Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu 2nd, 2014

►Thủ đoạn mập mờ

Posted by hoangtran204 trên 02/06/2014

30-5-2014

Ngô Nhân Dụng

cong-ham-ban-nuoc-1958-cua-Pham-van-Dong-sm

Một bạn đọc, ký tên Dang Nguyen , đã góp ý kiến về bức công hàm Phạm Văn Ðồng 1958 như sau: “Ðiểm khác biệt cần làm rõ là chế độ chính trị ở hai miền Nam-Bắc và cả hai đều được quốc tế công nhận là hai nước. Vì thế, nó không như lập luận của tác giả (Ngô Nhân Dụng) rằng ông Phạm Văn Ðồng nhân danh nước Việt nam – có lãnh thổ từ ải Nam Quan đến Cà Mau. Sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị là hai khái niệm riêng biệt – trong thời điểm lịch sử của Việt Nam.” Một độc giả khác, ký tên Tran, nhận xét: “Bức công hàm của Phạm Văn Ðồng làm người đọc cảm thấy không rõ ràng, mập mờ khó hiểu, nhất là không đề cập gì tới Hoàng Sa và Trường Sa…”

Trong bài trước, ký giả không bàn đến dư luận hay ý kiến của thế giới đối với bức công hàm Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Tranh chấp pháp lý về chủ quyền lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa trên ý nghĩa bức công hàm đó trong tương quan giữa hai đảng cộng sản, và giữa hai quốc gia do họ đang cai trị vào thời điểm họ trao đổi văn thư này.

Về điểm thứ nhất, vào năm 1958, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tự coi họ làm làm chủ cả hai miền Nam, Bắc (hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng theo quan niệm này). Trong việc giao thiệp giữa hai bên, Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) chấp nhận quan điểm này của Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng). Trung Cộng chỉ lập bang giao với miền Bắc. Họ không công nhận chính quyền miền Nam, dù trong thời gian Hội Nghị Genève 1954, Chu Ân Lai đã tỏ ra muốn bắt cá hai tay, chính phủ Ngô Ðình Diệm từ chối.

Vì vậy, khi Phạm Văn Ðồng viết cho Chu Ân Lai, ông ta nhân danh toàn thể nước Việt Nam, không riêng miền Bắc. Bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam muốn “nói lại,” rằng ông Ðồng không thể đem tặng Trung Cộng những quần đảo mà ông ta không có quyền quản lý, lý luận này không thể đứng vững vì mâu thuẫn với điều Việt Cộng chủ trương năm 1958.

Chúng tôi đồng ý với vị độc giả ký tên Tran, là văn thư của Phạm Văn Ðồng có vẻ mập mờ, tính chất mập mờ này chắc là do cố ý. Ðúng là bức công hàm không nhắc đến tên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa). Tuy nhiên, bản văn đã viết rằng: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Nói như vậy tức là tán thành cả văn bản lẫn ý nghĩa tổng quát trong bản tuyên bố của Trung Cộng. Mà trong bản tuyên bố đó, Bắc Kinh nêu rõ ràng tên các quần đảo trên như thuộc quyền của họ. Tán thành bản tuyên bố tức là đồng ý họ làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, không thể nào chối bỏ hay giải thích đã hiểu lầm được.

Trong bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Bắc Kinh đoạn mang số một nói rõ ràng là các hòn đảo và chu vi quanh các đảo Ðài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa, đều thuộc Trung Quốc.

Văn thư của Phạm Văn Ðồng viết mập mờ, không nói gì đến những tên Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng nội dung cả bức thư viết rõ ràng là chính quyền Cộng Sản Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên các quần đảo này. Phạm Văn Ðồng còn viết rằng chính phủ ông ta “tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Bây giờ, những người thừa kế Phạm Văn Ðồng tìm cách giải thích bằng cách dẫn chứng riêng một đoạn “tôn trọng hải phận 12 hải lý,” để nói rằng bức thư trên chỉ nói về chủ quyền 12 hải lý do Bắc Kinh nêu ra thôi, chứ không đồng ý Hoàng Sa hay Trường Sa thuộc Trung Quốc. Nhưng nói như vậy chỉ là cắt lấy một đoạn nói về một vấn đề kỹ thuật (hải phận 12 dặm biển chứ không phải 14, 15 hoặc 120 dặm). Trung Cộng sẽ nhắc Việt Cộng không nên “đoạn chương thủ nghĩa,” chỉ cắt một câu mà bỏ quên những câu quan trọng hơn trong văn thư của Phạm Văn Ðồng. Họ sẽ vạch ra ông Ðồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958;” mà nội dung đầy đủ như đã nêu trên. Không những thế, ông Ðồng nói sẽ ra lệnh cấp dưới “tôn trọng quyết định ấy,” “trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.”

Viết những chữ “trong mọi quan hệ … trên mặt bể” này là ký một “văn tự bán nước.” Bây giờ, Trung Cộng ngang nhiên đem giàn khoan HD-981vào hải phận nước ta, họ nói chỉ là thể hiện câu văn “tôn trọng quyết định ấy … trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Tóm lại, Việt Cộng không thể nào “cãi chày, cãi cối với Trung Cộng về bức công hàm năm 1958 được, dù Phạm Văn Ðồng đã cố ý viết một cách mập mờ.

Mập mờ là một thủ đoạn chính trị, đã được các đảng cộng sản sử dụng triệt để, nhất là khi nói với dân. Một câu nói mập mờ được ghi vào lịch sử là câu viết trong lời kêu gọi các cựu sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hòa đi trình diện “học tập cải tạo;” trong đó mập mờ nói rằng họ hãy đem theo đồ dùng cá nhân và lương thực “đủ trong 30 ngày.” Nghe vậy, ai cũng tưởng thời gian “cải tạo” chỉ kéo dài 30 ngày là dài nhất. Mấy trăm ngàn người đã bị mắc lừa vì câu nói mập mờ này. Nhưng trong nghề nói mập mờ thì Việt Cộng chỉ là học trò của Trung Cộng.

Trong điều kiện nào thì thủ đoạn nói mập mờ sẽ thành công? Khi kẻ nói mập mờ cũng là kẻ nắm dao đằng chuôi. Một câu mập mờ, nước đôi hay nước ba, có thể giải thích bằng nhiều lối khác nhau. Khi đó, anh nào đeo khẩu súng to hoặc nắm còng số 8 trong tay, anh ấy sẽ bắt anh yếu phải chấp nhận nghe theo lối giải thích của mình.

Năm 1975, 76, các tù binh “cải tạo” đã vào trong hàng rào kẽm gai rồi thì không thể đòi hỏi Việt Cộng hiểu câu “đủ trong 30 ngày” theo lối mình, hiểu rằng chỉ đi tù 30 ngày. Năm 2014 bây giờ Việt Cộng cũng không thể bắt Trung Cộng hiểu bức thư của Phạm Văn Ðồng không nói đến tên Hoàng Sa, Trường Sa tức là không dâng cùng Hoảng Sa, Trường Sa cho Bắc Kinh. Họ quên rằng trong các thủ đoạn lưu manh thì Trung Cộng vẫn chỉ là thày của Việt Cộng. Học được thói nói năng mập mờ, đem áp dụng để đánh lừa dân chúng trong nước mình thì dễ. Nhưng không thể đánh lừa cả tên “đồng chí anh em” đã dạy trò gian trá đó cho mình; trong khi nó viện trợ cho từng cây kim, từng hạt gạo, và súng, đạn, mìn, bẫy, để theo đuổi cuộc chiến tranh “chống Mỹ tới người Việt cuối cùng!”

Trong việc bang giao, khi nào thì người ta hay dùng thủ đoạn nói mập mờ? Thường người ta nói với nhau những điều không rõ ràng khi cả hai bên đều bị kẹt, không ai muốn nhường ai nhưng không ai muốn quyết liệt nói thẳng. Người lãnh đạo nhiều nước vẫn hay nói mập mờ để đánh lừa người nước khác. Chúng ta vẫn còn nhớ đặc sứ của ông Richard Nixon khi dụ chính phủ miền Nam tham dự hội nghị Paris đã hứa hẹn những gì với ông Nguyễn Văn Thiệu. Trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa thời đó, ai cũng biết bên nào mạnh hơn, có khả năng để nói mập mờ, sau thành tráo trở. Ngày nay, ông Karzai, tổng thống Afghanistan chọn một cách đối xử khác đối với chính phủ Mỹ. Ông đòi hỏi các thỏa thuận phải viết theo ý của mình, viết rõ ràng, không thể hiểu lầm được. Ðịa vị của ông Karzai, đối với chính phủ Mỹ, cũng không mạnh hơn bao nhiêu so với ông Nguyễn Văn Thiệu thời 1970, hoặc ông Phạm Văn Ðồng đối với Trung Cộng vào năm 1958.
Nhưng tại sao Karzai dám tỏ thái độ cứng rắn như vậy? Bởi vì ông ta không sợ, và tin rằng việc ông làm mang lại lợi ích cho dân ông. Tại sao chính phủ Mỹ phải chiều theo ý ông Karzai và người lên kế nhiệm ông?

Vì chính quyền Mỹ phải hành sử theo cung cách một chế độ tự do dân chủ, với lối sống dựa trên tính chất minh bạch, công khai. Sau thời ông Nixon, Quốc Hội Mỹ đã làm nhiều thứ luật hạn chế quyền quyết định của các vị tổng thống; trong đó có những quyền thương thuyết và thỏa hiệp trong vòng bí mật. Ở các nước khác, dù họ không làm ra những đạo luật bắt người cầm quyền phải làm mọi việc công khai, nhưng dư luận dân chúng, báo chí, các nhà chính trị đối lập, cũng có giá trị ngăn cản hoặc ràng buộc như những đạo luật.

Cũng vậy, chính quyền các nước dân chủ tự do rất khó dùng lối nói mập mờ đối với người dân của họ. Chúng ta có thể thông cảm rằng con người hay tránh không nói thẳng, không nói rõ ràng, nếu không bị bắt buộc. Vì người ta muốn tránh không quả quyết nói về bổn phận, trách nhiệm của mình đối với người khác cho rõ ràng; vì làm thế là bị ràng buộc. Các nhà chính trị trên thế giới đều thực hành câu tục ngữ của người Việt: “Làm trai cứ nước hai mà nói.”

Cho nên, trong chế độ tự do dân chủ các đại biểu của người dân phải làm ra những luật lệ bắt buộc bên hành pháp phải nói rõ ràng, chính sách của nhà nước thì không được mập mờ. Người ta tự nhiên làm như vậy vì những người nắm quyền, hành pháp cũng như lập pháp đều chịu trách nhiệm trước dân, do dân cử ra bằng lá phiếu tự do.

Ngược lại, thủ đoạn nói mập mờ chuyên được đem áp dụng trong các chế độ độc tài chuyên chế. Kẻ cầm quyền nói nước đôi, nước ba, rồi đến lúc cần đem giải thích theo một ý nghĩa phù hợp với quyền lợi của phe đảng họ nhất. Bọn lãnh tụ độc tài chuyên chế quen thói đánh lừa dân như thế mãi cũng được; vì họ có còng số tám. Nhưng khi tính đem áp dụng mưu mẹo lừa bịp đó với những kẻ mạnh hơn mình thì cuối cùng chỉ thiệt. Thiệt hại cho riêng họ không nói làm gì, họ còn gây tai hại cho cả nước Việt Nam nữa!

Theo Người Việt

 

Tài liệu Mật: Bản Tuyên Bố của Chu Ân Lai 4-9-1958- TT

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►”Bộ Ngoại Giao Việt Nam kính gởi những lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới Bộ Ngoại Giao Trung Quốc …” Tháng 5- 2014

Posted by hoangtran204 trên 02/06/2014

Đó là hàng chữ đầu tiên trong bản “công hàm phản đối TQ  lên LHQ” mà báo VNexpress đã lừa người dân.

Nói đúng ra, báo Việt Nam Express treo đầu dê bán thịt chó. Vì tiếp theo tựa đề của bài báo là: 

Việt Nam gửi công hàm phản đối Trung Quốc lên LHQ thì bên dưới là nội dung công thư của Bộ Ngoại Giao VN kính gởi Bộ Ngoaị Giao TQ,…(không biết là BT Phạm Bình Minh có dám viết công thư gởi BNG TQ hay không, nhưng không thâý bản copy.)

Trong “công thư” này, Bộ Ngoại Giao VN  trình bày vị trí của giàn khoan HD-981 nằm trong lô 143 thuộc thềm lục địa của Việt Nam…và những gì còn lại mà chúng ta đã biết trong tháng 5 qua theo dõi báo chí…và cuối thư là yêu cầu TQ rút ra khỏi lãnh hải VN.

Một điểm đáng chú ý khác là trong bài báo tiếng Anh của VNexpress trong link dưới đây có hàng chữ: “vietnam-sends-diplomatic-note-against-china-to-un-chief.”, nhưng trong nội dung chẳng có một chữ nào liên quan hay có chữ Liên Hiệp Quốc, United Nations.

http://vietnam.vnanet.vn/vnp/en-us/13/60513/news/vietnam-sends-diplomatic-note-against-china-to-un-chief.html

Nguyên văn như sau:

The Ministry of Foreign Affairs of the Socialist Republic of Viet Nam presents its compliments to the Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China and has the honour to state its position concerning China’s operation of the deep-water oil rid HYSY981 in the oil block 143 on the continental shelf of Viet Nam since 1 May 2014 as follows…

Trích dịch đoạn trên qua tiếng Việt:

Bộ Ngoại Giao VN kính gởi những lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới Bộ Ngoại Giao Trung Quốc và hân hạnh để nói lên tình trạng hiện nay liên quan tới giàn khoan dầu vùng HYSY981 của Trung Quốc đang nằm trong LÔ 143 bên trong thềm lục địa của Việt Nam kể từ ngày 1 – 5- 2014 như sau:….và cuối thư là yêu cầu TQ rút ra khỏi lãnh hải VN.”

Tóm lại, bản tiếng Anh trên báo VNexpress là tin tức về nội dung công thư của Bộ Ngoại Giao VN  KÍNH GỞI  Bộ Ngoại Giao Trung Quốc trình bày sự việc. Toàn bản công thư nầy KHÔNG có chữ nào PHẢN ĐỐI hành động của Trung Quốc; chỉ có YÊU CẦU Trung Quốc rút lui giàn khoan ra khỏi thêm lúc đại Việt Nam…Một lá thư rất yếu ớt, làm cho có lệ, và kết quả ra sao thì mặc kệ nó. 

Và lá thư đó gởi cho Bộ Ngoại giao TQ chứ  không phải là   “Việt Nam gửi công hàm phản đối Trung Quốc lên LHQ

Nội dung phần tiếng Anh trên trang của VNexpress có nhiều điểm như sau:

-không có ngày tháng năm,

-không có tên người gởi, tên người nhận

-không có ai ký tên, không có dấu mộc của Bộ Ngoaị Giao…

Trừ phi có ai đó lục tìm trong website của Liên Hiệp Quốc bản copy của công thư, còn hiện tại thì có thể nói rằng bài báo Việt Nam gửi công hàm phản đối Trung Quốc lên LHQ là một bản tin, hoặc đúng hơn là một sự lừa đảo người dân.

Chuyện HS và TS là chuyện đổi chác xảy ra trong quá khứ. Chúng ta hãy xem một chuổi sự kiện ăn khớp nhau kéo dài 64 năm qua thì rõ. (nguồn các sự kiện lịch sử ở cuối bài)

-Ông HCM viết thỉnh nguyện thư cuối năm 1949, rồi đích thân qua TQ cầu viện Mao Trạch Đông 1950, kết quả là quân Tàu kéo qua giúp 1951 cùng với vũ khí lương thực trong 5 năm; Tàu giúp chia đôi đất nước VN 1954, và thế là từ TAY KHÔNG, bổng nhiên ông HCM chiếm được 1/2 nước VN. Ngay sau đó TQ đòi công và chiếm một vài đảo trong quần đảo Hoàng Sa năm 1956, kế đó bắt hợp thức hóa đảo và biển mà TQ vừa chiếm được qua Bản Tuyên bố 4-9-1958, công hàm trả lời của TT Phạm Văn Đồng;  lập trường của đảng và nhà nước VNDCCH khi Trung Cộng chiếm Hoàng Sa năm 1974, thái độ của CHXHCNVN khi TQ chiếm đảo Gạc Ma 14-3-1988 là che dấu mãi cho đến 1999- 2000s mọi người mới biết khi TQ tung tin nầy qua Internet;  hội nghị bí mật ở Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990, sự kiện VN vội vả ký Hiệp Định Biên giới Trên Bộ 31-12-1999 (hợp thức hóa nhường 4000- 7000 km vuông đất đai đất đai), nhà nước để mặc cho TQ đánh đập, bắt cóc, đòi tiền chuộc hàng mấy trăm ngư dân đánh cá ở Hoàng Sa trong thời gian 2005-2013 mà không hề phản đối, nhà nước bắt bớ bất cứ ai biểu tình phản đối TQ từ 2006 cho đến nay, và phạt án tù rất nặng…

xâu chuổi các sự kiện lịch sử nói trên đã dẫn tới 4 nhận định dưới đây:

-Sẽ không có chuyện VN kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.

-Sẽ không có chiến tranh gì giữa VN và TQ vì vụ Biển Đông.

-Đảng và nhà nước VN sẽ tiếp tục theo chính sách 3 không.

-Chuyện mất biển đảo không phải là quan trọng, mà sự cầm quyền cai trị của đảng  ở VN mới là quan trọng. Tất cả những chuyện gì xảy ra trong tháng 5 và tháng 6 đều sẽ qua đi và không còn ai để ý nữa.

TQ sẽ tiếp tục khoan dầu, khi nào chán chê (và hoàn thành xây xong đảo Gạc Ma) thì TQ sẽ rút giàn khoan về, hoặc tiếp tục khai thác dầu khí tùy thích. Tầu TQ vẫn tiếp tục húc, bắn súng nước, và tầu Việt Nam vẫn né qua, né lại, tìm cách “đến gần giàn khoan để…tuyên truyền TQ rút giàn khoan về, và làm tinh thần công nhân TQ trên giàn khoan giao động, và sẽ làm gãy mũi khoang”. 

Trao đổi với phóng viên, một cán bộ của Cục Kiểm ngư bật mí, có hai mục đích.

Một là để ta phát loa tuyên truyền, vận động. Hai là nếu quanh khu vực giàn khoan có sự hoạt động của tàu thuyền, hay nói chính xác hơn là có tác động xung quanh thì sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình thăm dò, khai thác.

Vị cán bộ bên Cục Kiểm ngư nói: “Từ trên mặt nước xuống khu vực thăm dò sâu hàng nghìn mét. Chỉ cần có một chút dao động có thể sẽ làm gãy mũi khoan. Do đó Trung Quốc phải tìm cách ngăn chặn tàu của Việt Nam tiến đến gần”.” Nguồn: Vì sao Việt Nam phải cho tàu áp sát giàn khoan 981 của Trung Quốc? ” Báo Giáo Dục, 23-5-2014.

 

Nguồn:

1. Ông HCM viết thỉnh nguyện thư cuối năm 1949 cầu viện TQ xin giúp đỡ: đọc trong bài nầy>>>

   ► Đại thắng Điện Biên Phủ và Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam

Báo Quân Đội Nhân Dân – Thứ sáu, 01/05/2009

2.► Tài liệu Mật: Bản Tuyên Bố của Chu Ân Lai 4-9-1958- TT Phạm Văn Đồng và công hàm 14-9-1958
3. 
4.  
 5.  Bối cảnh dẫn tới hội nghị Thành Đô 1990

     ►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)

6. Đảo Gạc Ma: đảng và nhà nước VN ra lệnh cho bộ đội không được mang vũ khí và bắn lại quân TQ dẫn đến bộ đội VN bị bắn bia 14-3-1988.  phim của TQ   www.youtube.com …

7. Lập trường của BCT, đảng csvn và nhà nước 2010-2014:

   ►Trong khi TBT đảng CSVN nói: Tình hình Biển Đông không có gì mới, thì Trung Quốc đã xây xong một hòn đảo nhân tạo ở GẠC MA, dùng làm căn cứ quân sự bảo vệ tuyến đường biển vận chuyển 3/4 tổng số hàng hóa của TQ bán ra thế giới

8. Ớn chè đậu! Phó Thủ Tướng: đời con cháu chúng ta sẽ đòi .. lại Hoàng Sa và Trường Sa  17-5-2014

…Chính Sách quốc phòng  BA KHÔNG của Việt Nam …Chính sách đối ngoại của chúng ta rất rõ. Phương châm quan hệ giữa hai nước vẫn theo 4 tốt, 16 chữ vàng…

 ► Đã phát hiện và kiến nghị xử lý người Trung Quốc nuôi cá trên vịnh Cam Ranh từ năm 2009. Thế nhưng, đến 2012 chính quyền địa phương mới lập đoàn để kiểm tra tình trạng trên!
 ► Vịnh Cam Ranh nơi hải quân Mỹ mong muốn cảng này từ lâu, nhưng VN lo sợ TQ nên không dám cho Mỹ thuê – Trong khi dân TQ lậu ngang nhiên làm ăn trong vịnh- Chính quyền VN biết, nhưng làm lơ

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Thời Sự | 1 Comment »