Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một 7th, 2013

►Nhân đọc về cụ Tôn Thất Tần, người tù bị đảng bắt giam từ 1946-1976

Posted by hoangtran204 trên 07/11/2013

Cụ Tôn Thất Tần bị đảng CSVN bỏ tù từ 1946-1976. Vừa mới qua đời 4-11- 2013. Con rể cụ là nhà văn, nhà thơ Trần Mạnh Hảo, tác giả của Đàn Chim Việt và nhiều trang báo, trang mạng trong và ngoài nước.

“Cụ Tôn Thất Tần, người tù nhân từng được cho là lâu năm nhất của nhà tù Cộng sản vừa qua đời chiều ngày 4/11/2013 tại Sài Gòn, hưởng thọ 96 tuổi.

Được biết, hiện nay kỉ lục “tù cộng sản lâu nhất” của cụ đã bị phá bởi tù nhân Nguyễn Hữu Cầu với hơn 30 năm ở tù. Mặc dù tuổi cao sức yếu, nhưng cho tới nay ông vẫn chưa được phóng thích.

“Tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu người bị giam tù tổng cộng cho đến lúc này là 37 năm hiện sức khỏe rất yếu kém trong trại giam. Gia đình và một số tổ chức quốc tế lên tiếng kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do ngay cho ông nếu không sẽ chết trong tù. http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/urgen-cal-obsc-priso-ng-h-cau-07162013064315.html

Nhân đọc về cụ Tôn Thất Tần

tu toi

Tác giả: 

nguồn: danchimviet.info

Nhân đọc lại chuyện nhà văn Vũ Thư Hiên tường thuật về người tù dưới chế độ cộng sản lâu năm Tôn Thất Tần được Đàn Chim Việt trích đăng lại, tôi xin kể thêm đôi chút để độc giả tường.

Cụ Tôn thất Tần là anh ruột của Nghị sĩ VNCH Tôn thất Uẩn và bà Tôn Nữ Oanh, tức là bà quả phụ Hà Thúc Ký – Chủ tịch Đảng Đại Việt Cách Mạng. Con gái của cụ Tôn Thất Tần là cô Tôn nữ Giáng Tiên, hiền thê của thi sĩ Trần Mạnh Hảo, là bạn thời thơ ấu của tôi. Tôi lớn tuổi hơn cô Tiên. Nhân được tin cụ Tôn Thất Tần qua đời, tôi xin thành kính chi buồn cùng anh Tôn Thất Uẩn, chị Hà Thúc Ký và cô Tôn nữ Giáng Tiên. Nguyện cầu hương linh người quá cố bình an nơi cõi vĩnh hằng.

Tôi có người anh ruột, tên là Đặng văn Châu, sinh viên Trường Thanh Niên Tiền Tuyến do luật sư Phan Anh lập ra dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim. Hùm Xám Đặng Văn Việt, người anh em thúc bá của tôi, lúc bấy giờ cũng là sinh viên Trường Thanh Niên Tiền Tuyến, nhưng khác chí hướng với ông anh ruột của tôi.

Khi Hồ Chí Minh ký hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 thỏa thuận cho Thực dân Pháp trở lại Đông Dương, anh Đặng văn Châu lên án Hồ Chí Minh bán nước, công khai xách động sinh viên trong trường nổi loạn. Kết quả, anh tôi bị bắt và bị kết án tử hình. Cụ Tôn Thất Tần cũng là người chống lại Hồ Chí Minh bán nước, bị kết án tù chung thân.

Nhân dịp đọc lại câu chuyện nhà văn Vũ Thư Hiên viết về cụ Tôn Thất Tần, tôi xin kể cho bạn đọc về mẩu đối thoại giữa ông Phan Mỹ (em ruột của luật sư Phan Anh) với anh tôi. Anh tôi là bạn học của Phan Mỹ, nên khi anh tôi bị Việt Minh nhốt tù thì Phan Mỹ (đang là đảng viên cộng sản) đến gặp anh tôi để thăm hỏi (một hình thức thẩm vấn của cộng sản?) và giảng giải về Karl Marx để thuyết phục anh tôi tin tưởng hành động Hồ Chí Minh ký hiệp định cho Pháp trở lại Đông Dương là đúng.

Phan Mỹ vận động anh tôi tham gia Đảng Cộng Sản để được khoan hồng, khỏi bị lãnh án tử hình. Anh tôi từ chối và nói: “Tại sao toa lại đi theo cộng sản? Hai khối Tư Bản và Cộng Sản là hai thế lực đang ra sức tiêu diệt lẫn nhau. Tại sao cụ Hồ không chọn con đường Trung Lập để tránh cho nhân dân khỏi rơi vào cuộc chém giết? Moa thà chết; chứ không thể nào tham gia vào Đảng Cộng Sản để mang tội với đồng bào mình?

Biết không thể thuyết phục được anh tôi, Phan Mỹ đành chia tay. Vào thời điểm 1946, anh tôi mới 21 tuổi, xuất thân trường Albert Sarraut, vừa mới đậu chứng chỉ Toán Đại Cương (Math Général) năm trước, mà đã nhìn thấy hiểm họa cộng sản sẽ gây nên cho dân tộc rồi. Trái lại thầy Tạ Quang Bửu, đương kim Hiệu trưởng Trường Thanh Niên Tiền Tuyến, rất giỏi về các ngành khoa học, toán học và triết học, nhưng Thầy Bửu đã sai lầm khi chọn con đường cộng sản.

Anh tôi bị đưa ra pháp trường để bị xử bắn thì vừa đúng lúc quân đội Pháp đổ bộ vào Hà Nội, nhờ đó mà được giải thoát. Thầy (Bố) chúng tôi qua đời vào lúc đất nước ngửa nghiêng, gia đình ly tán. Hai người anh khác của tôi – Đặng văn Bút, Đặng văn Nghiên – đang là sinh viên sắp ra trường Đại Học Hà Nội cũng bị lính của Võ Nguyên Giáp giết chết trong cuộc thanh trừng đảng phái Quốc Gia.

Anh Đặng văn Châu của tôi thoát vào Sài Gòn, được người chú ruột là bác sĩ Đặng văn Hồ gửi sang Pháp du học. Vì cần có tiền để sinh sống, anh tôi chọn ngành Marine Marchante (trường này có học bổng hàng tháng) và trở thành người Việt Nam đầu tiên có bằng Viễn Dương Thuyền trường (Commandant Long court) lái tàu xuyên Đại dương. Khi Tổng thống Ngô Đình Diệm về nước, thu hồi nền độc lập từ tay người Pháp, anh tôi được mời về đảm nhiệm chức vụ Directeur Pilotage sông Sài Gòn và đồng thời làm Giám đốc trường Hàng Hải thuộc Trung tâm Kỹ thuật Phú Thọ.

Tháng Tư năm 1975, cộng sản chiếm Miền Nam, gia đình anh tôi bị kẹt lại, nhưng là một nhà hàng hải chuyên nghiệp, nên anh tôi đã đưa gia đình vượt biển sang Singapore an toàn và định cư tại Pháp. Anh tôi qua đời tại Pháp năm 2009 và các con đã đưa tro cốt của anh về chôn cất tại nghĩa trang dòng họ Đặng tại làng Nho Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An năm 2011. Nhân dịp đó, tôi đã liều mạng về nước để tham dự buổi lễ chôn cất tro cốt anh mình vào lòng đất Mẹ và để quỳ lạy Tổ tiên. Đây là lần về nước cuối cùng cho đến khi chế độ cộng sản bị lật đổ.

© Đàn Chim Việt

—————-

Cụ Tôn Thất Tần bị đảng CSVN bỏ tù từ 1946-1976. Vừa mới qua đời 2013

Chuyện về cụ Tôn Thất Tần qua lời kể của Nhà văn Vũ Thư Hiên

LTS: Cụ Tôn Thất Tần là người từng bị chế độ cộng sản cầm tù 30 năm về tội “chống chế độ”. Ông vừa từ trần hôm 4/11/2013 tại Sài Gòn, hưởng thọ 96 tuổi. Là thành viên trong gia đình Hoàng tộc tại Huế và có một cuộc đời đầy sóng gió, nhưng cho tới nay, rất ít người biết hay viết về ông. Để thêm thông tin cho bạn đọc, chúng tôi đăng lại trích đoạn này của nhà văn Vũ Thư Hiên. Đây là một phần của tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày 

Vũ Thư Hiên là con của cụ Vũ Đình Huỳnh (thư ký của HCM, 1945-1967). Cả hai cha con đều bị Lê Đức Thọ và Lê Duẩn bắt giam, bỏ tù 1967 và  (VTH) 1969-1973. 

Ở Hỏa Lò tôi đã được nghe Thành kể về con người huyền thoại đã ở liền một mạch hai mươi hai năm trong tù. Anh nói có lần chưa hoàn cung anh bị đưa đi trại chung, tôi không nhớ trại nào, tại đây anh gặp những người đã ở chung với một tù nhân có thâm niên cao nhất : tù suốt từ 1946 cho tới tận bây giờ (tức năm 1968). Kỷ lục ấy chưa có ai vượt qua. Vì sự chịu đựng ghê gớm ông ta được mệnh danh là “Jean Valjean(1) gọi bằng cụ”.

Tôi nghe, nhưng không tin. Tin làm sao được chuyện tào lao đến thế ! Chúng tôi đang sống giữa thế kỷ XX, chứ đâu phải thời Trung cổ.

Không ngờ chuyện đó có thật và rồi tôi được gặp “Jean Valjean gọi bằng cụ” bằng xương bằng thịt ở trại A Tân Lập.

Một hôm Trần Chấn Hoa dẫn tôi sang nhà C, nơi có đám số tù số lẻ ở trại Vĩnh Quang (tỉnh Vĩnh Phú) vừa chuyển lên, chưa phân vào các toán. Trần Chấn Hoa cũng đã ở Vĩnh Quang vài năm, y có nhiều người quen. Nghe Trần Chấn Hoa tả thì trại nằm dưới chân Tam Ðảo, một bình nguyên rộng ngút tầm mắt, nơi trâu ấn Ðộ và cừu Mông Cổ được nuôi thí nghiệm để nhân giống. Cuộc thí nghiệm không thành công. Những con trâu to kềnh không cho sữa, cừu thay nhau lăn ra chết. Tôi đã đến đây làm phóng sự, nhưng không thành. Người ta chỉ in các phóng sự về thành công thôi. Bù lại, tôi được ăn thỏa thích thịt cừu hoi rình trong những món chém to kho nhừ của bếp nông trường. Thịt cừu nấu plow (pilaw) hoặc súp kharcho(2) rất tuyệt, nhưng không ai biết làm.

Trần Chấn Hoa số chẵn, nhưng ở trại A Tân Lập y lại nằm trong số lẻ. Xem ra cái việc cài chỉ điểm của công an thật vô nguyên tắc. Người ta sẽ làm gì với những báo cáo về tôi của một tên ba hoa ?

– Ta đến xem “Jean Valjean gọi bằng cụ” đi. – y nói.

– “Jean Valjean gọi bằng cụ” là ai ?

Y giải thích. Tôi nghe, làm ra vẻ chăm chú.

– Ông này quán quân ở tù cơ anh ơi ! Hai mươi sáu năm liền tù tì.

– Làm gì có chuyện ! Bịa.

– Anh gặp khắc biết, em không bịa đâu. Kia, cái ông gày gày khoác áo bông ngồi đàng kia kìa !

Theo tay Trần Chấn Hoa chỉ tôi nhìn thấy một người đàn ông đứng tuổi, gày và xanh, đang ngồi chăm chú đọc sách. Hôm ấy chủ nhật, tù được nghỉ, không đi lao động.

Tôi đến, ngồi xổm trước mặt ông:

– Chào bác !

– Chào anh ! – ông ta ngẩng lên, không vồn vã.

Người tù ngồi liền tù tì hai mươi sáu năm trông chẳng khác gì mọi người ở đây. Tôi hình dung ông phải già lắm kia, phải lụ khụ lắm kia, hóa ra không phải. Bề ngoài ông còn trẻ, thậm chí trông không già hơn tôi bao nhiêu.

– Có phải bác là “Jean Valjean gọi bằng cụ” không ?

– Ai bảo anh rứa ?

– Những người tù ở đây.

Ông mỉm cười hiền lành:

– Hay nhỉ ? Rứa mà tui không biết.

– Bác là nhân vật nổi tiếng. Người như bác hiếm.

– Còn anh ?

– Tôi chẳng là gì sất. Tôi chỉ là một người tò mò.

“Jean Valjean gọi bằng cụ” nhìn lên trời, cười không có tiếng. Im lặng một lát, ông nói khẽ :

– Anh là Vũ Thư Hiên, phải không ? Tui cũng đã nghe nói về anh…

Tôi sửng sốt. Tù Vĩnh Quang mới lên hôm qua. Ai đã kể cho ông nghe về tôi ?

– Trong đám tui ở Vĩnh Quang có người đã gặp anh ở ngoài. Anh ta nhận ra.

– Ai nhỉ ?

– Anh không biết anh ta. Nhưng anh ta biết anh.

Người biết tôi là một nhà thơ địa phương, theo sự tự giới thiệu của anh ta sau này. Tôi không nhớ đã gặp anh ta trong trường hợp nào. Những nhà thơ dân gian với những bài thơ xỏ xiên, châm chọc chính quyền rơi vào tù khá nhiều. Cả những nhà văn dân gian chuyên sáng tác chuyện tiếu lâm cũng vậy. Ba Giai, Tú Xuất dưới chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ được phép sống trong nhà tù.

Ngày hôm sau “Jean Valjean gọi bằng cụ” được nhập vào toán tôi. Theo sự điều đình của Trần Chấn Hoa, người tù nằm bên cạnh chúng tôi dọn đi nơi khác, nhường chỗ cho “Jean Valjean gọi bằng cụ”.

– Tui tên Tôn Thất Tần. – ông ta nói.

Nể tôi lắm Trần Chấn Hoa mới làm theo ý tôi. “Ông ta bị lao đấy”, y thì thào. Nhưng tôi biết – y phải chiều tôi. Không chiều tôi thì y không thực hiện được trọng trách mà ban giám thị trao cho. Cho nên tôi có thể bắt bí.

Tôi thích chơi với “Jean Valjean gọi bằng cụ”. Ðó là người tù trí thức đầu tiên mà tôi gặp ở Tân Lập. Tôn Thất Tần thỉnh thoảng có húng hắng ho thật, nhưng dấu hiệu khác của bệnh lao không thấy. Ông gày nhẳng, da xạm, nhưng tù đều gày và xanh, chẳng có ai béo tốt. Hồng hào nhất ở đây có lẽ là Trần Chấn Hoa. Y được gia đình tiếp tế thường xuyên. Tù số lẻ phần nhiều là tù lưu niên, trên dưới mười năm cả. Những người tù ở lâu ít được tiếp tế: Người thì cha mẹ quy tiên, người thì vợ đi lấy chồng, con cái còn nhỏ dại. Nguyên nhân là tù lâu quá, gia đình nào rồi cũng mệt mỏi, cũng phát chán.
Tôi không sợ lây bệnh Tôn Thất Tần, nếu như ông lao thật. Tôi đã bị lao trong kháng chiến chống Pháp, hậu quả lần chấn thương phổi do pháo bầy trong trận chống càn Bretagne năm 1952. Bác Sĩ Hoàng Ðình Cầu (3) hồi ấy ở Nông Cống khám cho tôi, tiên đoán tôi sẽ chết. Nhưng tôi vẫn sống để đi đón anh ở ga Iaroslavsky tại Moskva khi anh sang Liên Xô bổ túc nghiệp vụ. Không hiểu sao, nhưng tôi đinh ninh tôi chết không dễ dàng.

– Anh nên thận trọng trong khi giao thiệp với Trần Chấn Hoa. Tui muốn nói không nên gần gụi anh ta nhiều quá ! – Tôn Thất Tần dặn tôi. – Khi gần gụi nhiều người ta sẽ tin những lời anh ta nói về mình là đúng. Nói chung, ở trong tù anh nên cẩn thận. Giao thiệp với bất cứ ai cũng vậy, có khi mình sơ suất gây ra những hậu quả rất xấu.

Tôi trân trọng lời khuyên của bậc đại trưởng lão trong bộ lạc tù. Không nghe lời ông thì còn nghe ai ? Ông có đàng sau lưng một thâm niên tù không ai sánh bằng, kinh nghiệm đời tù ông tích lũy đủ cho mấy thế hệ đi sau.

– Cả với bác nữa chứ ? – tôi nói đùa.

– Tất nhiên. – ông trả lời ráo hoảnh – Trong tù có quá nhiều điều bất ngờ, đến nỗi lắm lúc mình chỉ còn biết trợn mắt lên mà ngạc nhiên, anh ạ. Thật vậy, con người ta lạ lắm, thay đổi nhanh lắm ! Người mình ngỡ trung thành khi lâm sự hóa ra tên phản bội. Kẻ hôm qua bị cả trại chê hèn nhát thì hôm nay bỗng làm mọi người kinh ngạc vì một hành động anh hùng xuất chúng. Cuộc đời, nó lạ lắm ! Nói bất ngờ là nói quen miệng, chớ mọi tính cách có sẵn trong con người ta hết, tốt có, xấu có, gặp dịp là bùng ra, là nổi lên…

– Bác không cho rằng có người tốt, người xấu ?

– Có chớ. Người tốt là người biết phân biệt cái xấu và cái tốt, điều nên làm và điều không nên làm, là người có ý chí mạnh mẽ đè nén được cái xấu, không cho phép nó hoành hành… Người tốt là người sống thật thà với mọi người cũng như với chính mình, tức là tui muốn nói những người không đạo đức giả, làm ra vẻ tốt nhưng trong lòng xấu xa…

Hoàng hôn ở Tân Lập ngắn ngủi. Khi mặt trời vừa khuất sau những rặng núi xa thì bóng tối liền đổ ập xuống. Tù xếp hàng điểm danh khi những tia nắng cuối cùng chưa tắt trên những ngọn cây. Ðiểm danh xong là tối. Chúng tôi bị lùa vào phòng, khóa cửa lại.

Câu chuyện được tiếp tục bên trong song sắt.

– May một cái là ở trong tù mình mau chóng nhận ra người tốt người xấu. Nhà tù không có chỗ cho những âm mưu lâu dài. Người tù không biết mình sẽ ở địa điểm nào vào ngày mai, hắn đểu cũng vội vàng đểu, cũng hấp tấp đểu, sợ không kịp…

Tôn Thất Tần chỉ sống với quá khứ, bằng quá khứ. Mà quá khứ cũng chỉ được tính từ năm 1946 trở về trước. Những sự kiện sau đó, cho dù chúng lớn tới mấy, ông không tính, không nhớ, hoặc không thèm nhớ.

– Tui đã có vợ con.

Ông bắt đầu câu chuyện, rồi im bặt.

– Bác có được tin của bác gái không ?

– Không. Từ năm 1946 tui không còn được tin gì của nhà tui nữa.

– Bác có biết mặt con chứ ?

– Biết. Nó là con gái.

Người ta kể Tôn Thất Tần đã tham gia cuộc nổi loạn của tù nhân ở chiến khu Bình-Trị-Thiên. Những người tù phá trại, giết lính gác rồi bỏ trốn vào rừng. Họ lần lượt bị bắt lại hết, không sót một ai. Hai người bị kết án tử hình. Tôn Thất Tần lĩnh án chung thân, sau được giảm xuống 20 năm. Về chuyện này dường như Tôn Thất Tần không muốn nhắc lại, không muốn nói tới, mặc dầu tôi có vài lần hỏi ông. Mãi một năm sau ông mới kể cho tôi nghe, nhân câu chuyện tình báo Việt Nam đánh đắm một thông báo hạm của Pháp tại vùng biển Sầm Sơn năm 1950, tôi nhắc tên Hoàng Ðạo.

– Anh biết hắn ta à ?

– Chúng tôi quen nhau khá lâu.

Ông cúi xuống, lầm rầm câu gì nghe không rõ. Hình như ông văng tục. Bình thường không bao giờ Tôn Thất Tần văng tục hoặc chửi bậy, cho nên tôi nghĩ tôi nghe nhầm.

– Bác bảo sao ?

– Tui nói hắn là thằng chó đẻ !

Tôi thấy mếch lòng. Dù sao Hoàng Ðạo cũng là người quen của tôi.

– Tại sao bác lại gọi anh ấy là thằng chó đẻ ?

– Bởi vì hắn là một thằng như rứa.

Tôn Thất Tần nói như gắt.

Thì ra chính Hoàng Ðạo là nguyên nhân, hay nói cho đúng, là khởi điểm cho đời tù lê thê của Tôn Thất Tần.

Hai người vốn là bạn bè. Khi Tôn Thất Tần rời Huế đi học Trường Thể Thao Phan Thiết thì Hoàng Ðạo hoạt động cách mạng. Cách Mạng Tháng Tám nổ ra ở Huế, Hoàng Ðạo trở thành giám đốc công an thành phố. Tôn Thất Tần trở về, họ vẫn chơi với nhau.

Cho tới khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh ký Hiệp Ước 6-3 năm 1946, cho quân Pháp quay lại Ðông Dương thay quân đội Ðồng Minh làm nốt việc giải giáp quân đội Nhật Bản và giữ trật tự trên lãnh thổ do Nhật chiếm đóng, thì ở Huế một số chính khách xa-lông bất bình. Họ nói Hồ Chí Minh bán nước. Tôn Thất Tần ở trong số thanh niên phản đối Hiệp ước.

– Bây giờ bác có còn nghĩ rằng lúc ấy bác đúng không ?

– Không. Tui sai. Cụ Hồ đã đi một nước cờ cao. Nếu quân Tưởng ở lại cái họa còn lớn hơn. Bọn Pháp ở xa chính quốc, quân số không nhiều, quân Tưởng có hậu cứ sát nách ta, lại ô hợp, chơi nhau với nó mệt lắm …

Tôn Thất Tần tìm Hoàng Ðạo nhờ Hoàng Ðạo in truyền đơn chống chính phủ Hồ Chí Minh. Hoàng Ðạo không nhận lời, một hai khuyên can Tôn Thất Tần đừng làm chuyện thọc gậy bánh xe, nhưng Tôn Thất Tần không nghe. Không nhờ được Hoàng Ðạo, ông đưa in nơi khác. Tờ truyền đơn chưa kịp in thì Tôn Thất Tần bị bắt. Người ra lệnh bắt Tôn Thất Tần chính là Hoàng Ðạo.

– Sau, hắn có cho người gặp tui, biểu chỉ cần tui chịu xin gặp hắn nhận có lầm lỡ thì hắn tha… Tui tống cái thằng đến phủ dụ ra khỏi xà lim. Sau đó thì… không biết Hoàng Ðạo đi đâu, hay là hắn tránh mặt tui, nhưng không thấy vân mòng chi nữa. Rồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tù ở lao Thừa Phủ bị tống lên chiến khu.

– Hồi đó anh Hoàng Ðạo bị gọi ra Hà Nội. – tôi nói – Anh ấy không trở về Huế, mà làm trưởng ty công an Thanh Hóa. Ðến lúc đó Hoàng Ðạo có muốn thả bác cũng đã muộn. Liên lạc giữa các địa phương trong thời kỳ đầu kháng chiến rất khó khăn…

Tôi muốn an ủi Tôn Thất Tần. Chứ nếu Hoàng Ðạo muốn, anh vẫn tìm được cách để thả bạn mình. Anh đã quên bạn, hoặc anh muốn cho người ta thấy trong anh ngoài lợi ích của cách mạng ra không còn có chỗ cho cái gì khác.

– Từ đó, ở trong tù, tui cũng không nghe ai nói tới Hoàng Ðạo nữa…

– Rồi bác tham gia cuộc nổi loạn phá trại ?

Tôn Thất Tần cười, vẻ cay đắng.

Dần dà, chắp nối những mẩu chuyện rời rạc của ông lại với nhau tôi mới biết Tôn Thất Tần rơi vào trong số những người cầm đầu cuộc nổi loạn như thế nào. Người cầm đầu thật sự là Bửu Viên (có thể tôi nhớ tên không được chính xác), sau bị xử tử, từ lâu đã ngấm ngầm chuẩn bị vượt ngục. Trong số người cùng đồng tâm với ông ta không có Tôn Thất Tần. Khi những người vượt ngục lọt ra ngoài nhà giam, họ gọi Tôn Thất Tần đi theo. Lính canh phát hiện, nổ súng. Những người vượt ngục chống lại. Cuộc vượt ngục biến thành cuộc nổi loạn phá ngục có đổ máu, có người chết, người bị thương cả ở hai phía. Sau nhiều ngày lẩn quất trong rừng tất cả lần lượt bị bắt lại. Công an cho rằng không có lý nào hai người trong hoàng tộc, một Bửu một Tôn Thất, mà không bàn bạc với nhau. Không thể nào cãi lại những ông chấp pháp dai hoi, Tôn Thất Tần nhận đại cái tội mà ông không có.

Một cuộc đời tan nát bắt đầu từ một chuyện không đâu.

Chúng tôi chơi thân với nhau, mặc dầu đứng giữa tôi và Tôn Thất Tần là Mác. Ðược cái Tôn Thất Tần không quan tâm tôi cộng sản hay không cộng sản như những người tù số lẻ khác. Người như tôi dễ được Ban Giám thị chọn làm ăng-ten lắm, bọn họ nghĩ thế và có thái độ lạnh nhạt hoặc xa lánh tôi. Có người còn xưng xưng rằng đúng thế. Tôi kệ. Dù sao thì tôi vẫn là kẻ tình cờ rơi vào hàng ngũ họ từ phía bên kia. Tôi không phải người của họ.

Tôn Thất Tần ham hiểu biết. Ông còn bắt tôi nói cho ông nghe lý thuyết chủ nghĩa Mác, là cái ông không hề được đọc. Những bài giảng chính trị của các ông cán bộ dĩ nhiên không phải chủ nghĩa Mác rồi. Các chủ nghĩa, kể cả chủ nghĩa Mác, theo quan niệm thông thường, không cần đi cặp kè với còng tay và cùm sắt. Tôi nói lại cho ông nghe những điều tôi biết, một cách hờ hững. Tôi đã ngán mọi thứ chủ nghĩa mà vì chúng người ta thịt nhau.

– Như vậy, anh cho rằng nó không hiện thực ?

– Tất cả đều mò mẫm. Mác mò mẫm trong lý thuyết, các nhà mác-xít mò mẫm trong thực hành. Cái khác nhau là trong một lý thuyết sai lầm chỉ có chữ nghĩa là bị xây xát chút ít, còn trong thực hành là những số phận người, sai lầm gây ra bi kịch.

Tôn Thất Tần thở dài.

– Vậy cái gì còn lại trong chủ nghĩa Mác sau khi anh thất vọng với nó ?

– Phần nhân bản của nó, đấy là tất cả những gì còn trong tôi. Tôi thích mục đích của cái xã hội mà Mác tưởng tượng ra :”Ðưa con người từ vương quốc tất yếu qua vương quốc tự do” Con người chỉ được tự do thật sự khi nó thoát khỏi sự ràng buộc của những cái tất yếu…

– Tất yếu là cái gì trong khái niệm của Mác ?

Tôi giải thích. Tôn Thất Tần chăm chú nghe. Trong nhà tù không có sách, không có báo, thảng hoặc có chút gì thuộc nền văn minh ấn loát lọt được vào đây thì đó lại là sản phẩm của ngành tuyên giáo(4), mang theo những ngôn từ, những khái niệm hoàn toàn xa lạ với những gì mà chàng trai hai mươi ba tuổi vào năm 1946 giữ lại từ một thời đã mất.

– Như vậy Mác là người tìm tòi, còn những đệ tử của Mác thì kiếm chác.

– Có thể hiểu như vậy.

– Cái xã hội Cộng Sản mà Mác mơ tưởng có khác gì thiên đường của Thiên Chúa Giáo hay Nirvana của Phật Giáo ? Tại sao Cộng Sản các anh lại chống các tôn giáo ?

– Tôi không chống.

– Vậy anh không phải là Cộng Sản rồi.

Nói chuyện chủ nghĩa Mác trong tù thật vô duyên. Ngán lắm. Tôi đề nghị dẹp nó qua một bên để chơi cờ. Tôn Thất Tần chiều tôi. Ông chơi cờ vào loại giỏi trong trại. Tôi không thể là đối thủ của ông. Ðối thủ của ông chỉ có hai: Phún Nàng Cái và Lầm Sì Lần, hai ông nông dân người Hoa ở Lạng Sơn.

Tôi lấy làm thú vị cách phiên âm Hán-Việt những cái tên dân dã của người Tàu. Dịp Pún Mằn nghe xấu xí là thế mà khi phiên thành Diệp Bản Minh nghe thật đẹp, sướng cái tai. Phún Nàng Cái nghe chẳng ra gì, nhưng thử đọc theo cách phiên âm Hán Việt mà xem. Nó sẽ thành Phan Hành Giai, tuyệt. Phún Nàng Cái có ông bạn không lúc nào rời là Lầm Xì Lần, hình như đọc theo âm Hán Việt là Lâm Sĩ Liên thì phải.

Hai ông nông dân ở một làng biên giới Việt-Trung trở thành tù số lẻ vì một nguyên nhân lăng nhăng. Theo các bạn tù thì đâu như chỉ vì một câu nói không đẹp đối với lãnh tụ họ Mao trong một bữa rượu, thậm chí tỉnh dậy hai ông chẳng nhớ họ đã nói gì. Cũng như trường hợp Dip Pún Mằn, tuy là phản động chống chế độ, nhưng Ban Giám thị trại biết rõ họ là ai. Ðã không sợ hai tên phản cách mạng kích động tù nổi loạn hoặc làm chuyện tầm bậy nào khác trong trại, họ còn cho hai ông vào toán tự giác chuyên về nông nghiệp. Ngoài cái sự phải xa vợ xa con và buổi tối phải vào nhà giam có khóa ngoài, hai ông nông dân vẫn i xì là hai ông nông dân cày sâu cuốc bẫm. Phún Nàng Cái và Lầm Sì Lần đã ở tròm trèm hai lệnh, có triển vọng được thêm một lệnh thứ ba, nhưng xem ra họ yên tâm lắm. Là dân của cái nhà nước này tốt nhất là yên tâm. Không yên tâm cũng chẳng được. Nó cho sống được sống, bắt chết phải chết, suy nghĩ mà làm gì ! Mà họ cũng chẳng buồn trốn. Ngoài cái làng quê chôn nhau cắt rốn ra mãi tận Lạng Sơn, hai ông chẳng biết nơi nào khác, kể cả nước Tàu, từ đó các cụ tổ của hai ông đã tới đây. Ngoài giờ làm việc Phún Nàng Cái và Lầm Xì Lần bầy bàn cờ ra, dìm mọi sự đời trong những trận chiến ác liệt không có tiếng súng.

Cờ tướng ở trong tù là thú vui duy nhất của những ông già. Nhìn họ tập trung tư tưởng vào những nước cờ hiểm hóc để giành chiến thắng thì biết. Không có gì làm cho những con người đau khổ quên đi được thực tại tàn nhẫn bằng cái bàn cờ bằng giấy và những quân cờ cũng bằng giấy bồi, hoặc bằng gỗ tự gọt lấy. Nhờ bàn cờ họ đặt cuộc sống đáng nguyền rủa xuống chân để thoát tục.

– Ông Hồ cũng là một tay cờ giỏi. – Tôn Thất Tần nói.

– Sao bác biết ?

– “Lạc nước, hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”. – ông trích dẫn – Không giỏi cờ không thể đúc kết chân lý nhẹ nhàng như rứa được.

– Bác có nghĩ tới một ngày bác sẽ ra khỏi đây không ?

– Anh muốn nói tới cái thời sẽ khác đi ?

– Cho dù cái thời có không khác đi thì người ta cũng không thể giam một con người mãi mãi.

– Tại sao lại không thể ? Anh quên anh đã nói với tui về chuyên chính vô sản ở Liên Xô ra răng rồi sao ? Ở Việt Nam mình còn may, người ta không giết. Người Châu Âu thẳng ruột ngựa, chứ người Việt mình thâm. Nuôi thằng tù chẳng hết bao nhiêu mà lại thu về được rất nhiều …

Nhìn con người gày còm xanh xao ngồi trước mặt mà thương. Tôn Thất Tần sau khi được giảm án xuống hai mươi năm còn được giảm nhiều lần nữa. Cho tới khi sạch án. Tính ra tới nay ông đã ngồi hết nợ nhà nước từ lâu. Thế nhưng ông vẫn không được tha, vẫn cứ ở tù. Không còn án thì có lệnh.

– Người ta không thả tui là do hoàn cảnh. – Tôn Thất Tần giải thích – Ðất nước bị chia cắt. Gia đình tui ở phía bên kia, chẳng lẽ họ thả tui về Nam à ? Còn thả ở miền Bắc thì biết thả tui về đâu ?

– Về đâu là chuyện của bác. Hết hạn thì phải tha.

– Ðâu có rứa được. Thả ra để tui đi lang thang tuyên truyền phản động à ?

Cứ như thể tôi đang nói chuyện với một cán bộ tuyên huấn vậy.

Tôn Thất Tần không nghĩ tới ngày về. Ông sống bởi vì ông chưa chết.

– Có số cả đấy anh ạ ! – ông nói khi ngồi bên cạnh tôi đang thoi thóp trong một trận dịch kiết lỵ làm chết cả chục tù trong trại. – Xem ra số anh số tui còn sống dai lắm.

Trận dịch bắt đầu từ chuyến tù hình sự được chuyển bằng xe ca từ trại Hà-Nam-Ninh (5) lên. Trong đám tù nhét chặt cứng trong xe có một người đang hấp hối vì bệnh kiết lỵ. Người hấp hối thì để cho họ được chết yên, còn chuyển lên làm gì, tôi không hiểu. Chắc hẳn người ta muốn tống khứ tất tật đám tù cũ đi để giải phóng mặt bằng đón tù mới. Anh tù hấp hối không phải nhập trại, mà được đưa thẳng vào nhà xác. Ðàng nào thì y cũng không trốn được nữa rồi. Ði còn chẳng nổi, nói gì trốn.

Ban đêm người hấp hối tỉnh lại, kêu gào thảm thiết. Nằm trong nhà giam tôi nghe tiếng y kêu khàn khàn yếu ớt như tiếng mèo. Chẳng có ai trong số lính gác rẽ vào xem y làm sao. Sáng ngày ra không thấy y trong nhà xác, mới đi tìm thì thấy y nổi lềnh bềnh trong bể nước. Thì ra y khát, gào mãi chẳng thấy ai đến. Y liền bò ra ngã xuống bể nước và chết chìm trong đó. Những người tù nói lính gác sợ cái nhà xác. Ðồn rằng ở đó có ma. Những con ma tù không giống các loại ma khác, chết rồi chúng vẫn cứ luẩn quẩn ở nơi chúng qua đời. Tại sao không còn gì kiềm tỏa mà chúng không về nhà thì không ai giải thích được. Vào những buổi mơ thâm tối trời hay là sáng trăng suông lại hiện lên dọa lính, lính sợ bỏ chạy thì chúng cười khanh khách.

Trong trại Tân Lập có một số bể chứa nước cho trại viên dùng. Nước được bơm từ trạm thủy điện đặt bên ngoài trại vào trong các bể trong một hệ thống bình thông nhau.

Buổi sáng bắt đầu trận dịch: Toàn trại ngã bệnh. Không có thuốc, hết người này đến người khác theo nhau ra bãi tha ma dành cho tù.

Thêm một lần tôi được mục kích sức đề kháng mãnh liệt của cơ thể Việt Nam. Những người tù ốm vốn đã gày còm vì thiếu ăn vật vờ ngoài sân trại như những bộ xương biết đi, chẳng được chữa chạy gì, chẳng có thuốc gì để uống, mà không chết.

Khi dịch tắt thì đến lượt tôi bị bệnh. Trong thời gian có dịch tôi rất giữ gìn, không dám dùng một chút nước lã nào, đến cả nước rửa mặt đánh răng cũng dùng nước đã đun sôi. Nhà bếp ưu ái tôi, tôi muốn xin bao nhiêu nước chín cũng được.

Kiết lỵ là một bệnh rất khó chịu. Sức khỏe xuống rất nhanh cùng với những cơn đau quằn quại. Diệp Bản Minh, Tôn Thất Tần, cả hai ông nông dân phản cách mạng Phún Nàng Cái và Lầm Xì Lần đều lo cho tôi. Chốc chốc mở mắt ra tôi lại thấy hoặc người này hoặc người kia ở bên mình. Trần Chấn Hoa những ngày ấy chuyển đi chỗ khác – y sợ lây. Vả lại, y cũng chán. Tôi kín như bưng. Chẳng có thể gợi ở tôi câu gì. Ðôi khi, sốt ruột, y hỏi thẳng vào chuyện vụ án. Tôi bảo công an dặn đây là bí mật của Ðảng không được nói với ai, thế là xong.

Một đêm tôi thức giấc vì nghe mơ hồ có tiếng người gọi.

– Ai đấy ?

– Em đây, Cao đây !

Trong bóng đêm tôi thấy một bóng người lờ mờ cúi xuống. Cái bóng ghé sát tai tôi:

– Anh ơi, anh đừng chết !

Tôi bật cười. Làm sao có thể đừng chết được ? Chết là cái không thể đừng. Sức mạnh của cái chết là không thể ngăn cản.

Cao ghé người nằm xuống. Ðó là một thanh niên nhỏ bé, nhưng rất nhanh nhẹn, bị tập trung cải tạo với tội danh biệt kích. Tôi không hiểu tại sao Cao bị tập trung cải tạo. Nhưng tôi cũng chẳng buồn tìm hiểu. Trong nhà tù có quá thừa những điều làm tôi ngạc nhiên. Ðây là nơi tập trung những điều phi lý nhất nhưng có thật. Nói theo cách Descartes (6), chúng tồn tại chỉ vì chúng hữu hình.

– Trong trại chỉ có hai người Cộng Sản là anh và em. – tôi nghe tiếng Cao thì thào bên tai – Em có trách nhiệm bảo vệ anh.

Tôi cố cựa quậy cánh tay nặng như chì để nắm lấy tay Cao :

– Cảm ơn em.

– Em đã bàn với bác Tần. Bác với em sẽ cố gắng chăm nom anh để anh chóng khỏe…

Tôi cười cay đắng. Giờ đây tôi có hai người đang ra sức giúp tôi chống lại cái chết: Một phản cách mạng và một Cộng Sản.

Sáng hôm sau, theo lời khuyên của Cao, tôi viết một bức thư gửi về cho gia đình để gia đình xin thăm đột xuất, mang thuốc cho tôi. Tôi viết, không mấy tin tưởng ở kết quả bức thư. Nó đến được hay không là một chuyện. Nhà cầm quyền có cho gia đình lên thăm tôi hay không là chuyện khác. Bức thư đã đến. Vợ tôi tức tốc lên ngay. Bằng cách nào Cao gửi được bức thư tôi không biết. Chắc Cao bàn với Dịp Pún Mằn và gián điệp quốc tế đã liều mạng để cứu tôi.

Từ hôm đó hàng ngày đi làm về là Cao đến giặt giũ quần áo cho tôi, lo lắng cơm nước cho tôi, mặc dầu Cao ở một toán khác. Tôi được ăn nhiều rau hơn, thức ăn ngon hơn, cơm cũng nhiều hơn, có hôm là ngô tươi. Thức ăn của trại được hâm lại, nóng hổi. Trong bữa ăn, Tôn Thất Tần và Cao ngồi bên, khuyến khích tôi ăn từng miếng.

Tôn Thất Tần mách tôi :

– Anh phải ngăn thằng Cao. Ai lại nó leo vào cả vào trong kho của Ban lấy cắp mì chính, muối, cả ngô nữa. Họ mà bắt được thì chết !

Cao nghe tôi trách, cười hì hì :

– Nghề em mà, anh đừng lo.

Lúc ấy tôi chưa biết Cao là chiến sĩ đặc công.

Cũng trong những ngày này Cao kể cho tôi nghe vì sao cậu ta mang tội danh biệt kích.

Hai năm trước, tại vùng chiến thuật 1 (7), tiểu đội trinh sát của đơn vị đặc công mà Cao là tiểu đội trưởng đang len lỏi trong rừng thì gặp một trung đội thám báo địch từ trực thăng đổ xuống. Một trận tao ngộ chiến dữ dội nổ ra. Kém hẳn đối phương về quân số và trang bị, các chiến sĩ trong tiểu đội Cao lần lượt ngã xuống. Còn lại một mình Cao và một đồng đội bị thương nặng. Cao bắn trả cho tới khi khẩu AR15 hết đạn. Ðúng lúc Cao đập khẩu súng, cõng đồng đội xông ra để cướp khẩu súng khác quyết tử với địch thì viên sĩ quan phía bên kia kêu lên :”Không được bắn ! Phải bắt sống !”

Ðưa Cao về vị trí đổ quân, viên sĩ quan ra lệnh cởi trói cho Cao, rồi rót rượu mời Cao :”Tôi hân hạnh được mời rượu một người anh hùng ! Hãy bỏ qua một bên những bất đồng chính kiến, chuyện bên này bên kia, để uống với tôi, một người Việt, đồng bào anh !”. Cao uống. Theo yêu cầu của Cao viên sĩ quan chôn cất cẩn thận các bạn đồng đội của Cao trước mặt Cao, rồi gửi trực thăng đưa Cao về Sài Gòn.

Cao bằng lòng chiêu hồi. Quân đội Sài Gòn cho Cao đi học tại khu biệt kích Long Thành. “Không dễ dàng gì mà vào trinh sát trong một trường huấn luyện biệt kích của địch, Cao nghĩ. Mình tương kế tựu kế vào trong đó tìm hiểu rồi trở về báo cáo với trên, hóa hay !”. Xong lớp huấn luyện Cao được ném ra miền Bắc, xuống khu vực Yên Bái. Sau khi giết toán trưởng biệt kích, Cao ôm điện đài chạy ra quốc lộ, giơ súng chặn một chiếc xe tải, bắt chở thẳng về Hà Nội.

Cao được đón tiếp tử tế, được nuôi nấng chu đáo, sang trọng nữa là khác, trong suốt thời gian ngồi ở cơ quan Bộ Tổng Tham mưu. Người ta bảo Cao viết lại toàn bộ những gì cậu ta trinh sát được tại khu Long Thành. Viết xong thì cán bộ quân pháp tới bắt đi giao cho bên công an. Ðó là lý do vì sao Cao có tội danh biệt kích mà không có án hình.

Tôn Thất Tần biết chuyện, lắc đầu:

– Người ta đối với cậu rứa tệ quá !

– Thế người ta đối với bác không tệ à ?

– Tui khác, cậu khác. Tui là phản cách mạng. Cậu là cách mạng.

Sau khi bị tôi trách, Cao không dám leo vào kho công an ăn trộm nữa. Có vẻ cậu ta coi ý kiến của tôi là mệnh lệnh cấp trên, không thể cưỡng.

Cơn bệnh qua, tôi ăn giả bữa, lúc nào cũng thấy đói. Tôi không nghĩ tới cái gì khác ngoài miếng ăn. Thèm đủ thứ. Thậm chí nghĩ tới một miếng cháy nước dãi đã ứa ra.

Còn nhớ một hôm toán tôi được lệnh đi chữa nhà cho Ban Giám thị, mấy ông bạn tù già mừng rơn khám phá ra lu nước gạo của Ban đầy cơm thừa đổ đi lẫn lộn với trăm thứ bà dằn khác. Tôi được phân công ở trên mái để dặm lại mấy chỗ tranh mục, đồng thời canh chừng cho các bạn tù xột xệt(8) bên dưới. Tôi vờ cặm cụi làm, nhưng mắt vẫn bao quát một vùng chung quanh. Chỗ cơm thừa trong phút chốc đã trở thành nồi cháo ngon lành, tuy phảng phất mùi chua của dấm bỗng.

Ở bên dưới người ta gọi lên:

– Bác Hiên ơi ! Bác xuống ăn với chúng tôi.

Tôi cảm thấy ruột gan cồn cào, nhưng tôi rùng mình khi nghĩ tới lu nước gạo.

– Cảm ơn các bác. Các bác cứ ăn đi. Ðể tôi gác cho.

– Chúng tôi sẽ để phần bác.

– Tôi không ăn đâu. Mấy bữa nay bụng dạ tôi không tốt.

– Vậy cũng được. Chúng tôi ăn hết nhá ?

Trong nhà tù cuộc đánh nhau với bản thân không bao giờ kết thúc. Chỉ có thể thắng từng trận một. Câu chuyện năm xưa với ông Ðặng Xuân Thiều trở về trong trí nhớ. Biết ông được các đồng chí gọi là “anh hùng thành Ký Con (9)”, vì ông đã chịu đựng được hai mươi bảy trận đòn tra liên tục, tôi hỏi ông:

– Chú ơi, làm thế nào mà chú chịu đựng giỏi thế ?

Ông cười hà hà:

– Giỏi gì ! Tao cứ cố chịu từng trận một, chịu được đến đâu biết đến đấy. Có thể trận thứ hai mươi tám thì tao gãy, biết đâu đấy, ai dám nói chắc, nhưng chúng nó mệt, chúng nó bỏ cuộc thì tao được anh em bốc lên tôn làm anh hùng, chứ anh hùng cái gì đâu …

Ông không khiêm tốn giả vờ. Ông nói sự thật “chúng nó mệt, chúng nó bỏ cuộc”, nhưng chất anh hùng thật lại ở chính trong lời thú nhận “biết đâu đấy, ai dám nói chắc”. Cái chất ấy ông vẫn giữ được khi cách mạng thành công rồi, có thể nhân danh những hy sinh để đòi hỏi đãi ngộ. Là anh em với tổng bí thư Trường Chinh, ông có thể kiếm được một chức to hơn chức vụ trưởng, nhưng ông thích làm vụ trưởng Bảo tồn bảo tàng để chăm lo cho những gì tổ tiên để lại không bị mai một. “Thấy đền chùa bị phá nhiều quá, tao sót, ông nói. Hết Bắc thuộc lần thứ nhất đến Bắc thuộc lần thứ hai, rồi trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến tranh khác, các công trình kiến trúc của các cụ có còn được là mấy. Phải có người giữ gìn chứ !”

Những tấm gương của thế hệ đi trước nâng đỡ tôi rất nhiều trong những năm tù, từ ngày đầu tiên cho tới ngày cuối cùng. Khi bị những cơn đói dày vò tôi thường nhớ tới các bậc tiền bối cách mạng đã chịu đựng thế nào trong nhà tù đế quốc để động viên mình vượt qua sự khốn khó.

Những cơn đói cồn cào vào cái đận giả bữa bớt hành hạ tôi còn nhờ những ván cờ của Tôn Thất Tần. Về cờ tướng tôi không đáng học trò ông. Nhiều hôm, mải đánh cờ, tôi quên cả ăn. Tôi quên thì đã có Cao nhớ. Thấy chúng tôi đang mê mải chơi cờ cậu ta vác bát ra lĩnh cả cho tôi lẫn Tôn Thất Tần.
Tôi cũng thích để Cao nhận phần cơm cho chúng tôi. Tuy việc chia cơm trong các toán số lẻ có tiếng là công bằng, nhưng không phải vì thế mà được phép lơ là. Cao không hổ danh chiến sĩ trinh sát. Mắt cậu ta tinh như mắt mèo, không cho phép ai qua mặt.

Tù số lẻ chia cơm bằng cân. Người ta làm lấy một cái cân thô sơ để cân cơm. Cái cân tự tạo giống như cân tiểu ly, chỉ cần thêm hoặc bớt một chút xíu cơm bằng đầu ngón tay là nó đã mất thăng bằng. Tù số chẵn, dù boọc, dù có án, đều nhìn cái cân bên số lẻ bằng con mắt khinh bỉ. Quen ăn tiêu về nhiều ngoài xã hội, họ coi cái sự cân cơm là ti tiện. Tù số chẵn dùng bát để đong khi chia cơm, bát vục mạnh thì cơm được nêm chặt, vục yếu thì cơm xốp, cho nên suất cơm của các sĩ quan bao giờ cũng lớn hơn suất cơm lính.

Về chuyện chia thịt thì cả số lẻ lẫn số chẵn đều chia như nhau, theo cùng một cách. Tù sắp bát thành hàng, người chia thịt chọn từng miếng đều nhau gắp vào mỗi bát. Chia cho thật đều rất khó vì nhà bếp chặt miếng to miếng nhỏ, miếng nạc miếng xương, không bằng nhau. Người ta giải quyết chia cho công bằng bằng cách viết tên cả toán vào một mảnh giấy, một người cầm mảnh giấy quay lưng lại những bát thịt đã được chia, một người khác gõ bất ưng vào một cái bát nào đó, người cầm giấy xướng lên một cái tên, thế là người có tên lĩnh phần thịt mang đi. Cách này gọi là quay mặt đặt tên. Như thế, mỗi lần trại cho ăn thịt là mỗi lần mình phải nhận phần trong bát người khác. Có những cái bát cóc cáy, nhìn mà ghê, lúc đầu tôi rất sợ, mãi mới quen. Mọi người đều cho rằng Tôn Thất Tần bị lao phổi, nhưng đến bữa có thịt, người nào vớ phải bát của Tôn Thất Tần cũng vẫn ăn ngon lành như thường. ê trong tù mà khắt khe chuyện vệ sinh cũng chẳng được. Ðã ở tù thì phải chịu ở lẫn với đủ thứ bệnh tật. Trong trại có cả người hủi. Anh ta ở chung với mọi người, nhưng chưa thấy ai bị lây. Về sau, gặp được viên giám thị tốt bụng, anh ta được ở cách ly trong một phòng con tí xíu ở đầu hồi trạm xá(10) và từ đó thôi không phải đi lao động hàng ngày nữa.

Trong trại giam dù anh có án hay anh boọc, dù anh mang số lẻ hay số chẵn, dù anh là tù thường hay tù binh, đều là tù tuốt. Tù thì phải lao động. Nhưng nếu lao động để mà sống thì chuyện dễ hiểu. Khó hiểu ở chỗ lao động cải tạo kia.

Người nước ngoài thường có sự hiểu lầm cụm từ lao động cải tạo. Họ tưởng chỉ có tù mới phải lao động cải tạo. Hoàn toàn không phải thế. Sau năm 1950, biên giới Việt – Trung thông thương, khái niệm lao động cải tạo được du nhập vào Việt Nam lần đầu. Nó tới cùng với sự học tập giáo trình Lịch Sử Tiến Hóa Nhân Loại, trong đó Charles Darwin(11) được nhắc đến một chút, Mác và Engels một chút, còn lại là sự phát triển tư duy của Mao Trạch-đông và các lý thuyết gia nội hóa. Chúng tôi, con cháu loài khỉ(12), phải biết ơn lao động, mà là lao động chân tay kia, chứ lao động trí óc không được tính đến, nhờ có nó mà tổ tiên chúng tôi mới thành người.

Câu nói “Trí thức mà không có thực hành giá trị không bằng cục phân” của Mao chủ tịch được nhắc đi nhắc lại là trong thời kỳ này. Người mác-xít chỉ biết có một thứ trí thức ứng dụng, trí thức lý thuyết là đồ bỏ. Trong chính sách cán bộ, khi xem xét khả năng cán bộ để cất nhắc, để điều động, tiêu chuẩn lao động chân tay được coi như một thử thách không thể thay thế. Nói cách khác, người ta thành tín cho rằng có thể cải tạo con người bằng lao động. Thành thử cán bộ bên ngoài cũng phải đi lao động chân tay thường xuyên, gọi theo cách Trung Quốc là hạ phóng. Tôi đã hạ phóng một lần về mấy xã huyện Ðông Quan tỉnh Thái Bình với ông Nguyễn Ðức Quỳ, thứ trưởng Bộ Văn Hóa. Chúng tôi đi cầy, đi cấy, be bờ, tát nước cùng với nông dân. Tôi làm giỏi hơn các cán bộ thành phố nhờ những năm ở làng với bà cô trọn đời đồng trinh. Nhưng cả tôi, cả ông thứ trưởng có học đều không tin lao động có thể làm cho chúng tôi người hơn con người chúng tôi hiện có. Cứ tới thứ bẩy, chủ nhật là chúng tôi lấy cớ đi họp trên tỉnh để lên thị xã Thái Bình tắm nước nóng.

Người tù, theo quan điểm của các nhà lãnh đạo, lại càng cần phải cải tạo bằng lao động. Họ cho rằng người tù bị tù là do có những tư tưởng xấu, tư tưởng địch, nếu chịu khó lao động, anh ta có thể tự cải tạo mình để trở thành người tốt. Những người tù chăm chỉ lao động được giảm án nhiều hơn những người tù lười lao động. Những người yếu đuối không có khả năng lao động cũng bị coi là lười, đâm ra bị thiệt.

Toán tôi là toán tạp dịch, nay đi nhổ cỏ lúa, mai đi cuốc ruộng. Từ trong xà lim ra, bốn năm có lẻ không đụng tay đụng chân đến việc gì, nay cầm cuốc cầm cày, tôi rất mệt. Nhưng tôi cố gắng để không kém mọi người, bởi vì công việc được khoán theo tổ (nhóm nhỏ), mình làm ít thì người khác làm nhiều. Hơn nữa tôi không muốn để cho những kẻ muốn hành hạ tôi được thấy tôi khổ sở vì lao động vất vả. Tôn Thất Tần biết ý, nói nhỏ với anh em bên cạnh chỉ làm túc tắc thôi, đạt mức thì tốt, không đạt thì thôi, cho tôi nương vào. Ðược cái người ta chỉ có thể quở trách một cá nhân làm không đạt mức, chứ khi cả tập thể không đạt thì huề, bao giờ cũng có cả đống lý do để mà biện bạch.

Một hôm toán được phân công cuốc đồi trồng sắn. Trời nắng chang chang, quanh chỗ làm không một bóng râm, đồi lại toàn sỏi lổn nhổn, tôi vừa làm vừa thở hồng hộc. Quản giáo ngồi nấp dưới một cây sắn còn sót lại, phanh áo ra mà quạt, mặt đỏ lựng. Khi được lệnh nghỉ, tôi nằm vật ngay ra chỗ đất vừa cuốc, thiếp đi. Tôi mơ thấy mình đang nằm bên một dòng sông trong vắt, nước ụp oạp mênh mông, cái transistor đặt trên bụng. Từ trong máy phát ra bản Concerto Số Một của Tsaikovsky(13) do Van Klibern chơi. Tôi đang sung sướng tận hưởng khúc nhạc tuyệt vời, nhờ nó Van Klibern được giải thưởng quốc tế về dương cầm năm 1956, được nước Mỹ trải thảm đón mừng, được tổng thống Mỹ đích thân tiếp, thì nó nhỏ dần rồi mất hẳn, như thể sóng điện bị lạc. Tôi cuống quít vặn núm đài nhưng không tìm ra. Tỉnh dậy, thấy tay mình vẫn còn đang loay hoay cái núm vô hình, trên đầu mắt trời chói lòa.

– Anh ngủ tài thiệt ! – Tôn Thất Tần nói – Ðược một giấc rồi đấy.

Tôi đứng lên, bàng hoàng. Dưới chân tôi là một hình người in rõ nét trên mặt đất lổn nhổn.

– Tôi được một giấc mơ đẹp.- tôi nói – Hoài của, có một bản nhạc hay ơi là hay mà không nghe được hết. Bác không chợp mắt một chút à ?

– Chợp răng được. Nắng rọi vào mắt như ri. Tui đang mải ngắm con trâu.

Chênh chếch dưới chân chúng tôi một con trâu đang lười biếng vặt từng nạm cỏ hiếm hoi. Cái đuôi trần trụi với túm lông thưa quật đi quật lại không mệt mỏi.

– Nó có gì lạ ?

– Tui ghen với nó. Nó sướng quá !

– Sướng cái gì chứ ?

Một nụ cười chua chát thoảng bay trên khóe miệng “Jean Valjean gọi bằng cụ” :

– Nó không bao giờ phải cải tạo. Ra đời đã lao động rồi. Ðỉnh cao của vinh quang (14) ! Loài người từ khỉ mà lên nhờ lao động. Chúng mình lao động mãi như ri rồi sẽ tiến lên loài chi nhỉ ?

© Vũ Thư Hiên

——————————————-

(1) Nhân vật chính trong cuốn Những Người Khốn Khổ (xuất bản năm 1862) của đại văn hào Pháp Victor Huygo (1802-1885).
(2) Món ăn vùng Trung Á
(3) Nguyên thứ trưởng Bộ Y Tế nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
(4) Việc không cho tù được đọc sách còn lại cho tới bây giờ. Năm 1995, khi Hoàng Minh Chính bị bỏ tù (xã hội chủ nghĩa) lần thứ ba, ông muốn đọc các sách về luật pháp để tự bào chữa khi ra tòa người ta cũng không cho. Kể cả đến cuốn sách về luật Việt Nam do Nhà xuất bản Pháp lý (của Nhà nước) ấn hành ông cũng không được nhận.
(5) Một tỉnh gồm Nam Ðịnh, Ninh Bình và Hà Nam nhập lại dưới thời Lê Duẩn.
(6) René Descartes (1596-1650), triết gia Pháp. Câu nói nổi tiếng của ông :”Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”.
(7) Vùng từ Quảng Trị – Thừa Thiên kéo dài tới Ðà Nẵng.
(8) Tiếng lóng trong nhà tù = nấu nướng.
(9) Tên thành phố Hải Phòng do những nhà cách mạng tiền bối đặt.
(10) Nơi chữa bệnh cho tù, bệnh xá.
(11) Charles Robert Darwin (1809-1882), nhà cách mạng trong sinh vật học, giải thích sự tiến hóa của nhân loại theo quan điểm duy vật.
(12) Vì nghe thế nó… khỉ quá, nên ông Trần Văn Giàu đã sửa lại trong giáo trình Duy Vật Lịch Sử của ông thành hầu nhân.
(13) Tchaikovsky Piotr Ilich (1840-1893), nhà soạn nhạc nổi tiếng người Nga
(14) Khẩu hiệu của Ðảng : “Lao dộng là vinh quang !”.

——————————-

Cụ Tôn Thất Tần, người 30 năm bị CS cầm tù vừa qua đời

ba mat

Cụ Tôn Thất Tần, người tù nhân từng được cho là lâu năm nhất của nhà tù Cộng sản vừa qua đời chiều ngày 4/11/2013 tại Sài Gòn, hưởng thọ 96 tuổi.

Cụ Tần sinh năm  1918 trong gia đình dòng dõi hoàng tộc tại Huế. Cụ bị tù từ năm 1946 trong một nghi án hết sức mù mờ là “chống chế độ” và bị giam cầm qua 2 cuộc chiến. Được biết, cụ vào tù vì phản đối Hiệp định 6.3.1946 do Hồ Chí Minh kí với Pháp, trong đó thỏa thuận cho quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay thế quân Tàu Tưởng giải giáp quân Nhật.  Cụ được phóng thích khỏi nhà tù 31 năm sau. Ở thời điểm đó, cụ được coi là người có “kỉ lục” về ngồi tù CS.

Trong tù, cụ có biệt danh Jean Valjea (nhân vật trong cuốn truyện “Những người khốn khổ”) vì sức chịu đựng phi thường của mình.

Nhiều người tù sau này từng có thời gian bị giam giữ cùng với cụ như nhà văn Vũ Thư Hiên (hiện sống tại Pháp), nhà thơ ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện (người đã từ trần năm ngoái tại Mỹ)… Cụ được sự kính trọng của các bạn tù và được nhiều lần nhắc tới trong các tác phẩm văn chương của họ xuất bản sau này ở hải ngoại.

Ra tù mấy chục năm nay, mặc dù có cơ hội định cư tại nước ngoài, nhưng cụ chọn cuộc sống ẩn dật tại Việt Nam. Rất ít người nghe tới cụ cũng như cuộc đời nhiều oan trái của cụ.

Con rể cụ là nhà văn, nhà thơ Trần Mạnh Hảo, tác giả của Đàn Chim Việt và nhiều trang báo, trang mạng trong và ngoài nước.

Được biết, hiện nay kỉ lục “tù cộng sản lâu nhất” của cụ đã bị phá bởi tù nhân Nguyễn Hữu Cầu với hơn 30 năm ở tù. Mặc dù tuổi cao sức yếu, nhưng cho tới nay ông vẫn chưa được phóng thích.

Đọc trích đoạn trong Đêm Giữa Ban Ngày của nhà văn Vũ Thư Hiên về cụ Tôn Thất Tần.

© Đàn Chim Việt

———————————

 

Kêu gọi trả tự do cho tù nhân thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu!

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2013-07-16

Tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu người bị giam tù tổng cộng cho đến lúc này là 37 năm hiện sức khỏe rất yếu kém trong trại giam. Gia đình và một số tổ chức quốc tế lên tiếng kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do ngay cho ông nếu không sẽ chết trong tù.

Cháu Yến Nhi

Cháu kêu oan cho ông

Cô bé Trần Phan Yến Nhi, năm nay 14 tuổi, và mới hồi đầu tháng sáu vừa qua trong chuyến cùng gia đình đi thăm ông Nguyễn Hữu Cầu tại trại giam Z30 A Xuân Lộc, Đồng Nai mới biết mặt người sinh ra cha của cháu.

Đến ngày 7 tháng 7 vừa qua, trên mạng Internet xuất hiện Thư kêu oan cho ông nội của cháu Trần Phan Yến Nhi. Trong thư cháu nhắc đến 30 phút thăm gặp mà người ông cho biết tình hình sức khỏe hiện rất yếu do những bệnh tật mù mắt trái, mắt phải chỉ còn thấy mờ mờ, suy tim nặng, máu không lên não được, hay bị xỉu, răng rụng hết chỉ còn một chiếc, đau dạ dày kinh niên và tóc bị nấm.

Chính ông Nguyễn Hữu Cầu trước khi chia tay những đứa cháu đã nói hãy về kêu oan cho ông nội. Cô bé Trần Phan Yến Nhi cho biết gia đình từ thời cụ cố cho đến nay đã có hơn 500 lá đơn kêu oan mà không có kết quả gì. Nay cháu gửi đơn đến Tổ chức Nhân quyền Thế giới và mong những người lớn giúp chuyển đơn đến tận tay cho những người tại tổ chức đó với hy vọng giúp được cho người ông phải chịu tù qua hai thế kỷ.

Anh Trần Ngọc Bích, người con của ông Nguyễn Hữu Cầu sinh năm 1973 chỉ hai năm trước khi ông này bị đi học tập vào năm 1975 và không được mang họ cha, cho biết:

Cảm nhận của con em khi đi thăm ông nội về thấy rất tội, cháu khóc hoài. Cháu có viết thư kêu oan, một bức gửi đến ông chủ tịch nước, một bức gửi bộ trưởng công an; nhưng cả hai bức đều chưa thấy trả lời. Và bức thư gửi tổ chức nhân quyền thế giới. Tôi cũng gửi thư đến các cô chú, ông bà lên tiếng cho ba tôi được ra ngoài; chứ nếu ở trong thì tôi nghĩ không bao lâu nữa ba tôi sẽ mất.

Khi đi thăm, mấy chú mấy bác có nói không được chụp hình vì nếu chụp hình lần sau họ sẽ không cho thăm. Thế nhưng đứa con của tôi lén dùng điện thoại của tôi và chụp được hai tấm hình của ông nội. Tôi nhắc cháu lời của các chú, các bác là không được chụp hình, cháu nói nếu không chụp lỡ khi ông nội bị chết trong trại  lấy gì mà thờ; và cháu nói nếu không cho thăm sẽ viết đơn thưa nữa.

Một tù nhân lương tâm từng bị giam chung với ông Nguyễn Hữu Cầu tại trại Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai, ông Trương Minh Đức cho biết một số thông tin mà ông này có được về tù nhân xuyên thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu:

Trước đây tôi ở chung với ông Nguyễn Hữu Cầu tại K2 Xuân Lộc, từ 

tháng 10 năm 2008 đến tháng 3 năm 2010. Sau đó tôi bị chuyển sang trại khác; ông Cầu vài tháng sau cũng bị chuyển sang K3. Ông Cầu chịu án quá lâu, nhiều chứng bệnh răng rụng hết ăn uống khó khăn, mắt một bên bị mù, một bên chỉ thấy mờ mờ… Sau khi chuyển sang K3 cũng có thông tin về ông Cầu: những anh em xây dựng đi lưu động xây dựng các công trình, một anh cho biết ông Cầu cũng bị giữ cô lập không thể liên lạc gì. Sau này có nghe ông bị bệnh nặng nên phải chuyển về lại K2. Ở đó ông cũng bị cô lập không được sinh hoạt với tù chính trị để những người này có thể chăm sóc cho ông. Ông luôn bị cô lập và sức khỏe nay rất kiệt.

Văn bút quốc tế lên tiếng

Hồi cuối tháng ba vừa qua, Ủy ban Văn bút Quốc tế Bênh vực Nhà văn Bị đàn áp và Cầm tù ra Thông cáo/ Kháng nghị thư bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình trạng của tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu trong trại giam Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai.

Văn bút Quốc tế cho rằng việc giam giữ và đối xử với ông Nguyễn Hữu Cầu như thế là vi phạm Điều 19, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã ký kết. Văn bút Quốc tế kêu gọi phải trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện cho ông Nguyễn Hữu Cầu. Theo tổ chức này thì nếu ông Cầu không được khẩn cấp trị bệnh và tự do tiếp nhận sự chăm sóc y tế cần thiết sẽ có nguy cơ chết trong tù.

Sang đầu tháng 7, tổ chức Văn Bút Anh cũng lên tiếng kêu gọi cần có hành động khẩn cấp cho nhà văn Nguyễn Hữu Cầu. Lý do cũng như Văn bút quốc tế nêu lên là vì quan ngại ông này sẽ chết ngay trong tù.

Văn bút Anh kêu gọi gửi thỉnh nguyện thư đến cho ông Vũ Quang Minh, đại sứ Việt Nam tại Anh Quốc. Song song đó là gửi thông điệp ủng hộ đến ông Nguyễn Hữu Cầu và gia đình của ông.

Sự trả thù?

Cựu tù nhân lương tâm Trương Minh Đức cho biết ngay tại trại Z30 A Xuân Lộc, Đồng Nai đã có một số trường hợp phải chết rũ tù mà ông có thể nhớ được:

Trường hợp chết trong tù của anh em tù nhân lương tâm, tù chính trị có ông Nguyễn Văn Trại hồi năm 2011; trước đó có linh mục Nguyễn Văn Vàng. Ông này bị bỏ đói và bị cùm; khi ông chết đang bị cùm…Tôi vào ông Cầu kể lại nhiều chuyện rất độc ác trong trại này.

Xin phép được nhắc lại, ông Nguyễn Hữu Cầu sinh năm 1945, quê quán Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Ông từng là một nhà thơ, soạn giả bài hát và là một cựu sĩ quan quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước đây. Ông bị bắt làm tù binh hồi năm 1975 cho đến năm 1980. Năm 1981, ông viết đơn tố cáo và làm thơ lên án Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân và phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang về những hành vi tội ác như hối lộ, hiếp dâm… Ông bị bắt hồi tháng 10 năm 1982. Đến tháng 5 năm 1983, ông bị tòa sơ thẩm kết án tội phá hoại với mức tử hình. Mẹ ông kháng án, tại phiên xử phúc thẩm 2 năm sau đó án giảm xuống còn chung thân.

Như trình bày của cựu tù nhân lương tâm Trương Minh Đức, khi vào tù ông Nguyễn Hữu Cầu thường bị biệt giam và đối xử hết sức khắc nghiệt. Thế nhưng ông vẫn cho rằng bản thân không hề có tội gì.

Ông Nguyễn Hữu Cầu, ảnh do cháu Yến Nhi chụp lén khi đi thăm ông nội lần đầu. Photo by Yen Nhi

Posted in Tù Chính Trị | 1 Comment »

►Nói thật về chủ nghĩa cộng sản

Posted by hoangtran204 trên 07/11/2013

Trích: Chủ nghĩa cộng sản là ngụy khoa học, được ngụy trang như một hệ thống kinh tế và được thực hiện bằng lực lượng võ trang. Nó được xây dựng trên nền cát ướt.  Chủ nghĩa cộng sản đã gây ra những hậu quả về chính trị, kinh tế và chiến lược. Không có cộng sản thì chúng tôi đã không có các cuộc chiến tranh Việt Nam và Triều Tiên rồi.

Nếu năm 1939 không có Hiệp ước Molotov- Ribbentrop thì đã không có Chiến tranh thế giới II. Chúng ta đang chứng kiến hậu quả kinh tế trong các nước vùng Baltic và Trung Âu – họ đã bị chủ nghĩa cộng sản hành hạ suốt mấy thập kỉ. Trong khi đó, Tây Âu kinh tế phát triển tốt hơn. Tất cả những người sống trong thế kỷ XX đều khổ vì chủ nghĩa cộng sản, và chúng ta phải dạy cho mọi người như thế.- Tại Latvia, các nhà khoa học đã tính được những thiệt hại do Liên Xô gây ra trong thời kì chiếm đóng. Có nên yêu cầu Nga bồi thường không?”

Nói thật về chủ nghĩa cộng sản

Tác giả: 

7-11-2013

Ông Lee Edwards.

Ông Lee Edwards.

Trong thời gian ở thăm Latvia, ông Lee Edwards, chủ tịch Quỹ tưởng niệm các nạn chân của chủ nghĩa cộng sản, đã dành cho tờ Latvijas Avizeb buổi phỏng vấn dưới đây. Xin nói thêm rằng tổ chứcThe Victims of Communism Memorial Foundation (Quỹ tưởng niệm các nạn chân của chủ nghĩa cộng sản), do ông lãnh đạo, đang quyên góp tiền để dựng ở Washington đài tưởng niệm các nạn nhân của ý thức hệ cộng sản.

– Các ông có ý định xây dựng một đài tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản ở Washington. Tại sao hiện nay đây là công việc quan trọng?

– Chúng ta có thể nói đến 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới. Đây là số liệu từ tác phẩm của sáu nhà trí thức Pháp, có tên là Chúa trời đã thua, do nhà xuất bản của Đại học Harvard ấn hành. Bức tường Berlin sụp đổ cách đây 20 năm, nhiều người nghĩ rằng chủ nghĩa cộng sản đã bị đánh bại, và chúng ta có thể chắc chắn rằng nó sẽ không bao giờ quay trở lại nữa. Nhưng, không được quên các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản. Năm 2007, chúng tôi đã khánh thành bức tượng tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản tại Washington. Đây là hình ảnh của Nữ thần dân chủ – một bức tượng như thế đã từng đứng ở quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh (Trung Quốc).

Chúng tôi đã tạo ra một bảo tàng ảo về các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản, và vừa mới đây đã viết xong cuốn sách giáo khoa cho các trường trung học. Quỹ tưởng niệm các nạn chân của chủ nghĩa cộng sản đang hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu di sản, nghiên cứu quá khứ, hiện tại và giáo dục. Trên thế giới vẫn còn năm nước cộng sản, và sự áp bức của các chế độ này cũng vẫn khốc liệt như trước đây. Về bức tượng, phải nói rằng hàng năm các nhà ngoại giao của nhiều nước vẫn đến thăm, cả những người đã từng là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản như người Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Cuba nữa. Luật về tổ chức của chúng tôi được thông qua dưới trào của tổng thống Dân chủ, Bill Clinton; còn tượng đài khánh thành khi tổng thống là người thuộc đảng Cộng hòa, George Walker Bush, nắm quyền. Một cách nữa để chúng ta tưởng nhớ đến tác hại của chủ nghĩa cộng sản là huy chương Truman – Reagan, tặng cho những người có thành tích trong sự nghiệp chống cộng. Tên của huy chương có ý nghĩa biểu tượng vì chiến tranh lạnh bắt đầu dưới trào đảng viên Dân chủ Harry Truman, còn Ronald Reagan, đảng viên Cộng hòa, đã làm được rất nhiều trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản. Giải được trao lần đầu tiên năm 1999, và một trong những người nhận đầu tiên là nhà lãnh đạo phong trào Sąjūdis, đòi độc lập cho Litva, là ông Vytautas Landsbergis.

– Điều gì làm cho các nước vùng Baltic trở thành đặc biệt, nhất là trong bối cảnh của quá khứ cộng sản?

– Hoa Kỳ đã có mối liên hệ đặc biệt với các nước vùng Baltic, khi Liên Xô chiếm những nước này, chúng tôi không công nhận việc chiếm đóng và sáp nhập đó. Chính phủ Mỹ đã đưa ra tuyên bố, gọi là tuyên bố Sumner Welles. Trong bảo tàng, chúng tôi phải nói với mọi người những câu chuyện dễ hiểu, và đối với các nước vùng Baltic thì đấy là phong trào Cách mạng hát và Con đường Baltic. Tôi đã đến thăm Bảo tàng Chiếm đóng ở Riga –  Ông Nollendorfs đã làm được một công việc tuyệt vời và chúng tôi cũng sẽ làm như vậy, chúng tôi được bảo tàng của các bạn khích lệ rất nhiều. Sẽ có những cuộc triển lãm dành cho từng nước, thí dụ như Nga, Trung Quốc, sẽ một cuộc triển lãm đặc biệt dành cho các nước vùng Baltic. Ngoài ra còn có một phòng dành tưởng niệm những anh hùng chống cộng nữa. Chúng tôi có thể dựng trong bảo tàng một trại tù (Gulag) với những chiếc giường gỗ, và khi có người vào thì nhiệt độ sẽ tự động giảm xuống. Chúng tôi muốn trưng bày cả những toa tầu dùng để trục xuất người tới Siberia. Chúng tôi cũng muốn đặt một tháp canh như trên Bức tường Berlin nữa. 

– Xây bảo tàng như vậy thì cần bao nhiêu tiền và kiếm ở đâu?

 – Theo luật pháp Hoa Kỳ, chúng ta không thể yêu cầu nhà nước tài trợ cho đài tưởng niệm đó. Đài tưởng niệm các nạn nhân của vụ diệt chủng người Do Thái (Holocaust) ở Washington cũng được xây dựng bằng nguồn vốn tư nhân. Vì vậy, chúng tôi hy vọng sẽ được các tổ chức xã hội hỗ trợ. Có thể chúng tôi sẽ yêu cầu chính phủ Mỹ hỗ trợ địa điểm đặt đài tưởng niệm, cũng như thu hút tài trợ từ nước ngoài. Hungary đã trích ra một triệu, chúng tôi sẽ sử dụng để tạo ra một nhóm công tác và cho chiến dịch quyên góp. Cần tổng cộng 100 triệu USD, một nửa làm bảo tàng, một nửa cho tổ chức làm công việc giáo dục. Mục tiêu của chúng tôi là bắt đầu xây dựng vào năm 2017, kỷ niệm 100 năm cuộc Cách mạng Bolshevik ở Nga.

– Khổ đau có thể được đo không chỉ bằng số nạn nhân, mà còn có thể đo bằng kinh tế và xã hội …

– Chủ nghĩa cộng sản là ngụy khoa học, được ngụy trang như một hệ thống kinh tế và được thực hiện bằng lực lượng võ trang. Nó được xây dựng trên nền cát ướt. Chủ nghĩa cộng sản đã gây ra những hậu quả về chính trị, kinh tế và chiến lược. Không có cộng sản thì chúng tôi đã không có các cuộc chiến tranh Việt Nam và Triều Tiên rồi. Nếu năm 1939 không có Hiệp ước Molotov- Ribbentrop thì đã không có Chiến tranh thế giới II. Chúng ta đang chứng kiến hậu quả kinh tế trong các nước vùng Baltic và Trung Âu – họ đã bị chủ nghĩa cộng sản hành hạ suốt mấy thập kỉ. Trong khi đó, Tây Âu kinh tế phát triển tốt hơn. Tất cả những người sống trong thế kỷ XX đều khổ vì chủ nghĩa cộng sản, và chúng ta phải dạy cho mọi người như thế.- Tại Latvia, các nhà khoa học đã tính được những thiệt hại do Liên Xô gây ra trong thời kì chiếm đóng. Có nên yêu cầu Nga bồi thường không?

– Tôi không bình luận về công việc nội bộ của Latvia, đây là vấn đề của nền chính trị địa phương.

– Có thể coi chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản là như nhau không?

– Holocaust là độc ác nhất. Chủ nghĩa cộng sản – cũng ác, nhưng chủ nghĩa phát xít là sự độc ác đặc biệt, không thể nào diễn tả nổi. Tôi xin lưu ý rằng Nghị viện châu Âu đã chuẩn bị một nghị quyết bày tỏ quan điểm chính trị cả về chủ nghĩa phát xít lẫn chủ nghĩa cộng sản.

– Ở Latvia, giáo viên các trường dành cho học sinh nói tiếng Nga đưa trẻ em đến cái gọi là Tượng đài Chiến thắng và kể cho chúng nghe phiên bản của mình về lịch sử. Giải quyết vấn đề này như thế nào?

– Trong chế độ dân chủ, không thể cấm người khác nói; nhưng cùng với quyền nói, còn có trách nhiệm nói sự thật nữa. Bộ Giáo dục, Bộ Quốc phòng và các giáo viên phải làm chuyện này. Nói rằng Latvia tự nguyện tham gia Liên Xô là không đúng. Những thứ tôi nhìn thấy trong bảo tàng chiếm đóng là đúng.

– Người Mỹ đương đại theo ông là như thế nào, họ có hiểu về chủ nghĩa cộng sản và di sản của hệ tư tưởng của nó không?

– Không phải tất cả người Mỹ đều biết chuyện đó. Khi chúng tôi viết sách cho nhà trường, bao gồm chủ nghĩa cộng sản của Marx, Mao và cho đến ngày nay, chúng tôi gửi cho giáo viên khắp cả nước. Họ cảm thấy thú vị. Cần dạy không chỉ học sinh về những vấn đề của chủ nghĩa cộng sản, mà còn phải dạy cả giáo viên nữa.

– Ông cho rằng ai là những người anh hùng trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản?

– Đó là Vaclav Havel, Lech Walesa, Andrei Sakharov, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II – đấy là bốn chiến sĩ tuyệt vời, nhưng còn nhiều người khác nữa.

– Việc bổ nhiệm Karol Wojtyla làm Giáo Hoàng có phải là bước đi mang tính chiến thuật của Vatican trong cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản hay không?

– Ngài là một linh mục và hồng y sống dưới chế độ cộng sản, và đã trải nghiệm tất cả ngay trên cơ thể của mình. Chuyến đi đầu tiên của Ngài tới Ba Lan sau khi trở thành Giáo Hoàng là có tính biểu tượng, trong thời gian đó Ngài nhấn mạnh: “Đừng sợ.” Câu nói đó đã khuyến khích mọi người, phong trào “Đoàn kết” được thành lập. Ba Lan trở thành tấm gương. Âm mưu ám sát Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cho thấy ảnh hưởng chính trị của Ngài lớn đến mức nào.

 – Thách thức đối với chủ nghĩa cộng sản hiện nay là gì?

– Cho đến nay, còn năm nước cộng sản. Với bốn nước là Lào, Việt Nam, Trung Quốc và Cuba, chúng ta có thể làm việc: nói về vi phạm nhân quyền và áp dụng những biện pháp trừng phạt kinh tế. Có thể trao giải thưởng cho các nhà hoạt động. Bắc Triều Tiên là chuyện khác, đấy là nhà nước toàn trị tách biệt hẳn với thế giới. Thách thức lớn nhất hiện nay là giáo dục. Nhờ công nghệ hiện đại, nói sự thật dễ dàng hơn trước rất nhiều. Trang web của chúng tôi có hàng ngàn người đọc, trong đó có người Trung Quốc, người Việt Nam và người Cuba. Ngay cả Trung Quốc, với 80 triệu đảng viên, cũng không thể có ảnh hưởng tới toàn bộ dân số là 1,3 tỷ người. Tự do sẽ vượt qua tất cả.

Cuộc trò chuyện do nhà báo Ģirts Vikmanis thực hiện

Dịch qua bản tiếng Nga tại địa chỉ: http://inosmi.ru/sngbaltia/20131030/214334805.html
Bản tiếng Việt của Blog Phạm Nguyên Trường

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Công an Tiền Giang bạo hành trẻ em- bắt giữ, tra tấn, đánh đập, ép nhận tội từ suốt chiều đến tối

Posted by hoangtran204 trên 07/11/2013

Lại một trường hợp công an bạo hành trẻ em

Nhạc sĩ Tuấn Khanh

Theo FB Nhạc sĩ Tuấn Khanh

Reblog: danluan.org


Chỉ vì nghi ngờ em Nguyễn Hoàng Phương Phương (16 tuổi) ăn cắp xe đạp, công an xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông, Tiền Giang đã ập vào trường của em Phương giữa giờ học, giải em đi về đồn tra tấn, buộc phải nhận tội ăn trộm. 

Toàn bộ học sinh của trường PTTH Nguyễn Văn Linh, ấp Cầu Muống, xã Tân Thành ngày 5-11-2013 đều sợ hãi và xôn xao vì biết Phương là một học sinh hiền lành, khó có thể là người đi ăn trộm, lại bị bắt giải đi giữa giờ học, trước toàn trường như vậy.

Phương là con trai út của cố nhạc sĩ Hoàng Phương. Làng xóm gần kề biết nhau, nên Phương luôn biết cách giữ danh dự cho gia đình, dù nhà nghèo, không có điều kiện như chúng bạn.

Nhạc sĩ Hoàng Phương, là tác giả của nhiều bài hát lừng danh như Hoa sứ nhà nàng, Mẹ Gò Công… Ông mất năm 2002, gia đình còn lại lúc đó là một vợ và hai con nhỏ trong cảnh hết sức nghèo khổ.
Khi Phương bị công an viên tên Hoàng giải về đồn, dù bị đánh đập, Phương khóc và chịu đòn chứ nhất quyết không để bị gán tội vô lý như vậy.

Công an viên tên Hoàng đã đánh và tát em Phương liên tục, sau đó lại sử dụng nghiệp vụ đánh không để lại thương tích, bằng cách lấy báo cuốn lại mà đánh đập em Phương, nhưng vẫn không sao ép được Phương nhận tội.

Điều ghê sợ là trong việc bắt giữ, tra tấn em Phương suốt chiều đến tối, công an cũng như nhà trường không hề thông báo cho gia đình em Phương. Mãi khi đến tối, chị Vân, mẹ của em Phương đi làm về mới hoảng kinh khi biết sự việc thì thân thể con mình đã bầm dập.

Lâu nay những chuyện đau lòng như trên vẫn xảy ra ở nhiều nơi trên đất nước này, thậm chí đã có những em bị tổn thương tâm lý đến mức đã tìm đến cái chết.

Chỉ cách Saigon có 2 giờ đồng hồ xe chạy mà nạn bạo hành của công an đã như vậy, ở những nơi xa hơn nữa thì mạng người có còn gì?

Lại chợt nhớ đến một người quen, làm chức to trong lĩnh vực liên quan đến phụ nữ và trẻ em. Mấy năm trước, khi nạn bạo hành trẻ em bùng lên, tôi đề nghị thành lập một nhóm tìm hiểu và giải cứu những em nhỏ bị bạo hành như vậy. Thậm chí tôi đề nghị xin chịu mọi chi phí và nhân lực hoạt động, chỉ xin được giúp đỡ có một tư cách pháp nhân để có thể hoạt động. Người có chức này vẻ mặt thì đầy thông cảm những câu chuyện đó, nhưng miệng luôn bàn ra, cho tới nay đã hơn 5 năm, vẫn chưa thấy hồi âm.

Cả công an, cả quan chức… chúng ta cứ tệ mạt với trẻ em Việt Nam, con người Việt Nam như vậy, rồi đây tương lai đất nước này sẽ về đâu?

——————-

Gia đình ông Chấn lo lắng

07/11/2013 08:55 (GMT + 7)
 
 
TT – Ba ngày sau khi ông Nguyễn Thanh Chấn được trở về với gia đình, chiều 6-11 hàng chục đoàn người gồm người dân, cán bộ UBND xã, UBND huyện, báo chí… vẫn kéo đến thăm hỏi và chúc mừng gia đình ông Chấn.

* Viện Kiểm sát nhân dân Bắc Giang chờ chỉ đạo

Trời chập choạng tối ông Chấn mới trở về nhà sau buổi đi lễ với vợ. Bà Nguyễn Thị Chiến (vợ ông Chấn) vừa về đến nhà đã nằm vật vã trên giường, nước mắt không ngừng rơi khi nhắc về 10 năm ròng rã đã qua…

“Từ hôm chú Chấn về tới nay, cô cứ khóc suốt, cứ khóc rồi lại ngất, ngất xong tỉnh dậy lại khóc làm gia đình rất lo lắng” – người cháu họ của bà Chiến nói.

Gia đình ông Chấn ngày hôm nay rất lặng lẽ, mọi người lộ vẻ mệt mỏi. Cuối giờ chiều, khi có tin phiên tòa tái thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao đã hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm để điều tra xét xử lại, hỏi suy nghĩ thế nào, ông Chấn chỉ im lặng. Rồi ông đứng dậy đi lấy tờ báo cho mọi người xem, bài báo dẫn lời mẹ chị H. nói không tin là ông vô tội… Người anh họ của ông Chấn nói: “Giờ gia đình tôi chỉ mong cấp trên điều tra xem ai là người đã cố tình đưa em tôi vào tù để em tôi chịu oan ức suốt 10 năm qua…”.

* Trước những thông tin ông Nguyễn Thanh Chấn cho rằng đã bị điều tra viên, kiểm sát viên dọa đánh, đánh đập ép nhận tội…, chiều 6-11, Tuổi Trẻ tìm đến Công an huyện Việt Yên (tỉnh Bắc Giang) gặp ông Trần Nhật Luật là điều tra viên vụ ông Nguyễn Thanh Chấn hơn 10 năm trước, trực ban Công an huyện Việt Yên cho biết ông Luật và lãnh đạo đều bận họp không thể trả lời.

Ông Nguyễn Xuân Hồng (chánh văn phòng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang) cho biết: Việc ông Chấn khai bị ép cung, dọa đánh… thì phải kiểm tra lại và phải có chứng cứ. Chúng tôi đang chờ chỉ đạo từ Viện Kiểm sát nhân dân tối cao”.

TÂM LỤA

————–

Bà vợ ông Chấn điều tra tìm ra thủ phạm, chứ không phải công an nhân dân!! 

Thay gần 100 sim ĐTDĐ để lẩn trốn

05/11/2013 07:46 (GMT + 7)
 
TT – Sáng 4-11, ông Nguyễn Thanh Chấn (52 tuổi) được trả tự do bằng quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án chung thân về tội danh “giết người”, chấm dứt 3.686 ngày thụ án.

Từ đơn tố giác của vợ ông Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang) – người thụ án tù chung thân về tội giết người đã được 10 năm, cơ quan điều tra xác định nghi phạm là Lý Nguyễn Chung, không phải ông Chấn. Do Chung liên tục lẩn trốn, cơ quan điều tra phải kiên trì thuyết phục nghi phạm mới ra đầu thú.

Cơ quan điều tra của Viện KSND tối cao đã khởi tố vụ án “giết người, cướp tài sản”, khởi tố bị can và bắt tạm giam Lý Nguyễn Chung, nghi can gây ra vụ án giết người khiến ông Chấn lãnh án. Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng bắt khẩn cấp Lý Văn Chúc (63 tuổi, bố của Lý Nguyễn Chung) về hành vi “đe dọa giết người”. Cơ quan điều tra xác định trước khi Lý Nguyễn Chung bị bắt, ông Chúc có đe dọa giết một số người thân nếu như thông tin hoặc khai báo với cơ quan điều tra về việc Chung gây án và bỏ trốn.

Không nhận tội nhưng bị ép cung!

Theo bản kháng nghị của Viện KSND tối cao, tại bản án hình sự sơ thẩm ngày 26-3-2004 của TAND tỉnh Bắc Giang, ông Nguyễn Thanh Chấn bị tuyên phạt tù chung thân về tội “giết người”; tại bản án hình sự phúc thẩm ngày 27-7-2004 của tòa phúc thẩm, TAND tối cao tại Hà Nội đã tuyên y án sơ thẩm. Trong hai bản án này, ông Chấn bị buộc tội đã sát hại chị Nguyễn Thị H., cùng trú tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên vào tối 15-8-2003.

Theo bản kháng nghị này thì hai phiên tòa quy kết ông Nguyễn Thanh Chấn có hành vi giết người là chưa đủ cơ sở. Tại các biên bản ghi lời khai ban đầu và các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, ông Chấn đều không nhận tội, kêu oan và khai rằng những lời khai nhận trước đây là do bị ép cung, được điều tra viên hướng dẫn khai báo sự việc, hướng dẫn vẽ sơ đồ hiện trường, được luyện tập nhiều lần để thực nghiệm điều tra. Đối với các tài sản của nạn nhân Nguyễn Thị H. được người thân trong gia đình nạn nhân và nhân chứng cung cấp thông tin, quá trình điều tra không làm rõ là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Do đó, Viện KSND tối cao thấy rằng các cấp kết án ông Nguyễn Thanh Chấn về tội giết người là chưa đủ căn cứ.

Bản kháng nghị cũng nêu rõ vụ án xuất hiện những tình tiết mới. Cụ thể ngày 9-7-2013, Cục điều tra của Viện KSND tối cao tiếp nhận đơn của bà Nguyễn Thị Chiến (vợ ông Chấn) tố giác các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bắc Giang đã điều tra, truy tố, xét xử oan sai đối với ông Chấn. Bà Chiến cho rằng người gây ra vụ án giết chị Nguyễn Thị H. là Lý Nguyễn Chung (25 tuổi, cùng trú tại thôn Me). Quá trình điều tra, Cục điều tra đã lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Lành (mẹ kế của Lý Nguyễn Chung), Lý Văn Chúc, hai người này đều khai nhận Chung là người giết chị Nguyễn Thị H.. Ngoài ra, một số hàng xóm của gia đình ông Chúc đều khai có nghe ông Chúc nói về sự việc này.

Một người thân của Chung cũng khai nhận khoảng cuối năm 2003 Chung có về Lạng Sơn và nói chuyện với hai anh em Lý Văn Phúc, Lý Văn Nho về việc Chung gây án ở Bắc Giang. Sau đó Chung được anh trai là Lý Văn Phúc bố trí cho đi vào làm ăn ở miền Nam. Ngoài ra, Cục điều tra cũng lấy lời khai của chị Hoàng Thị Xướng (vợ Lý Văn Phúc) về việc tháng 8-2003, Lý Văn Phúc đưa cho người này hai chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng. Khi biết hai chiếc nhẫn này của nạn nhân bị giết ở Bắc Giang thì chị Xướng không nhận. Cho đến khi Lý Nguyễn Chung ra đầu thú đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Do đó, Viện KSND tối cao kháng nghị bản án nhằm minh oan cho ông Nguyễn Thanh Chấn. 

Giết người để lấy 59.000 đồng và hai chiếc nhẫn

Ông Vũ Đăng Khoa, cục trưởng Cục điều tra, cho biết sau khi nhận được đơn tố giác của bà Chiến, cơ quan điều tra đã cử bốn tổ công tác đến Bắc Giang, Lạng Sơn, Đắk Lắk, Gia Lai. Quá trình xác minh có đủ cơ sở cho thấy Lý Nguyễn Chung là nghi phạm giết chị Nguyễn Thị H. vào đêm 15-8-2003 chứ không phải ông Nguyễn Thanh Chấn. Ngay sau đó, Cục điều tra cử một tổ công tác vào Đắk Lắk truy bắt Chung nhưng đến nơi thì phát hiện Chung đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cũng tại đây, tổ công tác nắm được thông tin trước đó một tháng, Công an Bắc Giang đã tổ chức xác minh và vào nơi ở của Chung để tìm kiếm nhưng Chung thấy động đã bỏ trốn.

Xác minh nhiều nguồn, sử dụng các biện pháp nghiệp vụ, cơ quan điều tra phát hiện Chung đã thay đổi đến gần 100 sim điện thoại để liên lạc với người thân nhằm nắm tình hình vụ việc. Quá trình trốn chạy, Chung đã đi vào miền Nam, đi các tỉnh khác tại Tây nguyên, ra Lạng Sơn, thậm chí sang tận Trung Quốc.

Có những lúc cơ quan điều tra tưởng như đã bắt được Chung, nhưng khi tìm đến thì phát hiện sim điện thoại Chung sử dụng trước đó đã bỏ đi và người khác sử dụng. Do đó, các điều tra viên phải kiên trì vận động, thuyết phục người thân trong gia đình vận động Chung đầu thú để được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, nhất là khi Chung phạm tội mới có 14 năm 8 tháng tuổi, sẽ được hưởng hình phạt thấp cho người vị thành niên. Do đó đến ngày 25-10, Chung ra đầu thú tại Công an huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận bàn giao, Cục điều tra đã di lý Lý Nguyễn Chung ra Hà Nội để điều tra làm rõ hành vi phạm tội của mình.

Tại cơ quan điều tra, Lý Nguyễn Chung khai nhận đã giết chị H. để lấy tiền và hai chiếc nhẫn vào tối 15-8-2003. Sau khi giết chị H., Chung về nhà thay quần áo dính máu ra ngâm ở chậu. Đến khoảng 4g sáng hôm sau, bà Nguyễn Thị Lành giặt quần áo thấy trong nước ngâm bộ quần áo của Chung có màu hồng nên gọi Chung dậy hỏi: “Có phải hôm qua mày làm chuyện đó không?”, Chung đã thừa nhận. Bà Lành và ông Chúc đã bảo Chung về quê ở Lạng Sơn. Chung về Lạng Sơn kể lại sự việc và đưa hai chiếc nhẫn cho Lý Văn Phúc. Số tiền lấy được của chị H. đếm được 59.000 đồng Chung sử dụng hết, sau đó trốn vào Đắk Lắk làm ăn.

“Tôi như được sinh ra lần thứ hai”

Mười năm xa cách, hôm qua ông Nguyễn Thanh Chấn trở về với gia đình trong vòng tay đón chào của người thân, làng xóm. Ông nói mười năm trong tù, ông mong mỏi có một ngày được minh oan cho mình.

Sớm ngày 4-11, những người thân trong gia đình ông Nguyễn Thanh Chấn bắt đầu một ngày mới với những công việc khác ngày thường. Cụ Phạm Thị Vì, mẹ đẻ ông Nguyễn Thanh Chấn, lặng lẽ thay cho mình một bộ đồ tươm tất. Bà Nguyễn Thị Chiến gắng gượng tự chải lại mái đầu sau cả năm ròng nằm trên giường bệnh. Người con gái thứ ba của ông, chị Nguyễn Thị Thu, khăn gói mang cho cha một bộ đồ mới.

6g. Xe của trại giam Vĩnh Quang tới đưa gia đình đi đón ông Chấn về. Anh Nguyễn Hữu Quyết, con trưởng, cho biết suốt đêm cả nhà gần như thức trắng. “2g sáng tôi đi mổ lợn thuê về đã thấy bà, mẹ và các em thức đợi. Mọi người thúc hôm nay đi đón bố thì mặc cho tươm tất vào. Tôi đi mà trong đầu cứ lởn vởn suy nghĩ, không biết bố mình có được về luôn không” – anh Quyết kể.

8g30, sau gần ba tiếng ngồi xe, vừa xuống sân trại, bà Nguyễn Thị Chiến lịm dần. Con, cháu dìu bà vào phòng đợi, còn những người thân trong họ liên tục khích lệ: “Cố lên Chiến ơi, sắp được gặp Chấn rồi”. Ngồi lặng lẽ bên mẹ, thi thoảng chị Nguyễn Thị Thu lại bật khóc như một đứa trẻ: “Bố Chấn ơi, lúc bố bị bắt, con mới là một đứa trẻ tung tăng đến trường. Ở đâu, gặp ai chúng con cũng thấy những ánh mắt trách móc và những câu nói xuyên thấu tim gan: bố mày mang tội hiếp dâm, giết người thì học làm gì. Ra tòa bố nói không phạm tội nhưng tòa đâu có tin. Mẹ con cơm nắm, áo đùm đi kêu oan cho bố nhưng bố vẫn không về”.

Đúng 9g, hội trường trại giam Vĩnh Quang như vỡ òa khi ông Nguyễn Thanh Chấn được đưa vào phòng. Sau các thủ tục, sau những giây phút cởi bỏ áo trại, những người thân ào tới ôm ghì lấy ông. Quỳ sụp dưới chân mẹ già, ông Chấn thổn thức: “Sinh ra con không biết mặt cha, còn mẹ già nhưng con không ở bên phụng dưỡng. Giờ con muốn báo hiếu có kịp không mẹ ơi”. Giữa vòng vây những người thân, ông Chấn nháo nhác tìm bóng dáng vợ mình. Khi người thân dìu bà Chiến tới, ông Chấn ôm chầm giọng rên xiết: “Em tôi, vì đâu mà nhà mình nên nỗi này. Anh nợ mẹ con em nhiều lắm”.

12g. Gia đình ông Chấn đoàn tụ chung vui bữa cơm đầu tiên sau 10 năm xa cách. Trước chén cơm đầu tiên với gia đình, ông Chấn ngậm ngùi: “Con cảm ơn mẹ. Em cảm ơn các anh chị đã bao năm ngược xuôi vì em”. Nói với vợ và các con, ông Chấn hứa sẽ bù đắp cho những năm tháng xa cách. Trò chuyện với Tuổi Trẻ sau bữa cơm trưa đầu tiên cùng gia đình, ông Chấn nói mười năm ở tù ông khát khao có ngày được minh oan cho gia đình: “Suốt mười năm tôi luôn nghĩ gia đình mình thiệt thòi, khổ cực vì tôi quá rồi. Hôm nay được về, tôi thấy mình chuộc được phần nào lỗi với gia đình. Với tôi, hôm nay mình như được sinh ra lần thứ hai”.

MINH QUANG – XUÂN LONG

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Phap-luat/578328/thay-gan-100-sim-dtdd-de-lan-tron.html#ad-image-0

Ông Nguyễn Thanh Chấn (thứ ba từ trái sang) trở về trong vòng tay của những người thân sau 10 năm xa cách – Ảnh: Xuân Long

———–

Dưới chế độ công an trị, mỗi người dân là một người tù dự khuyết

Nghe quyết định bắt mà chết đứng giữa nhà

05/05/2013 09:40 (GMT + 7)

TT – Đi liên hoan tất niên hơi sương sương rồi chạy xe máy bị té, ông Bùi Minh Hải (sinh năm 1956 ở xã Tân Long, huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai) đánh rớt chiếc đồng hồ gần thi thể một nạn nhân. Thế rồi ông bị khép tội giết người, cướp của và hiếp dâm.

86 ngày bị nhốt trong biệt giam cũng là 86 ngày ông Bùi Minh Hải không tắm rửa, ông nói vui trong cay đắng: “Tôi là người ở dơ nhất nước. Tôi thấy lúc ấy mình chẳng giống một con người. Mỗi ngày trôi qua tôi lại dùng ngón tay cái gạch một vạch lên bức tường làm dấu. Cứ như thế 86 cái gạch lần lượt xuất hiện”. Hỏi ông về ý nghĩa của mấy cái gạch kia, ông ngửa cổ lên trời để giấu những giọt nước mắt chực rơi: “Để tôi đánh dấu từng ngày mình bước vào cõi chết…”.

Thời gian sau đó “Từ Hải” đã bình tĩnh hơn. Ông suy nghĩ nếu bây giờ mình chết thì mãi mãi về sau mình sẽ mang tội là kẻ giết người. Con cái mình lớn lên sẽ bị chúng bạn xa lánh cười chê. “Suy nghĩ ấy như kéo tôi trở về thực tại, tôi nghĩ mình phải mạnh mẽ lên để sống tiếp, để được minh oan. Mình sẽ ra khỏi chốn này”.

“Từ Hải” nghĩ hung thủ thật sự còn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Anh ta đã gây ra bốn trọng án liên tiếp thì chắc hẳn hành động sẽ không dừng lại ở đó. Cứ như vậy, ông  Hải hi vọng rồi đợi chờ. “Ông trời thương tôi. Đúng như dự đoán, 13 tháng sau hung thủ đã ra tay. Một em bé 9 tuổi vừa trở thành nạn nhân tiếp theo”.

Sau đó không lâu, Nguyễn Văn Tèo (sinh năm 1975, hung thủ thật sự) bị bắt. Ông Hải được minh oan, nhưng mọi chuyện đã thay đổi.

Con cái không thể đứng vững nên đã rời ghế nhà trường. Vợ ông vì vừa lo cho chồng và con nên đổ bệnh… Chỉ sau 18 tháng, một gia đình êm ấm hạnh phúc trở nên bi đát. “Tôi tự hỏi nguyên nhân của mọi chuyện có phải là do tôi sơ suất làm rơi đồng hồ hay do pháp luật chưa thật sự thấu đạt?”. Nhiều ngày sau ông Hải vẫn đặt ra câu hỏi đó.

Bao giờ mới tới ngày “cam lai”…

Ngày bị bắt ông Hải chỉ biết lý do duy nhất: tình nghi tội cướp của, giết người, hiếp dâm. Ngày ông được thả cũng là một ngày thật lạ. “Ông quản trại gọi tôi ra nói chuyện cây kiểng. Hai ngày sau có người thông báo tôi được tha. Nhưng con người ta không phải là đá, là gỗ. Tôi cũng biết đau đớn, cũng cảm nhận được những tổn thương. Tôi muốn có một quyết định rõ ràng, không thể áo gấm đi đêm”.

Ngày 10-6-1999 – cái ngày mà ông Hải sống lại khi được về với gia đình.

Đêm hôm ấy là một đêm thật dài cả nhà ngồi tâm sự, vợ kể chuyện nhà, chồng kể chuyện tù, con kể chuyện đường chuyện sá. Lúc ông bị bắt, thằng Cường con trai thứ của ông phải nghỉ học vì nhà không còn tiền. Nó đăng ký làm hai ca một ngày cho nhà máy để có tiền phụ mẹ thăm cha và lo cho em đi học. Khổ nhất, có lần Cường đi làm về bị chặn đường đánh vì là “con của kẻ cướp”. Mẹ nó thì cứ bước chân ra đường là không dám nhìn ai bởi sợ người ta xì xầm, chỉ trỏ…

Lúc ông Hải bị bắt, mấy người trong xóm chạy sang động viên: Ai chứ ông Hải không phải là người như vậy, gia đình phải vững vàng lên. Chúng tôi tin rồi ông Hải sẽ được thả. Tôi thầm cảm ơn những người hàng xóm tắt lửa tối đèn. Ông Không, chị Trang, cô Cây… những người bạn, những hàng xóm thân thiết khi ông bị bắt đã tới lui hằng ngày để động viên vợ con ông và ngày ông được thả họ cũng đến để góp cho ông Hải thêm chút niềm tin, quên đi những ngày đau khổ.

Khi ra tù, ông được hàng xóm đặt cho cái tên mới: “Từ Hải”. Ông là một trong số những người bị oan khuất hiếm hoi bây giờ đang làm công việc ở xã. Ông cũng là người hiếm hoi nhận được sự chia sẻ ấm áp và gần gũi của bà con xóm ấp.

Ông cũng là người hiếm hoi nhận được sự cảm thông của chính quyền địa phương. Thế nên họ vui vẻ gọi ông là Từ Hải. Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du chết đứng bởi tin người, còn ông thì “chết đứng” bởi oan khuất. Cái tên hàng xóm đặt cho ông cũng nói lên phần nào hành trình cay cực mà nếu hung thủ thật sự không bị bắt thì ông và gia đình không tài nào được minh oan.

 

Tối 24-1-1998 ông Bùi Minh Hải đi liên hoan cuối năm với cơ quan bị say xỉn. Trên đường về, nhiều lần ông bị ngã xe nên đánh rơi đồng hồ Seiko của con mà ông mang đi thay dây. Sáng 25-1 người dân phát hiện thi thể một phụ nữ có dấu hiệu bị hãm hiếp và cướp tài sản, đồng thời thu được chiếc đồng hồ Seiko do ông Hải đánh rơi ở gần hiện trường vụ án mạng. Ông Hải bị cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai bắt ngày 3-2-1998 với tội danh giết người, cướp tài sản công dân, hiếp dâm.

Ngày 23-11-1998, TAND tỉnh Đồng Nai đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án, viện kiểm sát đề nghị mức án tử hình, nhưng tòa tuyên án chung thân.

Ngày 13-9-1999 Công an tỉnh Đồng Nai quyết định trả tự do cho ông Hải sau khi hung thủ của vụ án bị bắt. Ông Hải được các cơ quan tố tụng của tỉnh Đồng Nai minh oan vào ngày 14-12-1999 và bồi thường 59,9 triệu đồng.

 

Ông Bùi Minh Hải cùng với đống hồ sơ liên quan đến vụ án oan – Ảnh: Nguyễn Ngọc

Posted in Công An | Leave a Comment »