Trần Hoàng Blog

►35 năm cuộc chiến biên giới phía Bắc – Ai nhắc tới là bị tù – Kissinger bàn về cuộc chiến Việt- Trung

Posted by hoangtran204 trên 14/02/2014

35 năm cuộc chiến biên giới phía Bắc

Thứ sáu, 14/2/2014 00:01 GMT+7

vnexpress.net

Tháng 1/1979, Việt Nam mở chiến dịch Tây Nam lật đổ chế độ diệt chủng Khmer đỏ thân Trung Quốc tại Campuchia, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Quan hệ Việt – Trung bắt đầu rạn nứt năm 1968 khi Việt Nam đồng thời giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ 2 nước này xuất hiện nhiều xung đột căng thẳng. Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon tới thăm Bắc Kinh và đạt được thỏa thuận với Trung Quốc  [ thỏa thuận gì giữa Mỹ và TQ?]. Ba năm sau đó, Việt Nam từ chối tham gia liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc.

Bắc Kinh xem đó như mối đe dọa. Tháng 5/1975, Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu, thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát hàng nghìn dân thường. Đứng sau viện trợ cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự là Trung Quốc. Tranh chấp Trường Sa và Hoàng Sa cũng nổi lên rõ hơn khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền với hai quần đảo.

TQ2-8774-1392045894-7179-1392174334.jpg
Những người lính đầu tiên bảo vệ đất nước là bộ đội địa phương, công an vũ trang (bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ và nhân dân 6 tỉnh biên giới. Ảnh tư liệu.

Ngày 3/11/1978, Việt – Xô ký hiệp ước hữu nghị 25 năm – chính thức xác nhận Việt Nam đứng về phía Liên Xô. Gần 2 tháng sau, quân đội Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trung Quốc quyết định dừng viện trợ cho Việt Nam.

Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khi ấy đã tuyên bố  “phải dạy cho Việt Nam một bài học”.

Cuộc chiến 30 ngày

Rạng sáng 17/ 2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân tràn qua biên giới, đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới lãnh thổ Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) với chiều dài 1.200 km.

Dù từng tuyên bố về ý định trừng phạt trước đó, cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn bất ngờ với Việt Nam và cả thế giới.

Theo Niên giám châu Á năm 1980, thời điểm Trung Quốc tấn công, tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc có khoảng 50.000 quân (xem chi tiết).

Trong khi đó, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập, 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không cùng hàng trăm khẩu pháo, hàng nghìn súng cối và dàn hỏa tiễn. Quân Trung Quốc ước lượng có 600.000 người, gấp hơn 10 lần lực lượng tham chiến thực tế của Việt Nam.

Trên mặt trận Lạng Sơn, các cánh quân lớn của Trung Quốc chia làm nhiều mũi đánh vào Bản Chất (Đình Lập), Chi Ma, Ba Sơn (Lộc Bình), Tân Thanh, Tân Yên (Văn Lãng) và khu vực thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn). Dù bị bất ngờ song với lực lượng dân quân địa phương, Việt Nam đã chặn đánh, ghìm chân quân Trung Quốc nhiều ngày.

Ngày 20/2, Trung Quốc tăng cường lực lượng chi viện, mở các đường tấn công mới vào điểm cao nhằm tiến xuống phía nam Đồng Đăng. Quân và dân Lạng Sơn bám trụ trận địa, đánh trả mạnh mẽ các mũi tấn công phía trước, phía sau của địch, buộc quân Trung Quốc phải co về đối phó và bị đẩy lùi ở nhiều nơi.

Sau 10 ngày chiến đấu không đạt được mục tiêu, ngày 27/2, Trung Quốc tung thêm một quân đoàn nhằm vào thị xã Lạng Sơn. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt giữa 2 quân đoàn tăng cường của Trung Quốc và lực lượng vũ trang địa phương Việt Nam. Ở điểm cao 417, đoàn An Lão đã đánh bật hàng chục đợt tấn công, loại khỏi vòng chiến đấu trung đoàn 850 của Trung Quốc. Đặc biệt, ở khu vực cầu Khánh Khê trên đường 18, chiến sĩ đoàn Tây Sơn đã chặn đứng  một sư đoàn quân và một tiểu đoàn xe tăng Trung Quốc.

TQ3-7880-1392045894-3800-1392174334.jpg
Hàng vạn thanh niên Việt Nam mới 18, đôi mươi đã nằm lại nơi biên giới phía Bắc, giữ vững chủ quyền dân tộc. Ảnh tư liệu.

Ở hướng Cao Bằng, hai quân đoàn tăng cường của Trung Quốc hình thành hai cánh quân lớn từ phía tây bắc theo đường Thông Nông đánh xuống và từ phía đông bắc qua Thạch An, Quảng Hòa đánh lên nhằm hợp điểm ở thị xã Cao Bằng.

Cả hai cánh quân đều bị bộ đội địa phương và dân quân Cao Bằng đánh chặn. Cánh quân tây bắc dựa vào sức đột phá của xe tăng bị chặn tại Hòa An. Cánh quân đông bắc cũng bị đánh quyết liệt ở Thạch An và Quy Thuận, bị chặn đứng trên đường số 4. Mũi đánh vào Trà Lĩnh, Phục Hòa gồm 2 sư đoàn nhằm chiếm đèo Mã Phục, Khâu Chia cũng bị lực lượng vũ trang địa phương phản kích làm tan đội hình, bỏ chạy về bên kia biên giới.

3 ngày đầu, quân Trung Quốc tại Cao Bằng đã bị thiệt hại 4 tiểu đoàn, bị phá hủy hàng chục xe tăng, xe bọc thép và buộc phải đưa lực lượng dự bị vào vòng chiến. Trên trận địa phòng ngự tại đồi Khâu Chia, các lực lượng của Việt Nam đã chặn đứng một sư đoàn Trung Quốc trong 12 ngày, diệt hơn 4.000 lính. Ngày 12/3, quân Trung Quốc tháo chạy.

Trên tuyến Hoàng Liên Sơn, từ mờ sáng 17/2, các sư đoàn tuyến 1 của hai quân đoàn Trung Quốc ồ ạt tấn công toàn biên giới Hoàng Liên Sơn từ phía tây bắc đến đông bắc thị xã Lào Cai. Cùng với việc đánh nhiều mũi vào các huyện Bát Xát, Mường Khương, bắn pháo dữ dội vào thị xã, quân Trung Quốc đồng thời bắc cầu qua sông Nậm Thi, cho xe tăng và bộ binh tiến vào thị xã Lao Cai và khu vực Bản Phiệt. Dân quân, tự vệ thị xã cùng các lực lượng vũ trang ở đây đánh trả quyết liệt. Sau 7 ngày, hai quân đoàn Trung Quốc không qua nổi trận địa đánh chặn, phục kích của quân và dân Hoàng Liên Sơn.

Trên các hướng Lai Châu, Hà Tuyên, Quảng Ninh, cùng một lúc quân Trung Quốc chia các hướng đánh vào nhiều điểm. Hai sư đoàn Trung Quốc tiến công theo đường 10 vào Nậm Cúm, Phong Thổ (Lai Châu) và đụng độ với lực lượng vũ trang địa phương. Qua hơn 20 ngày, quân Trung Quốc vẫn bị chặn ở Phong Thổ.

Ở Hà Tuyên, một sư đoàn Trung Quốc tấn công vào các đồn chốt biên phòng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của công an vũ trang, dân quân, bộ đội các huyện Đồng Văn, Thanh Thủy, Mèo Vạc và đồng bào các dân tộc. Hơn 1.000 lính Trung Quốc thiệt mạng.

Tại Quảng Ninh, Trung Quốc dùng hai sư đoàn bộ binh tiến công vào Pò Hèn, Móng Cái, Cao Ba Lanh, huyện Bình Liêu. Trong hai ngày 19 và 20/2, hai trung đoàn Trung Quốc đã bị đánh lui, tháo chạy sát về biên giới.

Trung Quốc rút quân

Ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Việt Nam Tôn Đức Thắng ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Trung Quốc tuyên bố “hoàn thành mục tiêu chiến tranh” và bắt đầu rút quân. Các nhà quan sát lúc đó cho rằng rút lui là hành động rất khó, có thể gây cho Trung Quốc nhiều tổn thất nếu bị quân tinh nhuệ Việt Nam phản công.

Ngày 7/3, Việt Nam tuyên bố cho phép Trung Quốc rút quân, thể hiện thiện chí hòa bình. 18/3, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân.

Trải qua 30 ngày chiến đấu, các lực lượng vũ trang tại chỗ và đồng bào dân tộc 6 tỉnh biên giới Việt Nam đã dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, đánh trả quyết liệt. 

Việt Nam công bố, tiêu diệt 62.500 lính Trung Quốc (hơn 1/10 tổng số được huy động), đánh tan hoặc gây thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự trong đó có 220 xe tăng, xe bọc thép (hơn một nửa số tham chiến), phá hủy 115 đại bác và súng cối hạng nặng…

Tuy nhiên, cuộc xâm chiếm của Trung Quốc đã gây ra những thiệt hại nặng cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp, hàng chục nghìn ha hoa màu bị tàn phá. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân các tỉnh biên giới phía Bắc bị mất nhà cửa, tài sản.

Kết thúc môt tháng giao tranh, giới phân tích nhận định, thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc đã học được bài học của chính mình.

Sau thời điểm 18/3/1979 đến tận 1988, Trung Quốc đã không rút hết quân như tuyên bố. Suốt gần 10 năm đó, chiến sự vẫn tiếp diễn, cao điểm nhất là năm 1984-1985. Nhiều đơn vị quân đội của Trung Quốc đã được luân chuyển tới biên giới, biến Việt Nam thành thao trường.

Việt Nam vì thế buộc phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự lớn dọc biên giới. Tình trạng chiến tranh khiến kinh tế Việt Nam thiệt hại nặng nề. 

Năm 1992, Việt Nam, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ.

Hoàng Thùy – Nguyễn Hưng

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/35-nam-cuoc-chien-bien-gioi-phia-bac-2950346.html

————————————————-

Chú Thích: 

 Thỏa thuận gì giữa Mỹ và TQ năm 1972? 

-Mỹ sẽ rút khỏi VN 1973 để bắt tay với TQ chống lại Liên Xô. Việc này gây thêm bất hòa giữa 2 nước CS, làm khối cộng sản tách làm hai, giảm đi sức mạnh của khối cộng sản. Liên Xô phải dàn triệu quân đội ở biên giới để đối đầu với 1 triệu quân Trung Cộng. Do đó, cả hai nước CS cùng bị yếu đi vì phải chu cấp cho 1 đạo quân khổng lồ. 

Đổi lại, Mỹ sẽ giúp TQ thoát khỏi nạn đói đe dọa thường trực và giúp TQ xây dựng kinh tế…

Mỹ cắt đứt viện trợ cho Miền Nam, giảm viên trợ quân sự từ 1,5 tỷ đô la xuống còn 700 triệu rồi 300 triệu đô la trong năm 1973, 1974, và 1975. Kết quả, quân đội Miền Nam VN không đủ vũ khí đạn dược để chiến đấu chống lại bộ đội Miền Bắc. 

Cùng khoảng thời gian này, TQ và Liên Xô đã thi nhau gia tăng số viện trợ cho Miền Bắc…

►Năm 1989, Trung Quốc lần đầu tiên thừa nhân gởi 320.000 quân qua tham chiến ở Việt Nam trong năm 1965-1968 và viện trợ Hà Nội 20 tỷ đô la và Liên Xô viện trợ 11 tỷ đô la 

Mục lục các bài được độc giả đọc nhiều nhất trong tuần qua

* THƯ VIỆN CÁC BÀI ĐƯỢC ĐỌC NHIỀU NHẤT

—————————————————————–

Cộng sản là bọn vô ơn. 

Bất thường vụ bắt khẩn cấp anh Phạm Viết Đào

14-6-2013

Nguồn caunhattan

Tối qua, 13/6/2013, nhiều Công an tiến hành phong tỏa khu vực bên ngoài nhà riêng anh Đào ở ngõ 460 Thụy Khuê, phường Bưởi (Tây Hồ, HN) để một lực lượng vào bắt khẩn cấp anh Phạm Viết Đào và thực hiện lệnh khám xét chỗ ở của anh.

Anh Phạm Viết Đào quê Tân Kỳ (Nghệ An), từng du học ở Rumani, sau về công tác tại Thanh tra Bộ Văn hóa, anh nói rất sõi tiếng Ru. Anh còn là hội viên Hội nhà văn Việt Nam và là dịch giả nhiều cuốn sách. 

Gần 30 năm qua, anh dành nhiều tâm huyết vào nghiên cứu về Trung Quốc, dành nhiềucông sức vào tập hợp, thu thập tư liệu về cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược, bảo vệ biên giới phía Bắc – một cuộc chiến đã thật sự bị lãng quên. Nhiều tư liệu anh có trong tay thuộc loại “giật mình” nếu được công bố. Trên cơ sở các tư liệu và nghiên cứu khoa học, cùng nhiều tướng lĩnh, anh đã có những kiến nghị lên lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công tác giáo dục lịch sử, tư tưởng về cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược. Những nội dung kiến nghị, những đề xuất đánh giá lại về cuộc chiến này mang đầy tính thời sự và đặc biệt hữu ích trong bối cảnh Trung Quốc đang gia tăng xâm chiếm biển đảo của ta.

Cần nói thêm, anh Đào có người em ruột là liệt sỹ Phạm Hữu Tạo đã hy sinh anh dũng trong trận đánh ác liệt nhất của lịch sử chiến tranh Việt Nam. Ngày 12/7/1984, chú Tạo xung phong chỉ huy một đơn vị cảm tử gồm những người con ưu tú nhất, quả cảm nhất của Nghệ An (E356) thực hiện nhiệm vụ áp sát, đánh mở chốt tái chiếm cao điểm 772 trong chiến dịch chiếm lại điểm cao 1509 tại mặt trận Hà Tuyên. Riêng đêm 12 rạng 13/7/1984, để đánh bật quân Trung Quốc, ta tung 4 sư đoàn thiện chiến tinh nhuệ nhất vào trận và đây là trận chiến đấu quy mô lớn nhất, ác liệt nhấttrong lịch sử quân sự Việt Nam qua 4 cuộc chiến (chống Pháp, chống Mỹ, đánh Campuchia và chống Trung Quốc bảo vệ biên giới phía Bắc). Các cán bộ bước ra từ khói lửa và máu của trận đánh này đều được tôi luyện thành những lãnh đạo, tướng lĩnh cao cấp: tướng Lê Trọng Tấn, tướng Lê Ngọc Hiền, tướng Phạm Văn Trà, tướng Nguyễn Hữu An, tướng Vũ Lập, tướng Lê Duy Mật, tướng Hoàng Đan, tướng Phùng Quang Thanh, tướng Đỗ Bá Tỵ, tướng Nguyễn Văn Được, tướng Nguyễn Đức Soát, tướng Phùng Khắc Nghiên …

Về vụ bắt anh Đào, theo một đồng chí đảng viên sinh hoạt tại chi bộ cụm dân cư số 4, phường Bưởi, Tây Hồ,  tuy CA ập vào đọc lệnh bắt khẩn cấp và khám nhà anh Đào theo điều 258 Bộ luật Hình sự (lợi dụng các quyền tự do dân chủ) nhưng họ đặc biệt quan tâm tới việc thu giữ các tài liệu về chiến tranh chống Trung Quốc, truy tìm những mối liên hệ với một số tướng lĩnh, cán bộ … Tiếng là PA92 của Sở C.A. Hà Nội làm án, nhưng kỳ thực mọi việc khám xét thu giữ đều do các cán bộ trên Bộ Công An chỉ đạo. Hoạt động ”gí án” này trong ngành CA chỉ thấy ở các vụ án chính trị quan trọng, gần đây nhất là vụ bắt Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ. Tức, Bộ Công an (thậm chí có chỉ đạo cao hơn nữa) lên kế hoạch, chỉ đạo từng bước đánh án, chủ trì huy động phối hợp từ các cơ quan khác (Ngoại giao, Tuyên giáo, Tư pháp, báo chí …), rồi giao xuống cho Công an Hà Nội “hót” nốt công đoạn cuối nhằm làm giảm tai tiếng. Còn những cáo buộc mà CA đưa ra đối với anh Đào thì chẳng có gì là khẩn cấp cả. Có những việc diễn ra cách đây 2 năm rồi và anh Đào làm rất công khai.

Thời điểm bắt giữ anh Đào thì đặc biệt nhạy cảm. Trung Quốc từng giờ lấn tới, gia tăng xâm chiếm biển đảo của ta. Phản ứng của Việt Nam thì hầu hết vẫn chỉ dừng lại ở … đưa ra tuyên bố từ bàn giấy. Tuần tới, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đi gặp Tập Cận Bình (từ 19/6 – 21/6/2013) “nhằm tăng cường sự tin cậy chính trị và hợp tác hữu nghị giữa hai Đảng, hai nhà nước, định ra phương hướng lớn cho mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc – Việt Nam“. Đây là chuyến đi TQ đầu tiên của đ/c Trương Tấn Sang trên cương vị Chủ tịch nước. Như vậy, thời điểm bắt anh Đào rất gần với chuyến thăm hữu nghị Trung Quốc của đ/c Sang. Phái nào và động cơ gì đằng sau vụ bắt anh Đào thì chưa rõ.

Ngày giỗ nữa của chú Tạo đang đến rất gần nhưng anh Đào lại phải ra đi. Kỷ niệm trận chiến đấu ác liệt nhất bảo vệ biên giới phía Bắc năm nay, đồng đội của chú Tạo lại vắng đi người anh vẫn thường giữ lửa cuộc chiến này cho đất nước và các thế hệ mai sau.

Được biết, khi đối mặt các điều tra viên cao cấp của An ninh, cũng với khí tiết ngoan cường như chú Tạo lúc xung trận mở chốt đánh quân bành trướng bá quyền Trung Quốc năm xưa, anh Đào rất hiên ngang kiên cường bảo vệ quan điểm của mình.

———————————————-

Kissinger bàn về Trung Quốc: Chiến tranh biên giới với Việt Nam

13-2-2014

Phạm Đoan Trang 

Kissinger nhận thấy khi Việt Nam đương đầu với Trung Quốc, cả hai bên đều chịu một thách thức không hề nhỏ về địa chính trị và tâm lý, ấy là họ ở quá gần nhau và họ quá giống nhau. “Các nhà lãnh đạo Việt Nam đều quen thuộc với binh pháp Tôn Tử và họ đã từng áp dụng đáng kể các nguyên tắc của binh pháp này để chống Pháp và Mỹ” – Kisssinger viết. Đây có lẽ là một điều ít người phát hiện ra hoặc đề cập đến khi bàn về cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung.

Tháng 2-1976, Trung Quốc cắt đứt tất cả chương trình viện trợ cho Việt Nam. Việc này chỉ đẩy Việt Nam về phía Liên Xô hơn: Tháng 6-1978, Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (COMECON) của khối XHCN. Tháng 11-1978, Liên Xô và Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, trong đó có cả các điều khoản về quân sự. Tháng 12-1978, quân đội Việt Nam tiến vào giải phóng Campuchia, lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trước đó, một thời gian dài, lính Pol Pot đã không ngừng quấy phá Việt Nam.

Suốt từ năm 1975, chính quyền Khmer Đỏ nhiều lần tấn công biên giới phía tây nam Việt Nam, tàn sát thường dân, đánh phá các cơ sở kinh tế và quân sự dọc biên giới. Tuy nhiên, điều này không được Kissinger nhắc tới trong cuốn sách của mình…

* Trước khi các bạn đọc tiếp bài báo này, Trần Hoàng có ý kiến tại sao “Suốt từ năm 1975, chính quyền Khmer Đỏ nhiều lần tấn công biên giới phía tây nam Việt Nam,…”.

Có thể trong Chiến tranh VN 1954-1975, Cộng sản Bắc Việt muốn đánh Miền Nam thì phải mượn đường đi qua Kampuchia. Vì thế, có thể là họ đã hứa với Kampuchia rằng sau khi chiếm được Miền Nam họ sẽ trả lại cho Kampuchia các vùng đất thuộc các tỉnh Miền Tây (Sóc Trăng, An Giang,  Châu Đốc, Đảo Phú Quốc…(các vùng đất này thuộc Kampuchia mấy trăm năm trước). Nhưng sau khi thôn tính xong Miền Nam 1975, thì đảng CSVN im hơi lặng tiếng và vờ như không biết gì. Thế là chính quyền Khmer Đỏ (dưới sự hổ trợ của Trung Cộng) đã tấn công đòi đất đai.

*Ý kiến khác là đảng CSVN muốn thành lập Liên Bang Đông Dương (gồm VN, Lào, Kampuchia) vì từ hồi thành lập đảng ngày 3-2-1930 đã lấy tên này. Sau khi chiếm xong Miền Nam 1975, các đảng viên cao cấp lo tịch thu và chia nhau chiến lợi phẩm nên tạm quên nhiệm vụ. Theo tiết lộ của Thủ tướng Hun Sen đầu năm 2014, Bộ đội Việt Nam đã đánh và vào tới gần Nam Vang năm 1977, nhung sau đó đã rút về. Sau khi ký hiệp ước với Liên Xô 1978 và nhận được sự bảo trợ về giúp đỡ, thì VN mới đánh qua Kampuchia. Chiếm xong Kampuchia thì Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh và một số tướng lãnh mê say và cướp vàng bạc trong các đền thờ, chùa chiền người Kampuchia, và đồng thời khai thác các mỏ vàng chạy dọc theo sông suối. Chuyện Bộ đội VN đi Kampuchia trở về đeo vàng trên tay, đeo lắc vàng trên cổ là quá phổ biến. Số thương vong của Bộ đội VN và Thanh Niên Xung Phong rất lớn, 70.000 người chết và 200 ngàn người bị thương trong cuộc chiến kéo dài 1978-1989. Và VN chỉ chịu rút quân về khi (1) hoàn toàn kiệt quệ không còn được Liên Xô giúp đỡ về nhiên liệu, tiền bạc (2) Cả nước thiếu gạo ăn từ 1976-1985, và dân chúng cả nước thật sự  ở bên lề nạn đói 1985-1988 và nhiều vùng dân chúng nổi lên chống lại chính quyền địa phương, (3) cũng là lúc mà Lê Duẩn chết vào tháng 7-1986,  (4) cùng lúc bị cả thế giới lên án và Mỹ cấm vận…

>>> Đọc tiếp 

——————————————————————–

Phó Thủ tướng phát động Tết trồng cây tại trung tâm sản xuất ma túy

3 phản hồi to “►35 năm cuộc chiến biên giới phía Bắc – Ai nhắc tới là bị tù – Kissinger bàn về cuộc chiến Việt- Trung”

  1. […] ►35 năm cuộc chiến biên giới phía Bắc – Ai nhắc tới là bị tù – Kiss… […]

  2. […] ►35 năm cuộc chiến biên giới phía Bắc – Ai nhắc tới là bị tù – Kiss… […]

  3. […] ►35 năm cuộc chiến biên giới phía Bắc – Ai nhắc tới là bị tù – Kiss… […]

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: