Trần Hoàng Blog

►Chiếc vé tàu đưa bố về quê

Posted by hoangtran204 trên 26/04/2014

Trần Hoàng: thảm cảnh của người nông dân VN kéo dài kể từ ngày đảng CSVN nắm quyền. Ông HCM và đảng CSVN phát động chiến dịch cải cách ruộng đất 1953-1956, và mượn tay nông dân nghèo tước đoạt ruộng đất của các địa chủ (tức các nông dân có ruộng đất, giàu có hơn các nông dân nghèo).

Kế đó, quí ông HCM, Lê Duẩn, đã ép nông dân miền Bắc vào Hợp tác xã nông nghiệp từ năm 1959-1961, và kể từ đó quyền sở hữu đất đai chuyển vào tay đảng CSVN; thật ra là đất đai của cả miền Bắc nằm trong tay một hai cán bộ đảng cao cấp. Và các đảng viên gạt gẫm dân chúng bằng cách chơi chữ một cách ma mãnh rằng: đất đai thuộc sở hữu toàn dân. 

Sau 1975, Lê Duẩn và đám cán bộ đảng đã ép nông dân Miền Nam vào  hợp tác xã nông nghiệp (để cướp ruộng đất như đã từng làm ngoài Bắc). Nhưng người nông dân MN đã thấy rõ trò bịp này. Họ nhất quyết không bỏ ruộng đất. Nhiều nơi khác bỏ hoang ruộng đất và không làm lúa, và chỉ làm đủ  lúa cho gia đình họ ăn. Ruộng đồng bỏ không. Cả nước đã rơi vào nạn đói từ 1976-1986.

Nông dân miền Bắc nổi loạn, và ở nhiều nơi họ đã đánh lại chủ tịch xã, bí thư xã, và đánh trả công an. Trên thành phố và các tỉnh, điện bị cúp mỗi tuần 6 ngày vì Liên Xô kiệt kệ về kinh tế và không cho VN xăng nữa. Nạn lạm phát lên đến 489-900%. Lê Duẩn chết tháng 7-1986. Mỹ đã cấm vận VN 1979 sau khi VN tấn công chiếm Kampuchia và không chịu rút quân về. Cuối năm 1986, Liên Hiệp Quốc (và Mỹ) tiếp tục kêu gọi VN rút quân ra khỏi Kampuchea thì Mỹ sẽ bỏ lệnh cấm vận. Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt…đồng ý rút quân ra khỏi Kampuchia trong thời hạn 3 năm, 1986-1989. Mỹ đã trợ giúp y tế và thuốc men 1987, rút bớt lệnh cấm vận và ra hiệu cho Thái Lan, Mã Lai, Đài Loan, Nam Hàn, Nhật…vào mở hãng xưởng ở Việt Nam. Đảng CSVN quíu quá không biết gọi gì cho phải lẻ trước tình thế bẻ bàng này nên vớ ngay chữ “đổi mới” cho khỏi mắc cở vì xưa nay huênh hoang “trung thành” với với mớ lý thuyết vớ va vớ vẫn về kinh tế chính trị của Mác-Lênin. 

Câu chuyện dưới đây phản ảnh thực tế của hợp tác xã và tình cảnh của đại đa số người dân Việt Nam suốt từ 195os cho đến nay: nghèo khổ; trong khi đó lũ cán bộ đảng nhông nhỗng ăn chơi, vì họ sai khiến được  quân đội nhân dân VN và công an nhân dân bảo vệ cho các cán bộ đảng cao cấp; họ cột sợi dây vào cổ đám này bằng cách cấp phát nhà ở, và lương cao. 

CHIẾC VÉ TÀU ĐƯA BỐ VỀ QUÊ

23-4-2014

Minh Diện

Blog Bùi Văn Bồng

 

 

Gần bốn chục năm tôi mới quay lại làng Thông. Đứng tần ngần ở ngã ba Gòn nơi rẽ vào làng, tôi bỗng nhớ cây gạo trổ bông đỏ rực mùa hè năm ấy.

Giờ không còn cây gạo ấy, con đường làng cũng không còn rợp bóng tre, nhà cửa san sát hai bên như phố thị. Câu ca dao vui thời dĩ vãng bỗng như văng vẳng bên tai tôi:

“ Làng Thông trồng đậu trồng cà
Hạt đậu thì đỏ núm cà thì xanh!”
“Mớ đời con gái làng Thông
Cái váy thì mỏng cái mông thì tròn!”

Gặp bà già cắp rổ rau ra chợ bán, tôi hỏi:

– Bà có biết nhà bác Đào?

Bà hỏi lại :

– Chú hỏi Đào nào?
– Dạ, Đào là vợ bác Viên liệt sỹ!

Bà nhìn tôi chăm chú rồi khẽ la lên:

– Chú Minh! Có phải chú Minh bên Bóng ?

– Vâng !

– Không nhận ra chị à? Chị là Đào vợ anh Viên đây!

Chị Đào buông rổ rau, những mớ rau ngải cứu nhỏ xíu rơi tung tóe ra đường. Tôi sững sờ. Chị Đào đây ư! Có thật là chị Đào? Tôi thầm kêu lên khi nắm bàn tay gầy guộc, mỏng mảnh, nhìn khuôn mặt choắt cheo đầy nếp nhăn dưới vành khăn mỏ quạ lòa xòa những sợi tóc trắng. Cô diễn viên văn công nổi tiếng xinh đẹp ngày nào đã trở thành một bà lão lưng còng hom hem thế này ư?

Tôi nói:

– Chị thay đổi nhiều quá em không nhận ra.

Chị Đào cười:

– Chị già lắm rồi phải không chú?

Tôi biết mình trót lỡ lởi làm chị Đào tủi thân. Nhìn nụ cười buồn trên đôi môi đỏ thắm quýt trầu của chị, tôi bỗng nhận ra cái duyên thời con gái vẫn chưa dứt bỏ chị. Chị nhặt vội mấy mớ rau bỏ vào rổ rồi quay quả dẫn tôi về nhà. Vừa đi chị vừa háo hức kể:

– Cháu Thắm thỉnh thoảng lại nhắc đến chú. Nó ở với chị. Nó được thằng con trai ngoan lắm. Chính vợ chồng nó đã mang hài cốt của anh chú về đấy…

Chị Đào không hề trách tôi nửa lời rằng sao gần bốn mươi năm tôi không sang thăm chị, dù làng Bóng với làng Thông chả cách bao xa, và năm nào tôi cũng về. Chị ấy không trách tôi càng cảm thấy ân hận. Đôi khi mình trách người khác vô tình nhưng bản thân lại tệ hơn .

Nhà của chị Đào ở cuối xóm. Ba gian nhà ngói đơn sơ , phía trước có mảnh vười trồng toàn rau ngải cứu. Bàn thờ anh Viên ở gian giữa ,tấm ảnh đen trắng của anh đã bạc màu lồng khung kính đặt cạnh cây nhị. Tôi thắp ba nén nhang , đứng nghiêm trước chân dung người đồng đội. Tôi ngạc nhiên khi thấy hai chiếc vé tàu hỏa dán vào ảnh anh Viên.

Chị Đào bảo:

– Vé tàu đưa anh chú về quê đấy!

Chị lấy tay chùi nước mắt , khẽ khàng lau khung ảnh và chiếc bầu nhị nhẵn bóng vết tay người chồng đã hy sinh.

Chị bảo tôi:

– Anh Viên còn sống năm nay bảy hai. Anh ấy hơn chú năm tuổi…

Vâng, anh Viên hơn tôi năm tuổi, nhưng hai anh em nhập ngũ cùng một ngày. Khi nhập ngũ tôi mới chỉ là một cậu học sinh vừa tốt nghiệp cấp III, anh Viên đã là một cán bộ văn hóa thông tin . Anh kẻ khẩu hiệu đẹp, kéo nhị rất hay,có giọng hát ấm và đóng kịch cũng có duyên. Người ta gọi anh là “ Viên dao pha” trong đội văn công không chuyên của huyện. Nhờ đa tài như vậy mà anh Viên cua được chị Đào, khi con trai làng Thông hồi ấy hễ thấy chị đâu là mắt la mày lém, trong đó có anh Châu học Tiệp Khắc về , cưỡi xe đạp favorit láng coong bám chị như đỉa . Chị Đào vừa đẹp vừa hát hay. Những điệu chèo “Sắp qua cầu”, “ Đường trường thủy chiều”, “ Luyện năm cung” , “ Chầu văn” chị hát tròn vành rõ tiếng chất giọng mượt mà say lòng người.

Đêm liên hoan tiễn chúng tôi lên đường, anh Viên và chị Đào lên sân khẩu diễn trích đoạn một vở chèo đôi trai gái yêu nhau , trước ngày nhập ngũ, anh thanh niên tỏ ra băn khoăn để thử lòng người yêu. Anh Viên hát điệu sa lệch chênh:

“Ai chả biết đi là tiến bộ! Nhưng mẹ già còn đó cậy ai trông?”

Chị Đào hát đối: “Anh còn chú bác?”
Anh Viêt hát đối lại: “Chú bác chưa thông!”
Chị Đào : “Anh còn đoàn thể?”
Anh Viên: “Còn bận việc chung!”
Chị Đào: “Thì đành em nhận!”
Anh Viên: “Lạ đời chưa cưới đã làm dâu …”

Chị Đào nghiêng vành nón che đôi má thẹn đỏ bừng, đôi mắt long lanh chứa chan hạnh phúc. Cảnh và người đều thật, không hề có một tý giả dối nào. Thưở ấy anh Viên, chị Đào và chúng tôi hồn nhiên hát, hồn nhiên cười vì chung quanh đều là ánh hào quang rực rỡ.
Anh Viên và tôi vào đơn vị công binh,đóng quân ở Tam Nông , Phú Thọ được 3 tháng thì tôi đi học sỹ quan, anh Viên được điều lên trung đoàn vào đội tuyên văn. Bẵng đi suốt chín năm, mùa khô 1974 chúng tôi mới gặp lại nhau.

Hôm ấy tôi đến tiểu đoàn 739 đang mở tuyến đường từ Campuchia xuyên sang Cà Tum, Tây Ninh, chuẩn bị chiến dịch Hổ Chí Minh, tình cờ gặp anh Viên. Không ngờ anh đã rời đội tuyên văn trung đoàn , xuống đơn vị chiến đấu từ lâu và hiện đang làm đại đội phó chỉ huy đơn vị bắc cầu qua suối Bà Chiêm.

Anh Viên nói:

– Hồi anh em mình nhập ngũ, tớ với Đào đóng kịch hóa ra thật . Đào giữ lời hứa chăm sóc mẹ tớ như con dâu, nhưng mãi cuối năm 68 tớ mới được về phép tổ chức cưới. Năm 69 sinh cháu Thắm. Cuối năm 1970 , trước khi rời đội tuyên văn xuống đơn vị đi B2, tớ được về tranh thủ , bé Thắm đã biết nghe bố kéo nhị cho mẹ hát và bập bẹ hát theo…

Hai anh em đang nói chuyện thì chiến sỹ đến báo phát hiện bom nổ chậm dưới bến, anh Viên bảo tôi:

– Tớ phải đi !

Anh không kịp bắt tay tôi . Mười phút sau một tiếng nổ dội lên ở phía bến. Linh tình báo điềm chẳng lành, tôi băng rừng chạy xuống .Bến cầu mù mịt khói bụi, gỗ đá ngổn ngang , mùi thuốc bom khét lẹt. Anh Viên cùng năm chiến sỹ hy sinh, xác anh bị hất lên một chạng ba cây.

Tháng 6 năm 1975,từ Sài Gòn, tôi mang chiếc ba lô đựng tư trang và tấm bản đồ một chí của anh Viên về cho chị Đào. Chị ôm chiếc ba lô khóc chết ngất, trong khi cháu Thắm ôm con búp bê tôi mua cho hỏi : “Sao bố Viên không về với chú?”

… Chị Đào vừa bó những mớ rau ngải cứu vừa kể cho tôi nghe cuộc sống côi cút của mẹ con chị ba mươi chín năm qua. Anh Viên hy sinh lúc chị mới ba mươi tuổi , còn trẻ đẹp, nhiều người đặt vấn đề, nhưng chị thương con, thương anh Viên , nên dứt khoát ở vậy nuôi con, lo hương khói cho chồng và bố mẹ chồng…

Chị nói:

– Từ khi chú đưa tấm bản đồ mộ chí anh Viên, chị muốn đi đón anh vể, nhưng nấn ná mãi đến năm tám sáu mới đưa được anh về.
Sự nấn ná của chị Đào chung quy chỉ vì nghèo. Cái thời hợp tác xã nông nghiệp đã lên bậc cao ấy làng Thông vẫn chỉ có hai vụ lúa . Chị Đào là lao động chính , mỗi vụ làm được 900 điểm , mỗi điểm được chia 2 lạng thóc, nhân lên được 180 kg . Ngần ấy thóc xay, giã ra được 126 kg gạo. Hai mẹ con dẻ xẻn vẫn không đủ ăn 6 tháng. Chị Đào phải quai bờ sông, bờ mương trồng thêm khoai sắn ăn độn. Chị chủ tâm dành mảnh vườn trước nhà trồng rau , mùa nào thức ấy, bán lấy tiền mua cám nuôi con lợn , cố gom góp dành dụm tiền làm lộ phí vào Nam bốc mộ anh Viên. Nhưng bé Thắm ốm đau quặt quẹo nên được đồng nào hết đồng ấy.

– Năm 1986 mới dành dụm được hơn trăm đồng cho cháu Thắm đi đón bố về chú ạ!

Chị Đào nói và rướm nước mắt. Giữa lúc đó cái Thắm con gái chị đạp xe về. Mới ngày nào còn là một đứa bé ngây thơ ôm con búp bê hỏi tôi “Sao bố Viên không về với chú?” , giờ Thắm đã là một phụ nữ đứng tuổi, và gương mặt đã hiện lên những nếp nhăn từng trải lo toan. Tôi nói với Thắm:

– Năm tám sáu cháu mới mười bảy tuổi mà đi vào tận Tây Ninh mang được hài cốt bố về , giỏi thật! Ngày vào Nam bố cháu phải đi bộ vượt Trường Sơn, ngày trở về được đi tàu Thống Nhất, chắc bố cháu vui lắm.

Tôi không ngờ Thắm đáp lại câu nói vui của tôi bằng lời nói ngắn ngủn, chua cay:

– Chiếc vé tàu phải trả bằng máu đấy chú ạ!

– Cái con này! Chị Đào đập tay vào lưng con gái. Tôi hỏi :

– Chuyện gì sảy ra vậy cháu?

Thắm kể:

– Ngày ấy cháu với Thành vừa thi tốt nghiệp phổ thông trung học xong thì vào miền Nam tìm mộ bố cháu. Chúng cháu cầm tấm bản đồ của chú đến Tỉnh đội Tây Ninh . Các chú trong Ban chính sách tra cứu hồ sơ cho biết hài cốt bố cháu đã quy tập về Nghĩa trang liệt sỹ. Nhờ sự giúp đỡ của các chú ấy, chúng cháu lấy được hài cốt bố Viên thuận lợi. Không ngờ khi đến ga Sài Gòn mua vé tàu ra Bắc thì bị kẻ cắp móc hết tiền. Thành bảo cứ lên tàu, về đến ga Nam Định ,Thành có người quen sẽ mượn tiền mua vé phạt.

Nhưng chúng cháu vừa ngồi xuống ghế thì cô soát vé đến kiểm tra . Chúng cháu nói thực ,xin được giúp đỡ, nhưng cô ta kêu trưởng tàu đến khám xét. Hài cốt bố cháu gói ni lông, ngoài bọc cờ đỏ sao vàng bị trưởng tàu lấy dao rạch ra , nghi hàng lậu. Khi nhìn thấy gài cốt thật, hắn lạnh lùng bảo: “ Có tiền mua vé thì đi, không thì xuống”.
Chúng cháu bị đuổi khỏi tàu. Giữa đêm khuya , không biết nhờ ai, cháu cứ ôm chiếc ba lô đựng hài cốt bố khóc . Đến sáng, Thành bảo cháu ngồi chờ đề Thành đi mượn tiền. Gần trưa Thành mới về , mặt mũi xám ngắt. Thành nói thực là đã đến bệnh viện bán máu . Số tiền Thành bán máu vừa đủ mua hai chiếc vé tàu hạng bét để đưa bố cháu về quê !

Thật cay đắng cho số phận một người lính. Căm giận cô kiềm soát vé và gã trưởng bao nhiêu tôi cảm thấy yêu thương và khâm phục Thành bấy nhiêu. Nhưng rồi tôi bị hụt hẫng khi chị Đào cho biết, Thành và Thắm đã ly hôn gần mười năm rồi.

Chị Đào nói:

– Thằng Thành từ khi được làm cán bộ xã rồi lên huyện, có chức có quyền có tiền sinh ra ăn nhậu, gái gú bỏ vợ chú ạ. Người tử tế mấy vào con đường ấy cũng hỏng.

Tôi hỏi Thắm:

– Con cháu đâu?

– Ra Quảng Ninh nhặt than chú ạ!

– Nó tốt nghiệp bách khoa sao lại nhặt than?

– Không xin được việc phải nhặt than kiếm ăn chứ chú?

Tôi cười xuê xoa:

– Thế nào rồi ông ngoại Viên linh thiêng cũng sẽ phù hộ cho cháu có việc làm đàng hoàng!

Thắm nói ngay không đắn đo:

– Tiền bạc mới linh thiêng chú ạ! quyền lực, tiền bạc.

Chị Đào cho tôi biết , mỗi ngày chị bán chục mớ rau ngải cứu được ba chục ngàn, còn Thắm đi làm thuê cho xưởng chế biến thức ăn gia súc trên thị trấn, mỗi tháng được triệu rưỡi. Hai mẹ con cố gom góp 100 triệu để thế chân cho cháu ngoại anh Viên sang Nhật làm thuê.

Chị Đào mời tôi ăn cơm nhưng tôi không thể nuốt nổi. Miếng chả trứng rau ngải bỏ vào miệng đắng ngắt. Vợ và con người liệt sỹ ngồi kia vừa gần gũi vừa xa cách nhau, một người cố nín nhịn đề đi hết cuộc đời còn lại, một người muốn bung xé đề giải thoát, nhưng đều bế tắc. Tôi đứng trước tấm hình anh Viên, thầm nói với anh:

– Những thứ anh em mình tưởng là vàng son hó a ra chỉ là ảo ảnh thôi anh ạ! Có lẽ chả bao giờ tìm lại niềm vui từ những câu ca dao : “ Làng Thông trồng đậu trồng cà. Hạt đậu thì đỏ núm cà thì xanh. Mớ đời con gái làng Thông. Cái váy thì mỏng cái mông thì tròn”.

M D

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: