Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một 27th, 2013

►Nhà nước tiếp tục đàn áp người H’Mông tháng 11 -2013 – Vì sao đạo Dương Văn Mình của người H’Mông bị đàn áp?

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2013

Trần Thị Cẩm Thanh (Danlambao) –

Sáng ngày chủ nhật 24/11/2013, tin từ người H’ Mông cho biết, côn an lại kéo đến đàn áp người H’Mông tại thôn Nà Héng, xã Nam Vang, Huyện Bảo Lâm, tỉnh cao Bằng, tổng cộng có 36 người bị thương, bị chảy máu đầu, 17 người bị còng tay bắt đi… Máy quay ảnh và máy chụp hình đã bị thu đi hết, chúng nó chủ ý tìm bắt em Ma Văn Pá, sáng nay Ma Văn Pá cũng bị đánh chảy máu đầu, bị dán băng dính bịt mồm nhưng bà con đã giải thoát được cho Pá. 

Nguyên nhân sự việc như sau 

Ngày 24/10/2013, UBND xã Nam Quang, Huyện Lâm Đồng, tỉnh Cao Bằng… gửi cho ông Mã Văn Phình ở thôn Nà Héng yêu cầu tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình tự giác tháo dỡ nhà đòn.

Vậy tổ chức Dương Văn Mình là tổ chức như thế nào? tổ chức đó đã có những hoạt động gây ảnh hưởng gì tới sự toàn vẹn của tổ quốc? căn cứ vào đâu mà UBND xã Nam Quang kết luận nhà đòn của người H’Mông là của tổ chức Dương Văn Mình? sao chúng ta không thấy ai nhân danh tổ chức Dương Văn Mình kêu cứu? Tại sao Ban tôn giáo chính phủ và mặt trận tổ quốc cũng không trả lời đơn từ của người H’Mông?

Lạ thật, chi bộ thôn Nà Héng làm sao mà ra nghị quyết yêu cầu ông Mã Văn Phình phá dỡ nhà đòn của bà con dân tộc H’ Mông, ông Mã Văn Phình làm sao có quyền tuân lệnh chi bộ thôn Nà Héng phá nhà đòn của dân tộc H’Mông, UBND xã lại thực hiện theo nghị quyết đảng của một thôn xóm là bất hợp pháp.

Nhà đòn là của người H’Mông, UBND xã Nam Quang không có quyền chỉ đạo tổ chức Dương Văn Mình nào đó đi phá dỡ nhà đòn của họ.

UBND xã Nam Quang cũng không có quyền đưa người đến phá nhà đòn của người H’Mông theo các biên bản tuyên truyền.

Nghị quyết nào, văn bản nào của cấp trên của UBND xã Nam Quang kết luận tổ chức Dương Văn Mình bất hợp pháp thì tổ chức đó có trách nhiệm phản đối hay động thuận, không liên quan gì đến người H’Mông, chuyện lộn xộn yêu cầu ông Mã Văn Phình tháo dỡ nhà đòn của nhân dân là không thể chấp nhận được.

Rõ ràng đây là một thông báo bất hợp pháp, công an mang cả súng kéo đến để phá nhà đòn là phạm pháp, người H’Mông họ có nghĩa vụ phải phản kháng, chúng ta ủng hộ người H’ Mông là hợp pháp, hợp tình.

Người H’Mông kể họ đã gọi đích danh lũ người xấu này là những kẻ phản động.

Bản thông báo của UBND xã Nam Quang yêu cầu tháo dỡ nhà đòn thì căn cứ dựa vào nghị quyết của chi bộ thôn Nà Héng cũng bị người H’Mông lột mặt nạ, người H’Mông đã chứng minh được điều ngược lại qua biên bản làm việc với chi bộ thôn Nà Héng, tại biên bản có ghi rõ ông bí thư chi bộ đã công nhận con đường đổi mới của người H’Mông là phù hợp.

Người H’ Mông luôn đem thân mình che chắn cho nhà đòn của họ, công an muốn phá hủy nhà đòn nào cũng đều phải trải qua thủ tục đập đánh, lôi kéo, quẳng người H’Mông như một con vật không hơn không kém.

Với người H’Mông, nhà đòn là biểu tượng cho sự đổi mới trong cuộc sống của họ, một sự đổi mới liên tục từ năm 1989 đến nay, thay đổi một phong tục ma chay mê tín kinh hoàng tồn tại trong hàng thế kỷ.

Sự việc vi phạm nhân quyền nghiêm trọng đối với dân tộc H’Mông trong thời gian qua cũng đã được truyền thông rộng rãi trong nước và quốc tế. Xem đường dẫn sau:

 

Nhưng sự việc vẫn diến biến ngày càng phức tạp, ai đang đánh dân tộc H’Mông? Ai đang mượn cớ xóa bỏ tổ chức Dương Văn Mình để đàn áp người H’Mông? 

Suốt tuần qua chúng tôi luôn nhận được tin xấu từ người H’ Mông, đặc biệt là người dân bỗng dưng lại bị ai bắt đi trong khi đi làm rẫy… trong lòng chúng tôi cảm thấy vô cùng chua xót… bởi không ai có thể đến đấy để cứu họ được, họ cũng không thể tự cứu mình được vì họ quá yếu so với lực lượng của công an cộng sản. 

Chua xót hơn là trong khi chúng ta lên án công an nhưng chính nhân dân ta đã trao sức mạnh cho công an cộng sản bằng hành vi đóng thuế hằng ngày của mình cho chính quyền của đảng cộng sản, có chăng chúng ta phải lên án chính mình đầu tiên, chúng ta đã trao ngân khố cho một đảng phái không có trách nhiệm gì với chúng ta, chúng ta cần phải thu hồi và kiểm soát sức mạnh của mình.

Trần Thị Cẩm Thanh

danlambaovn.blogspot.com

——————————————————————-
Người H'mông ở nhiều tỉnh phía Bắc về Hà Nội để kêu cứu chính quyền trung ương, Hà Nội, 19/10/2013. Ảnh : Facebooker Trần Thị Cảm Thanh.

Người H’mông ở nhiều tỉnh phía Bắc về Hà Nội để kêu cứu chính quyền trung ương, Hà Nội, 19/10/2013. Ảnh : Facebooker Trần Thị Cảm Thanh.

Tú Anh

Đầu tháng 10 vừa qua , hàng trăm người H’Mông từ bốn tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang kéo về Hà Nội tố cáo chính quyền địa phương “cấm họ theo đời sống văn minh“. Một số người biểu tình trong đó có những thiếu nữ đã bị tra tấn. Người dân Hà Nội bênh vực đồng bào miền núi cũng bị ngăn cản. Tại sao có chuyện trớ trêu như vậy và vì sao công an Hà Nội lại thẳng tay đàn áp người Hmong, cưỡng bách họ trở về nhà ? Để tìm hiểu nguồn cội vấn đề, RFI đặt câu hỏi với ông Vũ Quốc Dụng, nguyên Tổng thư ký Hiệp Hội Quốc Tế Nhân Quyền ở Frankfurt, Đức.

 1)Tại sao người H’mông tiếp tục trở lại Hà Nội để biểu tình, mặc dù bị đánh đập và bắt đưa trở về quê quán?

Chúng ta biết người H’Mông thường tránh đụng chạm với chính quyền. Trong thập niên 80 và 90, khi chính quyền đàn áp dã man đạo Tin Lành thì người H’Mông cũng chỉ đến cầu cứu nhà thờ Tin Lành Hà Nội. Lần này các người dân tộc H’Mông bị đàn áp quá lâu và quá mức nên ra Hà Nội để cầu cứu trung ương. Lý do là các chính quyền địa phương tại 4 tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Bắc Cạn đã phá bỏ nhà tang của họ (có nơi gọi là “nhà táng“, “nhà đòn“). Khoảng 25 năm nay người H’Mông ở đó đã thay đổi tục lệ chôn cất.

Trước đây họ treo xác chết trong nhà rồi bày tiệc ra ăn uống với người chết trong 7 ngày. Sau đó mới đem xác đi chôn không có hòm ván. Bây giờ họ xây nhà tang chung để đưa quan tài vào đó cho thân nhân đến thăm viếng trong vòng 24 tiếng rồi đem chôn. Họ cho rằng làm như vậy là sạch sẽ và vệ sinh hơn, giống như người miền xuôi đang làm. Thế nhưng chính quyền địa phương lại đem quân đến phá nhà tang của họ, đánh đập, bắt bỏ tù họ và bắt họ trở lại phong tục cũ.

Họ về Hà Nội để đòi phải cho họ lập nhà tang, trả tự do cho những người bị bắt và phục hồi danh dự cho người đã dạy họ theo nếp sống mới là ông Dương Văn Mình. Nhưng sau mấy ngày họ kết luận là trên dưới cùng một giuộc cả, nghĩa là cấp trung ương, cấp tỉnh, huyện và xã đều chủ trương đàn áp giống nhau. Họ quyết tâm ở lại Hà Nội để đòi cho được một tờ giấy bảo đảm việc chấm dứt đàn áp.

Vụ này khá nghiêm trọng. Khoảng 100 người dân tộc H’Mông kéo về Hà Nội vào giữa tháng 10/2013 để biểu tình thì công an đến giải tán. Họ bị bắt và một số bị đánh mang thương tích nặng. Cô Hoàng Thị Vàng bị đánh đến nỗi 10 ngày sau vẫn không đi nổi một mình. Một số bị đưa đi mất tích. Có một số người Hà Nội đến phường Thụy Khuê để đòi lại tài sản của những người H’Mông đã bị công an đánh dã man, thí dụ ông Trương Văn Dũng bị đánh gẫy 3 xương sườn. Sau khi bị bắt đưa về nơi trú quán vào đêm ngày 23/10 vừa rồi thì có tin là người H’Mông đã trở lại Hà Nội.

2) Nỗi bức xúc của họ có liên quan gì đến đạo Dương Văn Mình không? đạo Dương Văn Mình như thế nào?

Theo những thông tin mà tôi tổng hợp được từ các nguồn của chính quyền và của người theo đạo Dương Văn Mình, thì đây là một nhánh đạo tin vào Thiên Chúa và Thiên Sứ của người H’Mông ở các tỉnh cực Bắc Việt Nam. Về thực hành, đạo Dương Văn Mình chủ trương thay đổi một số điều mà đạo này cho là hủ tục như ma chay, ép hôn, lễ lạc tốn kém.

Chính quyền Việt Nam không công nhận đạo Dương Văn Mình, xem là “tà đạo“, vì không phải Tin Lành mà cũng chẳng là Công giáo.

Chính quyền không cho người dân H’Mông chôn cất theo kiểu đạo Dương Văn Mình, dạy họ và bắt họ trở về phong tục cũ là phải treo thây ma 7 ngày 7 đêm, phải bón cơm cho xác chết, phải mổ bò mổ trâu ăn uống với xác chết trong 7 ngày rồi vác xác chết đi chôn không quan tài, rồi 13 ngày sau lại phải mổ trâu để cúng tà ma.

Ban đầu chính quyền tịch thu đồ đạc để trong nhà tang, đưa quân đến các buổi lễ tang ở đó để giải tán, đánh đập và bắt giữ người tham dự. Sau này chính quyền đem quân đến san thành bình địa các nhà tang được xây dựng trong vùng rừng núi hoặc giữa ruộng nương, đánh đập và bắt giữ những người H’Mông đứng xung quanh để bảo vệ nhà tang.

Tôi được xem nhiều video clip cho thấy người dân tỏ ra rất ôn hòa, kiên nhẫn và chỉ chống cự bằng cách xô đẩy khi bị công an và dân quân dùng vũ lực kéo họ đi. Hiện còn ít nhất 3 người trong đạo này đang bị chính quyền Việt Nam giam giữ là các ông Dương Văn Mình , Thào Quán Mua và Hoàng Văn Sang.

3) Việc đàn áp các người Hmông này có phải là đàn áp tôn giáo không? Với qui mô thế nào?

Thoạt nhìn người ta có thể nghĩ việc can thiệp vào chôn cất là một vấn đề về văn hóa phong tục. Tôi được đọc chỉ thị về việc “vận động đồng bào dân tộc H‘Mông thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang, việc cưới giai đoạn 2013 – 2015“ của tỉnh Yên Bái. Chỉ thị này chỉ trích các tập tục không phù hợp với nếp sống văn minh như không đưa người chết vào quan tài, tổ chức đám tang rườm rà, lộn xộn, tốn kém và kể thành tích là đã khiến người H‘Mông rút ngắn thời gian tổ chức đám tang (từ 6 – 7 ngày xuống còn 3 – 4 ngày), đưa thi hài vào hòm trong vòng 12 tiếng, chôn cất trong vòng 24 tiếng và giảm việc giết mổ nhiều trâu bò. Tôi nghĩ đạo Dương Văn Mình đáng phải được khen vì đã đi đúng và đi nhanh hơn chính sách mong muốn của nhà nước. Thực tế không được như vậy.

Cho nên việc bắt người H’Mông phải trở về các hủ tục trong cái gọi là “cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” hoặc “Quy ước nếp sống văn hóa của người Mông” chỉ là cái cớ và là phương tiện để “ngăn chặn, xóa bỏ“ tôn giáo Dương Văn Mình.

Bằng chứng rõ rệt nhất là chính quyền các cấp bắt người H’Mông phải ký giấy bỏ đạo Dương Văn Mình. Đây là sự xâm phạm đến quyền tự do có tôn giáo là một trong những nhân quyền tuyệt đối mà Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính Trị không cho phép chính quyền được giới hạn trong bất cứ hoàn cảnh nào. Chính quyền Việt Nam đã cho thành lập “Ban chỉ đạo 160“ để điều động bộ đội, công an và các đoàn thể trong MTTQ bắt ép người dân phải bỏ đạo tập thể. Theo một báo cáo của Tỉnh ủy đảng Cộng sản ở tỉnh Cao Bằng vào ngày 8/10/2012, chỉ trong vòng 4 tháng thực hiện chỉ thị của tỉnh ủy thì đã có 17 trong số 32 xóm ở Cao Bằng chịu “ký cam kết không theo Dương Văn Mình“. Ai không ký thì “chính quyền có biện pháp gọi hỏi, răn đe và xử lý nghiêm“. Đó là lý do khiến nhóm Cao Bằng là nhóm đông người nhất trong đoàn biểu tình H’Mông ở Hà Nội.

4) Việt Nam đã nộp đơn ứng cử vào Hội đồng nhân quyền LHQ. Việc đàn áp này có ảnh hưởng gì đến việc ứng cử không?

Muốn làm thành viên của Hội đồng nhân quyền LHQ thì Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn bảo vệ nhân quyền cao nhất. Do đó chính quyền Việt Nam phải thay đổi toàn bộ chính sách đối với các tôn giáo của người H’Mông. Cụ thể Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do có tôn giáo và quyền tự do thực hành tôn giáo của họ bằng cách chấm dứt mọi hình thức bắt giam, truy tố, sách nhiễu, phá nhà táng, và quan trọng hơn hết là chấm dứt chính sách bắt bỏ đạo đối với các tôn giáo họ như Vàng Chứ, Dương Văn Mình, … Rất tiếc tôi hiện chưa thấy Việt Nam có thiện chí này.

Việc đàn áp tôn giáo Dương Văn Mình nằm trong một loạt các vi phạm nhân quyền trầm trọng từ hồi đầu năm ngoái, tức là từ khi Việt Nam loan báo ý định muốn ứng cử vào Hội đồng nhân quyền LHQ. Nhưng chỉ trong khoảng 18 tháng qua, trong lãnh vực tôn giáo, đã có 70 tín đồ của các đạo như Hội đồng Công luật Công án Bia Sơn, Công giáo, Tin Lành, Phật giáo, Phật giáo Khmer Krom và Phật giáo Hòa Hảo bị xử tổng cộng một án tù chung thân, 532 năm tù và 200 năm quản chế. Đó là những bằng chứng không thể chối cãi về thành tích nhân quyền rất tồi tệ của Việt Nam.

Trong phiên họp của Đại hội đồng LHQ vào ngày 12/11/2013 tới đây ở New York các thành viên của LHQ nên cân nhắc xem họ có nên bỏ phiếu cho một ứng cử viên có nhiều hành động thách thức quốc tế trong thời gian chuẩn bị nộp đơn như vậy không.

Xin cảm ơn ông Vũ Quốc Dụng

Vũ Quốc Dụng – Frankfurt – Đức – 10/11/2013

10/11/2013

*****

FB của Blogger Đặng Phương Bích (25-12-2013): “Trước đây tui có viết về sự “Độc quyền tử tế”, chỉ việc chính quyền đã ko giúp bà con H’mong xóa bỏ hủ tục ma chay tốn kém, mất vệ sinh, mà thấy có người đứng ra thuyết phục được bà con thực hiện “Nếp sống văn minh” thì (chính quyền) khó chịu, phá bằng được với lý do truyền đạo, ra điều cái văn minh ấy phải do mình nghĩ ra cơ…chính quyền muốn độc quyền cái sự tử tế đó…”

Chính quyền muốn dân phải mang ơn đảng.  Họ muốn dân phải tôn sùng mang ơn các chính sách của đảng, mang ơn các lãnh tụ đảng CSVN.  Họ không muốn dân tôn sùng, hay mang ơn ai khác.  

Thí dụ: bạn muốn cho trường học 30 máy computer, trước khi cho, bạn phải lên trình báo với UBND Phường Xã tại địa phương có trường học ấy. Bí thư phường/xã sẽ báo cáo bí thư huyện (quận). Sau đó, vào ngày đến trường giao computer, sẽ có bí thư huyện, và chủ tịch UBND phường xuống đọc diễn văn trước, họ sẽ nói rằng nhờ sự vận động của họ, nên bạn mới tặng cho trường computer…Thế là ban giám hiệu trường và học sinh cũng mang ơn đảng và chính quyền!

Khi đi cứu trợ nạn nhân bão lụt, các bạn cũng phải thông báo trước cho chính quyền địa phương (phường, xã), rồi họ cùng với bạn đi phát quà, tiền…

Trên đây là chiến dịch giành dân trong công tác trí vận do Mao Trạch Đông đẻ ra, và đảng CSVN tuân theo răm rắp. 

Ông Dương Văn Mình người H’Mông đã vô tình không hiểu biết sự độc quyền của đảng, sự muốn dân mang ơn đảng. Nếu trước đây, ông thông báo cho đảng ủy xã và UBND xã cùng với ông đi vận động đồng bào H’Mông làm nhà lễ tang, tạo cơ hội cho đảng và UBND xã có chút công lao, thì ông đã không bị ở tù như hiện nay và các nhà lễ tang cũng không bị công an đập phá tan tành. 

Posted in Tôn Giáo | Leave a Comment »

►Từ ép cung cá nhân đến ép cung quốc gia- Thông qua hiến pháp đảng CS tự khẳng định là nhóm lợi ích bao trùm nhất?

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2013

Chuyện sửa đổi hiến pháp chỉ là thủ đoạn bịp và lừa gạt của nhà Sản nhằm lôi kéo sự chú ý của các nước ngoài để xin vào hiệp định thương mại TPP, xin vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ. Với bạo lực của hai nhóm (công an và quân đội) cam tâm làm tay sai cho Đảng CSVN, họ không coi các kiến nghị sửa đổi hiến pháp và sự phản đối cuả người dân trong nước ra gì. Sẽ không có gì thay đổi trong hiến pháp khi quốc hội biểu quyết vào ngày mai, nên đừng trông mong.  

Nay, kết quả của hai chuyện ấy hầu như đã rõ, nên màn kịch dự thảo hiến pháp 2013 phải đóng lại. Sẽ không có một sự thay đổi nào như bài viết của tác giả Thanh Hương ở dưới đây. 

——————————————————————–

Từ ép cung cá nhân đến ép cung quốc gia

Theo blog Hiệu Minh

26-11-2013

Đồng ý hay không?

Đồng ý hay không?

Mấy tuần nay, vụ ông Nguyễn Thanh Chấn bị án phạt tù oan đã gây chấn động dư luận. Có kẻ nhận tội nên ông được tha sau 10 năm ngồi tù. Dư luận cả nước băn khoăn, tù nhân này có bị nhục hình, bức cung hay không. Ngay trong Quốc hội, nhiều người phẫn nộ với cách hành xử của tòa án và các điều tra viên.

Khi biết các điều tra viên đều chối bay biến, người ta tự hỏi, một người lương thiện, bỗng nhận tội để tự vào tù. Đứa trẻ con biết đọc, biết viết cũng có thể trả lời được, chẳng cần đến lời giải thích vòng vo của Chánh án Tối cao Trương Hòa Bình.

Thế giới đầy những chuyện tù oan, từ xa xưa đến giờ và sẽ còn tồn tại mãi. Xứ tam quyền phân lập như Mỹ vẫn có người bị án oan. Nhưng không thể dựa vào đó mà nói, người ta sai, mình có quyền làm sai theo. Thấy kẻ khác giết người mà mình vác súng bắn, bởi “có người làm thế nên tôi bắt chước”. Chỉ có trộm cắp, côn đồ đường phố mới lý luận thế.

Tại các quốc gia tiến bộ, pháp luật nghiêm minh, khi phát hiện ra sai như thế, người ngồi ghế quan tòa, cảnh sát điều tra, hoặc là mất việc, nặng hơn là đi tù nếu phạm tội ép cung, nhục hình, hoặc phải đền cả triệu đô la. Hệ thống tòa án độc lập và luật sư có quyền tranh tụng đến cùng để bảo vệ thân chủ, nên án oan sai bớt đi rất nhiều.

Xã hội văn minh sinh ra “tam quyền phân lập” và báo chí là quyền lực thứ tư “chõ mũi” vào ba nhánh quyền lực trên, để đảm bảo “tam quyền” không thành nhóm mafia do thông đồng với nhau vì lợi ích nhóm. Chuyện rõ như ban ngày và chẳng cần chứng minh tính ưu việt của xã hội dân chủ. Nếu có cái nhìn dài hạn trong phát triển không tuyệt đối hóa sự lãnh đạo của bất kỳ ai.

Tại Việt Nam, như TBT Nguyễn Phú Trọng nói “Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng”, thì chẳng có tam quyền, mà đảng đứng trên tất cả. Báo chí đóng vai trò tuyên truyền cho đường lối của đảng mà không thể phản biện.

Độc đảng tạo nên quyền lực tuyệt đối, dẫn đến quyền lực bị tha hóa, chính là nguyên nhân làm cho khối Đông Âu đã sụp đổ, kéo theo Liên Xô tan vỡ. Thời internet đã dần bạch hóa những khiếm khuyết và lỗi lầm do hệ thống này gây ra. Các cuộc cách mạng mầu nổ ra, những kẻ tàn bạo bị xử bắn, bị dân đập chết trên đường phố, xưa kia xử án dân bằng những phiên tòa kangaroo nay họ ngồi sau song sắt.

Nếu Hiến pháp được thông qua với điều 4 “Đảng lãnh đạo toàn diện” được giữ nguyên tại kỳ họp Quốc hội này thì các vị “Yes – Đồng ý” sẽ giúp cho “quyền lực tuyệt đối” được tiếp tục. Từ khi đảng giành chính quyền tới này, bất kỳ ai nói trái lời đảng dù nhiều lúc đảng sai nghiêm trọng, đều bị dọa dẫm, bị bắt, bị tù đầy, dân phải im mà đồng ý, bởi cơ chế phản biện xã hội không tồn tại. Đó kiểu “ép cung” 90 triệu người.

Ông Nguyễn Thanh Chấn

Quốc hội từng bỏ phiếu “lấy được” cho Hà Nội mở rộng, bắt dân Mường Mán thành người Thủ đô, bauxite Tây Nguyên là chủ trương lớn, và nhiều dự án trời ơi khác. Kết quả thế nào, chắc những người “Yes” còn nhớ.

Ông Nguyễn Thanh Chấn bị ép cung, bị dọa nạt và hạ nhục nên phải nhận tội, suốt 10 năm sống trong ngục tù. Đó là thảm họa cá nhân và nền pháp lý.

Nhưng chuyện gì xảy ra nếu một đất nước bị “ép cung” bởi vài điều trong Hiến pháp. Ở tầm quốc gia, khi nhận ra sai lầm, thời gian không phải là một thập kỷ như ông Chấn ngồi sau song sắt.

Các đại biểu Quốc hội hãy nghĩ một chút trước khi chọn nút Yes or No – Đồng ý hay Không việc sửa đổi Hiến pháp mà thực chất là chẳng thay đổi chút nào.

HM Blog. 25-11-2013

——————————————————————

Thông qua hiến pháp đảng CS tự khẳng định là nhóm lợi ích bao trùm nhất?

Thanh Hương   26-11-2013

Tác giả gửi tới Dân Luận

Hiến pháp mới có những khẳng định, nếu bị thông qua, đảng sẽ trở thành nhóm lợi ích bao trùm nhất, cao nhất và ít chính nghĩa nhất.

Rất mong đảng CSVN cân nhắc lợi-hại, trước hết cho bản thân đảng; rồi cân nhắc cả lợi- hại cho dân, chớ nên để quốc hội gồm 90% đảng viên thông qua dự thảo hiến pháp này.

Khẳng định địa vị cai trị vĩnh viễn

Trên thế giới có 200 nước, có bao nhiêu nước khẳng định một đảng nào đó là đảng cầm quyền vĩnh viễn? Có đấy, đó là hiến pháp Liên Xô. Nhưng Điều 6 của Hiến Pháp này vẫn không duy trì được địa vị cai trị của đảng CS. Điều 6 trở thành vô duyên, hài hước, lố bịch, khi nó không bảo vệ được quyền cai trị vĩnh viễn như ĐCS LX mong muốn.

Nay, đã sang thiên niên kỷ II, thế kỷ XXI, vẫn còn một nước ghi trong điều 4 nội dung tương tự, nhưng hài hước gấp đôi về một số chi tiết.

Quyết giữ lại điều này, đảng đã nhìn ra địa vị rất bấp bênh của mình. Mà bấp bênh thật.

Nào là “một bộ phận không nhỏ đảng viên suy thoái tư tưởng, lý tưởng và lối sống”; nào là chỉnh đốn đảng từ năm 2000 đến nay vẫn “càng chỉnh, càng đốn”; nào là biết rằng tham nhũng đang là nguy cơ phế truất vai trò cai trị của đảng nhưng “càng chống, càng lan”; nào là bất cứ vụ tham nhũng nào bị xét xử đều lộ mặt vai trò “chủ đạo” của các đảng viên…

Khẳng định vị trí ngồi trên cả 3 quyền cơ bản

Một đặc điểm của chế độ phong kiến là mọi quyền hành đều nằm trong tay vua. Chế độ tư bản đã phân lập các quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp. Cứ tưởng chế độ phong kiến độc tài, phản động đã vĩnh viễn lùi sâu vào quá khứ. Đàng CS VN cự tuyệt tam quyền phân lập. Như vậy khác gì phong kiến? Mấy ai hi vọng rằng đảng CS sẽ cho thảo luận rộng rãi về đề tài này?

Khẳng định áp đặt tư tưởng cho toàn xã hội: chủ nghĩa Mác-Lê

Với áp đặt này, Việt Nam chỉ có một con đường phát triển. Đó là “tiến lên CNXH”. Đây là chủ nghĩa được mô tả trên giấy với mọi hứa hẹn “tốt đẹp”. Tới cuối thế kỷ chưa chắc đã thành hiện thực, nhưng cứ gán XHCN vào quốc hiệu. Hài hước cũng có, nhưng chủ yếu là để khẳng định: Chỉ có đảng CS mới “chính danh” đưa dắt dân VN “đi lên”. Khốn nỗi, nếu CNXH chỉ là ảo ảnh của trí tưởng tượng thì sự “chính danh” chỉ là tự vỗ ngực của một đầu óc hoang tưởng.

Khẳng định quân đội và công an “trung với đảng”

Ngoài chủ định nắm lấy vũ lực, để đe dọa, đảng cũng bộc lộ một mối lo. Lo là phải. Khi chế độ xô-viết sụp đổ là lúc nó sở hữu đội quân hàng chục triệu người, được vũ trang rất hiện đại.

Khẳng định quyền nắm giữ mọi chức vụ trong hành pháp, lập pháp, tư pháp, kinh tế, xã hội, đoàn thể…

Từ các khẳng định trên, đảng nắm quyền kinh tế. Và là nguyên nhân của tham ô, lãng phí.

Khẳng định quyền quản lý đất đai

Đây là quyền kinh tế ngang vua chúa ngày xưa. Nó gồm 4 quyền thành tố:

– Quyền ban phát (tạm cấp) đất. Nói cụ thể, đó là quyền cấp sổ đỏ. Ai nhận sổ đỏ, có nghĩa là đất đang sở hữu bỗng nhiên biến thành đất của “nhà nước”, mà đương sự chỉ còn “quyền sử dụng”. Có thể bị mất bất cứ lúc nào

– Quyền thu hồi. Đây là cách dùng từ rất ít lương thiện. Dẫu là thu hồi, người dân vẫnđược bồi thưởng. Bồi thường bao nhiêu? Xin xem tiếp

– Quyền định giá. Ví dụ, năm 2014, Nhà Nước định giá đất ở thủ đô cao nhất là 81 triệu/ m2; mặc dù giá thị trường có thể nhiều trăm triệu. Nếu không bằng lòng?

– Quyền cưỡng chế.

Khẳng định kinh tế nhà nước là chủ đạo

Cũng là quyền kinh tế khổng lồ. Thua lỗ, lãng phí, và nhất là tham ô, đều đạt kỷ lục trong lĩnh vực này.

Kêu gọi

Nếu còn lý trí để nhận ra mối nguy cơ về sự tồn tại của bản thân và còn thương dân, sợ dân…, xin đảng hoãn thông qua cái dự thảo hiến pháp rất lạc hậu này

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Nợ công và nợ xấu sẽ tiếp tục đè nặng lên những thế hệ tương lai của Việt Nam ?

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2013

Nhà nước cộng sản chỉ sụp đổ bởi lý do tài chánh, lạm phát, kinh tế suy thoái. Sự cai trị của đảng cộng sán chỉ chấm dứt khi nhà nước không còn tiền chi trả lương cho công nhân viên, quân đội, công an nhân dân, và hàng triệu các đảng viên. Liên Xô và các 16 nước XHCN ở Âu châu-đã sụp đỗ theo cách ấy vào năm 1989-1991- mặc dầu đã nhiều lần in tiền đưa vào nền kinh tế như nhà Sản ở VN đang làm trong thời gian qua.   

Nhà nước đang trả lương cho gần 9 triệu công nhân viên chức, và 8,8 triệu người có công với cách mạng. 

————————————–

Thụy My& Phạm Chí Dũng

Theo RFI 

Đếm tiền tại một ngân hàng ở Hà Nội.

Reuters

Theo các con số chính thức, nợ công của Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 55,4% tổng sản phẩm nội địa (GDP) nghĩa là còn trong ngưỡng an toàn. Tuy nhiên hiện nay ngay báo chí nhà nước cũng đã đặt dấu hỏi về con số này, và đưa ra tỉ lệ nợ công lên đến 95% GDP. Trong khi đó, vừa rồi Chính phủ đã đề nghị Quốc hội cho nâng trần bội chi ngân sách lên 5,3% và phát hành thêm 170.000 tỉ đồng trái phiếu. Theo tính toán của một tờ báo trong nước, cứ mỗi ba tháng Việt Nam phải trả nợ một tỉ đô la. 

Phải chăng ngân sách Việt Nam đang cạn kiệt, và hậu quả sẽ như thế nào khi nợ nần tứ phía, tham nhũng lan tràn ? Trong tạp chí kinh tế hôm nay, RFI Việt ngữ đã trao đổi về vấn đề này với tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng ở Việt Nam.  (GDP Việt Nam năm 2012 ước đạt 136 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.540 USD)

RFI : Như anh đã biết, nợ của Việt Nam nếu tính cả những doanh nghiệp mà chủ yếu là của nhà nước thì lên tới 95% GDP, có nghĩa là vượt ngưỡng an toàn mà ngưỡng này được xem là 60%. Anh nhận xét tình hình này như thế nào ? 

TS Phạm Chí Dũng : Tôi xin nói trước về vấn đề ngưỡng an toàn so với GDP của Việt Nam. Hiện nay theo một số quan chức Việt Nam thì ngưỡng an toàn nằm ở mức 70% chứ không phải 60%. Trong khi đó theo ngưỡng an toàn tiêu chuẩn quốc tế về nợ công trên GDP, thì nợ công là 65%. Nhưng thật ra hiện nay đang có mâu thuẫn rất lớn về đánh giá giữa hai luồng quan điểm, khác nhau hoàn toàn về vấn đề nợ công trên GDP.

Luồng quan điểm thứ nhất thuộc về chính phủ Việt Nam với màu sắc luôn luôn tô hồng, theo như các báo cáo của chính phủ. Đó là tỉ lệ nợ công trên GDP hiện nay chỉ chiếm 55,4%, mà nếu vay nợ thêm thì tỉ lệ nợ công trên GDP cũng chỉ khoảng 60% tức là vẫn còn an toàn, dưới mức 70% cho phép.

(nợ công hiện nay là 78 tỷ đô la/ GDP của VN là 136 tỷ USD

nợ và nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước – hiện nay lên tới 1,3 triệu tỉ đồng Việt Nam- tức là khoảng 65 tỉ đô la 

gộp chung lại, VN hiện mắc nợ 143 tỷ đô la)

 

Trong khi đó theo một quan điểm độc lập khác thì tỉ lệ nợ công quốc gia trên GDP Việt Nam hiện nay tới 95%. Đánh giá này được nêu ra tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân tại Nha Trang vào tháng 4/2013. Một số chuyên gia phản biện độc lập – tôi nhớ là ở Ba Lan, và kể cả ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã rất bức bối, và lần đầu tiên nêu ra tỉ lệ nợ công hiện nay lên tới 95% GDP.

Với điều kiện tính luôn cả nợ và nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước – hiện nay lên tới 1,3 triệu tỉ đồng Việt Nam, tức là khoảng 65 tỉ đô la – lại không được tính vào nợ công quốc gia của Việt Nam.

Nghịch lý là như vậy. Mà khi không tính vào thì tất nhiên tỉ lệ nợ công/GDP của Việt Nam chỉ có 55,4% thôi. Nhưng nếu tính tất cả nợ công của kinh tế nhà nước thì tỉ lệ đó phải lên tới ít nhất 95% GDP.

Còn theo đánh giá của một chuyên gia quốc tế nữa thì tỉ lệ nợ công/GDP không phải là 95% nữa mà là 106%. Đó là một con số khủng khiếp, và điều đó nhắc chúng ta nhớ lại tỉ lệ nợ công/GDP của Philippines trước đây. Nợ công của Philippines vào thời Tổng thống Marcos – được coi là một trong những đời tổng thống tham nhũng nhất của Philippines – lúc đó là 120%, tương đương 120 tỉ đô la, và toàn bộ GDP hàng năm của Việt Nam hiện nay.

Và nếu như mâu thuẫn ở Việt Nam không thể giải quyết được thì người ta đành phải chấp nhận là có một sự chênh biệt tới 50%, giữa báo cáo chính phủ với những đánh giá phản biện về thực tế, hiện tồn ở Việt Nam hiện nay. Do đó cần phải xem lại rất kỹ, rất sâu về nguyên nhân gây ra ung họa ở đâu. Chính là do các tập đoàn nhà nước, chẳng hạn như Vinashin, Vinalines…Mà bản thân những tập đoàn như Vinashin thì chúng ta đã biết họ nợ ít nhất là 84.000 tỉ đồng Việt Nam, tương đương 4 đến 5 tỉ đô la, tức khoảng 6% GDP của Việt Nam.

Đó chỉ mới là một tập đoàn. Còn nhiều tập đoàn khác – chẳng hạn đã xuất hiện những cái tên như Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, kể cả Tập đoàn Điện lực Việt Nam nữa. Tập đoàn này cho tới nay trở thành quán quân về nợ ngân hàng, với tổng số 118.000 tỉ đồng, là tập đoàn nhà nước được các ngân hàng ưu ái vô cùng, thuộc loại được ưu ái nhất Việt Nam.

RFI : Thưa anh, trong tình hình nợ công đã cao như vậy mà còn phải gánh thêm những món nợ – dù Nhà nước không bảo lãnh. Theo luật quản lý nợ công thì những khoản nợ này không được tính vào nợ công quốc gia, nhưng nếu chính phủ phát hành trái phiếu thì cũng là một cách làm tăng nợ lên ?

Thực chất việc phát hành trái phiếu chỉ là dùng giấy để mua nợ chứ không phải là dùng tiền thật mua nợ. Cho nên đó là một thủ pháp mà tục ngữ Việt Nam gọi là « đánh bùn sang ao », mà thực tế không giải quyết bất kỳ vấn đề nào, một nội dung nào về vấn đề nợ xấu. Có nghĩa là nợ xấu vẫn y nguyên ! Vậy thì phát hành trái phiếu là cho ai ?

Có hai kênh để phát hành trái phiếu. Một là kênh phát hành nội địa cho dân chúng, cho các doanh nghiệp, ngân hàng. Thứ hai là kênh phát hành quốc tế. Chẳng hạn trường hợp tập đoàn tàu thủy Việt Nam Vinashin, chính phủ đã có quyết định cho tập đoàn này phát hành 600 triệu đô la trái phiếu quốc tế.

Như vậy là cũng dùng giấy để giải quyết nợ. Nhưng vấn đề còn lại là có bán được trái phiếu hay không. Tôi không cho là có nhiều hy vọng lắm về việc doanh nghiệp và các tập đoàn nước ngoài kỳ vọng vào việc Vinashin có thể phục hồi một cách vững chắc, để họ có thể mua trái phiếu quốc tế của Vinashin.

Điều đó cho thấy kênh phát hành trong nước hiện nay cũng đang bế tắc, vì gần như tiền không vào lưu thông và tình trạng găm giữ tiền trong dân chúng rất phổ biến, thị trường bất động sản đóng băng. Đó là một minh chứng cực kỳ điển hình. Cho nên việc phát hành trái phiếu nội địa có nhiều khả năng không thành công, các ngân hàng cũng như vậy.

Vấn đề còn lại là nếu tính đúng tính đủ theo năm tiêu chí của Liên Hiệp Quốc về nợ công thì phải cộng luôn cả nợ của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước không xử lý được vào nợ công. Lúc đó tỉ lệ nợ công sẽ không phải là 55% nữa mà sẽ lên ít nhất là 95% GDP.

Nếu như Nhà nước Việt Nam với chính sách hiện nay cứ tiếp tục vay những nguồn vốn được coi là tài trợ quốc tế, chẳng hạn như ODA từ Nhật Bản v.v…dù với lãi suất ưu đãi, vẫn là một gánh nặng đổ lên đầu con cháu. Đời con, đời cháu sẽ tiếp tục phải trả, chứ không phải là thế hệ lãnh đạo hiện nay.

RFI Ngay cả trong trường hợp trái phiếu phát hành để hỗ trợ cho những tập đoàn quốc doanh lỗ lã có bán chạy đi nữa, nhưng đây không phải là dòng vốn rót vào sản xuất – doanh nghiệp tư nhân không vay được – thì đây có phải là hiện tượng lành mạnh không ?

Đó không phải là một hiện tượng lành mạnh đối với khu vực sản xuất, và đối với thực lực của nền kinh tế Việt Nam. Vì đó chẳng qua, tôi nhắc lại, là một thủ pháp để chuyển nợ thành một tờ giấy nào đó mà thôi. Và giấy xét cho cùng cũng chỉ là giấy, vì trái phiếu không có ý nghĩa gì ; trong trường hợp phát hành quá nhiều trái phiếu thì vô hình chung lại đẩy mạnh lạm phát. Và nếu không phát hành trái phiếu mà in thêm tiền cũng là lạm phát.

Cho nên ở đây chính phủ buộc phải chọn một phương cách tạm gọi là tương đối an toàn là phát hành trái phiếu. Nhưng tôi muốn nói thêm một khía cạnh thế này : việc phát hành trái phiếu mà không phải dùng tiền mặt để mua nợ xấu cho thấy ngân quỹ Việt Nam đã eo hẹp, và có nhiều dấu hiệu cạn kiệt đến mức như thế nào !

Trong cuộc suy thoái từ năm 2008 đến đầu 2009, tháng 3/2009 chính phủ Việt Nam đã tung ra một gói kích cầu khoảng 143.000 tỉ đồng, tương đương 8 tỉ rưỡi đô la theo tỉ giá hối đoái vào thời điểm đó. Đây là một con số khổng lồ và đã vực dậy nền kinh tế, nhưng đặc biệt vực dậy các thị trường đầu cơ như chứng khoán và bất động sản, còn nền kinh tế chỉ ăn theo những thị trường này mà thôi.

Tuy nhiên trong suốt ba năm suy thoái vừa qua, điều đáng ngạc nhiên là tiền đi đâu ? Cuối cùng thì các doanh nghiệp đã không thể kỳ vọng là Nhà nước có thêm một gói kích cầu nào nữa. Gói kích cầu đó đã được hy vọng vào năm 2012, khi nền kinh tế quá khó khăn. Nhưng đến năm nay thì gần như đã chấm dứt hy vọng, vì không có bất kỳ một tín hiệu nào về việc chính phủ có thể tung ra một gói kích cầu. Từ đó người ta mới đánh giá thế này : Chính phủ hết tiền rồi !

Các doanh nghiệp nói như vậy, và thực chất là nguồn tiền quá eo hẹp. Huy động mãi mới chỉ được gói kích thích 30.000 tỉ đồng để hỗ trợ cho thị trường bất động sản mà thôi.

Điều đó cho thấy việc tung ra trái phiếu là một kênh chẳng đặng đừng. Một kênh bất đắc dĩ mà chính phủ phải thực hiện, và cuối cùng cũng chỉ là một việc gần như vô nghĩa, tức là không giải quyết thực chất vấn đề nợ xấu.

Liên quan đến việc này, tôi cũng muốn nói thêm là công ty Quản lý Tài sản Quốc gia, viết tắt là VAMC được thành lập vào đầu năm 2013, có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là xử lý nợ xấu đang tồn đọng tại các doanh nghiệp và ngân hàng. Nhưng sau một hồi bàn thảo rất gay cấn, cuối cùng vốn điều lệ của VAMC chỉ có 500 tỉ mà thôi. Trong khi nhiệm vụ của VAMC là phải giải quyết ít nhất 100.000 tỉ đồng nợ xấu, theo con số báo cáo !

Với vốn điều lệ chỉ có 500 tỉ mà phải giải quyết gấp hai chục lần số nợ xấu thì làm sao có thể được ? Thế là cuối cùng người ta cũng đành ngã sang một phương án như chính phủ đang thực hiện hiện nay. Có nghĩa lại tiếp tục phát hành trái phiếu. VAMC sẽ có một loại trái phiếu đặc biệt, và dùng loại trái phiếu đó để trả lại cho các ngân hàng – những ngân hàng đang ôm nợ xấu. Và các ngân hàng đó phải chuyển lại một số tài sản thế chấp và nợ xấu cho VAMC.

Cho nên trong mấy tháng vừa rồi, có những báo cáo đánh giá là tổ chức này (VAMC) đã mua được 30 đến 35.000 tỉ đồng nợ xấu. Nhưng điều đó có ý nghĩa như thế nào ? Hay chỉ thuần túy là một việc diễn ra trên giấy và chuyển từ tài khoản này sang tài khoản kia. Còn thực chất nợ xấu vẫn là một hằng số, nếu không muốn nói là tăng lên theo thời gian và không hề thay đổi.

Thậm chí theo một báo cáo mới nhất của Ngân hàng Nhà nước – buộc phải báo cáo trước Quốc hội kỳ họp thứ 6 khóa 13, thì Ngân hàng Nhà nước đã phải làm một động tác, một văn bản được coi là « đảo nợ » và chuyển 300.000 tỉ đồng từ nợ xấu lên nhóm nợ đỡ xấu hơn. Như vậy trái phiếu không giải quyết được gì cả.

RFI Mới đây ông Trương Văn Phước, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia đã đánh giá chuyện anh vừa nói là xử lý nợ xấu bằng cách « ngậm sâm ». Tức là tổ chức VAMC chỉ « cấp cứu » thôi, chứ không phải là xử lý nợ xấu triệt để. Muốn triệt để phải chờ sự phục hồi của nền kinh tế, mà theo ông là khoảng hai, ba năm tới. Theo anh vấn đề này có thể giải quyết thế nào ?

À, đây là một ẩn số cực kỳ lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Nợ xấu hiện nay đang là vấn đề cốt tử để quyết định vận mệnh của nền kinh tế Việt Nam, và có thể cả vận mệnh của nền chính trị Việt Nam trong tương lai không quá xa !

Ông Trương Văn Phước trước đây từng là Tổng giám đốc Eximbank. Nhận định của ông theo tôi độ khách quan chỉ khoảng một nửa thôi ,vì ông vẫn là một quan chức.

Muốn đánh giá một cách thực chất vấn đề nợ xấu của Việt Nam và thời gian để giải quyết nợ xấu, có lẽ phải dựa vào những ý kiến độc lập hơn nhiều. Nhưng dù sao tôi cho là ý kiến của ông Trương Văn Phước từ trước tới nay vẫn là một trong những ý kiến tương đối sâu sắc và có thể tham khảo được.

Vấn đề ông đưa ra là từ hai tới ba năm có thể giải quyết được nợ xấu, theo tôi là quá lạc quan. Đó là theo lộ trình của Nhà nước và những điều mà Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã tuyên bố trước Quốc hội, đến khoảng năm 2014-2015 có thể giải quyết được nợ xấu.

Nhưng theo một chuyên gia khác là ông Bùi Kiến Thành, một chuyên gia Việt kiều và có thể nói là một người khách quan nhất trong lãnh vực tài chánh ngân hàng, thì thời gian để giải quyết nợ xấu phải mất ít nhất 5 năm, tính từ năm 2012. Đánh giá của ông Bùi Kiến Thành được đưa ra vào năm 2012. Có nghĩa là sớm nhất phải đến 2017 mới có thể giải quyết được.

Như vậy đã có một sự chênh biệt khá đáng kể, ít nhất hai, ba năm giữa đánh giá của một chuyên gia phản biện độc lập với khối ngân hàng nhà nước về thời gian giải quyết nợ xấu. Còn giải quyết như thế nào, thực chất hiện nay VAMC không thể gọi là một phép mầu, một cây đũa thần.

Và đúng là như ông Trương Văn Phước đã dùng từ bóng bẩy nhưng ý nhị, là chỉ cho ngậm sâm. Đối với những cơ thể đã ốm o, dặt dẹo và thường là mang trọng bệnh thì mới cho ngậm sâm. Nhưng ngậm sâm chỉ có tác dụng trong một thời gian ngắn, sau đó nếu không giải quyết được gì nữa, lúc đó cơ thể sẽ lờn thuốc. Sẽ không có bất kỳ một loại sâm, một loại thuốc quý nào có thể làm cơ thể hồi phục. Lúc đó sẽ lụn bại, sụp xuống rất nhanh.

RFI : Thưa anh, báo cáo kinh tế vĩ mô 2013 mang tiêu đề « Thách thức còn ở phía trước » kêu gọi cổ phần hóa triệt để doanh nghiệp nhà nước, mở rộng tham gia của tư nhân, đưa ra lộ trình doanh nghiệp nhà nước hiện giờ 25-27% GDP xuống dưới 10% vào năm 2020. Anh thấy việc này có khả thi không ?

Thực ra tôi không quan tâm lắm tới chính sách cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước cho tới thời điểm này. Vì việc đó đã làm từ lâu và không có kết quả, chỉ theo tính chất phong trào mà thôi, và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước không mấy quan trọng. Còn những doanh nghiệp quan trọng thì Nhà nước vẫn nắm. Cho nên điều đó không tạo ra ý nghĩa nhiều lắm trong chiến dịch cổ phần hóa suốt mười mấy năm vừa rồi.

Chẳng hạn những lãnh vực như xăng dầu, điện lực độc quyền đến như thế nhưng Nhà nước vẫn không cổ phần hóa. Mà không cổ phần hóa thì giá chỉ có tăng mà không có giảm. Còn những lãnh vực cổ phần hóa như bưu chính thì như chúng ta đã thấy, trong thời gian khá dài giá đã giảm đáng kể, chẳng hạn giá cước sử dụng internet.

Nếu không bỏ độc quyền thì việc cổ phần hóa sẽ không có ý nghĩa lắm. Thành thử việc cổ phần hóa sẽ diễn ra như thế nào trong thời gian sắp tới, theo tôi không quan trọng bằng việc phải cải cách doanh nghiệp nhà nước một cách thực chất bằng việc xóa bỏ, hoặc ít nhất là cũng xóa dần thế độc quyền của một số doanh nghiệp, chẳng hạn như những doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, điện, nước thì mới có ý nghĩa. Chứ còn vẫn mãi độc quyền, không có một cải cách nào cả, thì sẽ khó thể tham gia vào những định chế đa phương thương mại quốc tế, và cũng không phát huy được nội lực của khối doanh nghiệp tư nhân trong nước.

RFI : Thưa anh, vừa rồi một nhà kinh tế kiêm blogger là Alan Phan cho biết ông không tin vào một chính sách nào của Nhà nước nữa, vì thật ra các tập đoàn lợi ích đã lũng đoạn rồi. Ông cho rằng với những gánh nặng doanh nghiệp nhà nước, nợ xấu ngân hàng, ngân sách, thì Việt Nam dù có tham gia TPP đi nữa thì cũng không thể trở thành một con rồng trong thời gian tới…
Có hai vấn đề. Một là lòng tin, và hai là hiệu quả TPP.

Thứ nhất là lòng tin, thì đánh giá của ông Alan Phan theo tôi cơ bản là đúng. Tại vì hiện nay rất nhiều doanh nghiệp đã than thở về chuyện mất lòng tin hoàn toàn vào thị trường, và chẳng còn mấy lòng tin vào Nhà nước. Theo thăm dò chính thức, có ít nhất 50-60% doanh nghiệp đã không còn lòng tin vào những chính sách của Nhà nước nữa rồi.

Nhưng theo tôi thì tỉ lệ này vẫn còn rất khiêm tốn. Vì khi nói chuyện với một số doanh nghiệp thì tôi nhận ra rằng nếu đưa ra những tiêu chí rõ ràng để khảo sát tâm lý, thăm dò ý kiến của họ và phân tích cho rõ ràng, thì có thể nói họ hầu như không có niềm tin. Tôi cho rằng ít nhất 80-85% doanh nghiệp và người dân không còn tin vào những chính sách kinh tế của Nhà nước nữa.

Nhất là sau ba năm suy thoái và để cho các nhóm lợi ích, đặc biệt là nhóm lợi ích ngân hàng, bất động sản, chứng khoán và vàng bạc lũng đoạn hoàn toàn thị trường. Cho nên bây giờ mới để xảy ra một trận lũ, hậu quả, dư chấn của một cuộc khủng hoảng gần như là ngổn ngang, phơi bày tất cả những gì trần trụi ra và đang phải giải quyết mà chúng ta vừa đề cập tới. Hậu quả lớn nhất của nó là vấn đề nợ xấu.

Vấn đề thứ hai là TPP. Tôi còn nhớ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có đề cập về lòng tin chiến lược. Lòng tin chiến lược là gì ? Điều đó đã được sách vở nói đến, kể cả một cuốn sách mô tả về hội nghị Shangri-la và những lời phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rất là chi tiết. Nhưng ở đây lại liên quan đến lòng tin đối với Chính phủ, với chính sách của Nhà nước.

Khi mà lòng tin của các doanh nghiệp và người dân không còn bao nhiêu, thì liệu có nổi một lòng tin chiến lược bền vững hay không ? Hay đó chỉ là một câu sáo rỗng và rất xa vời ? Nói chung là một ảo ảnh hoàn toàn không thể hiện thực hóa.

Mà không hiện thực hóa thì chúng ta cần phải nhìn lại điều đang muốn nhấn sâu vào : TPP. Việt Nam tham gia vào TPP để làm gì ? Để có thể đạt được lợi thế nhiều nhất chăng ? Hay là chúng ta phải nhìn lại cả một quá trình nền kinh tế Việt Nam tham gia vào định chế WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) suốt bảy năm, nhưng đã gần như không có hiệu quả, ngoài một số chỉ tiêu xuất khẩu.

Mà xuất khẩu tăng về lượng nhưng lại không tăng giá, và thực chất vẫn tạo ra một sự phân hóa rất lớn về mặt thu nhập giữa các tầng lớp người dân Việt Nam. Đặc biệt là người nông dân Việt Nam cho đến nay đang phải lãnh hậu quả, dù sản lượng lúa đạt nhưng giá lúa vẫn thấp.

Tôi cho là trong thời gian sắp tới có nhiều khả năng Việt Nam sẽ được chấp nhận tham gia vào Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương, xuất phát từ tín hiệu Nhà nước Việt Nam được chấp nhận vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Tuy nhiên, tham gia vào TPP nhưng vẫn còn vướng khá nhiều rào cản kỹ thuật do quốc tế quyết định. Đó là những rào cản kỹ thuật về xuất xứ hàng hóa của hàng xuất khẩu ra nước ngoài – phải mang tính chất nội khối chứ không phải ngoại khối TPP. Thứ hai là những rào cản kỹ thuật về nhãn mác, về sở hữu trí tuệ, kể cả vấn đề nghiệp đoàn lao động mà người Mỹ và phương Tây đang đặt ra cho Việt Nam như một điều kiện để tham gia TPP.

Nghiệp đoàn lao động lại liên quan mật thiết với vấn đề nhân quyền như đã được quy định trong điều 69 của Hiến pháp Việt Nam, nhưng chưa bao giờ được luật hóa một cách cụ thể.

Do vậy theo tôi đánh giá chung, trong vòng từ ba đến bốn năm tới dù có được tham gia TPP, nền kinh tế Việt Nam vẫn không nhận lãnh được những kết quả tương xứng như mong muốn, mà tiếp tục suy thoái, tiếp tục phân hóa dày đặc giữa các giai tầng ở Việt Nam.

RFI : Tóm lại là tình hình có vẻ u ám, quốc doanh không hiệu quả thậm chí làm ra thêm nợ nần, thị trường chứng khoán gần như bế tắc, bất động sản đóng băng. Doanh nghiệp tư nhân chết rất nhiều, những doanh nghiệp còn sống thì ngân hàng có cho vay cũng ít dám vay. Trở lại vấn đề nợ công, liệu có một lối thoát nào khả dĩ, theo anh ?

Lối thoát khả dĩ nhất hiện nay có lẽ là phải chống tham nhũng một cách triệt để, thu hồi tài sản do tham nhũng để trả nợ nước ngoài. Không còn cách nào khác ! Tại vì không còn nguồn tiền nào khác để trả nợ cho nước ngoài, trong bối cảnh ngân sách cạn kiệt như thế này, các thị trường đầu cơ gần như đóng băng, và trong tương lai gần không có gì triển vọng hơn.

Chỉ còn cách lôi những tập đoàn tham nhũng, những cá nhân tham nhũng ra mà xử. Tại vì họ đã ăn đủ, ăn dày, ăn sâu, ăn đậm quá nhiều năm rồi, đã làm cho người dân quá khốn khổ rồi ! Nay cần phải làm những vụ lớn như Bạc Hy Lai ở Trung Quốc, lấy tài sản tham nhũng bù đắp gánh nặng nợ nần của quốc gia, trả nợ cho nước ngoài. Còn việc phát hành trái phiếu quốc tế, tôi không tin là hiện thực hóa thành công.

RFI RFI Việt ngữ xin rất cảm ơn tiến sĩ Phạm Chí Dũng ở Việt Nam, đã vui lòng nhận lời tham gia tạp chí kinh tế hôm nay của chúng tôi

————————————————————————

BÀI LIÊN QUAN

►Nhiều trụ sở hoành tráng – Mặc cho nợ nần quốc gia lên đến 78 tỷ USD, và nợ DNNN do chính phủ bảo lãnh 62 tỷ USD

►Cứ mỗi 3 tháng, Việt Nam trả nợ 1 tỉ USD – Nợ công của VN lên tới 1,6 triệu tỷ đồng (2012)

Chính phủ: 127 tập đoàn, tổng công ty nợ gần 1,35 triệu tỷ đồngtăng 6% so với 2011, chiếm 56% tổng nguồn vốn. (29-11-2013)

Có số nợ vay tương đối lớn là Tập đoàn Dầu khí 124.499 tỷ đồng, Tập đoàn Điện lực 103.194 tỷ, Tổng công ty Hàng hải 31.681 tỷ…

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | 2 Comments »

►Cứ mỗi 3 tháng, Việt Nam trả nợ 1 tỉ USD – Nợ công của VN lên tới 1,6 triệu tỷ đồng (2012)

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2013

Cứ mỗi ba tháng, Việt Nam trả nợ 1 tỉ USD

22-11-2013

Báo  tuoitre.vn

TTO -Sáng 22-11, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) và Cơ quan Hợp tác phát triển Đức GIZ đã tổ chức diễn đàn về phục hồi tăng trưởng, tái cơ cấu – cơ hội và thách thức.

Các chuyên gia tại đây cho rằng VN cần cẩn trọng trong cuộc chạy theo tăng trưởng GDP, nguy cơ rơi vào lạm phát, bất ổn…

TS Nguyễn Đình Cung, quyền viện trưởng CIEM, cho rằng đang có lo ngại hiện tượng nới lỏng đầu tư công và theo ông, điều này có thể dẫn đến nguy cơ đầu tư dàn trải. Nhiều chuyên gia khác cũng đồng tình và cho rằng kinh tế VN có khó khăn, đầu tư của khu vực tư nhân giảm, tuy nhiên cần cẩn trọng với áp lực tăng đầu tư công bởi đó là nguy cơ khiến tái diễn lạm phát, bất ổn kinh tế…

Chính phủ đã trình xin cho nâng trần bội chi ngân sách (tức chi lớn hơn thu) từ 4,8 lên 5,3% GDP. Tuy nhiên, theo tham luận của ông Nguyễn Anh Dương (CIEM), ngay cả khi sử dụng tất cả 0,5% GDP này cho đầu tư công thì cũng chỉ có thể giúp tăng GDP từ 0,057-0,086% – một con số không đáng kể.

Dẫn lại gói kích cầu Chính phủ đã làm năm 2009, tới 145.000 tỉ (khoảng 8,7% GDP), tham luận cho biết thực tế cũng chỉ giúp tăng GDP có 1-1,5%. Việc nâng trần bội chi để thêm nguồn lực đầu tư phát triển, theo ông Nguyễn Anh Dương, chỉ có thể hiệu quả nếu có các biện pháp tái cơ cấu đầu tư công và nâng cao được hiệu quả đầu tư.

Phân tích thêm việc nới trần bội chi và phát hành thêm trái phiếu Chính phủ, ông Nguyễn Anh Dương cho rằng điều này là đáng lo ngại khi ảnh hưởng tới tính bền vững của ngân sách.

Theo số liệu của các cơ quan chức năng, nợ công của VN liên tục tăng, năm 2012 đã lên tới trên 1,6 triệu tỉ đồng.

Ông Dương tính toán dựa trên số liệu 6 tháng đầu năm 2013 với số nợ trên, mỗi quý VN phải trả nợ gốc và lãi tới 25.000-26.000 tỉ đồng (trên 1 tỉ USD), tương đương 16% thu ngân sách. “Vấn đề không phải nợ công có an toàn không, mà khả năng trả nợ trong tương lai mới là yếu tố cần được quan tâm” – ông Dương nói.

Trong khi tại nhiều diễn đàn lớn, nhu cầu tăng GDP đã được nhiều quan chức nhắc như mục tiêu quan trọng thì theo nhóm tác giả Bùi Trinh, Nguyễn Việt Phong, Bình Phan từ Tổng cục Thống kê, bảo hiểm tiền gửi… thì chỉ tiêu GDP hiện nay chưa thực chất. Cụ thể, hiện nay các đánh giá tình hình kinh tế – xã hội của VN thường gắn chặt với chỉ tiêu tăng GDP. Trong khi đó, GDP lại được cộng tất cả phần giá trị gia tăng của các ngành trong nền kinh tế và thuế nhập khẩu.

Như vậy có nghĩa một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hoạt động trên lãnh thổ VN trong một năm thì toàn bộ giá trị tăng thêm của họ trong năm đó sẽ được tính vào GDP của VN. Thí dụ, năm 2013, Tổng số xuất khẩu của VN là 133 tỷ Mỹ Kim, trong số này Công ty Sam Sung Việt Nam (SEV) xuất khẩu 21,5 tỷ đô la. (nguồn) Xuất khẩu điện thoại soán ngôi vương của dệt may , Sam Sung VN xuất khẩu 23 tỷ đóng thuế mấy đồng , làm luật cho Sam Sung lách để đóng thuế rất ít và càng ngày càng ít. Sam Sung từng trả lươngcho  công nhân TQ là 466-600 USD, nhưng khi lập nhà máy ở VN, chỉ trả cho công nhân VN 145 đô/ 1 tháng. 

Trong khi đó, nếu doanh nghiệp đó ng ay cả khi khai thác tài nguyên của VN thì họ cũng sẽ chuyển lợi nhuận về nước, nhưng khoản lợi nhuận đó thực tế đã được tính vào GDP của VN. Nên theo nhóm tác giả, GDP không phản ánh đầy đủ bức tranh nền kinh tế.

Một lo ngại khác là việc tăng nguồn lực cho đầu tư công, ông Nguyễn Anh Dương cho rằng có thể khiến chèn lấn khu vực tư nhân. Vì thực tế năm 2009, theo ông Dương, khi gói kích cầu được Chính phủ đưa ra, đầu tư của khu vực tư nhân đã giảm xuống mức 33,9% tổng đầu tư xã hội so với mức 35,2% năm 2008.

Đặc biệt, phân tích việc tăng đầu tư nhà nước, ông Nguyễn Anh Dương đã đưa ra hai kịch bản, trong đó khẳng định có hai khả năng: năm 2014 tăng trưởng của VN có thể đạt 5,6% thì lạm phát cũng phải tới 8,8%. Kịch bản cao hơn, năm 2014 nếu đúng theo các dữ liệu đưa ra, tăng GDP đạt 5,81% thì lạm phát cũng tới sát 9%…

Ông Trần Kim Chung, viện phó CIEM, băn khoăn không hiểu tại sao đến nay vẫn chưa có đề án tái cơ cấu đầu tư công, với phân công trách nhiệm rõ ràng để thực hiện…

TSKH Phạm Quang Thái, phó chủ tịch Hội Khoa học kinh tế VN, kiến nghị trước thực tế hiện nay cần lập một ủy ban tái cơ cấu trực thuộc Chính phủ để điều phối, thúc đẩy, kiểm tra quá trình tái cơ cấu.

Ông Thái cũng đề nghị sửa Luật ngân sách nhà nước, trong đó không để các khoản như trái phiếu chính phủ nằm ngoài ngân sách mà cần đưa vào ngân sách để Quốc hội giám sát, mọi việc chi tiêu phải được sự cho phép và thẩm định của Quốc hội bởi nguồn này có khi lớn tới 40% chi ngân sách…

C.V.KÌNH

Bài liên quan

►Vào cuối năm 2013, nợ công của Việt Nam sẽ lên tới 78,6 tỷ USD, theo tuần báo The Economist

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | 2 Comments »

►Xây dựng nhiều trụ sở hoành tráng đến độ hoang phí- Mặc cho nợ nần quốc gia lên đến 78 tỷ USD, và nợ DNNN do chính phủ bảo lãnh 62 tỷ USD

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2013

Khắp các 63 tỉnh (61 thành phố) và 597 quận, huyện, nơi nào cũng thi nhau xây dựng các công sở nguy nga tráng lệ đến độ hoang phí, thậm chí nhiều trụ sở mới xây dựng chưa tới 10 năm, khi có kinh phí từ trung ương rót xuốn, nhiều địa phương đã vội vã đập và xây mới trụ sở cho rộng hơn, hoành tráng hơn. Nếu không làm, thì tiền dư ra phải nộp lại vào  cuối năm, và năm tới ngân sách địa phương sẽ giảm.  danh sách các đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam

 

Nhiều trụ sở hoành tráng

25/11/2013

TT – Thời gian qua, tại một số địa phương trên cả nước xuất hiện những công sở được đầu tư kinh phí lớn, trên những khu đất rộng hàng ha. (10.000 mét vuông)

Trụ sở làm việc và hội trường Tỉnh ủy Hậu Giang hoành tráng – Ảnh: Lê Dân

Trụ sở làm việc và hội trường Tỉnh ủy Hậu Giang hoành tráng – Ảnh: Lê Dân

Là nơi làm việc của các cơ quan địa phương và các cơ quan trung ương đóng tại địa phương, các công sở này được đầu tư tiền trăm tỉ.

Trụ sở, hội trường 300 tỉ đồng

Mặc dù là tỉnh mới được chia tách còn nhiều khó khăn, nhưng công trình trụ sở làm việc và hội trường Tỉnh ủy Hậu Giang tọa lạc tại P.4, TP Vị Thanh rất hoành tráng, và đang được xem là trụ sở “khủng” nhất miền Tây. Công trình vừa đưa vào sử dụng trong tháng 4-2013 sau gần năm năm thi công. Nằm cạnh dòng sông Xà No, nhìn từ xa công trình này giống như một khách sạn cao cấp.

Công trình được xây dựng trên khu đất rộng 3,3ha. Khối nhà có hình chữ nhật, mặt tiền nhìn ra sông Xà No với 16 cây cột to, mặt sau cũng tương ứng với 16 cây cột, xung quanh tòa nhà được bố trí hệ thống phun nước để tạo cảnh quan. Toàn bộ khối nhà được dán đá hoặc trang trí bằng kính xây dựng nhìn rất sang trọng. Tòa nhà có ba tầng (không kể tầng hầm) với bốn hội trường được bố trí đều khắp các tầng, trong đó có hội trường lớn ở tầng hai với sức chứa trên 300 người được thiết kế rất hiện đại. Theo tìm hiểu của chúng tôi, các hội trường ít khi sử dụng hết công năng, nhất là hội trường lớn vì thỉnh thoảng mới có hội nghị được tổ chức. Tòa nhà rộng lớn song với cán bộ của năm phòng và lãnh đạo Tỉnh ủy chỉ khoảng 50 người làm việc.

Công trình khởi công vào tháng 9-2008, thời điểm này tổng thu ngân sách nhà nước năm 2008 của tỉnh Hậu Giang là 2.717 tỉ đồng. Trong khi đó, công trình có tổng mức đầu tư xây dựng gần 300 tỉ đồng. Ông Nguyễn Quốc Ca, phó chủ tịch HĐND tỉnh Hậu Giang, cho biết kinh phí đầu tư xây dựng được thông qua HĐND theo phân kỳ hằng năm vì công trình thi công trong thời gian dài. “Hằng năm, Hậu Giang được trợ cấp ngân sách của trung ương. Bộ Tài chính phân bổ về HĐND, UBND tỉnh trình HĐND xem xét, trong vốn xây dựng cơ bản, dự án nào nằm trong danh mục được phê duyệt thì phân bổ vốn” – ông Ca nói thêm.

Trụ sở TAND tối cao tại Đà Nẵng đang hoàn thiện – Ảnh: H.Khá

Tráng lệ ở vị trí “vàng”

Khi vệt đất ven sông Hàn được giải tỏa nhằm quy hoạch không gian đô thị cho Đà Nẵng thì cũng là lúc hai trụ sở của TAND tối cao tại Đà Nẵng và TAND Đà Nẵng được di dời đi nơi khác. Thay vào đó, chính quyền Đà Nẵng đã bố trí cho hai đơn vị này hai khu đất ở vị trí đắc địa để xây dựng trụ sở mới nằm ở ngã tư đường 30-4 – Núi Thành. Trụ sở TAND tối cao tại Đà Nẵng xây dựng trên diện tích khoảng 6.000m2 tại ngã tư đường 30-4 – Núi Thành với quy mô sáu tầng và một tầng hầm cùng các trang thiết bị phục vụ công tác hiện đại, tổng mức đầu tư khoảng 115 tỉ đồng từ nguồn vốn trung ương. Trụ sở này được xem là công sở thuộc diện đồ sộ tại Đà Nẵng đến thời điểm này, nằm uy nghi tại vị trí “vàng” đối diện công viên tượng đài. Sau hai năm xây dựng, hiện công trình này đang trong giai đoạn hoàn thiện các khâu cuối cùng.

Nằm cách trụ sở TAND tối cao tại Đà Nẵng chừng vài chục mét, trụ sở của TAND TP Đà Nẵng cũng vừa mới đi vào hoạt động. Công trình này cao sáu tầng, có trang thiết bị hiện đại, phòng xử lớn và đầy đủ các phòng chức năng với tổng vốn đầu tư 105 tỉ đồng. Đại diện TAND TP Đà Nẵng cho biết trụ sở mới dù có diện tích lớn đều được bố trí nơi làm việc cho thẩm phán, thư ký… Ngoài ra, các phòng họp, hội trường, phòng chức năng khác như phòng hòa giải, phòng dành cho hội thẩm nhân dân cũng đều được bố trí để làm việc.

Trụ sở TAND tỉnh Bến Tre bề thế với khoảng sân rộng – Ảnh: V.TR.

Xin đất nhiều nhưng sử dụng chẳng bao nhiêu

Ông Trần Quang Minh, phó giám đốc Sở Tài nguyên – môi trường tỉnh Bến Tre, cho biết tỉnh rất bức xúc về việc nhiều ngành ở trung ương xin cấp đất nhiều để xây dựng trụ sở hoành tráng. Tuy nhiên, ngay cả xây rất to thì vẫn còn dư rất nhiều đất. Điều này thấy rất rõ tại trụ sở TAND tỉnh Bến Tre, TAND huyện Mỏ Cày Nam hay khối tư pháp huyện Chợ Lách. Trong đó TAND tỉnh Bến Tre sử dụng khu đất rộng tới 14.300m2, nhưng chỉ xây dựng một góc, chừa khoảng sân rộng như sân bóng đá.

Ông Minh nói thêm: “Tỉnh rất bị động trong việc thẩm định, giao đất cho các cơ quan ngành trung ương vì dự án họ làm mình không biết quy mô, nhu cầu đất thật sự thế nào. Thường họ đề nghị giao đất nhiều để làm luôn sân, nhà xe, các công trình phụ. Tuy nhiên sau khi xây dựng xong thấy còn thừa nhiều đất, rất lãng phí. Nếu được quy hoạch và thẩm định thì tỉnh sẽ không cấp nhiều đất như vậy”. Không chỉ thế, việc đề nghị cấp đất xây trụ sở cũng đã làm địa phương lúng túng vì quy hoạch bị phá vỡ. Rõ nhất là tại huyện Mỏ Cày Nam. Tỉnh đang quy hoạch sắp xếp lại các khu hành chính, tư pháp, tòa án, viện kiểm sát… Tuy nhiên, thời gian qua TAND tỉnh và Viện KSND tỉnh đề nghị cấp đất sớm để xây dựng trụ sở cho huyện. Vì có thòng thêm câu “nếu không có quỹ đất thì trung ương chuyển vốn đi nơi khác” nên tỉnh phải tìm quỹ đất công để giao cho hai cơ quan này. Bây giờ mỗi “ông” xây một trụ sở to đùng ở hai nơi khác nhau. Tình thế này bắt buộc tỉnh phải điều chỉnh lại quy hoạch của huyện Mỏ Cày Nam.

Ông Cao Văn Trọng, phó chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, cho biết hiện tỉnh không có nhiều quỹ đất công “sạch” (đã giải phóng, san lấp mặt bằng sẵn) để giao cho các cơ quan trung ương. Tuy nhiên đất công đang là ao thì còn. Do đó tới đây các cơ quan trung ương đề nghị cấp đất xây dựng trụ sở cho ngành dọc cấp tỉnh, huyện thì UBND tỉnh sẽ giao các ao này, chủ đầu tư dự án tự san lấp mặt bằng để xây dựng. Diện tích đất giao cũng vừa phải vì tỉnh Bến Tre rất nghèo, đất đai ít.

Theo ông Nguyễn Trúc Sơn – giám đốc Sở Kế hoạch – đầu tư tỉnh Bến Tre, để tránh tình trạng mỗi ngành, mỗi đoàn thể đều muốn có một trụ sở, hiện nay tỉnh chủ trương xây dựng trụ sở UBND các xã, phường với quy mô lớn hơn trước để bố trí tất cả các ngành, đoàn thể, y tế, công an… vào làm việc trong khu này. Năm 2013 tỉnh Bến Tre đã xây dựng tám trụ sở UBND xã với vốn đầu tư 19,2 tỉ đồng. Tính ra mỗi trụ sở chỉ hơn 2 tỉ đồng. Trong khi đó Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt cho Bến Tre xây dựng 135 trụ sở UBND xã mới đến năm 2015, nhưng không thể làm được vì thiếu vốn.

L.DÂN – PH.NGUYÊN – HỮU KHÁ – V.TRƯỜNG

———————————————————————-

Xây tòa án như lâu đài

21-11-2013

Trụ sở “khủng” của TAND tỉnh Đồng Tháp – Ảnh: V.Trường

Nếu ai một lần nhìn thấy trụ sở Tòa án tỉnh Bến Tre nằm trên đường vào bến phà Hàm Luông (cũ) sẽ phải giật mình vì giống như một tòa lâu đài cổ kính, uy nghi.

Tòa này “khủng”, tòa khác còn “khủng” hơn

Không đủ đất, quay mặt tiền vào… ruộngThiết kế trụ sở Tòa án TP Mỹ Tho (Tiền Giang) từ TAND tối cao đưa vào có mặt tiền rộng 47m và quay ra quốc lộ 50. Tuy nhiên, do UBND tỉnh Tiền Giang giao khu đất dù rất rộng nhưng mặt tiền không đủ bề rộng nên chủ đầu tư buộc phải chấp nhận quay mặt tiền vào… ruộng trồng hoa của dân rồi làm thêm con đường nội bộ dẫn vào. Vì thế mặt tiền được xây dựng, trang trí đẹp nhưng lại hướng ra… ruộng. Do đi lối “ruộng trồng hoa” bất tiện nên hiện nay Tòa án TP Mỹ Tho phải mở thêm cửa ở quốc lộ 50 nằm bên hông tòa án để người dân ra vào.

Trụ sở Tòa án tỉnh Bến Tre hình chữ U, nhìn từ mặt tiền vào. Ở giữa sảnh chính là những cây cột rất to. Để vào tới “tòa lâu đài” này, người dân phải đi bộ qua một khoảng sân rất rộng như sân bóng đá.

Theo bà Trịnh Thị Thanh Bình – chánh án TAND tỉnh Bến Tre, trụ sở tòa án tỉnh được xây dựng xong và đưa vào sử dụng năm 2011 với vốn đầu tư hơn 40 tỉ đồng. “Ban đầu xây xong thì thấy rộng, nhưng giờ bố trí xong thấy cũng đủ, đảm bảo làm việc ổn định thêm nhiều năm nữa” – bà Bình nói “khiêm tốn” về trụ sở “khủng” này.

Trụ sở Tòa án Bến Tre tuy vậy vẫn nhỏ hơn trụ sở Tòa án tỉnh Đồng Tháp đang trong quá trình hoàn thiện. Ông Nguyễn Thành Thơ, chánh án TAND tỉnh Đồng Tháp, cho biết diện tích xây dựng trụ sở Tòa án Đồng Tháp lớn hơn Tòa án tỉnh Bến Tre 12%. “Do số án của tỉnh Đồng Tháp nhiều hơn Bến Tre nên nhu cầu sử dụng mặt bằng cũng lớn hơn” – ông Thơ giải thích.

Trụ sở Tòa án Đồng Tháp có mô hình giống y trụ sở Tòa án tỉnh Bến Tre. Theo ông Thơ, xây dựng theo kiến trúc châu Âu như vậy mới đảm bảo sự uy nghiêm cần thiết của một cơ quan đặc thù là tòa án. Diện tích đất tỉnh Đồng Tháp cấp cho tòa án tỉnh lên đến 15.000m2 ở trung tâm TP Cao Lãnh. Mặc dù chưa làm thủ tục quyết toán, nhưng kinh phí đầu tư xây dựng trụ sở Tòa án tỉnh Đồng Tháp đã hơn 50 tỉ đồng. Khi chúng tôi đặt vấn đề trụ sở quá to làm sao sử dụng hết, ông Thơ nói 60% diện tích dùng làm phòng làm việc và sáu phòng xử án; 40% diện tích dùng làm kho lưu trữ hồ sơ. “Coi lớn vậy chứ cũng sử dụng hết” – ông Thơ nói.

Tương tự, trụ sở Tòa án tỉnh Vĩnh Long cũng vừa xây xong, đưa vào sử dụng hồi đầu năm nay. Ông Nguyễn Văn Hòa, chánh án TAND tỉnh Vĩnh Long, cho biết vốn đầu tư dự toán ban đầu khoảng 44 tỉ đồng, nhưng sau khi quyết toán tăng lên hơn 60 tỉ đồng!

Tòa cấp huyện cũng hoành tráng

Trụ sở Tòa án TP Mỹ Tho (Tiền Giang) mới được xây xong với vốn đầu tư khoảng 35 tỉ đồng, trông giống như tòa lâu đài chứ không phải… tòa án. Mặt tiền khu nhà này rộng tới 47m. Có một tầng hầm và ba tầng bố trí phòng xử án và làm việc. Các cây cột ở ngay tiền sảnh rất to, một người ôm không hết. Ông Huỳnh Hiếu, chánh án TAND TP Mỹ Tho, cho biết trụ sở quá to nên hiện nay không thể sử dụng hết. Ở đây có năm phòng xử án và năm phòng nghị án ở tầng trệt và tầng 1. Tầng 2 bố trí phòng làm việc riêng cho thẩm phán và thư ký tòa (hai người một phòng) nhưng vẫn còn dư rất nhiều phòng. Ở tầng 2 có một hội trường hơn 100 chỗ ngồi, nhưng theo ông Hiếu, chắc chắn sẽ phải đóng cửa thường xuyên vì mỗi năm chỉ có vài cuộc họp sơ kết, tổng kết, đại hội chi bộ, đại hội công đoàn… Cũng vì tòa nhà quá lớn nên cả tầng 3 đang bỏ không, chỉ để làm kho… “Dự kiến nơi này sẽ thành lập tòa án sơ thẩm khu vực. Nếu vậy may ra mới sử dụng hết diện tích xây dựng” – ông Huỳnh Hiếu nói.

Còn tại thị trấn Mỏ Cày Nam (Bến Tre), trụ sở Tòa án huyện Mỏ Cày Nam là khối nhà cao ba tầng, vuông vức, uy nghi. Lối kiến trúc cũng tương tự các trụ sở tòa án khác là có rất nhiều cửa sổ xung quanh. Tuy nhiên, hàng chục cánh cửa sổ làm bằng gỗ đã bị bạc phếch vì mưa nắng. Tòa nhà này có vốn đầu tư 28 tỉ đồng và mới đưa vào sử dụng năm 2011.

Mặc dù công trình đồ sộ như thế nhưng bên trong chỉ có hai phòng xử án được bố trí ngay tầng trệt. Ở tầng thứ nhất là khu làm việc của chánh án, phó chánh án, văn phòng, thẩm phán, thư ký tòa. Riêng tầng trên cùng hiện chưa sử dụng. Khi chúng tôi đặt vấn đề trụ sở quá to nên không sử dụng hết công năng, ông Nguyễn Văn Minh (phó chánh án) cho rằng tầng trên cùng của trụ sở chưa sử dụng là do… tiết kiệm!

Nhiều trụ sở đang chờ xây

Theo bà Trịnh Thị Thanh Bình, hiện nay tòa án cấp huyện ở Bến Tre chỉ mới xây mới hai trụ sở là Tòa án huyện Mỏ Cày Nam và Tòa án huyện Mỏ Cày Bắc. Các tòa án huyện còn lại đã cũ kỹ, chật hẹp cần phải đầu tư xây dựng trong thời gian tới. Trong đó, khó khăn nhất là tòa án các huyện: Châu Thành, Bình Đại và Ba Tri.

Đối với Tòa án huyện Ba Tri, dự kiến sẽ thành lập tòa sơ thẩm khu vực nên đã lập dự án xây dựng. Tỉnh cũng đã cấp đất xong nhưng do vốn đầu tư quá lớn (khoảng 30 tỉ đồng) nên phải tạm ngưng, chờ vốn…

Tại tỉnh Tiền Giang, trụ sở tòa án tỉnh vừa được đầu tư 13 tỉ đồng để nâng cấp phần mặt tiền và xây dựng thêm một số phòng xử án để đáp ứng nhu cầu hoạt động. Theo ông Trần Ngọc Quang – chánh án TAND tỉnh Tiền Giang, trụ sở Tòa án huyện Tân Phú Đông và Cai Lậy rất chật hẹp cần đầu tư xây mới. “Chúng tôi dự kiến đề xuất xây dựng trụ sở Tòa án huyện Cai Lậy là tòa sơ thẩm khu vực nhưng do đến nay UBND tỉnh vẫn chưa sắp xếp được quỹ đất để giao xây dựng công trình này nên chưa thể lập dự án” – ông Quang nói.

Còn tại tỉnh Đồng Tháp, ông Nguyễn Thành Thơ cho biết hiện có 11/12 huyện, thành phố, thị xã có trụ sở tòa án và tất cả đều bị quá tải. Có những trụ sở xây từ những năm 1990 trở về trước giờ xuống cấp. Tuy nhiên, ông Thơ cho rằng do kinh phí xây dựng có hạn nên chưa dám đề xuất TAND tối cao đầu tư các tòa cấp huyện…

Nếu các trụ sở tòa án đang chờ xây này cũng được xây hoành tráng như các tòa án hàng chục tỉ đồng nói trên thì lãng phí là chuyện không tránh khỏi.

VÂN TRƯỜNG

Xin đất “khủng” xây trụ sởNgoài ngành tòa án, hiện nay nhiều ngành khác ở trung ương cũng đề nghị các tỉnh giao đất để xây trụ sở. Chẳng hạn, Ngân hàng Nhà nước VN đề nghị tỉnh Tiền Giang giao khu đất ở đường Hùng Vương, TP Mỹ Tho. Tỉnh định giao hơn 2.000m2, nhưng sau đó ngân hàng đề nghị giao 3.000m2 mới đủ. Vì vậy Tiền Giang chưa giải quyết được.Tháng 8-2011, Chi cục Thi hành án dân sự TP Mỹ Tho gửi đơn xin cấp tới 4.333m2 đất tại xã Mỹ Phong, TP Mỹ Tho, nằm cạnh quốc lộ 50 để xây dựng trụ sở và cụm kho vật chứng. Tỉnh cũng đã sắp xếp quỹ đất này và đề nghị chủ đầu tư thanh toán tiền san lấp mặt bằng, hạ tầng… Thế nhưng phía chủ đầu tư chưa đồng ý nên tỉnh chưa cấp “giấy đỏ”.Mới đây, Viện KSND tỉnh Tiền Giang đề nghị UBND tỉnh giao khu đất rộng khoảng 3.000m2để xây dựng trụ sở Viện KSND huyện Tân Phú Đông trong trung tâm hành chính huyện. Công trình này có vốn đầu tư 21 tỉ đồng.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »