cùng ý thức hệ về nói xạo.

Xem ra Trung Quốc, họ cũng coi thường luôn cả cộng đồng quốc tế, theo kiểu tao nói xạo thì tụi bay làm gì được tao, dù gì tao cũng là 1 trong 5 nước thường trực Hội đồng bảo an LHQ cơ mà. Tao có quyền phủ quyết chẳng lẽ lại không có quyền nói xạo?

Xưa nay ai cũng thừa biết, Cộng sản là một cỗ máy tuyên truyền và xuyên tạc khổng lồ. Ở Việt Nam, trước năm 1975, do đã trải nghiệm quá nhiều lần cộng sản “cho leo cây”, cựu tổng thống đệ nhị VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã tích lũy thành một câu nói để đời “đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”. Đến cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, tại một đất nước là cái nôi sản sinh của cộng sản, người đứng đầu đảng cộng sản Liên Xô lúc đó là TBT Gorbachyov, ông ta đã đau đớn mà thừa nhận rằng, “đảng Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá!”.

Bây giờ chúng ta hãy điểm lại những sự dối trá mà CSVN – đàn em của CSTQ đã ứng dụng thế nào trong thực tế.

Trong thời kỳ chiến tranh hai miền Nam Bắc, với cỗ máy tuyên truyền chuyên đi nói xạo, CSVN đã làm cho nhiều người lầm tưởng rằng, đồng bào miền Nam ruột thịt đang phải sống đói khổ, lầm than “dưới gót giày của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai” để rồi khi đoàn quân giải phóng miền bắc tiếp cận Sài gòn, bao nhiêu người mới thực sự ngỡ ngàng, trong đó có nữ nhà văn bộ đội Dương Thu Hương, chị đã phải ôm mặt khóc vì: “tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí!”. (

Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua  chế độ man rợ)

Để hun đúc tinh thần chiến đấu nhằm lôi kéo mọi tầng lớp nhân dân theo mình, CSVN còn bày rất nhiều trò “ba xạo” theo thời cuộc như dựng lên hình tượng anh hùng Lê Văn Tám đốt kho xăng địch, vụ này ngày nay đã được các sử gia đặt vấn đề là nên trả lại cho sự thật, vì Lê Văn Tám làm mẹ gì có trên đời này, chỉ là thêu dệt cho có khí thế trong chiến tranh thôi, chứ nếu có thì những Lê Văn Hai, Lê Thị Ba, Lê Văn Tư, Lê Văn Năm, Lê Văn Sáu, Lê Thị Bảy… là anh chị em ruột thịt với nhân vật này đâu, rồi bố mẹ của Lê Văn Tám là ai có thấy nhắc tới đâu, không lẽ Lê Văn Tám từ đất nẻ chui lên? Vậy mà ngày nay vẫn đang tồn tại và tiếp tục mọc lên những công trình văn hóa mang tên Lê Văn Tám vô hình nào đó, thế mới biết cộng sản họ sùng bái cái xạo đến mức nào.

Tôi còn nhớ hồi nhỏ có học bài trong sách giáo khoa có tựa “Ong cũng đánh Mỹ” (tựa bài hình như là vậy, tôi không nhớ là sách giáo khoa lớp mấy), tôi đang ê a học bài thì bố tôi bật cười, ông lẩm bẩm, “mẹ bố cái bọn cộng sản, đến cả đứa con nít nó cũng không tha“… Ngày đó tôi không để ý những than phiền của bố tôi. Bây giờ ngẫm lại mới thực sự hiểu ra, nghĩ rằng, nếu xưởng phim hoạt hình Walt Disney của Mỹ mà biết tài sánác truyện viễn tưởng phong phú này, chắc chắn sẽ mời tác giả viết kịch bản này để chuyển thành phim, có khi còn thu hút trẻ em xem hơn cả Đô rê mon không chừng!

Ngày nay, cái xạo ngự trị hầu như mọi ngõ ngách trong đời sống xã hội. Từ nông thôn cho đến thành thị, từ bệnh viện, học đường đến cơ quan hành chính, từ báo chí đến truyền hình, từ diễn đàn chính trị đến cơ cấu tổ chức nhà nước, từ bầu cử đến thực thi pháp luật, từ chính sách đối nội đến đối ngoại… đâu đâu cũng toàn thấy giả dối, như lời ta thán đầy mỉa mai của vị giáo sư nọ 

“... ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là… sự thật.

Người viết bài này kể từ khi xem những đoạn phóng sự trên VTV 1 vào năm 2008 về vụ cắt xén, vu cáo và kết án lời nói của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ở Hà Nội một cách trắng trợn, trơ tráo thì “khai tử” cái đài này tứ đó đến nay. Bởi không thể chấp nhận một cơ quan ngôn luận có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân như vậy mà lại đi làm cái công việc nói xạo đáng xấu hổ đẳng cấp chợ búa là đi đánh hội đồng một công dân vô hại, nó cho người xem thấy rõ sự nhơ nhớp của một cơ quan tuyên truyền của đảng nó vô đạo đức đến mức nào.

Vụ bắt ông Cù Huy Hà Vũ gắn liền với những chiếc bao cao su đã qua sử dụng là một cái xạo không còn chỗ để bào chữa cho tính nhân đạo của chính quyền nữa. Vụ này khiến cho dư luận đặt vấn đề về tính chính danh của hệ thống công quyền.

Trong các cuộc bầu cử HĐND các cấp, bầu đại biểu quốc hội, ta thường nghe các phương tiện thông tin của nhà nước ra rả là số cử tri đi bầu thường là đạt với con số sát 100%, rằng bầu cử kỳ này là thành công tốt đẹp, là thể hiện ý chí, nguyện vọng của đại bộ phận nhân dân… Sự thật thì ở những điểm bầu cử, ai đã từng đi bầu thì thừa biết cái xạo của cách bầu bán ở nước ta như thế nào rồi. Có ý kiến phàn nàn “bầu kiểu này thì tổ chức bầu làm mẹ gì cho tốn tiền thuế của dân, các ông chọn ai rồi sao các ông không công bố cho toàn dân biết mẹ nó luôn đi, bày đặt bầu với bán…”. Cái này gọi là cái xạo về quyền làm chủ của nhân dân!

Trong các kỳ họp Quốc hội, HĐND các cấp, họp Ban, Ngành… văn bản báo cáo của chính phủ, các bộ, ngành… chúng ta thấy đều toát lên những cái xạo từ những văn bản báo cáo đó. Để khỏa lấp cho những cái xạo đó, thường là những từ như “mặc dù”, “cố gắng”, “tuy nhiên”, “khắc phục”, “thiếu sót”, “sửa chữa”, “rút kinh nghiệm”… được các diễn giả triệt để khai thác.

Đảng CSVN vẫn thường hô hào khẩu hiệu: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Nghe vậy mà không phải vậy, vì dân biết thì có biết đấy, chứ dân bàn thì còn lâu, dân làm – làm ở đây là làm cái phận sự của một người dân, chứ không phải làm quan đâu, và câu nói dân kiểm tra – nghe nực cười làm sao. Có thằng dân nào mà xông vào cơ quan nhà nước cho đòi kiểm tra không, chúng uýnh cho bỏ mẹ ! Biết bao nhà báo có tiếng có tăm kia có lòng tự trọng của một nhà báo, chỉ vì phanh phui những tiêu cực, tham nhũng, lạm quyền trong bộ máy nhà nước còn phải trả giá (nhiều năm tù) huống hồ là dân đen. Nói tóm lại, cái khẩu hiệu này chỉ để mỵ dân và hoàn toàn ba xạo.

Ta thường nghe từ miệng của những vị lãnh đạo cấp cao nhà nước, từ phát ngôn của người đại diện Bộ Ngoại giao Việt nam là, ở Việt Nam không có tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, chỉ có những người vi phạm pháp luật Việt Nam. Về vấn đề tự do ngôn luận họ cũng ra rả: Ở Việt Nam có hàng bao nhiêu là đài này, báo nọ, điều đó nói lên rằng ở VN không có chuyện không có tự do ngôn luận. Cái cách nói lấp liếm này cũng là một cách nói xạo cấp… nhà nước đây!

Cách đây không lâu, ông TBT Nguyễn Phú Trọng có phát biểu trong một phiên họp tổ tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII: Xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.”

Câu nói “ba xạo” đó phơi bày một “sự thật” là các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam chẳng có lấy một kế hoạch nào cho đất nước này cả, họ đang dẫn dắt dân tộc Việt Nam này mò mẫm trong bóng tối của cái gọi là “thiên đường XHCN” mà chính họ cũng chẳng hiểu cái thiên đường đen ngòm ngòm đó có cái mẹ gì trong trỏng! Cái xạo này là cái xạo mang tội to nhất, nó như vòng kim cô mà đảng CSVN dùng để xiết chặt trên đầu 90 triệu dân Việt Nam.

Kể từ khi đảng CSVN nhận được món quà hòa hiếu “16 chữ vàng” và “4 tốt” của ông anh Trung Quốc ban tặng, thằng em Việt Nam trân trọng nó như một món quà vô giá, chẳng khác nào một đứa trẻ được người lớn cho món đồ chơi. Nó đâu biết “người lớn” kia chẳng đàng hoàng gì, chẳng qua để dụ nó tập trung vào món quà kia để có thời gian rình rập tính chuyện trộm cắp tài sản của nhà nó thôi.

Còn nhớ sau hội nghị Thành Đô 1990, chẳng biết đảng CSTQ quán triệt cái quái gì vào đầu những vị đứng đầu đảng CSVN mà kể từ sau đó, mọi sự kiện liên quan đến cuộc chiến đẫm máu biên giới phía Bắc 1979, cuộc chiến ở đảo Gạc Ma – Trường Sa 1988 đều bị cấm tiệt nhắc tới. Đây là vấn đề lịch sử, lại là đạo lý trong văn hóa tâm linh người Việt Nam, ấy vậy mà dưới sức ép của CSTQ, chính quyền CSVN buộc nhân dân mình phải im lặng để đổi lấy vai trò đỡ đầu của đàn anh CSTQ nhằm duy trì chế độ cộng sản dối trá cùng ý thức hệ.

Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 « Trần Hoàng Blog

Bí Mật lịch sử Trung-Việt 1990 (1)

Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, đã tới lúc gậy ông nó đập vào lưng ông. CSVN nói dối, nói xạo xưa nay thuộc hàng cao thủ trước cộng đồng quốc tế, ấy thế mà nay phải vò đầu, bức tai trước những sự vu cáo trắng trợn của người đồng chí “vàng và tốt” Trung Quốc.

Không những thế, nay người anh em này còn sử dụng những chiêu “nói xạo” của thằng em trong quá khứ, trong đó có “công hàm Phạm Văn Đồng”, “Sách Địa lý lớp 9”, dùng làm vũ khí tấn công lại thằng em trên mặt trận pháp lý. Nếu như không có chuyện tranh chấp biển đảo với Trung Quốc, người dân làm gì biết đến cái công hàm ngu xuẩn quái ác kia!

Dù nay đã biết rõ dã tâm và bộ mặt thật của ông bạn vàng Trung Quốc với chiêu trò vừa ăn cướp vừa la làng, thế nhưng CSVN cũng phải chịu ngậm đắng nuốt cay bởi chính sách bịt miệng nhân dân, tuyên truyền dối trá xưa nay… đã đến hồi trả giá.

Không biết tới đây Trung Quốc còn giở những ngón gì nữa đây, chắc chắn họ chưa khóa sổ hồ sơ trong quan hệ Việt – Trung bấy lâu nay, vì sau hội nghị Thành Đô cho đến nay đã 24 năm, với ngót 1/4 thế kỷ quá đủ để cho kẻ tiểu nhân giỏi toan tính như Trung Quốc soạn ra những kịch bản thâm hiểm trong khi thằng em CSVN thì ngây thơ, ngoan ngoãn cứ mãi lo mân mê “16 chữ vàng” và “4 tốt” và sẵn sàng đạp vào mặt kẻ nào dám xúc phạm đến ông anh vàng của mình.

Bàn đến những “lối thoát” trong lúc này xin đừng bỏ qua bàn đến những đường lối, chích sách dối trá của chính quyền, sự dối trá đang lan tràn trong lòng xã hội Việt nam…

Bảy Đa

———–

Bài liên quan 

Chuyện xạo của đảng và nhà nước rất nhiệu, dưới đây chỉ là một vài ví dụ:

*►Cô du kích trong bài thơ “Quê hương” của Giang Nam không chết năm 1960, cô vừa mới qua đời hưởng thọ 83 tuổi

“Bài thơ Quê hương đã được đưa vào sách giáo khoa phổ thông để giảng dạy. Năm 1961, khi xét giải thưởng thơ báo Văn nghệ, có ý kiến đề nghị trao giải nhất cho bài thơ Quê hương, nhưng cũng có ý kiến cho rằng trong bối cảnh lúc đó bài thơ có thể ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu nên đề nghị chỉ trao giải ba, cuối cùng giải pháp dung hoà được nhất trí: bài thơ được tặng giải nhì.[1]  Nguồn ở đây 

Hôm nay nhận được tin em 
Không tin được dù đó là sự thật 
Giặc bắn em rồi, quăng mất xác 
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người! 
Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm 
Có những ngày trốn học bị đòn, roi 
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất 
Có một phần xương thịt của em tôi.

nguồn http://poem.tkaraoke.com/20504/Que_Huong.html

Cô du kích trong bài thơ “Quê hương” qua đời

30-12-2013

Nguồn báo Thanh Niên

Bà Phạm Thị Chiều, vợ nhà thơ Giang Nam, vừa qua đời tại Nha Trang, hưởng thọ 83 tuổi.

Bà chính là “cô du kích” trong bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam, từng lay động nhiều thế hệ những người yêu thơ suốt 53 năm qua. (Nhà thơ Giang Nam và bà Phạm Thị Chiều – Ảnh: Trần Đăng)

“Cô du kích” trong bài thơ với tiếng cười “khúc khích” và đôi mắt “đen tròn” đã bị “giặc giết em rồi quăng mất xác”, còn bà Chiều thì vẫn gắn bó với nhà thơ Giang Nam đến tận hôm nay.

Sở dĩ có sự “vô lý” trên là do nhầm lẫn từ một nguồn tin của cơ sở trong thành báo ra. Nhà thơ Giang Nam nhớ lại: “Tôi và nhà tôi có cảm tình với nhau từ khi còn ở chiến khu Đá Bàn (Khánh Hòa) trong kháng chiến chống Pháp. Mãi đến năm 1955 chúng tôi mới cưới nhau. Cuộc chiến tranh chống Mỹ mỗi lúc một khốc liệt, để tránh sự bố ráp của kẻ thù, tổ chức phân công cả hai chúng tôi vào hoạt động tại Biên Hòa. Chẳng bao lâu sau, vợ và con gái tôi bị địch bắt giam tại nhà tù Phú Lợi. Giữa năm 1960, tôi nghe tổ chức thông báo rằng vợ con tôi bị địch sát hại trong nhà tù này. Quá đau đớn, trong một buổi tối ở rừng, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Sau này tôi mới biết, thông tin trên là do nhầm lẫn”.

Sự nhầm lẫn ấy để thi đàn Việt Nam có thêm một thi phẩm làm lay động lòng người suốt 50 năm qua về lòng thủy chung của những đôi lứa yêu nhau thời chiến, đã phải chịu nhiều đau thương mất mát để giành lại nền độc lập tự do cho dân tộc.

Trần Đăng

Trần Hoàng: Báo đăng tin này nhằm nói lên sự thật bị che dấu hơn 53 năm qua: Cô du kích không hề chết năm 1960 trái với xuất xứ của bài thơ Quê Hương 1960 mà  tác giả Giang Nam đã từng cho biết trước đây.  

“Cuộc chiến tranh chống Mỹ mỗi lúc một khốc liệt, để tránh sự bố ráp của kẻ thù, tổ chức phân công cả hai chúng tôi vào hoạt động tại Biên Hòa. Chẳng bao lâu sau, vợ và con gái tôi bị địch bắt giam tại nhà tù Phú Lợi. Giữa năm 1960, tôi nghe tổ chức thông báo rằng vợ con tôi bị địch sát hại trong nhà tù này. Quá đau đớn, trong một buổi tối ở rừng, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Sau này tôi mới biết, thông tin trên là do nhầm lẫn” 

Trong câu trên, các bạn hãy chú ý  2 điều này: Giữa năm 1960 làm gì có giặc Mỹ mà có “Cuộc chiến tranh chống Mỹ mỗi lúc một khốc liệt” ? Mỹ chỉ đổ quân vào Miền Nam để cho các ông CS chống là năm 1965-1973 

Thứ nhì, tổ chức của ông, đảng CSVN, thông báo vợ ông chết là để cho Giang Nam có thêm lòng căm thù…đặng ông nổ lực hiến sức phục vụ cho đảng. Nhưng về phần ông, khi đã biết cô du kích vợ ông không chết, tại sao hơn 50 năm qua ông không lên tiếng công khai đính chính? 

Câu chuyện bài thơ Quê Hương của ông Giang Nam từa tựa như chuyện anh hùng Nguyễn Văn Bé hy sinh, hay chuyện cha mẹ của tướng Võ Viết Thanh bị giết chết năm 1962, lúc ấy tổ chức sai bà Nguyễn Thị Bình gặp mặt và báo tin với tướng Thanh là lính ông Diệm đã giết chết…và ông Thanh đã tin thế.

Mãi cho tới năm 1991, trong vụ án Năm Châu-Sáu Sứ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đức Tâm mới xác nhận sự thật:

Để trả thù trung tướng Võ Viết Thanh đã phá vỡ âm mưu, Nguyễn Đức Tâm gặp  trung tướng Võ Viết Thanh (sinh 1943), và cho biết là đảng đã sai người giết cha mẹ của  Thanh năm 1962, rồi phao tin quân đội của ông Diệm đã giết.” Mời đọc:

Cuộc gặp gỡ bí mật Trung – Việt ở Thành Đô, Trung Quốc 

—————-

Anh hùng Cảm tử Nguyễn Văn Bé ” hy sinh 1966,” đã qua đời năm 2002

“Anh hùng Nguyễn Văn Bé cầm quả mìn Claymor đập vào một chiếc xe tăng, làm chết 69 binh sĩ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, cùng nhiều xe tăng; hy sinh tan xác tại chỗ…”

Thật ra, anh Nguyễn Văn Bé vẫn sống sau chiến tranh và từ trần ngày 24 tháng 3 năm 2002. 

Tờ Tạp chí Time của Mỹ số 17 tháng 3 năm 1967 viết rằng cái chết anh hùng của Nguyễn Văn Bé thực chất là “tuyên truyền” của phía Cộng sản, còn Nguyễn Văn Bé không hề chết, mà bị bắt và sau đó đầu hàng.[1] Chính bản thân Nguyễn Văn Bé cũng tuyên bố với báo chí thời đó là mình còn sống.

Trích: Nguyễn Văn Bé là tên của nhân vật chính trong một chiến dịch tuyên truyền và phản tuyên truyền trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Thân thế và hành trạng của nhân vật này có nhiều điểm mơ hồ, mâu thuẫn và không được làm sáng tỏ cho đến ngày nay.

Theo tuyên truyền từ phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Bé là một tấm gương anh hùng trong chiến đấu. Sinh năm 1941, quê ở Châu Thành, Sông Bé, nhập ngũ tháng 7 năm 1961, Nguyễn Văn Bé là một đảng viên Cộng sản, được tuyên dương Anh hùng khi làm đại đội phó đại đội 304, tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú LợiThủ Dầu Một.

Về qua trình chiến đấu của Nguyễn Văn Bé có nhiều mâu thuẫn. Một nguồn cho rằng năm 1966, sau khi bị bắt trong một chuyến vận chuyển vũ khí, theo yêu cầu của các binh sĩ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Bé phải giải thích công dụng của các loại vũ khí này. Lợi dụng cơ hội đó, Nguyễn Văn Bé cầm quả mìn Claymor đập vào một chiếc xe tăng, làm chết 69 binh sĩ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, cùng nhiều xe tăng; hy sinh tan xác tại chỗ. Nguyễn Văn Bé được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nguồn khác thì ghi Nguyễn Văn Bé đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua 2 năm liền (1965-1966), đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú. Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho chiến sĩ Nguyễn Văn Bé. Cũng theo nguồn này, Nguyễn Văn Bé vẫn sống sau chiến tranh và từ trần ngày 24 tháng 3 năm 2002.

Về giả thiết thứ nhất (Nguyễn Văn Bé nổ bom cảm tử), tờ Tạp chí Time của Mỹ số 17 tháng 3 năm 1967 viết rằng cái chết anh hùng của Nguyễn Văn Bé thực chất là “tuyên truyền” của phía Cộng sản, còn Nguyễn Văn Bé không hề chết, mà bị bắt và sau đó đầu hàng.[1] Chính bản thân Nguyễn Văn Bé cũng tuyên bố với báo chí thời đó là mình còn sống.

Một số hình ảnh và tư liệu tranh cãi về sự thật cái chết của Nguyễn Văn Bé có thể thấyở đây. Theo tạp chí Time, Nguyễn Văn Bé thực sự không chết, trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời kỳ chiến tranh coi đây là “chiến tranh tâm lý chiến” của Mỹ.

Thân phận và hành trạng của Nguyễn Văn Bé thực sự ra sao, hay đây chỉ là hai chiến sĩ trùng tên nhau vẫn là vấn đề gây tranh cãi. Dù vậy, đã có nhiều bài thơ, bài hát và vở kịch về tấm gương hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Bé, tuyên truyền về lòng yêu nước, hy sinh vì đất nước.

Nhạc sỹ Huy Du có bài “Xin khắc tên anh trên vách chiến hào” nhưng sau này bài hát phải bỏ. Thậm chí, tên Nguyễn Văn Bé sau năm 1975 vẫn còn được đặt cho một con đường tại thị xã Long Khánh, và một trường PTCS. Tên đường Nguyễn Văn Bé sau đó đã được đổi tên.

Áp phích tuyên truyền về Anh hùng Nguyễn Văn Bé năm 1966

nguồn 

————–

Khẩu hiệu treo khắp các trụ sở công an phường, quận,…

“Cán bộ là đầy tớ của nhân dân”

Nhưng thực tế hình trên cho ta thấy cán bộ đang cầm cây chuẩn bị đánh nhân dân. Chúng coi nhân dân chẳng khác gì trâu bò súc vật. Muốn đánh, giết, bỏ tù lúc nào tùy thích. 

danluan.org/node/20528

——-

 

Dầu Hỏa, chiếm 33% GDP, là nguồn lợi lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam

Lại bị Trung Quốc cảnh cáo, răn đe coi thường như con nít mà cứ xưng là có độc lập, tự do và quang vinh!

Đăng bởi hoangtran204 on 24/01/2012

Trung Quốc cảnh cáo Việt Nam không nên gần với Mỹ trong vấn đề Biển Đông

DCVOnline– (Tin Mainichi Japan)HÀ NỘI (Kyodo) – Trong chuyến thăm chính thức hồi tháng trước Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cảnh cáo Việt Nam phải giữ khoảng cách với Hoa Kỳ về vấn đề nhạy cảm – tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), các nguồn tin của Đảng Cộng sản Việt Nam cho hay

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »