Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu 1st, 2014

►Thay vì tham khảo trước với Hoa Kỳ và Nhật Bản trước khi phát biểu, Tướng Thanh đưa hai nước nầy vào thế việt vị tại Hội nghị đối thoại Quốc phòng an ninh châu Á (Shangri La 2014)

Posted by hoangtran204 trên 01/06/2014

Trần Hoàng điểm tin về cuộc họp quốc phòng tại Singapore 31-5-2014 đến 2-6-2014

Thứ Sáu 30-5-2014, Thủ Tướng Nhật Shingzo Abe đọc diễn văn chính trong hội nghị quốc phòng ở Singapore, ông nói: “Tôi đã nhận được sự hổ trợ mạnh mẻ và nhiệt tình của các nhà lãnh đạo các quốc gia Á Châu, Mỹ, Úc, Anh và Pháp và tất cả các nước đồng minh của Nhật.”

Thủ tướng Nhật Bản đã lên tiếng gay gắt chỉ trích Trung Quốc đã gây hấn ở Biển Đông, và ông Shingo Abe nhắc lại 3 lần rất cụ thể:  “Nước Nhật sẽ giữ một vai trò lớn hơn trong an ninh khu vực và sẽ hổ trợ các nước Đông Nam Á trong vấn đề tranh chấp biển đảo với Trung Quốc… Nước Nhật sẽ những hổ trợ mạnh mẻ nhất cho các quốc gia Đông Nam Á để bảo vệ an ninh các vùng biển và vùng hàng không…Nhật sẽ hổ trợ các nổ lực của Việt Nam và Philippines để giải quyết sự tranh chấp biển đảo và đất đai với Trung Quốc”.

Bài phát biểu khai mạc hội nghị của Thủ tướng Nhật đã làm cho Trung Quốc rất tức giận, Thứ trưởng ngoại giao TQ nói  “Nhật đang tu chính hiến pháp về chính sách an ninh của Nhật” để chính phủ Nhật có quyền đem quân đội ra ngoại quốc để giải quyết các tranh chấp quốc tế; chính Nhật là nước đi gây hấn…

Nhật hứa sử dụng tất cả mọi  thứ, không chừa lại gì, để hổ trợ các quốc gia đang có tranh chấp với TQ. Trong hội nghị, Nhật tái xác nhận sẽ cung cấp tới các quốc gia đồng minh Á châu về các vũ khí quân sự và huấn luyện quân sự và hợp tác quốc phòng. Nhật đã cung cấp các tầu chiến cho Indonesia, đã đồng ý cung cấp cho Philippines, và ĐANG có các cuộc đàm thoại để cung cấp các tầu chiến cho Việt Nam.  (http://bit.ly/1mCtsFE)

(Japan’s PM says his country will play a greater role in regional security and support South-East Asian countries in territorial disputes with China…Japan will offer its utmost support for the efforts of the countries of Asean [Association of Southeast Asian Nations] as they work to ensure the security of the seas and the skies…Mr Abe added that he supported efforts by the Philippines and Vietnam to resolve territorial disputes with China. source BBC)

Trước đó một tuần, Nhật đã thông báo, chiếc Kunisaki, một chiến hạm đổ bộ cở lớn của Nhật đã rời khỏi Nhật ngày 28-5 và tới Việt Nam hôm 6-6-2014. Trên chiến hạm nầy, chở theo 140 lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, Úc. Chiến hạm có khả năng vận chuyển 300 lính, 10 xe tăng, và 8 phi cơ trực thăng, và 2 tàu đổ bộ đệm khí cỡ nhỏ (để huấn luyện hay tập trận với Việt Nam (?)).

(nhưng giả vờ nói là diễn tập cứu trợ các tai nạn trên biển; vì thật ra VN cùng 5 nước diễn tập cứu hộ trên Biển Đông đã diễn ra giữa 6 nước Nhật, Việt Nam, Nga, Phi luật Tân, Indonesia vào 31-3-2014.)

Thứ Bảy 31-5-2014, Bộ trưởng QP Mỹ, Chuck Hagel,  đọc diễn văn nói rằng : ” Chính TQ đang làm mất ổn định trong vùng nầy.  Chúng tôi sẽ không quay mặt qua hướng khác làm ngơ khi những nguyên tắc căn bản của lề luật quốc tế đang bị thách thức…” bao gồm luôn các hành động của TQ nhằm giới hạn tự do quyền tự do đi lại trên biển và vùng hàng không (trên Biển Đông và Hoa Đông; giữa Nhật và Trung Quốc)

“Chúng tôi xác định phản đối bất cứ quốc gia nào (ám chỉ TQ) dùng các biện pháp hăm dọa bằng lực lượng quân sự để khẳng định chủ quyền…chúng tôi hổ trợ lời đề nghị của Nhật Bản sẽ giữ một vai trò tích cực hơn trong an ninh khu vực”  như Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã hứa.

Trung Quốc tức giận chỉ trích lại và cho rằng Mỹ đã lập lại các lời phát biểu của thủ tướng Nhật Shinzo Abe. TQ nói Mỹ đã có tính chất gây hấn khi yểm trợ cho Nhật trong cuộc tranh chấp  đảo Sensaku, và TQ chất vấn: lời nói của Mỹ là một sự hăm dọa thuần túy, hay là một sự hăm dọa có kèm theo bằng biện pháp bạo lực (quân sự). 

Bộ trưởng QP Mỹ Chuck Hagel và Thứ trưởng QP Trung Quốc Wang Guanzhong cũng có một phiên họp riêng, không cho báo chí tham dự. (Chúng nói chuyện gì?)

Trong thời gian có hội nghị tại Singapore, Bộ Trưởng QP Trung Quốc viếng thăm Cuba; ông ta không có mặt tại đây, và chỉ có Trung Tướng Thứ trưởng Wang Guanzhong đại diện cho TQ.

Hôm nay, chủ nhật 1-6-2014, Thứ trưởng QP Trung Quốc Wang Guanzhong nói “Các bài nói chuyện của ông Abe và Hagel gây cho tôi ấn tượng rằng họ đã phối hợp với nhau, họ đã hổ trợ lẫn nhau, họ đã khuyến khích lẫn nhau, và họ họ đã lợi dụng việc được phát biểu trước…và đã đạo diễn các hành động kích động và thách thức chống lại  Trung Quốc.

“The speeches made by Mr Abe and Mr Hagel gave me the impression that they coordinated with each other, they supported each other, they encouraged each other and they took the advantage of speaking first… and staged provocative actions and challenges against China

Trong khi đó, ngày 31-5-2014, ta hãy nghe  BT Quốc Phòng VN  Phùng Quang Thanh nói về quan điểm của VN ở phút 2:00- phút 3:00 “VN giải quyết bằng con đường hòa bình, trên cơ sở luật pháp…giữ gìn quan hệ hữu nghị giữa nhân dân 2 nước thông qua con đường đối thoại nhiều cấp nhiều ngành để giải quyết vấn đề căng thẳng hiện nay…chúng tôi đề nghị TQ rút giàn khoan, và cùng với Việt Nam đàm phán để giữ hòa bình, ổn định, và quan hệ hữu nghị giữa hai nước, có lợi cho cả 2 nước chúng ta…”

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh phát biểu tại Đối thoại Shangri-La (1-6-2014)

Rõ ràng là BCT đang giải quyết vấn đề tranh chấp biển đảo theo cách SONG PHƯƠNG. Còn Mỹ và Nhật Bản từ lâu nay muốn hổ trợ Việt Nam bằng cách giải quyết ĐA PHƯƠNG, nghĩa là có sự tham dự của họ trong các cuộc họp đàm phán, để TQ không bắt nạt Việt Nam. 


LS Lê Công Định

 Tướng Thanh nói: “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi. Vấn đề là ở chỗ, lãnh đạo cấp cao của các nước nên hết sức bình tĩnh, kiềm chế, đặt lợi ích của quốc gia trong lợi ích của khu vực và quốc tế; lựa chọn giải pháp hòa bình thông qua đàm phán ngoại giao để giữ gìn quan hệ hữu nghị giữa các nước.”

Sao ngày trước không nghĩ đến việc đặt lợi ích của quốc gia dân tộc lên trên để lựa chọn giải pháp hòa bình thông qua đàm phán ngoại giao, mà lại mang quân vào lật đổ chính quyền Sài Gòn bằng mọi giá, gây nên cảnh tang thương của không biết bao nhiêu gia đình cả hai miền Nam Bắc trong suốt gần 20 năm? Ngay cả khi cho rằng Mỹ xâm lược, sao không tìm giải pháp ngoại giao trước tiên, mà lại đánh trước, đàm sau, rồi đánh tiếp? Sao không áp dụng cùng phương thức ấy cho Trung Quốc ngày nay? Họ cũng là quân xâm lược đang chiếm đóng các hải đảo của tổ quốc đấy! Đừng ngụy biện nữa.

Mời các bạn đọc bài bình luận sau đây của blogger caunhattan:

Tướng Thanh đưa Hoa Kỳ và Nhật Bản vào thế việt vị tại Biển Đông

31-5-2014

blog caunhattan

Sáng 31/5/2014, tại Hội nghị đối thoại Quốc phòng an ninh châu Á (Shangri La 2014), tướng Phùng Quang Thanh có bài phát biểu bày tỏ quan điểm của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông. Được biết, bài phát biểu này đã được Bộ Chính trị duyệt đi duyệt lại, cân nhắc từng câu chữ trước khi nhét vào tay cho tướng Thanh mang đi đọc tại Hội nghị trên. Bài phát biểu được cho là có nhiều điểm tương đồng với quan điểm của Trung Quốc đã khiến Hoa Kỳ và Nhật Bản rơi vào thế việt vị hoàn toàn.

Trong bài phát biểu, tướng Thanh nói: “Quan hệ giữa Việt Nam và nước BẠN láng giềng Trung Quốc (dùng từ BẠN của ngành Tuyên giáo) về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề TRANH CHẤP chủ quyền trên Biển Đông nên đôi khi cũng có những VA CHẠMgây căng thẳng như sự việc ngày 1/5/2014”.

Trước đó ông ví chuyện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam như mâu thuẫn nội bộ gia đình và cần giải quyết song phương: “Những vấn đề có liên quan đến hai nước thì cần giải quyết SONG PHƯƠNG… Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi”.

Mở đầu hội nghị, Thủ tướng Shinzo Abe (Nhật Bản) có bài phát biểu rất mạnh mẽ lên án Trung Quốc, bảo vệ Việt Nam và Phillippines. Ông nói: “Nhật bản sẽ hỗ trợ tối đa mọi nỗ lực của các quốc gia Đông Nam Á nhằm bảo vệ an ninh trên biển và trên không… Nhật Bản sẽ hỗ trợ Việt Nam và Phillippines trong bảo vệ lãnh hải”. Đồng thời ông chỉ thẳng ra rằng Trung Quốc là thế lực gây mất ổn định khu vực.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, ông Chuck Hagel, bắt đầu bài phát biểu đã cáo buộc ngay Trung Quốc: “Trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã ĐƠN PHƯƠNG tiến hành xâm chiếm lãnh hải trên Biển Đông, làm mất ổn định khu vực”. Cuối bài phát biểu, ông ủng hộ Nhật Bản giữ vai trò lớn hơn và tích cực hơn trong khu vực như phát biểu của Thủ tướng Shinzo Abe trước đó.

Thượng nghị sỹ Ben Cardin (Hoa Kỳ) trong bài phát biểu cũng lên án hành động ĐƠN PHƯƠNGcủa Bắc Kinh dùng giàn khoan xâm phạm vùng biển ngoài khơi Việt Nam.

Đáp lại, bà Phó Oánh (đoàn Trung Quốc) tức tối nói: “Hà Nội và Bắc Kinh sẽ tự giải quyết TRANH CHẤP này trên cơ sở song phương. Đây là vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc, tôi cho rằng ông Ben đừng tự nhảy vào giải quyết vấn đề này hộ chúng tôi (VN – TQ)”.

Trong cuộc gặp đoàn Hoa Kỳ và Trung Quốc tại Hội nghị, tướng Vương Quán Trung (Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội TQ) cũng chỉ trích ông Chuck Hagel về quan điểm của Hoa Kỳ và cho rằng đây là vấn đề song phương giữa Trung Quốc và VN.

Như vậy, quan điểm của Phùng Quang Thanh và Phó Oánh, Vương Quán Trung rất tương đồng: đây là vấn đề nội bộ gia đình Việt Nam – Trung Quốc. Phó Oánh dùng từ “tranh chấp” chỉ việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào xâm phạm vùng biển Việt Nam, cố tình lờ đi đây là hành động xâm lược ĐƠN PHƯƠNG. Thủ tướng Shinzo Abe, Bộ trưởng Chuck Hagel và Thượng nghị sỹ Ben Cardin luôn dùng từ ĐƠN PHƯƠNG để lên án hành động xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam. Tướng Thanh lại dùng từ “tranh chấp”, “va chạm” để chỉ hành động Trung Quốc đơn phương xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt Nam, rất gần với từ ngữ trong luận điệu của Phó Oánh, Vương Quán Trung. Riêng từ “va chạm” mà tướng Thanh dùng khiến làm giảm hẳn tính chất phi pháp, nghiêm trọng trong hành động đơn phương mà Trung Quốc tiến hành xâm chiếm chủ quyền biển của Việt Nam, đe dọa tự do hàng hải, an ninh khu vực và quốc tế. Ngoài ra việc tướng Thanh ví đây là chuyện gia đình khiến nhiều nhà quan sát bên ngoài phải ‘nhíu mày” bởi hành động Trung Quốc đơn phương xâm phạm chủ quyền của Việt Nam còn vi phạm luật pháp quốc tế, đe dọa an ninh và tự do hàng hải chung của các nước nên không thể coi là chuyện “nội bộ gia đình”.

Đến đây, quan điểm về giải quyết vấn đề Biển Đông hiện nay mà Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh bày tỏ tại hội nghị Shangri La 2014 khá gần với quan điểm của Trung Quốc, không biết vô tình hay cố ý, đã đưa Nhật Bản cùng Hoa Kỳ vào thế việt vị hoàn toàn.

Song, tướng Thanh lại tự mâu thuẫn: Chúng tôi hy vọng vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, các mâu thuẫn, bất đồng sẽ từng bước được giải quyết, duy trì được sự ổn định và phát triển ở khu vực, đóng góp chung cho môi trường hòa bình của thế giới. Sau đó, ông liệt ra hàng loạt các cơ chế đa phương cần có để giải quyết.

Tại hội nghị quốc tế này có nhiều đoàn tham dự (trong đó có những đoàn đang rất ủng hộ ta trước Trung Quốc) nhưng trong bài phát biểu tướng Thanh chỉ dành từ BẠN riêng cho Trung Quốc khiến giới quan sát không khỏi giật mình và tự hỏi đây có phải ranh giới hệ tư tưởng mà Việt Nam muốn vạch ra giữa Hội nghị Đối thoại quốc phòng an ninh châu Á để chứng tỏ một sự tương đồng rất quan trọng với Trung Quốc và mọi sự ủng hộ của các nước khác dành cho Việt Nam đều không quan trọng bằng chữ BẠN này.

Hiện, dư luận đang xôn xao việc chỉ đạo “xuống giọng” tại Hội nghị Shangri La và việc trì hoãn chuyến thăm Hoa Kỳ của Phó thủ tướng Phạm Bình Minh hẳn phải có một thông điệp gì đó mà Hà Nội muốn chuyển tới Bắc Kinh cũng như thế giới.

——————————-

 

*Những phát biểu thêm bên lề hội nghị:

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Một dân tộc mất đi ý chí đấu tranh thì trước sau gì cũng trở thành nô lệ cho một dân tộc khác

Posted by hoangtran204 trên 01/06/2014

31-5-2014

Nguyễn Ngọc Nhi 

Tây Tạng ( Tibet ) vốn là 1 quốc gia rộng lớn và giàu có , với lịch sử trên 3000 năm rất thịnh vượng . 

Nằm giáp ranh với 3 cường quốc hung hãn là Mông Cổ , Trung Hoa và Ấn Độ , Tây Tạng thường xuyên bị lấn đất , bị xâm lược . Nhưng suốt mấy ngàn năm đó Tây Tạng vẫn giữ được độc lập nhờ 2 yếu tố : Những vị vua can trường và quân đội tinh nhuệ , thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất của người dân Tây Tạng .

Người Tây Tạng sống chủ yếu bằng nghề du mục . Họ sống bằng nghề chăn nuôi và săn bắn là chính . Vì vậy thanh niên nam nữ Tây Tạng rất giỏi cưỡi ngựa , bắn cung và đấu kiếm . Quân lính của Tây Tạng cổ rất thiện chiến và can đảm , họ có câu nói đầu lưỡi là ” kẻ thù chưa chết hết thì ta không về nhà ! ” . Nhờ vậy mà họ không những có thể đẩy lùi mọi cuộc tấn công xâm lược của Trung Hoa , Mông Cổ và Ấn Độ , mà còn nhiều lần đem quân sang đánh chiếm các vùng lân cận .

Khi đạo Phật được truyền bá sang Tây Tạng, vào khoảng năm 615, vua Songtsan Gampo theo đạo Phật , biến đạo Phật thành quốc giáo , cho dịch nhiều kinh sách và bắt đầu xây những ngôi chùa nguy nga tráng lệ . Người dân Tây Tạng bắt đầu được khuyến khích theo đạo Phật , ăn chay , ngừng sát sanh và từ từ bỏ đi ý chí chiến đấu .

Hơn 1000 năm sau đó , nhờ vào uy tín của các đời vua Tây Tạng , nhờ các vị Lama Tây Tạng đi khắp nơi truyền bá Chánh pháp , cùng việc Phật giáo phát triển cực thịnh ở các nước láng giềng , từ Ấn Độ , Trung Quốc đến Mông Cổ , Nepal … giúp cho Tây Tạng không cần dùng quân đội vẫn giữ được độc lập nước nhà . Vì các vị vua các nước láng giềng cũng đều sùng đạo Phật , và coi rất trọng các vị sư người Tây Tạng .

Dần dà , quân đội Tây Tạng được giải tán , đa số thanh niên Tây Tạng vào chùa tu làm sư , và Đức Dalai Lama trở thành người lãnh đạo quốc gia toàn diện , vừa là 1 lãnh đạo tôn giáo vừa là 1 lãnh đạo quân sự và chính trị .

Mọi việc diễn ra tốt đẹp và Tây Tạng được sự trọng vọng của các nước láng giềng , an hưởng cảnh hòa bình thịnh vượng , cho đến khi Trung Quốc biến thành 1 quốc gia theo Cộng Sản .

Cộng sản là vô thần nên Chúa , Phật gì đều là con số KHÔNG trong mắt họ . Họ chỉ coi trọng lãnh đạo CS của họ , đó là Mao và Đặng , mà lãnh đạo CS nào thì cũng đều muốn xâm lược nước khác , bắt người khác phải theo chủ nghĩa CS của mình , nên sau khi lên cầm quyền không bao lâu thì Mao bắt đầu tiến hành xâm lược Tây Tạng , dưới cái tên mỹ miều là cuộc ” cách mạng văn hóa ” .

1950 , quân đội Trung Cộng tràn sang xâm lược Tây Tạng . Không có quân đội , vũ khí để chống lại lính Trung Cộng , Tây Tạng thất thủ mau chóng . Các vị sư bình thường được coi trọng bị đem ra sỉ nhục , đánh đập , tù đày và sát hại . Người dân Tây Tạng từ lâu mất đi ý chí chiến đấu và đấu tranh , chỉ biết cúi đầu chấp nhận . Đức Dalai Lama cũng vô phương cứu Tây Tạng , đành phải chạy trốn sang sống lưu vong ở Ấn Độ .

Từ đó đến nay , đã hơn 1/2 thế kỷ , người dân Tây Tạng vẫn bị Trung Cộng đô hộ , đàn áp , trở thành những công dân hạng 2 sống vất vưởng , nghèo nàn trên chính quê hương của mình . Những cuộc nổi dậy của người dân bằng phương thức ôn hòa hay tự thiêu , hoàn toàn không có tác dụng gì trước nhà cầm quyền độc tài cộng sản Trung Quốc .

Nhìn lại VN , những tên thái thú ngồi trong Bộ Chính Trị Hà Nội , luôn tìm mọi cách làm nhụt đi ý chí chiến đấu và đấu tranh của người dân VN . Chúng nhồi nhét vào đầu người dân nỗi sợ chiến tranh , sợ hy sinh , sợ mất mát , sợ mọi thứ tranh đấu , sợ mọi ý tưởng phản kháng , chống đối …

Tại sao vậy ?

Nên nhớ rằng , 1 dân tộc mất đi ý chí chiến đấu , mất đi ý chí đấu tranh , thì trước sau gì cũng bị 1 dân tộc khác bắt làm nô lệ .

 

 

Cảnh sát Trung Quốc đang cố bắt một nhà sư Tây Tạng dang biểu tình (2008)

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Nỗi khổ vì có một cha già và tổ chức chính trị do cha lập ra – Hội nghị Thành Đô 1990

Posted by hoangtran204 trên 01/06/2014

Nỗi khổ vì có một cha già

31-5-2014

Xích Tử
Nguồn: danluan.org

Từ hôm mở đầu cho sự kiện giàn khoan Haiyang Shiyou HD 981 của Trung Quốc “hạ đặt” trái phép tại lô 143 trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, tôi càng ngẫm ra và nhận thức sâu sắc, buồn vô hạn về cái điều đã nghĩ, đã nói ở một số entries đăng đâu đó rằng mọi sự bắt đầu, có nguyên nhân từ vị cha già dân tộc và cái tổ chức chính trị cũng như toàn bộ hoạt động “cách mạng” của cái tổ chức chính trị do vị cha già đó đóng vai chính lập nên diễn ra trên đất nước này.

“Cha già dân tộc” là cụm từ dùng để tự mệnh danh của cha già, qua một cuốn sách do chính cha già viết (hoặc nhờ ai đó viết) nhưng dùng một tên giả đứng làm tác giả, xuất bản lần đầu năm 1948, thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang là phòng ngự, chưa chuyển sang tổng tiến công; nơi xuất bản cuốn sách là Trung Quốc (ơn trời; ngay thời ấy mà một nhà in Trung Quốc nào đã có bộ chữ Việt và những người thợ sắp chữ Việt tốt nghề và tốt bụng đến thế). ( sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” của Trần Dân Tiên.)

Thời điểm tự mệnh danh ấy vị cha già vẫn chưa già, mà có thể nói là còn rất trẻ, về tuổi đời, về trình độ, và về sự cống hiến cho sự nghiệp của dân tộc, của đất nước. Đem cha già mà so với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và những bậc tiên liệt khác hy sinh cho mệnh nước, là những vị học hành thấu đáo, kiến văn uyên thâm, niên tuế cao hơn, thì người cha già tự mệnh danh chẳng là cái gì; song các vị niên cao vọng trọng ấy có tự gọi mình, hoặc được ai gọi, bằng cụm từ xấc xược, vô đạo vô luân vậy đâu.

Hành vi thiếu đạo đức, không phù hợp với truyền thống dân tộc đó chỉ có ở một người chưa học hết bậc Thành chung (lớp 9), hoàn cảnh gia đình có nhiều khuyết nhược, sớm thoát ly giáo dục gia đình, lang thang qua trời tây trước hết tìm kế sinh nhai và thay đổi số phận trong khuôn khổ chế độ thuộc địa bằng việc xin học Trường thuộc địa.

Nhưng việc không thành, cha già đã phải nương nhờ các cụ tiền bối để học (lỏm) hành, làm báo, làm cách mạng. Thời cơ đến với việc gia nhập Quốc tế III sau khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” (7/1920) của Lenin, hoát nhiên đại ngộ nên “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”..; từ đó mà nghiệm ra rằng ”An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”

Luận cương- tự nó không phải là cẩm nang- là cuốn sách chỉ cách thức tiến hành công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc địa khỏi chế độ thực dân. Sách này là sự tổng hợp những nguyên tắc marxist do Lenin phát triển về vấn đề dân tộc và các dân tộc thuộc địa; là sự chỉ dẫn/ve vãn đến một thế lực ủng hộ, về mặt chính trị, về huấn luyện cán bộ, về hỗ trợ kinh tài và cả phương tiện bạo lực cho cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa tư bản . Thế lực đó chính là “giai cấp công nhân”, cách mạng vô sản, là nước Nga – Liên Xô sau cách mạng tháng Mười, là Quốc tế III. Để nhận được sự ủng hộ đó, các dân tộc thuộc địa phải đứng hẳn về/ là một bộ phận chịu lệ thuộc, chịu sự chỉ đạo và chỉ huy của Quốc tế III và các cường quốc đang tiến hành đấu tranh/cách mạng theo đường lối ấy.

Từ đó, dưới sự dẫn dắt của cha già, chính cái  đảng cộng sản do cha già lập ra đã tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng, đưa dân tộc từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trước hết là mục tiêu giải phóng dân tộc trong cuộc hôn phối ép duyên với chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giai cấp, cách mạng và chuyên chính vô sản, cho dù trong nước chẳng có giai cấp vô sản nào cả. Cuộc hôn phối đó có cờ giương trống mở cờ hẳn hoi và có đến cả hai ngọn cờ. Nhờ cơn gió độc nhưng lại lợi cho cách mạng là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai nên cách mạng tháng Tám “thành công” và cả dân tộc vất vả vác hai ngọn cờ đó đi suốt lịch sử đến nay. Cha già phấn khoái vì thắng lợi nên viết sách nói trên; từ trên đỉnh cao của thói kiêu ngạo thiếu văn hóa cộng sản, cha già dám gọi cả Trần Hưng Đạo Vương là bác nữa.

Thế nhưng có vinh quang gì. Toàn bộ các thắng lợi này đến thắng lợi khác là do, nhờ và bị lệ thuộc vào Liên Xô, Trung Quốc. Cái oái ăm nhất và hiểm độc nhất của sự lệ thuộc này so với chế độ thuộc địa, với sự lệ thuộc kinh tế, liên minh quân sự trong hệ thống “tư bản chủ nghĩa” là sự gắn kết về lý tưởng chính trị tiến lên chủ nghĩa xã hội, thế giới đại đồng với thiết chế chính trị độc đảng toàn trị. Theo đó, thiết chế này biến phần còn lại của thế giới ngoài đảng ra- kể cả dân tộc mình, nhân dân mình- thành kẻ thù; sự tồn tại, an ninh của đảng, của chế độ (chứ không phải tổ quốc, dân tộc, nhân dân) phụ thuộc vào các nước/đảng đàn anh trong khối; những đàn anh này được xem như là không phải kẻ thù mặc dù thực chất vẫn là kẻ thù của nhau. Đây là hình thái của chủ nghĩa đế quốc, thực dân kiểu mới, tinh vi hơn nhiều so với trước đó. Nó không lộ mặt với những tham vọng, những lực lượng vật chất được chuyển từ nước đế quốc, thực dân sang nước thuộc địa với sự bảo vệ của súng đạn để áp bức, khai thác tài nguyên, bóc lột lao động bản xứ, mà là thực dân, đế quốc bằng chủ thuyết, tư tưởng, bằng gây thanh thế, ảnh hưởng chính trị kèm theo cái củ cà rốt giúp đỡ, viện trợ kinh tế, đỡ đầu và quyết định cho sự tồn tại của nhóm chóp bu nắm quyền tại các nước thuộc địa mới.

Việc các nước nhỏ đi báo cáo, xin ý kiến trước mỗi nhiệm kỳ đại hội đảng hoặc như kiểu tập đoàn lãnh đạo nhiều thế hệ của cộng sản Việt Nam sang Trung Quốc để phó hội Thành Đô một cách lén lút không đếm xỉa gì hàng mấy vạn bộ đội hy sinh trong chiến tranh Việt Trung 1979 – 1985 là những chứng minh cho sự lệ thuộc có tính đế quốc thực dân – thuộc địa này.

Đối với những nước thuộc địa mới như Việt Nam, đây là thời kỳ mất độc lập, tự chủ và chủ quyền tệ hại và nguy hiểm nhất trong lịch sử. Bởi như đã nói trên, tình trạng đó không lộ mặt; nhân dân không biết, không được biết và không có quyền chống lại tình trạng đó.

Trong khuôn khổ phạm trù thuộc địa mới, về đối ngoại, các nước thuộc địa mới đóng cửa với thế giới tự do, dân chủ được gọi là chủ nghĩa tư bản, và chỉ được thực hiện các chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao trong khối xã hội chủ nghĩa là chính, theo chỉ dẫn của các đàn anh. Mọi mở rộng ra khỏi khối phải được sự đồng ý của những ông anh này. Nếu ai vi phạm nguyên tắc đó, như kiểu Tito của Nam Tư, lập tức sẽ bị trừng phạt.

Đối nội, các nước thuộc địa xã hội chủ nghĩa thiết lập một chế độ toàn trị duy nhất một đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện. Đảng quản lý tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội, từ tư tưởng tinh thần đến kinh tế, từ hệ thống nhà nước đến các tổ chức xã hội dân sự, báo chí truyền thông, họ tộc, gia đình; kiểm soát và quản lý cá nhân đến mức cá biệt hóa tuyệt đối về sự tồn tại riêng tư bằng lý lịch và hộ khẩu, nhưng lại đồng phục hoá sự hình thành nhân cách, cá tính, phong cách.

Bằng nguyên tắc dân chủ tập trung và lãnh đạo tập thể, chế độ đã triệt tiêu mọi sự năng động sáng tạo và trách nhiệm cá nhân của hệ thống chính trị, hoạt động khoa học, sáng tạo nghệ thuật…Tình trạng đó làm cho đất nước suy kiệt nhân tài, không có sự xuất chúng, không có lãnh tụ, không có chính khách theo đúng nghĩa. Sự hạn chế và bị làm méo mó khái niệm và các quyền tự do dân chủ, việc không thừa nhận hoặc xuyên tạc khái niệm và các quyền con người để chỉ thực hiện cái gọi là các chuẩn mực, giá trị xã hội chủ nghĩa đã phá hủy dân khí, nô dịch dân trí, phá hủy toàn bộ nền văn hóa cổ truyền truyền thống, đặc biệt là đạo đức, lòng nhân ái, sự trắc ẩn để tạo nên một nền văn hóa lắp ghép, vừa lai căng, vừa suy đồi, kiêu ngạo, vô sỉ, vô cảm và không kiểm soát được.

Từ và cùng với quá trình đó, nền kinh tế XHCN với mong muốn xóa bỏ sở hữu tư nhân, xóa bỏ gia đình, dòng họ, hương hoả, tôn giáo; thực hiện sản xuất tập thể, thiết lập hệ thống quốc doanh vô tội vạ, quản lý tập trung theo kế hoạch hóa… đã không làm nên được cái gì gọi là chủ nghĩa xã hội, lại làm suy kiệt tài nguyên quốc gia và hủy hoại môi trường. Tấm gương công xã nhân dân, luyện thép ở từng thôn, giết chim sẻ cả nước của Trung Quốc không phải không có ở Việt Nam.

Sự thất bại toàn diện đó làm cho tính chất lệ thuộc của các nước thuộc địa xã hội chủ nghĩa vào các nước đế quốc thực dân xã hội chủ nghĩa ngày càng nặng nề, nghiêm trọng; ngày càng lẩn quẩn. Đây lại chính là điều mong muốn, là dụng ý trong thiết kế chính sách đế quốc của các nước lớn trong khối. Cộng thêm vào đó những cú đi đêm để chia xẻ lợi ích của các cường quốc “tư bản chủ nghĩa” với các nước đàn anh xã hội chủ nghĩa, tình trạng của các nước thuộc địa xã hội chủ nghĩa ngày càng khốn cùng.

Điểm lại, lịch sử của sự lệ thuộc, tình trạng thuộc địa từ học thuyết, mô hình thiết kế chế độ chính trị đến sự mất chủ quyền một cách thực sự của Việt Nam bắt đầu từ sự hoát nhiên đại ngộ Lenin, gia nhập Quốc tế III của cha già.

Tiếp đó là việc thành lập đảng cộng sản do Liên Xô và Quốc tế cộng sản chỉ đạo, cung cấp tài chính hoạt động. Rồi các thời kỳ “cách mạng” trước 1945 với sự hỗ trợ của cả lực lượng trên cùng với Đảng cộng sản Trung Quốc, tiến đến giành chính quyền 1945 và công cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp trong sự giúp đỡ, kiểm soát, theo dõi của khối xã hội chủ nghĩa với việc nước VNDCCH được Trung Quốc và Liên Xô công nhận, để tạm kết thúc bằng việc bị ép ký hiệp định Genève trong thế bị lệ thuộc hoàn toàn. Thời kỳ tiếp sau đó chỉ là hậu quả của thời kỳ trước : tiếp tục bị lệ thuộc khi chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, gia nhập “hệ thống xã hội chủ nghĩa” vì không thể nào khác và vì để có điều kiện thôn tính miền nam.

Do vậy mới có công hàm 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng. Sau tuyên bố 4/9/1958, công khai thì không ai buộc, cũng không cần phải có thủ tục ngoại giao khẩn cấp như vậy thì tại sao phải có cái công hàm ấy. Trong tuyên bố 4/9, Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền với cả Hoàng Sa và Trường Sa; công hàm có loại trừ vùng lãnh thổ đó không, khi những ngày này, Việt Nam vin vào việc đó là vùng chủ quyền của VNCH trong khi tại thời điểm 1958, họ có thừa nhận thực thể có chủ quyền với tư cách quốc gia của VNCH đâu cùng với tuyên bố đã ghi trong Hiệp định Genève về một nước Việt Nam thống nhất, có nghĩa Hoàng Sa và Trường Sa cũng là của VNDCCH.

Từ đó mới có hiệp định Paris 1973 sau khi Mỹ và Trung Quốc bắt tay nhau trên đầu nhân dân Việt Nam, trên xác chết và mồ chôn của vô số thanh niên hai miền nam bắc; mới có việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa 1974 mà VNDCCH không nói một tiếng nào.

Một con gà thuộc địa bị mắc tóc vào chủ nghĩa, vào cái mà ngồi trong phòng vị cha già dân tộc la lớn lên.

Mắc tóc nên khi giàn khoan HD – 981 xâm phạm thềm lục địa Việt Nam, trong kết luận hội nghị của trung ương đảng, tổng bí thư đã không dùng một từ Trung Quốc nào, vẫn thể hiện tư tưởng chủ hòa, rồi mãi cho đến nay, ngoài thông tin ngoài luồng nói rằng Tổng bí thư xin qua gặp Tập Cận Bình nhưng không được chấp nhận, Đảng CSVN không có một tuyên bố nào.

Chủ tịch quốc hội thì ban đầu nói tình hình “phức tạp khó lường”, sau đó lại “không bất ngờ” (quá khứ không bất ngờ, tương lai thì khó lường, rất biện chứng).

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao tỏ ra yếm thế “giải quyết giàn khoan là rất phức tạp”.

Thủ tướng nổ ở nước ngoài quyết tâm bảo vệ chủ quyền,“không đánh đổi chủ quyền bằng thứ hữu nghị viển vông” nhưng khi về nước lại trở cờ “Bảo vệ chủ quyền” nhưng “Vẫn tiếp tục coi trọng quan hệ hữu nghị với Trung Quốc”, rồi “không vì hữu nghị mà không nói sự thật”.

Đại sứ Việt Nam ở Mỹ lại có một câu được báo trong nước đăng ngớ ngẩn lạ lùng: “Trung Quốc đang bịa đặt sự thật” (đã bịa đặt lại còn sự thật). Rất nhiều từ sự thật, nhưng đó là sự thật gì ?

Công hàm 1958 thì cho đến nay nhân dân không biết mặt mũi ra sao từ nguồn nhà nước công khai, ngoài bản chụp trên mạng mà nghe nói rằng lưu hành trong giới người Hoa – đặc tình của Hoa Nam cục – ở Chợ Lớn trước 1975.

Khi Trung Quốc tái khẳng định chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa đã được VNDCCH công nhận bằng sự viện dẫn công hàm đó thì Việt Nam hất trái bóng về phía VNCH, đổi tên công hàm thành công thư, mà không nghĩ kịp rằng nói như vậy là thừa nhận VNDCCH vi phạm hiệp định Genève rồi cả Hiệp định Paris sau đó khi đưa quân miền bắc vào chiếm Dinh Độc lập, bắt Chính phủ VNCH đầu hàng vô điều kiện tại chỗ.

Sự thật về cuộc bạo loạn ở Bình Dương mãi mãi nhân dân sẽ không biết được do đâu, do ai tổ chức khi cảnh sát làm ngơ từ phút đầu và với 19.000 “công nhân” xuống đường, sau 2 ngày, đã có thể bắt được ngay hơn 700 người chủ mưu gây rối, rồi trong số ấy nắm ngay được số hôi của để truy tố, xét xử khẩn cấp 01 người với bản án 12 tháng tù giam (trong khi vụ hôi của chỗ xe bia đổ thì sau gần một năm vẫn chưa tìm được mấy thủ phạm).

Nhân dân sẽ không biết sự thật nào khi nhà nước nói sẽ kiện Trung Quốc, rồi lại không kiện và chờ thời điểm, dù “Hồ sơ kiện Trung Quốc đã chuẩn bị từ lâu”, và đến bản tin trên ngày 30/5/2014, VTV1 dẫn lời Thứ trưởng Ngoại giao khẳng định Việt Nam chỉ áp dụng các biện pháp hoà bình.

Nhưng nhân dân biết được cái sự thật về tình trạng đất nước là thuộc địa của một kẻ thù đế quốc bốn tốt và mười sáu chữ vàng; đất nước đã bị mất chủ quyền bằng công hàm hẳn hoi, đất nước được để bị xâm lược bằng sự giải thích rằng kẻ xâm lược anh em ấy chiếm (biển đảo) cũng chỉ giữ giùm. Hoàng Sa và một phần Trường Sa không đòi lại được có nghĩa là Trung Quốc đang thực hiện đúng Công ước UNCLOS 1982 ấy chứ, làm sao mà có thể trục xuất riêng HD- 981?

Hết cách rồi, các đồng chí, đồng bào ơi! Nguồn cơn cũng từ vị cha già của chúng ta thôi.

Học theo người chúng ta có thể đấu tranh bằng cách “Tôi rất đau buồn không ngờ đảng/nước anh em lại đưa cái giàn khoan ấy đến” như một câu tương tự trong Di chúc – bảo vật quốc gia người để lại.

Xích Tử

—-

 Bối cảnh dẫn tới hội nghị Thành Đô 1990

►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)

Hồi ký Trần Quang Cơ — Diễn Đàn Forum

 

 

 

nnnn

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »