Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư 17th, 2014

►Công an và an ninh Tam Kỳ, Quãng Nam chặn xe đánh đập dã man blogger Bùi Tuấn Lâm

Posted by hoangtran204 trên 17/04/2014

 

Ai đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam?

15-4-2014

Ngọc Thu dịch

Lời người dịch30-4: Ai đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam?

Bạn có biết: Việt Nam đã từng trả nợ chiến tranh cho Mỹ? Việt Nam đã trả các khoản vay của chính quyền Sài Gòn thời chiến tranh, để đổi lấy các khoản vay mới của Mỹ và phương Tây và đó cũng là điều kiện để Mỹ gỡ bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ ngoại giao với VN.

Đó là cái giá mà chính phủ CSVN, hay nói đúng hơn là người dân VN đã phải trả, do chính phủ CSVN không chịu bình thường hóa quan hệ với Mỹ ngay sau khi chiến tranh kết thúc, cứ khăng khăng đòi bồi thường chiến phí 3,25 tỉ Mỹ kim. Tiền bồi thường của Mỹ ở đâu không thấy, chỉ thấy sau đó phía VN phải bỏ tiền ra bồi thường chiến phí.

Thắng trong chiến tranh, nhưng chỉ 20 năm sau chính phủ CSVN đã phải đầu hàng Mỹ về kinh tế.

Đây là bài viết của GS Michel Chossudovsky về những thỏa thuận bí mật giữa chính phủ CSVN với các tổ chức tài chính quốc tế trước năm 1995.

Ngọc Thu

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc bằng lực lượng cộng sản chiếm giữ Sài Gòn và sự đầu hàng của tướng Dương Văn Minh và nội các của ông ấy trong Dinh Tổng thống. Khi đội quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào Sài Gòn, các nhân viên Hoa Kỳ và lính thủy quân lục chiến Mỹ cuối cùng đã vội vã sơ tán từ nóc tòa nhà Đại Sứ quán Mỹ. Hai mươi năm sau, một câu hỏi cơ bản vẫn chưa có lời giải đáp: Ai đã thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam?

Việt Nam chưa bao giờ nhận được khoản tiền bồi thường nào cho chiến tranh từ Mỹ về các tổn thất nhân mạng rất lớn và sự tàn phá [của chiến tranh], nhưng một thỏa thuận đã đạt được ở Paris vào năm 1993, yêu cầu Hà Nội nhận các khoản nợ của chính quyền Sài Gòn, một chính quyền không còn tồn tại nữa của Tướng Thiệu. Bản thoả thuận này có nhiều chỗ tương đương với việc bắt buộc Việt Nam bồi thường cho Washington các phí tổn chiến tranh.

Ngoài ra, việc áp dụng sâu rộng cải cách kinh tế vĩ mô dưới sự giám sát của các định chế Bretton Woods cũng là một điều kiện cho việc dỡ bỏ lệnh cấm vận của Mỹ. Những cải cách thị trường tự do này hiện đã định đoạt học thuyết chính thức của Đảng Cộng sản.

Qua việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Washington vào năm 1994, việc nhắc đến vai trò tàn bạo của Mỹ trong chiến tranh đang ngày càng được xem như không đúng lúc và không thích hợp. Không ngạc nhiên, Hà Nội đã quyết định dịu giọng trong lễ kỷ niệm Sài Gòn đầu hàng để không phải xúc phạm đến kẻ thù trong chiến tranh trước đây của họ. Lãnh đạo Đảng Cộng sản gần đây đã nhấn mạnh “vai trò lịch sử” của Hoa Kỳ trong việc “giải phóng” Việt Nam từ chế độ Vichy (Pháp) và sự chiếm đóng của Nhật Bản suốt Đệ Nhị Thế chiến.

Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các đặc vụ Mỹ của Cục Tình báo Chiến lược (OSS: tiền thân của CIA ngày nay) đã có mặt bên cạnh Hồ Chí Minh. Trong khi Washington đã cung cấp vũ khí và hỗ trợ tài chính cho phong trào kháng chiến Việt Minh, chiến lược này phần lớn được thiết kế để làm suy yếu Nhật Bản trong giai đoạn cuối của Đệ Nhị Thế chiến, mà không có cam kết gửi lực lượng bộ binh Mỹ tới với số lượng lớn.

Ngược lại với bầu không khí dịu giọng và hạn chế trong kỷ niệm đánh dấu chiến tranh Việt Nam kết thúc, lễ kỷ niệm 50 năm ngày độc lập được cử hành long trọng, với một loạt các nghi lễ và các hoạt động chính thức bắt đầu từ tháng 9 và kéo dài đến Tết âm lịch.

Việt Nam bồi thường chiến tranh (cho Mỹ).

Trước khi “bình thường hóa” quan hệ với Washington, Hà Nội đã bị buộc phải trả các khoản nợ xấu phát sinh của chế độ Sài Gòn do Mỹ hậu thuẫn. Tại hội nghị các nhà tài trợ tổ chức ở Paris hồi tháng 11 năm 1993, các khoản vay và số tiền viện trợ tổng cộng gần 2 tỷ Mỹ kim đã được cam kết để hỗ trợ cho cải cách thị trường tự do ở Việt Nam.

Nhưng ngay sau khi hội nghị này, một cuộc họp bí mật đã được tổ chức dưới sự bảo trợ của Câu lạc bộ Paris (Paris Club). Tại cuộc họp này, có sự góp mặt của đại diện các chính phủ phương Tây. Về phía Việt Nam, TS Nguyễn Xuân Oánh, cố vấn kinh tế cho Thủ tướng, đã đóng vai trò then chốt trong các cuộc thương lượng. Tiến sĩ Oánh, một cựu quan chức của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), đã giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính và sau đó là Quyền Thủ tướng trong chính quyền quân sự của Tướng Dương Văn Minh, mà Mỹ đưa vào hồi năm 1963 sau vụ ám sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm và em trai. Tiến sĩ Oánh, trong khi  đàm phán với tư cách đại diện chính thức của chính quyền cộng sản, đã (đồng ý) đáp ứng với những lời yêu cầu của các chủ nợ phương Tây.

Các thỏa thuận đã được ký kết với IMF (đã được công bố) phần lớn chỉ là tượng trưng. Số lượng không đáng kể: Hà Nội buộc phải trả cho IMF 140 triệu đô (mà chính quyền Sài Gòn  trước đó đã mắc nợ) như một điều kiện để nối lại các khoản vay mới. Nhật Bản và Pháp, những chủ nhân thuộc địa cũ của Việt Nam giai đoạn Vichy, hình thành cái gọi là “Những người bạn của Việt Nam” để cho Hà Nội vay số tiền cần thiết  (140 triêụ đô la) để hoàn trả cho IMF (Tổ chức Tiền tệ Quốc tế).

Tuy nhiên, sự sắp xếp gia hạn các khoản nợ song phương (của chế độ Sài Gòn) không bao giờ được tiết lộ. Nhưng cuối cùng thì thỏa thuận bí mật này (đạt được dưới sự bảo trợ của Câu lạc bộ Paris**là công cụ quyết định để Washington dỡ bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa các quan hệ ngoại giao. Việc sắp xếp này cũng là yếu tố quyết định trong việc tháo khoán các khoản vay đã được cam kết tại hội nghị các nhà tài trợ năm 1993, do đó Việt Nam bị đặt dưới sự ủy thác của các chủ nợ Nhật Bản và phương Tây. Như vậy, chỉ 20 năm sau chiến tranh, Việt Nam đã đầu hàng về mặt kinh tế.

Bằng cách công nhận hoàn toàn tính hợp pháp của các khoản nợ ấy, Hà Nội đã đồng ý hoàn trả các khoản vay đã hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Mỹ. Hơn nữa, chính phủ của ông Võ Văn Kiệt cũng đã chấp nhận thực hiện đầy đủ các điều kiện thông thường (hạ giá đồng bạc Việt nam, tự do hóa thương mại, tư nhân hóa, v.v.) của một chương trình  điều chỉnh cơ chế do IMF tài trợ.

Những đổi mới về kinh tế, ra mắt vào giữa thập niên 1980 với các định chế Bretton Woods (ý nói là lấy tiền đô la làm tiền tệ chính của quốc gia), trong hậu quả chiến tranh tàn khốc, đã khởi đầu một giai đoạn mới về sự tàn phá kinh tế và xã hội: lạm phát đã là kết quả của nhiều cuộc phá giá tiền đồng liên tục ** bắt đầu từ năm 1973 dưới chế độ Sài Gòn, là năm tiếp theo sau sự rút lui của quân đội Hoa Kỳ (1972). Ngày nay, một lần nữa Việt Nam tràn ngập tiền đô la Mỹ, đã thay thế phần lớn tiền đồng Việt Nam. Với giá cả tăng cao, thu nhập thực tế đã giảm xuống tới mức thấp nhất. (Bài báo này đăng vào 15-7-1995 và tái đăng 26-4-2005).

Lần lượt những cải cách đã ồ ạt giảm năng lực sản xuất. Hơn 5.000 trong số 12.300 doanh nghiệp nhà nước đã bị đóng cửa hoặc được chỉ đạo phá sản. Các hợp tác xã tín dụng đã bị loại bỏ, tất cả các khoản tín dụng dài hạn và trung hạn cho ngành công nghiệp và nông nghiệp đã bị đóng băng. Chỉ tín dụng ngắn hạn là có sẵn, với lãi suất 35%/ năm (năm 1994). Ngoài ra, thỏa thuận IMF đã cấm nhà nước cung cấp hỗ trợ ngân sách, hoặc cho nền kinh tế nhà nước hoặc cho một khu vực tư nhân mới chớm nở.

Chương trình nghị sự về những cải cách đã bị che giấu này bao gồm nền tảng công nghiệp mất ổn định ở Việt Nam. Các ngành sản xuất công nghiệp nặng, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và khai thác khoáng sản, xi măng, sắt thép sẽ được tổ chức lại và được thực hiện dựa trên số vốn nước ngoài. Tài sản nhà nước có giá trị nhất sẽ được chuyển giao để củng cố và duy trì cơ sở công nghiệp, hoặc để phát triển một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thuộc sở hữu và kiểm soát bởi dân chúng.

Trong quá trình tái cơ cấu kinh tế, hơn một triệu công nhân và hơn 20.000 công nhân viên chức (trong đó đa số là nhân viên y tế và giáo viên) đã bị sa thải. Lần lượt, nạn đói địa phương đã nổ ra, ảnh hưởng đến ít nhất một phần tư dân số cả nước. Những sự đói khát này không giới hạn ở các khu vực thiếu lương thực. Ở Đồng bằng Sông Cửu Long, vựa lúa của Việt Nam, 25% số dân trưởng thành tiêu thụ chưa tới 1.800 calories mỗi ngày. Ở các thành phố, sự mất giá của tiền đồng cùng với việc loại bỏ trợ cấp và kiểm soát giá cả đã dẫn đến giá gạo và các nhu yếu phẩm khác tăng vọt.

Những cải cách này đã dẫn đến việc cắt giảm mạnh mẽ các chương trình xã hội. Với việc áp dụng học phí, ba phần tư trong số một triệu trẻ em bỏ học khỏi hệ thống trường công trong vài năm (từ 1987-1990). Các trạm y tế và bệnh viện sụp đổ, sự hồi sinh của một số bệnh truyền nhiễm như sốt rét, lao phổi và tiêu chảy được Bộ Y tế và các nhà tài trợ nhận ra. Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới xác nhận rằng, số người tử vong do bệnh sốt rét tăng gấp ba lần trong bốn năm đầu của thời kỳ cải cách, cùng với sự suy sụp của việc chăm sóc sức khỏe và giá cả các loại thuốc chống sốt rét tăng vọt. Chính phủ (dưới sự hướng dẫn của các nhà tài trợ quốc tế) cũng đã ngưng hỗ trợ ngân sách để cung cấp các thiết bị y tế và bảo trì, dẫn đến tình trạng tê liệt toàn bộ hệ thống y tế công cộng. Tiền lương thật sự của nhân viên y tế và điều kiện làm việc đã giảm đáng kể: tiền lương hàng tháng của các bác sĩ y tế tại một bệnh viện huyện thấp tới mức $15 một tháng.

Mặc dù Mỹ đã bị đánh bại trên chiến trường, nhưng hai thập niên sau đó Việt Nam dường như đã đầu hàng kẻ thù chiến tranh trước đây của mình về mặt kinh tế.

Không có những quả bom viên bằng thép hay màu cam, không có bom napalm, không có hóa chất độc hại: một giai đoạn mới của sự hủy diệt kinh tế và xã hội đã diễn ra. Những thành tựu của cuộc đấu tranh trong quá khứ và nguyện vọng của một quốc gia toàn vẹn chưa hoàn thành và đã bị xóa gần như với một nét bút (chữ ký).

Điều kiện nợ và điều chỉnh cơ cấu dưới sự ủy thác của các chủ nợ quốc tế tạo ra do hậu quả của chiến tranh Việt Nam, một công cụ thuộc địa bất bạo động chính thức và hiệu quả như nhau và sự bần cùng hóa ảnh hưởng đến sinh kế của hàng triệu người.

——

Tác giả: Michel Chossudovsky là giáo sư kinh tế tại Đại học Ottawa và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa.

Bài viết trên đã được đăng tải vào ngày 15 tháng 7 năm 1995. 

Một bài phân tích sâu hơn dựa trên những nghiên cứu thực tế được tiến hành ở Việt Nam, tập trung vào những cải cách tân tự do của Hà Nội, sau đó đã được đăng trong cuốn sách của Michel Chossudovsky, The Globalization of Poverty, ấn bản đầu tiên năm 1997, ấn bản thứ hai vào năm 2003.

Nguồn bản gốchttp://www.globalresearch.ca/who-won-the-vietnam-war/172

Nguồn bản dịch: https://www.facebook.com/BasamVN/posts/619964634763977

 

** Câu lạc bộ tài chánh Paris:  Vào năm 1988, khi Liên Xô rơi vào khủng hoảng tài chánh chừng vài năm, giá dầu xuống quá thấp, 12 đồng/1 thùng, ông TBT đảng CSLX Gorbachev đã qua Paris mượn tiền, nhưng Câu lạc bộ Paris đã từ chối. Khi trở lại Liên Xô, ông Gorbachev đi đến quyết định không can thiệp vào chính trị của các nước chư hầu Đông Âu 1989-1990, và sau đó để chế độ cộng sản ở LX sụp đổ.

*Tác giả: Michel Chossudovsky là giáo sư kinh tế tại Đại học Ottawa và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa.

Bài viết trên đã được đăng lần đầu tiên 15-7-1995,  được tái đăng tải vào ngày 26 tháng 4 năm 2005, trong bối cảnh kỷ niệm 30 năm “Giải phóng Sài Gòn”.

Một bài phân tích sâu hơn dựa trên những nghiên cứu thực tế được tiến hành ở Việt Nam, tập trung vào những cải cách tân tự do của Hà Nội, sau đó đã được đăng trong cuốn sách của Michel Chossudovsky, The Globalization of Poverty, ấn bản đầu tiên năm 1997, ấn bản thứ hai vào năm 2003.

Nguồn bản gốchttp://www.globalresearch.ca/who-won-the-vietnam-war/172

Nguồn bản dịch: https://www.facebook.com/BasamVN/posts/619964634763977

—————

 

Tường trình sự việc công an và an ninh chặn xe đánh đập dã man nhà vận động UPR Bùi Tuấn Lâm

Lăng Cô, 16-4-2014

Theo blog Thanh Hoang

Tôi tên: Nguyễn Đức Quốc
Hiện ở tại: Số 284 Lạc Long Quân, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Xin tường trình và tố cáo trước Công luận thế giới, Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước việc cảnh sát an ninh, công an Việt Nam tại thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam, đã chặn xe đánh đập dã man nhà hoạt động tham gia vận động tại kỳ “Kiểm Điểm Định Kỳ Phổ Quát (UPR)” về nhân quyền, anh Bùi Tuấn Lâm (Peter Lam Bui).

Vào lúc 8h50 phút ngày 16/4/2014, sau khi tôi và anh Bùi Tuấn Lâm đến thăm một cựu tù nhân lương tâm, nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn tại thành phố Tam Kỳ ra về nhân chuyến làm thiện nguyện tại Quảng Nam.

Khi chúng tôi đi từ nhà của nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn, để đến trạm xe buýt từ Tam Kỳ đi Đà Nẵng thì có bốn người đàn ông mặc áo sơ mi và quần của ngành cảnh sát an ninh, công an cộng sản Việt Nam. Họ đi trên hai xe gắn máy bám theo xe chúng tôi, sau đó bọn chúng gọi thêm hai xe bốn người nữa tất cả là bốn xe tám người bám theo chúng tôi trên đường đi, ngoài tôi và Bùi Tuấn Lâm còn có hai người cháu của nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn một người tên Ngọc chở Bùi Tuấn Lâm và một người tên Thảo do tôi chở, chúng tôi đi trên hai xe gắn máy từ nhà chú Huỳnh Ngọc Tuấn đến cầu Kỳ Trung chúng tôi bị tám tên an ninh này chặn lại, khi đó xe tôi đi trước vì đoạn đường này đang sửa chữa nên chúng tôi chạy xe rất chậm, một tên trong bọn chúng đưa tay giựt áo tôi nhưng có một chiếc xe gắn máy khác đi cùng chiều vượt lên xe tôi nên tôi đã tránh được, tôi vừa qua khỏi thì bọn chúng quay đầu xe của chúng chắn ngang đường không cho xe do cô Ngọc chở Bùi Tuấn Lâm đi qua và bọn chúng gọi: Ê, Lâm xuống xe, khi đó tôi cũng dừng xe (xe tôi đi trước xe cô Ngọc đang chở Lâm 10 mét). Khi đó Thảo và Ngọc rất hốt hoảng vì lo sợ cho tôi và Lâm bị đánh.

Một tên trong bọn họ mặc áo sơ mi có kẻ sọc hỏi Bùi Tuấn Lâm, anh tên gì? khi đó Lâm trả lời với họ tôi tên Lâm mà tại sao các anh lại chặn xe không cho chúng tôi đi, trong khi chúng tôi không vi phạm gì cả khi đó tôi nói với tám người này, các anh là ai? lúc đó tên mặc áo sơ mi có kẻ sọc nói: mời các anh vào đây làm việc (chúng chỉ vào dưới gầm cầu), Khi đó Bùi Tuấn Lâm nói: chúng tôi đi giữa đường đâu vi phạm hay chọc goẹo gì mà các anh mời chúng tôi xuống gầm cầu làm việc, tôi nói với tên này, trong một xã hội trật tự các anh là cảnh sát an ninh các anh cần phải tôn trọng pháp luật chứ, tên này đốp ngay: muốn làm việc pháp luật thì về xã làm việc, khi đó Lâm nói với tôi anh chạy qua bên kia trước để thông tin cho mọi người biết kẻo chúng nó đánh mình chết không ai biết.

Tôi đề máy xe và chạy xe qua bên kia cầu chừng 30 mét để gọi điện thoại báo với linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi, chưa kịp gọi thì tôi nhìn thấy tám tên này vây và đùng nón bảo hiểm đánh đập Bùi Tuấn Lâm rất dã man, chúng đạp anh Lâm té vào thành cầu xém rớt xuống cầu , rồi bọn chúng tiếp tục đánh đập Lâm làm cho anh Lâm bị chúi đầu vào thành cầu một tên trong bọn họ đạp anh Lâm đập đầu vào thành cầu làm bể nón bảo hiểm anh Lâm đang đội, khi đó tôi la lên : bà con ơi ăn cướp, an ninh, công an chặn xe đánh người ăn cướp, cứu chúng tôi với bà con ơi.

Khi đó có nhiều người chạy ra nên bọn chúng mới thôi đánh anh Lâm, và nhiều người chỉ mặt mấy tên này nói: các anh là công an, an ninh của thành phố Tam Kỳ và tỉnh Quảng Nam ngày bữa gì, mà sao công an lại đi đánh người dân đi đường vô cớ khi họ không vi phạm gì cả. Nghe thế bọn chúng lên xe chạy đi, sau đó gọi mấy tên khác đến đứng chờ chúng tôi, nhiều người ở đây nói với chúng tôi, trong tám tên đó có một thằng tên Châu, Nguyễn Xuân Châu hay sao đó là an ninh thành phố Tam Kỳ, rồi họ nói với chúng tôi các anh từ từ rồi đi không thì bọn chúng lại đánh các anh đấy.

Nghe lời người dân ở đây chúng tôi đứng lại với họ, sau đó 30 phút chúng tôi lại tiếp tục đi đến trạm xe buýt để về Đà Nẵng, khi chúng tôi trên đường đến trạm xe buýt bọn an ninh vẫn tiếp tục chạy theo, khi đó tôi thấy nguy hiểm nên muốn lánh vào một nhà thờ gần đó, Lâm thì lại can không cho vào vì sợ vào nhà thờ thì bọn an ninh lại làm khó cho cha sở ở đó, chúng tôi lại tiếp tục chạy đến trạm xe buýt và lên xe.

Khi tôi và Bùi Tuấn Lâm lên xe buýt thì bọn chúng vẫn bám theo xe buýt chúng tôi đang đi, đến trạm dừng kế tiếp thì 2 trong tám tên chặn đánh chúng tôi cũng lên xe buýt, khi đó chúng tôi nhìn thấy hai xe Mô-tô CSTT chạy kèm theo xe buýt chúng tôi đang đi, đến một trạm xe buýt tiếp theo khi xe mở cửa để đón khách thì có hai thanh niên xăm trổ đầy mình gọi, tôi nghĩ họ là dân giang hồ, họ nói: Ê, hai thằng bây xuống đây, thấy tôi và Lâm vẫn ngồi yên, hai thanh niên này nhảy lên xe buýt đứng đối diện chỗ chúng tôi đang ngồi, khi đó Lâm nói:

-Các anh từ từ nghe chúng tôi nói chuyện để các anh biết, tôi biết các anh bị bọn an ninh sai khiến lên đây đánh chúng tôi, nhưng tôi và các anh không hiềm thù hay ân oán gì nhau, các anh cũng là nạn nhân của bọn an ninh này và chúng ta là con người với nhau nên các anh đừng vì sự sai khiến của bọn an ninh đó mà đánh chúng tôi vô cớ.

Khi đó tôi cũng nói với hai thanh niên này:

-Các em biết đó, bọn an ninh đó tất cả tám người vừa chặn đánh anh và bạn anh đây tại cầu Kỳ Trung, Tam Kỳ trong khi tụi anh đi làm thiện nguyện về và ghé thăm một người quen đang bệnh do bọn an ninh công an đánh đập.

Nghe chúng tôi nói vậy một trong hai thanh niên liền nói với chúng tôi, hai anh chịu khó cho tôi giả bộ đánh quẹt quẹt vài cái rồi các anh la lên để chúng tôi nhảy xuống xe, kẻo mấy an ninh đang ở dưới theo giỏi, nhưng hai thanh niên này lại không biết phía trước chúng tôi cũng có 2 tên an ninh đang ngồi và đã lên xe trước họ.

Tôi và Lâm gật đầu đồng ý, thì hai thanh niên xông vào lên gối xuống chỏ đánh đập chúng tôi bằng động tác giả, tôi và Lâm la lên thì hai thanh niên này lại nhảy xuống xe.

Khi qua khỏi địa phận thành phố Tam Kỳ thì những tên an ninh ngồi trên xe buýt cũng xuống xe.

Trên đây là toàn bộ sự việc, việc an ninh công an cộng sản Việt Nam tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã chặn xe chúng tôi và đánh đập dã man anh Bùi Tuấn Lâm là một nhà hoạt động tham gia vận động tại kỳ: “Kiểm Điểm Định Kỳ Phổ Quát (UPR)” về nhân quyền. Từ khi anh về nước hơn một tháng nay.

Tôi viết tường trình này để gửi cho Công luận thế giới cũng như Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước biết về hành vi chặn xe, đánh đập người vô cớ của cảnh sát an ninh công an cộng sản Việt Nam tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Tôi cực lực lên án hành vi lộng hành, lạm quyền của lực lượng Cảnh sát an ninh, Công an cộng sản Việt Nam tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Đã đánh đập dã man một nhà hoạt động tham gia vận động tại kỳ: “Kiểm Điểm Định Kỳ Phổ Quát (UPR)” về nhân quyền anh Bùi Tuấn Lâm, khi anh và tôi đi làm thiện nguyện tại Quảng Nam và ghé thăm nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn ra về.

Lăng Cô ngày 16/4/2014
Người tường trình
Nguyễn Đức Quốc

 

Posted in Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »