Trần Hoàng Blog

►Ban tuyên giáo “không tác động gỡ bài” ! Các bài báo bị tháo gỡ – VN đứng “gần chót bảng về tự do báo chí”

Posted by hoangtran204 trên 14/02/2014

Ban tuyên giáo ‘không tác động gỡ bài’

Cập nhật: 11:20 GMT – thứ năm, 13 tháng 2, 2014

BBC

Ông Nguyễn Thế Kỷ

Ông Nguyễn Thế Kỷ nói quyền quyết định bài thuộc Tổng biên tập các báo.

Một chùm phóng sự về cuộc Chiến Biên giới Việt – Trung năm 1979 trên tờ Một Thế Giới hôm 12/2/2014 vừa bị gỡ xuống làm dấy lên nghi vấn liệu truyền thông Việt Nam có chịu áp lực, hạn chế hoặc kiểm soát gì trong dịp đánh dấu cuộc chiến 35 về trước giữa hai quốc gia láng giềng cộng sản hay là không.

BBC đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thế Kỷ, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương và câu hỏi đầu tiên được đặt ra với ông Kỷ là liệu tờ Một Thế giới gỡ bài phóng sự được chuẩn bị công phu có phải do mắc sai phạm gì hay không.

Ông Nguyễn Thế Kỷ:Tôi nói rất thực là tôi không biết về việc này. Việc họ đưa lên hay đưa xuống thì chắc chắn là việc của họ. Còn tôi không có tác động bất cứ gì vào chuyện đấy.

BBC: Về cuộc chiến năm 79, nếu báo chí đưa thông tin đúng sự thật, có kiểm chứng thì có được đưa tin thoải mái, hay có hạn chế gì không?

Ông Nguyễn Thế Kỷ: Tôi nghĩ cái này là suy nghĩ của Tổng Biên tập các báo.

Tôi nghĩ là thế này, ví dụ như chỉ vì một ai đó có thời kỳ có gì đó trong quan hệ trong quá khứ có điều gì đó không ổn chẳng hạn, nhưng trong hiện tại khi hai bên đang cố gắng có thiện chí để thiết lập quan hệ tốt hơn thì thường người ta cũng có cân nhắc xem ngồi với nhau thì có nên kể lại những chuyện ngày xưa hay không.

Thì đó là cái ứng xử tôi nói là của cá nhân với nhau để rồi mình nói rộng ra hơn là giữa các quốc gia với nhau.

‘Có chỉ đạo gì không?’

BBC: Từ phía nhà nước có chủ trương hay có chỉ thị gì về đưa tin bài về sự kiện này không?

Nguyễn Thế Kỷ:

“Trong hiện tại khi hai bên đang cố gắng có thiện chí để thiết lập quan hệ tốt hơn thì thường người ta cũng có cân nhắc xem ngồi với nhau thì có nên kể lại những chuyện ngày xưa hay không.” Ông Nguyễn Thế Kỷ

Việt Nam với Trung Quốc vẫn là hai nước láng giềng với nhau.

Mà chúng tôi vẫn mong muốn hai bên, đặc biệt là từ phía Việt Nam, có quan hệ tốt hơn theo tinh thần tôn trọng nhau, láng giềng hữu nghị, hợp tác thân thiện, ổn định lâu dài hướng tới tương lai.

Thì đây là mong muốn không phải chỉ của nhà nước đâu, mà của cả người dân Việt Nam. Ai cũng muốn rằng những nước láng giềng với nhau sống yên ổn, hòa bình.

Còn những chuyện quá khứ thì không ai làm lại được lịch sử, nhưng nếu nghĩ lại thì có lẽ là người ta có những bài học từ lịch sử để cuộc sống hôm nay được tốt hơn.

BBC: Gần đây có những tâm lý về tranh chấp biển đảo, tranh chấp lãnh hải, một số người cho rằng TQ từ trước đến nay vẫn có ý bành trướng, xâm lược VN, vậy đưa những thông tin lịch sử, những câu chuyện như vậy liệu có phải là điều có lợi cho người dân?

Tôi nghĩ điều này thì cơ quan truyền thông tự cân nhắc lấy, xem việc đó có lợi hay không, với sự bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt, với trách nhiệm với đất nước.

BBC: Như vậy có thể hiểu là các báo, Tổng biên tập hoàn toàn có tự quyền tự quyết trong việc đưa tin?

Tôi xin nói là Việt Nam có luật báo chí, thì các cơ quan báo chí, đặc biệt là các ông tổng biên tập hoạt động theo luật báo chí. Và họ có quyền đăng cái gì, không đăng cái gì theo luật.

Ông Nguyễn Thế Kỷ từng đảm nhiệm vị trí Vụ trưởng Vụ Báo chí xuất bản thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Giám đốc Đài PTTH Nghệ An, Tổng biên tập báo Nghệ An, Phó ban Tuyên giáo tỉnh Nghệ An, Bí thư huyện ủy Nam Đàn (Nghệ An)

Các bài liên quan

 

———————————————————————

TIN KHÔNG LỀ

13-2-2014

Loạt bài tưởng niệm sự kiện chiến tranh biên giới Việt – Trung của nhà báo Đào Tuấn, đăng trên báo Một Thế Giới, lên mạng chỉ được vài tiếng thì bị gỡ bỏ. 

Đảng và nhà nước có thể quên, Bộ Chính trị, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ 4T… không muốn nhớ, nhưng người dân không thể nào quên sự hy sinh của các anh. Bằng chứng là gần tới ngày tưởng niệm sự kiện này, nhiều nhóm, hội đoàn đang chuẩn bị tổ chức lễ tưởng niệm. Trên mạng, rất nhiều blogger, facebooker đưa tin, tưởng niệm trên mạng qua việc đổi Avatar hình hoa sim với dòng chữ “17-2-1979 – Nhân Dân Sẽ Không Quên”. 

Xin đăng lại tại đây: 

———-

Hoa đào biên viễn

Bài 1: Biên giới, hồi ức 35 năm

Đăng Bởi Một Thế Giới – 19:30 12-02-2014

Tháng 2 năm nay, những cây đào Tổng Chúp, Hưng Đạo, Cao Bằng bỗng dưng đỏ loét trong cái nắng trái mùa. Trên đồn biên phòng Pha Long, Lào Cai, thật lạ, chỉ duy nhất một gốc đào đơm hoa. Còn ở pháo đài Đồng Đăng, Lạng Sơn, những cây đào khoe sắc vô duyên bên nền đá xám xịt và lau lách tùm lum của một pháo đài hoang phế đã đi vào quên lãng.

Một số phận

Trong ngôi nhà nhỏ ở dốc cầu Nà Rụa, phường Tân An, Cao Bằng, bà Nguyễn Thị Quỳ cũng có một cành đào nhỏ trước ban thờ chồng, người 35 năm trước bất đắc dĩ trở thành “tù binh chiến tranh”.

Câu chuyện liên tục ngắt quãng khi đôi vai của người phụ nữ nhỏ nhắn run lên bần bật trước những hồi ức từ 35 năm trước. Chiến tranh đã lấy đi của bà một đứa con. Và sau 35 năm, vết thương ấy chưa bao giờ lành khi hàng đêm, hình ảnh đứa nhỏ tím tái chết trong mưa lạnh vẫn ùa về như một nỗi kinh hoàng không bao giờ phai nhạt.
 
Sáng 17.2.1979, trời rất mù và lạnh. Từ thị trấn Nước Hai, bà Quỳ chỉ còn biết cắm đầu cắm cổ chạy loạn khi tiếng pháo của lính Trung Quốc “như bom Mỹ rải thảm” khắp nơi. Bệnh viện Hòa An bị đánh sập, người sản phụ khốn khổ đang mang thai đến tháng thứ 9 chỉ còn biết vác bụng lặc lè để  chạy.
“Cô chạy vào núi đá Mỏ Hách. Rồi từ Mỏ Hách chạy sang Đại Tiến. Chạy ngược với tiếng pháo”. Đám người chạy loạn bị lính Trung Quốc phát hiện, truy đuổi, và lại tứ tán khắp nơi. “Chúng nó đông lắm cháu ơi! Đâu đâu cũng thấy lính Trung Quốc”.

Trong gần một tuần lễ trốn trên động đá, bà Quỳ đau đẻ trong cái đói, trong cái rét, trong trời mưa lạnh, trong tối tăm mò mẫm. Không một hạt gạo mang theo. Không một tấm chăn. Cả đám người đói khát, rét mướt và lo sợ đến hoảng loạn. Chỉ ngay phía dưới, lính Trung Quốc đông lúc nhúc, vây hãm khắp nơi.

Những con người khốn khổ lấy nước bằng cách hứng từ giọt gianh trong một tấm nilon rộng chừng 2 bàn tay. Ăn tất cả những gì mà ban đêm mấy người đàn ông mò mẫm được từ bờ cây, gốc sắn… ngay sát nơi lính Trung Quốc dựng trại.

Đến hôm đau đẻ, bà được đồng bào gom cho thìa đường cuối cùng, hòa với vốc nước “để có sức mà đẻ”. Đứa con đầu lòng được sinh ra trong hang đá nhưng 3 hôm sau thì qua đời.

 

Bia thảm sát tại Tổng Chúp, Hưng Đạo, Hòa An, Cao Bằng. Bà Hậu, một người dân Tổng Chúc xưa từng cắp con chạy loạn bảo rằng: Bà không thể quên những ngày tháng 2 năm ấy

“Cô sinh cháu và gói trong một chiếc áo. Và rồi đó cũng là chiếc áo liệm”- người cựu binh chống Mỹ khốn khổ đưa tay lên dụi mắt. Những giọt nước mắt mờ đục lăn dài trên khuôn mặt “một ngàn nếp nhăn” tưởng chừng đã không còn có thể đau khổ được nữa: “Lúc đó cô yếu quá, bỏ mấy đồng nhờ một ông già mang cháu đi. Chắc vứt nó ở một đâu đó”.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó. Đêm ngày 25.2, người chồng nửa đêm đi kiếm ước uống bị sa vào tay lính Trung Quốc. Ông bị giam giữ cho đến ngày 3.6 và từ sau đó, những đồng nghiệp của ông ở Ty Thể thao Cao Bằng cho biết ông bỗng dưng có thói quen ăn cơm với nước lã.

Còn bà Quỳ, quãng thời gian trong động đá và cái chết bi thảm của đứa con đầu lòng khiến bà trở nên trầm uất suốt 3 tháng. Tuyến sữa viêm tắc khiến sau đó người phụ nữ khốn khổ phải cắt đi một bên ngực.

35 năm, bằng đấy thời gian chưa đủ để bà Quỳ quên đi hình ảnh đứa con đầu lòng chết tím tái. “Đau xót lắm cháu ơi. Cô đi cúng, Thầy bảo nó không có nhà, lang thang ở một gốc cây nào đó”…

Không chỉ Bệnh viện Hòa An bị đánh sập, cả thị xã Cao Bằng lỗ chỗ tổ ong như vừa trải qua “một trận B52 mặt đất”, không còn thứ gì cao quá 1m. Bách hóa tổng hợp, một biểu tượng của Cao Bằng bị hủy hoại đến không còn một viên gạch lành. 

Chị Hoài Phương, phóng viên của Đài truyền hình Cao Bằng, năm đó 9 tuổi, đến giờ vẫn không thể quên hình những xác người bị súng phun lửa đốt cháy trên mặt đất. Khắp nơi.

Ông Nguyễn Duy, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Hòa An nhớ lại: Đến ngày 20.3, cả thị xã vẫn như một đụn khói lớn. Chiều 29.3. Không một chiếc xe, không một người dân đi trên đường. Kho lương thực còn cháy nghi ngút. Thị xã tan hoang khi lính Trung Quốc trước khi rút đã ốp mìn giật đổ từng cây cầu, từng cột điện. Cái gì lấy được thì lấy hết. Cái gì không lấy được thì phá hết.

Khi giặc đến nhà

Ngày 17.2.1979, Trung Quốc đã dùng một lực lượng quân sự chính quy lên tới 60 vạn quân tấn công Việt Nam trên khắp chiều dài 1.200 km biên giới 6 tỉnh phía Bắc. Cao Bằng chính là một trong những trọng điểm đánh phá của quân đoàn 41A với sự tham gia của xe tăng và pháo binh.

Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12.2005, cuộc tấn công của Trung Quốc phụ thuộc phần lớn vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng. 

Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn. Việc đi chậm khiến Xu Shiyou, lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.

Trong một bài phát biểu được nhà nghiên cứu Dương Danh Hy dịch ra tiếng Việt ít năm trước, nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó là Đặng Tiểu Bình đã xác nhận đó là cuộc chiến “giết gà đã phải dùng dao mổ trâu”. Cụ thể “vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là năm đánh một, sáu đánh một, chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí sáu đánh một, bảy đánh một”.

Vì sao ở Cao Bằng, chiến tranh lại đồng nghĩa với tàn phá như vậy?

Trang mạng quân sự milchina.com của Trung Quốc 3 năm trước đã cho đăng thư của một cựu chiến binh Trung Quốc từng tham gia chiến tranh biên giới 1979 phần nào giải thích lý do: “Mục đích của cuộc chiến tranh này là tàn phá, hủy hoại quốc lực của Việt Nam chứ không phải là chiếm lĩnh lãnh thổ, nên sau hai ngày đánh nhau, lính tham chiến bắt đầu chấp hành mệnh lệnh bán chính thức là “không bắt tù binh”, “không để lại cho Việt Nam một lá cây ngọn cỏ”.

Ông Vương Dường Tường, nguyên bí thư tỉnh ủy Cao Bằng giai đoạn 1979-1992 nhớ lại: Bấy giờ, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm và vấn đề người Hoa đã khá căng thẳng, nhưng không ai nghĩ là chiến tranh xảy ra. Chủ trương của ta là đưa thanh niên ra biên giới tổ chức các lâm nông trường. “TƯ xác định cũng phải đề phòng, nhưng là phòng xích mích biên giới thôi”- ông Tường nói.

Tỉnh ủy Cao Bằng bấy giờ chủ trương đưa một số bộ đội về một số xã để củng cố đội ngũ cán bộ. Quân đội không có ở Cao Bằng. Lực lượng công an vũ trang chỉ có ở cấp tỉnh chứ cấp huyện là không có người. Cả thị xã bấy giờ chỉ có 1 một trung đoàn bộ đội địa phương (E567), nhưng cũng chủ yếu là  làm kinh tế. Đến đội ngũ dân quân tự vệ, “có thì có đấy, căng thì căng như thế nhưng đã được phát súng đâu”. Thậm chí khi chiến tranh đã nổ ra, có thêm một sư đoàn được thành lập, nhưng lúc đó cũng chưa có quân”.

Ông Vương Dường Tường, nguyên bí thư tỉnh ủy Cao Bằng

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng, thời điểm 1979 đeo quân hàm trung sĩ, tiểu đoàn 40 Bộ đội địa phương còn nhớ như in là khi xe tăng Trung Quốc vượt cầu Sông Hiến vào đến tận dốc Nà Toòng, đại đội 3 phòng không của trung đoàn 567 phải thay đạn, chúc nòng pháo 37 ly xuống để bắn xe tăng bằng đạn xuyên.
Chính ông Hùng là một trong những người đầu tiên chạy bộ đạp lá sa mộc đến bên xác xe tăng còn nghi ngút khói.

“Chúng tôi chỉ có 3 khẩu súng AK để bảo vệ trận địa”, ông Hùng nói, “về sau, khi lính Trung Quốc lên quá đông, đơn vị đã phải tháo súng (pháo) để rút”.

Theo Xiaoming Zhang, đến ngày 23.2, Trung Quốc mới chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ. Nhưng sự chậm chân khi chiếm Cao Bằng đã ngáng trở kế hoạch ban đầu của Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.

Cao Bằng có gì để chống lại 6 sư đoàn chính quy với xe tăng và pháo binh yểm trợ?

“Dân Cao Bằng sẵn biết Trung Quốc rồi. Ở đâu cũng đánh, gặp đâu cũng đánh, ai cũng đánh. Một, hai người cũng đánh. Chặn khắp nơi”- ông Vương Dương Tường nói.

Ở Hòa An, dù lúc đó mất hoàn toàn liên lạc, một nhóm cựu binh vẫn tự tập hợp nhau lại lập chốt đánh địch. Nhặt được cái gì thì đánh được bằng cái đó. Ở Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Hà Quảng đều có những chốt đánh địch như vậy.

Người Cao Bằng sau phút bất ngờ đã chủ động trở lại. Cho đến cuối cuộc chiến tranh, ở Cao Bằng “không ai theo địch, không ai đầu hàng, không ai phản bội”- giọng người cựu bí thư già rưng rưng. Bao đời nay vẫn vậy, mỗi khi giặc đến nhà thì mỗi một người dân chính là một người lính.

Tháng 2 năm nay, trên nền bách hóa tổng hợp bị đánh sập năm xưa, một siêu thị mới đã được dựng lên, cho dù người Cao Bằng vẫn gọi đó là Tổng Hợp Đổ.

Còn người nữ cựu binh Nguyễn Thị Quỳ, đến giữa câu chuyện, bỗng bất ngờ hỏi lại chúng tôi: “Sao các cháu không hỏi vì sao tháng 2 năm ấy cô không đi tìm một cây súng? Và rồi, bà quả quyết tự trả lời: “Năm xưa, cô phải chạy giặc vì lúc đó đang mang bầu, không muốn ảnh hưởng đến anh em đồng chí. Còn nếu bây giờ giặc đến nhà, cô sẽ tìm một khẩu súng. Nếu cô già yếu không đánh được, những đứa con của cô sẽ cầm súng”.

Con gái bà, một cô gái niềng răng sinh năm 1988 sau đó nói sẽ đưa chúng tôi vào Tổng Chúp, dù ở Cao Bằng, không còn nhiều người biết đến những gì xảy ra tại Tổng Chúp 35 năm trước, dù theo lời cô bé: “nơi đó giờ đã hoang vắng lắm rồi anh ạ”.
Đào Tuấn

—–

Bài 2: “Đồng chí với nhau, ai nghĩ sẽ đánh nhau“

Đăng Bởi Một Thế Giới – 19:30 12-02-2014

“Ai cũng chỉ nói chỉ tranh chấp biên giới. Ai cũng chỉ xác định là giữ đất thôi. Tin là đồng chí với nhau, chỉ gây sự, chỉ ghen ghét thế thôi. Chứ anh em đồng chí, ai nghĩ là sẽ đánh nhau”- 35 năm sau, nguyên Bí thư tỉnh Cao Bằng vẫn còn khắc khoải câu chuyện xảy ra năm 1979.

 
Trận tập kích bất ngờ

Ở Bát Xát, Lào Cai, khi pháo Trung Quốc bắt đầu bắn sang từ phía bên kia biên giới, ông Nguyễn Văn Tuyến, đại đội trưởng tự vệ Đoàn địa chất 305 (Đoàn 5) đang ở Bản Vược, ngay trong tầm súng trường lính Trung Quốc.

“Chúng tôi vẫn pha trà uống. Chiến sự vẫn liên miên từ trước đó, đêm nào cũng có tiếng súng, cho nên không ai ngờ Trung Quốc đánh lớn”- ông nói.

Chỉ trước khi cuộc tấn công diễn ra 48 tiếng, cả dân lẫn lính Trung Quốc vẫn “sang bên này xem chiếu bóng bình thường”.

Ông Tuyến từng là lính trong chiến tranh với Mỹ, sau chiến tranh làm Phó Chủ tịch HĐND huyện Bát Xát, nhớ lại: “Khi pháo Trung Quốc chuyển làn, ông mới giật mình hô anh em vì cảm giác rằng bộ binh Trung Quốc sẽ sang. Mấy người hoảng hốt chạy ra đến đến ngã ba Bản Vược thì khắp nơi đã tràn ngập màu áo lính đang vận động từ phía trong ra điểm chốt của công an vũ trang. Chúng tôi tưởng bộ đội mình đã lên ngay thành thử súng cầm trong tay mà không bắn”. 

Từ trong hậu phương, lính Trung Quốc tiến đánh từ phía sau đồn công an vũ trang và chốt tự vệ địa phương. Hỏa lực từ bên kia biên giới bắn sang như mưa rào. Đơn vị ông Tuyến cơ động ra đến chốt Cây 2 thì bị một khẩu đại liên chặn lại. Bấy giờ, anh em vẫn có người giơ súng, giơ cờ vẫy ra hiệu vì vẫn tưởng bộ đội mình bắn nhầm.

Chỉ một lát sau đó, từ khu vực bản Xèo, lính công binh Trung Quốc lao cầu phao và sau đó xe tăng Trung Quốc tiến sang. “Họ đã chuẩn bị sẵn hết rồi. Cây cầu phao thả ra trôi theo dòng nước là áp khít sang bờ bên này”, lời ông Tuyến.

Tự vệ bản Xèo hy sinh vô số kể. “Chúng tôi chỉ được trang bị trung liên và súng K63. Không có vũ khí chống tăng”- ông Tuyến nói.

Ông Nguyễn Mạnh Tường, Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Bát Xát thời điểm tháng 2.1979 đang là lính sư đoàn 316, một trong hai sư đoàn chủ lực duy nhất hiện diện ở biên giới phía Bắc.

Sáng đó, đang ở Than Uyên, đơn vị ông có lệnh báo động. Ai cũng tưởng chỉ báo động hành quân dã ngoại, thành thử “có người chỉ mang theo một quả đạn, có người trút lại tượng gạo, và có người, chỉ mang độc một bộ quần áo trên người”.

Đơn vị ông Trường hành quân lên đến Sapa thì những người lính mới biết chiến tranh đã xảy ra, và sau đó chạm địch ngay tại đèo Ô Quy Hồ. 218 đồng đội của ông đã hy sinh trong trận đánh đó.

Bát Xát là “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt” với những địa danh anh hùng và đau thương: A Mú Sung, Y tý.

Những người lính biên phòng A Mú Sung trong ngày 17 tháng 2 năm ấy, đã đánh đến viên đạn cuối cùng và hy sinh oanh liệt.

Một góc pháo đài Đồng Đăng

 

Cú đánh trộm của “người anh em”

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng nhớ lại, trưa ngày 17, khi một người dân chạy đến đơn vị báo tin xe tăng Trung Quốc đã vào đến Nước Hai, Hòa An, thủ trưởng của ông còn lệnh cho lính “trói nó lại” vì cho rằng người này phao tin đồn nhảm.

Vì sao quân dân ta lại bị bất ngờ trước một cuộc tấn công toàn tuyến với quy mô 32 sư đoàn?

Nguyên Bí thư Cao Bằng, Vương Dương Tường, nhớ lại ở Cao Bằng hôm ấy, quân khu còn đưa các chỉ huy quân sự tỉnh về họp. Không ai biết Trung Quốc đánh mình. Ngay cả khi tiếng súng đã nổ vang từ hướng Hà Quảng, Thông Nông, trưởng ty Thủy lợi băn khoăn nói tiếng súng nhiều lắm, không biết súng ta hay súng địch. Một lãnh đạo Cao Bằng khi đó nói anh em cứ yên trí. Đó là súng mình.

 

Ông Tường thừa nhận: “Cơ bản nhất là bấy giờ không ai tin anh em đồng chí lại đánh nhau”, ông Tường nói.

Cao Bằng bấy giờ vừa tách tỉnh. Đến 1 giờ đêm, pháo Trung Quốc bắn phá dồn dập. Sáng ngày 17.2, lính Trung Quốc đã đến chân đèo Minh Tâm. 2 tiếng sau, xe tăng chúng đã vào đến Cao Bình, rồi vào đến Nà Tàu. Pháo binh Trung Quốc dồn dập nã xuống Nà Tản.

Ngày 18.2, lính Trung Quốc đã vào đến Hòa An, Cao Bình. Đến ngày 19, khắp nơi đã bị đốt phá giết chóc.

“Ai cũng nghĩ là chỉ tranh chấp biên giới. Ai cũng chỉ xác định là giữ đất thôi. Tin là đồng chí với nhau, chỉ gây sự, chỉ ghen ghét thế thôi, ai nghĩ là sẽ đánh nhau” – ông Tường nói, và theo ông, 35 năm sau vẫn chưa hiểu nguyên nhân câu chuyện đã xảy ra.

Cho đến năm 1992, khi các cơ quan của Bát Xát, Lào Cai từ Mường Vi trở lại Bản Xèo thì “vẫn chỉ có cỏ may và đất đỏ”.

Chúng tôi trở lại Đồng Đăng, Lạng Sơn vào đúng ngày lễ Đền Mẫu, lễ lớn nhất Lạng Sơn, nằm ngay dưới chân pháo đài Đồng Đăng.

Từ 35 năm nay, mỗi dịp tháng hai, đại tá Triệu Quang Điện, Trưởng phòng cảnh sát truy nã Công an tỉnh Lạng Sơn vẫn đến đây thắp hương tưởng nhớ những người đồng đội của mình.

Ông Điện được phong Anh hùng lực lượng vũ trang sau cuộc chiến tranh biên giới 1979, và sau 35 năm, ông vẫn nhớ như in những cái tên Trần Văn Thái, Vi Văn Cao, những người đồng đội trong tổ tam tam và bữa cháo cơm nếp cuối cùng đêm 16.12.

Đào Tuấn

————

Bài 3: Bia trấn ải – nơi tổ quốc được tô màu đỏ

Đăng Bởi báo mạng Một Thế Giới – 17:34 12-02-2014

Từ 35 năm nay, vào dịp tháng 2 mỗi năm, Đại tá Triệu Quang Điện, trưởng Phòng Cảnh sát truy nã Công an tỉnh Lạng Sơn đều đến đền Mẫu để thắp hương cho đồng đội của mình.

35 năm, thời gian chưa đủ để ông quên đi bữa cháo nếp cuối cùng. 35 năm, ông vẫn nhớ như in hình ảnh của những người đồng đội trong tổ tam tam: Những Trần Văn Thái. Những Vi Văn Cao.

Pháo đài Đồng Đăng và pháo hoa Trung Quốc

Năm đó, binh nhì Triệu Quang Điện vừa cưới vợ được 4 tháng, cũng vừa qua khóa huấn luyện 4 tháng ở Đông Khê, trở lại Lạng Sơn vào đúng buổi chiều ngày 16, khi phía Trung Quốc cho người đuổi trâu dò phá những bãi mìn biên giới.

5h sáng, khi pháo bắn cấp tập vào Đồng Đăng, ông cùng hai người đồng đội trong tổ thậm chí còn chưa kịp ăn nồi cháo gạo nếp đã đặt trên bếp để vội vã xách súng lên chốt ngay tại khu vực Đền Mẫu, pháo đài Đồng Đăng.

Tới 7h, sương còn chưa tan thì lính Trung Quốc đã kéo sang khắp nơi. Ba người kê súng bắn. Ông Điện, giữ súng trung liên bắn suốt 1 giờ đồng hồ.

“Hồi huấn luyện, tôi bắn bia được 3 điểm 9 – ông Điện nhớ lại – nhưng hôm đó, lính Trung Quốc lên quá đông, có lẽ là không cần bắn giỏi cũng có thể trúng”. Riêng tại chốt Đền Mẫu, binh nhì  Điện đã tiêu diệt tới 30 lính Trung Quốc.

Lính Trung Quốc cứ theo tiếng kèn lớp lớp xông lên. Bị hắt ngược trở lại, rồi lại xông lên.

Trong một thời khắc, khi ông vừa nhảy xuống hào thay đạn thì chỉ nghe “bầm”. Ngoảnh lại, nơi 2 người đồng đội nằm chỉ còn lại một hố pháo đen xì. Không còn chút vết tích.

Tới 10h, xe tăng Trung Quốc đã tràn ngập khắp nơi. Pháo binh Trung Quốc nã đạn vào pháo đài trong suốt nửa ngày 18.

Bấy giờ trong hang Đền Mẫu, ngay phía dưới chốt của ông Điện có tới 300 – 400 dân tới tránh pháo.

 Đến tối 18, đơn vị ông nhận được phương án đưa dân trong hang ra. Và chỉ trong một đêm, binh nhì Triệu Quang Điện trực tiếp đưa dân, ra ra vào vào 3 lần để cõng được ra 3 người đồng đội bị thương nặng. 

Khẩu trung liên của ông giờ đang được trưng bày tại Viện Bảo tàng công an nhân dân.

Bia trấn ải ở Pha Long, Mường Khương, Lào Cai

Ít năm sau đó, khi gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong một buổi lễ, ông thậm chí không trả lời được vì sao chỉ trong 1 đêm, với quãng đường 17km, một người chỉ nặng chưa tới 49kg đã 3 lần bò vào cõng đồng đội bị thương ra nơi an toàn.

Chúng tôi theo lối mòn trèo lên pháo đài Đồng Đăng, nơi bị đánh phá ác liệt nhất trong cuộc chiến biên giới.

Vào ngày 17.2.1979, 2 sư đoàn bộ binh Trung Quốc dưới sự hỗ trợ của 1 trung đoàn xe tăng và 6 trung đoàn pháo binh đã tấn công ác liệt nơi này.

Trong cuốn Lịch sử sư đoàn 3 Sao Vàng còn ghi rõ: Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh và nhân dân tới đây trú ẩn.

Tháng 2 năm nay, pháo đài trở nên cô đơn, trơ trọi giữa sự náo nhiệt của lễ hội Đền Mẫu.

Hoặc như ở chính cái nơi mà lính Trung Quốc xả súng vào chiếc xe cứu thương 12A 04-35 của bệnh viện Lạng Sơn đi Đồng Đăng cứu nhân dân bị thương, giết chết cả người lái xe, cả BS Nguyễn Thu Thủy, y tá Trịnh Thị Sâm, giờ một con đường mới đã được mở ra dập dìu xe cộ, hàng hóa thông thương qua cửa khẩu Hữu Nghị.

Ở Tổng Chúp có tấm bia ghi bại vụ thảm sát này. Tấm bia giờ vẫn còn sau 35 năm, dù chiếc giếng cạn, nơi năm xưa chứa đầy xác phụ nữ, trẻ em bị hành quyết bằng rìu bổ củi giờ đã lấp đầy cây lá.

Quá khứ không dễ quên. Nhất là khi đó là những gì đau thương nhất. Cho dù theo thời gian, những nhân chứng chiến tranh giờ đã lần lượt ra đi. Ông Hoàng A Tỉn, nhân chứng thảm sát trong sân Bách hóa tổng hợp Bát Xát đã mất 2 năm trước.

Đến Tổng Chúp, lại nghe tin ông Nông Văn Ất, nguyên trưởng trại giống Đức Chính, người đã mất vợ và 4 đứa con trong vụ thảm sát Tổng Chúp giờ cũng không còn.

Lời vĩnh biệt nhói trời Pha Long

Nhưng cũng có những tấm bia trấn ải mới được dựng lên. Ngay bên tay phải đồn biên phòng tiền tiêu Pha Long, Mường Khương, Lào Cai, có những dòng chữ mới, được in trên bia đá:

Nguyên Thần Bổn Mệnh giữ núi non

Nam Sơn bốn cõi tựa sách trời định.

Thiên thiên nhật nguyệt linh linh ứng

Tuyệt tuyệt long phụng báo quốc an

Bình nhất hà Việt Nam Quốc thổ.

Thạc sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh dịch: Nguyên Thần được giao sứ mệnh giữ núi non. Núi nam bốn cõi đã quy định trong sách trời. Nghìn nghìn mặt trời, mặt trăng linh thiêng và ứng nghiệm (điều đó). (Có) rồng phượng tuyệt vời bảo vệ an nguy tổ quốc. Đất Việt Nam yên bình nhất là ở đây.

Thiếu tá Phan Đức Mạnh, chính trị viên đồn Pha Long cho biết tấm bia trấn ải vừa được dựng hồi tháng 5, đúng vào điểm đối diện đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Bên này từng hàng, từng hàng tên tuổi của 37 liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc được khắc chìm trong đá xám.

Năm ấy, những chiến sĩ công an vũ trang còn trẻ măng đã đánh đến viên đạn cuối cùng, đã đâm gẫy đến chiếc lưỡi lê cuối cùng để bảo vệ tổ quốc.

Ngày 17.2.1979, sau khi bắn viên đạn cuối cùng, một người lính Pha Long đã gửi bức điện cuối cùng về hậu phương. Và cũng chỉ vài chữ, đại ý: Chúng tôi hết đạn. Xin Vĩnh biệt. 

Chợt nhớ đến những câu thơ Vương Trọng:

Mắt rưng rưng, dò đọc từng dòng

Gặp điệp khúc Tháng Hai năm Bảy chín

Lời vĩnh biệt nhói trời Pha Long.


Đến lúc này tôi mới hiểu ra

Vì sao đường Biên giới bản đồ

Của Tổ quốc được tô màu đỏ!..

Năm nay, chỉ duy nhất một, trong số gần bảy chục gốc đào ở Pha Long đơm hoa. 

Không xa Pha Long là điểm cao Tả Ngải Chồ, nơi một đồng nghiệp của chúng tôi, nhà báo, anh hùng liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết đã tay bút tay súng hy sinh vào ngày 17.2.1979.

Có lẽ, chính những người lính biên phòng, chính những nhà báo liệt sĩ, chính nhân dân anh hùng, những người đã ngã xuống từ cả ngàn năm nay, những người đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược phương Bắc năm 1979 mới là những tấm “bia trấn ải” thiêng liêng nhất mà mỗi người làm báo chúng tôi cần phải nhắc lại để thế hệ con cháu còn có được cảm xúc thiêng liêng, tự hào khi nhắc đến hai chữ “Tổ Quốc”.

Đào Tuấn

 

 

 

VN ‘gần chót bảng về tự do báo chí’

Cập nhật: 08:59 GMT – thứ năm, 13 tháng 2, 2014

BBC

Chính quyền Việt Nam luôn khẳng định rằng báo chí trong nước được tự do phát triển

Việt Nam đứng thứ 174 trên tổng số 180 quốc gia được tổ chức Phóng viên Không Biên giới, (Reporters sans Frontieres – RSF) , xếp hạng về tự do báo chí năm 2014, theo một phúc trình mà RSF vừa mới loan báo.

Việt Nam đứng ngay trước Trung Quốc, đất nước láng giềng có cùng chế độ Đảng trị, trong khi hai quốc gia cộng sản khác là Cuba và Lào xếp trên Việt Nam vài bậc – lần lượt ở các vị trí 170 và 171.

Một quốc gia cộng sản nữa là Bắc Hàn có vị trí áp chót: hạng 179/180.

Xếp sau Trung Quốc lần lượt là Somalia, Syria, Turkmenistan. Eritrea là nước có tự do báo chí tồi tệ nhất trên thế giới theo đánh giá của RSF.Trên bản đồ của RSF, bốn nước Việt Nam, Lào, Trung Quốc và Bắc Hàn tạo thành một khối được tô màu u tối nhất.

‘Theo kịp anh cả’

Trong phần nhận xét, RSF viết rằng “Việt Nam đã tăng cường kiểm soát thông tin đến mức gần bắt kịp với người anh cả Trung Quốc.”

Các dẫn chứng RSF đưa ra để chứng minh cho lập luận này là các trang tin độc lập ‘bị giám sát trên Internet’, các chỉ thị khắc nghiệt, làn sóng bắt bớ và các phiên tòa giả tạo.

“Việt Nam tiếp tục là nhà tù lớn thứ hai trên thế giới giam giữ các bloggers và các công dân mạng.”

Phúc trình của RSF

“Việt Nam tiếp tục là nhà tù lớn thứ hai trên thế giới giam giữ các bloggers và các công dân mạng,” bản phúc trình viết và cho biết có đến 25 trong tổng số 34 cây viết blog đang bị giam cầm là bị bắt giữ dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng làm tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nghị định 72 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành với mục đích cấm các trang cá nhân tổng hợp thông tin cũng được RSF nêu ra để khẳng định rằng ‘Đảng Cộng sản đã tăng cường kiểm duyệt lên một mức độ mới’.

“Nó [Nghị định 72] cho thấy Đảng đang phát động một cuộc tấn công toàn diện vào những người dùng Internet thế hệ mới mà họ xem như là đối trọng nguy hiểm đối với truyền thông truyền thống [của Nhà nước].”

Nhận xét này cũng được Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ), một tổ chức cổ súy cho tự do báo chí quốc tế, chia sẻ trong báo cáo thường niên của họ về tình hình báo chí thế giới với tiêu đề ‘Tấn công và Báo chí’ được đưa ra hôm thứ Tư ngày 13/2.

“Tình trạng đàn áp các cây viết blog ở Việt Nam ngày càng tồi tệ và quốc gia này (Việt Nam) chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc về số lượng nhà báo bị cầm tù với 18 người.”

Chú ý Trung Quốc

Trưởng Ban Tuyên giáo vẫn kiểm soát chặt chẽ nội dung của báo chí Việt Nam. Hình Đinh Thế Huỳnh (áo trắng), Ủy viên BCT, Trưởng Ban Tuyên Giáo. 

Bản phúc trình của RSF dành nhiều sự chú ý cho Trung Quốc, quốc gia mà họ đánh giá là đã ‘bắt giữ thêm nhiều nhà báo và blogger, đàn áp khốc liệt hơn những nhà bất đồng chính kiến trên mạng, tăng cường kiểm soát và kiểm duyệt trên mạng và xiết chặt hơn nữa những hạn chế đối với báo chí nước ngoài’.

“Thật khốn khổ cho bất cứ nhà báo nào cứ tưởng (lời kêu gọi của ông Tập Cận Bình khi lên làm tổng bí thư) là ‘hãy khắc họa hiện thực u ám của Trung Quốc’ trong khi câu nói của ông Tập có ý là ‘tuyệt đối tuân theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo’,” RSF bình luận.

“Chỉ thị hàng ngày của Ban Tuyên giáo gửi đến các cơ quan báo chí, việc tiếp tục kiểm duyệt mạng, số lượng các vụ bắt bớ vô cớ và việc giam giữ nhiều nhà báo và công dân mạng nhất trên thế giới (bao gồm Khôi nguyên Nobel Hòa bình Lưu Hiểu Ba) đã khiến Trung Quốc trở thành một hình mẫu kiểm duyệt và đàn áp,” phúc trình của RSF viết.

Trong số các nước lớn, ngoài Trung Quốc thì Nga cũng có thứ hạng thấp khi đứng thứ 148, trong khi các nước Đức, Anh, Pháp lần lượt xếp hạng 14, 33 và 39 còn Mỹ xếp hạng 46.

Các vị trí đầu bảng thuộc về các nước Bắc Âu lần lượt là Phần Lan, Hà Lan và Na Uy.

“Thật khốn khổ cho bất cứ nhà báo nào cứ tưởng (lời kêu gọi của ông Tập Cận Bình khi lên làm tổng bí thư) là ‘hãy khắc họa hiện thực u ám của Trung Quốc’ trong khi câu nói của ông Tập có ý là ‘tuyệt đối tuân theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo.”

Phúc trình của RSF

Ở khu vực đông nam Á, Thái Lan có thứ hạng cao nhất (130), theo sau là Indonesia (132), Campuchia (144), Miến Điện (145), Malaysia (147), Philippines (149) và Singapore (150).

Mỹ bị phê phán

Còn trong báo cáo của mình, CPJ cũng nói rằng các hoạt động do thám là ‘mối đe dọa đối với báo chí trong kỷ nguyên kỹ thuật số’ trong bối cảnh Mỹ bị cáo buộc nghe lén các đồng minh.

Theo CPJ thì các hoạt động do thám của Mỹ đã ‘làm tổn hại đến vị trí đứng đầu thế giới của họ về tự do biểu đạt và tự do Internet nhất là khi nói về những quốc gia chuyên chế như Trung Quốc hay Iran vốn luôn giới hạn Internet’.

CPJ cũng cho biết hai năm vừa qua đã chứng kiến ‘con số khủng khiếp’ các nhà báo bị sát hại và cầm tù. Trong đó, Syria là quốc gia nguy hiểm nhất đối với các phóng viên trong khi Thổ Nhĩ Kỳ là nước bỏ tù nhiều nhà báo nhất.

Ông Joel Simon, giám đốc điều hành của CPJ ở New York, cho biết trong năm 2013 đã có 70 nhà báo bị sát hại và 211 người bị bỏ tù – chỉ ít hơn năm 2012 một chút.

———————————————————-

CHUYỆN RẤT THẤT KINH

13-2-2014

Nguyễn Thông
Một nhà văn đáng kính (từng có truyện đăng trên báo Thanh Niên) vừa biên cho tôi ít dòng, than rằng:

“Bác có stt về Rằm tháng Giêng, mệt với các nhà thơ. Có lẽ tôi mệt với họ hơn cả. Ngày Thơ năm nao tôi cũng được quay phim các lễ lạt về Ngày Thơ. Năm nay có thông tin thế này, biếu bác: Đầu tiên dự định đặt tiêu đề cho Ngày thơ 2014 là “Từ Điện Biên đến Trường Sa”.

Sau khi họp báo lần 1, các nhà báo hỏi: Thế Hoàng Sa thì sao?

Ban Tổ chức (bác Hữu Thỉnh) bèn đặt lại: Từ Điện Biên đến Hoàng Sa, Trường Sa.

Mọi người tưng bừng chuẩn bị thơ phú về biển đảo, về chống bành trướng, nhớ 17/2… vân vân.

Đùng cái, có “chỉ đạo”, rằng không được nói đến Hoàng Sa.

Họp lần 2, các nhà văn đều bực, bị ép, đành chuyển thành “Mùa Xuân- Đất Nước” như mọi năm.

Đa số muốn giữ lại cái tên “Ngày Thơ VN 2014, Từ Điện Biên đến Hoàng Sa, Trường Sa”, nhưng chắc là ai cũng biết không được. Chính thức thì Chánh văn phòng Hội Nhà văn thông báo có “chỉ đạo” chỉ được đọc 01 bài thơ về Hoàng Sa, và duy nhất 1 bài thơ về chủ đề chiến tranh biên giới phía Bắc 17/2, còn lại thì cứ “mùa xuân – đất nước” mà diễn.

Chúng tôi cũng ngao ngán. Tâm trạng của bác cũng giống chúng tôi thôi. Nhưng có lẽ chúng tôi còn phải làm việc với lũ chúng nó, nên bi kịch và đau khổ là không kêu lên được. Năm nay sẽ chỉ làm lễ lạt ở Văn Miếu rất thường, ngắn gọn và không tổ chức đêm. Có chỉ đạo cả. Chúng nó sợ nhất là có biến”.

Sau khi nghe thở than của ông bạn văn, tôi suýt ngất.

Kinh thật. Văn chương thời nay như mớ giẻ rách. Ông bà nào có ý định tham gia Ngày Thơ 2014 thì nên nghĩ lại.

Nguyễn Thông

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: