Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Một 25th, 2014

►Chúng ta mang nhiệm vụ của nhân loại, chúng ta có niềm tin, chúng ta sẽ thành công

Posted by hoangtran204 trên 25/01/2014

Chúng ta mang nhiệm vụ của nhân loại, chúng ta có niềm tin, chúng ta sẽ thành công

Đặng Xương Hùng, nguyên Vụ Phó Bộ Ngoại Giao, Lãnh sự tại Thụy Sĩ (2008-2012), từ bỏ đảng CSVN 2013 

Theo Dân Làm Báo

 

Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc đã đưa ra sáng kiến về kiểm điểm định kỳ toàn cầu với cơ chế bảo đảm tính vô tư, hạn chế sự thiên vị. Cơ chế TROIKA có thể ví như ba trọng tài trong một trận đấu bóng đá.

Kỳ này, troika của Việt Nam là Kenya, Kazakstan và Costa Rica. Hà nội chắc chắn đã chăm sóc rất kỹ ba nước này. Họ đã tìm hiểu nhu cầu của ba nước này để có mặc cả trao đổi. Họ mời cơm các đại sứ hoặc làm việc với Bộ Ngoại giao của ba nước. Họ tìm cách o bế các nước này để hướng tới một kết quả đỡ bất lợi nhất đối với họ trong kỳ kiểm điểm lần này.

Tiếp đến, họ vận động các nước thân thiện với họ, làm mọi cách để các nước này tham gia phát biểu càng nhiều càng tốt. Thời gian kiểm điểm có hạn nên làm như vậy sẽ hạn chế rất nhiều đến các nước mong muốn có góp ý thành thật về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, Việt Nam không còn là mối quan tâm hàng đầu của của nhiều nước lớn nữa. Thế giới ít nhiều có phần thờ ơ với Việt Nam. Nói cách khác là họ còn quá nhiều quan tâm quan trọng khác như Trung- Nhật, Bắc Triều tiên, Xiry, Iran, nên sự chú ý đến Việt Nam bị sao nhãng. Cuộc đấu tranh cho nhân quyền ở Việt Nam cần phải tính đến đặc điểm này.

Ví dụ chuyến đi của John Kerry, Ngoại trưởng Mỹ đến Việt Nam. Chúng ta rất quan tâm đến vấn đề cải thiện dân chủ và nhân quyền của chuyến đi. Chúng ta muốn Mỹ coi đó là giá mà chính quyền trong nước phải trả để đổi lấy những thuận lợi thương mại như TPP. Kết quả chuyến đi làm ta nhớ lại Thông cáo Thượng Hải 1972, khởi đầu chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Nhường như đã có manh nha chiến lược « cộng sản hóa tranh chấp biển Đông » của Mỹ. Sau chuyến đi, Hà nội đã mon men nêu chủ đề Hoàng Sa, mua sắm vũ khí. Hà nội cũng tưởng là khôn ngoan, kéo được Mỹ làm hậu thuẫn. Sự im bặt sau đó mới thấy được cái rủi ro của một nước nhỏ đòi chơi trò leo dây thăng bằng với hai nước lớn.

Việc thế giới giảm quan tâm đến Việt Nam, nhất là với tình hình bên trong Việt Nam, đã tạo thuận lợi cho Hà nội tăng cường việc trấn áp, bịt miệng các nhà đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền.

Nhưng ngược lại, chính việc Hà nội được bầu làm thành viên Hội đồng nhân quyền lại là yếu tố thuận lợi cho cuộc đấu tranh này.

Chúng ta không ngây thơ đòi nhà cầm quyền Hà nội phải có ngay thay đổi trong chính sách với dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Nhưng chúng ta có thể phân tích cho họ dần dần nhận thấy rằng đây là cố gắng của toàn nhân loại, hướng tới một thế giới văn minh hơn, mà trong thâm tâm chính họ cũng mong muốn như vậy. Chỉ do họ chưa đủ dũng khí thành thật với bản thân, từ bỏ hướng đi mà họ đã chót lựa chọn.

Trước mắt, hướng đấu tranh vào đội ngũ cán bộ cấp trung đang thực thi nhiệm vụ. Họ là những người có trình độ hiểu biết, được tiếp cận với thế giới bên ngoài, có cơ hội so sánh, phân tích thật- hư. Đây là tầng lớp, nếu họ thay đổi thái độ sẽ làm xoay chuyển chiều hướng tình hình tại Việt Nam.

Lần này, cần tập trung vào phân tích cho họ thấy những hành động của họ chỉ có lợi trước mắt là Hà nội có thể tránh được những phê phán của cộng đồng quốc tế. Nên nó chỉ là những mục tiêu rất ngắn hạn, chỉ phục vụ bảo vệ sự tồn tại của đảng cộng sản Việt Nam. Nó kéo dài thời gian chờ đợi của cả một dân tộc đang mong muốn được sống trong tự do, ấm no và hạnh phúc.

Đối với các nước Troika, cần tác động với họ giữ vững vai trò trọng tài vô tư của họ. Chúng ta tôn trọng những lợi ích đan chéo của họ, nhưng chúng ta cần bày tỏ, mong họ từ chối những gợi ý nhỏ nhen của phía Việt Nam. Trong trường hợp phía Hà nội đã soạn bài tham luận sẵn cho họ. Ta khuyên họ hãy nói lên một cách chân thực những suy nghĩ của họ về nhân quyền tại Việt Nam.

Đối với các nước lớn, cần thúc đẩy mạnh mẽ sự quan tâm trở lại đối với Việt Nam.

Sự trỗi dậy bên trong rất cần sự ủng hộ và trợ giúp của bên ngoài, một nước Việt Nam có dân chủ và tôn trọng nhân quyền nằm trong mong muốn của cộng đồng thế giới.

Chúng ta mang nhiệm vụ của nhân loại, chúng ta có niềm tin, chúng ta sẽ thành công.

Từ Thụy sĩ.


Đặng Xương Hùng

—————————————————————–

*Đúng là quan điểm của một nhà ngoại giao: “Sự trỗi dậy bên trong rất cần sự ủng hộ và trợ giúp của bên ngoài, một nước Việt Nam có dân chủ và tôn trọng nhân quyền nằm trong mong muốn của cộng đồng thế giới. Chúng ta mang nhiệm vụ của nhân loại, chúng ta có niềm tin, chúng ta sẽ thành công.”

 

——————————————————————

TUYÊN BỐ RA KHỎI ĐẢNG

Kính gửi : Văn phòng Đảng ủy Bộ Ngoại giao.
Tôi tên là Đặng Xương Hùng
Sinh ngày 13/9/1961
Vào đảng ngày 28/2/1986

Tôi viết thư này để thông báo tôi từ bỏ đảng Cộng sản Việt Nam. 

Tôi đã từng hy vọng cùng với những diễn biến mới đây, đảng Cộng sản Việt Nam sẽ chấp nhận bỏ điều 4 trong Hiến pháp, chấp nhận một sự cởi mở dù là nhỏ trong chính trị, để đưa đất nước ra khỏi vòng luẩn quẩn. Áp dụng một chế độ như Ông Lý Quang Diệu đã làm ở Singapore. 

Đấy cũng là hy vọng chung của đông đảo người dân Việt Nam.

Nhưng bất chấp, đảng vẫn tiếp tục sao chép – hoặc bị ép buộc tuân theo láng giềng tàn ác phương Bắc : chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Gần đây những bí mật của ông Hồ Chí Minh đã bị phơi bày. Chúng tôi, hầu hết là đảng viên, vẫn thường vui vẻ đùa cợt có những bài vè chế giễu, nhưng rất đúng về nhân vật này. Ông Hồ Chí Minh đã bị nghi ngờ là một người Trung quốc, có tên là Hồ Tập Chương, do Quốc tế cộng sản dựng lên, thay thế cho Nguyễn Ái Quốc, người đã chết năm 1932.

Mọi niềm tin đã bị đánh cắp. Tôi tuyên bố ra khỏi đảng.

Ngày 5/12/2013 

Đặng Xương Hùng

——————————————————————

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Xin 5000 giấy phép khai mỏ khoáng sản, sau đó bán 3000 giấy phép cho Trung Quốc khai thác!

Posted by hoangtran204 trên 25/01/2014

Liệu các doanh nghiệp tư nhân VN (không có thân thế) có khả năng xin nhà nước cấp giấy phép đi khai mỏ khoáng sản không? Chắc chắn là không được.

Chỉ có doanh nghiệp của bọn quan chức và đảng viên cao cấp, có quan hệ tốt, biết chạy tiền, mới xin được giấy phép khai mỏ khoáng sản.

Năm 2010, có 2000 doanh nghiệp quốc doanh và của gia đình các quan chức được cấp 5000 giấy phép đi khai các mỏ khoáng sản ở VN, nhưng sau đó, thì có hơn 60% giấy phép này (tính ra khoảng 3000 giấy phép) đã được bán lại cho Trung Quốc.  Và thế là hiện nay, bọn TQ an nhiên khai thác mỏ khoáng sản trên đất Việt Nam. Dĩ nhiên, khai thác được bao nhiêu, thì chúng chất lên toa xe lửa, hoặc chất lên tàu và chở về Trung Quốc!  

Chiếu theo luật pháp VN, thì doanh nghiệp TQ mua lại giấy phép thì KHÔNG được khai thác mỏ khoáng sản, NHƯNG trên thực tế, họ vẫn khai thác khoáng sản, và chở khoáng sản thô, ròng đem về TQ! 

Chính quyền VN biết chuyện này không? Biết. Đương nhiên là họ biết rất rõ, nhưng họ nhắm mắt làm ngơ. 

Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, Cục địa chất khoáng sản (Bộ TNMT), Tập Đoàn Than và Khoáng Sản (TKV) biết chuyện này không?  Đương nhiên là họ biết rất rõ chuyện bán giấy phép cho doanh nghiệp TQ khai thác các mỏ khoáng sản ở VN (như bài báo dưới đây), nhưng họ đã không dám hành động gì hết, hay không muốn làm.

Họ không ngăn chận, không báo cáo với chính quyền các cấp, không báo cáo với quản lý thị trường, không báo cáo với Tổng Cục Điều Tra thuộc Bộ Công An, không báo cáo với quốc hội…Chỉ vì Bộ Chính Trị, Ủy Ban Trung Ương Đảng CSVN cho phép làm thế!

60% giấy phép khai khoáng bị bán cho Trung Quốc là…(nói) khiêm tốn!

24-1-2014

Báo Đất Việt

Hậu quả đương nhiên là tài nguyên khoáng sản bị bán rẻ, bị khai thác một cách tàn bạo và môi trường bị xâm hại …” – TS Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc BQL các dự án Than ĐBSH-Vinacomin cho biết.

PV: – Mới đây, báo chí đưa tin, Cục địa chất khoáng sản (Bộ TNMT) cho biết, năm 2010 cả nước có 5000 giấy phép khai khoáng được cấp cho 2.000 doanh nghiệp nhưng nhiều giấy phép khai khoáng đã được bán cho doanh nghiệp Trung Quốc, ông có bất ngờ trước thông tin này không, thưa ông?

TS Nguyễn Thành Sơn:- Tôi không biết cụ thể những giấy phép nào đã được bán. Nhưng, việc nhiều giấy phép khai khoáng đã được bán cho doanh nghiệp Trung Quốc, như anh Nguyễn Văn Thuấn- Cục trưởng Cục Địa chất Khoáng sản nói, chắc chắn là có thật. Riêng các giấy phép cấp cho TKV, hay cho các doanh nghiệp nhà nước khác thì không thể nào bị bán cả.

PV: – Theo ông, tại sao lại có việc doanh nghiệp Việt đứng tên rồi bán giấy phép khai thác khoáng sản cho doanh nghiệp Trung Quốc như vậy. Theo luật, việc này có được phép không và phải gọi hành vi này là gì, thưa ông?

TS Nguyễn Thành Sơn: -Tất nhiên, việc đứng tên xin cấp giấy phép hoạt động khoáng sản rồi bán giấy phép theo kiểu “lúa non” là vi phạm Luật Khoáng sản. Việc chuyển nhượng giấy phép hoạt động khoáng sản đã được qui định trong các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản. Chẳng có luật nào, kể cả Luật doanh nghiệp cho phép hoạt động theo kiểu “ma” như vậy. Tuy nhiên, những qui định về chuyển nhượng giấy phép hoạt động khoáng sản còn nhiều sơ hở và bất cập, dễ bị lợi dụng.

Rất tiếc, những người dự thảo nghị định không am hiểu thực tế, nhưng đã không tham khảo ý kiến của các chuyên gia, chỉ biết đưa ra các qui định chung chung để khẳng định cái “quyền” từ phía quản lý, nhưng lại không có cơ chế giám sát thực hiện. Đặc biệt là hai vấn đề “cấp phép” và “ đấu giá”. Còn nhiều vấn đề cần phải bàn lại về những nghị định hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản.

PV: – Một tờ báo lớn dẫn lời lãnh đạo Cục địa chất khoáng sản (Bộ TNMT) cho biết, có đến 60% doanh nghiệp Việt bán giấy phép cho doanh nghiệp nước ngoài mà các cơ quan chức năng không biết, tại sao lại có chuyện như vậy, thưa ông?

TS Nguyễn Thành Sơn: – Cơ quan “chức năng” ở đây trước hết là Bộ TNMT và các sở TNMT. Việc có đến 60% doanh nghiệp bán giấy phép mà các cơ quan “chức năng” không biết thực ra thì cũng dễ hiểu. Trước hết là do buông lỏng quản lý từ khâu “cấp” đến khâu giám sát thực hiện. Những giấy phép được “cấp” một cách minh bạch (tất nhiên là rất khó khăn và kéo dài với đầy đủ mọi “xem xét”, “giải trình”) như những giấy phép cấp cho TKV thì chẳng cần các “cơ quan chức năng” giám sát cũng sẽ được thực hiện nghiêm chỉnh và chắc chắn không có cái nào bị bán cả.

Phần lớn các giấy phép do các địa phương cấp. Vì vậy, con số “60%” giấy phép bị bán là rất khiêm tốn. Con số này chỉ có thể giải thích là các giấy phép được “cấp” theo kiểu không minh bạch cho các đối tượng không có năng lực về kinh tế cũng như chuyên môn, hay cấp theo các đề án được “vẽ” ra cho “phù hợp” với những tiêu chí, tiêu chuẩn của “cơ quan chức năng”. Sau khi nhận được giấy phép một cách không minh bạch, đương nhiên chủ giấy phép sẽ phải nhanh chóng triển khai và “hoàn vốn” bằng cách dễ nhất là bán cho người ngoài. Các doanh nghiệp (chủ giấy phép) sẽ thu được mức chênh lệch khá lớn (có thể lên tới hàng triệu đô la một giấy phép).

PV: -Theo ông, mục đích của các doanh nghiệp Trung Quốc khi mua lại giấy phép này là gì và họ sẽ được lợi gì, thưa ông?

TS Nguyễn Thành Sơn: – Các doanh nghiệp, doanh nhân Trung Quốc luôn sẵn sàng mua theo kiểu “chui” (thỏa thuận ngầm) và triển khai giấy phép bằng cách núp danh người bán để qua mặt các “cơ quan chức năng”, vừa trốn được thuế, vừa lách được mọi qui định.Trong khi đó, việc kiểm tra giám sát sau cấp phép thì lại bị coi nhẹ và quá chủ quan giống như “đười ươi giữ ống”.

PV: – Nếu vậy thì Việt Nam có bị thiệt hại gì, thưa ông?

TS Nguyễn Thành Sơn:- Hậu quả đương nhiên là tài nguyên khoáng sản bị bán rẻ, bị khai thác một cách vơ vét tàn bạo, và môi trường bị xâm hại (không có ai chịu trách nhiệm).

PV: – Trên thực tế, vấn nạn xuất khẩu lậu khoáng sản đã được “vạch mặt chỉ tên”. Tuy nhiên, sau nhiều năm, tình trạng đó vẫn tiếp diễn. Vậy phải giải thích điều này thế nào, thưa ông?

TS Nguyễn Thành Sơn: – Tình trạng đó vẫn cứ tiếp diễn vì 3 lý do cơ bản. Trước hết, là do những bất cập ở tầm quản lỹ vĩ mô về tài nguyên khoáng sản. Tư duy dựa vào xuất khẩu TNKS để tăng GDP là sai và là con dao hai lưỡi. VN rất nghèo về TNKS, có nhiều chủng loại TNKS, nhưng rất manh mún, khó khai thác, không có công nghệ chế biến hiệu quả (kể cả than và bauxite), và phần lớn TNKS không có nhu cầu sử dụng trong nước (ngoài than, dầu, khí, nước ngọt, cát, đá, sỏi).

Trong khi đó, một số người vẫn đưa ra các thông tin sai lệch (“bốc thơm”) về TNKS ở VN làm cho các nhà quản lý “tưởng bở”.

Thứ hai, về định hướng trong qui hoạch phát triển: đối với TNKS phải trọng “cầu” hơn trọng “cung”, “cầu” phải là cơ sở để qui hoạch phát triển “cung”. Các qui hoạch phát triển về TNKS của VN đều theo hướng “nhiệm kỳ”, có gì thì cứ tranh thủ “bới” lên để “ăn liền” (xuất khẩu).

Thứ ba, tình trạng này còn thể hiện sự bất lực trong quản lý vi mô (liên quan đến các cấp quản lý hành chính). Các “con voi” khoáng sản cứ liên tục “chui lọt” qua rất nhiều “lỗ kim” như: thuế, hải quan, biên phòng, cảng vụ, cảnh sát biển, cảnh sát kinh tế, cảnh sát môi trường…

PV:- Vậy có mối liên quan gì giữa hai thực trạng xuất lậu khoáng sản (chủ yếu sang Trung Quốc) và việc doanh nghiệp Trung Quốc đứng đằng sau việc khai thác khoáng sản không? Có ý kiến cho rằng, mục đích đằng sau những thương vụ này là nhằm thao túng, kiểm soát ngành khai thác khoáng sản của Việt Nam, quan điểm của ông như thế nào?

TS Nguyễn Thành Sơn: Tôi không nghĩ, đằng sau những thương vụ này là nhằm thao túng hay kiểm soát ngành khai khoáng của VN, chưa đến mức độ như vậy. Nhưng “lợi ích nhóm” và “tư duy nhiệm kỳ” là rõ. Hai thực trạng bán giấy phép và xuất khẩu lậu khoáng sản về bản chất chỉ là một, đều có mẫu số chung giống nhau là do chúng ta hành xử với TNKS theo kiểu “chộp giật”, rất thiếu trách nhiệm với tương lai, rất không bền vững đối với hiện tại.

Còn trả lời cho câu hỏi “chúng ta phải làm gì?” thì rất dễ, ai cũng có thể nói được, nên tôi cũng chẳng cần phải nói. Câu hỏi quan trọng hơn là “chúng ta phải làm như thế nào?”. Lẽ ra, để trả lời cho câu hỏi này thì phải nghiên cứu, phải học, phải tìm hiểu cụ thể, nhưng tôi xin phép trả lời ngắn ngọn dễ hiểu là phải minh bạch về TNKS.

Xin cảm ơn ông!

Theo Báo Đất Việt

-Nhớ lại vụ:  

Kinh khủng: Cho TQ thuê đất 120 năm NẾU trả tiền một lần! Đúng là bọn mãi quốc cầu vinh Bán Tài Nguyên Khoa’ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm  

– Trung Quốc gần như ‘nắm’ toàn bộ mỏ khoáng sản Việt Nam (Người Việt).

Mời xem lại: Doanh nghiệp Việt đứng tên cho chủ Trung Quốc “đào” khoáng sản (TT). Ông Nguyễn Văn Thuấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và khoáng sản (Bộ TNMT): “Đơn cử như ở phía Bắc có đến hơn 60% mỏ có dấu vết của các doanh nghiệp đến từ Trung Quốc. Người Trung Quốc gần như đứng đằng sau điều hành việc khai khoáng của chúng ta“.

– ‘Người Trung Quốc đứng sau điều hành đào khoáng sản Việt Nam’ (ĐV/ Fica).

– Trung Quốc đội lốt doanh nghiệp Việt đào khoáng sản (BizLive).

– ĐỖ THÁI NHIÊN: TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM (Sơn Trung).

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | 5 Comments »