Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Một 3rd, 2014

►Lời chia tay với một tờ báo đang bị đóng cửa- Chia tay với báo SGTT – Nhắc lại một kỷ niệm đẹp

Posted by hoangtran204 trên 03/01/2014

Sai Gòn Tiếp Thị đang bị Thành Đoàn của đảng CSVN, và UBND Tp ép phải đóng cửa sau nhiều bài báo rất hay, nêu lên những vấn đề thời sự, lịch sử, phóng sự, tùy bút…mà không báo nào có được. Đặc biệt, bài báo của Huy Đức 24-9-2009 (tựa đề Ngay Thẳng) đụng đến chuyện 185 ha đất của Chị Hai Tâm, (chị của TT Nguyễn Tấn Dũng). Sau khi đăng bài này, TBT Đặng Tâm Chánh bị ép qua làm công tác khác, nhà báo Huy Đức bị mất việc, vì baó bị ban Tuyên Giáo, Thành Đoàn, UBND Tp…quyết định khai tử vào ngày 1-3-2014. Dẫu rằng tờ báo hiện nay đang có lời nhờ đăng quãng cáo.

Báo SGTT rất được hàng trăm ngàn bạn đọc ái mộ và đặt mua báo dài hạn.

Chia tay với SGTT – Nhắc lại một kỷ niệm đẹp

*Hoàng Ngọc Diệp

Theo Diễn Đàn

Vào các năm 1995 đến 1998, tôi đã chọn SGTT làm kênh quảng cáo chính cho các sản phẩm mà các công ty tôi làm giám đốc, hoặc giám đốc marketing, những sản phẩm như HP, Motorola, Samsung, Swatch, Nokia, Siemens, v.v… Không những SGTT là kênh quảng cáo chính mà đây cũng là một kênh báo chí tôi chọn làm nơi đưa ra hàng loạt những quan điểm, đánh giá và phản biện, vì SGTT, nhất là đội ngũ phóng viên, nhà báo, luôn sẵn sàng chịu “rủi ro” nếu những thông tin đưa ra là hợp lý, minh bạch và đầy đủ. Ngay cả đối với những vấn đề hay sự kiện có thể rất “nhạy cảm”.

Dưới đây là một trong những sự kiện “nhạy cảm” đã làm cho ban biên tập và phóng viên SGTT bị Thành Uỷ kiểm điểm mà tôi đã vô tình dự phần từ đầu và sau đó phải cố tình tham gia để phần nào giúp giải quyết từ “phía sau lưng hậu trường”.

Viết về sự kiện này như là một lời ngợi khen ngắn gọn của tôi đối với các anh em đã làm việc cho SGTT và như là một lời chia tay với một tờ báo đang bị đóng cửa.

Vào giữa tháng 6/2008, Saigontel được cấp giấy phép đầu tư “Công Viên Phần Mềm Thủ Thiêm”, dự án có quy mô: tổng vốn đầu tư trên 1,2 tỉ USD đầu tư cho diện tích 16 hecta; chủ dự án còn tuyên bố rằng: “Trong quá trình xây dựng, dự án này sẽ tạo cơ hội việc làm cho khoảng 40.000 công nhân. Sau khi hoàn thành, dự án này sẽ duy trì thường xuyên lực lượng lao động bảo trì, phục vụ khoảng 70.000 người. Cũng theo tính toán của các chuyên gia thiết kế dự án trên, trung tâm phần mềm Thủ Thiêm đủ chỗ làm việc cho khoảng 49.000 người.”

Với những con số khổng lồ này, tôi thấy ngay dự án này có vấn đề! Không phải chỉ một hoặc hai vấn đề mà nhiều vấn đề vô cùng phản khoa học.

Đối với cộng đồng ICT thì đây quả thật là một siêu dự án có quá nhiều hứa hẹn, vì vậy, nhóm phóng viên ICT tại TP có giao lưu với tôi và tìm hiểu cách nhìn của tôi để tham khảo thêm từ nhiều góc độ khác nhau, cuộc giao lưu thân mật này được thực hiện vào đầu tháng 7/2008 trên sân thượng tầng 5 tại Khách Sạn Rex (ngoài trời để anh em hút thuốc).

Trong cuộc giao lưu, tôi phân tích rõ về các góc độ sau:

1. Tính hiệu quả kinh tế của dự án: Với 1.2 tỷ USD chỉ cho 16ha đất sử dụng, tính đổ đồng là 7.500 USD/m2 hoặc ~1.000 USD/m2 cho cây xanh và đường sá + ~17.000 USD/m2 cho phần các loại toà nhà. Với con số đơn giản này thôi thì việc thu hồi vốn trong vòn 10 năm là bất khả. Từ đó, không thể có chuyện đầu tư để có hiệu quả kinh tế được. Và nhóm đối tác từ Đài Loan lại vô cùng kinh nghiệm trong kinh doanh bất động sản cho nên rất có vấn đề.

2. Tính thực tế của các doanh nghiệp phần mềm: Gia tài quan trọng nhất của các doanh nghiệp (DN) phần mềm là chuyên viên phần mềm, ngay cả ở Silicon Valley, các DN luôn tạo mọi cách để giữ cách biệt chuyên viên của họ đối với mọi DN khác nhằm tránh bị đối thủ dụ dỗ bỏ DN đi nơi khác. Bên cạnh, việc bảo mật về thông tin sản phẩm, thông tin khách hàng, v.v… là những bảo mật hàng đầu. Cho nên không một DN phần mềm nào chọn chung chạ với các DN đối thủ cả. Lý do để DN phần mềm vào khu Quang Trung chỉ là vì lúc đó công viên phần mềm Quang Trung có hạ tầng truyền dẫn tốt, rẻ, và những ưu đãi cho DN vào đó rất lớn so với ở bên ngoài. Nhưng sau 2005 thì thực tế lại khác, những DN này tuy vẫn giữ trụ sở ở trong đó, nhưng những nhóm chuyên viên phần mềm chính của họ được ngấm ngầm đưa ra ngoài để hoạt động. Vì vậy, dự án “Công Viên Phần Mềm Thủ Thiêm” chỉ là tên gọi chứ định hướng kinh doanh không thể nào như họ tưởng tượng.

3. Thực tế về nhu cầu phát triển ICT tại Việt Nam: Sự rời rạc trong phương pháp phân cấp chủ quyền những dự án IT xương sống của nhà nước hoàn toàn phản khoa học trong góc độ quản trị cũng như trong góc độ triển khai các giải pháp, nhất định sẽ dẫn tới tình trạng thiếu tập trung, lãng phí và trì trệ. Từ đó, việc nhu cầu chuyên viên phần mềm cho lĩnh vực ICT của cả nước sẽ rất nhỏ, chưa bàn đến chuyện có 49.000 người thường xuyên làm việc tại dự án này!

Đó là những tóm tắt ngắn gọn của 1 buổi giao lưu kéo dài hơn 3 giờ trao đổi liên tục giữa phóng viên các báo và cá nhân tôi.

Sau đó hai tuần, vào ngày 21/7/2008, báo SGTT đưa lên một bài báo với tựa đề “Trung tâm phần mềm Thủ Thiêm – 90% là diện tích văn phòng và thương mại” với kết luận:

“Như vậy doanh số, bài toán nguồn nhân lực của trung tâm này đều có ít nhiều hoài nghi tính khả thi của nó. Do đó không ít các doanh nghiệp phần mềm đang ngờ rằng, dự án trung tâm phần mềm Thủ Thiêm cũng là một dự án bất động sản đơn thuần như bao dự án mà SaigonTel đang tham gia. “Để thuận tiện trong việc xin giấy phép, họ lựa chọn “chiêu bài” tập trung vào những lĩnh vực mà TP.HCM đang hướng đến như công nghệ cao, công nghệ phần mềm… Đến khi xây dựng xong, cho ai thuê mà chẳng được. Đâu có quy định chế tài nào không cho các đối tượng khác vào trung tâm phần mềm thuê chỗ đâu”, ông Hoàng Ngọc Diệp, cố vấn cao cấp của tập đoàn Foxconn tại Việt Nam thẳng thắn nhận xét.”

Câu chuyện nếu tới đây dừng thì chẳng có gì để bàn luận xôn xao cả. Tuy nhiên, sự việc đã không đơn giản như vậy!

Hai tuần sau, ban biên tập và phóng viên viết bài này nhận một cái công văn từ văn phòng Thành Uỷ lệnh điều tra, báo cáo và kiểm điểm vì viết bài báo này!

3 tuần sau nữa, công ty Foxconn nhận công văn từ UBND TP yêu cầu Foxconn giải trình tại sao tôi, cố vấn cao cấp của Foxconn, lại dám đưa ra những nhận định “tiêu cực” về một “siêu dự án” của TP mà chính Thành Uỷ duyệt và đỡ đầu. Bức công văn này có c.c. đến văn phòng Thành Uỷ.

Với tư cách một nhà đầu tư đã bỏ ra gần 2 tỷ USD và chuẩn bị bỏ thêm 3 tỷ USD nữa tại VN, Foxconn bắt buộc phải trả lời công văn này. Và với tư cách cố vấn cao cấp của Foxconn, tôi cũng đã phải tham gia “giải trình” theo yêu cầu của công văn này. Tôi đã đề nghị và cùng Foxconn giải quyết như sau:

– Foxconn gửi 1 công văn đến UBND TP khẳng định rằng: Foxconn không hề có liên quan gì đến sự việc này cả. Cố vấn của họ (là các nhân tôi) hoàn toàn độc lập trong những hoạt động và nhận định của tôi, và Foxconn chỉ chịu trách nhiệm giải trình những gì họ thực hiện cho dù theo sự cố vấn của tôi hay không. Tuy nhiên, để giữ quan hệ tốt với chính quyền địa phương, Foxconn đã đền nghị cố vấn của họ trực tiếp giải trình.

– Phần tôi, tôi viết một bức thư giải trình mọi sự việc, cách nhận xét và đánh giá độc lập của tôi đến UBDN TP, trong bức thư này, tôi có đưa ra thêm ba phần:

1. Tôi sẵn sàng đối chất với bất kỳ tổ chức, bất kỳ nhóm chuyên gia nào của nhà nước hoặc của nhà đầu tư để bảo lưu quan điểm của tôi.

2. Tôi đồng gửi bức thư này đến Văn phòng TƯ đảng, Thủ Tướng CP, Chủ Tịch QH và tất nhiên Thành Uỷ TP.

3. Tôi cho biết rằng vì đây là quan điểm của tôi mà phóng viên viết lại, cho nên nếu BBT và phóng viên của SGTT có bị kỷ luật vì bài báo thì cá nhân tôi sẽ chính thức kiện tổ chức quyết định kỷ luật họ.

Sau 2 tháng kể từ khi Foxconn và tôi gửi phúc đáp, mọi chuyện nhẹ lại và dừng.

Ban biên Tập SGTT và phóng viên bị cảnh cáo nhẹ, phóng viên bị “đì” nhè nhẹ trong vòng hơn 1 năm.

Sau hơn 4 năm treo và vẽ vời, đầu năm 2013, dự án này chính thức bị rút giấy phép vì bị xem như là “chiếc bánh vẽ” to đùng của nhà đầu tư!

Tại sao hệ thống nhà nước yếu kém đến mức không nhận ra đây là chiếc bánh vẽ từ đầu?

Tại sao lại đi kiểm tra, kiểm điểm, khiển trách một tờ báo viết một bài báo nhận định về nó mà không chịu đánh giá nghiêm túc về phản ánh và phản biện của bài báo?

Tại sao phải mất hơn 4 năm nhà nước mới chịu công nhận đây là chiếc “bánh vẽ”?

Và có một điều nằm ngoài mọi câu hỏi trên:

Sự thẳng thắn và sẵn sàng chịu rủi ro để đưa một bài báo cảnh tỉnh của báo SGTT, sự sẵn sàng chịu sức ép quái dị của nhà cầm quyền mà chính phóng viên đã biết trước là có thể sẽ phải gánh chịu… chính là giá trị của báo SGTT mà từ đầu tôi đã nhận biết.

Chúc SGTT có cơ hội tiếp tục, nếu không, chúc những người bạn đã cũng như đang làm việc cho SGTT tiếp tục có cơ hội đóng góp cho VN. Không như những tờ báo lá cải và tuân phục một chiều!

Hoàng Ngọc Diệp

Facebook của tác giả
——————————————————–

* Thạc sĩ Hoàng Ngọc Diệp, người đã từng ở vị trí Trưởng đại diện của Qualcom Việt Nam ngay từ khi công ty này mở văn phòng ở Việt Nam. Ông cũng là người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho công nghiệp phát triển ứng dụng Điện Thoại DĐ tại Việt Nam, cụ thể là nhà mạng S-Fone với Dự án “Mùa hè sáng tạo”.

Bài viết “Chia tay với SGTT- Nhắc lại một kỷ niệm đẹp” được ghi từ ký ức của gần 20 năm trước. Đó là thời điểm ông vừa nghỉ làm Senior Director của Qualcomm vài tháng, và đang làm Cố vấn cao cấp cho Foxconn tại VN. Foxconn là một công ty của Đài Loan chuyên sản xuất sản phẩm cho các thương hiệu nổi tiếng thế giới như Apple (kể cả iPhone), HP, Cisco, v.v…, lúc đó Foxconn vừa đầu tư xong nhà máy lắp rắp tại Bắc Ninh và đang đầu tư một nhà máy khác tại Bắc Giang. Ông chủ yếu làm cố vấn chiến lược về phát triển thị trường và đầu tư kinh doanh khác tại VN cho họ.

Diễn Đàn trân trọng cảm ơn tác giả đã cho phép đăng lại bài viết về một chuyện “cũ” nhưng vẫn rất còn tính thời sự này.

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Bảng vàng thành tích oanh liệt 80 năm của “đảng ta”

Posted by hoangtran204 trên 03/01/2014

NHỮNG “THÀNH TỰU” VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CSVN 80 NĂM QUA SỰ THẬT LÀ NHƯ THẾ NÀO? ĐẢNG CSVN CÓ THẬT SỰ XỨNG ĐÁNG ĐỂ NGƯỜI DÂN “CHỌN MẶT GỬI VÀNG”(MẶC ĐỊNH VÔ HẠN LÀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC) KHÔNG?

Phải công bằng khách quan mà nói: ban đầu với mong muốn độc lập tự chủ cho dân tộc và “giải phóng” giai cấp CN và nhân dân lao động, nhưng do ấu trĩ, mơ hồ, những lãnh tụ tiền bối của đảng CSVN đã ăn phải bả đảng CS Liên Xô và quốc tế CS, dùng việc tuyên truyền “CNXH” (khoa học! – nhưng thực tế là viễn tưởng đến mức ảo tưởng) đã giác ngộ (thực chất là lừa bịp) được người dân theo mình để sẵn sàng chết, và nhiều thế hệ có thể tính đến hàng chục triệu người dân VN từ các phía đã chết vì “sự nghiệp” ấy.

Kết quả của việc lừa bịp của đảng về “giải phóng dân tộc” cộng với khát khao sẵn của người dân về độc lập tự do mà có cuộc CMT8/1945, mà CSVN lấy danh nghĩa phe đồng minh, đã động viên được dân chúng, lợi dụng cơ hội sụp đổ của phát xít mà giành được độc lập.

Sau đó, cũng vì khát vọng độc lập và lại được tuyên truyền về “giải phóng giai cấp” (xóa bỏ bất công – để có công bằng xã hội?) nên người dân hăng hái theo đảng đánh Pháp, rồi nghe phe CS phỉnh nịnh, xúi dại, cấp vũ khí cho để trở thành người tiên phong (tay sai?) ngăn chặn CNTB cho Liên xô, Tàu có điều kiện hưởng thái bình (toạ sơn quan hổ đấu) và VN trở nên ”tiền đồn” của …ở ĐNÁ”, “anh hùng” trong việc đuổi Mỹ, lật “Nguỵ”(?) là như thế.

Trong khi đó, các nước khác thì không cần phải trả giá đến mấy triệu sinh mạng mà vẫn có được độc lập thống nhất mà lại có được thêm giàu mạnh, ấm no, tự do, dân chủ thực sự. Thế nhưng bộ máy tuyên truyền của CSVN vẫn cứ tự vỗ ngực ca ngợi và tự hào, và do nhiễm độc nhồi sọ mà nhiều người đến nay vẫn ngộ nhận như vậy.

Sau khi đã nắm được toàn bộ quyền lực, đảng tiếp tục lãnh đạo xây dựng cái “thiên đường” “XHCN” ở ngay dưới hạ giới – VN:

Vì đã từng chứng kiến cảnh điêu linh của cải cách ruộng đất những năm 50 TK20, và ít nhiều được sống tự do, dân chủ, và sung túc trong thời kỳ “tư bản thực dân Pháp”, nên khi có hiệp định Giơ-ne-vơ, nhiều người, trong đó có những người công giáo – sợ chủ nghĩa vô thần – cộng sản, những người làm việc cho chế độ cũ, đã di tản vào Nam mong tiếp tục cuộc sống tự do (cuộc di cư này có tổ chức và không có những rủi ro lớn cho người di cư).

Sau đó, xảy ra việc hai bên tố cáo nhau vi phạm Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ và thực tế phía cách mạng nhà ta đã cài nhiều đảng viên, và cả lực lượng vũ trang, bán vũ trang, ở lại miền Nam để tiếp tục lãnh đạo quần chúng với mục đích thống nhất đất nước bằng đấu tranh chính trị và bạo lực cách mạng – một phần vì vậy mà việc tổng tuyển cử đã không thể thực hiện được trong cả nước. Chính quyền thân tư bản ở miền Nam tổng tuyển cử riêng, truy lùng những người cộng sản cài cắm ở lại “bất hợp pháp?” – đây là vấn đề mà “ta” vẫn gọi là “Diệm ra luật 10/59, lê máy chém khắp miền Nam, tố cộng, diệt cộng…” đây.

Được Liên Xô, Trung Quốc “cổ vũ” (xúi bẩy, xui dại?) và cấp vũ khí (là chủ yếu), đảng ta tiếp tục lãnh đạo dân ta vượt Trường Sơn vào “giải phóng” miền Nam, “giành hết thắng lợi này, đến thắng lợi khác”, đánh cho “Mỹ cút” 1973, “Nguỵ nhào” 1975. Mà những ngày cuối của cuộc chiến thì dù đã và đang được “giải phóng”, số người dân “ngoan cố” vẫn cứ chạy theo “bám đít” Mỹ “Nguỵ” chứ không muốn ở với chế độ mới với “thiên đường” XHCN”.

Ở miền Bắc, đảng lãnh đạo dân làm cách mạng XHCN bằng “cải tạo quan hệ SX”, với phong trào “hợp tác hoá”, “quốc hữu hoá tư bản tư doanh”, cái thiên đường “XHCN” ở miền Bắc hình thành là các hợp tác xã mà 2 chục năm sau, khi “giải phóng” miền Nam – thì dân miền Nam mới ngớ ra là “cái thiên đường CNXH” hoá ra là rất ư đói rách: thì nông dân suýt chết đói nếu không “nới trói” kịp theo Đại hội 6.

Để “ổn định xã hội”: sau giải phóng, đảng bắt mấy chục vạn kẻ thất trận đi tập trung cải tạo dài hạn (thực chất là tù đày) – vì sợ họ không chịu khuất phục? Đảng tập trung người nhà của “chế độ bại trận” đi xây dựng kinh tế mới; bỏ mặc họ thiếu thốn đói rách.

Đảng xóa “tàn dư” “văn hóa lạc hậu” bằng cách đốt sách, thủ tiêu các “văn hóa phẩm” dưới chế độ cũ, tịch thu các tác phẩm, kiểm điểm (thậm chí bắt đi cải tạo, xử tù “phản động”, “phản tuyên truyền”) các nhà văn nhà báo viết những gì không ủng hộ quan điểm của đảng, khác quan điểm của đảng, hay chỉ là nói lên tiếng nói tự do của người dân, hay tác phẩm không có tính đảng… làm nhiều nhân tài, nhiều trí thức nhà văn như nhóm “Nhân văn Giai phẩm” ở miền Bắc sau 1954, các văn nghệ sỹ ở miền Nam sau 1975 bị thui chột, o ép, đày đọa, chết oan.

Ngay trong hàng ngũ lãnh đạo của đảng và nhà nước thì người cầm quyền cũng không từ những thủ đoạn và hành động độc ác nào để độc taì về tư tưởng, quan điểm. Họ tàn nhẫn đối với cả ngay chính đồng chí của mình: Trong đảng từ những năm 60 của thế kỷ 20 đã xuất hiện những người tiến bộ, muốn xây dựng đảng thành một đảng vì dân tộc, muôn thoát ly ảnh hưởng nguy hại làm tay sai cho CS quốc tế chống lại nhân dân, phản bội lại tổ quốc, không muốn theo đuổi chính sách gây chiến biến người dân thành kẻ bắn giết bất lương, nồi da xáo thịt, những người muốn thực hiện tự do dân chủ thực sự cũng bị đảng tìm cách cầm tù, hãm hại dưới danh nghĩa những kẻ ”xét lại chống đảng”, “chống nhà nước” mà những người đó như: Hoàng Minh Chính – Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin; Vũ Đình Huỳnh – Thư ký chủ tịch Hồ Chí Minh; Đại tá Lê Trọng Nghĩa – Cục trưởng Cục 2 (Cục Tình báo quân đội); Đại tá Lê Minh Nghĩa – Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng; Đại tá Đỗ Đức Kiên – Cục trưởng Cục Tác chiến; Hoàng Thế Dũng – Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân; Nguyễn Kiến Giang – Phó giám đốc nhà xuất bản Sự Thật, nguyên tỉnh Ủy viên tỉnh Ủy Quảng Bình; Minh Tranh – Giám đốc nhà xuất bản Sự Thật; Trần Minh Việt – Phó bí thư thành ủy Hà Nội, kiêm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội; Phạm Hữu Viết – Tổng thư kí toà báo Quân Đội Nhân Dân; Nhà báo Vũ Thư Hiên; Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm; Thứ trưởng bộ văn hóa Lê Liêm; Thiếu tướng Đặng Kim Giang (Theo Vũ Thư Hiên, ông này cũng bị bắt giam ở Hoả lò); Thứ trưởng bộ quốc phòng trung tướng Nguyễn Văn Vịnh; Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước Bùi Công Trừng…

Những nhân vật xin tị nạn tại Liên Xô: có khoảng 40 người lúc đó đang đi học hay đi công tác ở Liên Xô đã xin ở lại như: Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội Nguyễn Minh Cần; Chính uỷ sư đoàn 308; Phó chính uỷ Quân khu khu III đại tá Lê Vinh Quốc; nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân thượng tá Ðỗ Văn Doãn.(tất cả bị xử lý đợt đó có đến hơn 300 người)

Sau này còn nhiều người khác muốn “đổi mới”, dân chủ, cũng bị bức hại như: Kim Ngọc (bí thư tỉnh ủy Vĩnh-Phú); Ủy viên bộ chính trị thường trực ban bí thư Trần Xuân Bách; Trung tướng phó tư lệnh quân giải phóng MN phó chủ tịch quốc hội Trần Độ; Phó chủ tịch tổng Công đoàn VN – chủ tịch mặt trận TQVN thành phố HCM Nguyễn Hộ; Bộ trưởng y tế chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN – BS Dương Quỳnh Hoa; Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Lạt kiêm Thành ủy viên Huỳnh Nhật Hải; Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết Huỳnh Nhật Tấn…

Đảng ngăn cản tự do tôn giáo, tín ngưỡng: phá bỏ nhiều đình chùa, nhà thờ, đền miếu sau 1954, ngăn cản (thậm chí lấy cớ để bắt bớ, đàn áp một số tín đồ) dằn mặt người dân theo đạo, hành đạo – sợ không quản lý được tư tưởng của họ, sợ họ bị tôn giáo “lợi dụng”. Sau 1975, thậm chí đảng còn “quốc doanh” hóa tôn giáo (Phật giáo VN chẳng hạn).

Từ khi giành được quyền lãnh đạo cả nước, đảng với cái nền tảng “sở hữu toàn dân” đã tiến hành “cải tạo quan hệ SX” bằng việc “đánh Tư sản”, ”cải tạo công thương”, “hợp tác hóa” mà kết quả là thủ tiêu sản xuất hàng hoá theo phương thức Tư bản, thủ tiêu cạnh tranh dẫn đến làm suy sụp nền kinh tế công thương nghiệp, cả xã hội thiếu hàng tiêu dùng đến cái kim sợi chỉ cũng đem ra phân phối. Nhiều nhà tư bản có tầm, có tâm bị tịch thu tài sản, tù đày, chết oan, một số trốn chạy ra nước ngoài không chính thức, một số nộp tiền cho các nhà chức trách “lót tay” để được đi cùng với phong trào vượt biên.

Chính vì thấy rõ được “cái ưu việt, tốt đẹp” của chế độ “ta”, mà trong những năm 75-90, hàng triệu người dân miền Nam và một phần không nhỏ dân miền Bắc đã “bỏ phiếu bằng chân” bằng cuộc vượt biển lớn nhất trong lịch sử loài người, hàng triệu người bất chấp nguy hiểm rủi ro, hải tặc, sóng bão, cá mập, đói khát, thậm chí trong túi không có tiền bạc vẫn đóng bè để tìm đường đến với tự do (từ đây, từ điển ngôn ngữ thế giới có thêm từ vựng mới “Thuyền nhân”). Tại sao họ từ bỏ “thiên đường XHCN” tốt đẹp để ra đi nhỉ? Mà đa phần họ có làm gì cho chế độ cũ đâu? Họ có “chạy trốn” vì phạm tội gì đâu? Và khi đi có ai muốn quay về không? Tại sao người ta cứ bảo “nếu được đi thì đến cây trụ điện nó cũng đi”? Cho đến nay, vẫn chưa hết hiện tượng “bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi” đó (dù không còn quy chế nhập cư cho người “tỵ nạn”, nhưng 8 tháng đầu năm 2013 vẫn còn có đến hơn 700 người Việt vượt biển tới Úc, 50 người tới Đài Loan …là sao?).

Ngoài ra, do lo sợ “con ngựa thành Tơ-roa” mà chính sách cực đoan “bài Hoa” cũng tạo ra những xáo trộn lớn trong những năm 77-80 tạo cớ cho kẻ thù phương Bắc “dạy cho VN một bài học”.

Trong khi đó, xảy ra cuộc xâm lược “đòi đất” của Polpot ở biên giới Tây Nam được sự hậu thuẫn của quan thầy của chúng là Trung quốc ở biên giới phía Bắc, và sau đó chính Trung Quốc đã đem 60 vạn quân xâm lược các tỉnh biên giới phía Bắc.

Trong mấy cuộc chiến tranh đã qua do đảng lãnh đạo, nếu nói đánh giá khách quan và công bằng, thì đây mới là “công lao” có ý nghĩa nhất của đảng vì đây mới thực sự là cuộc chiến tranh để giữ độc lập, chủ quyền cho tổ quốc (để giữ đất độc lập cho đảng cầm quyền?) – nhưng điều này, “đảng ta” sợ Trung Quốc đến mức không những chẳng dám tự hào (mà còn sợ Trung Quốc đến nỗi cấm cả dân kỷ niệm ngày đánh thắng Trung Quốc xâm lược, tạo điều kiện cho Trung Quốc lập rất nhiều ”nghĩa trang liệt sỹ Trung Quốc” (chết do xâm lược mà được dựng nghĩa trang liệt sỹ ngay trên đất VN – có lẽ nay mai Gò Đống Đa cũng được xây nghĩa trang liệt sỹ Trung Quốc chăng?) – nhất là sau hội nghị Thành Đô đến nay (là hội nghị đầu hàng, bán nước của những người lãnh đạo đảng), họ tôn vinh 16 chữ vàng và 4 tốt, mặc cho TQ cướp biển đảo, lấn đất liền, bắt ngư dân, khoan dầu ngoài biển của VN (làm trò mua tàu ngầm, sắm máy bay SU30, tên lửa S300 để lấy lòng dân hay để gửi phần trăm vào đó? Vũ khí không xác định rõ kẻ thù thì vũ khi đánh ai, ai dám ra lệnh đánh, ai đánh?).

Tới những năm 1989-1992, lo sợ phong trào đòi dân chủ như Đông Âu và Liên Xô làm sụp đổ mình, lãnh đạo đảng “ta” không những không nhận ra quy luật khách quan về sự sụp đổ không thể tránh khỏi được của cái gọi là “lý tưởng CS” và chế độ “CNXH” hoang đường, mà còn bảo thủ khi ông Nguyễn Văn Linh sang Đông Âu với để nghị “cứu CNXH” (chỉ sau đó một tháng thì toàn bộ khối Đông Âu và Liên Xô sụp đổ).

Thất bại với việc cầu và “cứu” CNXH ở Liên xô và Đông âu, đảng ta lúng túng (hết chỗ dựa về hệ tư tưởng?) và, thay vì quay về với quy luật khách quan là lấy chủ nghĩa dân tộc làm trọng như các quốc gia khác trên thế giới, thì lại tiếp tục tôn thờ “ý thức hệ” lỗi thời, mà ngả hẳn vào lòng CS Trung quốc để tiếp tục con đường “XHCN?” (giả cầy). Bắt đầu từ 9/1990, sau khi những người đứng đầu đảng và nhà nước VN sang Thành Đô (TQ) để “dàn hòa” với “đảng anh em” nhằm “cứu CNXH” (thực chất đây chính là sự đầu hàng nhục nhã đối với kẻ thù của dân tộc cốt chỉ để lấy chỗ dựa tồn tại cho cái “ý thức hệ” cộng sản – đảng CS) mà để có chỗ dựa này cho đảng CSVN, thì ngay sau đó VN đã phải chịu “những điều kiện tiên quyết” (rất đau đớn về biên giới và lãnh thổ…) để đổi lấy việc ”bình thường hóa quan hệ“ giữa hai nước – thực chất là bảo kê cho sự tồn tại của đảng CSVN nhờ vào CS Trung Quốc). Đây là quyết định mù quáng và nguy hiểm nhất mà hệ lụy của nó thì ngày càng rất rõ ràng.

Quay về nước, để ngăn ngừa đối lập, ngăn tự do dân chủ “quá trớn”, đảng chính thức giải tán 2 đảng Xã hội và Dân chủ, mặc dù trước đó chỉ là 2 đảng hình thức, do đảng quản lý và tự đưa thẳng vào Điều 4 Hiến pháp cái điều rất mất dân chủ và trơ tráo là: chỉ riêng có và duy nhất đảng CS mới được quyền và vĩnh viễn cầm quyền lãnh đạo nhân dân (bất luận đảng xấu tốt ra sao?).

Cùng với chế độ công hữu, quy định quản lý đất đai là của “toàn dân”, của chung hoá ra là chẳng của riêng ai, và vì thế người dân đã không làm chủ thực sự mà quyền định đoạt thuộc về nhà nước, trong khi nhà nước là của đảng, mà đảng thì trao toàn quyền cho người trực tiếp cầm quyền, sinh ra tệ cha chung không ai khóc, người có quyền chức tha hồ mặc sức tham ô.

Chính 2 cái “tử huyệt” đó, 2 cái nền tảng đó của CNXH mà đảng có được quyền lực tối đa, quyền lợi tối đa và chính những người có quyền lực đã “tự diễn biến” do cán bộ cầm quyền của đảng đã không thắng được chính mình, thoái hoá biến chất về đạo đức và lối sống rất nhanh (nhất là từ khi “đổi mới” theo “kinh tế thị trường, định hướng XHCN”), biến đảng từ một đảng cách mạng thành một đảng hoạt động chỉ vì quyền lợi của một thiểu số người cầm quyền, “nhóm lợi ích” và lũ mafia thao túng mọi đường lối chính sách của đảng và nhà nước.

Khi đã nắm được toàn bộ quyền lực, các cán bộ có quyền chức từ bắt đầu tư lợi, từ thu vén cá nhân làm giàu, đến tham ô vơ vét, từ sống xa dần cuộc sống người dân đến cuộc sống xa hoa, truỵ lạc, sa đoạ về phẩn chất đạo đức và lối sống người cách mạng. Cứ vậy quá trình diễn biến “Tham-Sân-Si” làm biến chất người cầm quyền trong đảng, những người này, nhân danh đảng đã dần biến đảng từ một đảng cách mạng, thành một đảng phản động, đi ngược lại lợi ích của dân, thậm chí chống lại nhân dân, mà họ lại đổ cho “thế lực thù địch” đã dùng “diễn biến hòa bình” biến cán bộ của họ thành ”tự diễn biến…”

Hiện nay đã đến “một bộ phận không nhỏ – tức là phần lớn” đảng viên hư hỏng thoái hoá biến chất cách mạng, tham nhũng, hủ hoá về đạo đức lối sống thì lãnh đạo ai?

Giới lãnh đạo quyền lực từ hơn chục năm lại đây đã tập hợp thành hệ thống, thành nhóm lợi ích để thao túng đường lối chính sách của đảng và nhà nước, để thực hiện tham nhũng khép kín từ trung ương đến địa phương. Những quyết sách của họ để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng về kinh tế. Các vụ PMU, Vinashin… và rất nhiều vụ khác bị bưng bít che giấu, đã làm mất đi phần lớn tài sản của quốc gia vào túi các quan tham, quy ra ngang với 60 tỉ USD (1,4triệu tỷ đồng – theo thống kê đã được che đậy bớt của nhà nước), số tiền nợ nước ngoài tới độ kinh khủng (=165 tỉ USD, theo thống kê quốc tế=1,5GDP hàng năm) phải đến 2 năm chỉ làm, không ăn tiêu mới trả nổi.

Trước tình hình đó, chính phủ (X) giao cho các ngân hàng phải gánh nợ (trả tiền thay Vinashin), bù vào sự “thất thoát“ của các doanh nghiệp nhà nước. Chính vì vậy, mà các ngân hàng có chỗ dựa (có lý do để tìm nguồn “bù vào chỗ đã gánh nợ thay”) để tự tung tự tác vơ vét, bằng cho vay nặng lãi làm cho sổ doanh nghiệp đã phá sản có thể tới một nửa số doanh nghiệp từng có, số còn lại đang đứng trước bờ vực phá sản, thị trường nhà đất đóng băng mà để cứu nó thì với riêng HN, nhà nước cần phải bơm ra khoảng vài chục tỷ USD. Những kẻ cầm quyền tìm mọi cách vơ vét hết tốc lực trong nhiệm kỳ của mình bằng khai thác ồ ạt tài nguyên (dầu mỏ, than, sắt, bô xít, vonfram, …) đem bán, đẻ ra những dự án khủng (đường sắt cao tốc Bắc Nam, Điện hạt nhân, Sân bay Long thành, Sân bay Tiên lãng…) để có cớ vay nợ quốc tế về lấy tiền chi và rút % ra chia nhau. Bao nhiêu thứ thuế phí liên tục được sáng tác ra để móc hầu bao người dân. Bao nhiêu gạo, cà phê, điều, bao nhiêu cá tôm… đem xuất khẩu để có tiền trả nợ, bù vào thâm thủng, trong khi nhiều vùng sâu vùng xa dân phải ăn mèn mén quanh năm.

Người công nhân “giai cấp tiên phong” (mà đảng luôn nói là người đại diện quyền lợi cho họ) thì thất nghiệp, lương thấp đến độ “khoái ăn sang” mà để có chỗ ở, họ cần mấy trăm năm may ra mới mua nổi một căn hộ vài chục m2, các ngành giáo dục, y tế làm cho người dân điêu đứng khi đi học, thà chịu chết vì không có đủ tiền để đi chữa bệnh, chất lượng giáo dục, y tế quá tồi tệ, các doanh nghiệp độc quyền do nhà nước nắm tự do tăng giá xăng dầu, điện làm cho thu nhập thực tế của người dân liên tục sụt giảm, các loại thuế phí tăng liên tục để móc sạch túi tiền của người dân, nền văn hoá dân tộc bị băng hoại, các giá trị nhân bản bị đảo lộn: tung hô những chuyện chân dài bồ bịch, đĩ điếm, cờ bạc, loạn luân, chém giết, lối sống hủ bại dẫm đạp lên nhau để sống, không coi trọng đạo đức nhân cách kể cả giới lãnh đạo chóp bu.

Trước những đòi hỏi về tự do dân chủ, chống TQ xâm lược, chống tham nhũng…, rất nhiều người nổi tiếng là nhân sỹ, trí thức hàng đầu, nhiều vị là tướng lĩnh lão thành cách mạng và những người có công với nước, những người từng tham gia “khai quốc công thần”, cùng hàng vạn người dân đã mạnh dạn đề xuất nói lên những kiến nghị, góp ý để đảng nhà nước có những cải tổ thích hợp mà trước hết là xây dựng một bản hiến pháp thật sự vì dân, thật sự công bằng dân chủ văn minh tiến bộ làm cơ sở cho sự phát triển tốt đẹp nhất của đất nước. Nhưng thay vì tiếp thu, khuyến khích người dân để tự điều chỉnh hoàn thiện mình – những người cầm quyền lại tìm cách theo dõi, ngăn cản đe dọa, vu cáo và đàn áp bắt bớ bỏ tù người dân nói lên sự thật, gây lên bao nỗi oan trái và bất bình của những người có tâm có tầm, của những người dân nặng lòng với vận mệnh đất nước; họ thủ tiêu nhân tài bởi không có tuyển dụng cạnh tranh minh bạch…

Ấy vậy nhưng khi “phê và tự phê”, “bỏ phiếu tín nhiệm” (những trò mị dân rẻ tiền đã quá quen thuộc xưa cũ) cả 175 Uỷ viên TW, và 500 ông nghị gật (do đảng chỉ định –vì >92% nghị là đảng viên, quan chức đương chức) không tìm ra được một “con sâu” nào, không quy kết được cho một cá nhân phạm tội nào – chỉ có những kẻ tay sai dưới quyền phải chịu làm hình nhân thế mạng cho họ (nhưng cũng là những án tù rất nhẹ nhàng chưa đủ sức răn đe), hiến pháp thì không do một quốc hội lập hiến thảo ra, cũng không được người dân phúc quyết dưới sự giám sát khách quan công khai minh bạch của quốc tế mà ngay việc gọi là “sửa đổi” thì cũng là trò ảo thuật lừa đảo trí trá chỉ nhằm củng cố thêm độc tài đảng toàn trị mãi mãi và các ông nghị gật phải bỏ phiếu theo lệnh của bộ chính trị CSVN để “thông qua”…

Như vậy xin hỏi quý vị rằng: tình hình đảng và nhà nước ta như thế thì liệu, còn cứu chữa được đảng và chế độ không?

Với một thể chế chính trị lạc hậu, phản động, chống lại người dân và còn ngoan cố khư khư giữ gìn thì chỉ là đồng lõa câu giờ vơ vét và gây thêm tội ác với nhân dân?

CẦN PHẢI LÀM RÕ MỘT ĐIỀU: từ khi cướp được chính quyền, đảng CS chỉ chăm lo “dạy” dân ca ngợi “công lao” đảng, “dạy” dân trung thành với việc làm nô lệ cho đảng CS.

Nước người ta thì tự hào là nước làm ra được máy bay, ô tô; dân người ta tự hào đi học không mất tiền đến tận hết đại học, người ốm đau vào bệnh viện không mất tiền, người dân thường cũng được ứng cử và trực tiếp bầu đến tổng thống….

Nhưng dân ta được đảng dạy phải luôn luôn tự hào đánh thắng Pháp Mỹ. Đánh thắng cho ai? – núi xuơng sông máu người dân đổ ra nhưng người dân chẳng những không được tự do mà còn mất tự do hơn chế độ cũ (vậy thắng để làm gì? lấy độc lập cho đất nước hay lấy quyền cho người CS để rồi lại làm tay sai cho CS quốc tế trước đây và tàu cộng khựa ngày nay?). Khi đánh nhau thì CS nhà ta luôn đem dân ra làm lá chắn (nhất là chống chiến tranh không quân Mỹ ở miền Bắc – vì trận địa, doanh trại quân ta thường làm ở cạnh nhà dân hoặc ngay trong khu dân cư đông đúc hòng làm cho đối phương vì sợ dân chết lây mà không dám đánh?). Đánh thắng mà ta chết nhiều gấp hàng mấy chục lần phía “địch”, rồi sau khi thắng lại quay ra làm tay sai cho thằng mất dạy khốn nạn hơn thì thắng cái gì? Ai thắng đây? Đánh thắng bằng giết được nhiều người mà chủ yếu vẫn là những người anh em cùng dòng giống Việt của ta mà giết những ngưòi cùng giòng giống thì nhiều hàng chục lần của ngoại bang thì ta giết nhau nồi da xáo thịt chứ hay ho gì mà khoe mà tự hào – ngu hết chỗ nói.

Hơn nữa, nắm quyền lực bằng cách bắn giết người của chế độ cũ rồi cướp đoạt và áp đặt quyền cai trị của mình đối với dân chúng như đảng CSVN thì đó là hành động cướp đoạt chứ vinh quang vẻ vang gì?

Vẻ vang và vinh quang là phải thắng bằng việc cạnh tranh thi thố tài đức, tâm tầm giữa các đối thủ thông qua tổng tuyển cử ứng cử, tranh cử và bầu cử tự do, dưới sự giám sát khách quan minh bạch quốc tế mà người thắng cử là do người ta được dân tín nhiệm lựa chọn bầu lên mới vẻ vang và vinh quang (vì thế, sự cầm quyền của đảng CSVN xưa nay là bất chính mà người đời hay nói khác đi là không chính danh để cho nó khỏi nặng nề).

Đảng CS ra rả “dạy” và ép người dân phải ghi nhớ “công ơn” đảng (hơn cả công ơn cha mẹ sinh thành nuôi nấng mình, hơn cả tổ tiên gia tộc mình!) để rồi đòi “muôn năm” cai trị dân. (“phạm thượng” trơ tráo nhất là treo mấy cái khẩu hiệu: “đảng CSVN quang vinh muôn năm” lên trên và lên trước cả “nước cộng hòa… VN muôn năm”. Ngay bảng hiệu cộng sở họ cũng treo tên “đảng ủy…” trước cả “hội đồng nhân dân” và “ủy ban nhân dân”; thái độ hỗn hào lưu manh đó cũng như việc bịp bợm trong lạm dụng ngôn từ, đánh tráo khái niệm: chính quyền CS nhưng ngụy biện là “chính quyền NHÂN DÂN”, báo tiếng nói của đảng nhưng đánh tráo thành báo “NHÂN DÂN”, báo của lực lượng chuyên bảo vệ đảng thì gọi là báo “công an NHÂN DÂN”, “thế lực thù địch của đảng” thì đánh đồng tráo vị thế thành thế lực thù địch của nhân dân… – thế nhưng vẫn leo lẻo nói “dân chủ”, nói quyền lực trên hết thuộc về nhân dân.

Ngay cái gọi là quốc hội, với 92% là đảng viên đương chức được đảng lệnh cho mặt trận tổ quốc bắt dân phải bầu thì làm sao quốc hội là cơ quan đại diện cho quyền lực của người dân? Có tiếng nói của dân? Nó chỉ là bù nhìn làm theo lệnh đảng để lừa bịp quốc tế rằng có quốc hội là dân chủ?

Hiến pháp là luật mẹ của mỗi nước, nó bảo vệ cho mọi người dân. Nhưng hiến pháp VN là nơi đảng kể lể công lao(? tội thành công)trước dân và biến hiến pháp của quốc gia thành một bản nội quy nhà tù để đảng cai trị người dân vĩnh viễn.

Tất cả những tiêu chí phổ quát về những quyền con người trên thế giới bị đảng CS lấy cớ đặc thù mỗi quốc gia để tước đoạt của người dân, không cho nguời dân được hưởng cả những quyền tối thiểu của con người như tự do ngôn luận, tự do tiếp nhận và phổ biến thông tin trên mạng…

Đã vậy, mỗi khi có ý kiến người dân tham gia góp ý, hiến kế, kiến nghị, tố cáo thì họ bỏ ngoài tai, họ tìm cách che giấu sự thật, họ quy kết những người đòi hỏi dân chủ tự do là “gây rối”, “phản động”, “thế lực thù địch”, “tuyên truyền chống phá nhà nước”… để lấy cớ đàn áp, bắt giam, bỏ tù họ.

Tóm lại, CNCS thực chất là tà thuyết lừa mỵ giai cấp CN và nhân dân lao động, hay là thứ CN hoang tưởng đã phá sản ở ngay quê hương nó sinh ra và gần hết hệ thống ngay từ cách đây hơn 20 năm – thời gian đó đủ để cho người cầm quyền CS ở VN biết mở mắt ra, không phải ngần ngại gì mà không vứt tổ nó đi, chứ không cần phải chữa chạy với mưu kế “sách lược” gì – nếu thực tâm vì dân vì nước – chẳng qua là kẻ cầm quyền đang lợi dụng nó “chết từ từ” để có thời gian nhằm mưu lợi riêng trong những tháng ngày còn lại.

Chưa bao giờ những vấn đề khó khăn về kinh tế được đảng CS giải quyết một cách căn bản: bởi lẽ cái nền tảng công hữu là nền tảng không cho phép phát huy cái mặt tốt của quản lý, của trách nhiệm cá nhân, là phải tham ô tham nhũng vì nó là một thành phần của hệ thống (tham nhũng là thuộc tính cơ bản và bất biến của mọi chế độ độc tài và là bản chất của chế độ độc tài), là sản xuất không có năng suất cao, chất lượng kém vì không cần cạnh tranh.

Đã là so sánh để thấy tiến bộ hay yếu kém thì phải khách quan, minh bạch, đừng “mèo khen mèo dài đuôi” như vậy, đừng “trung ương hát, quan chức khen hay” như vậy:

Để biết mình tiến bộ hay thua kém, người ta không thể so sánh với chính người ta, mà phải so sánh với người khác để thấy mình giỏi giang cao lớn hay yếu kém ở chỗ nào?

Không thể so đứa con của mình 15 tuổi hôm nay, so với chính nó khi 5 tuổi để nói rằng nó đã cao, nặng, và giỏi hơn trước rất nhiều. Mà phải so nó với con nhà hàng xóm cùng lứa tuổi mới biết con nhà mình cao, nặng, và giỏi hơn hay kém hơn?

Với một quốc gia cũng vậy, phải so sánh với phần lớn các quốc gia khác khi có cùng một điều kiện, đừng đổ vì chiến tranh (do ai tạo ra? tại sao họ không có chiến tranh? mà mình cứ phải chiến tranh? vẫn có cách tránh chiến tranh khác kia mà, hơn nữa để xảy ra chiến tranh thì lỗi đó có phải là lỗi của dân không?).

Cộng sản, XHCN tốt đẹp nhưng như Bắc Triều Tiên, CNTB xấu xa mà như Hàn Quốc, Thụy Điển thì nên chọn mô hình nào? Đó là một ví dụ về sự tương đồng như nước ta.

Vể cái thói tuyên truyền “mèo khen mèo dài đuôi”: những cái thành công tạm thời đạt được là do người cầm quyền bất lực buông xuôi mới thành ra nới trói cho người dân nên đã có những chuyển biến tích cực trong nông nghiệp chứ không phải tài giỏi gì ở người lãnh đạo. “Mất mùa là tại thiên tai, được mùa bởi tại thiên tài đảng ta”, nếu mà đảng có dân chủ và cầu thị thì những tiến bộ đó đã có từ những cuối thập niên 60 TK20 chứ không phải đến 1986.

Còn với các ngành khác, có vẻ ngoài là “tiến bộ, phát triển” như điện, đường xá giao thông, xây dựng là liên quan đến số tiền khủng vay nợ về đầu tư mà dựa vào đó, số % móc ra đút túi các quan nhà ta là rất lớn, đấy không phải là thực lực của nền kinh tế, đó là số tiền vay nợ nước ngoài (con số quốc tế thống kê đến 165-170 tỷ USD, bằng 2.000Mỹ kim/đầu người dân VN) mà nếu người ta đòi thì có mà bán hết thóc gạo, dầu thô, than, sắt, cá tôm, cà phê, các khu đô thị, đường sá… thậm chí cả “gái xuất khẩu” cũng chẳng đủ trả một phần số nợ ấy.

Hiện tại, tất cả tài nguyên đất nước (mỏ dầu, than, sắt, bô xít…) đang bị các “nhóm lợi ích” ồ ạt khai thác vơ vét bán để lấy tiền riêng, vậy vài chục năm nữa thế hệ con cháu đất nước này sống bằng cái gì đây?

Đừng thấy bây giờ có nhiều hàng hoá, hàng rẻ hơn thời trước mà cho đấy là “thành tựu” do đảng làm ra. Nếu không “mở cửa” để được tư bản giãy chết cho tham gia vào cái chợ chung WTO, để mà có hàng mà mua, để có chỗ mà bán hàng, thì đến cái quần lót người dân mặc cũng sẽ còn phải phân phối. Đó là cái thuận lợi thời gian đầu gia nhập WTO mang lại hàng hoá nhiều cho mà mua thôi, cái này là cái ưu thế chung của 20 năm đầu được mua và bán trong cái chợ đó chứ đảng ta tài tướng gì? Tới 2015 là thời điểm đáo hạn dồn dập của các khoản nợ quốc tế, cũng là thời điểm vơ vét của nhiệm kỳ đại hội 11 đảng kết thúc, bấy giờ là thời điểm hết nói phét bắt đầu đấy quý vị ạ.

Nếu là người đang ra sức lập luận bênh vực bao che cho đảng CS (bảo hoàng hơn vua?), vậy quý vị đã xem “dự thảo hiến pháp” của Nhóm kiến nghị 72 chưa? Tại sao nhà cầm quyền VN lại sợ bản kiến nghị 72 đến như vậy? Và bản kiến nghị 72 đó có nội dung “phản động” hay tiến bộ so với bản “hiến pháp của đảng” mà đảng và nhà nước cứ quy chụp, nhưng không vạch được ra cái nội dung nào là “phản động”, chống phá” và không dám công khai và cố tình không công khai?

Để khách quan, quý vị hãy xem kỹ và đối chiếu 2 bản hiến pháp đó mà rút ra lẽ phải. Tại sao có “Tuyên bố công dân tự do”, Góp ý của hội đồng Giám mục VN, mà những lời tuyên bố, kiến nghị, góp ý ấy dù mới được rỉ tai truyền miệng, phải xem lén trên mạng bị tường lửa, dù bị bôi nhọ, ngăn cấm đe dọa, bắt bớ bỏ tù; Sau khi công bố trên mạng chỉ một thời gian ngắn vẫn có hàng chục ngàn người “dám ký tên?” Do quá khát khao một nước VN có tự do dân chủ, công bằng văn minh và phát triển, một nước VN độc lập tự do, mà ở đó người dân thực sự hạnh phúc ngang với các quốc gia khác trên thế giới, đó là tiếng nói thật lòng, là nguyện vọng tha thiết chính đáng của người dân VN hiện nay. Nhưng trái với những tuyên bố của người cầm quyền rằng “khuyến khích tự do góp ý XD hiến pháp”, “không có vùng cấm” thì họ lờ tịt, ngăn và giấu không cho dân được biết nội dung kiến nghị 72, tuyên bố công dân tự do, góp ý của hội đổng giám mục… ấy như thế nào, nhưng cứ vu bừa, quy kết láo rằng là “phản động, thế lực thù địch…”.

Về mặt nguyên lý: “tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội”, “cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng”, vậy thế thì với kinh tế như hiện nay (thực chất là kinh tế tư bản, sản xuất theo quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, lấy lợi nhuận làm hàng đầu, với nhiều thành phần – điều mà trước đây những nhà lý luận CS ra sức phê phán vì cho là bóc lột, thì nay nhổ ra rồi liếm lại), vậy tại sao vẫn đòi một mình một chợ lãnh đạo (thì lãnh đạo sao được với những thành phần ngoài quốc doanh?). Ngày nay, CNXH kiểu Việt nam là “kinh tế thị trường, theo định hướng XHCN” thì thật là điều nực cười, bởi không thể ăn thịt chó mà lại bảo rẳng tôi đang ăn chay, lừa bịp kiểu này thì liệu lừa được ai? Bế tắc về lý luận đến mức cứ “phát kiến” bừa (đúng hơn là thủ đoạn lừa dân?), bởi chỉ họ mới có quyền nói, còn người dân thì đã bị họ bịt miệng-bịt tai-bịt mắt bằng hệ thống tuyên truyền đồ sộ độc quyền với 17000 người “cả vú lấp miệng em” mà mỗi năm hệ thống này tiêu mất hàng ngàn tỷ tiền thuế của dân đóng góp.

“…KHÔNG THỂ BỊT MIỆNG CẢ MỘT DÂN TỘC MÀ NGƯỜI TA KHÔNG THỂ KHUẤT PHỤC BẰNG LƯỠI KIẾM CỦA ĐAO PHỦ” – kết luận ấy của một nhà báo Pháp thế kỷ trước sau vụ thực dân Pháp hành quyết chém đầu anh hùng Nguyễn Thái Học, Phó đức Chính và các đồng chí của ông – được ghi trên tấm bia tại đài tưởng niệm khởi nghĩa Yên bái phải chăng cũng là lời nhắc nhở với kẻ cầm quyền VN hiện nay?.

Tóm lại, CNXH thực sự là hoang đường, chế độ CSVN thực sự đã trở lên lưu manh phản động. Sẽ không bao giờ đảng CSVN khắc phục được những cái “sai lầm” nếu còn tiếp tục không “nghe dân và vì dân”, quay lưng lại với người dân và còn ngu xuẩn coi Mỹ như một kẻ xâm lược, hay bạc nhược ươn hèn với bọn bành trướng Trung Quốc bằng luận điệu mỵ dân ”nước xa không cứu được lửa gần”, ”lạt mềm buộc chặt?”. Khỏi phải bàn dài dòng: nếu không đa đảng nhanh thì không những đảng CS không giữ được (ngay cả cái xác chứ đừng nói cái hồn) mà đất nước này sẽ rơi vào tay đại Hán, điều này đang hiện hữu rất nhanh chóng.

Phải nhìn thẳng vào sự thực: Đảng Cộng Sản Việt Nam không phải là một đảng yêu nước và không ai trong số những người có quyền nhất trong chế độ đặt quyền lợi của đất nước và dân tộc lên trên hết cả. Họ ứng xử với người dân không khác gì một lực lượng chiếm đóng của tàu cộng. Tất cả đều chủ trương đàn áp thẳng tay mọi khát vọng dân chủ của người dân để ngoan cố tồn tại bất chính. Dù muốn bưng bít sự thật, muốn dập tắt tiếng kêu của người dân bằng những thủ đoạn và hành động nham hiểm độc ác, tàn bạo đến đâu thì những kẻ cầm quyền của đảng CSVN cũng sẽ không bao giờ đạt được mục đích, bởi hướng tới một xã hội tự do dân chủ, một chế độ đa nguyên đa đảng là khát vọng bỏng cháy của con người VN yêu nước yêu tự do, nó phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người – điều này không có một trở lực nào ngăn cản nổi, những kẻ ngoan cố đi ngược lại nguyện vọng tha thiết chính đáng đó của người dân nhất định sẽ bị lịch sử nghiền nát.

Những kẻ lãnh đạo đảng CSVN nghĩ rằng có thể dựa vào Trung Quốc, cùng với việc nắm giữ lực lượng công an và quân đội để khi cần dùng làm công cụ đàn áp người dân để tiếp tục duy trì sự thống trị đất nước. Tội này là gì nếu không là tội của những tên tay sai tiếp tay cho kẻ xâm lược? Nó còn tệ hơn tội phản quốc, đây đồng thời cũng là một sai lầm lớn cho chính họ.

Phải nhìn thẳng vào sự thực:

Thủ phạm đã gây ra hàng triệu cái chết cho người dân VN suốt 80 năm qua là đảng CS.

Thủ phạm gây ra bao bất công trong XHVN hiện nay là đảng CS.

Thủ phạm gây ra sự tụt lùi (hiện nay và mãi mãi về sau cho tương lai dân tộc) so với các nước khác trên thế giới là đảng CS, .

Thủ phạm gây ra sự bạc nhược ươn hèn, quỳ gối làm tay sai cho tàu cộng, bán đất buôn dân là đảng CS.

Thủ phạm của nạn tham nhũng vô phương chữa trị là đảng CS.

Thủ phạm của việc phá hoại đạo đức con người VN, hủy hoại nền tảng văn hóa truyền thống mỹ tục thuần phong VN hiện nay chính là đảng CS.

ĐẢNG CSVN TỞM LỢM NHƯ THẾ MÀ NHỮNG DƯ LUẬN VIÊN CÒN CỐ BAO CHE BÊNH VỰC MÀ KHÔNG THẤY XẤU HỔ À?

Posted in Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►”Trung Quốc đã gửi 320.000 quân đến giúp Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, ” – Trung Quốc và Những cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950 -1975

Posted by hoangtran204 trên 03/01/2014

Trích: “Trung Quốc đã gửi khoảng 320 nghìn quân  đến giúp Bắc Việt trong giai đoạn 1965-71, và hơn một nghìn người trong họ đã bị thiệt mạng ở đó, và Mao đã sẵn sàng đánh nhau trực tiếp với người Mỹ vào năm 1968 nếu họ đổ bộ lên Bắc Việt.” 

Năm 1960, khi Mỹ chưa đổ quân vào miền Nam thì đảng CSVN đã gọi Mỹ là “bọn xâm lược Mỹ”. Mỹ chỉ thật sự đổ quân vào Miền Nam năm 1965 và từ từ rút khỏi Miền Nam từ 1971-1973. (Mỹ đổ quân vào Miền Nam vì sợ Miền Nam rơi vào tay cộng sản, vì hàng trăm ngàn bộ đội Miền Bắc xâm nhập vào Miền Nam đánh nhau dọc theo biên giới Kampuchea – VN và Lào- Việt Nam; Bộ đội cộng sản VN hoạt động trong các tỉnh thành và thi hành chính sách khủng bố, ám sát, ném lựu đạn vào rạp hát và đám đông, gài mìn trên đường lộ giết thường dân di chuyển bằng xe đò diễn ra khắp 18 tỉnh thành miền Nam.)

Sau trận hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974, thì đây là . Khi Trung Quốc chiếm nhiều đảo trong quần đảo Trường Sa 1988, thì Đảng CSVN im lặng, không hề phản kháng! Đây chính là hành động xâm lược của Trung Quốc, nhưng  Đảng CSVN và Nhà Nước hiện nay không dám gọi Trung Quốc là bọn xâm lược.  “một cuộc xâm lược là một cuộc tấn công bằng lực lượng từ bên ngoài vào. Mục đích của xâm lược là mở rộng phạm vi trong thời gian dài nên cần một lược lực lượng có quy mô lớn để giữ đất đai, lãnh thổ và bảo vệ quyền lợi trên lãnh thổ xâm chiếm.”.

“… người Nga và người Trung Quốc đã  ép buộc Việt Minh phải chấp nhận việc chia cắt đất nước vào năm 1954,”

“Rằng Trung Quốc đã gặp khó khăn rất lớn trong việc giải thích với Bắc Việt về chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon vào năm 1972, rằng họ đã tìm cách bù đắp bằng cách tăng cường tiếp tế quân sự cho Hà Nội trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán ngưng bắn”

Trung Quốc và Những cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950 -1975

Diên Vỹ chuyển ngữ

Nguyên tác: China and the Vietnam Wars, 1950-1975 (New Cold War History)

Tác giả: Địch Cường (Qiang Zhai)
Biên tập: John Lewis Gaddis
Nhà Xuất bản: University of North Carolina Press, Chapel Hill & London

DẪN NHẬP

Trung Quốc và Những Cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950-1975 là một đóng góp nổi bật cho lịch sử quốc tế về Chiến tranh Lạnh nói chung và cho lịch sử quốc tế về cuộc Chiến tranh Việt Nam nói riêng. Các nhà sử học từ lâu đã phỏng đoán về mối quan hệ giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong một phần tư thế kỷ chiến tranh tại Đông Dương, kéo dài từ 1950 đến 1975. Cho đến khi cuốn sách này xuất bản thì chúng ta mới biết được thực sự.

Với lối viết rõ ràng và thông suốt đáng ngưỡng mộ, Địch Cường đã dùng hàng loạt những nguồn thông tin đầy ấn tượng từ văn khố Trung Quốc vừa được công bố, các hồi ký, nhật ký, và tuyển tập tài liệu để kể lại việc Trung Quốc đã giúp đỡ Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống lại nguời Pháp và sau đó là người Mỹ. Sau đây là một số khám phá nổi bật từ nghiên cứu của ông:

Rằng Mao Trạch Đông nhìn nhận phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam trên khía cạnh ý thức hệ lẫn địa chính trị. Cuộc đấu tranh này nhận được hỗ trợ mạnh mẽ vì nó là một phần của chiến lược lớn hơn của ông ta trong việc thiết lập một trật tự thế giới chống đế quốc, nhưng cùng lúc ông cũng không sẵn sàng tách mục đích này ra khỏi quyền lợi của Trung Quốc trong việc cân bằng sự đối chọi giữa Liên Sô và Hoa Kỳ. Đây là một nghiên cứu nổi bật về sự giao thoa giữa quyết tâm cách mạng và chính sách thực dụng trong suy tính của Mao.

Rằng viện trợ quân sự của Trung Quốc thì rất quan trọng đối với Việt Minh trong cuộc kháng chiến chống Pháp trước khi có những thoả thuận từ hiệp định Geneva 1954. Mức độ của nguồn viện trợ này thật là đáng ngạc nhiên vì lúc ấy Trung Quốc cũng đang tham dự vào Chiến tranh Triều Tiên.

Rằng người Nga và người Trung Quốc đã, như chúng ta vốn nghi ngờ từ lâu, ép buộc Việt Minh phải chấp nhận việc chia cắt đất nước vào năm 1954, nhưng rồi sau đó Trung Quốc lại hối tiếc, thái độ độ này đã góp phần vào sự chia rẽ Trung-Sô cũng như việc Bắc Kinh ủng hộ Bắc Việt leo thang chiến tranh với người Mỹ và Nam Việt Nam trong những năm đầu 1960.

Rằng Trung Quốc đã gửi khoảng 320 nghìn quân hậu thuẫn đến Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, và hơn một nghìn người trong họ đã bị thiệt mạng ở đó, và Mao đã sẵn sàng đánh nhau trực tiếp với người Mỹ vào năm 1968 nếu họ đổ bộ lên Bắc Việt.

Rằng Bắc Việt đã không tham vấn Trung Quốc khi họ bắt đầu đàm phán với người Mỹ vào năm 1968, và ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Bắc Việt đã giảm thiểu từ đấy, trong khi ảnh hưởng của Liên Sô tăng dần.

Rằng Trung Quốc đã gặp khó khăn rất lớn trong việc giải thích với Bắc Việt về chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon vào năm 1972, rằng họ đã tìm cách bù đắp bằng cách tăng cường tiếp tế quân sự cho Hà Nội trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán ngưng bắn, và rằng – bất chấp mối giao hảo với người Mỹ – Mao vẫn mạnh mẽ hậu thuẫn việc Pol Pot và Khmer Đỏ nắm chính quyền tại Cambodia vào năm 1975.

Rằng giờ đây ta biết được cuộc Chiến Trung-Việt năm 1979 bắt nguồn từ mối rạn nứt của liên minh Trung-Việt từ cuối thập niên 1960 và đầu 1970.

Đây chỉ là vài điểm sáng tỏ có được từ tài liệu nghiên cứu mang tính mở đường này. Lần đầu tiên nó đã làm nổi bật vai trò quan trọng của Trung Quốc trong Chiến tranh Việt Nam. Trên cả mọi thứ, “Lịch sử Mới của cuộc Chiến tranh Lạnh” dựa vào việc xem xét lại những gì chúng ta từng cho rằng mình đã hiểu bằng cách truy cập các tài liệu lưu trữ của “phía bên kia”. Cuốn sách này là khuôn mẫu của những nghiên cứu thuộc dạng này. Chắc chắn nó sẽ định hình kiến thức của chúng ta đối với cuộc Chiến tranh Lạnh tại Đông nam Á trong nhiều thập niên tới.

John Lewis Gaddis
Tháng Năm 1999

GIỚI THIỆU

Quá trình thăng trầm của liên minh Trung-Việt là một trong những diễn tiến quan trọng nhất đối với lịch sử Chiến tranh Lạnh tại Châu Á nói chung và với quan hệ ngoại giao Trung Quốc nói riêng [1].

Trong một phần tư thế kỷ sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ) ra đời vào năm 1949, Bắc Kinh đã giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) đấu tranh chống lại hai kẻ thù hùng mạnh là Pháp và Mỹ.

Trong những năm 1950, các công thức của Trung Quốc được dùng làm khuôn mẫu cho Đảng Lao động Việt Nam (ĐLĐVN) trong cuộc kháng chiến chống Pháp và trong nỗ lực tái xây dựng miền bắc.

Trong những năm 1960, Bắc Kinh đã cung cấp rất nhiều viện trợ để giúp Hồ Chí Minh chống lại Hoa Kỳ. Hậu thuẫn của Trung Quốc rất quan trọng trong việc ĐLĐVN đánh thắng người Pháp vào năm 1954 cũng như trong khả năng chống trả áp lực của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Đông dương Lần 2. Vào thời điểm đoàn kết nhất giữa VNDCCH và Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã xem quan hệ giữa hai bên “vừa là đồng chí vừa là anh em.”

Tuy nhiên, trong đầu thập niên 1970, khi cuộc chiến tranh Việt Nam bắt đầu giảm cường độ và Trung Quốc đang sắp xếp lại các ưu tiên chiến lược của mình bằng cách cởi mở với Hoa Kỳ nhằm cân bằng mối đe doạ từ Liên Sô, mối quan hệ của Bắc Kinh với Hà Nội bắt đầu rạn nứt, với hệ quả là cuộc giao tranh trực tiếp vào năm 1979.

Nói chung, tầm quan trọng của Trung Quốc trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam đã bị bỏ qua hoặc bị đánh giá thấp trong các tài liệu của Việt Nam lẫn phương Tây.[2] Các tác giả Việt Nam thường cố ý bác bỏ vai trò của Trung Quốc để nhằm tạo ra một “lịch sử mang tính dân tộc,”[3] trong khi việc khó truy câp các tài liệu lưu trữ tại Trung Quốc đã khiến giới học giả phương Tây giảm thiểu vai trò của Bắc Kinh trong mâu thuẫn Đông Dương.[4] Không có một nghiên cứu đầy đủ nào về quan hệ giữa Trung Quốc với VNDCCH trong giai đoạn 1950-1975. Cuốn sách này cố gắng bù đắp sự thiếu hụt ấy bằng cách trích dẫn những tài liệu mới có từ Trung Quốc để trình bày một cách đầy đủ quá trình chuyển hoá trong mối quan hệ Trung Quốc-VNDCCH giữa hai cuộc chiến tranh Đông Dương, trong đó chú trọng vào những khía cạnh chiến lược, chính trị và quân sự của mối quan hệ trên.

Nghiên cứu này phân tích nguồn gốc chính sách Đông Dương của Bắc Kinh bằng cách đặt nó vào bối cảnh lịch sử, địa phương và quốc tế, nơi nó được thảo ra.

Nghiên cứu này cũng điều tra các nguyên nhân dẫn đến sự thăng trầm trong quan hệ Trung Quốc-Việt Nam. Đặc biệt là nó trả lời một số câu hỏi quan trọng trong việc Trung Quốc dính líu đến Đông Dương. Một số vấn đề này liên quan đến bản chất những mục tiêu của Bắc Kinh đối với Việt Nam và quá trình thực hiện các chính sách của họ.

Tại sao Mao lại quyết định công nhận nước VNDCCH và cung cấp cố vấn quân sự và viện trợ cho Việt Minh ngay sau khi giành được quyền lực ở Trung Quốc 1949?

Các cố vấn Trung Quốc đóng vai trò gì trong việc Hồ Chí Minh đánh thắng người Pháp?

Tại sao Bắc Kinh lại tham gia vào Hội nghị Geneva năm 1954 và cổ vũ cho việc chia cắt Việt Nam?

Trung Quốc đã đóng vai trò gì trong nỗ lực khôi phục miền bắc của VNDCCH sau 1954?

Trung Quốc đã phản ứng ra sao với quyết định của Hà Nội trong việc vực dậy cuộc chiến tranh cách mạng tại miền nam vào năm 1959?

Mao đã phản ứng ra sao khi Washington leo thang chiến tranh tại Việt Nam vào giữa thập niên 1960? Và mong muốn của Mao trong việc tái tổ chức đất nước và xã hội Trung Quốc đã ảnh hưởng đến các quyết định về Việt Nam của ông ra sao?

 


Bản đồ Đông Dương. Nguồn: Jacques Dalloz, Chiến tranh Đông Dương 1945-54 (Dublin: Gill & Macmillan, 1987) 

Những câu hỏi sâu hơn nổi lên từ những tương tác giữa Trung Quốc với các đồng minh Sô Viết và Việt Nam. Liệu đã có sự phân chia nhiệm vụ giữa Mao và Stalin trong những năm đầu Trung Quốc can dự vào Việt Nam? Mâu thuẫn Trung-Sô đã ảnh hưởng đến chính sách của Bắc Kinh và quan hệ của nó với Hà Nội như thế nào? Trung Quốc và VNDCCH đã có những dị biệt gì trong việc phát động chiến tranh và theo đuổi hoà bình? Việc Trung Quốc chuyển hướng chiến lược đầu thập niên 1970 đã ảnh hưởng đến quan hệ với VNDCCH ra sao? Và những dị biệt văn hoá, truyền thống nghi kỵ trong lịch sử và tranh chấp khu vực đã ảnh hưởng thế nào đến mối hợp tác Trung-Việt?

Cả hai nước Lào và Cambodia tồn tại trong dưới cái bóng của các cuộc chiến tại Việt Nam, và tranh chấp tại Việt Nam thường lan sang hai quốc gia này. Nghiên cứu này cũng đề cập đến phản ứng của Bắc Kinh đối với những tiến triển tại Lào và Cambodia, đặc biệt là khi chúng có liên quan đến những sự kiện tại Việt Nam. Nó đặt phản ứng của Bắc Kinh vào bối cảnh của chính sách ngoại giao tổng thể cũng như những quan tâm đặc biệt riêng đối với Việt Nam.

Nhìn rộng hơn, chúng ta rút ra được điều gì từ chính sách ngoại giao của Mao qua việc phân tích cụ thể thái độ và hành động của Trung Quốc đối với Việt Nam? Xa hơn, chúng ta rút ra được kết luận gì về việc xây dựng và quản lý đồng minh của phe Cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh qua việc điều tra chi tiết quá trình thăng trầm của mối quan hệ Bắc Kinh-Hà Nội?

Các chương kế tiếp sẽ nhận diện những động cơ đầy phức tạp phía sau chính sách Đông Dương của Bắc Kinh. Việc cân nhắc những thực thế địa chính trị là một yếu tố trọng tâm trong tính toán của Mao.

Trong suốt thập niên 1950 và hầu hết thập niên 1960, Mao đã xem Hoa Kỳ là mối đe doạ chủ yếu đối với nền an ninh và cách mạng Trung Quốc. Vì thế việc hậu thuẫn Hồ chí Minh và Pathet Lào giúp Mao thoả mãn mục đích làm suy yếu ảnh hưởng của Mỹ tại Đông nam Á và đẩy lùi nỗ lực kềm chế Trung Quốc của Washington.

Vào cuối thập niên 1960 đầu 1970, khi Mao nhận thức mối đe doạ lớn hơn từ Liên Sô và đe doạ nhỏ hơn từ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông bắt đầu sửa đổi lại chính sách của mình và khuyến khích Bắc Việt thoả thuận một giải pháp hoà bình.

Tinh thần trách nhiệm quốc tế và nghĩa vụ phải giúp đỡ một đảng Cộng sản anh em cũng như việc đẩy mạnh cuộc cách mạng chống đế quốc tại châu Á là một yếu tố quan trọng, thường mang tính quyết định trong chính sách của Mao về Việt Nam.

Những hành động của Bắc Kinh về Đông Dương thường được thúc đẩy bởi viễn kiến của Mao về vị trí của Trung Quốc trên thế giới. Khi cống hiến cả đời cho cách mạng, Mao nhắm vào việc thay đổi không chỉ nước Trung Quốc cũ mà cả trật tự thế giới cũ. Thể chế thực dân Pháp tại Đông Dương bao gồm thành phần của một trật tự thế giới bất công và sai trái mà Mao mong muốn dẹp bỏ. Trong suy nghĩ của Mao, nếu không có một thay đổi chống lại hệ thống quốc tế hiện thời, chiến thắng vừa có được của Cộng sản tại Trung Quốc sẽ không được bảo đảm, củng cố và chính danh.

Trong khi trật tự quốc tế cũ đã khiến Trung Quốc phải chịu đau khổ và nhục nhã, thì việc thành lập một trật tự mới sẽ đóng góp cho sự tái sinh và thịnh vượng của Trung Quốc. Mao đặt nền an ninh và thịnh vượng trong nước ngang hàng với việc phát triển phong trào phản đế và các cuộc cách mạng vô sản trên thế giới. Một thế giới gồm các quốc gia Cộng sản cùng chí hướng sẽ là một bảo đảm tốt nhất cho chính quyền của Mao tại Trung Quốc. Mao xen lẫn các quan tâm về vấn đề an ninh với ý thức hệ trong suy nghĩ của mình. Mao và các đồng sự xem cuộc cách mạng của mình tương tự với các phong trào giải phóng dân tộc khác tại các quốc gia đang phát triển và cho rằng khuôn mẫu Trung Quốc thì quan trọng đối với các phong trào ấy. Xa hơn, Mao can thiệp vào Đông Dương để tự tạo dựng hình ảnh Trung Quốc trên thế giới.

Tuy nhiên Mao không theo đuổi những mục tiêu cách mạng của mình tại Đông nam Á với cùng cường độ trong khoảng thời gian được đề cập trong cuốn sách này. Mặc dù đồng cảm với phong trào chống đế quốc thực dân trên thế giới, Mao cũng không muốn gây chiến với Hoa Kỳ. Vị lãnh tụ Trung Quốc này là một người thực tế, có đủ khả năng để chỉnh sửa chính sách khi gặp phải những khó khăn kinh tế trong nước hoặc những áp lực từ nước ngoài. Ông có khả năng vượt qua những thoái bộ chiến thuật trong nhiều lần nhưng luôn giữ vững lập trường của mình. Ví dụ như từ năm 1954 đến 1960, ông giảm bớt sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với phong trào phản kháng tại Đông Dương để Trung Quốc có thể tập trung phát triển kinh tế trong nước. Mao không ngần ngại đề xuất chiến thuật ôn hoà hoặc nhượng bộ nếu thấy thế lực phản động đang quá mạnh để phong trào cách mạng có thế tiếp tục đấu tranh. Đấy là lý do tại sao ông đã chấp nhận một chia rẽ hoà bình tại Việt nam tại Hội nghị Geneva năm 1954 và can ngăn nỗ lực thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh lúc ấy.

E sợ việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam nếu chiến tranh tiếp diễn, Mao không muốn Trung Quốc dính líu đến một cuộc chiến tương tự như tại Triều Tiên, vốn sẽ làm Trung Quốc trệch hướng quá trình tái xây dựng rất cần thiết trong nước. Nỗi lo trước sự can thiệp của Mỹ cũng giải thích được quyết định của Mao trong việc đưa Lào trở lại tình trạng trung lập trong Hội nghị Geneva 1961-62.

Mao ủng hộ hình thức trung lập của Lào lúc ấy không phải vì ông muốn tạo ra tình trạng trung lập vĩnh viễn ở nước này, như Liên Sô mong muốn, mà bởi vì ông muốn tạo thêm thời gian để Pathet Lào củng cố và phát triển lực lượng, tiến đến giành lấy quyền lực.

Trong tính toán của Mao, nhượng bộ và ôn hoà không có nghĩa là từ bỏ; cách mạng cần phải qua từng giai đoạn. Mao hiểu rõ câu châm ngôn của Lenin “một bước lùi hai bước tiến” khi tiến hành cách mạng. Và từ kinh nghiệm của chính mình, ông kết luận rằng việc chuẩn bị cho chuyển biến cách mạng là một cuộc đua đường dài chứ không phải là cự ly ngắn.

Tính cách cá nhân là yếu tố quan trọng thứ ba trong quá trình hình thành thái độ của Bắc Kinh đối với cách mạng Việt Nam. Khi cân nhắc viện trợ cho Việt Minh, giới lãnh đạo ĐCSTQ không thể bỏ qua mối quan hệ cá nhân mật thiết và tình đoàn kết cách mạng mà họ và Hồ Chí Minh đã có được trong những năm cùng nhau chiến đấu trước đây.

Có cùng những giá trị và niềm tin giống nhau, họ đã trải qua những khó khăn trở ngại tương tự nhau. Hồ đã làm bạn với những đảng viên ĐCSTQ kỳ cựu như Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Hoành Nhược Phi, Bành Phái, và Lý Phú Xuân từ những năm 1920, khi ông hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp và sau đó đóng vai đại diện của Đệ Tam Quốc tế hỗ trợ phong trào công nhân và nông dân tại Quảng Đông.

Trong thời kỳ nội chiến ở Trung Quốc vào những năm cuối 1940, chính quyền của Hồ đã cung cấp nơi trú ẩn cho quân đội ĐCSTQ từ miền nam Trung Quốc khi họ rút quân sang Việt Nam để tránh quân đội Quốc Dân Đảng tấn công. Qua quyết định giúp đỡ Việt Minh vào năm 1950, Mao nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trao đổi tình hữu nghị giữa hai bên.

[Mao giúp Hồ vũ khí và quân viện năm 1950 để đổi lấy Hoàng Sa và Trường Sa. Sau khi giúp ông Hồ chiếm lấy 1/2 nước VN qua Hiệp định Geneve 20-7-1954,  Mao lấy công lần thứ nhất bằng cách chiếm vài đảo trong quần đảo Hoàng Sa 1956. Sau khi biết Mỹ sẽ rút khỏi Nam VN 27-1-1973, biết trước Miền Nam sẽ rơi vào tay cộng sản, Mao đã đánh chiếm Hoàng Sa 19-1-1974. Đây là lần lấy công lần thứ hai, chiếu theo mật ước trao đổi với ông Hồ hồi 1950- Trần Hoàng]

Cuối cùng, chủ ý sử dụng cuộc đấu tranh quốc tế để phát triển lịch trình chính trị trong nước thường được đặt ở vị trí quan trọng trong các cân nhắc của Mao về Việt Nam. Việc này thể hiện rõ rệt vào năm 1962 khi Mao chỉ trích những đề xướng được xem là xét lại trong chính sách đối ngoại từ nội bộ đảng và nhấn mạnh lần nữa sự cần thiết phải chống lại chủ nghĩa đế quốc và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, bao gồm cuộc đấu tranh tại Việt Nam.

Sự tái nhấn mạnh việc ủng hộ sự nghiệp phản đế trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã tạo cho Mao một công cụ hữu hiệu để vận động hậu thuẫn từ trong nước cho quá trình “diễn tiến cách mạng” của ông, và để dẹp bỏ những chướng ngại bên trong giới lãnh đạo đảng, vốn đang bị chia rẽ bởi những thảm hoạ của chương trình Bước Đại Nhảy Vọt.

Tương tự, giữa những năm 1965 và 1966 Mao đã dùng nguyên cớ cần thiết phải ủng hộ cuộc chiến tranh của Hà Nội chống lại Hoa Kỳ để phát động một chiến dịch chống đế quốc trong nước, để phục hồi tinh thần cách mạng cấp tiến và để vận động quần chúng đấu tranh chống lại những lãnh đạo “xét lại” trong đảng, những người đang muốn đi theo con đường của Liên Sô nhằm phục hồi chủ nghĩa tư bản tại Trung Quốc. Nói chung, chính sách Đông Dương của Bắc Kinh là kết quả của một tổng thể bao gồm thực tế địa chính trị, niềm tin ý thức hệ, tính cách cá nhân, và các hoàn cảnh chính trị.

Cuốn sách này nhấn mạnh vai trò của khía cạnh con người trong việc làm nên lịch sử. Trước hết là Mao đầy quyền lực với những ý tưởng và tầm nhìn kiến tạo cơ cấu chung cho chính sách về Việt Nam của Trung Quốc.

Ông là người quyết định việc giúp đỡ Hồ Chí Minh, thương thảo với các cường quốc phương Tây, đối đầu với áp lực từ Mỹ, bác bỏ những đề nghị của Liên Sô, hoặc tăng cường quan hệ với Washington trong những thời điểm quan trọng.

Kế đến là những đồng sự thân tín của Mao và những lãnh đạo thứ nhì trong đảng, bao gồm Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, Thủ tướng Chu Ân Lai, tổng bí thư đảng Đặng Tiểu Bình, Bộ trưởng Ngoại giao Trần Nghị, Đại sứ La Quí Ba, các tướng Trần Canh và Vi Quốc Thanh, những nhân vật đã trung thành thực thi những quyết định ngoại giao và quân sự của Mao đối với Việt Nam.

Những chương kế tiếp sẽ liệt kê và đánh giá cụ thể một Mao Trạch Đông đầy lôi cuốn như là một nhà cách mạng nhìn xa trông rộng, một Lưu Thiếu Kỳ cẩn trọng như một nhà tổ chức kỹ lưỡng việc tiếp tế cho Việt Minh, một Chu Ân Lai lão luyện trong vai trò của nhà ngoại giao thông minh tại các hội nghị quốc tế, một Đặng Tiểu Bình cứng rắn khi thương lượng với Bắc Việt, một Trần Nghị thẳng thắn là tiếng nói của Mao trong các vấn đề quốc tế, và Trần Canh cùng Vi Quốc Thanh dày dạn trận mạc trong vai trò cố vấn quân sự trên chiến trường Việt Nam. Họ đã đạt được chiến thắng nhưng cũng mắc phải sai lầm. Tiếng nói của họ làm nên chính sách của Trung Quốc và ứng xử của họ để lại dấu ấn sâu đậm trong mối quan hệ Trung-Việt.

Quan hệ Bắc Kinh-Hà Nội bao gồm cả đồng thuận lẫn mâu thuẫn, hợp tác và đối đầu. Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu bản chất và các động lực của mối quan hệ này và đặt nó vào trong bối cảnh lịch sử phức tạp của chính nó.

Trong suốt lịch sử của mình, người Việt có một thái độ yêu/ghét đối với Trung Quốc. Một mặt, họ có truyền thống hướng về Trung Quốc để tìm kiếm khuôn mẫu và nguồn cảm hứng. Các vua chúa Việt Nam đã bắt chước và vận dụng những phương pháp và tổ chức của Trung Quốc để biến mình thành một lực lượng chính danh. Bày tỏ lòng kính nể đối với triều đình bề trên Trung Quốc là con đường duy nhất để tránh chiến tranh của người Việt, và chấp nhận những định chế văn hoá của Trung Quốc đã trở thành thói quen của giới cầm quyền Việt Nam. Mặt khác, người Việt luôn mong muốn gìn giữ độc lập cũng như truyền thống văn hoá của mình.

Trong những thập niên 1950 và 1960, Cộng sản Việt Nam phải đối diện với những kẻ thù hùng mạnh là người Pháp và người Mỹ khi tìm cách thống nhất đất nước. Hồ Chí Minh đã tích cực tìm kiếm tham vấn và vũ khí từ Trung Quốc. Nhưng thái độ nghi ngờ vẫn không hề biết mất. Ví dụ Trung Quốc nghi ngờ Hà Nội muốn sát nhập Lào and Cambodia vào với mình thành một “Liên bang Đông Dương” trong khi Bắc Việt cũng dè chừng mối “quan hệ đặc biệt” với Lào khi Trung Quốc tăng cường viện trợ cho Pathet Lào.

Quan hệ CHNDTQ-VNDCCH bao gồm việc hội nhập và chia sẻ quyền lợi. Hai quốc gia có cùng một triển vọng ý thức hệ và một quan tâm chung về sự can thiệp của người Mỹ vào Đông Dương, nhưng giới lãnh đạo Hà nội muốn tránh xa mối nguy hiểm của việc phải vướng vào mối quan hệ phụ thuộc với Trung Quốc. Một khi giới lãnh đạo Hà Nội và Bắc Kinh vẫn còn có các mục tiêu chung là chấm dứt sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực, những quyền lợi riêng rẻ trên sẽ nhượng bộ cho các điểm thoả thuận của hai bên.

Nhưng vào năm 1968 mối quan hệ Trung-Việt đã chuyển nhanh sang chiều hướng xấu khi Washington vừa đưa ra một bước thăm dò trong việc nới lỏng cam kết với Nam Việt. Trong tình hình mới, quyền lợi chiến lược của Bắc kinh bắt đầu có sự khác biệt cơ bản so với Hà Nội. Trong khi lúc này Trung Quốc xem Hoa Kỳ như là một tiềm năng đối trọng để chống lại Liên Sô, những đồng chí Việt Nam vẫn tiếp tục xem Washington là đối thủ nguy hiểm nhất.

Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam (1973) và đất nước được thống nhất, những tranh chấp song phương giữa Hà Nội và Bắc Kinh về Cambodia, về bất đồng lãnh thổ trên biển Đông, và việc đối xử với người gốc Trung Quốc tại Việt Nam bắt đầu gia tăng, dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới vào năm 1979.

Nghiên cứu này lần đầu tiên vận dụng những nguồn tài liệu do Trung Quốc công bố trong vài năm gần đây. Những tài liệu mới này được xếp vào bốn loại: nguồn hồ sơ lưu trữ, các tuyển tập tài liệu đã được xuất bản, hồi ký và nhật ký, và các tài liệu gián tiếp dựa trên các nguồn lưu trữ.

Nguồn Hồ sơ Lưu trữ

Trong khi các nhà nghiên cứu không được truy cập những tài liệu lưu trữ quan trọng như Văn khố Trung ương ĐCSTQ và Văn khố Bộ Ngoại giao tại Bắc Kinh, các văn khố địa phương của đảng tại các tỉnh thì ít nghiêm ngặt hơn và hợp tác hơn với các học giả.

Trong thời gian 1995 và 1996, tôi đã có hai chuyến đi nghiên cứu đến Văn khố Chính quyền Nhân dân tỉnh Giang Tô. Kho tài liệu này bao gồm các chỉ thị do Uỷ ban Trung ương ĐCSTQ tại Bắc Kinh gửi cho các lãnh đạo tỉnh giải thích vai trò của Trung Quốc trong hàng loạt những vấn đề quốc tế bao gồm Đông Dương.

Từ năm 1958 đến 1966, Văn phòng Đối ngoại của Uỷ ban Nhà nước triệu tập các cuộc họp hàng năm về công tác đối ngoại tại Bắc Kinh, trong đó các cán bộ từ trung ương đảng và các cơ quan chính quyền như Ban Liên lạc Quốc tế ĐCSTQ, Bộ Ngoại giao, và Uỷ ban người Hoa đang sống ở Nước Ngoài báo cáo và giải thích cho các cán bộ chuyên về ngoại giao cấp tỉnh những diễn tiến mới của quan hệ ngoại giao Trung Quốc. Nhiều bài phát biểu và tài liệu nội bộ từ những hội nghị này được lưu giữ tại Văn khố tỉnh Giang Tây. Những tài liệu này trình bày quan điểm và phản ứng của lãnh đạo Trung Quốc đối với những diễn biến trên thế giới nói chung và Đông Dương nói riêng chính xác hơn so với các tường thuật từ báo chí Trung Quốc thời kỳ ấy.

Các Tuyển Tập Tài Liệu Đã Xuất Bản

Trong những năm gần đây Bắc Kinh đã xuất bản nhiều tuyển tập gồm các bản thảo, bài viết, trao đổi và phát biểu của các lãnhđạo như Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Những bộ sách này bao gồm vô số những bức điện tín từ các lãnh đạo trên gửi đến các cố vấn Trung Quốc tại VNDCCH cũng như vô số những ghi chép từ các trao đổi giữa họ và đối tác Việt Nam.

Những bộ sách quan trọng nhất cho cuộc nghiên cứu này gồm Kiến quốc Dĩ lai Mao Trạch Đông Văn cảo (Bản thảo của Mao Trạch Đông từ khi lập nước cho đến nay) gồm 18 bộ (Bắc Kinh XB 1987-98), Mao Trạch Đông Quân sự Văn tập (Tuyển tập các bài viết quân sự của Mao Trạch Đông) 6 bộ (Bắc Kinh XB 1993), Mao Trạch Đông Ngoại giao Văn tuyển (Tuyển tập các bài viết ngoại giao của Mao Trạch Đông) (Bắc Kinh XB 1994), Chu Ân Lai Niên Phả, 1949-1976 (Biên niên ký của Chu Ân Lai) 3 bộ (Bắc Kinh XB 1997), Chu Ân Lai Ngoại giao Văn tuyển (Tuyển tập các bài viết ngoại giao của Chu Ân Lai) (Bắc Kinh XB 1990), Chu Ân Lai Ngoại giao Hoạt động Đại Sự ký, 1949-1975 (Ký sự những hoạt động ngoại giao của Chu Ân Lai) (Bắc Kinh XB 1993), Lưu Thiếu Kỳ Niên Phả (Biên niên ký của Lưu Thiếu Kỳ), 2 bộ (Bắc Kinh XB 1996).

Hồi Ký Và Nhật Ký

Nhiều quan chức đảng, chỉ huy quân sự, nhà ngoại giao, thư ký và thông dịch viên về hưu đã xất bản những hồi ký và nhật ký cá nhân của mình trong thập niên vừa qua. Trong vài trường hợp, các tác giả nhờ vào những phụ tá trẻ giúp họ đối chứng tài liệu trong các văn khố. Những nhật ký và hồi ký này thường cho thấy những động cơ và tính toán ngầm đằng sau những trường hợp đơn thuần về chính sách.

Không những chúng cung cấp những bằng chứng mới về những lời phát biểu của Mao vốn thường không tìm thấy ở nơi khác, mà còn là một cửa sổ quan trọng cho thấy những gì ông đã đọc. Từ đó ta có thể tự do tìm hiểu mối tương giao trong các hoạt động của Mao với những đồng sự cao cấp và thư ký của mình. Từ những câu chuyện này, ta có thể nhận hiểu được quá trình thảo chính sách cũng như quan điểm của Mao. Những nhật ký và hồ ký cá nhân có ích nhất cho cuộc nghiên cứu này bao gồm Bạc Nhất Ba, Trần Canh, Hu Zhengqing, Lý Việt Nhiên, La Quí Ba, Shi Zhe, Tong Xiaopeng, Vương Bỉnh Nam, Ngũ Tu Quyền, Hùng Hướng Huy, Zeng Sheng, và Zhang Dequn[5].

Những Bài Viết Gián Tiếp

Kể từ giữa thập niên 1980, một số lớn các tài liệu gián tiếp dựa trên các nguồn lưu trữ đã xuất hiện tại Trung Quốc. Chúng bao gồm lịch sử tổng quát về đảng, quân đội, và ngoại giao, các tiểu sử, chuyên khảo và bài viết. Tác giả của chúng đa số từ Bắc Kinh, hoặc là một tập thể các tác giả do đảng tập hợp hoặc các học giả làm việc riêng rẻ được phép truy cập các kho lưu trữ. Những tác phẩm này thường trích dẫn các tài liệu lưu trữ nổi bật. Nhưng vì những cấm đoán của đảng, họ chỉ đề cập đến các nguồn tài liệu này mà không nói rõ nơi lưu trữ chúng.

Khi tìm hiểu những nguồn tài liệu mới đã nói ở trên, tôi đã tránh không để lòng phấn chấn về việc khám phá ra chúng làm ảnh hưởng đến thái độ nghiêm khắc cũng như tính nhạy cảm của mình đối với nội dung vốn vô cùng quan trọng trong việc xem xét bất kỳ bộ phận nào của các thông tin lịch sử.

Khi sử dụng các tuyển tập tài liệu đã xuất bản, tôi hoàn toàn biết rõ rằng chúng đã được giới biên tập viên của đảng lựa chọn, thường là với mục đích chính trị, và chúng có thể không phải là những tài liệu hoàn hảo. Tôi đã cố gắng làm việc một cách cẩn trọng với những bộ văn tuyển này, loại bỏ một lượng lớn những cường điệu và bí ẩn. Tôi cũng đã đối xử với các hồi ký với sự cẩn trọng tương tự, hoàn toàn nhận thức được rằng ký ức của con người thì rời rạc và có thể không đúng sự thật và hồi tưởng của các cá nhân thường là để tự đề cao mình. Mỗi khi có thể, tôi đã đối chiếu và xác nhận các câu chuyện, chỉ ra những dị biệt và mâu thuẫn.

Khi làm việc với các tài liệu gián tiếp dựa trên văn bản lưu trữ, tôi nhận thức rõ rằng mình phải dựa vào sự xét đoán của các tác giả cũng như sự thiếu sót trong các nguồn tài liệu mà các tác giả ấy được phép truy cập.

 

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | 9 Comments »

►Cuộc hành trình hy vọng của Việt Dzũng

Posted by hoangtran204 trên 03/01/2014

 Cuộc hành trình hy vọng của Việt Dzũng

Ngô Nhân Dụng

Theo Diễn Đàn Thế Kỷ

Buổi trưa, trên con đường sau nhà thờ Thánh Linh, một bà tóc bạc phơ ngăn tôi lại hỏi, bằng tiếng Anh: “Chuyện gì vậy? Sao hôm nay Thứ Hai mà nhiều xe đậu thế?” “Thưa cụ, có tang lễ.” “Trông ông ăn mặc thế này tôi biết là có tang lễ rồi. Nhưng ai vậy?” Tôi định nói “Việt Dzũng,” nhưng nghĩ ra ngay là bà cụ già sẽ không hiểu mình nói gì.

 

 

Thấy một đám tang lớn, người Mỹ có thể hiểu nguyên nhân nếu người qua đời là một nhạc sĩ hoặc ca sĩ nổi tiếng. Nhưng tôi định mở miệng nói lại ngưng, không thể dùng những chữ đó. Giới thiệu Việt Dzũng như vậy không đủ. Không diễn tả hết được hình ảnh của anh trong tấm lòng của hàng ngàn người đến tiễn chân anh lần cuối. Việt Dzũng vượt lên trên tất cả những danh hiệu này, mặc dù anh làm nhạc và hát hay. Trong khi bà cụ vẫn nhướn mắt chờ nghe một lời giải thích, tôi nói nhanh cho gọn: “Ông ấy là một người tranh đấu, a fighter.” Nói xong thì biết mình sẽ gây hiểu lầm, phải nói thêm: “Một người tranh đấu cho một lý tưởng. Tranh đấu cho công bình, cho tự do.” Trong đầu tôi còn văng vẳng lời Ðức Giám Mục Mai Thanh Lương giảng trong thánh lễ, dẫn Phúc Âm theo Thánh Mathieu: “Phúc cho những người công chính bị bách hại, vì Nước Trời là của họ.”

Bà hàng xóm người Mỹ gật đầu, cảm ơn rồi tiếp tục đi dạo qua những hàng xe đậu tràn hai bên đường, nhiều xe đậu không đúng luật nhưng cảnh sát đi qua cũng làm ngơ không phạt. Nhưng tôi bùi ngùi, thấy mình chưa nói đủ về Việt Dzũng. Dzũng là một người tranh đấu, đúng. Cuộc đấu tranh của anh đã bắt đầu ngay từ tuổi nhỏ, khi anh chưa hiểu những chữ “lý tưởng,” “công bình” và “tự do” nghĩa là gì. Khi trưởng thành Việt Dzũng còn tranh đấu vì lòng yêu nước, tranh đấu cho những đồng bào tị nạn được định cư, tranh đấu cho các tù nhân của lương tâm, tranh đấu để nước Việt Nam có ngày được sống dân chủ tự do, ngẩng mặt lên không hổ thẹn với các nước chung quanh.

Không phải chỉ tranh đấu không thôi, Việt Dzũng còn là một nhà chinh phục. Anh đã chinh phục được tình yêu thương, kính trọng của hàng triệu người Việt, ở khắp năm châu. Nghe tin anh qua đời, bao nhiêu người đã khóc. Hàng ngàn người đến dự các buổi tưởng niệm và tang lễ. Nhưng ngay từ khi còn nhỏ, tới trường Việt Dzũng đã phải tranh đấu. Nhiều bạn học vô tình đã đùa cợt, chế nhạo hai chân khuyết tật của anh. Cuối cùng Việt Dzũng không những đã làm cho đám bạn trẻ chung quanh mình phải ngưng trò đùa nghịch mà anh còn chinh phục được lòng kính trọng của họ, biến họ thành những người bạn quý, yêu thương, thân thiết. Cả cuộc đời Việt Dzũng là tranh đấu và chinh phục.

Nhưng một con người chỉ tranh đấu thì cũng không đủ để chinh phục được tình yêu thương kính trọng của mọi người. Việt Dzũng được đồng bào yêu quý không chỉ vì anh là một biểu tượng đấu tranh, mà còn vì anh là hình ảnh một nhân cách trong sạch, hùng tráng, và đam mê. Nhân cách tinh thần biểu lộ trong những việc anh làm, ngay trong đời sống và công việc hàng ngày. Những người cộng sự đều ngậm ngùi nhưng cũng hãnh diện kể lại những kỷ niệm đã chia sẻ với anh.

Nhà văn Huy Phương nhắc mọi người, “Phải nhìn những cụ già ngồi xe lăn, những gia đình dẫn cả con cháu đến dự đêm tưởng niệm Việt Dzũng, một đêm cuối năm giá lạnh trước đài truyền hình SBTN;” trong đó “không ca sĩ nào, không MC nào, cầm nổi nước mắt.” Và ai cũng phải tự hỏi, “Vì sao cả những người ở xa, từ San Jose xuống, từ Riverside về, từ Los Angeles, San Diego đến, không hề quen biết, gần gũi anh, chỉ thấy nghe anh qua băng nhạc, làn sóng phát thanh hay băng tần truyền hình, vì ngưỡng mộ, thương tiếc anh, cũng sụt sùi nhỏ lệ.”

Một người đã nhận xét: Việt Dzũng qua đời đã giúp mọi người đoàn kết với nhau hơn. Một vị độc giả Người Việt viết: “Hy vọng những người còn sống, vì lòng thương tiếc Việt Dzũng sẽ nhận ra họ cần phải làm gì để xứng đáng với những điều Việt Dzũng đã mang đến cho chúng ta trong thời gian anh sống trên cõi trần này.” Một nhà văn khác viết: “Có thể nói đây là cái chết gây xúc động nhất trong cộng đồng hải ngoại từ gần 40 năm nay. Không riêng gì đồng bào hải ngoại tiếc thương Việt Dzũng. Blog Người Buôn Gió ở trong nước cũng bày tỏ tình thương tiếc.”

Những ai đã sống trong vùng Little Saigon đều biết có hai lần người Việt tị nạn trong vùng đã biểu lộ tấm lòng chung của mình một cách bồng bột và sôi nổi. Lần đầu là cuộc biểu tình kéo dài nhiều ngày đêm phản đối việc treo hình, treo cờ cộng sản trong một cửa tiệm ở đường Bolsa. Lần thứ hai là đám tang Việt Dzũng. Không ai bảo ai, tất cả mọi người cùng biểu lộ, vì cùng nhau chia sẻ một tấm lòng. Lần trước, là một cơn giận dữ bùng nổ. Lần này là tình yêu thương, quý mến một người bạn, một người anh, một đứa con đã qua đời sớm quá. Mọi người chia sẻ với nhau những lời tiếc thương, những giọt nước mắt; như một thi sĩ quá cố viết: “Những vì sao rụng bỗng đầy lệ nhân gian.”

Ai đã chứng kiến hai biến cố kể trên, có thể hiểu hai chữ “lòng dân.” Lúc bình thường, không ai biết lòng dân thế nào. Có thể đoán được lòng dân, nhưng trong những lúc bình thường không trông thấy nó hiện ra cụ thể thì vẫn nửa tin nửa ngờ. Nhưng bỗng có một biến cố, bỗng thấy lòng dân mở ra trước mắt. Muôn người như một, không ai bảo ai, tất cả xuất hiện cùng một lúc, xuống đường, phơi bày gan ruột của mình. Phải nhìn thấy tận đáy sâu tấm lòng đó, lúc bình thường vẫn chất chứa những nỗi giận, niềm đau, những tình yêu thương tha thiết mặc dù không ai nói ra. Ðến một ngày, một giờ nào đó, đúng lúc, lòng người cùng biểu hiện. Tuy chỉ trong một thời gian có giới hạn, nhưng chúng ta biết những tình tự vẫn chất chứa trong tim óc hàng triệu người, suốt bao nhiêu năm, chờ một biến cố sẽ nổ bùng.

Nguyễn Văn Khanh kể lần cuối cùng gặp nhau, Việt Dzũng nói: “Anh em mình còn quá nhiều việc phải làm, em không biết mình có làm được hết hay không?”

Có thể coi đó là một lời nhắn nhủ của Việt Dzũng cho những người còn sống. Việt Dzũng đã thành một biểu tượng. Anh làm tôi nhớ đến một biểu tượng của thanh niên Canada là Terry Fox. Năm 1980, Terry Fox 22 tuổi, anh đã mất một chân vì bạo bệnh, và biết mình không còn sống được bao lâu. Anh đã thực hiện một “Cuộc hành trình hy vọng” (Marathon of Hope), quyết tâm đi bộ với hai cây nạng, từ Ðại Tây Dương sang Thái Bình Dương dọc theo chiều ngang nước Canada. Mục đích chuyến đi là gây quỹ, anh yêu cầu mọi người góp vào một quỹ nghiên cứu y học, mong có ngày nhân loại sẽ có thuốc trừ được căn bệnh ung thư đang cướp dần cuộc đời anh. Ðể thực hiện cuộc hành trình này, Fox đã tập luyện hơn một năm trời, đã dự một cuộc chạy đua marathon và anh đi suốt 40 cây số, về sau chót. Năm 1981, Fox qua đời. Từ đó, hàng năm nhiều người đã tổ chức các cuộc hành trình hy vọng như Fox, trên khắp thế giới.

Cả cuộc đời Việt Dzũng là một cuộc hành trình hy vọng. Việt Dzũng hy vọng điều gì? Như tất cả chúng ta, anh mong xây dựng một nước Việt Nam dân chủ tự do, công bình, bác ái.

Chúng ta sẽ tiếp tục cuộc hành trình hy vọng mà Việt Dzũng bắt đầu. Nước Việt Nam đang sống trong cảnh “tiền cách mạng.” Tâm tư người dân hiện còn chìm ẩn. Những oan ức, những thống khổ, những khát vọng, chất chứa dưới đáy sâu trong lòng. Sẽ có ngày người Việt Nam ở trong nước sẽ phơi bầy tấm lòng, muôn người như một, không ai bảo ai. Chỉ cần một biến cố châm ngòi, lòng dân cháy bùng lên, không chế độ bạo tàn nào kiềm chế được.

Posted in Nhan Vat | Leave a Comment »