Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một 15th, 2013

►Vladimir Putin đùa với lửa

Posted by hoangtran204 trên 15/11/2013

Các nước dựa chủ yếu bằng cách bán dầu để tồn tại là: Việt Nam, Nga, và các nước Trung Đông. Đầu năm nay, Tập đoàn Dầu Khí VN cho biết là họ cung cấp 40% ngân sách quốc gia trong năm 2012. Vì vậy, khi giá dầu thế giới hạ, ngân sách nhà nước VN thiếu hụt như các năm qua. Ngân sách nhà nước VN chủ yếu dùng để nuôi đội công nhân viên nhà nước, công an, quân đội, là 9 triệu người (theo Gs Nguyễn Lân Dũng, đại biểu quốc hội, trả lời phỏng vấn tháng 5-2013), và 8,8 triệu người có công với cách mạng (chiếm 10% dân số của cả nước)  

Tương lai của các chính quyền sống bằng cách bán dầu lửa để chi tiêu và điều hành nhà nước sẽ trở nên khó khăn vì giá dầu hạ. Đặc biệt Mỹ trong 5-10 năm qua, Mỹ đã phát minh ra phương pháp lấy dầu và khí bằng cách khoang ngang, và bơm nước và hóa chất xuống vị trí chỗ khoang, để đẩy dầu và khí ra khỏi  túi (lỗ hổng) trong lớp (đá) phiến-thạch. Kết quả, Mỹ tuyên bố trở thành quốc gia sản suất dầu nhiều nhất thế giới năm 2015,  giảm bớt nhập cảng dầu còn 1/2 so với mức hiện nay, và hoàn toàn không cần mua hay chấm dứt nhập khẩu dầu thô vào năm 2035. Và năm 2015, 1/2 điện sản suất trong nước Mỹ sẽ là phong điện và điện mặt trời (wind power and solar power). 

Hiện nay, Mỹ tiêu thụ 19-20 triệu thùng dầu mỗi ngày, chiếm 22% mức tiêu thụ của cả thế giới (TQ tiêu thụ 8 triệu thùng dầu mỗi ngày, Nhật tiêu thụ 4 triệu thùng/ ngày; Đức khoảng 3 triệu thùng; lượng dầu cả châu âu cộng lại tiêu thụ chỉ bằng Mỹ…). Hiện nay, 40% lượng dầu hàng ngày mà Mỹ tiêu thụ là nhập khẩu ( báo 2012), trừ đi khoảng 3,2 triệu thùng dầu xuất khẩu, Mỹ nhập vào khoảng 7,4 triệu thùng dầu mỗi ngày.  (Mỹ mua dầu từ rất nhiều quốc gia, nếu tính theo từng nước, 5 quốc gia mà Mỹ mua nhiều nhất là Canada 28%, Saudi Arabia 13%, Mexico 10%, Venezuela 9%, Russia 5%). Thật sự Mỹ nhập 10,6 triệu thùng dầu hàng ngày, lọc dầu, và xuất khẩu bán các sản phẩm dầu (xăng, dầu lửa chạy máy, nhớt, dầu phản lực, diesel, sản phẩm nhựa, nhựa đường, hắc ín…) cho các quốc gia khác, phần còn lại chi dùng trong nước. Mỹ nhập 40% dầu hàng ngày  từ tổ chức các nước xuất khẩu dầu OPEC, 20% từ các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư (Persian gulf Countries: Irag, Saudi Arabia, Kuwait,…). Bởi vậy, khi có chiến tranh hay tranh chấp nhau ở Trung Đông, giá dầu liền gia tăng. Giá vàng và đô la theo các biến cố thời sự mà gia giảm.

Từ khi kinh tế Mỹ phát triển cho đến 1945-1950s, sợ rằng nguồn dầu trong nước hết sạch, trử lượng giảm, Quốc hội và chính phủ Mỹ ra luật ngưng khai thác dầu trong các vùng ở vịnh Mexico, Alaska, và chuyển qua việc nhập khẩu dầu từ các nước ngoài trong thập niên 1960s. Trước đó thì yểm trợ cho Do Thái thành lập nước 1950s, kết thân và liên kết với một số nước Ả Rập (như Saudi Arabia) để giữ ổn định việc mua dầu…Sau vụ khủng hoảng dầu 1972, quốc hội và chính phủ thời ấy dùng ngân sách để mua dầu và dự trữ trong các kho của chính phủ; là biện pháp đề phòng nếu có chiến tranh và bị cắt nguồn tiếp liệu, thì Mỹ sẽ dùng các kho dầu dự trữ này để bảo đảm tiêu dùng 3-6 tháng.   (còn tiếp) Trần Hoàng 

Vladimir Putin đùa với lửa 
Wednesday, November 13, 2013 3:32:09 PM 

Hùng Tâm/Người Việt

Di dân và chủ nghĩa dân tộc tại Nga

Hôm Thứ Ba 12, Tháng Mười Một, tổ chức Năng Lượng Quốc Tế IEA của Liên Hiệp Quốc vừa công bố phúc trình về viễn ảnh năng lượng 2013 với nhiều chi tiết đáng chú ý.

Ðầu tiên là năm 2016 này, Hoa Kỳ sẽ vượt Saudi Arabia để thành quốc gia sản xuất dầu thô nhiều nhất thế giới. Ðáng chú ý vì IEA đã điều chỉnh dự báo năm ngoái, theo đó Hoa Kỳ sẽ chiếm ngôi vô địch vào năm 2017. Nghĩa là nước Mỹ có thể tiến nhanh hơn một năm! Chi tiết kia là Liên Bang Nga còn tụt hậu nhanh hơn vậy, và đấy là tin kém vui cho Tổng Thống Vladimir Putin.

Liên Bang Nga là đại gia về năng lượng dầu khí, dầu thô và khí đốt, với trữ lượng dầu rất cao ở miền Ðông và miền Tây của khu vực Tây Bá Lợi Á và với sản lượng khí đốt chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Năng lượng Nga là võ khí chiến lược cho Putin có thể chi phối Liên hiệp Âu Châu qua các ống dẫn dầu và khí đốt vắt ngang xứ Belarus ở hướng Bắc và Ukraine ở hướng Nam.

Ưu thế sa sút về năng lượng vì tình trạng tụt hậu kỹ thuật sẽ là vấn đề trường kỳ cho nước Nga.

Nhưng trước đó, Liên Bang Nga còn gặp nhiều mối nguy khác ngay trong nội bộ. Sau bài viết kỳ trước (Khi Liên Bang Nga có loạn – Chiêu bài dân tộc gây phản ứng ngược), “Hồ Sơ Người Việt” sẽ tìm hiểu tiếp về những mối nguy này. Ðây là điều có lợi để chúng ta đặt chuyến thăm viếng Việt Nam vừa qua của Tổng Thống Putin vào đúng bối cảnh, và để chúng ta nhìn lại vào ruột gan của Trung Quốc.

Kinh tế suy trầm

Ngay trong hiện tại, kinh tế Nga bị đình trệ dù năng lượng vẫn cao giá và số xuất cảng của Nga đang ở mức kỷ lục.

Sau khi tăng trưởng 3% vào năm 2010, rồi 4.6% vào năm 2012, sản lượng kinh tế của Nga sẽ chỉ tăng có 1.3% trong năm nay. Qua năm tới, tình hình có thể còn khó khăn hơn nữa nếu năng lượng sụt giá. Chi tiết đó cho thấy sự yếu kém của các khu vực sản xuất ngoài năng lượng, mà năng lượng lại là ưu thế đang mất dần. Muốn có tương lai, nước Nga cần cải cách kinh tế và trước hết cải tiến kỹ thuật khai thác năng lượng. Kỹ thuật đó, Nga phải học từ nước khác qua việc tiếp nhận đầu tư. Mà muốn tiếp nhận đầu tư cho có lợi về dài thì Nga phải cải tổ cơ chế kinh tế và chính trị.

Ðối chiếu với Trung Quốc vừa qua mặt Hoa Kỳ về lượng dầu nhập cảng, Liên Bang Nga có cảnh ngộ tương tự: chậm tiến về kỹ thuật. Hội nghị kỳ ba của Ban Chấp Hành Trung Ương khóa 18 vừa kết thúc tại Bắc Kinh đã gây thất vọng vì không đẩy mạnh việc cải cách như dự tính nhưng lại có một chi tiết còn đáng chú ý hơn: lãnh đạo mới của xứ này vừa lập ra một “Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia” để tập trung các quyết định về tình báo và ngoại giao nhằm đối phó với những vấn đề an ninh trong nội bộ.

An ninh trong nội bộ là bài toán chung của lãnh đạo Moscow và Bắc Kinh.

Một nghịch lý của Nga hiện nay là uy tín rất cao của Tổng Thống Vladimir Putin, được hơn 60% dân Nga ủng hộ, so với sự thất vọng còn cao hơn nữa của người dân đối với chính quyền. Chỉ có 16% dân Nga tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề của bộ máy công quyền. Nghịch lý ấy cho thấy là cả hệ thống chính trị hiện tại dựa trên một cá nhân. Sau 15 năm lãnh đạo liên tục với tư thế thủ tướng rồi tổng thống rồi thủ tướng rồi tổng thống, ông Putin cũng có ngày phải lui.

Sau đó tình hình sẽ ra sao? Nhiều phần sẽ là những va chạm và xung đột giữa chủ nghĩa dân tộc của người Nga với phản ứng ngày càng gay gắt hơn của các sắc tộc thiểu số theo đạo Hồi. “Hồ Sơ Người Việt” vào tuần trước đã đề cập tới mối nguy này.

Muốn dự đoán tình hình trong trường kỳ, chúng ta có thể nhìn lại vào quá khứ của nước Nga…

Những tiền lệ đáng ngại

Ðế quốc Nga cổ xưa đã bị cuộc cách mạng cộng sản lật đổ vào năm 1917. Biến cố lịch sử này có những nguyên nhân sâu xa hơn lý luận của Karl Marx hay kỹ thuật đảo chánh của Lenin. Nhưng nguyên nhân đó đang tái xuất hiện và có thể đe dọa Liên Bang Nga thời “Hậu-Putin.”

Trước hết, trong hai chục năm liền từ cuối thế kỷ 19 cho tới Thế Chiến I (1914-1918), dân số Nga đã tăng rất mạnh, từ khoảng 127 triệu lên tới 170 triệu, và tăng mạnh nhất là tại các thành phố. Tiến trình kỹ nghệ hóa và đô thị hóa đã tạo ra một thành phần thị dân sau này là lực lượng lao động sẽ tham gia “cách mạng.” Thành phần dân số đó xuất phát từ nông thôn và được giới quý tộc Nga gọi là “di dân.” Trung Quốc ngày nay cũng đang có lực lượng lao động ấy, từ 250 đến 280 triệu, mà họ gọi là “dân công,” từ nông thôn đi vào thành thị kiếm sống mà không có hộ khẩu. Truyền thông quốc tế cứ gọi thành phần này tại Nga và Trung Quốc bằng một từ chung là “migrants.”

Nhớ lại chuyện xưa của Nga thì ta có một thiểu số ưu tú ở trên nhìn vào đám người thấp kém ở dưới lặng lẽ tràn vào như thủy triều. Nhưng nhiều người Nga lại coi làn sóng nhân lực này là mối đe dọa cho việc làm của họ, y như phản ứng kỳ thị ngày nay của dân Nga trắng với người Hồi giáo ở phía Nam hay di dân từ các nước Trung Á.

Thứ hai, nhờ Nga bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1861, nhiều người Nga ở giai tầng thấp kém được đi học và vài chục năm sau, xã hội đã xuất hiện một thành phần trẻ, hiểu biết hơn xưa mà chưa cải thiện được cuộc sống. Họ thất vọng khi nhìn lên trên và bước qua thế kỷ 20 thì nhiều người trở thành lực lượng thanh niên có hoài bão cách mạng.

Sau giai đoạn đình trệ kinh tế tại Âu Châu và vụ khủng hoảng tài chánh của giới quý tộc Nga vào năm 1899, tinh thần bạo động và phương pháp khủng bố mang màu sắc Nga đã xuất hiện. Những yếu tố đặc thù này góp phần đáng kể cho cuộc cách mạng của Lenin. Chúng ta cần nhìn lại chuyện đó khi nhớ tới sự sa sút kinh tế tại Nga lồng trong vụ khủng hoảng của khối Euro ngày nay.

Thứ ba, vào thời đó rồi, người ta đã chứng kiến tinh thần bài ngoại của dân Nga đi cùng nạn kỳ thị chủng tộc giữa các sắc dân thiểu số với nhau, như giữa dân Armenia với Azerbaijan hay giữa dân Kazakh và dân Turk. Khi Ðế quốc Nga lụn bại, những tranh chấp như vậy đã lan rộng và gây thêm bất ổn. Trong sự bất ổn chung, tại miền Tây tiếp cận với Âu Châu đã xuất hiện nạn xung đột tôn giáo giữa Chính Thống Giáo và Thiên Chúa Giáo, giữa Công Giáo và Tin Lành.

Ðáng chú ý vì có hậu quả lâu dài nhất là sự ngược đãi người Do Thái. Sắc dân này chỉ chiếm 6% dân số Nga, nhưng bị tập trung trong khu vực ngày nay trải rộng trên lãnh thổ Ukraine, Ba Lan, Lithuania, Belarus, Moldovia và Liên Bang Nga. Dù bị khoanh vùng sinh hoạt, họ khá thành công về kinh doanh, có vai trò trọng yếu cho giao thương buôn bán và bị đa số dân Nga bần cùng coi là nguyên nhân của mọi khó khăn kinh tế. Khi tình hình làm ăn sa sút, hoặc việc giao thương bị hạn chế, công nhân Nga bị các ông chủ Do Thái sa thải.

Vì vậy, năm 1905 đã có những vụ biểu tình phản đối, nổi loạn và bạo động với cường độ chưa từng thấy, khiến 15 ngàn người thiệt mạng, trong đó có ba ngàn dân Do Thái. Nghiêm trọng nhất là tại St. Peterburg.

Khi đó, chế độ Sa Hoàng (hoàng đế Nga) đã có nhiều cách xử trí khác nhau. Trước thì thẳng tay đàn áp công nhân, nhưng về sau nhượng bộ và cho họ nhiều quyền hạn hơn trong một cơ chế đại diện mới, là Quốc Hội Duma sau này. Với những vụ xung đột sắc tộc, chế độ không trừng phạt mà còn kín đáo yểm trợ các nhóm “dân quân Nga” đang tấn công người thiểu số. Xa hơn thế, và y như Putin ngày nay, chế độ khai thác tinh thần dân tộc của người Nga để chuyển trọng tâm đấu tranh qua hướng khác: dồn sự bất mãn của người dân vào thành phần thiểu số.

Chiến lược đó thành công được vài năm, cho đến 1907 thì gây phản ứng ngược. Mọi sự bất mãn đều nhắm vào chế độ và thành phần quý tộc. Mười năm sau thì Lenin gặt hái thành quả.

Lịch sử tất nhiên là không tái diễn y hệt như ngày xưa. Nhưng những gì đang xảy ra tại Liên Bang Nga có thể cho thấy giới hạn của Putin.

Vấn đề của Vladimir Putin

Trước những khó khăn chồng chất về nhiều mặt kinh tế, xã hội và chính trị, tổng thống Nga áp dụng chiến thuật xưa là đối xử có dị biệt đằng sau chủ nghĩa dân tộc của người Nga La Tư (Slav).

Trong các vụ xung đột giữa người Nga và dân thiểu số Hồi Giáo hay di dân Trung Á, nhà chức trách địa phương không trừng phạt mà còn ngầm yểm trợ các nhóm Nga quá khích. Ở cấp quốc gia, các lực lượng bảo thủ đã có thế mạnh và đưa ra chủ trương chính sách hạn chế di dân, thậm chí đòi hỏi các gia đình Hồi Giáo chỉ được có hai con. Lập trường đó của Vladimir Zhirinovsky có hậu thuẫn đáng kể nên đảng Tự Do Dân Chủ Nga đang là chính đảng đứng hạng thứ tư.

Nhưng cũng trong thành phần có tinh thần quốc gia dân tộc đã thấy xuất hiện sự lạ.

Nhiều người, như lãnh tụ Alexei Navalny, không chỉ kêu gọi biểu tình chống di dân và người Hồi giáo trong các năm 2010-2011 mà còn xoay ra chống Putin trong các cuộc bầu cử Quốc Hội và tổng thống vào năm ngoái. Dù đã bị đàn áp, chủ trương chống chính quyền này vẫn còn âm ỉ và khẩu hiệu đòi hỏi dân chủ đang là một bài toán mới cho Putin. Bài toán sẽ trở thành nan giải hơn khi kinh tế bị suy thoái.

Huống hồ là chính sách kỳ thị thiểu số cũng không thể là giải pháp lâu dài vì thành phần này vẫn là công dân của nước Nga, trên nguyên tắc thì phải được Hiến Pháp bảo vệ. Với di dân từ Trung Á, chính sách kỳ thị cũng gây phản tác dụng về ngoại giao: Putin cần sự hợp tác của các nước Trung Á cho chiến lược xây dựng Liên Hiệp Quan Thuế Âu-Á, trải rộng từ biên giới với Âu Châu qua khu vực Viễn Ðông.

Putin không thể để bùng nổ xung đột hay nội chiến như đã xảy ra với Chechnya và càng không muốn có thêm mâu thuẫn với các nước Trung Á trước sự ve vãn mua chuộc của của Trung Quốc.

Khi ông bị yếu thế, là điều khó tránh, những vấn đề nói trên có thể bất ngờ phát tác.

Kết luận ở đây là gì?

Hoa Kỳ đang có nhiều vấn đề nội bộ, gây tranh luận hàng ngày hàng giờ trước sự chứng kiến và phê phán của dân chúng. Kết quả tranh luận sẽ dồn vào các cuộc bầu cử, không 2014 thì 2016, v.v… Nhưng nước Mỹ không có loại vấn đề sinh tử trong tạng phủ như Liên Bang Nga, hay Trung Quốc.

Bối cảnh nhiễu nhương của Nga khiến ta càng chú ý đến bài toán Hồi Giáo, Tây Tạng và chuyện Tân Cương của Trung Quốc.

Chủ nghĩa dân tộc Nga của Putin hay “Giấc mộng Trung Hoa” của Tập Cận Bình có khi lại là ác mộng.

 ————————————————————-

Nguồn Tham khảo

1. Expanded Oil Drilling Helps U.S.Wean Itself From Mideast  (27-6-2012) (http://online.wsj.com/news/articles/SB10001424052702304441404577480952719124264)

2. U.S. predicted to become world’s largest oil producer in 2015   (12-11-2013)

http://seattletimes.com/html/nationworld/2022245001_shaleoilxml.html

3. http://www.eia.gov/tools/faqs/faq.cfm?id=33&t=6

U.S. predicted to become world’s largest oil producer in 2015

An International Energy Agency forecast says that while U.S. energy production is skyrocketing, the Middle East will eventually retake the lead after America’s shale-oil output peaks.

-American energy production is skyrocketing, led by Texas and North Dakota, as oil companies use the techniques of hydraulic fracturing and horizontal drilling to tap oil and natural gas trapped in shale rock.-

-“Technology and high prices are unlocking new supplies of oil, and of course also gas, that were previously thought to be out of reach,” IEA chief.

-North America’s need for oil imports will all but disappear by 2035.

-The drilling process of hydraulic fracturing, known as fracking, is opposed by environmental groups, which argue that it poses a threat to air and water. The process involves pumping high-pressure water and chemicals deep underground to release oil and gas from within shale rock.

-The energy agency doesn’t expect other nations to match America’s success in shale drilling. The agency warned that, though global estimates of untapped oil reserves are on the rise, “This does not mean that the world is on the cusp of a new era of oil abundance.”

-The IEA is optimistic about renewable sources of energy, saying such sources will account for nearly half the increase in power generation to 2035, with wind and solar leading the way. The report said China will account for the biggest increase in renewable use, more than the United States, the European Union and Japan combined.

-based mainly on a series of recent offshore oil discoveries, The IEA predicts Brazil’s output will triple to 6 million barrels a day by 2035. That would account for one-third of the increase in global-oil production, the agency said, and make Brazil the sixth-largest oil producer.

 ——-

Các nguồn tham khảo:

http://www.ogj.com/oil-drilling-and-production.html

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Bị chỉ trích bần tiện, Trung Quốc đành tăng viện trợ cho Philippines

Posted by hoangtran204 trên 15/11/2013

Thứ năm 14 Tháng Mười Một 2013

Thụy My

Bị khắp nơi chỉ trích dữ dội về số tiền quá ít ỏi giúp Philippines khắc phục thiên tai, Trung Quốc loan báo sẽ tăng mạnh hỗ trợ cho nạn nhân bão Haiyan (Hải Yến).

Hôm thứ Hai 11/11 Bắc Kinh loan báo viện trợ 100.000 đô la cho Manila, và sau đó là Hồng Thập Tự Trung Quốc với số tiền tương đương. Số tiền hỗ trợ lấy lệ, quá thảm hại so với viện trợ từ các quốc gia khác, kể cả các nước nghèo, đã khiến cộng đồng quốc tế chê cười. 

Được biết các nước Hoa Kỳ, Anh, Úc đều viện trợ cho Philippines trên 20 triệu đô la mỗi nước, chưa kể các phương tiện khác được huy động. Indonesia, một nước Châu Á cũng thường xuyên bị thiên tai, tặng 2 triệu đô la. Đức Giáo hoàng Phanxicô gởi tặng đợt đầu 150.000 đô la, và AFP cho biết, ngay cả nước láng giềng Việt Nam cũng bị ảnh hưởng trận bão Hải Yến, đã tặng Philippines 100.000 đô la. 

Tuần báo uy tín Time của Mỹ chạy tựa « Nền kinh tế thứ nhì thế giới tống bớt tiền lẻ cho đảo quốc bị bão tàn phá ». Báo Time cho rằng đây là một số tiền « đáng sỉ nhục » và đả kích sự «bủn xỉn » của Bắc Kinh. 

Hai nước đang tranh chấp kịch liệt chủ quyền lãnh thổ tại Biển Đông : Manila đòi hỏi chủ quyền bãi cạn Scarborough chỉ cách duyên hải Philippines có 200 km, đã bị Bắc Kinh chiếm vào năm ngoái. 

Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines rốt cuộc cho biết Bắc Kinh sẽ viện trợ bổ sung 10 triệu nhân dân tệ (1,2 triệu euro) bằng hàng hóa : Mền, lều và các vật liệu khác. Thông cáo của tòa đại sứ Trung Quốc cam đoan : « Tất cả những hàng hóa này hiện đang được chuẩn bị và sẽ chuyển giao cho chính phủ Philippines càng sớm càng tốt ». Thông cáo này hôm nay đọc được trên trang web của đại sứ quán Trung Quốc nhưng không có bản tiếng Hoa. 

Ngay tại Hoa lục, thái độ của Bắc Kinh cũng gây nhiều tranh cãi trên các mạng xã hội. Nhiều cư dân mạng dân tộc chủ nghĩa ủng hộ việc chỉ hỗ trợ tối thiểu cho Philippines. Trên mạng Vi Bác, người thì cho rằng nếu quá « hào hiệp » với Philippines là đi ngược lại với tình cảm của dân Trung Quốc. Người khác cam đoan Manila sẽ không biết ơn mà dùng tiền viện trợ đi mua vũ khí đánh lại Trung Quốc. 

Báo chí Nhà nước tìm cách giảm nhẹ các cuộc tranh luận về vấn đề này. Tờ Global Times ngay từ hôm thứ Ba đã nhắc nhở, việc giúp đỡ Manila là có lợi cho chính Bắc Kinh. Xã luận của báo này viết : « Trung Quốc, với tư cách một cường quốc có trách nhiệm phải tham gia vào các hoạt động cứu hộ một nước láng giềng bị thiên tai, cho dù đó là một nước thù địch hay không ». 

Hôm nay, Global Times cũng quay lại đề tài này, nhấn mạnh : « Vị thế của một quốc gia trên trường quốc tế không chỉ tùy thuộc vào sức mạnh kinh tế và quân sự, mà còn được quyết định bởi quyền lực mềm được triển khai, trong đó có thái độ trước các thảm họa nhân đạo ».

  nguồn viet.rfi.fr   (Có rất nhiều bài hay khác đang post trên trang chính)

—————————————————————————

Cứu trợ nhân đạo Philippines, một cách để Mỹ bảo vệ lợi ích ở Châu Á

Thủy thủ tàu USS Antietam (CG-54), tại vịnh Victoria Hồng Kông, nhận lệnh trước khi lên đường sang Philippines, 12/11/2013

Thủy thủ tàu USS Antietam (CG-54), tại vịnh Victoria Hồng Kông, nhận lệnh trước khi lên đường sang Philippines, 12/11/2013

REUTERS

Anh Vũ

Những ngày qua, cộng đồng quốc tế cấp tập các họat động hỗ trợ Philippines khắc phục hậu quả của cơn bão Haiyan, trong đó nổi lên là chiến dịch cứu trợ nhân đạo đang được quân đội Mỹ tiến hành với quy mô lớn. Những họat động cứu hộ khẩn cấp của quân đội Mỹ cho Philippines cũng như với nhiều nước khác trong vùng mỗi khi xảy ra thảm họa lớn, có thể được nhìn nhận như là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của Washington trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Ngay sau cơn bão Haiyan vừa đi qua để lại hậu quả khủng khiếp về người và của cho Philippines, quân đội Mỹ đã tập trung các phương tiện lớn chưa từng có để cứu trợ đồng minh Châu Á đang bị quá tải trong việc cứu hộ nạn nhân của bão. Chiến dịch mang tên “Damayan” đã huy động một tàu sân bay, bảy chiến hạm cùng hàng chục máy bay trực thăng và vận tải quân sự vào cứu hộ nhân đạo vùng bị nạn. Hôm nay ( 14/11), hải quân Mỹ thông báo tiếp tục bổ sung thêm các phương tiện thiết bị tham gia vào chiến dịch nhân đạo này.

Bên cạnh ý nghĩa nhân đạo không thể tranh cãi trong các họat động cứu hộ, cứu nạn của quân đội Mỹ đối với Philippines trong những ngày này, giới quan sát còn nhìn thấy ở chiến dịch “quân sự-nhân đạo” Mỹ một hiệu quả của “quyền lực mềm” giữa lúc Washington đang đặt trọng tâm phát triển các quan hệ đối với vùng Châu Á –Thái Bình Dương, coi đây là khu vực lợi ích của Hoa Kỳ và đặc biệt là giữa lúc các nước trong khu vực đang ngày càng lo ngại với đà gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc.

Về họat động nhân đạo của quân đội Mỹ, ông Ely Ratner, thuộc trung tâm nghiên cứu an ninh Mỹ ( Center for a New American Security- CNSA) nhận định : ” Có phương tiện trong khu vực giúp cho Hoa Kỳ tham gia cứu trợ nhanh chóng. Đó là cách để Mỹ chứng tỏ vai trò lãnh đạo và tính chính đáng trong sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Châu Á ”.

Một sĩ quan cao cấp của hải quân Mỹ cũng bảo vệ ý kiến trên với nhận xét : Thảm họa thiên tai ở Philippines là không may, nhưng lại là một thí dụ hoàn hảo cho thấy sự cần thiết quân đội Mỹ phải được triển khai và thiết lập quan hệ quân sự với các nước trong vùng.

Riêng trường hợp của Philippines lúc này thì đây cũng là dịp tốt nhất để quân đội Mỹ chứng minh hiệu quả của các cuộc tập trận chung của quân đội Mỹ-Philippines vẫn được tổ chức hàng năm mà nội dung các bài tập vẫn được thông báo là tập trung vào cứu hộ cứu nạn khẩn cấp.

Cái cớ để xích lại gần nhau

Chuyên gia về Châu Á, ông Michael Auslin, thuộcviện nghiên cứu Mỹ American Enterprise Institut nhận xét, giờ đây hợp tác quân sự trên lĩnh vực cứu trợ nhân đạo cũng là cách thuận tiện và kín đáo để các nước tạo dựng quan hệ với Hoa Kỳ. Theo ông, “có nhiều nước (Châu Á) muốn quan hệ tốt nhất với Hoa Kỳ, nhưng lại ngần ngại không muốn công khai mối liên minh ” vì vẫn sợ mếch long cường quốc láng giềng Trung Quốc. Bởi vậy, hợp tác quân sự – nhân đạo có thể là một hướng đi tuyệt vời để xích lại gần với Mỹ.

Trên thực tế, chiến dịch nhân đạo tương tự của quân đội Mỹ giúp Indonesia trong thảm họa sóng thần năm 2004 đã giúp cải thiện rất nhiều trong quan hệ quân sự giữa hai nước. Gần đây nhất, hồi tháng 8, Bộ Quốc phòng Mỹ thông báo cung cấp một loạt khí tài vũ trang cho Indonesia, trong đó có 8 máy bay trực thăng chiến đấu Apache. Nên nhớ, trước thời điểm 2004, các trao đổi quốc phòng giữa Indonesia và Mỹ chỉ duy trì ở mức tối thiểu.

Ngay cả với với những đồng minh lâu năm như Nhật Bản, trợ giúp nhân đạo cũng có là một phương tiện xích lại quan hệ. Chiến dịch cứu trợ của quân đội Mỹ mang tên Todomachi được tiến hành sau thảm họa động đất sóng thần hồi tháng 3 năm 2011đã tạo đà mới cho quan hệ của hai đồng minh, vốn khá căng thẳng bởi những chuyện tranh cãi xung quanh quy họach lại căn cứ quân sự Mỹ tại Nhật Bản.

Trở lại với hiện tại, cơn bão Haiyan tàn phá Philippines đúng vào lúc Manila và Washington đang thương thảo với nhau về vấn đề căn cứ quân sự Mỹ và nhất là Philippines bên trong vẫn phàn nàn chưa được Mỹ hỗ trợ đầy đủ để đối phó với Bắc Kinh trong các tranh chấp chủ quyền biển đảo. Phần đông giới phân tích đều có chung nhận định, sau chiến dịch cứu trợ nhân đạo Damayan, quan hệ chính trị và quốc phòng giữa Manila và Washington sẽ được củng cố.

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20131114-cuu-tro-nhan-dao-philippines-mot-cach-de-my-bao-ve-loi-ich-o-chau-a

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Tại sao những “tên đồ tể của nhân quyền” này lại được Đại Hội Đồng LHQ thông qua với một số phiếu cao như vậy

Posted by hoangtran204 trên 15/11/2013

Câu trả lời là: 

4 ghế trống, mà chỉ có 4 nước ra ứng cử, bởi vậy Việt Nam trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ là chuyện đương nhiên. 

Rất vui vì VN được vào HĐNQ LHQ, vì từ nay, đại diện cuả HĐNQ LHQ được quyền vào viếng thăm và điều tra các vụ tố giác nhà nước VN ngược đãi tù nhân, bắt bớ, tra tấn, xử án tù những người bất đồng chính kiến,…mà không bị nhà nước VN ngăn cản như hồi mấy năm trước đây. 

Việt Nam vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc: vui hay buồn?

15-11-2013

Phạm Minh Hoàng

Tác giả gửi tới Dân Luận

Ngày 12/11/2013 vừa qua, Việt Nam được bầu làm thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền (HĐNQ) Liên Hiệp Quốc (LHQ) vời một tỷ lệ rất cao. Thực tình mà nói, căn cứ vào cơ cấu của HĐNQ cũng như các ứng viên cho kỳ này, giới đấu tranh trong và ngoài nước không lấy làm ngạc nhiên lắm, nhưng dù gì đi chăng nữa đây cũng là một “tin không vui” cho chúng ta, những người yêu chuộng và tôn trọng nhũng giá trị phổ quát của nhân loại. Tuy nhiên, sau những xúc động ban đầu, chúng ta hãy bình tâm xem xét mọi khía cạnh của vấn đề – nhưng từ nhãn quan của 184 nước đã bỏ phiếu cho VN để thấy rằng họ không hoàn toàn “bị lừa bịp” và cũng để thấy rằng con đường chúng ta đang lựa chọn cho dù còn nhiều chông gai nhưng vẫn có những cơ hội, những hy vọng nhất định.

Hội Đồng Nhân Quyền và cuộc họp 12/11/2013.

HĐNQ được đưa ra từ năm 2006 để thay thế Uỷ Ban NQ làm việc kém hiệu quả, tuy nhiên HĐNQ vẫn duy trì cơ cấu cũ là phân phối số ghế thành viên theo vùng đia dư. Tổng cộng có 5 vùng lãnh thổ chia nhau 47 ghế. Riêng vùng châu Á Thái Bình Dương có 13 ghế. Nhiệm kỳ là 3 năm nhưng hàng năm sẽ bầu lại 1/3 để đảm bảo tính thời sự. Năm 2013 châu Á sẽ bầu lại 4 thành viên. Các ứng viên sẽ được bầu từ Đại Hội Đồng LHQ bao gồm 192 nước.

Ngay từ khi các nước nộp đơn ứng viên, nhiều tiếng nói đã nổi lên khi biết đó chính là những nước vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất. Trong vùng Á châu là Trung Quốc, Ả Rập Saudi và VN. Bà Peggy Hicks của Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) đã than thở “Với sự hiện diện của Nga, Trung Quốc, Ả Rập, Saudi, những người bảo vệ nhân quyền sẽ có nhiều việc phải làm cho năm tới.“.

Liên đoàn Quốc tế vì Nhân quyền (FIDH) gồm 178 tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới tỏ ra hoài nghi về khả năng cải thiện nhân quyền của Việt Nam trong thời gian tới sau khi Hà Nội có được ghế tại Hội đồng Nhấn quyền Liên hiệp quốc. Bà Julie Gromellon, đại diện FIDH nói: “Việt Nam đã không chứng tỏ những cam kết cải thiện nhân quyền trước khi trở thành thành viên của Hội đồng. Cho nên, chúng tôi không nghĩ rằng một khi được ghế rồi thì họ sẽ cải thiện. Thậm chí, thành tích nhân quyền của Hà Nội còn có thể sẽ tệ đi.”. Còn Ông Robertson thuộc Human Rights Watch (HRW) nói: “Chúng tôi hết sức quan ngại khi một nước vi phạm nhân quyền tồi tệ với chiến dịch leo thang đàn áp những người bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động như Việt Nam lại được chọn vào Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc.

Những diẽn biến sau đó chứng tỏ lời thẩm định của các Tổ chức phi chính phủ (NGO) là có lý: lần lượt Iran được bầu vào Hội đồng về Nữ quyền (CSW), Syrie được bầu vào Hội Đồng Nhân Quyền của UNESCO và Ả Rập Saudi được bầu vào Hội Đồng Bảo An LHQ. Đến cận ngày bầu cử mọi việc đã rõ mười. Trong vùng châu Á Thái Bình Dương, chỉ có 4 ứng viên cho…4 ghế. Sau khi kết quả được công bố, Hillel Neuer, Tổng giám đốc của UN Watch (UNW), một tổ chức phi chính phủ đấu tranh trong lãnh vực nhân quyền đã phải thốt lên: “Đây là một ngày đen tối cho nhân quyền, những kẻ đúng ra phải đứng trước vành móng ngựa thì nay lại chễm chệ trên ghế quan tòa (…) Danh sách ô nhục này gồm Nga, Trung Quốc, Ả Rập Saudi, Cuba, Algerie, Tchad và Việt Nam”.

Những NGO và những người đấu tranh cho nhân quyền quả đã không sai khi cho rằng “ngày hôm nay, nhiều nước gia nhập nó không phải vì họ có thành tích tốt về nhân quyền nhưng lại là những nước vi phạm nhiều nhất. Họ vào chỉ để với mục đích biện hộ cho những thành tích bất hảo của họ”. Và kết quả cuộc bỏ phiếu ngày 12/11 đã xác định một điều rằng “Một nước được bầu vào HĐNQ không có nghĩa là họ thực sự tôn trọng nhân quyền”. Thiết nghĩ đây là câu trả lời rõ ràng nhất cho những khoe khoang của Hà Nội rằng đã “đã thành công trong việc tạo được một uy tín lớn trên diễn đàn quốc tế. Điều này cũng thể hiện sự tín nhiệm và ủng hộ của các quốc gia trên thế giới dành cho Việt Nam”.

Tuy nhiên, một thắc mắc không thể không đặt ra là tại sao những “tên đồ tể của nhân quyền” này lại được Đại Hội Đồng LHQ thông qua với một số phiếu cao như vậy? VN được bầu với tỉ lệ 184/192 (vì bầu kín nên không biết 8 nước phản đối hay bỏ phiếu trắng là ai). Ai cũng rõ là các nước trong “danh sách ô nhục” này đã bỏ rất nhiều thời gian và công sức để “đi đêm” trước ngày bỏ phiếu nhưng không lẽ Trung Quốc và Nga lại có thể thao túng và mua chuộc cả thế giới? Muốn trả lời câu hỏi này chúng ta phải lui về thời điểm 12 năm trước, khi hội nghị Durban kết thúc.

Phú quý sinh lễ nghĩa

Việc Libye được bầu vào chức chủ tịch UBNQ hoặc các nước như Trung Quốc, Bahrein, Cuba, Zimbabwe, Sudan và Việt Nam được bầu làm thành viên của UBNQ vào năm 2001 bỗng nhiên tạo cho cộng đồng thế giới tiếp cận với một suy nghĩ mới, một phương cách hoạt động mới. Một mặt họ tìm cách khai tử UBNQ và đến năm 2006 cho ra đời Hội Đồng Nhân Quyền (HĐNQ) với những mục đích hữu hiệu hóa chức năng của định chế này. Nhưng đìều quan trọng hơn cả là họ điều chỉnh nguyên tắc hoạt động. Kể từ giờ họ tránh tình trạng đối nghịch giữa các thành viên và tìm cách “lôi kéo” các nước “băng đảng” tham gia sâu vào HĐNQ vì theo họ các nước vi phạm nhân quyền luôn luôn phải chứng tỏ mình không hề vi phạm nhân quyền bằng cách (này hay bằng cách khác) tham gia vào các diễn đàn kiểu HĐNQ để thao túng, nhưng việc này lại tạo ra nhiều phản ứng tích cực khác:

– Trước tiên, với tư cách là thành viên, họ khó có quyền từ chối các thanh tra nhân quyền trên lãnh thổ của họ như đã từng làm trong quá khứ, đây là trường hợp của Nga, Trung Quốc, Ả Rập Saudi, Algerie và Việt Nam (cũng lại những khuôn mặt cũ!). 18 chuyên gia của HĐNQ sẽ hoạt động độc lập, khách quan và không chịu bất kỳ sức ép của bất kỳ cơ quan hoặc của chình phủ nào. Một cái khác giữa UBNQ và HĐNQ là định kỳ các thành viên phải tường trình về tình trạng nhân quyền trong nước của mình.

– Sau nữa, với tư cách là thành viên HĐNQ, khi ban hành hoặc kiểm soát các nước khác họ cũng phải ít nhiều e ngại lời chỉ trích của các nước này. Điều này có khả thi hay không cũng chưa ai biết được vì chẳng ai có thể tiên đoán hoặc đo lường phản ứng của các nhóm “băng đảng”. Nhưng khi quyết định dùng “biện pháp mềm” có lẽ cộng đồng thế giới cũng đã nhìn thấy từ các ảnh hưởng tích cực khi thu nhận Trung Quốc, Nga, VN và các nước độc tài vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới khiến cho các nước này suốt ngày phải “đuổi theo chỉ tiêu tăng trưởng”, đồng nghĩa với việc xa rời cái ý thức hệ độc tài và lỗi thời.

– Tuy nhiên điều quan trọng là cơ cấu HĐNQ không có quyền phủ quyết và nếu nhìn vào thành phần 47 nước thành viên thì các nước trong nhóm “băng đảng” vẫn chiếm thiểu số. Bà Peggy Hicks, HRW cũng bày tỏ lạc quan “với việc không có quyền phủ quyết, chúng ta sẽ đạt được nhiều tiến bộ cụ thể”.

Với những ràng buộc này, liệu HĐNQ có thành công hơn UBNQ trong sứ mạng của mình? Liệu định chế này, với những biện pháp “dỗ ngọt” này có thành công trong việc cải thiện được tình trạng đối nghịch hoặc “cải tà quy chánh” được những nước trong “danh sách ô nhục” ? Con đường còn lắm gian truân nhưng có lẽ nó tuỳ thuộc vào nạn nhân chứ không vào các người cầm quyền.

Và cũng chính vì lẽ đó, việc VN được bầu vào HĐNQ sẽ đặt cho những người yêu chuộng tự do những thách thức và những cơ hội mới, đó là chúng ta phải nỗ lực hơn nữa để cả thế giới thấy khát vọng chính đáng của mình đang bị một chế độ và là thành viên của HĐNQ đàn áp. Những động thái của nhà cầm quyền VN sẽ bị săm soi kỹ hơn và kể từ đây “nhất cử nhất động” của họ cũng được thế giới chú ý kỹ hơn. Phản ứng mạnh mẽ của các tổ chức phi chính phủ như HRW, Phóng Viên Không Biên Giới (RSF), UNW, Freedom House, FIDH… về việc các nước vi phạm nhân quyền trầm trọng như Nga, Trung Quốc, Ả Rập Saudi, VN, Cuba, Venezuela… cũng đang “hứa hẹn” cho các nước “băng đảng” một tương lai khá “bận rộn”.

Ước mong rằng đảng CSVN nhìn ra được mặt tốt của vấn đề, biết xem đó là một cơ hội chứng tỏ mình thực sự là một quốc gia tiến bộ, vĩnh viễn rời bỏ cái băng đảng chuyên quậy phá ngày xưa, hội nhập thực sự và toàn diện vào cộng đồng thế giới văn minh. Từ bỏ thái độ cao ngạo độc tôn của mình để lắng nghe nguyện vọng của toàn dân.
Đây sẽ là cách tốt đẹp và hữu hiệu nhắt để xây dựng một nước VN thật sự tự do, dân chủ.

Sàigòn, 14/11/2013

Phạm Minh Hoàng

—————–

Vài nét về các định chế nhân quyền Liên Hiệp Quốc

Phạm Minh Hoàng

15-11-2013

Ít được nhắc đến như Hội Đồng Bảo An (HĐBA), nhưng Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội (viết tắt là ECOSOC) là một cơ cấu cực kỳ quan trọng của Liên Hiệp Quốc. ECOSOC có nhiệm vụ về các vấn đề liên quan đến kinh tế và xã hội toàn cầu. Năm 1946, ECOSOC đã thành lập Ủy ban Nhân Quyền (UBNQ) có nhiệm vụ kiểm soát việc tôn trọng các điều khoản đã ghi trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của LHQ.

UBNQ gồm 53 thành viên chia thành: châu Âu: 15, châu Phi: 15: châu Mỹ: 11, châu Á: 12. UBNQ nhóm họp hàng năm vào tháng 3, khóa họp kéo dài 6 tuần tại trụ sở ở Genève. Trong khóa họp này, ngoài 3000 đại diện các nước thành viên còn có sự hiện diện của 200 tổ chức phi chính phủ. Đây là điểm hết sức quan trọng, vì qua đó UBNQ muốn lắng nghe tiếng nói khác với các tiếng nói “chính thống”.

Khác với HĐBA, các quyết nghị của UBNQ không mang tính ràng buộc nhưng vị thế của UBNQ quan trọng ở chỗ là nó liên quan đến một vấn đề vô cùng nhậy cảm với tất cả các quốc gia, cho dù đó là thành viên hay không của HĐBA, cho dù đó là một cường quốc hay một nước kém phát triển, cho dù đó là một quốc gia trong thời chiến hay thời bình. Đó là vấn đề nhân quyền. Mà nhân quyền (đối tượng của UBNQ) khác chiến tranh (đối tượng của HĐBA) ở chỗ đó là những khái niệm trừu tượng hơn, do con người đặt ra và diễn giải tùy tiện. Chính vì thế nên UBNQ thường xuyên là diễn đàn cực kỳ căng thẳng.

Một trong những phiên họp gay go nhất đã xảy ra vào năm 2001 tại Durban (Nam Phi). Chủ đề của phiên họp là bàn về nạn kỳ thị. Tuy nhiên kỳ thị ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng chứ không đơn thuần là kỳ thị về màu da, về chủng tộc và hơn nữa, vì mang tên là UBNQ nên chắc chắn nội dung cũng sẽ đi đến hoặc xoay quanh vấn đề nhân quyền. Chính vì hiểu theo nghĩa rộng ấy nên phạm vi ảnh hưởng của nó lan toả khắp năm châu và đặc biệt là như vấn đề Tây Tạng và Pháp Luân Công.

Ngay trước ngày khai mạc, “đánh hơi” thấy mũi dùi hướng vào mình, Trung Quốc đã tích cực “đi đêm”, vận động hành lang để một mặt triệt tiêu tất cả các hướng tấn công đến từ các hiệp hội như Ân Xá Quốc Tế, Quan sát Nhân Quyền (Human Rights Watch), đồng thời xúi giục các nước Phi châu cũng nằm trong danh sách bị cáo, các nước Ả Rập nhằm làm “chìm xuống” vấn đề Tây Tạng. Hội nghị Durban được khai mạc trong một không khí cực kỳ căng thẳng. Mặc dù chủ đề của hội nghị đặt trọng tâm vào vấn đề kỳ thị, và mở rộng ra sang các quyền con người, nhưng các nước trong khối Ả Rập đã biến diễn đàn thành một tòa án kết tội Israel. Nhiều quan sát viên, và kể cả bà Tổng Thư Ký Mary Robinson cũng chán nản, bất lực trước tình trạng bát nháo và thô bạo của một số quốc gia Ả Rập và Phi Châu.

Nhiều ngày sau, với sự kiên trì và mềm mỏng của ban chủ tọa cũng nhu của Liên Hiệp Âu Châu, Hội nghị cũng dần tiến đến việc thông qua một số nội dung quan trọng. Đến lúc này Trung Quốc tung ra một đòn mới: kết hợp vói các nước như Burundi, Cuba, Indonesia, Nigeria, Qatar, Myanmar, Sudan, Việt Nam thành một khối được các quan sát viên gọi là “like-minded“, tạm dịch là “cùng hội cùng thuyền” hay nói toạc ra là “một băng đảng” vì các nước trên đang nằm trên danh sách đen của UBNQ. Nhóm này chiếm một trọng lượng đáng kể trong nên thao túng hoàn toàn hội nghị, đồng thời dựa trên một nguyên tắc là không được xâm hại đến chủ quyền quốc gia nhằm triệt tiêu mọi mũi dùi nhắm vào họ. và cuối cùng Durban đã không đạt được mục tiêu ban đầu của mình.

Sau thất bại này, bà Mary Robinson từ chức. Đúng ra là bà ta đã thấy sự vô hiệu quả của UBNQ trước sự thao túng của một số quốc gia thành viên, nhưng bà Robinson cố gằng thuyết phục những nước còn lại đưa ra một văn bản đánh dấu cho Hội nghị Durban.

Sự thao túng của nhóm các nước “băng đảng” lên đến đỉnh điểm khi họ đi đêm để loại Mỹ ra khỏi UBNQ trong nhiệm kỳ 2002 và bầu chủ tịch mới là… Libye của Khadafi. Xướng ngôn viên của đài truyền hình A2 của Pháp trong bản tin 20giờ đã thốt lên: “Xin quý thính giả nghe rõ, đây không phải là một trò đùa, nhưng Libye vừa được bầu vào ghế chủ tịch UBNQ LHQ…“.

*

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Công ước chống tra tấn dưới góc nhìn của các cựu tù nhân

Posted by hoangtran204 trên 15/11/2013

12-11-2013

Tác giả: 

Thương tích trên người ông Nguyễn Mậu Thuận sau khi bị công an tạm giam. (Nguồn: Người Lao Động)

Phó trưởng công an xã và 3 công an viên đánh ông Nguyễn Mậu Thuận (ở thôn Đoài, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội) 30-8-2012. Nạn nhân tử vong.  ( Đọc bài ở cuối trang)

Công ước Liên Hiệp Quốc chống tra tấn tên tiếng Anh là United Nations Convention against Torture (UNCAT) ra đời từ năm 1984. Mới đây, Việt Nam đã đặt bút ký vào công ước này và chính thức trở thành thành viên thứ 155. Nhìn vào danh sách các nước tham gia công ước, một người có chút lương tri hẳn phải thấy xấu hổ. Việt Nam ký kết công ước sau cả những nước vốn bị coi là lạc hậu trên thế giới như Ghana, Gabon, Honduras, Iraq, Marocco…

Tình trạng bức cung, ép cung, đánh đập hay dùng nhục hình với tù nhân không phải là hiếm hoi trong xã hội Việt Nam. Mới đây, khi tù nhân Nguyễn Thanh Chấn được minh oan, người ta đã được nghe nhân chứng sống này kể lại những thủ đoạn rùng rợn của cơ quan điều tra Việt Nam. Điều đáng nói, ngay sau đó hàng loạt vụ án oan sai khác được chính báo chí trong nước đề cập tới. Nhưng dù sao, ông Chấn hay những người mà báo chí mới đề cập tới, cũng may mắn hơn nhiều người đã lìa đời với một thân thể dập nát và không bao giờ có cơ hội kể về những điều đã xảy ra với mình.

Nhân sự kiện Việt Nam ký công ước, để tìm hiểu thêm về việc đối xử với các tù nhân Việt Nam, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn 3 cựu tù nhân lương tâm. Cả 3 đã cùng trả lời những câu hỏi như sau:

1- Mới đây, hôm 7/11/2013, Việt Nam đã ký vào công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tra tấn và trở thành thành viên thứ 155 của công ước này. Từng là tù nhân, theo ông/ bà, có hay không việc tra tấn tù nhân ở Việt Nam trong những năm qua?

2- Tra tấn theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, không chỉ là bạo hành về thể xác mà còn có thể là hạ nhục, đầy đọa về tinh thần nữa. Cá nhân ông/ bà đã gặp chuyện này chưa?

3- Trong các nhà tù Việt Nam, việc đối xử với các tù nhân chính trị có khá hơn tù thường phạm không?

4- Theo đánh giá của ông/ bà, liệu có sự biến chuyển nào không, sau khi Việt Nam tham gia vào công ước này?

Ông Lê Thăng Long

Ông Lê Thăng Long

1– Thực tế tại Việt Nam tình trạng tra tấn và đối xử vô nhân đạo với tù nhân vẫn còn tồn tại khá, tuy có tiến bộ so với trước đây. Tình trạng tạm giam, tạm giữ bi tra tấn vẫn còn không ít. Kể cả có trường hợp đánh chết người, mà báo chí gần đây đã nêu lên, mới được nói đến. Việc tra tấn đối xử vô nhân đạo còn thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tra tấn thể xác và tinh thần, tra tấn bí mật và công khai, tra tấn trực tiếp và gián tiếp. Gây khó khăn cho gia đình tù nhân cũng là hình thức tra tấn gián tiếp.

Công an “bật đèn xanh” cho người tù đánh người tù cũng là một hình thức tra tấn. Giam trong phòng đặc biệt, cùm chân cũng là một hình thức tra tấn. Hiện tại, tù nhân chính trị Trần Huỳnh Duy Thức đang bị đối xử, giam giữ “đặc biệt” tại Xuyên Mộc là một minh chứng cụ thể.

Tôi cho rằng, tình trạng chung này không phải là chủ trương của nhà cầm quyền Việt Nam, nhưng với thể chế, cơ chế lãnh đạo, quản lý đất nước như hiện nay thì sẽ dung túng và bao che cho những tệ nạn này còn nhiều và biến dạng tinh vi hơn.

2- Tôi đã gặp trường hợp này không chỉ 1 lần trong trại tạm giam, quá trình xử án và tại trại giam. Xin chỉ nêu 1 điển hình: Những người yêu nước như chúng tôi đúng ra phải được bất cứ chính quyền nào có lương tri đối xử trân trọng, cảm ơn và khen thưởng vì những cống hiến xây dựng, ôn hòa cho đất nước, cho nhân dân (nhưng chỉ là mơ … đối với thể chế cầm quyền hiện nay)! Ngược lại, chúng tôi đã bị tìm cách biến thành những kẻ tội phạm trong mắt người dân để hạ nhục chúng tôi trước công chúng, đày đọa về tinh thần gia đình chúng tôi.

3- Theo tôi, có khá hơn tù thường phạm ở những mức độ đối xử thông thường, tức là ít có trường hợp đánh đập, tra tấn trực tiếp. Tuy vẫn còn có xảy ra như trường hợp 3 nhà hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động là Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương.

Nhưng mặt khác, tù nhân chính trị gặp nhiều nguy hiểm và bị tra tấn, đối xử vô nhân đạo một cách tinh vi hơn. Chẳng hạn, những quyền lợi của tù thường phạm thông thường thì tù nhân chính trị không được hưởng đầy đủ như các chế độ thăm gặp gia đình, sách báo, v.v… Những tù nhân chính trị thường không được giảm án và bị đối xử hà khắc hơn. Trường hợp các tù nhân chính trị, lương tâm Đỗ Thị Minh Hạnh, Mai Thị Dung, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Ngọc Cường, Phan Ngọc Tuấn… bị đối xử tại trại giam, tạm giam thời gian qua là những ví dụ cụ thể nhất về việc bị tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo một cách tinh vi hoặc tàn nhẫn.

4- Theo tôi việc tham gia vào công ước này là dấu hiệu và tiền đề cho những biến chuyển. Tuy nhiên, nó không tự nhiên đến. Vai trò của Liên Hợp Quốc trong thời gian qua ở Việt Nam vẫn còn mờ nhạt về các vấn đề giám sát và đảm bảo thực thi những công ước đã ký. Việc này cần phải được thay đổi.

Chúng tôi cũng kêu gọi các tổ chức quốc tế có liên quan giám sát thật tốt việc thực thi công ước này của phía Việt Nam. Chống tra tấn là một trong những hoạt động bảo vệ quyền con người. Công ước chống tra tấn là một công cụ pháp lý mang tầm quốc tế. Pháp luật của quốc tế mà quốc gia nào đã tham gia và được công nhận phổ quát toàn cầu có mức độ cần phải được tuân thủ cao hơn pháp luật của quốc gia đó.

Trách nhiệm của chính quyền trong việc thực hiện Công ước là phải phổ biến, diễn giải chính xác cho nhân dân quốc gia mình được nắm vững, đồng thời đảm bảo việc thực thi đầy đủ công ước này trên thực tế. Bằng hoạt động bảo vệ quyền con người tiếp nối tinh thần của cụ Phan Chu Trinh “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, phong trào Con đường Việt Nam sẽ tích cực vận động nhân dân, lên tiếng mạnh mẽ với nhà cầm quyền để Công ước này sớm thực thi đầy đủ tại Việt Nam.

 

Bà Phạm Thanh Nghiên. Ảnh FB

Bà Phạm Thanh Nghiên

1- Nhân danh một cựu tù nhân lương tâm, bằng sự trung thực và trách nhiệm với sự thật tôi khẳng định việc tra tấn tù nhân ở VN là chuyện rất phổ biến. Chỉ có điều, nó không được phản ánh trung thực và đầy đủ trên báo chí, một nền báo chí bị bịt miệng được gọi ngắn gọn dưới cái tên “báo chí lề đảng”.

Những người tù từng bị tra tấn thường không có cơ hội để phán ánh sự thật ra công luận. Và dù có, họ cũng chịu đủ mọi sức ép, thậm chí hiểm nguy nên không dễ gì họ bộc bạch trước công luận. Đặt giả thiết, nếu được bảo vệ, được đảm bảo an ninh cá nhân một cách tuyệt đối, những cựu tù thậm chí những người tù đang thi hành án chắc chắn sẽ cho chúng ta biết những sự thật kinh hoàng, ngoài sức tưởng tượng.

Trong 4 năm tù, tôi đã nghe hàng trăm câu chuyện như thế. Tất nhiên không phải những chuyện tôi đã nghe đều chứa 100 % sự thật. Nhưng cho dù chỉ là vài chục phần trăm thôi thì nó cũng kinh khủng lắm rồi.

2- Mặc dù suốt 4 năm tù, tôi chưa từng bị đánh đập nhưng xét theo định nghĩa của LHQ thì tôi thật sự là một nạn nhân, là một nhân chứng sống.Tôi từng bị giam mấy tháng trời trong một căn phòng rộng chưa đầy 6 mét vuông. Không có cửa sổ, thiếu ánh sáng… bị phân biệt đối xử. Những người tù hình sự khác không được kết bạn hay giao tiếp công khai với tôi chỉ vì tôi bị cho là “phần tử nguy hiểm”.

Họ-công an trại giam- có rất nhiều lý do để “trừng phạt” những người tù kia. Có thể nói không ngoa rằng, mỗi ngày của người tù là một sự đầy đọa. Để trả lời câu hỏi này, tôi có thể phải viết thành một cuốn hồi ký. Tôi chỉ phác họa sơ sơ để các bạn hình dung ra mà thôi.

3- Cai tù, được gọi dưới cái tên là “cán bộ trại giam” thường nói với tôi rằng tôi là một trường hợp rất ít ỏi được đối xử có phần “ưu ái” hơn những người khác. Tôi hiểu ưu ái của họ ở đây là tôi không bị tống vào buồng kỷ luật khi từ chối lao động. Tôi từ chối lao động vì đơn giản tôi không có tội và chưa từng nhận tội mà mình không có. Hay trong các giao tiếp với CBTG, tôi luôn tỏ ra bình đẳng, không khúm núm, không gọi họ bằng “ông, bà” xưng cháu mà vẫn không bị… khiển trách. Hay khi họ đáp ứng một số yêu cầu chính đáng của tôi mặc những yêu cầu đó đều nằm trong khuôn khổ, trong chính sách mà người tù được hưởng cũng coi như một sự “ưu ái”.

Thực ra, đó là những chuyện rất bình thường nhưng lại không hề bình thường bởi hầu hết các tù nhân khác thường rất khúm núm, sợ sệt hoặc nịnh nọt khi giao tiếp với cai tù. Thật buồn cười! Trên thực tế, những tù nhân khác được gọi điện về nhà còn tôi thì không. Họ không bị giám sát khi được gặp thân nhân còn tôi thì ngược lại. Luôn có ít nhất 2, có lúc đến 4 công an ngồi kèm và sẵn sàng cắt ngang cuộc gặp nếu …trao đổi quá giới hạn, tức là nói nhiều sự thật trong trại. Và còn nhiều lắm, không thể liệt kê hết được.

4- Liên Hiệp Quốc đã có bản Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân quyền 1946, nhưng đã hơn 30 năm trôi qua kể từ ngày Việt Nam là thành viên của Liên Hiệp Quốc, nhưng nhiều quyền mà người dân VN lẽ ra đáng được hưởng trên thực tế thì hiện nay vẫn còn là trên lý thuyết. Bản thân Hiến pháp VN cũng có quy định một số quyền tự do căn bản cho người dân nhưng lại “đẻ” ra vô số điều luật và văn bản dưới luật thủ tiêu các quyền căn bản đó. Nếu chính quyền biết tôn trọng các quyền con người căn bản của người dân, thì cho dù họ không ký Công ước chống tra tấn, hay bất kỳ Công ước Quốc tế nào về quyền con người, thì người dân VN cũng đã “mãn nguyện” lắm rồi.

Cho nên tôi khẳng định, việc ký kết Công ước chống tra tấn chỉ là một bước đi nhằm vận động lá phiếu cho chiếc ghế thành viên HĐNQ LHQ. Chính quyền không bao giờ muốn trả lại cho người dân những quyền làm người căn bản. Tất cả đã được chứng minh trên thực tế. Và dù nếu họ có muốn ngăn chặn hay loại bỏ việc tra tấn đi chăng nữa, cũng là điều không tưởng. Giống như việc nếu họ chống tham nhũng chẳng khác nào tự lấy dao xẻo vào mũi mình. Nên nhớ, bạo lực là thương hiệu của cộng sản. Trong lĩnh vực điều tra (các vụ án hình sự) nếu không “tra tấn”, không “ép cung” mà chỉ dựa vào các yếu tố như “tài năng”, “đạo đức” và tinh thần “thượng tôn pháp luật” của giới điều tra viên thì không thể “phá án”, không thể làm giầu nhờ “chạy án” được. Tất nhiên không phải 100% là thế. Nhưng điều đó rất phổ biến. Ký Công ước chống tra tấn, một hình thức “làm đẹp” cho khuôn mặt vốn đã nham nhở của chính quyền mà thôi.

Tôi không hy vọng vào một sự chuyển biến nào sau khi VN ký công ước này. Nếu có, cũng chỉ là hình thức hay một cuộc …mặc cả nào đó với QT mà “nạn nhân” không được biết về cái giá của mình. Chưa bao giờ tôi mong mình sai như lúc này.

 

Ông Nguyễn Bắc Truyển

Ông Nguyễn Bắc Truyển

1- Tháng 11/2006, tôi bị bắt và bị giam tại số 4 Phan Đăng Lưu – cơ quan an ninh điều tra TP HCM. Tại đây tôi bị giam trong một phòng giam nhỏ và tuyết đối kín, 2 lớp cửa. Phòng giam kín đến nỗi dưỡng khí bị giới hạn đến mức có lúc không thở được, đó là chưa nói đến nhiệt độ trong phòng rất nóng. Tôi đã nhiều lần phản đối với trại giam, điều tra viên và viện kiểm sát về tình trạng giam giữ tồi tệ nhưng họ phớt lờ. Tôi cho rằng họ đã dùng những hành vi giam giữ vô nhân đạo đối với tôi.

Khoảng hai tuần, sau khi bị bắt tôi bị rơi vào tình trạng đau đầu và chóng mặt, tôi nghĩ rằng có thể do dưỡng khi trong máu đã không đủ cung cấp cho não bộ.

Phòng giam nhỏ, do đó việc ăn uống ngay cạnh hầm vệ sinh. Họ còn tra tấn bằng cách mở một ngọn đèn vàng 24/24, ngay cả khi đi ngủ.

Lúc đó, tôi vô cùng ngạc nhiên vì bị giam giữ một cách khắc nghiệt trái với các quy định của luật tố tụng hình sự hiện hành, nguyên tắc xét xử công bằng…

Nhưng những gì tôi nghe người tù thường phạm kể thì thật kinh khủng, hầu hết những người tù này đều bị tra tấn khi thẩm vấn và không có cách nào khác là phải “hợp tác”, phải chấp nhận sự bức cung…mà không thể phản kháng. Những oan ức mà họ phải gánh chịu, thật sự là một thảm họa cho ngành tư pháp Việt Nam.

Người tù thường nói: tù đày, tù thì phải bị đày để nói những cơ cực cam chịu. Những người tù thường phạm đều gặp phải những tình trạng bị hạ nhục phẩm giá như bị cùm chân khi chuyển trại hay bị giam trong phòng kỷ luật; bị cưỡng bức lao động; bị cai ngục hành hạ, đối xử không tôn trọng dù họ có thể họ đáng tuổi cha, tuổi ông của những viên cai ngục…

Bản thân tôi cũng bị họ đối xử vô nhân đạo, hạ thấp phẩm giá nhưng vì là những người tù chính trị, một dạng tù khá đặc biệt trong trại giam nên những thái độ như vậy dần dần phải thay đổi. Cai ngục hay tù nhân thường phạm có sự tôn trọng nhất định đối với tù nhân chính trị.

3- Trong nhà tù hiện nay tại Việt Nam, những nhà tù có giam tù nhân chính trị thì đa phần là các tù nhân chính trị bị giam riêng (giam cách ly) với tù nhân thường phạm. Nguyên do là trại giam e ngại những ảnh hưởng của tù nhân chính trị đối với tù nhân thường phạm.

Đối với tù nhân chính trị, trại giam Xuân Lộc nơi tôi bị giam thi hành án tù 3 năm 6 tháng, họ kiểm soát rất gắt gao về không gian giam giữ, về thông tin, báo chí, sách vở, bút viết…những quyền lợi gọi điện thoại cho gia đình mỗi tháng 1 lần, thăm gặp 24 tiếng với gia đình, sinh hoạt thể thao hay văn nghệ với toàn trại… đều bị cấm. Phần ăn, nước sinh hoạt hàng ngày…thì họ cung cấp đúng quy định (nhưng so với thực tế là không đủ dùng).

Thời gian đầu tại trại giam Xuân Lộc, tôi bị cưỡng bức lao động, nhưng sau đó do phản kháng của các tù nhân chính trị và gia đình bên ngoài thì chúng tôi được lao động nông nghiệp và hưởng tất cả những gì mình trồng. Nhưng vẫn có một số tù nhân lương tâm (đấu tranh tôn giáo) vẫn bị buộc lao động nếu họ bị giam chung với tù thường phạm. Đối với tù nhân thường phạm thì việc kiểm soát ngược lại và họ bị cấm tiếp xúc với tù nhân chính trị.

Trong thời gian gần đây, một số tù nhân chính trị bị ép phải nhận tội trong trại giam thi hành án, bị đày xa nhà hàng ngàn km, bị cưỡng bức lao động, bệnh không được chữa trị theo đúng bệnh viện chuyên khoa, thường xuyên bị chuyển trại giam…tôi cho rằng đây là sự giam giữ vô nhân đạo trái với luật thi hành án phạt tù của Việt Nam hay luật pháp quốc tế và đặc biệt là trái với công ước quốc tế Chống tra tấn mà Việt Nam vừa tham gia. Các trường hợp đó có thể kể tên như chị Mai Thị Dung, Đỗ Thị Minh Hạnh, ông Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), chị Tạ Phong Tần, anh Nguyễn Xuân Nghĩa, Bùi Văn Thâm, anh Nguyễn Hửu Cầu, ông Nguyễn Văn Lía…

4-  Việt Nam tham gia vào tuyên ngôn nhân quyền quốc tế, công ước quốc tế về quyền Dân sự và Chính trị, công ước chống buôn người, tuy nhiên nhà cầm quyền Việt Nam đều diễn giải và áp dụng rất tùy tiện vào luật nội địa. Hầu như, nhà cầm quyền Việt Nam vô hiệu hóa những cam kết với cộng đồng quốc tế. Ngay như việc phổ biến các văn kiện ký kết với quốc tế cho người dân Việt Nam, họ cũng không thực hiện.

Theo LUẬT KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ, điều 6 khoản 1 có quy định: “Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế”. Nhưng giữa lời cam kết và thực hiện còn nhiều khoảng cách.

Theo tôi,hệ thống truyền thông trên internet và các nhà hoạt động phải cùng nhau phổ biến các điều ước mà nhà cầm quyền CSVN tham gia ký kết đến với người dân để họ có thể tự bảo vệ mình hay cũng biết nhờ ai khi mà họ bị oan sai, bị đàn áp, bị tra tấn ép cung…Ngoài ra, cũng cần phải đấu tranh để tách hệ thống giam giữ ra khỏi bộ Công an và chuyển sang bộ Tư pháp, không để cho bộ Công an một mình một chợ, bắt và giam giữ người tùy tiện như hiện nay.

© Đàn Chim Việt

——————————————————————-

Bắt tạm giam 4 công an xã đánh chết người ở Đông Anh, Hà Nội

09:41 | 02/09/2012

(Petrotimes) – Ngày 4/9, Công an huyện Đông Anh (Hà Nội) đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam để điều tra làm rõ về hành vi cố ý gây thương tích gây hậu quả chết người đối với 4 đối tượng nguyên là Phó trưởng công an và công an viên xã Kim Nỗ có liên quan đến cái chết của ông Nguyễn Mậu Thuận.

Theo đó, 4 bị can bị tạm giam, gồm: Hoàng Ngọc Tuyên – Phó Công an xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh; và 3 công an viên là: Nguyễn Trọng Kiên; Đoàn Văn Tuyến và Hoàng Ngọc Thức

Nạn nhân tử vong do ngoại lực tác động

Theo cơ quan điều tra, Công an huyện Đông Anh (Hà Nội), khoảng 17h ngày 30/8, cơ quan này nhận được tin báo, ông Nguyễn Mậu Thuận (ở thôn Đoài, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội) được Công an xã Kim Nỗ đưa đi Bệnh viện đa khoa huyện Đông Anh nhưng đã tử vong.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, Công an huyện Đông Anh tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Theo kết luận của cơ quan pháp y, ông Thuận tử vong do gãy xương sườn số 6,7,8 bến trái. Bên cạnh đó, cơ quan pháp y cũng xác định, nạn nhân có bệnh sơ gan, trong tình trạng say rượu, khi bị ngoại lực tác động sẽ gây ngừng tim dẫn đến tử vong.

 

Anh Nguyễn Mậu Công, con trai nạn nhân chia sẻ những bức xúc với phóng viên.

“Khi sự việc xảy ra, dòng họ, gia đình nạn nhân và nhân dân địa phương rất bức xúc, kéo nhau đến trụ sở chính quyền địa phương nhưng đã công an huyện đã vận động, tuyên truyền, làm việc với 5 người có uy tín đại diện gia đình” – Công an huyện Đông Anh cho hay.

Tạm giữ Phó trưởng công an xã và 3 công an viên

Theo cơ quan điều tra, trước đó, khoảng 8h15 ngày 30/8, UBND xã Kim Nỗ tổ chức thi hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng của hộ gia đình ông Nguyễn Mậu Diệp (bố ông Thuận), tại đội 13, thôn Đoài, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh.

Đến khoảng 13h30 cùng ngày, ông Nguyễn Đức Vọng – Trưởng Công an xã Kim Nỗ nhận được tin báo của ông Nguyễn Mậu Phú (ở thôn Đoài, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh) trình báo về việc vợ ông Phú là bà Đoàn Thị Bút, bị ông Nguyễn Mậu Thuận dùng gạch đánh gây thương tích.

Nhận tin báo, ông Nguyễn Đức Vọng – Trưởng Công an xã đã chỉ đạo anh Hoàng Ngọc Tuyên – Phó Công an xã và anh Nguyễn Mậu Thành – công an viên giải quyết vụ việc. Ngay sau đó, anh Hoàng Ngọc Tuyên phân công anh Hoàng Ngọc Thức và anh Đoàn Văn Tuyến, đều là công an viên phối hợp với anh Nguyễn Mậu Thành mời ông Nguyễn Mậu Thuận đến trụ sở Ban công an xã Kim Nỗ để làm việc.

 

Hai đùi ông Thuận bầm tím (ảnh gia đình nạn nhân cung cấp)

Sau đó, anh Nguyễn Mậu Thành – Công an viên đến nhà ông Nguyễn Mậu Thuận và chở ông Thuận bằng xe máy đến trụ sở Công an xã Kim Nỗ. Thấy bố bị công an xã mời lên trụ sở nên anh Nguyễn Mậu Công (con trai ông Thuận) đi xe máy theo sau. Khi đến trụ sở Ban Công an xã, các anh Nguyễn Trọng Kiên, Hoàng Ngọc Thức và Đoàn Văn Tuyến – Công an viên đã sử dụng khoá số 8 khoá tay ông Thuận ra phía sau rồi đưa ông Thuận vào ngồi ghế gỗ trong phòng làm việc của Công an xã.

Tại đây, ông Thuận đã có những hành vi chửi bới, lăng mạ và đe dọa lực lượng Công an xã nên các anh Kiên, Tuyến, Thức sử dụng 4 khoá số 8 khoá 2 chân, 2 tay của ông Thuận vào chân ghế. Sau khi bị khống chế, ông Thuận vẫn tiếp tục la ó, chửi bới. Thấy vậy, anh Nguyễn Trọng Kiên – Công an viên và Hoàng Ngọc Tuyên – Phó Công an xã dùng dùi cui cao su đánh liên tiếp vào đùi phải và đùi trái ông Thuận. Còn an Tuyên bảo anh Kiên dùng hai chiếc bút bi kẹp vào các ngón tay của ông Thuận và bóp mạnh.

Sau khi tra tấn ông Thuận, anh Hoàng Ngọc Tuyên hỏi ông Thuận và yêu cầu anh Nguyễn Trọng Kiên ghi lời khai nhưng ông Thuận không ký biên bản, anh Tuyên và anh Kiên tiếp tục đánh ông Thuận.

Đến khoảng 16h cùng ngày, thấy ông Thuận có biểu hiện khó thở, anh Hoàng Ngọc Tuyên yêu cầu anh Hoàng Ngọc Thức và anh Đoàn Văn Tuyến tháo khoá số 8, đưa ông Thuận lên giường tại trụ sở Ban công an xã Kim Nỗ và dùng tay ép lồng ngực hô hấp nhân tạo cho ông Thuận. Đồng thời gọi điện cho chị Nguyễn Thị Hạnh là Trạm trưởng Trạm Y tế xã Kim Nỗ và anh Lê Văn Bổng là y sĩ Trạm y tế xã Kim Nỗ đến cấp cứu.

 

Những ngón tay của nạn nhân bị kẹp nát (ảnh gia đình nạn nhân cung cấp)

Nhận tin yêu cầu của công an xã, chị Nguyễn Thị Hạnh và anh Lê Văn Bổng đã đến Ban công an xã Kim Nỗ để cấp cứu cho ông Thuận. Quá trình đo nhịp tim của ông Thuận, hai nhân viên y tế phát hiện nhịp tim đập rời rạc, không đo được huyết áp nên yêu cầu chuyển ông Thuận đến Bệnh viện Đa khoa Đông Anh cấp cứu.

Đến khoảng 16h45 cùng ngày ông Thuận được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Đông Anh cấp cứu. Tại đây, các bác sỹ tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh thấy ông Thuận da đã lạnh, tím toàn thân, huyết áp không đo được, nhịp thở không thấy, đồng tử giãn tối đa, không có phản xạ ánh sáng, ngừng tuần hoàn ngoại biên. Bệnh nhân được kết luận đã tử vong.

Ngày 1/9, Công an huyện Đông Anh đã quyết định khởi tố vụ án “cố ý gây thương tích gây hậu quả chết người”, tạm giữ 4 đối tượng, gồm: Hoàng Ngọc Tuyên – Phó Ban công an xã Kim Nỗ và 3 công an viên là Nguyễn Trọng Kiên, Đoàn Văn Tuyến, Hoàng Ngọc Thức.

Đến ngày 4/9, Cơ quan điều tra – Công an huyện Đông Anh (Hà Nội) đã quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam để điều tra làm rõ về hành vi cố ý gây thương tích gây hậu quả chết người, đối với 4 đối tượng là Phó trưởng công an và công an viên xã Kim Nỗ có liên quan đến cái chết của ông Nguyễn Mậu Thuận theo điều 104 Bộ luật Hình sự.

Thiên Minh

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Nhân quyền Việt Nam: cần “nỗ lực phi thường và thay đổi chính mình”

Posted by hoangtran204 trên 15/11/2013

Phạm Lê Vương Các thực hiện

Theo blog Cùi Các

14-11-2013

Nhân sự kiện Việt Nam ký kết Công ước chống tra tấn và trúng cử vào chiếc ghế thành viên Hội đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, Cùi Các đã có cuộc hỏi chuyện ngắn với ông Lê Thăng Long,một nhà hoạt động dân chủ và nhân quyền Việt Nam. Qua đó để xem nhận định của ông xung quanh những sự kiện này, cũng như tìm hiểu về tác động của phong trào Con đường Việt Nam-mà ông là một người đồng khởi xướng, với công cuộc đấu tranh bảo vệ quyền con người.

 


Ông Lê Thăng Long (Ảnh: tác giả cung cấp) 

Thưa ông. Vào ngày 12/11 vừa qua, VN đã trúng cử vào chiếc ghế thành viên Hội đồng Nhân Quyền LHQ, theo ông điều này thể hiện sự mong muốn của nhà cầm quyền trong việc cải thiện nhân quyền hay chỉ là một “quyết tâm chính trị”?

Lê Thăng Long: Theo tôi sự việc này thể hiện cả hai điều trên. Tuy nhiên giữa mong muốn, ký kết và thực thi thì còn khoảng cách rất xa mà nhà cầm quyền Việt Nam cần phải có những “nỗ lực phi thường” trong thời gian tới và phải “thay đổi chính mình” rất nhiều mới có thể đáp ứng được chuẩn mực chung theo thông lệ quốc tế trong việc đảm bảo nhân quyền.

Trước khi trúng cử vài ngày, VN đã ký kết Công ước chống tra tấn. Là một người đã từng ở 3 năm trong tù, ông có nhận định như thế nào về thực trạng nhà tù Việt nam hiện nay, trong đó có việc tra tấn và đối xử vô nhân đạo với tù nhân?

Lê Thăng Long: Thực tế tại Việt Nam tình trạng tra tấn và đối xử vô nhân đạo với tù nhân vẫn còn tồn tại khá, tuy có tiến bộ so với trước đây. Tình trạng tạm giam, tạm giữ bị tra tấn vẫn còn không ít. Kể cả có trường hợp đánh chết người, mà báo chí gần đây đã nêu lên và mới được nói ra. Việc tra tấn đối xử vô nhân đạo còn thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tra tấn thể xác và tinh thần, tra tấn bí mật và công khai, tra tấn trực tiếp và gián tiếp. Gây khó khăn cho gia đình tù nhân cũng là hình thức tra tấn gián tiếp. Công an “bật đèn xanh” cho người tù đánh người tù cũng là một hình thức tra tấn. Giam trong phòng đặc biệt, cùm chân cũng là một hình thức tra tấn. Hiện tại, tù nhân chính trị Trần Huỳnh Duy Thức đang bị đối xử, giam giữ “đặc biệt” tại Xuyên Mộc là một minh chứng cụ thể. Tôi cho rằng, tình trạng chung này không phải là chủ trương của nhà cầm quyền Việt Nam, nhưng với thể chế, cơ chế lãnh đạo, quản lý đất nước như hiện nay thì sẽ dung túng và bao che cho những tệ nạn này còn nhiều và biến dạng tinh vi hơn.

 


Ông Lê Thăng Long (áo trắng, giữa) ra tòa cùng doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức, Ls Lê Công Định, Ths Nguyễn Tiến Trung, hôm 20/1/2010. 

Ông có lo ngại rằng Công ước chống tra tấn sẽ được nhà cầm quyền VN diễn giải “sự khác biệt do đặc thù của mỗi quốc gia”, để rồi tiếp tục vi phạm, như ta đã từng thấy ở Công ước Về Các quyền Dân sự và Chính trị 1966 hay không?

Lê Thăng Long: Tôi hoàn toàn có thể lo ngại về điều này. Như chúng ta đã từng thấy ở Công ước Về Các quyền Dân sự và Chính trị 1966, Việt Nam đã gia nhập vào năm 1982, nhưng cho đến hiện nay quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tôn giáo… vẫn chưa được thực thi đầy đủ trên thực tế. Trong quyền tự do ngôn luận, một trong những điều chưa được thực hiện đầy đủ là không có báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình tư nhân. Chưa có quyền tự do lập hội thực sự, đó là còn cơ chế xin cho và ngăn cản theo chủ quan của nhà cầm quyền; đúng ra lập hội, lập đảng thì chỉ cần đăng ký. Trong quyền tự do tôn giáo: Các lực lượng công an, quan chức cao cấp trong chính quyền, sỹ quan quân đội, vẫn bị hạn chế lấy vợ chồng là gốc Thiên chúa giáo.v.v… Vụ án chính trị của chúng tôi – “nhóm nghiên cứu Chấn”, cũng là một minh chứng cụ thể cho việc vi phạm Công ước Về Các quyền Dân sự và Chính trị 1966. Đây có thể ví như một trường hợp “ông Chấn” nữa! Nhưng chưa được giải oan! Chúng ta hãy chờ xem còn bao lâu nữa?! Chống tra tấn là một trong những hoạt động bảo vệ quyền con người. Công ước chống tra tấn là một công cụ pháp lý mang tầm quốc tế. Pháp luật của quốc tế mà quốc gia nào đã tham gia và được công nhận phổ quát toàn cầu có mức độ cần phải được tuân thủ cao hơn pháp luật của quốc gia đó. Trách nhiệm của chính quyền trong việc thực hiện là phải phổ biến, diễn giải chính xác cho nhân dân quốc gia mình được nắm vững, đồng thời đảm bảo việc thực thi đầy đủ công ước này trên thực tế.

Là một người đồng khởi xướng Phong trào Con Đường VN với mục tiêu tối hậu thúc đẩy cho quyền con người, ông có thể cho biết Phong trào Con Đường VN sẽ có những bước đi nào trong tương lai để vận động và giám sát nhà cầm quyền thực thi Công ước này?

Lê Thăng Long: Phong trào Con đường Việt Nam sẽ thông qua các hoạt động về bảo vệ quyền con người của mình để vận động nhân dân và có tiếng nói thuyết phục mạnh mẽ với nhà cầm quyền nhằm thúc đẩy Công ước chống tra tấn được sớm thực thi đầy đủ trên thực tế. Tôi tin rằng chúng ta sẽ có nhiều sáng kiến hành động trong thời gian tới về chương trình này. Chúng tôi cũng kêu gọi Liên hợp Quốc và các tổ chức quốc tế liên quan có các biện pháp thúc đẩy và giám sát việc thực thi công ước này của nhà cầm quyền Việt Nam. Mặt khác, theo quan điểm của tôi, cái gốc của vấn đề chính là nhà cầm quyền Việt Nam do đảng Cộng Sản lãnh đạo toàn diện và đã sử dụng một chủ thuyết có nhiều sai sót để lãnh đạo đất nước. Đã đến lúc, toàn thể đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam cần phải thay đổi, loại bỏ những điều gì sai sót trong chủ thuyết chủ nghĩa cộng sản Mác – Lê Nin, kế thừa tinh hoa trí tuệ của toàn nhân loại để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đưa Việt Nam phát triển thực sự dân chủ, công bằng, thịnh vượng và văn minh.

Xin cảm ơn ông!

Cùi Các thực hiện

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►4 ghế trống, mà chỉ có 4 nước ra ứng cử, bởi vậy Việt Nam trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ

Posted by hoangtran204 trên 15/11/2013

4 ghế trống, mà chỉ có 4 nước ra ứng cử, thì làm cách nào mà rớt!

Thông báo của Mạng Lưới Blogger Việt Nam về việc Việt Nam trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc

Ngày 14 Tháng 11, Năm 2013

Với thể thức chọn 4 chỉ loại 1 trong 5 ứng viên của khu vực châu Á, các quốc gia Việt Nam, Trung Quốc, Maldives và Saudi Arabia đã trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (UNHRC) nhiệm kỳ 2014-2016. Trước đó, việc Jordan rút tên khỏi danh sách ứng viên đã mở đường cho 4 quốc gia kể trên đắc cử một cách đương nhiên và không có cạnh tranh.

Theo nghị quyết 60/251 của UNHRC, với vai trò thành viên, quốc gia Việt Nam trong đó bao gồm cả chính quyền lẫn hơn 90 triệu công dân phải có nghĩa vụ gìn giữ những giá trị nền tảng cao nhất trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền cũng như tôn trọng những điều khoản mà Việt Nam đã tự nguyện cam kết. Nghĩa vụ này đã được Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh xác nhận sau khi Việt Nam đắc cử vào UNHRC: “thực hiện tốt các nghĩa vụ và cam kết của một quốc gia là thành viên Hội đồng Nhân quyền và thành viên Liệp Hiệp Quốc”.

Trước sự kiện này, Mạng Lưới Blogger Việt Nam cho rằng:

Để thật sự xứng đáng là một thành viên của UNHRC, Việt Nam phải thực hiện những nghĩa vụ và cam kết này bằng những hành động cụ thể và không chỉ dừng lại ở những tuyên bố của một số quan chức chính phủ. Cụ thể là Việt Nam phải:

1. Đồng ý với 7 yêu cầu từ Liên Hiệp Quốc – nhưng chưa được đáp ứng bởi chính phủ Việt Nam – để Liên Hiệp Quốc cử phái đoàn đến Việt Nam điều tra những tố giác vi phạm nhân quyền.

2. Chấm dứt mọi hành vi tra tấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc làm mất phẩm giá đối với mọi công dân Việt Nam như đã ký kết vào Công ước Chống Tra Tấn của Liên Hiệp Quốc vào ngày 7 tháng 11 năm 2013.

3. Trả tự do cho những công dân đang bị giam giữ chỉ vì thực thi quyền tự do ngôn luận và các quyền con người khác dựa trên những nền tảng giá trị, tiêu chuẩn phổ quát từ các công ước của Liên Hiệp Quốc.

4. Hủy bỏ những điều luật có nội dung mơ hồ và bị diễn giải tùy tiện như Điều 258, Bộ luật Hình sự với nội dung: “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân…”

5. Chấm dứt tình trạng độc quyền trong các lĩnh vực báo chí, xuất bản, đảm bảo quyền tự do thành lập các cơ quan báo chí, cơ quan xuất bản của mọi cá nhân, tổ chức,gỡ bỏ tường lửa ngăn chặn sự truy cập của người sử dụng vào các trang mạng xã hội, đồng thời chấm dứt hiệu lực của Nghị đinh 72/2013/NĐ-CP với các nội dung siết chặt tự do biểu đạt và thông tin trên mạng.

Trong vị trí và vai trò của những công dân tự do và với quan niệm Việt Nam trở thành thành viên của UNHRC đồng nghĩa với “đất nước Việt Nam với tất cả hơn 90 triệu công dân Việt Nam” trở thành thành viên của UNHRC, Mạng Lưới Blogger Việt Nam (MLBVN) sẽ tham gia, đóng góp vào việc gìn giữ những giá trị nền tảng cao nhất trong việc đẩy mạnh và bảo vệ nhân quyền cũng như tôn trọng những điều khoản mà Việt Nam đã tự nguyện cam kết. Cụ thể là MLBVN sẽ khởi xướng và kêu gọi sự tham gia của mọi tầng lớp công dân Việt Nam cùng nhau:

1. Xuống đường công khai phổ biến các văn bản về nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết, cụ thể là Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công Ước Chống Tra Tấn và các văn bản khác có liên quan.

2. Công khai tổ chức những buổi trao đổi hoặc cổ súy nhân quyền dưới nhiều hình thức như thảo luận nơi công cộng, dã ngoại, cà phê tuổi trẻ, đi bộ / lái xe đạp vì nhân quyền.

3. Cử đại diện đến các văn phòng của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc nói riêng và tổ chức Liên Hiệp Quốc nói chung để đệ trình về tình hình nhân quyền tại Việt Nam và những đề nghị, yêu cầu cải tiến để nhân dân Việt Nam thật sự được hưởng những quyền làm người phổ quát và đất nước Việt Nam thực sự xứng đáng là một thành viên của UNHRC.

4. Phối hợp với nhiều tổ chức, cá nhân để xúc tiến xây dựng một cơ sở dữ liệu trực tuyến nhằm lưu trữ những vi phạm nhân quyền của Việt Nam để các tổ chức, cá nhân quan tâm (bao gồm cả các cơ quan chính phủ) dễ dàng tham khảo nhằm thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, đồng thời làm tròn nghĩa vụ và cam kết của một thành viên trong Hội Đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

5. Công khai và chính thức ra mắt Mạng Lưới Blogger Việt Nam vào ngày 10 tháng 12 – Ngày Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc khởi xướng.

Mạng Lưới Blogger Việt Nam
tuyenbo258.blogspot.com
tuyenbo258@gmail.com

http://tuyenbo258.blogspot.ca/2013/11/thong-bao-cua-mang-luoi-blogger-viet.html

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »