Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một 3rd, 2013

►Chế độ của TT Ngô Đình Diệm là gia đình trị, đàn áp phật giáo?

Posted by hoangtran204 trên 03/11/2013

Hơn 60-70 năm qua, hàng mấy chục triệu người Việt Nam đã bị lối tuyên truyền một chiều và bóp méo sự thật của đảng csvn, kết quả họ tin tất cả những điều đảng nói như tin vào sấm.

Nhưng, trong 25 năm qua, đặc biệt trong khoảng 10 năm đổ lại đây, sau khi tiếp xúc được nhiều thông tin từ mạng internet , và kiểm chứng đối chiếu lại với thục tế, họ, những thanh niên tinh hoa của miền Bắc, đã gọi người VN tin theo chế độ cộng sản là những con lừa, hay ngắn gọn hơn là lừa. Có nhiều bạn cảm thấy chua chát quá, nên lấy tên nick name trên mạng là Lừa Ông, Lừa Bà, và gọi VN là  Xứ lừa. Tất cả đều bị đảng lừa. 

Người VN đa số vốn là người hiền lành, dễ tin. Lợi dụng đặc tính ấy, đảng CSVN và nhà nước không cho phép báo chí tư nhân tác nghiệp, cấm tự do ngôn luận. Đảng và nhà nước mặc sức tuyên truyền, đổi trắng thay đen, nói láo, kết hợp 50% sự thật, và 50% giả dối để lừa gạt người dân tin theo, mục đích là đảng tiếp tục cai trị, nắm quyền lực, thu tóm hết quyền lợi vào tay của các đảng viên cao cấp nhất và chia nhau bỏ túi.

Dưới đây là các sự kiện khác hẳn với lời tuyên truyền của đảng.

—————————–

“Về việc Tổng Thống Diệm đàn áp Phật Giáo:

Trở lại với vấn đề đàn áp Phật Giáo, theo những ghi nhận của những người chứng có liên quan mật thiết đến chế độ, thì KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO CÁCH RIÊNG.

Ngô Đình Diệm là vị Tổng Thống duy nhất từ 1954 đến 1975 là Ân Nhân cho đất, cho tiền để xây Chùa Xá Lợi, tu sửa các chùa chiền khác. Ngô Đình Diệm cũng là Tổng Thống duy nhất hay viếng chùa Từ Đàm và đôi lần mời những vị trụ trì của chùa đến tư dinh của ông để uống trà. (Hình minh chứng đính kèm).

 

Tổng Thống Diệm đã bổ nhiệm toàn bộ những người bên cạnh mình là Phật Tử:

Đổng Lý Văn Phòng, Phó Đổng Lý, Tùy Viên, Tổng Thư Ký, Bí Thư, Chánh Văn Phòng, Tham Mưu Biệt Bộ, Giám Đốc Nghi Lễ, Giám Đốc Báo Chí. Ngoài ra, trong 4 Tướng trấn giữ 4 Quân Đoàn chiến thuật, thì chỉ có một tướng là Công Giáo: Huỳnh Văn Cao, (Vùng 4 chiến thuật, khá xa Thủ Đô.) (Theo tác giả Minh Võ: Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc).

“TỒNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM có bất công gia đình trị?

Dưới đây là những Phật Tử cộng tác với TT Diệm:

– Ông Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng Thống.
– Đại tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng.
– Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Tổng Trấn Sài Gòn- Gia Định.
– Ông Vũ Văn Mẫu, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao.
– Ông Quách Tòng Đức, Đổng Lý Văn Phòng.
– Ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng phủ Tổng Thống, kiêm Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng.
– Ông Đoàn Văn Thêm, Phó Đổng Lý Văn Phòng.
– Ông Võ Văn Hải, Chánh Võ Phòng.
– Ông Nguyễn Thành Cung, Tổng Thư Ký.
– Ông Trần Sử, Bí Thư.

Toàn Bộ Tham Mưu của Tổng Thống đều là Phật Tử.

Bên Quốc Hội có 75 trong tổng số 123 dân biểu Quốc Hội là Phật Tử.

Trong số 18 Tổng Bộ Trưởng, chỉ có 5 người là Công Giáo.

Bên quân đội, tổng số 19 tướng lãnh có quyền hành nhất, thì đã có 16 tướng là Phật Tử. “

——————-

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM Là một người hiếu sát, lê máy chém đi toàn miền Nam?

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM là một Tín hữu Công Giáo.

1. Trong thời gian 9 năm giữ quyền điều hành đất nước TT Diệm chưa hề ra lệnh hành quyết một tử tội nào. ( TH có đọc 1 bài báo viết rằng đã có 1 người bị xử chém, và sau đó TT Diệm nhận thấy việc này quá tàn nhẫn, nên ông đã hủy bỏ tội chém đầu. Từ đó, máy chém chỉ có tác dụng răn đe, mà không còn được xử dụng nữa.). 

2. Tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh do Toà Đại Hình Cần Thơ tuyên án tử hình, và bị hành quyết ngày 13-07-1956 (theo sử gia Cao Thế Dung đã viết trong cuốn VN 30 Năm Máu Lửa: Đấy là chủ trương của Nguyễn Ngọc Thơ và Dương Văn Minh, hai người vốn không ưa Ba Cụt và Hòa Hảo. Ông Nhị Lang, một chiến hữu sát cánh tướng Ba Cụt ở chiến khu Núi Bà cũng nói: TT Diệm không có ý định sát hại tướng Ba Cụt mà chỉ có ý định thương lượng đón ông Vinh về như trường hợp ông Trịnh Minh Thế).

3. Tên cán bộ Việt Cộng nằm vùng được csBV chỉ thị ám sát TT Diệm tại hội chợ kinh tế Ban Mê Thuật ngày 22-02-1957 bị bắt sau khi hắn bắn hụt TT Diệm nhiều viên đạn tiểu liên. Ai cũng tưởng tên cán bộ ấy sẽ bị tra tấn dã man rồi bị thủ tiêu âm thầm, thế nhưng sau chính biến 11-1963 tên cán bộ ấy vẫn sống phây phây và tỏ ra rất cảm phục cung cách chính quyền VNCH đối xử với y trong tù, nhất là tỏ lòng ngưỡng mộ vì lòng nhân từ bác ái cuả TT Diệm.

4. Cuộc đảo chính 11-11-1960 bị thất bại, một số do sắp đặt của Mỹ chạy ra nước ngoài. Số còn lại trong đó có nhóm Caravelle như Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát, Trần Văn Hương, Phan Quang Đản và Vũ Hồng Khanh cũng đều được trả tự do từ 1961 đến 1963.

5. Phạm Phú Quốc oanh tạc dinh Độc Lập 27-02-1962 bị bắn hạ và bị bắt cũng sống khoẻ và về với gia đình, sau 01-11-1963 ông trở lại không quân, và bị bắn hạ trong phi vụ Bắc Việt không rõ sống hay chết.

—————–

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM với Phật Giáo.

1. Trong 9 năm TT Diệm nắm quyền điều hành đất nước có khoảng 4000 ngôi Chùa mới được xây cất.

2. Hệ thống trường Trung- Tiểu học Bồ Đề được ra đời, có 160 trường Trung- Tiểu học cả nước cũng được khởi đầu thời chính phủ Ngô Dình Diệm.

3. TT Diệm gíup đỡ và phê chuẩn thành lập “Hội Phật Giáo Thống Nhất” toàn quốc,TT Diệm lại khuyến khích,cung cấp tài chánh cho các tăng sĩ đi du học ngọai quốc.

4. Khu đất mênh mông khoảng gần giữa đường Công Lý nay là chùa Vĩnh Nghiêm được chính phủ TT Diệm cấp, Bộ tài chánh không dám quyết định. Khi trình lên TT Diệm nói: “Làm chùa thì cho ngay đi”, chỉ lấy 1 đồng tượng trưng. Khu đất Viện Hóa Đạo đường Trần Quốc Toản cũng được giúp và khởi sự thời TT Diệm.

5. Chùa Xá Lợi được xây cất năm 1958 với kinh phí 2 triệu đồng VNCH (thời đó giá 1 tô phở 2,3 đồng) số tiền được trích ra từ quỹ Xã Hội của Phủ Tổng Thống và trao cho ông Mai Thọ Truyền chủ trì xây cất với mục đích phát triển và kiện toàn tổ chức Phật Giáo.

6. TT Diệm nhận được giải thưởng dành cho người Lãnh đạo xuất sắc Á Châu (Leadership Magsaysay) 10.000 USD năm 1956 đã tặng lại cho Đức Đạt- Lai- Lạt- Ma của Tây Tạng.

——————-

TỔNG THỐNG DIỆM “bất công và độc quyền tôn giáo trị”?

đối với Công Giáo.

– Kể từ ngày Thủ Tướng Ngô Đình Diệm về chấp chánh đến nay, chẳng thấy bằng chứng TT Diệm cho Công Giáo một miếng đất, một số tiền nào để xây Nhà Thờ hay dòng tu, cũng chưa thấy một tu sĩ Công Giáo nào được TT Diệm cho đi du học có học bổng đầy đủ.

– TT Diệm còn lấy lại khu vườn cao su Phú Thọ mà trước đây thực dân Pháp đã tặng địa phận Sàigòn, để làm tài sản cho quốc gia. Tổng Thống đã lập luận rằng: “Khu đất đó là đất của nước Việt Nam, chứ không phải của Pháp, họ không được phép lấy đất của minh cho bất cứ tổ chức hay cá nhân nào”. Sự việc trên làm TGM Sàigòn rất khó chịu. Vì thế linh mục Phan văn Thăm C.N Báo.T.Tiến đã chỉ trích chính phủ trên tòa giảng trong nhà thờ Đức Bà, Sàigòn.

(khu vườn cao su Phú Thọ: nằm cạnh trường Đua ngựa Phú Thọ (đối diện Bệnh Viện Trưng Vương ngày nay (?) 

——–

Kết luận về việc của Ủy Ban Liên Hiệp Quốc tìm hiểu về vấn đề đàn áp tôn giáo tại Việt Nam: Theo lá thư của Thượng nghị sĩ Thomas J. Dodd, Ủy Ban Tư Pháp Thượng Viện Hoa Kỳ, ngày 17 tháng 2 năm 1964 gởi Chủ tịch Ủy Ban Nội Vụ Thượng Viện Hoa Kỳ:

Thưa Ngài Chủ Tịch,

Vào đầu tháng 9 năm ngoái, vào lúc cao độ của cuộc khủng hoảng Phật giáo, 16 quốc gia đệ trình bản tuyên cáo lên ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, kết án chính phủ Việt Nam đã vi phạm trầm trọng về nhân quyền. Để trả lời, chính phủ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã mời Liên Hiệp Quốc gửi một Ủy ban đến Tìm Hiểu Sự Thật và cam kết sẽ hợp tác chặt chẽ với Ủy ban. Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc chấp thuận lời mời và ngày 11 tháng 10 một ủy ban đã được thành lập gồm đại diện các quốc gia Afghanistan, Brazil, Costa Rica, Dahomey, Morocco, Ceylan, và Népal.

Phúc trình của Ủy ban về Việt Nam, dù rằng được ấn hành trong nội bộ Liên Hiệp Quốc vào ngày 9 tháng 12, nhưng chỉ được phổ biến một cách hạn chế cho báo chí. Sự thật, bản phúc trình này chỉ được báo chí biết đến hơn hai tuần lễ sau khi được ấn hành do một vài bình luận gia biết được vấn đề.

Theo tôi nghĩ bản phúc trình này có những điều đáng lưu tâm và tôi đề nghị tiểu ban Nội Vụ Thượng Viện ấn hành để các Thượng nghị sĩ hiểu rõ vấn đề.

Ðây là bản phúc trình bao gồm những lời khai và tài liệu, nhưng không hề có những nhận xét hay kết luận của Ủy ban, tôi tin rằng bất cứ ai sau khi đọc cũng có thể đưa ra kết luận về lời cáo buộc “Phật Giáo đã bị đàn áp”, mà thật ra chỉ là một sự thổi phồng đầy ác ý, và tuyên truyền gian trá.

Tôi cũng lưu tâm quý vị liên hệ sự kiện này với cuộc phỏng vấn của NCWC News Agency vào ngày 20 tháng 12 với Ðại Sứ Fernando Volio Jimerez của Costa Rica, một trong những người đã kiến nghị thành lập Ủy Ban Tìm Hiểu Sự Thật.

Tôi xin trích dẫn lời của ông Volio:

“Cá nhân tôi nghĩ rằng không hề có chính sách kỳ thị, đàn áp, ngược đãi đối với Phật giáo trên căn bản tôn giáo. Lời khai về những sự việc này thường chỉ là những tin đồn vô căn cứ hoặc đã được thổi phồng hay phóng đại.”

(Google: sự thật vẫn là sự thật: CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO KHÔNG?… )
———

1-Nhật Ký của Đại Úy Đỗ Thọ, Tùy Viên của Tổng Thống Diệm, một Phật Tử và là cháu ruột của tướng Đỗ Mậu, một trong những người đảo chánh :

Sau khi vụ nổ xẩy ra ở Huế, Tổng Thống khiển trách ông Cẩn thật nặng, nhưng những báo cáo từ văn phòng ông Cẩn và chỉ huy trưởng Thừa Thiên chối rằng sự việc xẩy ra không phải do ông Cẩn mà là do ai đó… Ông Cẩn hằng năm vẫn đến chùa Từ Hiếu để viếng linh của tổ tiên dòng họ ông đặt ở đây. Ông Diệm nói: “Mọi tôn giáo đều tốt. Luôn luôn có những người tốt và người xấu trong mọi tôn giáo. Chúng tôi bây giờ là Công Giáo, chứ tổ tiên chúng tôi đều là Phật Tử. Vậy, nếu những vị sư ở chùa Từ Đàm, Từ Hiếu, Diệu Đế có cần chi, các ông phải giúp đỡ họ.”

Đỗ Thọ còn nói rằng TT Diệm không bao giờ có quan niệm tôn trọng Công Giáo mà coi nhẹ Phật Giáo. Trong một chuyến đi đến Vĩnh Bình, khi mà ông Tỉnh Trưởng ở đây cho treo cờ Công Giáo để đón Tổng Thống, ông đã nổi giận và truyền lệnh cho Tỉnh Trưởng phải hạ cờ Công Giáo đi trước khi ông ra khỏi máy bay.

Những lời Đỗ Thọ nói, theo tôi, rất khả tín, vì không thể có một người là cháu của kẻ đã giết Tổng Thống lại dám bịa ra những điều tốt về người đã bị chính chú ruột của mình giết chết. (Tội nghiệp cho Đỗ Thọ, ít lâu sau khi cuốn sách được xuất bản, Đại úy Đỗ Thọ đã chết bất ngờ trong một chuyến đi công tác! Chiếc máy bay chở ông đã rơi xuống đất vì một tai nạn không ai được báo cáo.)”  (Chu Tất Tiến)

———–

Nếu TT Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo, bênh công giáo, ghét và đàn áp phật giáo, thế thì tại sao ông đã làm những điều này?

Kỳ thị tôn giáo.

   1.- Phật giáo

   a- Chùa Xá Lợi

     Ngay từ những năm đầu của chế độ, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã áp dụng một chính sách đặt biệt đối với Phật giáo. Tại Sàigòn Tổng Thống thường giúp đỡ tài chánh khích lệ Hội Phật học do cư sĩ Mai Thọ Truyền làm Hội Trưởng, đặc biệt là xây chùa Xá Lợi với mục đích duy nhất là dùng làm nơi nghiên cứu, học hỏi giáo lý, mở rộng kiến thức, củng cố niềm tin nơi tín đồ Phật giáo. Chùa Xá Lợi được xây cất năm 1958 với kinh phí 2.000.000$ Việt-Nam được trích ra từ quỹ Xã Hội của Phủ Tổng Thống và trao cho ông Mai Thọ Truyền chủ trì việc xây cất với mục đích phát triển và kiện toàn tổ chức Phật giáo.  

     b- Chùa Vĩnh Nghiêm.

     Khoảng năm 1959-1960, Thượng tọa Thích Tâm Giác và bà Đức Âm xin mua đất xây Chùa. Khu đất này thuộc Bộ tài chánh, nhưng Bộ tài chánh không dám quyết định. Khi trình lên Tổng Thống, Tổng Thống nói: ”Làm chùa thì cho ngay đi!”.

     Sau đó họ mua được khu đất hơn một mẫu tây sát đầu cầu Công Lý với giá tượng trưng 1$ Việt-Nam. Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị thảm sát, ngôi chùa này được xây mang tên Vĩnh Nghiêm.  

     c- Chùa Từ Đàm

     Riêng chùa Từ Đàm do Thích Trí Quang trụ trì, ông Ngô Đình Cẩn giúp đỡ đặc biệt, nhất là phương diện tài chính, vật liệu, dụng cụ cần thiết do chính tay ông Cẩn hay qua các ông Đại Biểu Chính Phủ hoặc các Tỉnh Trưởng sở tại. Ngoài ra, khi nhà thầu củi Thăng Long trên đường Phan Bội Châu, Huế, đã trúng thầu khai thác củi trong kế hoạch khai hoang mật khu Hoa Mỹ của Việt Cộng, thuộc quận Phong Điền tỉnh Thừa Thiên, ông Cẩn còn đặt điều kiện với nhà thầu củi Thăng Long phải cung cấp cho chùa Từ Đàm mỗi tháng 30.000$. Vì thế chùa Từ Đàm càng ngày càng phát triển về mọi mặt.  

     Một điều rất đặc biệt, để có vật liệu đúc chuông cho một số chùa mới xây, ông Cẩn yêu cầu Đại Đội Quân Cụ Quân Khu II bằng mọi cách, cung cấp vỏ đạn cho Th.T. Trí Quang. Công việc này thật khó, vì lúc ấy Hoa Kỳ chỉ mới cung cấp súng đạn cho quân đội Việt-Nam trong công tác huấn luyện nhưng rất hạn chế, kèm theo nhiều thể thức kiểm soát hết sức chặt chẽ. Tuy nhiên, hai người đứng đầu công tác này là Trung Úy Ngô Văn Điều và Thượng Sĩ Nguyễn Hiệp (đều là nggười Công Giáo) đã tìm mọi cách thực hiện lời yêu cầu của ông Ngô Đình Cẩn.

    Được chính quyền tích cực giúp đỡ, Phật giáo miền Trung phát triển mạnh; xây thêm nhiều cơ sở, chùa miếu mới. Thêm vào đó, sự qua lại giữa ông Cẩn và Th.T. Trí Quang rất thường, nhất là vào những dịp LỄ, TÊT. Nên từ đó, uy tín tăng sĩ chùa Từ Đàm, đặc biệt là Th.T. Trí Quang, càng ngày càng nổi bật trong giới Phật giáo. Vì thế ông ta mặc nhiên được coi như đại diện chính thức cho cả khối Phật giáo miền Trung với chính quyền. Uy tín của ông ta vượt trội hẳn trên các tăng sĩ khác.

    Ngoài ra còn khoảng 4.000 ngôi chùa khác được xây thêm dưới chế độ Đệ I Cộng Hòa.  

    Ngoài những ưu đãi như trên, Tổng Thống còn có kế hoạch lâu dài, khuyến khích Phật tử đi du học. Nhất là Tổng Thống giúp đỡ và phê chuẩn thành lập ”Hội Phật Giáo Thống Nhất” toàn quốc.

     Sau khi Phật giáo đã có tổ chức thống nhất, Tổng Thống Ngô Đình Diệm lại khuyến khích, cung cấp tài chánh cho các tăng sĩ đi du học, hầu nâng cao trình độ cho hàng ngũ lãnh đạo Phật giáo Việt-Nam

     Vào khoảng cuối tháng 8 năm 1963, Tổng Thống đến thăm ngôi chùa nữ tại Phú Lâm do sư bà Diệu Huệ chủ trì. Trong khi đàm đạo, nhiều sư nữ đã oà lên khóc, vì họ biết từ trước đến giờ, Tổng Thống đã từng nâng đỡ Phật giáo rất nhiều, nay nhiều kẻ lại quay lưng lại. Cuộc nói chuyện vừa dứt, một tăng sĩ tiến tới chào Tổng Thống.

    Tổng Thống hỏi:

    –  Thầy về khi mô?

    – Thưa Tổng Thống, con về được gần ba tháng. Hôm về anh em chúng con (không nói rõ bao nhiêu người) đã đến trình diện Tổng Thống.

    – Học có được không?

    – Dạ thưa, được. Nhờ lòng ưu ái của Tổng Thống cho đi du học, chúng con đã cố gắng theo kịp các  bạn cùng khóa.

    – Tiền bạc có đủ không?

    – Dạ, cám ơn Tổng Thống. Nhờ lòng ưu ái của Tổng Thống thương cho quá đầy đủ.

    – Học về rồi phải đem những kiến thức đã học được áp dụng vô tổ chức của mình, từ tổ chức đến việc đào tạo cán bộ. Tôi nghĩ bên Phật giáo nên chủ trương như bên Công Giáo, nghĩa là phải đi tu từ 9, 10 tuổi đến 30 tuổi mới thành linh mục. Có như thế mới chọn lựa kỹ càng cả về đạo đức và học vấn. Bên Công Giáo lúc sau ni có thâu nhận thanh niên vào học lên linh mục sau khi đã đậu tú tài. Nhưng cách đó xem ra chọn lựa không được kỹ càng bằng lớp bắt đầu đi tu từ nhỏ.

    Nói đến đây Tổng Thống bảo vị tăng sĩ:

    -Thôi! Cố gắng làm việc tử tế.

     Năm 1959, sau khi đắc cử nhiệm kỳ II mới được ba ngày,  Tổng Thống âm thầm đến thăm các chùa tại Saìgòn và những vùng phụ cận để cám ơn các thầy đã ủng hộ ngài thắng cử. Tại một ngôi chùa nọ, khi đón tiếp Tổng Thống, thượng tọa trụ trì vui đùa trách Tổng Thống:

    – Tổng Thống có chuyện vui không cho anh em chúng tôi biết để cùng chung vui với Tổng Thống.

    Tổng Thống trả lời:

    – Có chuyện chi vui mà tôi dấu các thầy mô?

    – Dạ, thưa Tổng Thống, qua tăng đoàn Tích Lan, chúng tôi được biết, Tổng Thống  đã tặng Đức Đạt Lai Lạt Ma một số tiền lớn.

    Nghe vậy, Tổng Thống hơi đỏ mặt, ngồi lặng thinh một lúc rồi nói:

    – Vì là một việc tế nhị, tôi không muốn cho ai biết, chứ không phải có ý dấu các thầy. Tôi nhận được giải thưởng Leadership Magsaysay 10.000 đô la. Tôi không có nhu cầu chi. Gặp lúc Đức Đạt Lai Lạt Ma, vị lãnh đạo và là biểu tượng của tinh thần tranh đấu bất khuất để bảo vệ niềm tin, bảo vệ tôn giáo, bảo vệ dân tộc ngài, đang gặp hoạn nạn, phải sống lưu vong, cần nhiều sự giúp đỡ. Tôi thấy mình có bổn phận phải giúp ngài. Tôi nhờ Thủ Tướng Nerhu chuyển số tiền này cho ngài, nhưng ông ta khước từ, có lẽ ông ngại mất lòng Trung Cộng, nên tôi phải tìm đường khác để chuyển số tiền này cho ngài.

     Các thầy cũng biết, mình đang phải chiến đấu chống lại chủ nghĩa vô thần rất tàn bạo. Chỉ có niềm tin tôn giáo mới đủ sức mạnh chống lại được chủ nghĩa tai hại này. Vì thế, đối với việc phát huy, củng cố, bảo vệ niềm tin tôn giáo, bất câu là tôn giáo nào, mình cũng có bổn phận khuyến khích và giúp đỡ.

     Sau đó Tổng Thống đi bắt tay các thầy, ngài thấy Đại Đức Thích Quảng Liên, liền hỏi:

    – Thầy về khi mô?

    – Dạ, thưa con mới về, chưa kịp vào chào Tổng Thống.

    – Không sao. Khi mô thầy muốn vô, nói sĩ quan tùy viên sắp xếp cho vô.  

Sự việc trên làm TGM Sàigòn rất khó chịu. Vì thế linh mục Nguyễn Văn Vàng đã chỉ trích chính phủ trên tòa giảng trong nhà thờ Đức Bà, Sàigòn.

    b- Dưới thời Pháp thuộc và qua các chính phủ dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại, Giáo Hội Công Giáo được mở các chủng viện để đào tạo linh mục, tu sĩ. Chương trình giảng dạy không phải chịu sự kiểm soát của chính phủ.

     Đến thời Đệ I Cộng Hòa, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Đạo Dụ số 54/7, xóa bỏ quy chế này. Đạo Dụ ấn định: ”Không ai được mở trường tư mà không có giấy phép của chính phủ. Các trường được phép mở phải chịu sự kiểm soát của chình phủ về nhân viên, chương trình giảng dạy.”

     Việc ban hành Đạo Dụ này đã gây nên làn sóng phản đối dữ dội trong giới Công Giáo. Đầu năm 1957 Hội Đồng Giám Mục VN, trong đó có cả ĐGM Ngô Đình Thục, họp ra thông cáo chiếu điều 17 Hiến Pháp, lên án Đạo Dụ 54/7 là vi phạm tự do tín ngưỡng và yêu cầu xóa bỏ tất cả những điều khoản liên quan đến chủng viện.

    Vì thế một số linh mục đến nhờ Ông Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục Nguyễn Quang Trình dẫn vào gặp Tổng Thống. Trước khi vào, nhiều linh mục huyênh hoang rằng: ”Lần này tôi sẽ nói toẹt ra hết. Tôi không nể nữa đâu”. Nhưng khi vào, các vị đều cúi mặt hoặc quay đi không dám nhìn Tổng Thống.

     Khi được Tổng Thống giải thích, các linh mục nhìn ra mục đích của Đạo Dụ là tạo sự hòa đồng các tôn giáo, gây tình đoàn kết toàn dân, nhằm bẳo vệ quyền lợi tối thượng của đất nước.

    Thế rồi, Tổng Thống quay sang trách khéo Ông Bộ Trưởng Nguyễn Quang Trình:

    – Họ không hiểu, ông Bộ Trưởng phải giải thích cho họ. Có vậy cũng đòi vào gặp tổng thống.

     Rồi Tổng Thống đứng dậy đi vào.

    Sau đó Đạo Dụ được giới Công giáo nghiêm chỉnh thi hành.  

3.- Cao Đài.

Trong một lần Tổng Thống tiếp phái đoàn Cao Đài đến thăm xã giao, ngài nói: ”Tôi kính trọng quý ngài. Một số linh mục Công Giáo đến gặp tôi xin phép được xổ số Tômbola để có tiền xây nhà thờ. Tôi nói: Cao Đài họ có Tombola đâu, sao tôi thấy họ cất thêm thánh thất mới đều đều”. Rồi ngài chua chát kết luận: ”Cứ Tombola! Tombola mới xây được nhà thờ!”    

(Thanh Hùng)

————

Gia Đình Trị ?

“Xin nói thêm về gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà các Thầy cáo buộc “gia đình trị”. 

– Ông Ngô Đình Khôi đã bị Việt Cộng sát hại năm 1940 cùng Ông Tạ Thu Thâu và Huỳnh Phú Sổ. 
– Giám mục Ngô Đình Thục do Giáo Hội Công Giáo bổ nhiệm cai quản địa phận Vĩnh Long trước ngày TT Diệm chấp chánh. 
– Ông Ngô Đình Luyện Đại Sứ VNCH tại Anh Quốc, do Quốc Trưởng Bảo Đại bổ nhiệm trước lúc Tổng Thống Diệm chấp chánh. 
– Ông Ngô Đình Nhu làm việc cạnh Tổng Thống giúp soạn thảo kế hoạch nên người ta gọi là: “Ông cố vấn”. 
– Ông Ngô Đình Cẩn (Miền Trung còn gọi Cậu Út Trầu). ”  (Thanh Hùng)

Theo nhiều nguồn tin từ sách báo, ông Nhu và ông Cẩn không có chức vụ chính thức trong chính quyền và cả hai đều làm cố vấn giúp TT Diệm, họ làm việc mà không lãnh lương. Cả hai đều không được phép tháp tùng theo TT Diệm trong các cuộc công du nước ngoài. Họ không được xuất hiện chụp hình chung với TT Diệm ở nơi công cọng.

————

Gia ĐìnhTrị:

1.- Để chứng tỏ Tổng Thống Ngô Đình Diệm gia đình trị hay không? Chúng ta nghe ông Ngô Đình Nhu trả lời bọn sinh viên Việt Cộng năm 1960 tai Paris như sau:

– Như ông bạn anh vừa hỏi tôi: Chính phủ Ngô Đình Diệm là chính phủ gia đình trị?

Giả thử anh là Thủ tướng Ngô Đình Diệm về nước năm 1954, khi thực dân Pháp còn tiếp tục khuyến khích các phần tử thân Pháp lật đổ chính quyền, cũng như yểm trợ, xúi giục nhiều phiến quân có thành tích bất hảo như thổ phỉ đánh phá quân đội quốc gia, trước cảnh dầu sôi lửa bỏng do các phần tử đối nghịch tạo nên, rắp tâm tiêu diệt anh, nếu phải chọn cộng sự viên sẵn sàng chết sống có nhau vì đại cuộc, giữa hai người đồng tài, đồng sức, đồng chí hướng, một bên không là thân bằng quyến thuộc, một bên là cật ruột, anh có cảm thấy gần như không cách chi anh không hành sử như Tổng Thống Ngô Đình Diệm chăng?…

Khi được tin hai anh em T.Th. Ngô Đình Diệm bị thảm sát, Tổng Thống Trung Hoa Quốc Gia Tưởng Giới Thạch đã thốt lên: ”Cả 100 năm nữa Việt-Nam mới có Ngô Đình Diệm thứ hai. Biết đến bao giờ Việt-Nam mới sản sinh ra được Ngô Đình Nhu thứ hai! Ông ta là Khổng Minh của Việt-Nam”.  (Thanh Hùng)

——————–

” LÊ MÁY CHÉM ĐI KHẮP MIỀN NAM…” – Bình luận

http://trankytrung.com/read.php?442

15-11-2011
Trong buổi truyền hình trực tiếp của VTV về nhạc sỹ Văn Ký tối thứ 7 ( ngày 13/11/2011) vừa rồi, khi giới thiệu về hoàn cảnh ra đời của bài hát “bài ca hy vọng” của nhạc sỹ Văn Ký, cô MC cho biết, thời điểm mà bài hát này ra đời là lúc phong trào cách mạng ở miền Nam bị đàn áp rất khốc liệt, Mỹ – ngụy “ …lê máy chém đi khắp miền nam giết hại các chiến sỹ cộng sản, người dân yêu nước”.

Theo tôi biết, khi miền nam được giải phóng chỉ có một máy chém nặng cả tấn để ở nhà lao Chí Hòa (Sài Gòn), thực chất mang tính chất dọa dẫm, biểu thị quyền lực, luật pháp của một chế độ chứ nó không hề dùng để chặt đầu người. Tôi được biết, dưới chế độ của ông Ngô Đình Diệm, duy nhất có một lần dùng máy chém để chém đầu ông Hoàng Lệ Kha, một nhân sỹ yêu nước ở Tây Ninh ( xin lỗi nếu tôi nhớ nhầm họ tên ông này, vì tôi nghe chuyện này lâu lắm rồi, qua một nhà sử học nổi tiếng). Về sau, thấy dã man, ông Ngô Đình Diệm yêu cầu không sử dụng biện pháp tử hình này nữa.

Lịch sử cần tôn trọng sự thật. Bây giờ nhiều sự thật đã sáng tỏ và đang sáng tỏ, không thể tô hồng hay bóp méo, xuyên tạc .

Lòng dân chỉ hòa hợp, đoàn kết khi mọi hiểu lầm qua đi, mọi khúc mắc của lịch sử được giải đáp, những điều không đúng được sửa sai.

“ …Lê máy chém đi khắp miền nam…” phải khẳng định, điều này trước năm 1975 ở miền nam là không có!

Đã không có thì không nên nhắc lại.

Nhắc lại là sự xuyên tạc, cố chấp, không thật lòng.

Nên không ?

——————————————

TT Ngô Đình Diệm tàn ác, sao người ám sát ông, bị bắt tại chỗ, sao người này không bị đưa lên máy chém?  Phan Văn Điền lấy tên trong căn cước là Hà Minh Trí. (TH)

Tran Le says:

Một tên CS xả súng nhằm giết ông Diệm, nhưng cũng chỉ vào ngồi tù chứ không bị tử hình, tên này là Hà minh Trí, sau 1975 làm tỉnh uỷ viên tỉnh Tây Ninh.

http://phunutoday.vn/doi-song/ha-minh-tri—nguoi-lam-thay-doi-lich-su-khi-am-sat-ngo-dinh-diem-3371.html

Đích thân Ngô Đình Nhu, Trần Kim Tuyến và Phạm Ngọc Thảo (nhân vật Nguyễn Thành Luân trong phim “Ván bài lật ngửa”) điều tra, lấy cung ông… Lên đường đi tìm ông nhưng tôi không chắc ông còn sống hay đã mất. Rất may, và rất vui khi tôi đã gặp ông còn khỏe mạnh, minh mẫn ở nơi mà ông từng ám sát hụt Ngô Đình Diệm – Tòa thánh Tây Ninh, thị xã Tây Ninh – một ngày đầu tháng 6 năm 2011.

——————————————

04-11-2013

Quãng Nam

Dựng tượng Phật Quan Âm… bồng súng     

 

Bức tượng này nguyên là tượng Phật Quan Âm trắng tinh, ngự trên toà sen, với tà áo choàng trắng bay phất phơ, một tay cầm bình cam lồ, một tay cầm nhành dương. Thế nhưng, sau đó, người ta đã phải cắt áo choàng đi, đội lên đầu tượng một mũ tai bèo rộng sụp xuống tận trán, bẻ tay cầm hồ lô và tay cầm nhành dương rồi đặt vào đó một cây súng trường.

Đây là tấn bi hài cười ra nước mắt! (http://bolapquechoa.blogspot.com)

Mời đọc bài.

Tại một hồ nước trên cánh đồng thuộc xã Đại Cường (Đại Lộc, Quảng Nam) có một pho tượng cô du kích đầu đội mũ tai bèo, vai mang súng. Bức tượng khi xây có thể là thạch cao trắng, nhưng bây giờ, người ta thấy đã loang lổ nhiều mảng đen.

Trong hồ nước, nông dân làm chuồng nuôi vịt. Qua mấy ngày mưa lũ, đàn vịt không còn, chỉ còn lại cái chuồng xiêu vẹo tả tơi. Một bác nông dân vác cuốc đi ngang dừng lại góp chuyện: “Mấy tháng trước, hồ nước sạch sẽ lắm, không ai dám thả vịt, thả cá, nước trong vắt. Nhưng từ khi thay Phật bà bằng cô du kích thì ra như ri đây”. Phật Quan Âm? Tôi ngạc nhiên và nhìn kỹ thì thấy có điều lạ là cô du kích này đứng trên… toà sen. 

Bác nông dân này nói: “Hồi trước, bà con chúng tôi quyên góp tiền và xây ở đây một tượng Phật bà. Được sáu tháng, thì chính quyền không cho để tượng nữa, đòi đập.

Ông M., người phát động xây tượng, sợ đập thì uổng phí mới kêu thợ sửa tượng lại thành cô du kích”.

Theo bác nông dân này, trước kia, đây là bức tượng Phật Quan Âm trắng tinh, ngự trên toà sen, với tà áo choàng trắng bay phất phơ, một tay cầm bình cam lồ, một tay cầm nhành dương. Thế nhưng, sau đó, người ta đã phải cắt áo choàng đi, đội lên đầu tượng một mũ tai bèo rộng sụp xuống tận trán, bẻ tay cầm hồ lô và tay cầm nhành dương rồi đặt vào đó một cây súng trường.

Tôi đến nhà ông M., chỉ cách bức tượng vài trăm mét. Ông M. nói: “Hồ nước trước kia là đám ruộng. Tôi đề xuất ý tưởng và được huyện hưởng ứng thành lập dự án đào đám ruộng thành hồ nước để lấy nước tưới cho mấy chục hecta đất màu của thôn. Hồ nước ra đời, vì nó nằm ở đầu cái làng này, nên để cho hồ nước sạch sẽ, tôi đã vận động bà con quyên góp xây bức tượng Quan Âm ở giữa hồ. Tôi nghĩ xây bức tượng Phật lên thì cái hồ nước đó mới sạch vì sẽ không ai dám vứt rác, nuôi cá, thả vịt, cho trâu dầm dưới đó. Và đúng như vậy, suốt sáu tháng sau, hồ nước vẫn sạch tinh tươm. Tuy nhiên, đùng một cái, mấy “ổng” không cho đặt tượng nữa”. 

“Trước khi xây, anh có xin ý kiến chính quyền không?”, tôi hỏi. “Có chớ, huyện, xã gì tôi cũng nói. Lúc đó ai cũng vui vẻ, bởi vì có chi trầm trọng. Thành phố Đà Nẵng, cách đây 20km, người ta xây tượng Phật bà to gấp mấy lần, xây tượng Phật Như Lai cũng to gấp mấy chục lần, trung ương, địa phương về, trong nước, ngoài nước đến, mà có ai nói chi đâu. Còn của tôi, chỉ là tượng Phật ở làng, tôi là cán bộ (ông M., là cán bộ trung ương vừa nghỉ hưu – NV) chứ có phải ở chùa nào đến, tôn giáo nào tới đâu”.

 
Bài và ảnh Đoàn Nguyễn
Báo Sài Gòn Tiếp Thị-     Theo SGTT

—————————————–

Posted in Nhan Vat Chinh tri | 3 Comments »

►50 năm ngày TT Ngô Đình Diệm bị sát hại, nói về ông Ngô Đình Cẩn

Posted by hoangtran204 trên 03/11/2013

Nguồn: chuacuuthe.com

VRNs (01.11.2013) – Sài Gòn – “Ưu điểm của ông Ngô Đình Cẩn mà ít người biết đến là lòng yêu nước, tinh thần chống cộng sản, và khả năng tình báo”. Ông Liên Thành – một sĩ quan thuộc Việt Nam Cộng Hòa, người có thời gian dài hoạt động tại Huế – đã viết như thế về ông Ngô Đình Cẩn.

“Ông Ngô Đình Cẩn là con áp út trong đại gia tộc Ngô Đình. Độc thân với hơn nửa cuộc đời sống âm thầm lo chăm sóc mẹ già, ông còn lo tổ chức cơ sở kết nạp những người có lòng với đất nước để hổ trợ cho các anh hoạt động cách mạng chống thực dân Pháp và chống cộng sản. Tuy ít học, nhưng ông lại hết sức thông minh và là một người rất có năng khiếu về tình báo và chiến tranh du kích. Khi Chí sĩ Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh thì tình hình chính trị tại miền Trung rất khó khăn. Dân tình thì ly tán, đảng phái quốc gia thì chia rẽ, và việt cộng thì thừa lúc tranh tối tranh sáng hoạt động mạnh mẽ. Trong cơn nguy biến đó, ông Ngô Đình Cẩn đã tận sức giúp đỡ cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tái lập lại niềm tin của đồng bào miền Trung, đặc biệt là Huế.

Đảng Đại Việt Cách Mạng của ông Hà Thúc Ký thiết lập chiến khu Ba Lòng Vùng Quảng Trị chống lại chính phủ. Sau khi diệt được chiến khu Ba Lòng một số lãnh tụ Đại Việt bị bắt. Điển hình là ông Tỉnh Trưởng Tỉnh Quảng Trị Trần Điền phải ra tòa và bị bản án rất nặng. Vậy mà ông Ngô Đình Cẩn đã vận động với chính phủ giảm án tối đa. Sau đó ông Ngô Đình Cẩn dùng tình thân xóa bỏ lỗi lầm, bằng cách mở trường trung học tư lấy tên là Trường Trung Học Bình Minh tại Quận III thị xã Huế và giao cho ông Trần Điền làm Hiệu trưởng điều hành”. Ông Liên Thành cho biết.

“Ưu điểm của ông Ngô Đình Cẩn mà ít người biết đến là lòng yêu nước, tinh thần chống cộng sản, và khả năng tình báo. Khả năng tình báo thiên phú của ông được biểu hiện cụ thể qua thành quả mà Đoàn Công Tác Đặc Nhiệm Miền Trung do ông thành lập, và giao cho ông Dương Văn Hiếu chỉ huy, đạt được. Điểm lại thành quả của tất cả các cơ quan tình báo VNCH thì Đoàn Đặc Nhiệm Miền Trung là một trong những cơ quan tình báo hữu hiệu nhất. Cụ thể, Đoàn Đặc Nhiệm Miền Trung đã làm cho Cụm Tình Báo Chiến Lược của Cộng Sản Hà Nội xấc bấc xang bang, dở sống dở chết với 95% cơ sở đã bị tận diệt, và một số phải di tản ngược ra Bắc vì không còn đất sống. 

Đáng chú ý là 80% điệp viên của bọn chúng bị đoàn Công Tác Miền Trung bắt giữ. Trong đó có Thiếu Tướng tình báo việt cộng Mười Hương, Đại Tá tình báo việt cộng Lê Câu, cùng hằng trăm tên tình báo chiến lược và phái khiển tình báo khác. Ông Ngô Đình Cẩn cũng là một chuyên viên lão luyện về chống du kích cộng sản”. Ông Liên Thành trình bày. 

Về cách đối xử với tù nhân của đối phương, ông Ngô Đình Cẩn có đối sách tuyệt vời:

“Một ví dụ điển hình là tù nhân Lê Đình Khôi thuộc Tổ Quân Báo của Cục Quân Báo Hà Nội. Ông Lê Đình Khôi, bị bắt và sau một thời gian ở trại tù nầy, đã được bổ nhiệm làm Trưởng Phòng Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Nha Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I.

Một cán bộ khác thuộc Phái Khiển Tình Báo của Cục Tình Báo Hà Nội, bị bắt và sau thời gian ở trại tù nầy, cũng đã được bổ nhiệm đi làm Huấn Luyện Viên trường Tình Báo Cảnh Sát Quốc Gia của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I. Tất cả những việc nầy đều do chương trình và kế hoạch của ông Ngô Đình Cẩn và, lạ lùng thay, kế hoạch nầy lại có kết quả tốt. Đây cũng là một hình thức quốc sách Chiêu Hồi cán binh cộng sản về với Chính Nghĩa Quốc Gia của Chính Phủ Đệ II Việt Nam Cộng Hòa”.

Đối với Phật giáo, theo ông Liên Thành: “Vai trò của ông Ngô Đình Cẩn trong vấn đề chiêu hồi Thích Trí Quang về với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Để cảm hóa Thích Trí Quang, ông Ngô Đình Cẩn đã can thiệp với cơ quan an ninh để Trí Quang khỏi bị bắt trong vụ Phong Trào Hòa Bình của cộng sản tại Huế mà Thích Trí Quang là một thành phần quan trọng của phong trào nầy. Ngoài ra ông Ngô Đình Cẩn cũng giúp đỡ tài chánh cho Hội Phật Giáo tại Huế để trùng tu lại chùa Từ đàm cũng như các ngôi chùa khác.

Tất cả những công việc trên mà ông Ngô Đình Cẩn đã làm hoàn toàn có tính cách tự nguyện, không chức vụ gì do chính phủ bổ nhiệm và không lãnh lương tiền của chính phủ. Tất cả chỉ phát xuất từ lòng yêu nước, chống cộng sản, và phụ giúp cho Tổng Thống trong một số công việc”. 

Khi sự kiện ám sát ngài tổng thống Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu tại Chợ Lớn, Sài Gòn, thì tại Huế, ông Ngô Đình Cẩn xin tỵ nạn chính trị ở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ tại Huế, nhưng đã bị đại sứ Cabot Lodge trao nộp cho “Hội đồng quân nhân cách mạng”.

Ông Liên Thành kể như sau: “Vào sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963 sau khi nhận được tin Tổng Thống và ông cố vấn Ngô Đình Nhu đã bị sát hại, ông Ngô Đình Cẩn bí mật rời khỏi tư dinh trên đường Nguyễn Trường Tộ thuộc quận Hương Thủy, gần nhà thờ Phủ Cam. Ông xuống trú ẩn tại Dòng Chúa Cứu Thế tại đường Nguyễn Huệ thuộc Quận 3 Thị xã Huế. Nhà dòng đã sắp xếp cho ông một căn phòng nhỏ kín đáo trên lầu 2 để trú ẩn…

Biết được ông Ngô Đình Cẩn đang ẩn trốn tại Dòng Chúa Cứu Thế, Helble Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế liền đề nghị ông Cẩn vào tỵ nạn tại Tòa Lãnh Sự Mỹ cho an toàn. Ông Ngô Đình Cẩn đã được ông Helble Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế chấp nhận cho vào trốn tại Tòa Lãnh Sự Huế với tư cách là tỵ nạn chính trị. Ông Cẩn xin cho mẹ đi theo nhưng Tòa Tổng Lãnh Sự từ chối. Trong khi đó thì Cabot Lodge lại buộc Tòa Lãnh Sự tại Huế phải báo cáo rằng đã có hằng ngàn đồng bào bao vây tư gia của ông Cẩn tại Làng Phủ Cam và phải phao vu ông Cẩn có chứa vũ khí và tài liệu Việt Cộng trong nhà ông ta. Thật ra chẳng có gì cả mà là chuyện bịa đặt của ông Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge mà thôi…

Ngày 5 tháng 11 năm 1963 ông Ngô Đình Cẩn rời Dòng Chúa Cứu Thế đến Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại số 4 đường Đống Đa thuộc Quận 3 Thị xã Huế. Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ Helble nói với ông Cẩn rằng ông sẽ được đi tỵ nạn tại Hồng Kông. 

Sau đó ông Ngô Đình Cẩn rời Huế vào Saigon bằng phi cơ của Hoa Kỳ cùng với những người đi theo như sau: Phó Lãnh Sự Hoa Kỳ ông Mullen, 1 trung tá và 2 nhân viên an ninh Mỹ. Máy bay đến phi trường Tân Sơn Nhất thay vì đổi chuyển máy bay, bay đi Hồng Kông như đã hứa thì phái đoàn Mỹ lại giao ông Cẩn cho “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng tống giam ông ta vào Khám Chí Hòa chờ ngày mở phiên tòa”.

Theo ông Liên Thành, án tử của ông Ngô Đình Cẩn do ba thế lực gây ra bao gồm Hoa Kỳ, Nhóm tướng phản loạn và nhà sư Thích Trí Quang.

Cũng theo ông Liên Thành, “Tướng Khánh chỉ còn một lựa chọn duy nhất là chỉ thị ông Bộ Trưởng Tư Pháp Nguyễn Văn Mầu lập ra một bộ luật mới, gọi là Sắc Luật số 4/64 ban hành ngày 28/2/1964. Sắc Luật số 4/64 này thiết lập Tòa Án Cách Mạng để quy một số hành động của các nhân vật cộng tác đắc lực cho chế độ Tổng Thống Diệm vào các tội cố sát, lũng đoạn kinh tế quốc gia v.v… và Sắc luật này còn được quy định có hiệu lực hồi tố. Trên căn bản thì hình luật chỉ áp dụng cho những hành vi trọng tội xẩy ra sau ngày ban hành luật đó mà thôi, vì vậy việc hồi tố là không đúng và hoàn toàn sai nguyên tắc. Vào ngày 24/4/1964 ông Ngô Đình Cẩn đã bị tòa án tuyên xử tử hình một cách vô luật pháp…

Chiều ngày 09.05.1964 trong tình trạng đang mang bệnh trầm trọng, tiểu đường và cao máu, không ngồi dậy được, ông Ngô Đình Cẩn được để nằm trên băng ca với 6 người khiêng từ phòng giam của khám Chí Hòa ra một bãi đất trống trong khuôn viên của khám giam. Một Linh Mục đến bên ông Ngô Đình Cẩn làm phép xức dầu, sau đó ông bị trói vào cây cột. Khi được hỏi nguyện vọng cuối cùng của ông, ông yêu cầu đừng bịt mắt khi bắn ông nhưng yêu cầu không được chấp thuận.

lời nói cuối cùng của ông Ngô Đình Cẩn mà giám thị trại giam, và một số người quanh vụ xử bắn nghe được: ‘Xin Chúa tha thứ cho kẻ giết mình’, rồi ông bị bắn bởi một tiểu đội hành quyết…

Đã năm mươi năm trôi qua, người mất thì đã mất, nhưng nỗi oan khiên vẫn còn đó. Xin một nén hương cúi đầu trước vong linh người ái quốc Ngô Đình Cẩn đã Vị Quốc Vong Thân”.

Tóm lược theo tài liệu của ông Liên Thành

Cống bố tại Orange County, ngày 24 tháng 10 năm 2013

———————————-

http://www.art2all.net/chantran/chantran_hoa/leduydoan/van/thaychaukhactuy.html

VC nói rằng, ông Ngô Đình Cẩn rất hà khắc,  và làm cho dân Huế không dễ sống. Thế nhưng tại sao các thầy cô giáo và học sinh ở Huế sống sung sướng như thế này trong khoảng thời gian 1957-1964?

http://www.art2all.net/chantran/chantran_hoa/leduydoan/van/thaychaukhactuy.html

Nhớ lời phê của Thầy Châu Khắc Túy

(Thầy dạy Toán của tôi năm lớp Đệ nhị , Trường Quốc học niên khóa 62-63) 

Tôi là học sinh trường Quốc học từ năm 1957 đến năm 1964, từ Đệ thất cho đến Đệ nhất.

Niên khóa 1962-1963, tôi học lớp Đệ nhị A 2. Lớp tôi ở đầu dãy trệt gần cổng sau bên hông trường. Trước dãy lớp, một hàng dương liểu cổ thụ và một sân bóng rổ.

Những Thầy dạy lớp tôi năm đó là các Thầy:

-Quốc văn: Thầy Lâm Tài – Toán : Thầy Châu khắc Túy – Lý hóa: Thầy Trần đình Bình – Vạn vật: Thầy Nguyễn thanh Lộc – Pháp văn : Thầy Nguyễn văn Thường – Anh văn : Thầy Nguyễn văn Chương – Sử địa : Thầy Bùi Ngọc Liên – Công dân giáo dục : Thầy Chu trọng Thuyết – Thể dục : Thầy Lương Tấn Liêm.

Thầy Lâm Tài cao, vai rộng đi xe Peugeot 203 màu lá chuối non, thường mặc bộ veston màu xám lục nhạt, nhớ Thầy một lần vui miệng thầy khoe bảng số xe của Thầy cọng lại thành số 9 là số may mắn. Thầy có người em gái cao, tóc đen dài đẹp và dễ thương.. nhưng thương không dễ.

Thầy Châu khắc Túy thường mặc quần màu đen không li, áo màu trắng bó sát người, khi viết bảng thì viết dấu sắc ngược từ dưới lên, dài và thẳng như mũi tên bắn lên trời.

Thầy Trần đình Bình có khuôn mặt và nét môi rất giống tài tử Pháp nổi tiếng thập niên 60 là Jean Paul Belmondo.

Thầy Nguyễn thanh Lộc: cao dong dỏng nước da trắng xanh, tánh hiền lành, dạy môn Vạn vật rất rõ ràng dễ hiểu. Chính thích lối dạy của Thầy tôi học môn này rất giỏi, đứng thứ 2 trong lớp.

Thầy Nguyễn văn Thường: Thầy đi chiếc xe traction màu đen, thấp người, miệng móm kiểu Tây, thầy được học trò gọi với tên thân mật là Me-xừ Vincent theo tên một nhân vật trong sách giáo khoa môn Pháp văn.

Thầy Nguyễn văn Chương : Ra dáng một quý Ông phớt tỉnh Ăng lê thứ thiệt, lối nói rất hóm hỉnh dễ mến, dạy rất hay.

Thầy Bùi ngọc Liên nói giọng Quãng trị và Thầy Chu trọng Thuyết là giáo sư hướng dẫn lớp tôi năm đó.

Thầy Lương Tấn Liêm, ở Sài gòn ra dạy làm moniteur môn thể dục. Thầy đẹp trai, cường tráng. Cơ thể thầy rắn chắc, những bắp thịt nổi cuồn cuộn. Nước da đen bóng. Lúc đó, có quảng cáo kem đánh răng Hynos có hình một người da đen khoe hàm răng trắng. Học trò gán cho Thầy Liêm biệt danh là “Hynos, chachacha”. Chỉ là tinh nghịch của tuổi học trò chứ không phải là ác ý. 

Tôi nhắc lại những điểm đáng mến của các Thầy với lòng thương mến, quý trọng và biết ơn những vị Thầy đã tận tụy dạy chúng tôi dưới mái trường Quốc học năm ấy.

Câu chuyện tôi kể dưới đây nói về cái tài và cái tâm của Thầy giáo dạy môn Toán lớp tôi năm đó : Thầy Châu khắc Túy.

Thầy tốt nghiệp Thủ khoa môn Toán, trường Đại học Sư Phạm Huế. Thầy dạy môn toán rất hay và dễ hiểu. Giờ học của Thầy là giờ học thú vị có lẽ vì thầy tạo được hứng thú học tập nơi học sinh và biết rõ học trò tiếp thu bài vở đến đâu, dù dạy ban A là môn thứ yếu hệ số 2 ( trong khi đó môn Vạn vật và Lý hóa đều hệ số 3). Thầy cũng dạy rất tận tụy và đầy trách nhiệm theo đúng lương tâm chức nghiệp của một nhà giáo. 

Tôi là một trong năm học sinh giỏi môn Toán trong lớp 55 học sinh. Học kỳ 1, môn Toán tôi có điểm số khá cao. Thầy Túy phê vào học bạ là “khá, chăm”. Qua học kỳ 2, khi làm bài thi Lục cá nguyệt thứ nhì, tôi hấp tấp thấy bài thi dễ nên không cẩn thận tính toán sai con số từ đầu nên làm sai cà bài thi. Điểm thấp. Thầy phê “ kết quả không may”.  Tôi cám ơn Thầy vì lời phê “ có một không hai” này. Chỉ có ông Thầy biết rõ học trò và sâu sát với lớp mới viết ra mấy chữ đầy ân tình như thế.

Tôi rất thích lời phê này vì tôi biết hàm ý của Thầy là “ Trò là một học sinh khá, Thầy biết sức học của trò. Chẳng qua lần này vì lý do nào đó mà trò làm bài sai. Thầy cho là trò không gặp may mà thôi”. Cuối năm đó trong kỳ thi Tú tài Bán phần tôi làm bài cẩn thận hơn, dò đi dò lại nhiều lần. Kỳ thi đó tôi đậu bình thứ.

Tôi tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Huế năm 1970, đã dạy học sinh các trường Trung học Đệ nhị cấp Đại Lộc, Quãng Nam, đổi về dạy Trường Trung học Đệ nhị cấp Quốc học Huế năm 1974. Tôi đã dạy học sinh các trường Trung học Phổ thông Nguyễn Du, Gia hội ở Huế sau 1975.

Cứ đến mỗi kỳ tổng kết điểm kỳ 1, kỳ 2 và cuối năm, mỗi lần ngồi vào bàn phê vào học bạ của học sinh tôi lai nhớ Thầy Châu khắc Túy, nhớ câu phê của Thầy trong học bạ của tôi, nhớ cả hình ảnh Thầy đứng trên bục giảng bài, nhớ cả giọng nói và chữ viết với dấu sắc kẻ ngược từ dưới lên như tên bắn.

Tháng 12 năm 1998, trong một đám cưới của người em bạn dì của vợ tôi là Trần Nhơn với người con gái của Thầy Túy ( cô Châu khắc Diễm Phương) tôi nghe câu chuyện của Thầy.

Thầy bị đạn khi trên đường chạy loạn trong sự kiện Tết Mậu thân (1968). Sau 68, hầu như mọi người quen biết Thầy đều đinh ninh là Thầy bị bắn. Trong một buổi lễ kỷ niệm của trường Quốc học có mời bà Lê thị Cháu là hiền nội của Thầy Châu khắc Túy. Ông Ngô Yên Thi ( cựu học sinh trường Quốc học niên khóa 1961-1964) là bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thừa thiên nói rằng, Thầy Châu khắc Túy hoạt động cho cách mạng và qua đời khi đi công tác. Do ông Ngô Yên Thi nói công khai như thế, Bà đến văn phòng Tỉnh ủy xin xác nhận điều đó để con cái Thầy có thể vào học đại học. 

Bây giờ gia đình Thầy Túy có tấm giấy của Nhà nước CHXHCN Việt nam công nhận Thầy Châu khắc Túy là Liệt sĩ. ( viết theo lời kể của Bà Lê thi Cháu, hiền nội của Thầy)

Bây giờ nhớ Thầy, tôi giở những trang học bạ ra xem. Tôi ngậm ngùi nhìn lời phê và chữ ký của Thầy. Một người Thầy đáng yêu, đáng quý mà đoản mệnh. 

Chữ ký của Thầy có nét cắt của chữ Y kèm theo một dấu chấm.

 

Lê Duy Đoàn,
Sài gòn, ngày 16/11/2012

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►DIỄN BIẾN THẢM KỊCH ĐÁM PHẢN QUỐC SÁT HẠI TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ ÔNG CỐ VẤN NGÔ ĐÌNH NHU

Posted by hoangtran204 trên 03/11/2013

DIỄN BIẾN THẢM KỊCH ĐÁM PHẢN QUỐC SÁT HẠI TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ ÔNG CỐ VẤN NGÔ ĐÌNH NHU

Tác giả Liên Thành

nguồn anhhaisg.blogspot.fr

 

Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu.

 

Trong buổi họp báo của ông Conein, nhân viên CIA và là người đại diện cho ông Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân Đảo Chánh từ lúc cuộc đảo chánh khởi đầu cho đến lúc kết thúc, Conein nói với các ký giả và báo chí ngoại quốc rằng:

– Các tướng lãnh Việt Nam đã họp, và rồi biểu quyết xử sự với ông Diệm và Ông Nhu.

Và diễn tiến thảm kịch đã xảy ra như sau:

Đoàn xe do tướng Mai Hữu Xuân trong đó có một chi đội thiết vận xa đến Nhà Thờ Cha Tam. Đại Tá Dương Ngọc Lắm Tổng Giám Đốc Bảo An và Dân Vệ vào nhà thờ đón Tổng Thống và ông Cố Vấn. Hai ông được mời lên xe thiết vận xa, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu bất bình và hỏi:

– Cách thức các Tướng đi đón Tổng Thống là như thế nầy sao? Tổng Thống là Tổng Thống của nhân dân chứ đâu phải là tù binh. Tại sao các anh đưa xe bọc sắt đón Tổng Thống như thế nầy?

Tổng Thống nói với Đại Tá Dương Ngọc Lắm:

– Ông đưa tôi và Cố Vấn Nhu về dinh Gia Long rồi đến Tổng Tham Mưu.

Ông Lắm trình lại với tướng Mai Hữu Xuân, Tướng Xuân từ chối. Tướng Mai Hữu Xuân giục Tổng Thống và ông Cố Vấn lên xe, một lần nữa ông Cố Vấn Nhu lại nói:

– Thiếu Tướng nên biết cho đến giờ phút nầy Tổng Thống vẫn còn là Tổng Thống, không có lý do gì lại đi đón Tổng Thống bằng xe bọc sắt như thế nầy.

Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân quay đi không nói một lời, tức thì Đại Úy Nhung và Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa xông đến đẩy Tổng Thống lên xe M113. Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu trợn mắt cầm điếu thuốc đang hút dang dở ném vào mặt tên Nhung rồi la to:

– Không được vô lễ với Tổng Thống!

Tên Nhung rút súng chĩa vào ông Cố Vấn Nhu. Tổng Thống thấy thế liền mím môi quắt mắt. Thấy vậy Nhung cho súng vào bao và quay mặt tránh đi chỗ khác. Sau đó thì Dương Hiếu Nghĩa đẩy Tổng Thống lên xe, một lần nữa ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu la to:

– Không được vô lễ với Tổng Thống.

Tổng Thống Diệm nắm vai ông Cố Vấn:

– Thôi chú, mình đi.

Sau khi đẩy hai ông lên xe, tên Nhung bẻ quặt hai tay của Tổng Thống về phía sau lưng và trói lại, Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu cũng bị bẻ tay ra sau và trói như vậy.

Đoàn xe khởi hành về Bộ Tổng Tham Mưu gồm có: Dẫn đầu là xe Quân Cảnh, kế đến là xe của Đại Úy Phan Hòa Hiệp, đoàn xe tăng M113 trong đó có Tổng Thống và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, tên Nhung và Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa ngồi trên mui của chiếc xe nầy, kế đến là xe của Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, xe của Đại Tá Nguyễn Văn Quang và Đại Tá Dương Ngọc Lắm.

Khi đoàn xe đi ngang qua cổng xe lửa tại đường Hồng Thập Tự, chúng phải ngừng lại vì có xe lửa chạy qua. Đây là thời điểm mà bọn sát nhân ra tay. Tên Nhung và tên Dương Hiếu Nghĩa ngồi trên xe M113 nhìn về Tướng Mai Hữu Xuân thì thấy Mai Hữu Xuân đưa 2 ngón tay. Rồi thì Đại Úy Phan Hòa Hiệp nghe một tràn súng nổ, Đại Úy Hiệp biết ngay hai người ngồi trên xe M113 đã bắn Tổng Thống và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu rồi.

Đoàn xe đi đón Tổng Thống và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu đã về đến Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng Tổng Thống và Ông Cố Vấn đã chết, hai tay bị trói ra phía sau với nhiều vết đạn và vết dao đâm, còn tóc tai, mặt mũi, áo quần của hai vị thì đầy máu.

Tại Bộ Tổng Tham Mưu, tên Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa từ trên thiết vận xa M113 nhảy xuống tay cầm khẩu tiểu liên Thompson có buột băng vải trắng giơ cao lên trời. Còn Nhung thì tay cầm con dao găm hớn hở vung lên trời như khoe rằng vừa tạo được một chiến thắng lẫy lừng. Nhung bị giết để bịt đầu mối sau đó, còn Dương Hiếu Nghĩa không bị thanh trừng. Sau khi định cư tại Mỹ nhiều năm, y đã cạo đầu mặc áo cà sa với pháp danh là Không Như, ngụ tại một ngôi chùa thuộc thành phố Pomona, nam California.

Theo Tướng Trần Văn Đôn kể lại, khi Mai Hữu Xuân vừa mới đến và đứng trước cửa phòng của Tướng Dương Văn Minh, chưa vào hẳn trong phòng thì đã chào tay và nói với Tướng Dương Văn Minh với giọng đầy hãnh diện:

– Mission accomplished!

Nhưng chiến tích của Mai Hữu Xuân không được Dương Văn Minh chào đón như mong đợi, thay vào đó, Dương Văn Minh không nói một lời nào mà cứ liếc về một bên. Tướng Xuân đoán dường như có người nào đó trong phòng. Khi kịp thấy nhân vật thứ ba không ai khác chính là Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân xoay lưng bước ra ngoài.

Thời gian ngắn sau đó Tướng Khánh đảo chánh (chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau). Tướng Khánh ra lệnh bắt giữ tên “Thiếu Tá” Nhung. Nhung lúc này là Thiếu Tá, lên một lon nhờ vào việc giết được người quan trọng nhất của quốc gia, Tổng Thống Ngô Đình Diệm!

Ảnh thi thể của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị trói nằm bên trong sàn xe thiết vận xa M113

Lời khai của Nhung như sau: “Tôi được lệnh của Trung Tướng Dương Văn Minh đi theo đoàn thiết giáp đón hai ông Diệm Nhu, sau khi được tin hai ông gọi điện thoại xin đầu hàng và nói rõ họ đang ở tại Nhà Thờ Cha Tam trong Chợ Lớn. Chỉ huy vụ này là Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, với sự tham dự của nhiều sĩ quan khác như Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa, Đại Tá Lắm, Đại Tá Quang v.v… Chúng tôi đến Nhà Thờ Cha Tam thì hai ông Diệm Nhu ngoan ngoãn lên xe M113. Sau khi đóng cửa xe, tôi và Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa ngồi trên mui xe. Từ xa tôi thấy thủ lệnh của Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, ông ta đưa 2 ngón tay lên, tôi hiểu đó là lệnh thanh toán cả hai. Tôi rút súng Colt bắn ông Diệm 5 phát và ông Nhu 5 phát. Sau đó hăng máu tôi bắn thêm 3 phát nữa vào ngực ông Nhu. Tiếp đó Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa dùng súng tiểu liên Thompson bắn thêm một băng vào người ông Diệm và ông Nhu”.

Sau cuộc thẩm vấn đó thì tên Nhung đã “tự tử” chết bằng một sợi dây giày?! Chuyện hết sức phi lý sao lại có việc tự tử “đột xuất” của một “anh hùng”, một kẻ là “ân nhân” của các tướng lãnh phản loạn và nhóm tăng lữ Ấn Quang vì đã giết được “một tên độc tài gia đình trị đàn áp Phật Giáo” như thế? Nguyễn Văn Nhung, anh hùng của những kẻ phản loạn, phải được vinh danh và phải được trả công bội hậu “lên” như diều gặp gió mới phải chứ. Cớ sao tự nhiên phút chốc “anh hùng” lại ra người thiên cổ và bị lịch sử luận tội là tên phản loạn giết mướn?

Tại sao sau một “cuộc cách mạng hiển hách” như vậy mà cho đến nay vẫn không một ai dám nhận mình là kẻ đã có công với quốc gia dân tộc vì đã trừ khử “một tên độc tài đàn áp Phật Giáo” như thế? Từ Dương Văn Minh, đến Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính, đến toàn bộ nhóm tướng lãnh phản loạn, đến cả chính quyền Kennedy đều chối tội như thế? Câu trả lời đã quá rõ! Vì chúng sợ ô danh với lịch sử do đã nhúng tay vào máu của một con người hiền lành đức độ, yêu nước còn hơn chính bản thân mình!

Có một số dư luận nói rằng Tướng Khánh giết Nhung để trả thù cho Cụ Diệm. Thực ra, đây hoàn toàn là hành động giết người bịt miệng, một nguyên tắc kinh điển trong bất cứ một âm mưu giết người nào. Nếu thực sự có ý định trả thù cho Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thì Tướng Khánh phải bảo vệ mạng sống cho tên Nhung bằng mọi giá để tìm ra thủ phạm gốc. Thủ thuật của Tướng Khánh có lừa được công luận hay không? Tướng Khánh đã không thực thi công lý và công bằng cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ngay cả cho cả tên giết người Nguyễn Văn Nhung, vì y chỉ là kẻ thừa hành mệnh lệnh mà thôi. Tướng Khánh mặc dù không trực tiếp tham gia trong vụ giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng phải chăng ông đã theo chỉ thị của “ai đó”, bằng mọi giá phải đóng sổ vụ giết Tổng Thống bằng cách giết tên Nhung để bịt đầu mối. Không đòi công lý cho Tổng Thống, đã vậy sau đó, tướng Khánh còn về hùa với Thích Trí Quang xử tử người em út của Tổng Thống là ông Ngô Đình Cẩn! Đây là một vết tích ô nhục cho tất cả những ai đã nhúng tay vào máu của ông Ngô Đình Cẩn. Do đó, vai trò của Tướng Nguyễn Khánh cần được lịch sử đánh giá lại, phải chăng ông là một trái đệm để xóa tang chứng của một âm mưu giết sạch gia đình người lãnh đạo quốc gia VNCH?

Công lý nào mà “Hội đồng tướng lãnh” đã dành cho vị nguyên thủ quốc gia và gia đình của ông?

Ngoài ra còn có một tài liệu khác ghi nhận cuộc thảm sát Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm và Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu như sau:

Trong cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johnson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, Tổng Thống Johnson đã gọi các tướng miền Nam Việt Nam được Hoa Kỳ thuê làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” (a goddamn bunch of thugs). Họ là ai và đã làm gì mà bị Tổng Thống Johnson miệt thị như vậy.

NHẬN DIỆN BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ

Các sĩ quan sau đây đã nằm trong nhóm đứng ra tổ chức đảo chánh: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu, Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm, Đại Tá Đỗ Mậu, Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Tá Nguyễn Văn Quan, Đại Tá Nguyễn Hữu Có, Đại Tá Trần Ngọc Huyến, Đại Tá Nguyễn Khương, và Đại Tá Đỗ Cao Trí.

Trong một cuộc phỏng vấn, Tướng Khánh có nói rằng ông là người được CIA tiếp xúc trước tiên khi CIA muốn làm đảo chánh. Nhưng theo tài liệu, CIA đã cho hai điệp viên khác nhau đến gặp Tướng Khiêm và Tướng Khánh cùng một lúc. Điệp viên Lucien Emile Conein đến gặp Tướng Khiêm, vốn là một nhân viên CIA, lúc đó là Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và cho biết quyết định của Hoa Kỳ muốn lật đổ Tống Thống Ngô Đình Diệm. Tướng Khiêm đồng ý nhận thực hiện kế hoạch đó, nhưng gợi ý nên đi gặp Tướng Dương Văn Minh và Tướng Trần Văn Đôn. Trong khi đó, một điệp viên khác là Al Spera, cố vấn chính trị Bộ Tổng Tham Mưu, đi Pleiku gặp Tướng Nguyễn Khánh, vốn là một cộng tác viên của CIA, để thảo luận về việc này. Khi Al Spera hỏi Tướng Khánh về Tướng Khiêm, Tướng Khánh đã nắm chặt hai bàn tay của mình lại và nói: “Chúng tôi như thế này”.

Sau khi Tướng Khiêm và Lucien Conein phác họa xong kế hoạch hành động, ngày 2.10.1963 khi Tướng Đôn lên phi trường đi Nha Trang thì Lucien Conein đến gặp và hẹn sẽ nói chuyện với nhau ở Nha Trang. Tối hôm đó, tại Nha Trang, Lucien Conein thuyết phục Tướng Đôn làm đảo chánh và Tướng Đôn đã đồng ý. Ngày 5.10.1963, Lucien Conein lại đến bàn chuyện này với Tướng Dương Văn Minh. Tướng Minh cũng đồng ý. Tướng Đôn được giao cho phối trí lực lượng, còn Tướng Minh lãnh đạo Hội Đồng Cách Mạng. Tất cả nằm dưới sự chỉ đạo của Lucien Conein và Tướng Khiêm

Vai trò của Lucien Emile Conein

Chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào nói về điệp viên Al Spera, nhưng chúng tôi có khá nhiều tài liệu về điệp viên Lucien Emile Conein. Ông sinh năm 1919 tại Paris, mồ côi cha sớm, lúc mới 5 tuổi được mẹ gởi sang Hoa Kỳ sống với bà dì tại Kansas City thuộc tiểu bang Kansas, nhưng vẫn giữ quốc tịch Pháp. Ông đã từng làm điệp viên cho OSS (tiền thân của CIA) từ năm 1943 với cấp bậc Trung Úy, hoạt động chống Đức Quốc Xã trong Đệ Nhị Thế Chiến ở Âu Châu, rồi qua Bắc Việt khi chiến tranh chấm dứt. Từ 1954 đến 1956 ông đến Việt Nam hoạt động trong toán đặc nhiệm dưới quyền của Đại Tá Edward Lansdale, người đã giúp Tổng Thống Ngô Đình Diệm chống lại nhóm Bảy Viễn và Tướng Nguyễn Văn Hinh. Sau đó, ông trở về Mỹ và tham gia Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force), nhưng vẫn còn làm việc cho CIA.

Năm 1961 ông đã xin về hưu, nhưng năm 1962 ông được CIA gọi làm việc trở lại và phong cho chức Trung Tá với bí danh là Lulu hay Black Luigi, rồi gởi qua Sài Gòn làm cố vấn cho Bộ Nội Vụ. Nhưng trong thực tế, Lucien Conein có nhiệm vụ móc nối với các tướng Việt Nam mà ông đã có dịp quen biết khi phục vụ dưới quyền của Đại Tá Lansdale, để chuẩn bị tổ chức đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm.


Những khuôn mặt của một điệp viên CIA Hoa Kỳ, ông Lucien Emile Conein, được phái sang Việt Nam với âm mưu lật đổ Chính thể Đệ Nhất VNCH.

Đại Sứ Henry Cabot Lodge gọi Lucien Conein là “the indispensable man” (con người rất cần thiết). Còn trong cuốn “Vietnam: A History,” sử gia Stanley Karnow nói rằng Lucien Conein là “một người lập dị, một người náo nhiệt, một nhân viên tình báo rất nhạy cảm và hoàn toàn chuyên nghiệp, thường không thể kiểm soát được”. Sau này, Everette E. Howard Hunt cũng đã dự tính dùng Lucien Conein trong vụ Watergate.

Mỗi lần được phỏng vấn, Lucien Conein thường mở đầu câu chuyện bằng câu: “Bây giờ, đây là sự thật hai mặt, là thứ danh dự của hướng đạo sinh, là sự thật hai mặt” hay “Đừng tin bất cứ điều gì tôi nói; tôi là một tên nói dối chuyên nghiệp”.

Khi cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 xẩy ra, Lucien Conein đến Bộ Tổng Tham Mưu chỉ đạo trực tiếp. Ông ngồi trên ghế của Tướng Lê Văn Tỵ, đặt hai túi bạc dưới ghế, hai chân gác lên bàn, bên cạnh có khẩu 375 Magnum, chỉ huy các tướng Việt Nam thực hiện.

Trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng, Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin Tổng Thống và ông Cố Vấn đã ra khỏi Dinh Gia Long, Lucien Conein đã hỏi: “Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt lại cho kỳ được, vì rất quan trọng”. Lucien Conein đã nói với các loạn tướng đảo chánh bằng tiếng Pháp: “On ne fait pas d’omelette sans casser les oeufs.” (Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những cái trứng.) (trang 228)

Khi từ giã cõi đời ngày 3.6.1998 tại Virginia, Lucien Conei đã ôm theo khá nhiều bí mật của cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963.

LỆNH HÀNH QUYẾT

Từ trước đến nay, chúng ta thường tranh luận về ai đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nay cuốn băng của Tổng Thống Johnson đã chính thức xác nhận rằng chính quyền Kennedy (Kennedy Administration) đã ra lệnh giết, nên vấn đề này không cần phải tranh luận nữa.

Lệnh hành quyết do Washington truyền cho Đại Sứ Lodge ở Sài Gòn. Ông này truyền cho Trần Thiện Khiêm và Dương Văn Minh qua Lucien Conein. Tướng Minh giao cho cận vệ của mình là Đại Úy Nguyễn Văn Nhung thi hành dưới sự chỉ đạo của Tướng Mai Hữu Xuân. Các sĩ quan khác, kể cả Tướng Đôn, đều không biết gì hết.

Như đã nói ở trước, ngoài Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, Đại Sứ Henry Cabot Lodge đã quyết định giết thêm ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn và Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh cho Nguyễn Văn Nhung đưa Đại Tá Lê Quang Tung ra nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế phía sau Bộ Tổng Tham Mưu đâm chết và vùi thây ở đó. Muốn giết ông Ngô Đình Cẩn, CIA phải lừa ông vào Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế, nói rằng sẽ cho đi ngoại quốc, sau đó dùng công điện báo cáo láo về Washington nói rằng trong nhà ông Cẩn có hầm chôn người và súng, dân chúng đang biểu tình, rồi giao ông Ngô Đình Cẩn cho Tướng Khánh giết. Trong cuốn “Việt Nam Nhân Chứng”, Tướng Đôn xác nhận trong nhà ông Cẩn không hề có hầm chôn người hay súng.

Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng sở dĩ Tổng Thống Johnson đã gọi nhóm tướng lãnh được thuê làm đảo chánh là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” vì hai lý do: Lý do thứ nhất là cách thức giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Chưa một nhà lãnh đạo nào trên thế giới đã bị bọn tay chân bộ hạ thân tín, được hưởng nhiều ơn mưa móc, giết một cách thê thảm như thế trong một cuộc đảo chánh. Lý do thứ hai là sự tham nhũng và bất tài của nhóm này…

HÀNH ĐỘNG ÁC ÔN CÔN ĐỒ

Khoảng 10 giờ ngày 2.11.1963, khi chiếc M113 chở xác Tổng Thống và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu về đến Bộ Tổng Tham Mưu, đậu trên sân cỏ phía tay phải. Mở cửa xe phía sau ra, người ta thấy thi thể Tổng Thống trong bộ complet màu xám sậm và thi thể ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu trong bộ complet màu hơi nâu tím. Cả hai bị trói thúc ké tay sau lưng, nằm nghiêng trên sàn xe, máu me dầm dề. Một quân cảnh đứng gác tại đó cho biết, Tướng Dương Văn Minh đã xuống và tự tay vạch quần của Tổng Thống ra xem Tổng Thống có “bộ phận đó” không!

Với các dấu vết trên hai thi thể như vậy, nhiều người đã đặt câu hỏi: Hai ông đã bị giết như thế nào? Cách tường thuật của mỗi người mỗi khác.

Trong cuốn “Assassin in our Time” (Kẻ sát nhân trong thời đại chúng ta) xuất bản năm 1976, ở trang 142, Sandy Lesberg đã mô tả như sau: Ông Diệm và ông Nhu ngồi với hai tay trói sau lưng. Trong khi ông Diệm giữ im lặng, bất thình lình viên thiếu tá dùng dao găm (bayonet) đâm ông Nhu 15 hay 20 lần. Sau đó, hắn ta rút súng lục bắn vào sau đầu ông Diệm. Thấy ông Nhu còn quằn quại trên sàn, viên thiếu tá ban cho ông ta một cú ân huệ bằng cách cũng bắn vào đầu ông ta.

Sandy Lesberg không cho biết ký giả này đã lấy tin này từ ai. Thật ra, lúc đó Nguyễn Văn Nhung còn là Đại Úy, sau này mới được thăng Thiếu Tá.

Với cuốn “Les Guerres du Vietnam” (Chiến tranh Việt Nam) xuất bản năm 1985, Tướng Trần Văn Đôn không hề mô tả gì đến cách giết Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu, mà chỉ mô tả về sự tàn ác của sát thủ Nguyễn Văn Nhung mà thôi.

Bà Ellen J. Hammer, tác giả của cuốn “A Death in November” (Cái Chết vào Tháng Mười Một), nói rằng khi chiếc xe chở Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu dừng lại ở cổng xe lửa đường Hồng Thập Tự, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa từ trên miệng cửa xe lia một tràng tiểu liên vào hai ông Diệm và Nhu. Đại Úy Nhung rút súng Colt ra bồi thêm mấy phát vào đầu. Nhưng thấy chưa thỏa lòng, Nhung rút dao găm đâm tới tấp vào ngực hai anh em ông Tổng Thống.

Theo bà, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa phủ nhận lời tường thuật này. Ông nói rằng ông không ngồi trên xe chở Tổng Thống Diệm và ông Nhu lúc đó. Nếu chính ông đã giết Tổng Thống Diệm và ông Nhu, người ta cũng đã giết ông như giết Nguyễn Văn Nhung rồi.

Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa là một đảng viên đảng Đại Việt, thuộc vào loại căm thù nhà Ngô. Sau này y đã được Tướng Nguyễn Khánh cho ngồi ghế phụ thẩm quân nhân của Tòa Án Cách Mạng, xét xử và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn, theo lệnh của Henry Cabot Lodge. Do đó, nhiều người vẫn tin vào lời tường thuật của ký giả Sandy Lesberg.

Theo bà ký giả này, có lẽ Tướng Nguyễn Chánh Thi là người biết rõ Đại Úy Nguyễn Văn Nhung đã giết Tổng Thống Diệm và ông Nhu như thế nào, vì sau cuộc “chỉnh lý” ngày 30.1.1964, trước khi ra lệnh giết Đại Úy Nhung để phi tang một nhân chứng quan trọng (có khả năng theo lệnh của CIA), ông đã đích thân lấy lời khai của Nhung và còn bắt Nhung ngồi viết lời khai về vụ này. Ông có cho bà ký giả nhìn qua tờ khai này năm 1968 khi đang ở Washington D.C. Cũng theo bà thì rất tiếc khi xuất bản cuốn “Việt Nam: Một Trời Tâm Sự”, Tướng Nguyễn Chánh Thi đã không cho in nguyên văn tờ khai này, mà tự ý sửa đổi và cắt bớt đi. Trong cuốn sách này, Tướng Mai Hữu Xuân được đổi tên thành Tướng Thu, mặc dầu trong Quân Lực VNCH lúc đó không có tướng nào tên là Tướng Thu cả. Theo tờ khai mà Tướng Thi công bố trong cuốn sách nói trên, Đại Úy Nhung đã khai như sau:

Khi xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu chạy được chừng 500 thước, Thiếu Tướng Thu (tức Mai Hữu Xuân) chạy xe ngược chiều trở lại và đưa lên một ngón tay trỏ. Đang còn ú ớ chưa biết giết ai, ông Diệm hay ông Nhu, họ định chạy qua để hỏi lại cho rõ thì dân chúng ùa ra xem rất đông, không chạy qua được. Bỗng Thiếu Tướng Thu đưa hai ngón tay, họ hiểu rằng ông ra lệnh bắn cả hai người. Thiếu Tá Nhung liền rút súng Colt 12 bắn mỗi người 5 phát, và sau đó bắn ông Nhu thêm ba phát vào ngực nữa.

Tướng Lê Minh Đảo, lúc đó là Đại Úy tùy viên của Tướng Lê Văn Kim, đã cho biết như sau: Sau khi ông Diệm và ông Nhu bị hạ sát ít lâu, Nguyễn Văn Nhung có kể lại chuyện này cho ông nghe. Nhung nói rằng khi được lệnh giết cả hai ông, Nhung đã bắn ông Nhu trước. Ông Diệm thấy thế đã nhắm mắt lại. Nhung liền bắn ông Diệm 5 phát. Sau đó quay qua bắn ông Nhu thêm 3 phát nữa. Điều này phù hợp với lời khai mà Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công bố.

Tuy nhiên, sự thật không phải chỉ có thế. Thi thể Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu đã được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng Tham Mưu để khám nghiệm. Bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn (hiện nay ở New York), giám đốc bệnh xá này lúc đó, đã khám nghiệm và chứng nhận rằng cả Tổng Thống Diệm lẫn ông Nhu đã bị bắn từ sau ót ra trước. Thi thể Tổng Thống có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Thi thể ông Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu. Vậy Tổng Thống Diệm và ông Nhu đã bị trói, đánh đập, và đâm lúc nào?

Một nhân chứng rất quan trọng hiện đang ở Melbourne, Úc Châu, cho biết ông là người đi trên chiếc M113 chở ông Diệm và ông Nhu từ nhà thờ cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, nên đã chứng kiến những sự việc xẩy ra. Câu chuyện ông kể lại có vẻ hợp lý hơn cả.

Theo nhân chứng này, vào trưa 1.11.1963, chi đoàn thiết giáp của ông được lệnh vào Sài Gòn để tăng cường bảo vệ thủ đô. Khi đến Sài Gòn, chi đoàn này được chia làm hai toán, một toán hợp lực với quân bạn bao vây Dinh Gia Long và một toán làm vòng đai an ninh cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nhân chứng ở trong toán đóng tại Bộ Tổng Tham Mưu.

Sáng 2.11.1963, khoảng 6 giờ 15 phút, toán ông được lệnh di chuyển ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vừa ra khỏi cổng chính thì thấy có 3 chiếc xe Jeep đang chờ. Chiếc thứ nhất có Tướng Mai Hữu Xuân và 3 cận vệ. Chiếc thứ hai chở Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nguyễn Văn Nhung, và Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa. Chiếc thứ ba chở 4 người, trong đó có Đại Úy Phan Hòa Hiệp. Sau đó là hai chiếc M113. Nhân chứng ngồi ở chiếc thứ nhì. Cuối cùng là 2 chiếc GMC chở đầy lính có vũ trang đầy đủ…

Khi đến Chợ Lớn, gần một nhà thờ, xe chạy chậm lại, các binh sĩ trên hai chiếc GMC được lệnh nhảy xuống, một số bố trí xung quanh nhà thờ, số còn lại bố trí ở vòng ngoài. Xe Tướng Xuân chạy một vòng rồi đậu lại bên kia đường.

Sau cái phất tay của Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nhung, Thiếu Tá Nghĩa và Đại Úy Hiệp nhảy xuống xe. Đại Tá Lắm ngoắc chiếc M113 có nhân chứng ngồi trên đó đi theo. Nhân chứng cũng nhảy xuống xe. Khi cách Đại Tá Lắm khoảng 2 thước, nhân chứng thấy có 4 người từ trong nhà thờ đi ra. Người đi đầu là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người đi tiếp theo là ông Ngô Đình Nhu. Sau cùng là hai tùy viên (Đại Úy Đỗ Thọ và ông Nguyễn Đắc Khá). Đại Tá Lắm đến chào Tổng Thống Diệm:

– Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông Cố Vấn.

Ông Diệm:

– Ông Đôn và ông Minh đâu hè?

Đại Tá Lắm:

– Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.

– Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.

Đại Tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:

– Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.

Ông Nhu khẻ nhíu mày lên tiếng:

– Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem..

Đại Tá Lắm khẽ nhún vai:

– Tôi không biết. Đây là lệnh của Trung Tướng Chủ Tịch.

Đại Úy Nhung liền oang oang:

– Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.

Mặt ông Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:

– Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh, ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng được, nhưng còn Tổng Thống…

Đại Úy Nhung:

– Ở đây không còn Tổng Thống nào cả.

Ngay lập tức, Nhung bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và hạ cửa xe xuống…

Xe đi hết đường Nguyễn Trãi, vào đường Võ Tánh đến trước Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thì ngừng lại. Tổng Nha này đã bị chiếm từ ngày hôm trước nên không còn một cảnh sát nào lui tới. Chung quanh, các binh sĩ thuộc Sư Đoàn 5 của Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu canh gác rất cẩn mật.

Một Đại Tá từ trên xe Jeep nhảy xuống, bảo các binh sĩ trên xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu xuống xe hết. Bảy người trên xe nhảy xuống, nhưng tài xế và anh hạ sĩ xạ thủ được ra lệnh ở lại. Xe được lệnh đi vào Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia.

Khoảng 20 phút sau, chiếc M113 lại từ Tổng Nha Cảnh Sát chạy ra. Các binh sĩ lúc nảy được lệnh leo lên xe lại. Xe chạy ngược đường Võ Tánh trở lại đường Cộng Hòa. Nhân chứng hỏi hạ sĩ xạ thủ:

– Ông Diệm và ông Nhu đâu?

– Ở dưới.

– Sao rồi?

– Ông Nhu bị tra tấn khủng khiếp rồi bị xiết cổ chết bằng dây điện. Người ta hỏi ông ta nhiều lần: Vàng, bạc, tiền của cất đâu? Ai giữ? Cơ sở kinh tài gồm những cơ sở nào? Ông Nhu trả lời không biết.

– Còn ông Diệm?

– Ông Diệm bị đè cổ ra trói thúc ké rồi ném vào hầm xe.

– Chết hay sống?

– Không biết.

Xe qua khỏi trường Petrus Ký rồi quẹo phải vào đường Hồng Thập Tự thì gặp lại 2 xe Jeep và hai xe chở binh sĩ lúc xuất hành buổi sáng. Xe Đại Tá Dương Ngọc Lắm đi đầu, xe thứ hai có Đại Úy Nhung. Khi đến đường Cao Thắng, bên hông bệnh viện Từ Dũ, xe ngừng lại vì bên kia đang có xe của Tướng Xuân chạy ngược trở lại. Dân chúng ra xem rất đông. Tướng Xuân nhìn Đại Úy Nhung và đưa hai ngón tay trái lên hai lần. Sau đó, ông đưa ngón tay trỏ lên khỏi đầu và co vào duỗi ra đến 4 lần (giống như bóp cò). Đại Úy Nhung gật đầu rồi đưa tay lên chào.

Khi xe đến gần đường rầy xe lửa thì dừng lại trước cổng xe đã được đóng lại vì đang có đoàn xe lửa đi qua. Đại Úy Nhung từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiếc M113 có chở ông Diệm và ông Nhu và la lớn: “Xuống! Xuống!” Các binh sĩ trên xe M113 nhảy xuống hết. Nhân chứng vừa nhảy xuống đất thì nghe nhiều tiếng súng nổ… Những lời tiết lộ của nhân chứng này cho chúng ta thêm những yếu tố mới, nhất là đoạn hai ông bị đưa vào Tổng Nha Cảnh Sát để tra tấn và khảo của. Trò khảo của này là một “sở trường” của Tướng Mai Hữu Xuân. Sự tiết lộ này đã giúp giải thích tại sao hai ông bị trót tay ra phía sau lưng, trên mặt ông Diệm có nhiều vết bầm và trên người ông Nhu có nhiều lát dao đâm. Nguyễn Văn Nhung chỉ leo lên xe M113 trong một thời gian ngắn, không thể gây ra tất cả những thứ đó được.

Sau khi thi hành xong lệnh của chủ và lãnh tiền công, “bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” cấu xé nhau về chức quyền và tiền bạc, đưa tới mất chủ quyền quốc gia, rồi đến mất nước.

Orange County, ngày 2 tháng 11 năm 2013

Nhân Kỷ niệm 50 Năm Ngày Đại Lễ Giỗ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu cùng Quân Dân Cán Chánh Việt Nam Cộng Hòa tại Tượng Đài Việt Mỹ Westminster, California, USA.

Liên Thành (Trích trong cuốn: Thích Trí Quang, Thần Tượng hay Tội Đồ Dân Tộc, sắp phát hành

0——————————-

Tại sao tưởng niệm ông Ngô Đình Diệm?

Ngô Đình Diệm, accompanied by U.S. Secretary of State John Foster Dulles, arrives at Washington National Airport in 1957. Diệm is shown shaking hands with U.S. President Dwight D. Eisenhower.

TT Ngô Đình Diệm đến tại phi trường Washington năm 1957, đi theo ông có Ngoại Trưởng John Foster Dulles. Trong hình, TT Diệm đang bắt tay TT Dwight D. Eisenhower.

TT Ngô Đình Diệm viếng thăm nước Mỹ1957, được hàng ngàn người Mỹ ngưỡng mộ đón chào hai bên đường chờ xe ông chạy ngang qua. TT Diệm rất duyên dáng ngã mũ chào đáp lễ. Năm ấy, ông 56 tuổi. 

Tổng thống Ngô Đình Diệm được cho là người có quan điểm chống lại sự chỉ đạo của Hoa Kỳ

Tổng thống Ngô Đình Diệm được cho là người có quan điểm chống lại sự chỉ đạo của Hoa Kỳ. Ông Diệm viếng thăm Ngũ Giác Đài,  và đang chào cờ

Ngày 02/11/2013 là ngày tròn 50 năm ngày ông Ngô Đình Diệm, vị Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa, và bào đệ của ông là Cố vấn Ngô Đình Nhu, bị sát hại trong cuộc đảo chính năm 1963.

Và trong những ngày này tại Mỹ, Pháp và một số nước khác, cộng đồng người Việt Nam – trong đó có không ít người Công giáo – đã và sẽ tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện cho họ.

Riêng ở Việt Nam vào trưa ngày hôm nay (01/11), các Cha Dòng Cứu Thế cũng đã dâng lễ tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, ở Lái Thiêu, để cầu nguyện cho hai ông. Và có thể, trong các Thánh lễ ngày mai ở Việt Nam và như nhiều nơi khác, cũng có nhiều người nhắc tên và cầu nguyện cho họ.

Trong 50 năm qua đã có vô số tài liệu, bài viết bằng tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Pháp (của người Việt cũng như người nước ngoài, thuộc nhiều chính kiến khác nhau) về ông Ngô Đình Diệm, về cuộc đời, sự nghiệp hay về gia đình của ông. Trong số đó, có không ít ý kiến cho rằng ông là một vị tổng thống độc tài, bất lực và chế độ tổng thống của ông là chế độ gia đình trị.

Dư luận chung cũng không có ấn tượng tốt về ông, sự nghiệp của ông và gia đình ông, đặc biệt kể từ khi hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu giữa thành phố Sài gòn vào tháng 6 năm 1963. Biến cố ấy làm cho dư luận thế giới và người Miền Nam lúc ấy nói riêng có thêm ác cảm với ông và nó cũng là một lý do quan trọng dẫn đến sự thất bại của Đệ nhất Cộng hòa do ông thiết lập.

Việc ông bị ám sát hụt hai lần trước đó và bị đảo chính rồi bị ám sát năm tháng sau vụ tự thiêu ấy cũng chứng tỏ rằng ông có không ít kẻ thù, trong đó có những người từng là thuộc hạ, gần gũi với ông.

Hơn nữa, ông và gia đình ông bị nhiều người – trong đó có những ‘người thắng cuộc’, những người không cùng chung chuyến tiến với ông – ghét và bôi nhọ một phần vì ông và gia đình là những người chống Cộng, là những người ‘bại trận’.

Nhưng điều đó không có nghĩa là ông bị tất cả mọi người ghét bỏ hay không ai nhìn nhận, tôn trọng ông và những đóng góp của ông. Việc hàng năm và đặc biệt năm nay có nhiều người, nhiều nơi tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện cho ông chứng minh điều đó.

Câu hỏi đặt ra là tại sao vẫn có người yêu mến và tôn trọng ông?

Một người liêm khiết

Dù có thể có nhiều học giả, các nhà nghiên cứu không đánh giá cao về ông, nhưng đa số đều nhận định rằng ông là một người trung thực, đạo đức, liêm khiết.

Trong cuốn ‘Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America’s War in Vietnam: 1950-1963’, xuất bản năm 2006, Seth Jacobs – một trong những học giả nước ngoài viết khá nhiều về ông Ngô Đình Diệm và cũng có cái nhìn không mấy thiện cảm về ông – vẫn thừa nhận rằng ông là một người trong sạch, vô vị lợi. Vì theo tác giả này, thậm chí sau khi trở thành tổng thống, ông vẫn sống một cuộc sống khổ hạnh.

Một bài viết của James MCAllister và Ian Schulte có tựa đề ‘The Limits of Influence in Vietnam: Britain, the United States and the Diem Regime, 1959–63’, được đăng trong tạp chí Small Wars and Insurgencies, năm 2006, cũng cho rằng ông Diệm là một người liêm khiết, đức hạnh.

Theo cựu Ðại tá Lý Trọng Song – nay là Phó tế vĩnh viễn (thường được gọi là Thấy Sáu Song), hiện đang giúp tại Cộng đoàn Công giáo London và người đã từng làm cận vệ cho ông Ngô Đình Diệm trong Phủ Thủ tướng và Phủ Tổng thống từ năm 1954 đến 1956 – ông là một người có lối sống rất đơn sơ, nghèo khó. Chẳng hạn, giường ngủ của ông chỉ là một cái divan (một tấm ván) trải bằng chiếu, không có nệm.

Có thể ngày hôm nay có không ít người cảm phục ông Diệm vì họ tìm ở nơi ông những đức tính đó – đặc biệt khi họ đọc và biết được tham nhũng đang trở thành quốc nạn tại Việt Nam.
Cũng theo cựu Đại tá Song, ông Diệm là một người có đầy đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín vì ông xuất thân từ một gia đình hiếu học, làm quan và chịu nhiều ảnh hưởng của cả Công giáo và Nho giáo.

Ông có đời sống khổ hạnh một phần cũng vì trong những năm 1940 và 1950, ông đã từng sống trong các đan viện tại Bỉ và Pháp. Một chi tiết được Thầy Sáu Song nêu ra để giải thích tại sao ông Diệm không lập gia đình – một điều nhiều người đặt câu hỏi về ông – là vì ông Diệm đã đi tu trong dòng Ba của dòng Benedicto, một dòng khổ tu ở Bỉ. Và vì đã khấn trong dòng này, ông không nghĩ tới chuyện lập gia đình và chỉ biết ‘thờ phượng, kính mến Thiên Chúa và lo cho quốc gia, dân tộc’.

Các tài liệu viết về ông, đặc biệt sách vở, báo chí nước ngoài, đều nhấn mạnh rằng ông là một người Công giáo đạo hạnh, thánh thiện. Đây cũng là một lý do tại sao trong những ngày này người Công giáo tưởng nhớ và cầu nguyện cho linh hồn ông – người có Tên Thánh là Gioan Baotixita (hay John Baptist theo tiếng Anh).

Hơn nữa, ông và ông Nhu bị ám sát vào ngày 02/11 – đúng ngày Giáo hội Công giáo tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người đã qua đời. Vì vậy, đâu đó có những Thánh lễ cho ông cũng là chuyện bình thường và là việc nên làm.

Một người yêu nước

Một điểm khác về ông đều được nhiều người công nhận đó là ông là một người yêu nước, yêu dân tộc. Chẳng hạn, trong cuốn ‘Patriots and Tyrants: Ten Asian Leaders’ xuất bản năm 1999, Ross Marlay và Clark Neher, nhận định rằng cả ông và Hồ Chí Minh đều là những người yêu nước nồng nàn. Có điều định mệnh, thời cuộc và chính kiến đã biến họ thành kẻ thù của nhau.
Một chi tiết được các tài liệu đề cập đến khi viết về ông đó là việc ông từ chức Thượng thư Bộ lại (gần tương đương với chức Thủ tướng) trong chính phủ Bảo Đại năm 1933 để phản đối việc Pháp không tiến hành những cải cách cần thiết để trao thêm quyền tự trị cho Việt Nam.

Trong bài ‘Vision, Power and Agency: The Ascent of Ngô Ðình Diệm, 1945-54’ – được coi là một trong những nghiên cứu quan trọng, trung thực về ông Ngô Đình Diệm – được đăng trên Journal of Southeast Asian Studies, Edward Miller nêu rằng trong thời gian ông Diệm nắm quyền (1954-63), có nhiều người ở Việt Nam và những nơi khác mô tả ông như là một con rối của Mỹ được Washington đưa lên nắm quyền và giúp đỡ nhằm thực hiện những mục đích của Mỹ trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh.

Nhưng theo tác giả này, các tài liệu được viết từ những năm 1960 trở về sau đều nhấn mạnh việc ông nhất quyết từ chối những lời khuyên của Mỹ và không muốn chịu sự chỉ đạo của Mỹ. Việc ông và chính quyền Mỹ cuối cùng chia tay nhau là một ví dụ.

Cựu Đại tá Lý Trọng Song cũng nhấn mạnh rằng Tổng thống Diệm chỉ muốn nhận viện trợ của Mỹ chứ không chịu sự áp đặt, can thiệp của Mỹ và nhất quyết từ chối cho lính Mỹ vào Miền Nam Việt Nam vì ông cho rằng cho quân đội nước ngoài chiếm đóng trên lãnh thổ Việt Nam làm cho chính phủ của ông mất chính nghĩa.

Cũng theo người cựu cận vệ này, ông Diệm là một người yêu dân, yêu nước, yêu dân tộc vì nếu không ông có thể chọn ra nước ngoài và tránh bị ám sát. Ông nhắc lại rằng trước những ngày diễn ra cuộc đảo chính, Đại sứ Mỹ ở Sài gòn lúc đó là Henry Cabot Lodge gọi điện thoại cho ông Diệm và ‘nói rằng nếu ngài muốn an toàn thì tới Tòa đại sứ’ và ông Diệm đã trả lời ‘đây là đất nước của tôi, tôi không đi đâu hết’.

Hơn nữa, cũng như Edward Miller nêu lên trong bài báo của mình, trong những giai đoạn 1945-54 ông bôn ba ở ngoại cũng chỉ vì muốn tìm con đường giúp đất nước thoát khỏi ách đô hộ của Pháp và giành tự do, độc lập. Trong cuốn sách của mình, Seth Jacobs cũng nêu lên rằng có thể người dân Miền Nam không thích ông như họ tôn trọng ông và khâm phục tinh thần dân tộc mạnh mẽ nơi ông.

Giai đoạn khó khăn

Ngoài ra, dù muốn hay không cũng phải thừa nhận rằng ông là một người có tầm nhìn, có tài. Nếu không ông chẳng bao giờ có thể trở thành Thủ tướng, Tổng thống và lập nên nền Đệ nhất Cộng hòa.

Nhưng trong thời năm nắm quyền của ông, miền Nam Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung, cũng như bất cứ quốc gia nào trong thời đầu hậu thuộc địa, phải đối diện nhiều khó khăn.

Những khó khăn đó một phần do tích cách, quan điểm hay chính con người ông tạo nên. Chẳng hạn Ross Marlay và Clark Neher nêu rằng ông ‘là người không thực cho một hoàn cảnh không thể’. Theo hai tác giả này là một người Công giáo nhiệt thành ông lại lãnh đạo một đất nước đa phần Phật giáo và những đức tính của ông lại trở thành những nhược điểm hủy hoại ông.
Cựu Đại tá Lý Trọng Song cũng cho rằng vì ông quá thánh thiện, nhân từ ông bị nhiều người khác lợi dụng, ám hại.

Rồi bối cảnh miền Nam Việt Nam, Việt Nam và thế giới nói chung lúc ấy cũng không dễ dàng gì để có thể xây dựng một thể chế vững mạnh, hiệu quả, một xã hội dân chủ, tự do và một đất nước hòa bình, phát triển trong một thời gian ngắn.

Nhưng chỉ trong một thời ngắn ít hay nhiều ông đã làm được một số việc quan trọng. Chẳng hạn, như Đại tá Lý Trọng Song nêu lên, ông đã giúp dẹp được các phe nhóm, đảng phái gây bất ổn cho Miền Nam lúc đó. Theo Seth Jacobs đây cũng là một thành công của ông được người Miền Nam ghi nhận.

Và trên hết, như Edward Miller nhận định, việc anh em ông bị lật đổ không thể chứng minh được rằng những ý tưởng, dự định của họ là luôn xấu, vô hiệu. Sau biến cố 1963, Miền Nam Việt Nam thay đổi tổng thống và chính phủ liên miên và mọi chuyện càng tệ hơn.

Đâu đó có nhiều ý kiến cho rằng ông là một người độc tài. Nhưng nếu so sánh ông, chính phủ ông với những chế độ cầm quyền ở Đông Á, Đông Nam Á hay ở Miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn ấy, chưa chắc ông đã độc tài hơn những chế độ đó.

Đặt ông trong bối cảnh như vậy, ít hay nhiều để thấy rằng cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm và Đệ nhất Cộng hòa ông thiết lập không tệ như mọi người nhận định, mô tả hay được nghe.

Đó cũng là một lý do đâu đó có nhiều người Việt hải ngoại tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện và công nhận đóng góp của ông trong những ngày này.

Đoàn Xuân Lộc (BBC)

———–

*http://en.wikipedia.org/wiki/Park_Chung-hee

* Pak Chung Hee: When he came to power in 1961, South Korea’s per capita income was only US$ 72.00.

*Khi TT Phác Chánh Hy lên nắm quyền 1961, lợi tức mỗi đầu người là 72 đô la Mỹ/ 1 năm.

*Người Miền Nam VN vào lúc 1961 đã có lợi tức US$ 171.00 

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »