Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười 22nd, 2013

►Thành lập Viện Khổng Tử tại VN-đôi điều suy nghĩ

Posted by hoangtran204 trên 22/10/2013

Viện Khổng Tử sẽ là một ổ gián điệp Trung Quốc, và cũng là nơi tuyển mộ người VN làm gián điệp cho Trung Cộng. Và sẽ là trạm giao liên, nơi cán bộ đảng CSVN đến báo cáo tin tức cho chủ của họ. 

Thành lập Viện Khổng Tử tại VN-đôi điều suy nghĩ

October 21, 2013 at 3:14pm

Song Chi.

Báo chí VN đưa tin, trong số các cam kết, thỏa thuận giữa hai nước Việt-Trung qua chuyến viếng thăm chính thức VN của Thủ tướng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Lý Khắc Cường từ ngày 13-15.10 mới đây, có việc thỏa thuận thành lập Viện Khổng Tử tại Hà Nội.

Thật ra, việc thành lập Viện Khổng Tử ở VN đã được bàn đến từ lâu, nhưng không hiểu vì lý do gì chưa triển khai. Bây giờ thì sự việc đã được chính thức thông báo.

Về phía TQ, quốc gia này không hề dấu giếm ý định thành lập các Viện Khổng Tử trên thế giới nhằm tuyên truyền, quảng bá cho văn hóa TQ, hay nói cách khác, khuếch trương “sức mạnh mềm” của TQ ra nước ngoài.

Cho đến nay, đã có hơn 100 Viện Khổng Tử được thành lập tại các nước.

Những năm gần đây, khi TQ đã trở nên giàu mạnh hơn rất nhiều, những người lãnh đạo quốc gia này có lẽ đã nhận ra rằng nếu chỉ có sức mạnh về kinh tế, quân sự thì chưa đủ để chinh phục thế giới, chưa đủ để được công nhận là một cường quốc thật sự. Họ càng thấm thía điều này khi nhìn vào “quyền lực mềm”, “sức mạnh mềm” của các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ.

Bên cạnh đó, sự nghi ngại, tâm lý phòng thủ của nhiều nước đối với TQ, khiến Bắc Kinh càng mong muốn thông qua văn hóa để thay đổi, cải thiện cái nhìn đó.

Còn VN? Trong khi có khá nhiều tổ chức văn hóa của các nước xuất hiện tại VN lâu nay như Hội đồng Anh (British Council), Viện trao đổi văn hóa với Pháp (viết tắt IDECAF), Viện Goethe (Goethe Institut) của Đức, Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản (Japan Foundation)…nhưng tại sao nhiều người VN lại tỏ ra băn khoăn lo ngại trước việc thành lập Viện Khổng Tử của TQ?

Trước hết, có lẽ vì đó là những tổ chức độc lập, còn Viện Khổng Tử là của nhà nước TQ, hoạt động của Viện chắc chắn sẽ phải chịu sự kiểm soát, định hướng, chi phối bởi những mục tiêu chính trị của nhà nước TQ, chứ không đơn thuần chỉ là dạy ngôn ngữ, trao đổi văn hóa…

Do những lý do về địa-chính trị, lịch sử…, hai quốc gia VN-TQ từ xưa đến nay vốn dĩ đã có nhiều điểm tương đồng về văn hóa xã hội. Kể từ khi hai đảng cộng sản ra đời, sự tương đồng ấy càng lớn hơn do mô hình thể chế chính trị giống nhau, cộng với việc nhà nước cộng sản VN nhất nhất học theo từng đường đi nước bước của nước láng giềng.

Chưa cần đến Viện Khổng Tử thì VN đã chịu ảnh hưởng nặng nề của TQ từ kinh tế, chính trị cho đến văn hóa.

Thêm một nguyên nhân nữa khiến người Việt băn khoăn khi nhìn lại kinh nghiệm trong quá khứ, nếu như người Pháp người Mỹ đến đất nước VN ít nhiều cũng đem lại những tiến bộ, văn minh, khai hóa thì chính sách văn hóa của TQ trước sau như một, chỉ muốn lấy đi mà không cho lại, chỉ đồng hóa mà không khai hóa, cũng không chấp nhận sự khác biệt văn hóa của nước khác.

Văn hóa Trung Quốc ở một khía cạnh nào đó, là một nền văn hóa có tính chất tận diệt, hủy diệt đối với một nền văn hóa khác, chứ không cùng tồn tại, phát triển và học hỏi lẫn nhau. Điều này đã được chứng minh qua lịch sử của các quốc gia bị Trung Quốc thôn tính, trong đó có cả một ngàn năm Bắc thuộc của Việt Nam và tình trạng đau thương của Tây Tạng bây giờ.

Trên thế giới không phải chỉ riêng VN rơi vào cảnh nước nhỏ sống bên cạnh nước lớn, mạnh hơn gấp nhiều lần. Nhưng với một quốc gia có một chính sách độc lập tự chủ, biết phòng ngừa sự xâm lăng về văn hóa của nước khác bằng những chiến lược bảo hộ văn hóa rõ ràng, bằng việc xây dựng và bảo vệ mạnh mẽ bản sắc văn hóa của nước mình, thì khác.

Còn VN, với sự quản lý kém cỏi, gần như thả nổi trong nhiều lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, khiến cho văn hóa Việt vốn “mỏng” hơn, “nhỏ bé” hơn càng phải chống chọi vất vả với sự xâm nhập từ nước láng giềng phương Bắc.

Chỉ đơn cử một ví dụ trong lĩnh vực phim ảnh, truyền hình chẳng hạn, không có quốc gia nào lại để một tình trạng như VN, phim TQ chiếu tràn ngập hàng ngày, trên các màn hình từ trung ương đến địa phương. Phim chiếu rạp hay băng đĩa lậu bán ngoài thị trường cũng chỉ thấy phim Mỹ, phim Tàu, phim Hàn là nhiều, rất hiếm phim của  các nền điện ảnh khác.

Lẽ ra bên cạnh việc phải nâng cao số lượng lẫn chất lượng phim Việt là điều mà chúng ta vẫn đang cố gắng làm, thì các cơ quan chịu trách nhiệm phải chú ý tìm kiếm, giới thiệu những nguồn phim khác, kể cả của những nền điện ảnh còn xa lạ với VN, từ Đông Âu đến Bắc Âu, khu vực Trung Đông của châu Á, châu Phi…để tập cho người Việt thói quen chọn lựa và thưởng thức nhiều dòng phim thuộc những nền văn hóa khác nhau. Trong lĩnh vực văn học tuy có đa dạng hơn nhưng nguồn sách dịch từ TQ vẫn chiếm đa số.

Đối với nhiều người VN, ngay cả trong giới trí thức, dường như vẫn có tâm lý ngưỡng mộ văn hóa TQ, một nền văn hóa đồ sộ, lâu đời. Không ai phủ nhận điều này. Nhưng trên thế giới còn có biết bao nền văn hóa, văn minh đáng phải học hỏi khác. Và trong cái nhìn chủ quan của người viết, thì dường như những gì rực rỡ nhất, quyến rũ nhất, lấp lánh nhất của văn hóa TQ vẫn thuộc về ngày hôm qua, trước khi đảng cộng sản TQ nắm quyền lãnh đạo đất nước này.

Nghĩa là từ thời phong kiến xa xưa, với Nho giáo, Khổng giáo, Đạo giáo…về phương diện triết học, với Kinh Dịch, thư pháp, hội họa thủy mặc, Kinh Thi, thơ Đường, những tác phẩm văn học như Tam Quốc Chí diễn nghĩa, Thủy Hử, Tây Du Ký, Hồng Lâu Mộng…, với nghệ thuật điêu khắc Ngọc điêu, Thạch điêu, Mộc điêu, các công trình kiến trúc như đình chùa, Vạn Lý Trường Thành, Thành Tràng An, Cố cung, Tử cấm thành ở Bắc Kinh…

Văn học nghệ thuật hiện đại của TQ có lẽ cần phải có thêm một thời gian nữa, để có thể tự do hơn, bay bổng sáng tạo hơn và do đó, lại có được sức hấp dẫn, lan tỏa rộng như xưa.

Phải chăng vì vậy mà trong việc truyền bá văn hóa ra nước ngoài, TQ đã chọn nhân vật Khổng Tử và việc thành lập các Viện Khổng Tử, bởi trong thời điểm hiện đại, TQ có gì để quảng bá về mặt tư tưởng, triết học? TQ có gì để chứng minh với các nước “sức mạnh mềm” của mình?

Là nước lớn, và nếu muốn các nước nhỏ yếu hơn phải “tâm phục khẩu phục”, chấp nhận vị trí siêu cường của mình, TQ còn phải chứng minh nhiều giá trị khác.

Trung Quốc sẽ đưa ra những giá trị gì, từ mô hình thể chế chính trị, các giá trị căn bản của xã hội như tự do, dân chủ, công bằng, tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng con người, nếp sống văn minh, giàu lòng nhân bản của người dân?

Trung Quốc sẽ đưa ra những giá trị gì, trong đường lối chính sách ngoại giao lẽ ra phải thân thiện, cùng chung sống hòa bình, không xâm phạm đến chủ quyền, lãnh thổ lãnh hải nước khác và trong tư cách một nước lớn càng phải hành xử cho ra nước lớn, có trách nhiệm hơn với những vấn đề chung của thế giới?

Trung Quốc sẽ đưa ra những giá trị gì, trong lĩnh vực kinh tế, khi đó là giá trị của chữ Tín trong quan hệ làm ăn thương mại với các nước khác, giá trị của những thương hiệu hàng hóa, chất lượng sản phẩm, tên tuổi và sức mạnh tầm cỡ quốc tế của các tập đoàn kinh doanh lớn…? Điều mà những nền kinh tế lớn khác như Mỹ, Anh, Nhật, Ðức…, kể cả Hàn Quốc, đã xây dựng được.

TQ sẽ thuyết phục được các nước khác như thế nào khi hệ thống mô hình chính trị xã hội của TQ còn chưa chinh phục được chính người Hongkong, người Đài Loan cùng một dòng máu với người Trung Hoa đại lục? Hay người dân Tây Tạng, Tân Cương mà quốc gia của họ đã thuộc về TQ, “là một phần của TQ” theo quan điểm của nhà cầm quyền TQ từ bao nhiêu năm nay?

Trong lĩnh vực văn hóa, TQ có thể quyến rũ các nước bằng chiều rộng và chiều sâu của một nền văn hóa khổng lổ thuộc vào loại lâu đời nhất trên thế giới, nhưng như đã nói, những thành tựu lớn nhất vẫn là thuộc về quá khứ. Trong thời đại ngày nay, việc hâm nóng lại những tư tưởng của Khổng giáo, Nho giáo có lẽ chẳng còn nhiều hiệu lực như thời phong kiến, bất kể là xã hội TQ, VN hay nước nào khác.

Chính vì thế, việc có mặt của Viện Khổng Tử hay ý định khuếch trương văn hóa của TQ sẽ không có gì đáng lo ngại đối với nhiều quốc gia, nhưng với VN, lại đáng băn khoăn. Không phải vì sức mạnh của chính cái nền văn hóa ấy mà do chính chúng ta, nếu “cửa ngõ gài then không chặt”, nếu không có một nội lực đủ mạnh và nếu không tự hù dọa mình.   

Tiếc rằng, với một cơ chế chính trị như “hai anh em song sinh” và với những người lãnh đạo đất nước vừa thiếu bản lĩnh, thiếu tầm lại mang cái tâm lý nô lệ Tàu nặng nề như hiện tại, thì nguy cơ càng lệ thuộc nặng nề hơn về văn hóa lại là điều dễ thấy trước. 

Posted in Văn Hóa XHCN | Leave a Comment »

►Quốc hội cuối 2013: “Sở hữu đất đai” có mảy may tiến hóa?

Posted by hoangtran204 trên 22/10/2013

Sẽ không bao giờ có chuyện đảng và nhà nước từ bỏ quyền sở hữu toàn dân trong vấn đề đất đai, ruộng đất, tức là nhà nước vẫn tiếp tục nắm giữ quyền làm chủ đất đai của cả nước. Có nghĩa rằng nhà nước muốn lấy của ai thì lấy, và đền bù đất đai theo giá quy định của nhà nước, chứ không theo giá thị trường. “Các nhóm lợi ích vẫn ung dung với sự “bảo kê” mới từ bản tân Hiến pháp về cơ chế thu hồi đất.”

Quốc hội cuối 2013: “Sở hữu đất đai” có mảy may tiến hóa?

 

Phạm Chí Dũng

Đài Á Châu Tự Do   rfa.org.vietnamese

 21-10-2013

Nếu “sở hữu đất đai toàn dân” vẫn chưa có gì tiến hóa trong kỳ họp quốc hội cuối năm 2013, các nhóm lợi ích vẫn ung dung trục lợi với sự “bảo kê” mới từ bản tân Hiến pháp về cơ chế thu hồi đất.

Viên mãn

Sau khi hội nghị trung ương 8 vào tháng 10/2013 của Đảng cầm quyền viên mãn, hầu như không có hy vọng nào cho một tư duy tiến hóa hơn về quyền sở hữu đất đai của người dân.

Giờ đây và là lần thứ hai trong năm 2013, các đại biểu quốc hội lại có cơ hội “sôi nổi góp ý” về bản hiến pháp đã được tu chỉnh không ít lần về một chủ đề hầu như đã được mặc định trong những chính kiến được bắt vít với điều 4 hiến pháp.

Nhưng khác hẳn với kỳ họp quốc hội vào giữa năm 2013, vào lần này người vừa đưa ra tuyên bố “Cương lĩnh đảng quan trọng hơn hiến pháp” dường như tỏ ra quyết tâm hơn nhiều đối với việc Hiến pháp phải được chính thức thông qua vào cuối năm nay.

Và có lẽ quyết tâm tân trang hiến pháp của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng liên quan phần nào đến hiện tượng vắng bóng cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm trong đảng tại hội nghị trung ương 8, cho dù từ quý đầu năm nay ông Trọng đã tỏ ra bức xúc về vấn đề này như một nhiệm vụ then chốt của các “đày tớ”.

Nếu Hiến pháp mới vẫn được sao y trọn vẹn tinh thần của “bản gốc” năm 1992, tất nhiên sẽ chẳng có một cuộc đổi thay tinh thần nào cho người dân, cho dù từ đầu năm 2013 đến nay đã có quá nhiều và quá đủ ý kiến từ dân chúng cho rằng nhân dân phải có quyền định đoạt – sở hữu về mảnh đất của chính mình, chứ không thể mãi mãi chỉ vay mượn khái niệm “quyền sử dụng” – một cái cớ để bất cứ một nhóm lợi ích nào cũng có thể lợi dụng nhằm đẩy đuổi dân ra khỏi nơi chôn rau cắt rốn.

Thụt lùi

Cần nhắc lại, ngay trước kỳ họp quốc hội giữa năm 2013, Chính phủ đã gửi đến Ủy ban thường vụ quốc hội một đề xuất rất đáng quan tâm: “Việc thu hồi đất chỉ được thực hiện trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng mà không quy định trường hợp Nhà nước thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân vì lý do “các dự án phát triển kinh tế xã hội”.

Cho tới thời điểm trên, việc giải quyết khiếu tố đất đai vẫn hết sức nóng bỏng ở Việt Nam, với khoảng 80% đơn thư khiếu tố thuộc về lĩnh vực đất đai và hơn 70% trong số đơn thư đó nhằm tố cáo rất nhiều sai phạm của các chính quyền địa phương về công tác bồi thường, cưỡng chế giải tỏa, tái định cư…

Ngược chiều với tuyên ngôn “công an và thanh tra là bạn của dân”, nhiều vụ khiếu kiện đất đai đã bị quy chụp cho cái mũ “tụ tập mang màu sắc chính trị” và đã bị đàn áp nặng nề.

Thế nhưng trong một kỳ họp mà giới quan sát mô tả là có đến hàng trăm nghị sĩ bị “thoái khẩu”, vẫn không có một cải cách xứng đáng nào được đưa ra liên quan đến Luật đất đai. Trái ngược với mong mỏi của người dân về quyền sở hữu đất cần được quy định trong luật, dự thảo hiến pháp vẫn cho rằng: vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên không đặt vấn đề trưng mua vì tổ chức, cá nhân chỉ có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu; đặc biệt là vẫn thu hồi đất đối với các dự án kinh tế xã hội.

Song tiếng nói người dân ngoài nghị trường lại vang dội: nếu không đưa đất đai về đúng bản chất thật của nó là quyền sở hữu của nhân dân và pháp luật vẫn tạo điều kiện cho những chủ đầu tư phát huy một cách quyết liệt lòng tham của họ, rất nhiều bất công vô lối vẫn sẽ xảy ra với người dân bị thu hồi đất, sẽ còn nhiều cuộc khiếu tố đông người và biểu tình bùng nổ ở nhiều địa phương trong cả nước.

Trong tận cùng tâm não của mình, dường như Đảng và Quốc hội vẫn chưa nhận ra những sự kiện Ô Khảm ở Trung Quốc vào cuối năm 2011 và Tiên Lãng ở Việt Nam vào đầu năm 2012 đã có thể quá đủ để cấu thành một bài học nhãn tiền cho những gì có tính quả báo thời nay.

Thậm chí vào trung tuần tháng 3/2013, trong một tư duy không thể hoang tưởng hơn, phó chủ nhiệm Ủy ban khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội là ông Phan Xuân Dũng đã đề một “phát kiến”: “Cần có quy định bắt buộc người khiếu nại tố cáo ứng ra một khoản tiền đặt cọc. Thua thì coi như mất tiền đặt cọc, còn kiện đúng thì tiền cọc mới được nhà nước hoàn trả”.

Chưa bao giờ từ năm 1990 đến nay, Quốc hội lại mang dấu ấn thụt lùi đến mức như thế khi đối diện với dân sinh, dân oan và với chính mình.

Tự xử

Ngoài những nội dung khá mờ nhạt trong thông báo kết luận sau hội nghị trung ương 8 vào tháng 10/2013, có lẽ dấu ấn duy nhất lại thuộc về một sự “hiệp thông” nào đó giữa nhóm “cương lĩnh đảng cao hơn hiến pháp” với những người điều hành bánh xe của hiến pháp. Trong không khí đồng thuận đáng ngạc nhiên về đánh giá “nền kinh tế vẫn tiếp tục ổn định và phát triển”, không có bất kỳ nội dung nào được nhấn mạnh về thảm cảnh lợi dụng thu hồi đất để trục lợi đã tràn ngập ở các tỉnh thành và tạo nên vô số dân oan khiếu kiện.

Bối cảnh kỳ họp quốc hội vào cuối năm 2013 lại khác khá nhiều với thời điểm giữa năm. Vào tháng 9/2013, trong lúc 7 đoàn kiểm tra chống tham nhũng của Đảng vẫn chưa phác ra bất kỳ manh mối nào về kết quả “vi hành”, Thái Bình đã một lần nữa, sau “cách mạng” 1997, nổ ra hành vi nông dân Đặng Ngọc Viết xả súng giết chết vài cán bộ của Trung tâm quản lý quỹ đất của tỉnh này. Vụ việc chưa từng có ấy đã lập tức gây chấn động trong toàn bộ hệ thống công quyền và buộc các thành viên của Ủy ban thường vụ quốc hội một lần nữa phải thảng thốt về đường lối “tự xử” của dân chúng.

Vẫn là nguồn gốc đền bù thiếu thỏa đáng, vẫn là cách hành xử vô cảm và vô tâm của giới quan chức, cùng thói quen sẵn sàng dùng “công an trị” để xử lý tình huống bất mãn của dân chúng mà đã đẩy không ít dân oan vào thế cùng tắc biến.

Sau một năm rưỡi kể từ vụ dùng súng hoa cải và mìn tự tạo “chống người thi hành công vụ” của gia đình Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, câu chuyện Đặng Ngọc Viết đã “nâng lên một tầm cao mới” với tâm thế chủ động trả thù đối tượng cưỡng chế. Đó cũng là một dạng không thể đặc biệt hơn trong tâm lý “hồi tố” của dân chúng đối với chính quyền – tiền đề mà rất có thể sẽ dẫn tới những xung đột với quy mô ghê gớm hơn nhiều trong tương lai không xa.

Tuy nhiên, quán tính rung đùi vẫn chưa thể tiến hóa từ hội nghị trung ương 4 về ‘”chỉnh đảng” cho đến nay. Dù nhấn mạnh về “bất ổn xã hội”, nhưng áng văn của những bản thông báo kết luận hội nghị vẫn không toát lên bất cứ can đảm cải chính nào đối với dân chúng, chưa nói đến việc sửa sai.

Xuống hố

Không khí trì trệ không chỉ não trạng mà cả hành vi trong Đảng càng khiến cho các nhóm lợi ích thừa cơ tung hoành. Vào đầu tháng 10/2013, hàng loạt vụ cưỡng chế đã dồn dập xảy ra ở Văn Giang thuộc Hưng Yên và Trịnh Nguyễn thuộc Bắc Ninh. Không chỉ hiện diện sắc phục công an, hình ảnh tái hiện của những nhóm côn đồ càng khiến lớp dân oan sôi máu.

Những vụ việc thu hồi đất bất chấp đạo lý như thế lẽ ra đã “thành công tốt đẹp” – cụm từ thường thấy mỗi khi kết thúc một hội nghị quan trọng nào đó trong nội bộ, nếu không nổi lên cơn bão “quyết tử giữ đất” của người dân địa phương.

Những cuộc cưỡng chế trên lại xảy ra chỉ ít ngày sau chuyến công du đối ngoại của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Paris và New York, với bài phát biểu của ông Dũng được báo đảng tôn vinh là “rất nhân văn”.

Vậy quan điểm của Chính phủ – cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp về quản lý đất đai cùng vô số hậu quả từ thực trạng thu hồi đất vô lối và bất công từ nhiều năm qua – như thế nào?

Khác hẳn với kỳ họp quốc hội giữa năm nay, vào lần này đã không có bất cứ đề xuất nào của Chính phủ về Luật đất đai và những vấn đề liên quan. Động cơ này dường như chẳng ăn nhập gì với một khẩu hiệu mà giới lãnh đạo hành pháp giương lên vào trước kỳ họp quốc hội giữa năm nay “Quyền phúc quyết thuộc về nhân dân”.

Ngay cả hiện tồn quá hỗn độn và gây tranh cãi diện rộng từ giữa năm về chuyện có thu hồi đất đối với các dự án kinh tế – xã hội hay không cũng không hề được giới quan chức chính phủ đả động.

Với không khí bùng nhùng thiên về “hiệp thông chính trị” trong nội bộ, có lẽ không quá khó để hình dung chủ đề “sở hữu đất đai toàn dân” vẫn chưa có gì tiến hóa trong kỳ họp quốc hội cuối năm 2013, nhân dân các địa phương và ngay tại Hà Nội vẫn chỉ có thể vay mượn “quyền sử dụng “ trên chính mảnh đất cha ông của mình. Còn các nhóm lợi ích vẫn ung dung với sự “bảo kê” mới từ bản tân Hiến pháp về cơ chế thu hồi đất.

Người dân Việt đang tự hỏi sẽ còn xảy ra bao nhiêu vụ Đoàn Văn Vươn và Đặng Ngọc Viết nữa ở nông thôn miền Bắc và dắt dây vào khu vực miền Trung và Nam bộ.

Tất cả cứ như cùng dắt tay nhau xuống hố…

(Phạm Chí Dũng, Việt Nam 21-10-2013)

Posted in Cướp Đất Đai, Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Hệ thống tuyên truyền và Tướng Giáp huyền thoại

Posted by hoangtran204 trên 22/10/2013

Hệ thống tuyên truyền và Tướng Giáp huyền thoại

Mon, 10/21/2013 – 20:08 — nguyenhuuvinh

nguyenhuuvinh’s blog

Đám tang tướng Võ Nguyên Giáp đã xong, một đám tang được nhiều hệ thống truyền thông chú ý và bình luận nhiều chiều, khen, chê… đủ cả. Nhưng, cần phải công nhận sự thật khách quan này: Đây là một đám tang mà số lượng người quan tâm, đến viếng rất lớn, hơn hẳn một đám tang binh thường. Thậm chí, theo tôi nghĩ thì lượng người đến viếng ông, rất có thể ngoài cả sự tưởng tượng, dự đoán của chính nhà nước. Việc chậm trễ thông báo, việc lúng túng trong cách giấu diếm tiểu sử, việc lấn bấn trong việc đưa tin… đã thể hiện điều này. 

 

Những người đến với đám tang Tướng Giáp là ai? 

Dòng người viếng tướng Giáp đông đúc, thể hiện sự kính trọng, sự quan tâm, sự nuối tiếc, sự tò mò hay sự hiếu kỳ? Chưa thể kết luận, vì chưa có ai và chưa có con số nào thống kê cụ thể. Nhưng, ai cũng muốn ghép tất cả số người và những công việc liên quan đến tướng Giáp vào nhóm những người nghĩ như mình. Việc vơ vào này có tính chất áp đặt lẫn nhau, có tính chất độc đoán của từng nhóm suy nghĩ nhằm chứng minh một điều: Duy nhất, mình là người suy nghĩ đúng, đánh giá đúng, hành động đúng.

Những người đến với lòng kính trọng tướng Giáp, hầu hết đều cho rằng Dòng người kia, đám đông kia, tất cả đến viếng tướng Giáp đều do lòng kính trọng như mình đã dành cho vị đại tướng cống hiến suốt đời cho đất nước, nhân dân.

Nhưng, nhóm người tò mò, hiếu kỳ đến để xem cơ ngơi tướng Giáp, một cơ ngơi giữa thủ đô mà cả đời có mơ cũng chẳng bao giờ bén mảng đến đó được thì chép miệng: Ừ ngôi nhà cũng rộng rãi, thoáng mát, nhưng không như mình tưởng tượng, chắc đám kia cũng thất vọng như mình sau khi vào xem.

Rồi đám người vốn uất ức vì đến cả một vị đại tướng công thần chế độ mà cũng đã phải ngậm đắng nuốt cay trước những đòn thù mà các đồng chí của ông đã cho ông nếm mấy chục năm qua thì chắc chắn điều này: “Tất cả đều cũng như mình, kéo đến thật đông ở đám tang này cho những kẻ đã chơi bẩn với cả đồng chí của mình phải hiểu rằng chúng ta đang cùng nhau phản đối chúng nó đây”.

Ở đây, họ tự coi tướng Giáp như một nạn nhân mà họ cần cảm thông, bày tỏ thái độ, bênh vực người bị yếu thế… Thậm chí, từ sự cảm thông đồng cảnh, dẫn đến sự đồng cảm tự lúc nào không hay. Điều mà người đời thường hay bảo: “Khóc giả, nước mắt thật” là trạng thái đó.

Và cứ thế, đám tang rất đông.

Việc đông đúc này cũng là một hiện tượng. Và có thể tìm hiểu hiện tượng này từ nhiều góc độ khác nhau.  

 

Sản phẩm của Truyền thông 

Về tướng Giáp, tôi cũng như “tuyệt đại đa số” những người dân Việt Nam, đa số chỉ biết về ông qua sách, báo, đài… đại khái là những công cụ tuyên truyền của đảng cộng sản. Rồi thì sau đó, khi lớn lên, qua hệ thống sách vở, báo chí cũng là của nhà nước cộng sản.

Theo đó, tất cả các đồng chí cộng sản đều là tuyệt vời về đạo đức và tài năng, và vì thế nên đảng cộng sản là tập hợp của những tài năng, đạo đức và tiến bộ. Vì thế, Đảng là đạo đức, là văn minh. Những câu đó, mọi người dân Việt Nam thuộc nằm lòng, còn hơn là nhớ bố mình tên gì, bao nhiêu tuổi.

 Theo đó chúng ta đều biết rằng chúng ta có một quân đội anh hùng, được đảng lãnh đạo, và ở đó mọi chiến sỹ từ cỡ như Lê Văn Tám đều là kiên trung, gan dạ và tuyệt vời về đạo đức, “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, “đi dân nhớ, ở dân thương”. Còn hàng ngũ sĩ quan, tướng tá thì chỉ có từ anh hùng và tuyệt vời… trở lên.

Cũng theo đó, chúng ta biết được rằng quân đội chúng ta được “Bác Hồ”1thành lập, dìu dắt và lãnh đạo, có Đại tướng Giáp là học trò xuất sắc của “Bác Hồ”1  trực tiếp cầm đầu. Và vị đại tướng đó là vị đại tướng huyền thoại, chưa biết thất bại là gì đã đưa đất nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong cuộc chiến này đến cuộc chiến khác. Và đã vậy, thì hẳn nhiên học trò xuất sắc của bác, cũng sẽ vĩ đại và tốt đẹp nếu không bằng thì cũng gần như “Bác”!

Và ngày này, sang tháng khác, hệ thống tuyên truyền đã nhồi vào tai, nhét vào óc tất cả mọi người từ mọi khía cạnh, mọi nơi và mọi lúc những thông tin đó.

Và người dân biết đến một Võ Nguyên Giáp huyền thoại, một Võ Nguyên Giáp “tài giỏi, đạo đức, văn võ vô song và trong sáng vô ngần”.

Đến mức, khi tướng Giáp bị thất sủng, “được” đảng và nhà nước xếp vào chức vụ mà dân gian gọi là “quan cai đẻ” (Thậm chí, năm 1984, khi cả nước rình rang kỷ niệm 30 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, tướng Giáp không được xuất hiện với phái đoàn nhà nước hoặc chính phủ ở đó. Hệ thống báo chí, truyền thông, các “đồng chí lãnh đạo” đảng và nhà nước không hề nhắc đến, không hề muốn nói đến nữa…) Thì những thông tin đã đóng đinh về một “vị đại tướng huyền thoại” kia vẫn không thể gột rửa ra khỏi đầu nhân dân. Thậm chí, dư âm của những thông tin kia, đã mọc ra những dư âm khác về sự bạc đãi với vị tướng này, nó lan truyền trong dân chúng.

Thực tế thì 90 triệu người dân Việt Nam hôm nay, con số gặp được Đại tướng Võ Nguyên Giáp để biết mặt mũi thật có khác với những hình ảnh trên báo chí không, có bị photoshop hóa trang khác đi không… chắc chắn là rất ít. Chưa nói đến mức hiểu được con người của ông Giáp thật sự là gì, tính nết ra sao, đạo đức cỡ nào…

Ngay cả trong dòng người đông đúc xếp hàng từ sáng sớm đến tận khuya kia, mấy ai được gặp tướng Giáp để hiểu về ông, nếu không phải là họ biết một tướng Giáp qua hệ thống tuyên truyền của cộng sản.

Mà hệ thống tuyên truyền của Cộng sản là gì? Chúng ta đã hiểu về nó, những người có đầu óc quan sát đã hiểu về nó. Nghĩa là bất chấp tất cả, miễn là có lợi cho đảng cầm quyền.

Bằng chứng là ngay cả khi tướng Giáp đã chết, thì hệ thống này vẫn bất chấp sự thật để bớt đi điều mà ai cũng biết là quãng đời ông Giáp bị nhục mạ, bị cố tình bỏ quên bằng cái chức “Chủ tịch Ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch” – Một chức vụ mà mới đây, chính thức nhà nước đã phải giấu diếm khi đưa tiểu sử của ông.

Bằng chứng là ngay cả trong lễ tang, con trai tướng Giáp là Võ Điện Biên, cũng chỉ dám nhắc đến “Đại tướng” với “hai cuộc kháng chiến” mà thôi. Trog khi thực tế, ông Giáp đã trải qua và tham gia cả ba cuộc chiến chống Pháp – Mỹ – Trung Quốc. Vì sao vậy?

Ngoài hệ thống tuyên truyền cộng sản, những năm gần đây, người dân Việt Nam còn được tiếp xúc với mạng Internet, một hệ thống thông tin đã làm thay đổi thế giới hiện đại. Ở đó, người ta thấy có nhiều thông tin không chịu sự kiểm soát của đảng, chứa đựng nhiều sự thật và khách quan. Ở đó cũng có nhiều cơ hội để người đọc  tự kiểm chứng, tự xác định và nhất là tự chọn cho mình cách tiếp cận, thu lượm thông tin.

Theo đó, ở Việt Nam, đại tướng Võ Nguyên Giáp có một thời gian dài, bị chính các đồng chí của mình chơi bẩn, đẩy đại tướng vào những công việc, những tình huống mà nếu với bản lĩnh vị tướng, thì ít ai chấp nhận được.

Theo đó, đại tướng đã lấy chữ “Nhẫn” làm đầu, để tồn tại đến khi đạt 103 tuổi.

Theo đó, vị đại tướng huyền thoại “đánh đâu thắng đó” này là vị tướng nướng quân không biết tiếc, miễn đạt được thắng lợi cuối cùng. Bởi trên Đại tướng là “Bác Hồ”1 đã từng tuyên bố: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng giành cho được độc lập”. Hoặc “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ”. Bởi vì, đó là cách mà người Cộng sản quyết giành thắng lợi.

Với một cuộc chiến mà một bên quyết chết đến người cuối cùng, bất chấp số lượng, bất chấp cơ đồ, bất chấp tất cả để giành thắng lợi… thì bên kia chỉ còn một cách hoặc giết tất cả, hoặc bỏ chạy không kịp xách dép.

Cũng theo đó, Võ Nguyên Giáp là một người cộng sản từ đầu đến chân, từ khi tuổi trẻ đến khi chết. Tất cả những việc làm của ông, những lời nói, kiến nghị… đều nằm trong khuôn khổ, chuẩn mực của người đảng viên cộng sản.

Và bao nhiêu chuyện khác nữa đều từ nguồn báo chí nhân dân trên mạng Internet. Từ đó, người dân có cái nhìn khác, có góc nhìn khác và tiếp cận các luồng thông tin đa chiều, có nhiều điều kiện kiểm định nguồn tin hơn cũng như hiểu được nhiều vấn đề liên quan đến từng con người.

Cũng chính vì có những thông tin từ đó, nên mới có đến 3 nhóm người đến dự đám tang tướng Giáp như đã phân tích ở trên. Nếu không, nếu chỉ có một hệ thống truyền thông cộng sản, người ta có thể dễ dàng tiến hành một đám tang như đám tang Kim Nhật Thành hoặc Kim Jong In ở Bắc Hàn không đến nỗi khó khăn cho bất cứ ai, miễn họ thấy điều đó là có lợi cho Đảng cộng sản. 

 

Thực và hư trong truyền thông Cộng sản: Công nghệ chế tạo huyền thoại 

Một lần cách đây chưa lâu, tôi đến thăm Bảo tàng Điện Biên Phủ, cô gái được giao nhiệm vụ thuyết minh về phòng trưng bày cứ thao thao bất tuyệt với cả đoàn người đến tham quan rằng:

– Sau 13/3 quân ta bao vây Điện Biên Phủ. Vòng vây ngày càng siết chặt làm cho giặc Pháp khốn đốn và hoảng sợ. Hàng ngày chúng trốn trong hầm, chờ chiều tối, chúng mới mò ra khỏi hầm ăn cắp hàng tiếp tế.

Thấy là lạ, tôi hỏi lại: 

 

– Thưa cô, như vậy là bọn Pháp đã phải trốn trong hầm và đến tối mới ra ăn cắp hàng tiếp tế, viện trợ chứ ban ngày nó không ra? 

– Vâng, ban ngày nó ở trong hầm, cứ chiều tối mới ra 

 

– Vậy thì hàng viện trợ đó của ta hay của ai? Và viện trợ, tiếp tế cho ai? 

– Là bọn Pháp bỏ xuống cho quân của nó đang bị ta bao vây ạ. 

 

– Vậy thì nó ra lấy hàng của nó, sao cô bảo là nó ra “ăn cắp”? Người khác lấy của nó thì mới là ăn cắp chứ? 

Cả đoàn người trong phòng cười vang, nhiều người cố nhịn mà không nhịn được. Cô gái đỏ mặt và ngắc ngứ: “Dạ, em nói nhầm, không phải là ăn cắp mà là quân nó ra cắt hàng viện trợ ạ”, rồi nhanh chóng chuyển sang đề tài khác. Đấy là một cách tuyên truyền xuyên tạc sự thật.

   

Mới đây, chúng tôi ghé thăm khu nhà Vương, dinh cơ của cụ Vương Chính Đức, người H’Mông ở Đồng Văn, Hà Giang. Ông là một thủ lĩnh, được người H’Mông gọi bằng Vua Mèo, cát cứ khu vực Đồng Văn. Khi người Pháp vào khu vực Đồng Văn đã bị kháng cự quyết liệt và buộc người Pháp phải ký hiệp ước Pháp – Mèo năm 1913. Thế rồi, ông được Việt Minh lôi kéo để “trở về với cách mạng”, con ông về theo “Cụ Hồ” rồi thành đại biểu Quốc Hội khóa I, II. Cách đây chưa đầy chục năm cháu chắt của ông vẫn ở khu nhà này. Nay nhà nước “xếp hạng” và con cháu ông phải dọn ra khỏi đó để nhà nước làm khu du lịch.

Cô hướng dẫn viên du lịch rất thuộc bài:“Cụ Vương đã kết nghĩa anh em với “Bác Hồ” và bác đã đặt lại tên Vương Chí Sình thành Vương Chí Thành, là tên hồi nhỏ của bác”. Cả đoàn khách du lịch há hốc mồm như nuốt từng lời. Và những lời đó sẽ theo chân các đoàn khách du lịch đi khắp mọi miền, trong và ngoài nước.

Tôi thấy ngờ ngợ. Lẽ nào ông Hồ Chí Minh có một người anh em kết nghĩa mà đến ngôi nhà cũng bị lấy làm khu du lịch để con cháu phải ra ngoài?

Thế rồi tìm hiểu thì báo chí giải thích là đâu phải thế, rằng là vì “Để tạo thế ”ỷ dốc” và khuếch trương thanh thế cho ông Vương…, Việt minh phao tin rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cắt máu ăn thề kết nghĩa anh em với vua Mèo Vương Chí Sình. Rằng là cụ Hồ đã đổi tên cho ông Sình là Thành (theo tiếng Việt có ý chí và trung thành). Thậm chí còn nói đổi cả họ cho ông Thành theo họ của ông Hồ – tức Hồ Chí Thành. Tin đó lan truyền nhanh như gió, râm ran thì thầm từ người nọ sang người kia, úp úp, mở mở”. 

Cũng theo tờ báo này, thì ông Vương Quỳnh Sơn, cháu của cụ Vương Chính Đức nói: “Làm gì có chuyện đổi họ, tên cho ông Vương. Cũng chẳng có lễ kết nghĩa anh em nào hết”

 

Lời kết: Sản phẩm và thói quen tiêu dùng của người Việt 

Tuyên truyền cộng sản có thể tạo ra một bầy lính Pháp ăn cắp hàng cứu trợ bằng cách xuyên tạc, cũng có thể tạo ra một người anh em cụ Hồ bằng cách “thì thầm từ người nọ sang người kia, úp úp, mở mở”.

Người ta thấy hàng đoàn những bóng Thanh niên tình nguyện quỳ xuống thành hàng trong đám tang Tướng Giáp, nhưng người ta cũng thấy hàng đoàn bóng áo xanh như vậy bao vây Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, nhà thờ Thái Hà kêu gào đòi giết người, hoặc chặn những người biểu tình yêu nước chống Trung Quốc xâm lược. Nhưng, trên báo chí nhà nước, họ được mô tả hoàn toàn khác nhau. 

Những ai đã từng sống trong đất nước cộng sản, tiếp xúc với những thực tế hàng ngày trong đời sống người dân và những gì được mô tả trên mặt báo, trong các tài liệu tuyên truyền mới hiểu được thực chất của truyền thông cộng sản là gì.

Và với thực tế đó, thì việc tạo ra huyền thoại về Hồ Chí Minh, và nay là Võ Nguyên Giáp chẳng có gì là khó khăn hay lạ lẫm.

Vấn đề là ở chỗ, rất nhiều người có kinh nghiệm về tuyên truyền cộng sản, vẫn tiếp tục sử dụng đến nghiện các sản phẩm tuyên truyền đó mà không hề suy nghĩ. Cũng như không mấy ai không biết độc hại của hàng Tàu, nhưng cũng không mấy ai không dùng nó hàng ngày chẳng cần suy nghĩ.

Và cứ thế, hàng người đến viếng tướng Giáp vẫn cứ dài, dài mãi.

Người ta có thể đến với sự kính trọng, sự thương tiếc, sự tò mò, sự đồng cảm hoặc sự phản ứng… đủ cả. Chỉ biết rằng, dòng người càng dài, thì con đường đi đến sự thật, độc lập, dân chủ, tự do càng xa.

Hà Nội, ngày 21/10/2013
J.B Nguyễn Hữu Vinh

rfavietnam.com

 

Các bài liên quan:

              »

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Nguy cơ “vỡ trận” tài chính

Posted by hoangtran204 trên 22/10/2013

Nguy cơ “vỡ trận” tài chính

Ts Tô Văn Trường

Theo NLG 

21-10-2013

Nhiều tập đoàn kinh tế phá nát nền kinh tế, chỉ  chăm bẵm vào việc chi tiền xây dựng các công trình thiếu chất lượng, không hiệu quả, thất thoát, cho nên kích cầu sẽ chỉ đưa đến kích… tham nhũng. Cho nên không xử lý tham nhũng và xử lý tập đoàn “ăn hại” thì kinh tế Việt Nam sẽ không có tiền đồ.

Có thể nói chưa bao giờ chúng ta lại phải nghe đến từ “vỡ” nhiều như những ngày nay. Do ành hưởng của siêu bão số 10 nên suốt dải đất miền Trung nghèo khó đã xảy ra liên tiếp những vụ vỡ đê sông, đê biển, đập tràn và cả vỡ đập thuỷ điện. Từ tỉnh biên giới Lạng Sơn đến tỉnh đồng bằng Thái Bình, từ vùng núi Thái Nguyên đến đô thành Hà Nội rúng động bởi những vụ vỡ hụi, vỡ tín dụng đen hàng chục, hàng trăm tỷ đồng. Rồi những vụ vỡ nợ làm tiêu tán hàng ngàn tỷ đồng của biết bao doanh nghiệp, của nhiều “đại gia”!

Nhưng có một thứ được cảnh báo có nguy cơ cũng dễ ” vỡ”, mà hậu quả kéo theo sẽ vô cùng nặng nề, có thể bằng nhiều siêu bão cộng lại, đó là ” vỡ trận tài chính”!

Mâu thuẫn và nghịch lý

Một số thông tin trên công luận nhận định nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu phục hồi biểu hiện rõ nhất qua con số tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới. Trái lại, tại Hội thảo mùa Thu của Ủy ban kinh tế Quốc hội (26-27/9/2013) ở Huế nhận định chung là nền kinh tế đang rất xấu với nguy cơ “vỡ trận tài chính” trong năm 2014 và  triển vọng trung hạn 2013-2015 cũng không mấy sáng sủa vì việc tái cấu trúc kinh tế chưa được  triển khai bằng hành động.

Có ý kiến cho rằng  kinh tế Việt Nam đang  mò đáy, và tê liệt vì các doanh nghiệp thi nhau  phá sản hay đóng cửa từ 2011. Nạn thất nghiệp gia tăng vũ bão (tỷ lệ thất nghiệp được một số giới cho là trên 10% thay vì con số chính thức là 2%) gây ra các tệ nạn xã hội đáng báo động. Và chính sách tín dụng trong cả nước hoàn toàn nghẽn mạch- một phần vì doanh nghiệp không đủ sức hấp thụ và phần lớn vì ngân hàng không muốn cho vay (với thanh khoản yếu do nợ xấu gây ra).

Ngoài số thống kê về thất nghiệp, có nhiều nghi ngại trong hội thảo, ngay cả về các con số GDP chính xác của các tỉnh thành và cả nước để dùng trong phân tích chính sách hay nghiên cứu. Về nhu cầu chính sách trong ngắn hạn, có 02 luồng ý kiến.Thứ nhất là kích cầu từ đầu tư công, bằng cách nới mức độ bội chi ngân sách. Và thứ hai là “kiên trì” ổn định kinh tế vĩ mô. Việc “kích cầu”, qua đầu tư công thiếu hiệu quả, có thể nhất thời làm tăng GDP nhưng không bền vững và chỉ nhằm đạt “thành tích” ngắn hạn. Một vòng xoáy lạm phát – suy trầm e là sẽ lại tiếp diễn trong năm 2014 như đã xảy ra các năm trước đây. Hơn nữa trong lúc các tỉnh thành lớn đều hụt thu nội địa thì việc nâng trần bội chi ngân sách quốc gia (lên 5,3% cho năm tới) để đáp ứng việc giải quyết tăng GDP ngắn hạn là một việc không nên làm trong lúc này.

Kích cầu

J.M. Keynes đưa ra lý thuyết kích cầu khi người ta hoàn toàn mất tin tưởng vào nền kinh tế, thất nghiệp rất cao (đỉnh là 25%) và kéo dài cao hơn 15% trong hơn 15 năm, giảm  phát (deflation)  từ năm 1929-1945. Đó là kết quả của việc hệ thống ngân hàng tài chính đổ vỡ vì cho vay quá trớn, đầu cơ chứ không phải đầu tư vào thị trường chứng khoán.

Như thế là vì lúc đó kinh tế Mỹ có thừa sức sản xuất cao hơn với máy móc hiện có, ngay cả nông nghiệp cũng thế,  nhưng không ai dám làm, thất nghiệp cao thì không có tiền mua cho nên bị đói. Keynes hô hào, và đã được Tổng thống Roosevelt ủng hộ bằng cách tăng chi tiêu xây đường xá, cầu cống để người ta có việc làm. Sau đó,  là sản xuất cho chiến tranh thế giới thứ hai đã lôi nước Mỹ thoát ra khỏi khủng hoảng.

Kích cầu thì cần tiền để chi. Thường thì giới kinh tế cho rằng ngưỡng thiếu hụt ngân sách ở mức 3% được coi là nghiêm trọng, cần thay chính sách. Việt Nam đã vượt ngưỡng này nhiều năm. Còn nay, Chính phủ lại đòi tăng lên đến 5,3%. Đây là  lần đầu tiên Chính phủ chính thức đặt vấn đề này, bởi vì lâu nay Chính phủ vẫn chi vượt mức  do Quốc hội quyết thì có sao đâu? Thực tế này đã xảy ra hàng năm, tỷ lệ chi ngân sách vượt mức Quốc hội quyết đã rất cao và còn đang tăng, từ 31% lên 42% trong khoảng thời gian 2007-2011.

Nếu thiếu tiền chi mà Chính phủ ra thị trường bán trái  phiếu cho dân và dùng tiền đó để chi tiêu thì ít có vấn đề. Nhưng ở Việt Nam thường có lệnh, cho Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu (tức là in tiền) do đó mà đẩy mạnh lạm phát. Lý do lượng tiền tăng quá mức là ở đó. In tiền kích cầu đáng lẽ phải đưa đến “trọng cung” để tạo ra sản  phẩm.

Trọng cung

Lý thuyết về “trọng cung” do hai nhà kinh tế Friedrich Hayek và Milton Friedman xây dựng theo nguyên tắc tính hiệu quả của thị trường tự do và gần như không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào của nhà nước vào nền kinh tế thị trường.

“Trọng cung” thì phải giảm thuế và thay đổi các chướng ngại kiểm soát để doanh nghiệp tăng sản xuất. Như thế, “trọng cung” cũng thường đưa đến thiếu hụt ngân sách. Các chính sách “trọng cung” ở nhiều nước tuy có kết quả nhưng hiệu quả thấp vì chính sách này thường mang tính dài hạn.“Cung” phải hiều theo nhiều nghĩa, là khả năng sản xuất (khả năng cung), tức là có đầy đủ yếu tố sản xuất như nhà máy, nguyên liệu và lao động. Khả năng “cầu”: Sử dụng những yếu tố sản xuất có sẵn. Trong trường hợp “cung” không được sử dụng hết khả năng, tức là thừa, thì kích cầu mới có tác động, mà chỉ có tác động trong ngắn hạn vì nó giúp dùng hết “cung” có sẵn. Khi nền kinh tế trở lại bình thường, thì không thể kích cầu để phát triển kinh tế.

Giải pháp ở đâu?

Muốn đưa  ra giải pháp đúng, trước hết  phải nắm được thực trạng. Mặc dù phương pháp và các con sô thống kê còn nhiều bất cập nhưng dễ nhận thấy là tình trạng chi tiêu ngân sách quá đà, nhiều tập đoàn kinh tế hoạt động không hiệu quả, nợ công, nợ xấu ở mức báo động.

Tổng số nợ là lớn, trong đó có nợ xấu. Nếu nợ xấu tập trung chính vào ngân hàng quốc doanh (vì cho quốc doanh vay) không biết bao nhiêu nhưng họ có thể tự dàn xếp một cách từ từ với nhau bởi vì không thể phá sản nhau. Trong trường hợp đó, kinh tế không thể phát triển vì ngân hàng không dám cho vay như trước. Do đó, kinh tế dù chưa suy sụp ngay nhưng sẽ èo uột trong nhiều năm, không thể tạo ra niềm tin, nhất là đẩy mạnh đầu tư nước ngoài.

Người dân nhận thấy những bất cập trong chủ trương chính sách vẫn cứ bám lấy kinh tế Nhà nước là chủ đạo, đất đai là sở hữu toàn dân. Nhiều tập đoàn kinh tế phá nát nền kinh tế, chỉ  chăm bẵm vào việc chi tiền xây dựng các công trình thiếu chất lượng, không hiệu quả, thất thoát, cho nên kích cầu sẽ chỉ đưa đến kích… tham nhũng. Cho nên không xử lý tham nhũng và xử lý tập đoàn “ăn hại” thì kinh tế Việt Nam sẽ không có tiền đồ.

Một trong những minh hoạ mà  nhiều người thấy nhưng ngại không muốn nêu ra là chi cho bộ máy hành chính, bộ máy Đảng song hành là quá lớn và không hiệu quả. Rõ ràng là các tập đoàn và doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò “sân sau” phục vụ bộ máy chính trị rất cồng kềnh hiện nay. Ta mới nói về tham nhũng ở một số cá nhân ở nơi này,  nơi kia mà chưa thấy sở dĩ tham nhũng cá nhân chỉ là hiện tượng ” ăn theo” của tham nhũng mang tính thể chế nhằm nuôi dưỡng bộ máy cồng kềnh kém hiệu quả nêu trên.

Trong tình hình đó việc kích cầu chẳng khác nào cho con bệnh ung thư uống thuốc bổ để khối u phát triển nhanh hơn! Động lực để cải cách thể chế chính trị cho phù hợp với hạ tầng kinh tế hiện nay là rất yếu… Bởi vì ngay từ đầu công cuộc Đổi mới, những nhà hoạch định chính sách chắc chỉ mới suy nghĩ đến lớp lang “chính sách kinh tế mới NEP của Lê Nin” mà chưa có khái niệm gì về một thành phần quan trọng góp phần khắc chế những hậu hoạ của chính sách này, đó là thúc đẩy xã hội dân sự và cải cách thể chế chính trị.

Các học thuyết, mô hình kinh tế chỉ có thể cung cấp cho chúng ta những bài học  kinh nghiệm để từ đó vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đồng thời cần lưu ý là vận dụng các quy luật kinh tế vào điều kiện nước ta phải xuất phát từ lợi ích của người dân chứ không phải chỉ từ lợi ích của các nhà đầu tư.

Cần rà soát các bất động sản, các “quốc doanh” làm ăn thua lỗ triền miên, cái nào đáng chết, không cứu, giành mọi nguồn lực còn lại và thuận lợi cho những sản phẩm đáng sống, sản phẩm mới. Qua phẫu thuật, vứt đi cái “hoại thư” như thế và qua nuôi các sản phẩm “sống” được và tìm cách có thêm sản phẩm mới để tái cấu trúc kinh tế, nghĩa là tái cấu trúc kinh tế phải bắt đầu bằng phẫu thuật cái “hoại thư”.

Quyết xóa hẳn “mafia” để chuyển sang kinh tế thị trường thực sự. Mafia lớn nhất  chính là nhóm lợi ích bất chính. Thế giới gọi những nhóm lợi ích này là thế lực trục lợi (Rent- seeking), và nó sẽ đẩy xã hội chúng ta đến vực thẳm trong tương lai gần.Tăng cường luật pháp, tăng cường công khai minh bạch, tiết kiệm (nhất thiết phải thắt lưng buộc bụng ở tầm quốc gia). Có những biện pháp an sinh dành cho những tầng lớp dân  nghèo dễ bị tổn thương nhất để có cái đệm an toàn cho xã hội trong khi thực hiện tất cả những biên pháp trên.

Nhất thiết phải  cải cách thể chế chính trị để có khả năng thực hiện các  biện pháp nói trên. Trước hết, là xây dưng một Hiến pháp mới cho ngon lành đúng với một quốc gia có kinh tế thị trường – Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.

Vĩ thanh

Tổng thu ngân sách Nhà nước giảm 30% từ năm 2000 đã xuống mức thấp nhất chưa từng có 22,8%  GDP vào năm 2012  (nguồn WB).  Do thu chi ngân sách mất cân đối trong năm 2013, dự kiến sẽ hụt thu khoảng 21.000 tỷ đồng so với dự toán, nên đến năm 2015, bội chi ngân sách kể cả trái phiếu Chính phủ khó đạt chỉ tiêu dưới 4,5% GDP.
Ở Việt Nam không thừa cung. Trong khi đó, cầu  quá nhiều vì có tiền do việc in tiền và nạn tham nhũng từ việc thất thoát, lãng phí của đầu tư công. Nếu mà tiếp tục “kích cầu”, vì tất cả cơ chế vẫn như cũ, nó sẽ tích tụ thêm các khuyết tật thì không những không thể ra khỏi “hố đen”, mà cũng không đơn thuần chỉ là nguy cơ vỡ trận tài chính! Bởi vì ông cha ta đã đúc kết rất chính xác “gieo nhân nào gặt quả nấy”!

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Cán bộ lãnh đạo, Bộ GT-VT, và nhiều địa phương rất thích Viện Trợ Phát Triển (ODA) của Nhật:

Posted by hoangtran204 trên 22/10/2013

Trích: ” 1/3 viện trợ ODA của Nhật Bản đã lọt vào tay chính quyền TT Marcos ở Philippines hay chính quyền TT Suharto ở Indonesia. Sau khi các chính quyền này sụp đổ, người dân các nước này phát hiện đã có hàng trăm triệu đến tỷ đô la của họ nằm ở ngân hàng Thụy Sĩ hay bất động sản tại Mỹ

Con số 1/3 là lý do cắt nghĩa tại sao các cán bộ lãnh đạo rất thích viện trợ cho vay theo kiểu ODA. Dự án càng đắt tiền, cán bộ càng thích. Thậm chí,  Bộ GT-VT  hay thúc hối các cơ quan tư vấn, cơ quan phản biện, hãy làm gấp để Bộ cấp bách duyệt dự án và thi hành. Đặc biệt, nhiều địa phương  và Bộ GT-VT đều rất thích ODA dành cho xây dựng cầu, đường, cảng…

————

Nguồn:  Kim Dung’blog

KD: Ts. Tô Văn Trường là một nhà khoa học tâm huyết, và rất am hiểu về các vấn đề xung quanh ODA. Đó là miếng bánh ngọt kèm vị đắng, nhất là với những nước nghèo, mà tham nhũng còn là “quốc nạn”.

Có một thành ngữ mới, nghe đắng và xóc hơn: “Đời cha ăn mặn, con khát nước, cháu đi tiểu nhiều”

Cảm ơn Ts Tô Văn Trường.

Ai ăn mặn- ai khát nước?

 

Tác giả:  Tô Văn Trường

kimdunghn.wordpress.com 

Có chuyên gia, nói thẳng với tôi nguyên văn như sau: “Đố anh tìm đâu ra một dự án nào dám vỗ ngực khẳng định “không lại quả” trong cơ chế này đấy! Cứ có 01 dự án, dù bé bằng móng tay thôi, thì cũng có hàng chục cửa phải đi qua để “kính thưa, kính gửi” rồi.

Trăn trở, nhìn  lại lịch sử thăng trầm của đất nước qua nhiều giai đoạn, chỉ có thể dùng khái niệm “vận nước” thuyết nhân quả, duyên sinh, duyên diệt để lý giải về các tác động của nó  đến người dân trong xã hội. Khi con người bị đốt cháy bởi khát vọng quyền lực và danh vọng tiền tài thì vô cùng nguy hiểm cho xã hội. 

Nợ công- báo động đỏ

“Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Đây là cách nói của ông cha ta về cái sự đời“có vay, có trả”. Tuy nhiên, ở đây “kẻ ăn mặn” lại là những nhóm lợi ích thiểu số chẳng có dây mơ, rễ má gì đến đa số dân chúng cần lao, mà con cháu đa số này phải chịu “khát nước”, tức là phải è cổ ra trả nợ cho nhóm lợi ích thiểu số bất chính kia.

Giá như con cháu nhóm lợi ích thiểu số ấy phải trả nợ, phải chịu “khát nước” thì lại đi một nhẽ! Mà chắc chắn lúc ấy có đi truy lùng con cháu nhóm lợi ích để bắt chúng trả nợ thì cũng như “mò kim đáy bể”, bởi  với biết bao của cải mà cha ông chúng  đã vơ vét, bây giờ đã yên ổn ở những chân trời xa tít tắp với những tài khoản khổng lồ gửi ở ngân hàng  và những khoản đầu tư  vào các lĩnh vực thời thượng của cơ chế thị trường.

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế chưa biết lúc nào sẽ… đến đáy, dù có vênhnhau về số liệu do các nguyên nhân về kỹ thuật, không theo chuẩn quốc tế và giả dối, thì đều đi đến  kết luận chung: Nợ công ở nước ta đã đến mức “báo động đỏ”!

Ngoài các nguyên nhân yếu kém do quản trị, chủ trương đầu tư sai lầm vào nhiều lĩnh vực không hiệu quả, còn do các nhóm lợi ích bất chính, tư duy nhiệm kỳ, tranh thủ vơ vét và cố gắng che chắn sao cho hạ cánh được an toàn.

Miếng  pho mát cho không chỉ là miếng pho mát bẫy chuột”  

Đối với nước nghèo, chậm phát triển, nguồn vốn ODA cho vay dài hạn với lãi xuất ưu đãi là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế rất quan trọng. Nhiều công trình hạ tầng cơ sở của Việt Nam đã “thay da, đổi thịt” nhờ nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, mặt trái của ODA cũng chứa đựng những cơ hội làm ăn khuất tất.

ODA của bất cứ nước nào thì họ cũng đều đòi hỏi phải ưu tiên (có khi bắt buộc) dùng chuyên gia, nguyên vật liệu của họ. Người Pháp có câu nói nổi tiếng “Miếng  pho mát cho không chỉ là miếng pho mát bẫy chuột”. Tôi đã viết nhiều bài về ‘lợi bất cập hại” khi sử dụng nguồn vốn ODA chính là vùng nguy hiểm, thiếu trí thức nhất, cho nên càng sớm độc lập, tự chủ, đủ sức loại bỏ ODA, càng có lợi cho đất nước. 

Nhân dân ta không bao giờ quên sự ủng hộ chí tình, có hiệu quả của Chính phủ và nhân dân Nhật Bản trong công cuộc tái thiết đất nước, và hiện nay cũng là nước thật lòng ủng hộ ta trong  tranh chấp ở biển Đông.

Do nguồn tài trợ ODA của Nhật Bản là song phương lớn nhất đối với nước ta, cho nên bài viết này tập trung phân tích ODA của Nhật. 

Theo một chuyên gia là Việt kiều nhiều năm sống và làm việc trên đất Nhật Bản cho biết, một trong những vấn đề nổi cộm trong viện trợ ODA của Chính phủ Nhật Bản bị dư luận trong và ngoài nước Nhật phê phán vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi các tập đoàn của Nhật Bản cấu kết để dành các hợp đồng béo bở như dự án xây dựng cơ sở hạ tầng (sân bay, bến cảng, đường cao tốc…), …trong chương trình viện trợ, thực chất là cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi có điều kiện, và ưu tiên cho tập đoàn của nước Nhật trong việc thực thi. 

Vì vậy, trước khi ký văn kiện thỏa thuận vay vốn ODA cho một công trình nào đó, người soạn thảo dự án của phía Nhật tổ chức  điều tra cơ bản để xác nhận các điều kiện (kỹ thuật lẫn tài chính) của dự án, là các đội quân chuyên môn của những tập đoàn này dưới danh nghĩa “tư vấn” (consulting)  mà chi phí này thuộc viên trợ không hoàn lại (Grant Element)  để làm phương án tiền khả thi nắm bắt và chuẩn bị tham gia “đấu thầu” các dự án do chính họ soạn sẵn, bảo đảm phần thắng thuộc về các công ty Nhật Bản.

Các chính trị gia Nhật Bản (nghị sĩ quốc hội)  là người đứng sau thúc đẩy chính phủ phê duyệt dự án ODA với những khoản tiền thù lao kếch sù núp dưới dạng “hiến kim chính trị” (ủng hộ bằng tiền cho hoạt động chính trị—Seijikenkin)  trong những lần bầu cử. Khi thắng thầu một dự án ODA, các nhà xây dựng sẽ liên kết thành một nhóm để thực hiện như chúng ta đã thấy qua liên danh Taisei-Kajima-Nippon Steel (TKN)  trong dự án xây dựng cầu Cần Thơ, hay một liên danh tương tự xây đường hầm qua Thủ thiêm ở Tp. HCM vì lý do đó.

Hơn thế nữa, liên danh tập đoàn công nghiệp hay xây dựng Nhật Bản còn cấu kết với quan chức nước sở tại (VN) để thực hiện đề án ngay từ đầu và cả trong quá trình thi công. Người ta cho rằng 1/3 viện trợ ODA của Nhật Bản đã lọt vào tay chính quyền TT Marcos ở Philippines hay chính quyền TT Suharto ở Indonesia trong những thập kỷ trước. Người dân các nước này phát hiện đã có hàng trăm triệu đến tỷ đô la của họ nằm ở ngân hàng Thụy Sĩ hay bất động sản tại Mỹ sau khi các chính quyền này sụp đổ.

Cơ cấu nối kết quyền lợi này mang tính tổ chức rất cao, gồm tham nhũng nước sở tạiliên danh tập đoànchính trị gia chạy dự án (ba thành phần trong mỗi dự án quốc gia.), và thực tế đó đã phơi bày qua nhiều dự án mà chính phủ Nhật Bản đã thực hiện ở một số nước. Vì vậy trong xã hội Nhật Bản,  nhiều nhân vật trí thức có lương tâm và đông đảo nhân dân đòi hỏi Chính phủ phải hạn chế và loại trừ kiểu làm ăn nuôi dưỡng tiêu cực này, xem đó là một nạn tham nhũng có tổ chức (Kozô Oshoku).

Vì tất cả tiền dùng cho ODA là của nhân dân Nhật Bản đóng góp thông qua việc nộp thuế và sẽ được các nước nhận ODA thanh toán lại, vì vậy không có lý do gì 1/3 số tiền khổng lồ lại lọt vào kiềm tỏa của “Himotsuki enjyoo” (viện trợ giật dây) để làm giàu cho ba thành phần trong mỗi dự án quốc gia.

Điển hình lãng phí, không hiệu quả

Nhiều dự án sử dụng nguồn vốn ODA có vấn đề như dự án điện của TKV (Na Dương, Cao Ngạn, Cẩm Phả). Chính phủ, đăc biệt là Bộ Giao thông Vận tải làm sao có thể giải thích cho người dân hiểu vì lý do gì mà  dự án giao thông ở Việt Nam có suất đầu tư quá cao so  với các nước giàu có như Mỹ, Hàn Quốc? Mà ngay cả các nước đang phát triển như Trung Quốc, Thailand, Malaysia, trong khi lương của kỹ sư Việt Nam chỉ bằng 5 -20%  lương kỹ sư Mỹ, Hàn Quốc, 30-40%  lương kỹ sư Trung Quốc, giá vật liệu thì đều theo giá quốc tế.

Đơn cử như  Dự án cao tốc Bến Lức -Long Thành, 58 km, có 02 cầu lớn, nhiều cầu nhỏ: giá 1,6 tỷ USD nay tính lại lên đến 2,2 tỷ USD. Đến nỗi Bộ GTVT yêu cầu chuyển một số đoạn từ cầu cạn (viaduct) thành nền đắp đất (embankment) để không tăng quá 1,6 -1,7 tỷ đô la. 

Dự toán dự án Metro Hà Nội 03  tuyến Tây Tựu đến ga Hàng Cỏ chỉ 12 km, trong đó chỉ 4,0 km ngầm (từ Thủ Lệ đến Ga), 8,0 km nổi (chạy như đường trên cao trên khoảng không của đường Tây Tựu- Cầu Giấy – Kim Mã (giải phóng mặt bằng ít) mà giá trên 900 triệu USD (khoảng 75 triệu/km dài).

Metro ở TP HCM giá cũng tương tự (cũng chỉ ngầm 30-35%). Với gíá này thì khi nào và tiền đâu để làm hệ thống metro trên 100 km như Pusan Hàn Quốc (chưa nói các thành phố lớn hơn). 

Giá nhà ga T2 – Nội Bài 900 triệu USD (cao gấp 03 ga quốc tế TSN nhưng công suất chỉ gấp 1,5 lần). Tôi đã hỏi nhiều tư vấn giao thông nước ngoài kể cả các vị tham gia các dự án này, họ đều lè lưỡi vì “suất đầu tư” trên đơn vị km hoặc hành khách này.

Có chuyên gia, nói thẳng với tôi nguyên văn như sau: Đố anh tìm đâu ra một dự án nào dám vỗ ngực khẳng định “không lại quả” trong cơ chế này đấy! Cứ có 01 dự án, dù bé bằng móng tay thôi, thì cũng có hàng chục cửa phải đi qua để “kính thưa, kính gửi” rồi.

Cảng tỷ đô Lạch Huyện và cầu Tân Vũ

Dự  án Cảng tỷ đô Lạch Huyện trở thành điểm nóng trong dư luận cả nước thời gian qua, nhất là ngày chủ nhật 14/4/2013 đã chính thức khởi công trong bối cảnh ngổn ngang nhiều bất cập chưa được giải quyết.

 

Hội Xây dựng trực thuộc Liên hiệp Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) là tổ chức đầu tiên quan tâm phản biện dự án cảng Lạch Huyện. Trong quá trình tham vấn, lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải 04 lần thúc ép, thuyết phục lãnh đạo Hội Xây dựng ký công văn xác định cảng Lạch Huyện là công trình “cấp bách”!?.

Sau đó,  lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dự định tổ chức Hội thảo về cảng Lạch Huyện theo đúng chức năng giám sát và phản biện nhưng lãnh đạo Bộ GTVT lại khuyến cáo… “không nên làm”!?

Ngay cả các thành viên trong Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường  (ĐTM) của dự án cũng không thể hiểu nổi vì sao 20 câu hỏi liên quan của Hội đồng chưa được chủ đầu tư và tư vấn JICA (Nhật Bản) giải đáp theo đúng quy định, nhưng đã được Bộ Tài nguyên & Môi trường vì sức ép của ai mà “lặng lẽ” cấp tốc phê duyệt trước Tết nguyên đán vừa qua với tốc độ chóng mặt!?

Doanh nghiệp nói gà-Bộ trưởng nói vịt

Theo quy định của Nghị quyết 49/2010/QH 12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội đối với các dự án, công trình quan trọng quốc gia phải trình Quốc hội xin ý kiến chủ trương đầu tư.

Để ”lách luật”, Bộ GTVT đã ”khôn ngoan” tách dự án cầu Tân Vũ- Lạch Huyện do Tổng cục Đường bộ quản lý nguồn vốn. Trong thực tế, dự án cầu Tân Vũ- Lạch Huyện là tuyến đường kết nối cảng cửa ngõ này, với đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, là hợp phần cầu đường của Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Cảng Lạch Huyện. Do đó, tổng số vốn cho dự án cảng Lạch Huyện đã vượt trên 40 ngàn tỷ đồng. 

Báo Lao Động ngày 2/10 đăng bài về Dự án xây dựng cầu Tân Vũ- Lạch Huyện “Bộ trưởng có định thách đố doanh nghiệp” của tác giả Hà Linh Quân. Bài báo phản ánh ông Tạ Quyết Thắng, Tổng Giám đốc Công TNHH Sơn Trường, một doanh nghiệp thành đạt,  am hiểu thực tế, tâm huyết với vận nước gửi thư đến lãnh đạo Nhà nước đề nghị xem xét, điều chỉnh giảm nhiệm vụ thiết kế. Cụ thể là hạ thấp bớt các chỉ tiêu yêu cầu về tĩnh không thông thuyền, sử dụng nguyên vật liệu trong nước, không sử dụng vốn ODA của Nhật  Bản sẽ tiết kiệm kinh phí từ trên 11 nghìn tỷ đồng xuống  dưới 1000 tỷ đồng.

Ý tưởng này sẽ do công ty tư vấn của Mỹ thiết kế,  nếu vượt quá con số 1000 tỷ đồng thì Tổng Công ty Sơn Trường sẽ chi trả. Bài báo đã phân tích phản ánh lãnh đạo Bộ GTVT thể hiện “văn hóa lắng nghe” hoặc do lý do nào đó, đã  cố tình đánh đố doanh nghiệp theo kiểu “ông nói gà, bà nói vịt”, vì đã dám thò “mũi vào”  dự tính đã được duyệt của Bộ!?

Nếú đọc kỹ, ngẫm suy Quyết định 1438/QĐ/TTg ngày 03 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng về phê duyệt quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải thành phố Hải Phòng đến năm 2025 đề cấp đến nối kết với tuyến đường sắt thì cầu Tân Vũ phải thay đổi lại các chỉ tiêu thiết kế.

Tín hiệu mới rà soát lại các dự án ODA

Thực tế cho thấy nhiều dự án ODA  đưa ra các giải pháp tốn kém, vô lý, không cần thiết và đắt gấp 3- 4 lần giải pháp kỹ thuật của Việt Nam. Nhưng nhiều cán bộ quản lý, lãnh đạo lại không có đủ kiến thức, kỹ năng để lựa chọn, lại sợ mất khoản tiền (Nhật) cho vay, nên  vội vàng chiều theo ý của tư vấn quốc tế.

Một tín hiệu vui, tại phiên họp Chính phủ tháng 09 mới đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao vai trò của nguồn vốn ODA với Việt Nam, song khẳng định Việt Nam sẵn sàng trả lại một số dự án nếu không phù hợp, hoặc chưa cần thiết.  Thực tế, nhiều địa phương cứ nghe có dự án vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là “vơ vào”, trong lúc có những dự án giá rất đắt, nhưng hiệu quả cầm chừng.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu cần phải tính hiệu quả và rà soát lại các dự án, chứ “không phải cứ ODA là nhận hết”.  Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng cho rằng có nhiều dự án ODA đắt và áp những tiêu chuẩn của nước ngoài quá cao dẫn đến khó thực thi tại Việt Nam, nếu cứ vay như vậy Việt Nam sẽ phải chịu nợ lớn. Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam đồng tình cho rằng không phải cứ cho ODA là nhận với bất kỳ dự án nào, nếu dự án đó không hiệu quả vv…

Thay cho lời kết

Nếu không thay đổi tư duy trong quản trị  và cải cách đầu tư công thì chắc chắn chúng ta sẽ còn ngụp lặn trong vũng bùn của nợ nần và đói nghèo. Bọn tham nhũng, những con sâu quyền lực và các nhóm lợi ích bất chính đang hoành hành, đúng như một số vị lãnh đạo cấp cao đã phát biểu thừa nhận công khai “cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi… Người ta ăn của dân không chừa thứ gì” 

Muốn ngăn chặn, răn đe và trừng phạt, ngoài luật “nhân quả”, chỉ có một con đường là “thật sự dân chủ”. Dân có thực quyền kiểm soát và pháp luật phải thực sự do dân, vì dân. Để tồn tại và phát triển, đất nước sẽ phải thay đổi, vấn đề chỉ còn là thời gian.

Khôn ngoan nhất là những người có trọng trách phải hiểu lòng dân và biết vượt lên chính mình.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »