Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín 6th, 2013

►Y tế: chăm sóc sức khỏe cho cán bộ cao cấp và gia đình: Uỷ Ban Trung ương Đảng chỉ đạo- Mỗi tỉnh, mỗi thành phố, mỗi huyện đều có bệnh viên riêng, hoặc khu vực riêng của BV, dành chăm sóc sức khỏe cho cán bộ cao cấp

Posted by hoangtran204 trên 06/09/2013

 

Đọc tiếp »

Posted in Y te, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | 1 Comment »

►Nhiều công trình ở Dung Quất, Quãng Ngãi, trị giá hơn 1,2 tỷ đô la nay bỏ hoang

Posted by hoangtran204 trên 06/09/2013

Lời tựa của Trần Hoàng: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, một công trình xây dựng kéo dài gần 20 năm của các đỉnh cao trí tuệ của loài người. Nhưng sau khi làm xong năm 2011, với giá thành hơn 3,5 tỷ đô la, nhà máy này vẫn không chạy được hoàn hảo. Mỗi năm, nhà máy phải nghĩ 2 lần kéo dài vài tháng để sửa chửa. Đến nổi, vừa xây xong đã rao bán cho các công ty nước ngoài, nhưng chẳng ai mua.

Cần nói thêm rằng: xây một nhà máy lọc dầu mới, có công suất lọc dầu tương tự với Dung Quất, giá thành trên thế giới hiện nay là 1,2 tỷ đô la; trong khi nhà máy Dung Quất giá thành xây dựng gấp đôi vì là nhà máy lọc dầu-ngọt (loại dầu có chứa ít acid), là vì có nhiều sự chèo quéo xảy ra, nên kéo dài thời gian hoàn thành tới 17 năm, thay vì là chỉ 3 năm, do đó, phải trả tiền lời quá lâu năm, nên sau cùng giá thành xây nhà máy đội lên hơn gấp hai lần.

Các đỉnh cao trí tuệ của loài người đã bất chấp các lời khuyên của các nhà chuyên môn và các nhà kinh tế là phải đặt nhà máy ở chỗ khác, ở khu vực Bà Rịa chẳng hạn, nhưng  các cán bộ cao cấp của Bộ Chính trị “hạ quyết tâm” đặt nhà máy ở một vị trí có ý nghĩa chính trị, nhưng thất bại về mọi chuẩn mực kinh tế: dầu thô phải chở từ ngoài khơi Vũng Tàu ra tới Quãng Ngãi, quá cách xa nơi khai thác dầu ở ngoài khơi (700km); và quá xa nơi tiêu thụ sản phẩm sau khi lọc xong; về mặt giao thông vận tải và sử dụng, nhà máy lọc dầu ở cách xa các khu vực nhưng nơi tiêu thụ dầu, xăng như: các thành phố lớn, các khu công nghiệp,  dầu SAU khi lọc xong; về ý nghĩa chính trị và kinh tế thì cũng thất bại luôn vì hóa ra dân chúng Quãng Ngãi cũng không thể làm các công việc trong khu vực này vì dân chúng địa phương không có trình độ kỹ thuật cao, và họ chỉ  mở quán nước ven đường, bán cafe, bánh mì, mì gói cho công nhân của các hãng xưởng gần đó.

Thêm vấn đề hóc búa và tốn kém nhất hàng năm là: nhà máy móc phải sửa chửa thay thế các van lọc hàng năm, và các vấn đề kỹ thuật khác, vì các lý do tréo cẵng ngỗng sau, theo các blogger cho biết: các cán bộ cao cấp của chính phủ  nhờ cty của Pháp thiết kế nhà máy, nhưng lại mua máy móc của Nga để lắp đặt, rồi ráp vô dây chuyền sản xuất của Nhật. Số liệu kỹ thuật giữa 3 bên khác xa nhau nên phải tìm cách chắp nối. Điều ngu xuẩn nhất là ban đầu  tính toán kế hoạch là xây dựng nhà máy lọc dầu NGỌT, là dầu hút lên từ giếng dầu Bạch Hổ, dầu này có chứa rất ít chất lưu huỳnh, nên độ acid tương đối yếu.  Nhưng thời gian thiết kế và hoàn thành nhà máy kéo dài từ 1994-2011 mới xong. Trong thời gian này, mỗi ngày công ty khai thác dầu khí PVN bán ra gần 300.000 đến 400.000 thùng dầu cho Nhật để lấy ngoại tệ suốt gần 17 năm qua, nay giếng Bạch Hổ đã cạn, còn các giếng dầu đang khai thác ngoài khơi là dầu CHUA, có tỷ lệ chất lưu huỳnh cao, tức là dầu có tính acid mạnh, khi lọc, acid trong dầu đã ăn mòn tất cả các van lọc dầu vốn được thiết kế để dùng lọc dầu ngọt!  Thế là phải sửa chửa nhà máy Dung Quất hàng năm. Đập bỏ nhà máy này để bán ve chai và thay xây lại nhà máy lọc dầu mới thì mất ít nhất 1,5 tỷ đô la, đảng ta không có tiền, còn cứ tiếp tục dùng nhà máy hiện nay để lọc dầu thì phải sửa chửa hàng năm.

Tóm lại: nhà máy Dung Quất năm nào cũng bị hư vài ba tháng, vì van bị ăn mòn, “do chuyển từ lọc dầu ngọt (dầu có hàm lượng lưu huỳnh thấp) qua dầu chua (dầu có hàm lượng lưu huỳnh cao),  máy móc cũng bị ăn mòn gần hết,  nên không sản xuất hết mức công suất.
Đây là công trình lãng phí và ngu xuẩn thứ 2 sau Vinashin. Lý do:
1) Lãng phí tiền mua máy móc.
2) Lãng phí tiền xây dựng.
3) Lãng phí tiền bảo dưỡng.
4) Lãng phí tài nguyên đất.

5) nhà nước đã phải trả rất nhiều tiền lời từ khi đi vay vốn xây dựng nhà máy. Tiền lời mỗi tháng từ 80-120 triệu đô la, căn cứ theo tổng số tiền đi mượn để xây nhà máy, tiền bảo dưỡng,…

—–

“Bóng ma” những công trình tiền tỉ

Hàng loạt dự án, công trình có vốn đăng ký đầu tư hàng trăm tỉ đồng nhưng lại bỏ hoang, như “bóng ma” trùm cả Khu Kinh tế Dung Quất.

3-9-2013

Nhiều năm qua, tại Khu Kinh tế (KKT) Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi) có rất nhiều tập đoàn, doanh nghiệp đăng ký đầu tư, phát triển dịch vụ. Thế nhưng, ngoài vài đơn vị đã triển khai, có hiệu quả bước đầu, không ít doanh nghiệp đang “gãy gánh giữa đường”.

 

 

Dự án khu vui chơi giải trí dành cho cán bộ – công nhân viên Nhà máy Ðóng tàu Dung Quất hư hỏng, hoang phế nhiều năm qua

Ngổn ngang công trình bỏ hoang

Ðến KKT Dung Quất một ngày cuối tháng 8, chúng tôi chứng kiến cảnh tượng vắng lặng bao trùm.

Ven con đường dẫn vào TP Vạn Tường (nằm trong KKT) đầy những công trình đồ sộ, tiền tỉ nhưng tất cả phải “trùm mền”. Bên trong, không một bóng người, rêu phủ đầy. Những hàng quán ven đường phục vụ cho những kỹ sư, công nhân xây dựng một thời phát triển khá rầm rộ, nay xiêu vẹo, chỏng chơ…

Công trình trung tâm khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí TP Vạn Tường dở dang, cửa cổng đóng chặt, ổ khóa hoen gỉ…

Ðây là công trình do Công ty TNHH Vạn Năm làm chủ đầu tư với số vốn lên tới gần 100 tỉ đồng nhưng mới xây đến tầng 3 đã bỏ hoang trong nhiều tháng qua.

Cách đó không xa, công trình khu trung tâm vui chơi giải trí dành cho cán bộ – công nhân viên của Nhà máy Ðóng tàu Dung Quất cũng đang bị bỏ hoang. Những bức tường sắp đổ cạnh nhiều hạng mục bằng sắt hoen gỉ. Giữa khung cảnh đổ vỡ, mục nát chỉ có dòng chữ Vinashin Dung Quat Shipyard là còn khá nguyên vẹn.

Ði tiếp khoảng 2 km, chúng tôi bắt gặp xưởng cơ khí của Nhà máy Ðóng tàu Dung Quất cũng trong tình trạng bỏ hoang.

Cạnh đó, khu nhà ở dành cho cán bộ, công nhân viên Nhà máy Ðóng tàu Dung Quất cỏ mọc um tùm, không một bóng người. Ðây là những công trình do Công ty Công nghiệp tàu thủy Dung Quất làm chủ đầu tư với số vốn lên đến hàng trăm tỉ đồng.

Trong khi đó, dự án Nhà máy Thép Guang Lian Dung Quất có vốn đăng ký đầu tư 4,5 tỉ USD do Tập đoàn Tycoons (Ðài Loan) làm chủ nhưng sau 7 năm triển khai, nay vẫn còn là bãi đất trống. Không chỉ bỏ hoang, chủ đầu tư còn xây dựng tường rào, chặn đường đi của người dân gây thiệt hại kinh tế lớn cho địa phương.

 

 

Công trình trung tâm khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí thành phố Vạn Tường trong Khu Kinh tế Dung Quất đang bỏ hoang

Khó khăn trong thu hồi

Theo ông Lê Văn Dũng, Phó trưởng Ban Quản lý KKT Dung Quất, tại đây hiện có ít nhất 15 dự án tiền tỉ bị bỏ hoang. Ban Quản lý KKT gặp khó khăn trong việc thu hồi hay để chờ chủ đầu tư triển khai tiếp.

Thống kê của Ban Quản lý KKT Dung Quất, hiện có 27 dự án đã được cấp phép nhưng chậm tiến độ. Trong đó, 6 dự án do chậm giải phóng mặt bằng, số còn lại do chủ đầu tư gặp khó khăn về tài chính. Dự kiến, sẽ thu hồi 9 trong số 21 dự án khó khăn về tài chính do ban quản lý đã nhiều lần đôn đốc nhưng chủ đầu tư không thể triển khai. 12 dự án “bỏ hoang” còn lại sẽ xem xét điều chỉnh gia hạn đầu tư.

Ông Lê Văn Dũng cho rằng phức tạp hiện nay là việc xử lý những dự án đã phát sinh tài sản trên đất. Những dự án này, ban quản lý sẽ thành lập hội đồng để xác định giá trị tài sản rồi tiến hành thu hồi, chờ giao cho nhà đầu tư mới hoặc phối hợp nhà đầu tư xử lý theo phương hướng mua bán và sáp nhập.

Theo Ban Quản lý KKT Dung Quất, chỉ năm 2012, đã thu hồi khoảng 10 dự án, với tổng số vốn đầu tư gần 1.000 tỉ đồng. Trước đó, năm 2011, đã thu hồi 12 dự án với tổng số vốn 1.650 tỉ đồng.

Chậm tiến độ một nhà máy, đe dọa thiếu điện cả miền Nam

Ngay trong ngày Chính phủ đồng ý về nguyên tắc cho chỉ định tổng thầu dự án, chủ đầu tư vội vàng ký kết với công ty trực thuộc gói thầu xây dựng nhà máy nhiệt điện lên đến 1,2 tỉ USD. Tuy nhiên, sau gần 3 năm triển khai, dự án này vẫn ì ạch.

Ðó là tình cảnh tại dự án Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 (huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng) do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) làm chủ đầu tư. Việc chậm tiến độ của dự án có công suất thiết kế 1.200 MW này đưa đến nguy cơ thiếu điện ở khu vực miền Nam vào các năm 2015-2016.

Ngày 28-12-2010, khi Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đồng ý về nguyên tắc, PVN ký ngay hợp đồng tổng thầu EPC (thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình) trị giá 1,2 tỉ USD với Tổng Công ty CP Dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam (PTSC). Thời điểm đó, nhà thầu này tuyên bố sẽ đưa tổ máy số 1 vận hành vào năm 2014 và hoàn thành toàn bộ nhà máy vào 2015. Tuy nhiên, đến nay, không có dấu hiệu nào cho thấy dự án này có thể hoàn thành đúng tiến độ đã cam kết. Trong khi đó, cơ quan chức năng xác định PTSC không đủ kinh nghiệm để thầu thi công nhà máy nhiệt điện. Từ thực tế trên, tháng 3 năm nay, PVN lại đề nghị Chính phủ cho phép thay thế tổng thầu, đồng thời xin được nâng mức đầu tư do vật giá gia tăng theo thời gian.

Trước diễn biến trên, nhiều bộ, ngành đã lên tiếng phản ứng. Trong văn bản gửi PVN, Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương) đề nghị sớm chấm dứt hợp đồng với tổng thầu PTSC.

Trong khi đó, Bộ Tài chính khẳng định khi đồng ý về nguyên tắc cho PVN tiến hành chỉ định tổng thầu, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng giao tập đoàn này chịu trách nhiệm về việc lựa chọn nhà thầu. “Trong trường hợp dự án không bảo đảm chất lượng, tiến độ và hiệu quả kinh tế do các nguyên nhân từ việc lựa chọn tổng thầu EPC, đề nghị PVN và PTSC có giải trình để báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nguyên nhân và trách nhiệm” – công văn Bộ Tài chính nêu rõ.

Q.Lâm

http://vietstock.vn/2013/09/bong-ma-nhung-cong-trinh-tien-ti-763-313169.htm

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

►Thêm những nghi vấn về Hồ Chí Minh

Posted by hoangtran204 trên 06/09/2013

Xích Tử

Tác giả gửi đến Dân Luận

Chia sẻ bài viết này

BTV Dân Luận: Nghi vấn ông Hồ Chí Minh là người Việt Nam hay người Đài Loan như tác giả Xích Tử đề cập trong bài viết, vốn đã được bàn tán mổ xẻ khá nhiều trong thời gian vừa qua, tôi (Hồ Gươm) đã có dịp trò chuyện trao đổi với một nhà văn nổi tiếng (xin được phép không nêu tên ở đây) mà bản thân ông và những thành viên trong gia đình đã từng có những sinh hoạt khá gần gũi với ông Hồ, ông tỏ vẻ hoài nghi về giả thiết ông Hồ là người Đài Loan như tác giả cuốn sách “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” nêu ra.

Tuy nhiên, một nhà khoa học khác có uy tín mà mới đây tôi có dịp tiếp xúc, lại tỏ ra rất quan tâm tới giả thuyết trên vì ông cho rằng, nếu nghi án của ông Hồ Tuấn Hùng được chứng minh, thì sẽ làm sáng tỏ được rất nhiều điều tưởng chừng như là “vô lý” được thể hiện qua cách hành xử, hay có trong một số tác phẩm của ông Hồ.

Vì lẽ đó, bài viết của tác giả Xích Tử, tuy có nhiều nguồn thông tin chưa được kiểm chứng nhưng cũng xin được phổ biến tới bạn đọc để mọi người quan tâm cùng tham khảo.

Ông Phạm Quế Dương có bài viết trên danlambaovn.blogspot.com “Đề nghị làm sáng tỏ vụ việc: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam hay Đài Loan”.

Đây là vấn đề xôn xao hơn mười năm qua, khi xuất hiện công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh của Hồ Tuấn Hùng cùng một số bài viết rất công phu của Huỳnh Tâm được đăng trên trang blog nói trên.

Với tiêu đề bài viết, ông Phạm muốn lãnh đạo Việt Nam làm rõ, tức là công khai thông tin hoặc thái độ về vấn đề này. Tuy nhiên, dù vậy, ông cũng thừa hiểu là không bao giờ có việc ấy. Do đó, mục đích chính của bài viết, theo chỗ tôi hiểu, là nêu vấn đề, tạo nên một nghi án để nghiên cứu, để lịch sử đừng bỏ qua.

Là một người quan tâm đến mức bị ám ảnh câu chuyện, xin đưa ra một số chi tiết, giả thiết để những người cùng quan tâm tham khảo:

1. Ông Hồ Cẩm Đào, lúc còn tại vị, có lần khi nói về quan hệ Việt Trung, cho rằng mối quan hệ này còn nhiều bí mật, phải 50 năm nữa mới nói ra được. Trong hàm ý của ông, một trong những bí mật đó là Hồ Chí Minh. Thời gian 50 năm cũng trùng với thời gian mà Trung Quốc quyết tâm “thu hồi” Đài Loan.

2. Trong một tài liệu của Chương Thâu viết về Phan Bội Châu, có kể về việc năm 1905, trước khi xuất dương lần đầu để hoạt động yêu nước, Cụ Phan có tổ chức một buổi tối thơ rượu chia tay ở nhà mình. Trong buổi gặp mặt, có cụ Nguyễn Sinh Sắc cùng 2 con trai; Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung lúc đó ở tuổi 14 – 16, hầu rượu. Như vậy, giữa Nguyễn Sinh Cung và cụ Phan có quan hệ thân tình của đồng hương và gia đình, và sau này, ở lý tưởng yêu nước, giải phóng dân tộc.

Trong những năm 1924, 1925, Nguyễn Ái Quốc gặp lại cụ Phan ở Trung Quốc, cùng chia sẻ một số hoạt động của tổ chức cách mạng. Nguyễn Ái Quốc gián tiếp tổ chức một số cuộc gặp giữa cụ Phan với M. M. Borodine, đại diện của Liên Xô tại Trung Hoa Dân Quốc. Sau cuộc gặp ấy, tuy không tin được vào “người Nga xảo quyệt ấy” như cụ đã viết trong “Tự phán”, song có lúc cụ định ngả sang phía cộng sản. Cụ Phan tỏ ra rất quí Nguyễn Ái Quốc. Ngày 14/2/1925, cụ có viết cho Nguyễn một bức thư với nội dung thể hiện sự quí trọng và quan hệ khăng khít này “Nhớ lại hai mươi năm trước đây, khi đến nhà cháu uống rượu gò án ngâm thơ, anh em cháu đều chửa thành niên, lúc đó Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này. Bây giờ đem so kẻ gì này với cháu thì bác thất rất xấu hổ. Nhận được liên tiếp hai lá thư của cháu, bác cảm thấy vừa buồn vừa mừng. Buồn là buồn cho thân bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh sáng ban mai. Ngày xế đường cùng, chỉ sợ không được thấy ngày đó, làm sao bác không cảm thấy buồn cho chính mình được? Một đời tân khổ, gánh vác công chuyện một mình, được sức lớn của cháu giúp vào thì ắt sẽ có nhiều người hưởng ứng theo. Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai để nhờ ủy thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có được niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao bác không cảm thấy vui mừng được.

Bác đang định tìm một dịp tốt về Quảng Đông một chuyến để đàm luận với cháu, không biết cháu còn ở lại Quảng Đông lâu mau, hoặc giả trong tương lai có định đi chỗ khác không? Trong lòng bác có nhiều chuyện muốn hỏi ý kiến cháu, nhưng không gặp mặt thì làm sao có thể bàn cho hết ý được? Làm sao được? Nếu không coi già yếu là đồ bỏ thì cháu viết thư nhiều cho bác, bác thành thật yêu cầu cháu đấy.

Cần nhắc lại là Phan Bội Châu lúc rời nước đã gần bốn mươi (ba mươi chín tuổi đến Nhật) lại không thể tránh khỏi những trách nhiệm này nọ đặng chuyên chú học hành, cho nên tri thức lúc bấy giờ cũng vẫn như xưa. Cháu học vấn rộng rãi, và từng đi nhiều nơi, hơn bác cả chục cả trăm lần. Tri thức và kế hoạch của cháu vượt sức đo lường của bác; không biết cháu có thể chia sẻ cùng bác một hai việc? Bác rất hết sức mong đợi, mong cháu không ngại. Vì nếu không có kế hoạch thì bất quá chỉ làm những khách tha hương than thở không đâu cho hồn cố quốc, chả giống ông Hy Mã thì cũng giống Phan Bội Châu mà thôi! “ ( )

Một số tài liệu ghi lại những hợp tác hoạt động giữa cụ Phan và Nguyễn Ái Quốc trong khoảng thời gian 1924 – 1925 bằng sự chuyển tiếp giữa nhóm Tâm Tâm Xã và Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên. Tuy nhiên, giữa hai người vẫn tồn tại khoảng cách, vẫn giữ bí mật về hành tung và từ đó tồn tại nghi vấn về việc Nguyễn Ái Quốc tham gia việc tổ chức bán cụ Phan cho Pháp.

Điều lạ nhất là từ ngày cụ Phan bị bắt (30/6/1925) đến khi cụ mất (29/12/1940) và cho đến cả 2/9/1969, cả Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh không có một dòng nào về người bác, người đồng chí vong niên và đồng hương vĩ đại này. Đây là thái độ của một người hay hai người?

3. Có chuyện kể rằng người chị của Nguyễn Sinh Cung – Hồ Chí Minh có ra thăm em sau khi cách mạng thành công. Chuyến thăm chỉ diễn ra trong một đêm, tức là từ chiều hôm trước và đến sáng hôm sau thì được tổ chức về quê ngay. Chuyện kể chỉ nói lại là khi thấy mặt “em trai”, bà Thanh xác nhận đó chính là “cậu ấy”. Câu nhận xét đó chỉ là truyền khẩu, và không biết tác giả của nó là ai.

4. Tài liệu sau này thống kê là cứ khoảng 5- 6 ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh có một chuyến đi thăm cơ sở trong suốt đời làm Chủ tịch nước. Tuy nhiên, trong 9 năm kháng chiến, cụ không thể được sắp xếp để về thăm quê. Hòa bình lập lại 3 năm, cho đến năm 1957, cụ mới về quê lần đầu tiên, với sự chuẩn bị rất chu đáo. Đó là một chuyện lạ. Và thêm 2 chi tiết đáng chú ý : 1) Khi đi vào nhà cũ, cụ khéo léo nhường các cụ bô lão đi trước (có thể để dấu việc đi nhầm) và, 2) Cụ chọn thời gian về là mùa lạnh, nên ăn mặc rất kín đáo (hãy xem kỹ các tấm ảnh tư liệu). Hồ Chí Minh cả đời cũng không nói đến việc họ hàng, giỗ kỵ; khi ông anh cả (nếu đúng) mất, cụ cũng “vì việc nước” không về dự được.

5. Việc Hồ Chí Minh viết trong Di chúc, nguyện vọng được hỏa táng để lấy tro rắc lên các miền đất nước, không loại trừ khả năng phi tang nhân dạng. Giai đoạn 1965 – 1968, tục hỏa táng hoàn toàn chưa có ở VNDCCH.

6. Trong các tài liệu đã công khai ở Đài Loan như đã nói, cho rằng Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, gốc Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan, do Quốc tế cộng sản cài thay thế Nguyễn Ái Quốc. Một số tài liệu khác cho rằng Hồ Tập Chương gốc người Hakka, người Hẹ, sống ven biển đông nam Trung Quốc và Đài Loan. Ngoài chi tiết giống nhau là do Quốc tế cộng sản cài thay thế, được đào tạo 5 năm để “giống” Nguyễn Ái Quốc, kể cả thay đổi nhân dạng, tác giả Huỳnh Tâm trên danlambao còn cung cấp những chứng cứ Hồ Chí Minh – Hồ Tập Chương là người của tình báo Trung Quốc. Điều này còn liên quan một số chi tiết ở mục 7, 8 dưới đây.

7. Việc chị em Nông Thị Xuân bị giết, không loại trừ nguyên nhân những người này, do gần gũi, đã biết con người Hồ Chí Minh thật. Từ đó, cũng không loại trừ những người tham gia kịch bản tai nạn giao thông gây chết Nông Thị Xuân và người em gái của bà bị giết bí mật khi bỏ trốn về quê là người của tình báo Trung Quốc.

8. Việc Hồ Chí Minh từ chối liên lạc với bà Tăng Tuyết Minh có thể sợ bị lộ và không được phép của phía Trung Quốc vì bà Minh có quan hệ với Lý Thụy- Nguyễn Ái Quốc chứ không phải với Hồ Chí Minh.

9. Cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” được Trần Dân Tiên – Hồ Chí Minh viết lúc nào? Tôi cho rằng có thể nhiều người cùng tham gia viết, trong đó có Hồ Chí Minh; và cuốn sách đã được khởi thảo từ những năm 30 khi có một Hồ Tập Chương thực hiện công cuộc huấn luyện và tự huấn luyện để trở thành Nguyễn Ái Quốc. Trong giai đoạn “Nguyễn Ái Quốc” về nước, thành lập Việt Minh, tiến hành cướp chính quyền 1945, và sau đó kháng chiến chống Pháp, không thấy có tài liệu nào nói đến việc ông viết một cuốn sách tương tự. Bỗng dưng nó được xuất bản ở Trung Quốc năm 1948 (ông Phạm dẫn tài liệu của Sophie Quinn-Judge nói năm 1949), rồi ở Pháp năm 1950 và đến 1958, lần đầu mới xuất bản ở VNDCCH. Theo ý trên, tôi nghĩ rằng cuốn sách có thể bắt đầu từ Moskva, sau đó hoàn chỉnh và xuất bản ở Trung Quốc, với sự tham gia dàn dựng của Quốc tế cộng sản và Đảng CSTQ.

10. Việc Trung Quốc nhường cho Việt Nam đảo Bạch Long Vĩ kèm theo cả tàu thủy để ra vào trong khi vẫn kiên trì bành trướng xuống Đông Nam Á có khi cũng là vì Hồ Chí Minh, trong đó có cả khả năng giải thoát cho ông bằng đường biển trong trường hợp có biến động.

11. Có một nữ điệp viên CIA gốc Việt, tác giả của cuốn hồi ký Nghìn Giọt Lệ Rơi, là con của một cán bộ cao cấp trong Đảng CSVN, người miền nam tập kết ra bắc, kể rằng sau 1978, bà có đến Trung Quốc và được gặp Hoàng Văn Hoan. Trong câu chuyện, ông này cũng nói rằng về lịch sử cách mạng Việt Nam, quan hệ Việt Trung, quan hệ giữa ông với Hồ Chí Minh, còn nhiều việc chưa thể nói được. Cần ghi nhận những bí mật đó. Mặt khác, từ những chi tiết này, có thể nghi ngờ về sự liên hệ của nhiều lãnh đạo cao cấp của Việt Nam với tình báo Trung Quốc. Có thể bố của nữ điệp viên nói trên, ông Hoan, những người tiền bối của ông Hoan là như vậy; còn nữ điệp viên này, phải bắt tay hoạt động song trùng với CIA, một phần là để giữ an toàn cho bố.

12. Có một số nghi vấn liên quan đến ngôn ngữ:

– Giọng đọc tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh được ghi lại năm 1945không phải là giọng Nghệ An.

– Tự dạng bút lục của Nguyễn Ái Quốc so với Hồ Chí Minh rất khác (so sánh những đơn của Nguyễn Ái Quốc gửi Toàn Quyền Đông Dương xin phân công việc cho bố, đơn xin học trường thuộc địa với Di chúc)

– Nguyễn Ái Quốc chưa bao giờ có ý cải cách chính tả tiếng Việt theo kiểu chuyển ph thành f; gi, d thành z.

– Với trình độ chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp của Nguyễn Ái Quốc, không thể có quá nhiều lỗi chính tả tiếng Việt như trong bản thảo Di chúc.

13. Tất cả những nghi vấn nói trên và sự thật đàng sau nó, thì có thể Trường Chinh, và đặc biệt, Lê Duẩn, sau thời gian hoạt động trong giới Hoa kiều Chợ Lớn, đã biết. Thái độ xem thường, vô hiệu hóa của ông này với Hồ Chí Minh cho đến cuối đời thể hiện một động thái bất thường mà nhìn từ con mắt văn nghệ, chỉ có thể đặt câu hỏi như kiểu Sơn Tùng và “chuyện kể rằng…” của Trần Hoàn.

Và v.v..Nếu tất cả những cái ấy được giải mật, được công khai, ngôi nhà “cách mạng” Việt Nam sẽ đổ sụp. Chính vì vậy mà phải tiếp tục kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa, định hướng chuyên chế độc quyền lãnh đạo, định hướng qụy lụy vào Trung Quốc để cam chịu số phận như một nghiệp chướng của dân tộc. Dù thế nào đi nữa, khi trình bày những nghi vấn này, quan sát kỹ những khuôn mặt nghiêm trang đến buồn thảm của các vị lãnh đạo vào Lăng viếng Chủ tịch dịp 2/9 năm nay, tôi thấy lại một lần, cũng rất buồn thảm cho đất nước.

Xích Tử

——

 

Đề nghị làm sáng tỏ vụ việc: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam hay Đài Loan

Phạm Quế Dương (Danlambao)

Gần đây, dư luận sôi động về việc Đài Loan xuất bản cuốn sách “Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh” (Hồ Chí Minh sinh bình khảo), do nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành ngày 01-11-2008. Tác giả là Hồ Tuấn Hùng, giáo sư đã từng dạy học hơn 30 năm, tốt nghiệp trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan, khoa lịch sử. Người dịch ra tiếng Việt Nam là Thái Văn (không biết là người Việt Nam hay Trung Quốc).

Sách chủ yếu nói về Nguyễn Ái Quốc. Sau vụ án Hương Cảng, 1931 cụ sang Liên xô nhưng bị lao phổi và chết ở Liên xô từ năm 1932. Sau đó, Quốc tế Cộng sản phân công Hồ Tập Chương, người Đài Loan, cùng hoạt động với cụ Nguyễn Ái Quốc thay cụ Nguyễn Ái Quốc làm cách mạng ở Việt Nam. Ông Hồ Tập Chương lấy tên là Hồ Chí Minh. Tác giả Hồ Tuấn Hùng là người Đài Loan và là cháu ruột của Hồ Tập Chương. Sách gồm 6 chương, dày 342 trang khổ 15×21 cm.
Nguyên văn lời tựa như sau:
“Thay lời tựa
Màn đầu bóc gỡ tấm mạng che huyền bí
Tấm mạng huyền bí che mặt Hồ Chí Minh”.
Các nhà lãnh đạo nổi tiếng trong lịch sử hiện đại, ít nhiều đều có những bí mật riêng giống như tấm mạng che mặt. Những bí mật này rất ít khi được công khai minh bạch, trong đó, Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam là một trường hợp điển hình. Cho dù hiện giờ đã là thiên niên kỷ thứ hai, kỹ thuật truyền thông hiện đại có mặt khắp nơi, Hồ Chí Minh yên nghỉ trong quan tài thủy tinh tại lăng Ba Đình Hà Nội đã bốn mươi năm, nhưng hoàn cảnh gia đình, lịch trình học tập, khả năng ngôn ngữ, lý tưởng động cơ cách mạng, thực trạng hôn nhân, quá trình hoạt động tại Quốc tế cộng sản, thậm chỉ ngày sinh và ngày mất cũng vẫn còn tồn tại rất nhiều nghi vấn. Mặc cho các tác giả viết truyện ký tìm mọi cách lắp ghép tư liệu, cuối cùng, vẫn không thể nào dựng lại được và trình bày một cách thuyết phục chân dung lịch sử Hồ Chí Minh.
Hai người này là một?

Nhà sử học Việt Nam, giáo sư Nguyễn Thế Anh, tiến sĩ văn học và nhân văn Đại học Sorbonne, Paris, Pháp, từng là giám đốc Đại học Thuận Hóa, chủ nhiệm khoa Văn Sử Đại học Sài Gòn, giáo sư thỉnh giảng Đại học Harvard Hoa Kỳ, chủ nhiệm khoa Lịch sử văn hóa Đông Dương, Đại học Sorbonne, đã dày công nghiên cứu về Hồ Chí Minh và có những kiến giải độc đáo. Trong tác phẩm “Con đường chính trị của Hồ Chí Minh”, Nguyễn giáo sư từng nói: 

“Cho dù không thiếu những tác phẩm viết về Hồ Chí Minh, cho dù ông đã mất từ lâu, nhưng vẫn còn tồn tại khá nhiều nghi vấn và mâu thuẫn trong cuộc đời nhân vật chính trị này. Do ông có thói quen che giấu quá khứ và những hoạt động của mình, ông cố ý xóa sạch các dấu vết, vì thế, mọi cố gắng tìm hiểu những chi tiết chân thực trong cuộc đời hoạt động của ông chẳng khác gì đứng trong đám mây mù vần vụ mà thưởng hoa vậy. Vì thế, ta chỉ có thể suy đoán mà thôi. Hồ Chí Minh có đến 3 cái tên giả, tự mình kể chuyện về mình đầy tràn sắc thái thần bí với nhiều sự hàm hồ, vô vàn tình tiết nghi hoặc, chẳng những không thể phân tích rõ ràng, mà còn bỗng nhiên tự tâng bốc mình với mục đích tuyên truyền cho sự nghiệp chính trị hoặc là một thánh nhân. Tuy vậy, các nhà sử học đã trường kỳ nghiên cứu, nỗ lực bóc gỡ dần lớp màn che phủ vốn làm chân dung Hồ Chí Minh bị biến dạng hoặc bị tô vẽ thái quá qua các tác phẩm truyện ký, chỉ có điều là vẫn chưa tìm ra điểm mấu chốt.”

Nhà sử học Hoa Kỳ, giáo sư William J. Duiker, là một học giả trác việt chuyên nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Thời kỳ chiến tranh Việt Nam, William J. Duiker làm việc ở Đại sứ quán Hoa Kỳ, trước sau có gần ba mươi năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh, đã được một số Quỹ và Hội học thuật Hoa Kỳ tài trợ. William J. Duiker cũng thông thạo các tiếng Anh, Pháp, Nga và Việt, đã vào đọc hầu hết các thư viện lớn nhỏ châu Á, châu Âu và châu Mỹ, trong đó có nhiều lần cùng đi với các quan chức chính quyền Việt Nam sưu tầm tư liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh, và đã tìm được những tài liệu quý hiếm.

Vào năm 2000, William J. Duiker hoàn thành tác phẩm “Truyện Hồ Chí Minh”, xuất bản bằng tiếng Anh, dày 700 trang, tuy nhiên chính ông cũng phải thừa nhận, không thể nào tìm được những tài liệu ở cơ quan đầu não, bởi luôn có sự ngăn cản việc tìm ra sự thật. William J. Duiker nói: 

Những tài liệu nằm ở Trung tâm Lưu trữ Hà Nội đều không cho người Việt Nam và người nước ngoài thâm nhập tìm hiểu, nghiên cứu. Cũng như vậy, ta không thể tìm những tài liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh ở Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa. Nhà cầm quyền Trung Quốc và Liên Xô hầu như ít khi để lộ những thông tin thuộc loại này.”

Học giả Anh Quốc Sophie Quinn- Judge (hiện nay sống ở Philadelphia, dạy ở Temple University) cũng là một chuyên gia nghiên cứu về Hồ Chí Minh, từng được Quỹ Mike và Viện nghiên cứu Trung ương Đại học London tài trợ.

Bà đã đến Việt Nam, các nước Đông Nam Á và Nga Xô, tìm được những chứng cứ mới nhất trong hồ sơ của Quốc tế cộng sản và tình báo Pháp làm cơ sở cho công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Năm 2002, Sophie Quinn – Judge đã xuất bản tại London cuốn sách “Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941”.

Trong lời nói đầu, tác giả nói rõ, lấy “truyền kỳ về con người hai mặt” làm tiêu đề, bởi vì, đối với Hồ Chí Minh còn rất nhiều điều nghi vấn, đặc biệt tiêu đề chương sáu, dùng sự kiện “Chết ở Hương Cảng, mai táng ở Mạc Tư Khoa”, coi đó là câu đố về chuyện sinh tử của Hồ Chí Minh, đồng thời đặt dấu hỏi nghi ngờ.

Vì ông Hồ Chí Minh cố tình che giấy tung tích của mình đã đưa đến nghi vấn ông có phải Hồ Tập Chương người Đài Loan hay không.

Trong phần giới thiệu tóm tắt ở trang 6, Sophie Quinn-Judge viết: 

Hồ Chí Minh tìm mọi cách để giấu đi quá khứ của mình. Nhiều năm qua, những thứ mà ông đã cung cấp toàn là loại “dật sử”, thường là mâu thuẫn nhau, không mấy liên quan đến cuộc đời thực. Đầu tiên là tập tự truyện xuất bản vào năm 1949 tại Trung Quốc, năm 1950, được xuất bản bằng tiếng Pháp tại Paris, mấy năm sau lại xuất bản tại Việt Nam với nhan đềNhững mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch.

[Tác giả hay Ai đã đứng ra xuất bản tự truyện năm 1949 ở TQ và 1950 ở Paris? Tìm lại tài liệu ở mấy nhà xuất bản này thì có thể biết người chủ trương xuất bản là ai? Nhà XB đã trả tiền bản quyền sách cho ai?  Đối chiếu với năm 1949 và 1950, xem tác giả đang ở đâu? Theo tài liệu, đầu năm 1950, HCM đã đi qua TQ gặp Mao cầu viện để xin viện trợ vũ khí, quân dụng… và sau đó sang Nga gặp  Joseph Stalin xin giúp đỡ- TH]

Qua cuốn sách, người đọc biết rất rõ là, tất cả cái gọi là sự thật ấy đều do Hồ Chí Minh bịa đặt. (Tác giả nhận xét, “Truyện Hồ Chí Minh”, bút danh Trần Dân Tiên, bản Trung văn, “Ba Nguyên thư ốc” Thượng Hải xuất bản năm 1949. Năm 1958, cuốn sách đổi tên là “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”, xuất bản bằng tiếng Việt tại Hà Nội).

Năm 1962, nhà Việt Nam học Bernard Fall phỏng vấn Hồ Chí Minh, có hỏi đến những chi tiết mập mờ trong cuộc đời của ông, Hồ Chí Minh trả lời: “Các ông già khi vui vẻ thường tự tạo ra cho mình một chút thần bí. Tôi cũng bắt chước người xưa làm ra vẻ thần bí một chút, chắc ngài có thể hiểu được”.

Việc này chẳng biết Bernard Fall có hiểu được hay không, nhưng William J. Duiker trong cuốn sách nổi tiếng “Truyện Hồ Chí Minh” đã viết: Không khí thần bí bao bọc xung quanh Hồ Chí Minh luôn luôn được duy trì, chí ít ra là trong các tác phẩm tự truyện như thế này”.

Hồ Chí Minh có phải đến từ Đài Loan?

Vì sao cho đến lúc qua đời Hồ Chí Minh vẫn không tự nói ra những bí mật của mình? Chấp nhận nằm trong quan tài thủy tinh để lại cho người đời biết bao câu hỏi nghi ngờ? Vì sao các tư liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh trong hồ sơ lưu trữ tại các nước Pháp, Anh Quốc (bao gồm cả Hương Cảng), Mỹ… đến nay từng bước đã được giải mật, vậy mà nhà nước Việt Nam, Trung Quốc và Nga vẫn xếp vào loại tuyệt mật, cất giữ trong hòm kín?

Các chuyên gia, học giả nghiên cứu về Hồ Chí Minh nhận thấy rất rõ, trong hồ sơ giản lược về cuộc đời ông, trước sau đều phát sinh mâu thuẫn, nhưng không biết làm cách nào tìm được cách giải thích hợp lý. Hàng loạt những sự kiện nghi vấn trên dường như tạo hứng thú cho người ta bỏ nhiều thời gian, công sức tìm tòi tư liệu để viết về thân thế Hồ Chí Minh. Việc này cũng giải thích vì sao, giới lãnh đạo cao cấp Việt cộng, Trung cộng và Quốc tế cộng sản, phàm là các sử liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh, đều nhất loạt được che giấu, tô vẽ hoặc ngụy tạo.

Nhiều năm trước, một người bạn thương gia Đài Loan đã nói với tôi: “Hồ Chí Minh là người họ Hồ ở Miêu Lật, Đồng La, ông có biết không?”. Tin đồn về Hồ Chí Minh thuộc Hồ tộc ở Miêu Lật, Đồng La đã hai lần tôi trực tiếp nghe được. Thông tin này làm tôi vừa nghi ngờ vừa phấn khởi.

Đây phải chăng là dự báo về thân phận Hồ Chí Minh sắp được giải mật? Có một người họ Hồ, nhân viên Đảng vụ Quốc dân đảng, thuộc dân tộc Khách Gia Quảng Đông, sinh vào năm Dân Quốc thứ năm mươi, trong dịp về tế tổ họ Hồ ở Miêu Lật có hỏi thân phụ tôi: “Hồ Chí Minh với ông là như thế nào mà có tin đồn ông ta cũng là người Miêu Lật?”

Một người nữa là thày thuốc họ Hà kể lại, năm 1945, ông đã theo quân đội Quốc dân đảng đến Hà Nội có nghe một người Hoa làm nghề buôn thịt lợn nói rằng, Hồ Chí Minh là người đến từ Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan. Người anh họ của tôi cũng bảo: “Năm Dân Quốc thứ sáu mươi, anh cùng ông chú đến Bộ Ngoại giao Đài Bắc hỏi thăm tung tích Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) cùng những vấn đề liên quan đến thân phận ông, nhưng không có được câu trả lời cụ thể”. Thời gian gần đây tôi đã hai lần được nghe từ miệng một thương nhân Đài Loan ở Việt Nam nói rõ, Hồ Chí Minh là người Miêu Lật, Đồng La, nhưng không thể kiểm chứng được nguồn gốc thông tin, bởi không một lãnh đạo chóp bu nào của Việt Nam chịu tiết lộ bí mật.

Từ Việt Nam, tin đồn Hồ Chí Minh là người thuộc họ Hồ sinh quán ở Miêu Lật, Đồng La truyền về Đài Loan, khiến tâm trạng tôi vốn dĩ trầm lặng bỗng nhiên như cháy bùng lên. Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam là người Đài Loan!

Như vậy, lời truyền khẩu được lưu trong ký ức gia tộc họ Hồ ở Miêu lật, Đồng La thực ra chẳng phải là bí mật của Ông Trời, vấn đề là, chưa tìm được chứng cứ đủ sức thuyết phục mà thôi. Trước đây ít năm, gia tộc có phát hành nội bộ cuốn sách “Giải nghĩa ‘Nhật ký trong tù’ của Hồ Chí Minh”. Qua sơ bộ nghiên cứu tư liệu thì Hồ Chí Minh đúng là người họ Hồ ở Miêu Lật, Đồng La. Đại thể là, không có lửa làm sao có khói, chỉ tiếc sức lực có hạn, không tìm được chứng cứ để liên kết các sự kiện.

Mấy năm nay, các loại sách báo, tranh ảnh lưu hành rất tiện lợi. Mạng Internet phát triển nhanh chưa từng thấy. Các sử liệu liên quan đến Hồ Chí Minh lần lượt xuất hiện. Tin đồn Hồ Chí Minh là người Đài Loan từng bước được lịch sử xác nhận qua các phương pháp giám định khoa học. Vì thế, để tìm hiểu xem Hồ Chí Minh có phải là người Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan hay không, cần phải khẳng định hai sự kiện sau:

1 – Hồ Chí Minh thời kỳ (1890 – 1932) là Nguyễn Ái Quốc của Việt Nam.

2 – Hồ Chí Minh thời kỳ (1933 – 1969) là Hồ Tập Chương của Đài Loan.

Nói cách khác, truyền kỳ về Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh, nửa đời trước là lãnh tụ cộng sản Việt Nam Nguyễn Ái Quốc, nửa đời sau là nhân sĩ Quốc tế cộng sản Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan. Hai người cùng có quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng đạt được những thành tựu trong cuộc đời hoạt động.

Nguyễn Ái Quốc là lãnh tụ sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng là đại biểu Quốc tế cộng sản. Do đảng viên cộng sản Pháp Joseph Ducroix, bí thư Công hội Thái Bình Dương, Quốc tế cộng sản bị bắt tại Singapore, sau khi truy vấn, cảnh sát đã bắt được hai phái viên của Cục Viễn Đông Quốc tế cộng sản là Hilaire Noulens ở Thượng Hải và Nguyễn Ái Quốc ở Hương Cảng. Không may, vào mùa thu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc trên đường trốn chạy từ Hương Cảng đến Thượng Hải bị mắc bệnh lao phổi qua đời.

Mùa hè năm 1929, Hồ Tập Chương từ Đài Loan đến Thượng Hải, được Cục Viễn Đông phái đến làm việc tại “Liên minh mậu dịch Thái Bình Dương”. Cũng bởi có liên quan đến vụ án Hilaire Noulens, ông phải trốn đến Quảng Châu rồi lại chạy sang Quảng Tây, Xiêm La, cuối cùng về Hạ Môn.

Đầu năm 1933, Hồ Tập Chương từ Hạ Môn đến Thượng Hải để đi Mạc Tư Khoa. Lúc này, chủ quản bộ phận Việt Nam Quốc tế cộng sản là Vera Vasilieva đặt kế hoạch cho Hồ Tập Chương 5 năm học tập cải tạo để biến thành Nguyễn Ái Quốc, nhằm phủ định sự thật Nguyễn Ái Quốc đã chết, thay thế ông này, bước lên vũ đài lịch sử, diễn vở kịch truyền kỳ Hồ Chí Minh “thật giả kiếp người”.

 

Ông này là ai? Hồ Chí Minh hay Hồ Tập Chương người Đài Loan?

Hồ Chí Minh nửa đời về sau (1933 – 1969) là Hồ Tập Chương, người Đài Loan. Tuy nhiên, sự kiện động trời này chưa từng được lịch sử biết đến, khiến các cho các chuyên gia nghiên cứu hoặc độc giả có hứng thú với nhân vật Hồ Chí Minh vừa sửng sờ vừa nghi vấn. Các chứng cứ của luận điểm này? Độ tin cậy của thông tin như thế nào? Nguồn gốc của tư liệu ở đâu? Mối quan hệ nhân quả về thời gian, không gian và tính logic của vấn đề?

Về trình tự làm cuốn sách, trước hết là trình bày việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và chết bởi bệnh lao phổi vào mùa thu năm 1932. Phần tiếp theo sẽ chỉ ra, Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người, cuối cùng nói đến nửa phần đời sau của Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương đến Từ Đài Loan. Nội dung cuốn sách này hoàn toàn đảm bảo tính khách quan và tính hợp lý với mục đích chỉ để làm rõ một tiên đề giả thiết Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người. Trong quá trình khảo cứu, tôi đã tìm hiểu, so sánh, đối chiếu cẩn trọng các tư liệu liên quan đến cuộc đời Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh, muốn làm một việc công bằng là trả lại sự thực vốn có cho lịch sử, đồng thời để tìm ra lời giải câu đố “Sự bí ẩn trong chuyện sinh tử của Nguyễn Ái Quốc”. Từ sự bí ẩn về thân phận Hồ Chí Minh, tôi đề xuất 5 luận chứng đồng thời cũng là nhan đề của 5 thiên trong “Tìm hiểu cuộc đời Hồ Chí Minh” như sau:

1 – “Hài kịch tráo rồng đổi phượng” (Nguyễn Ái Quốc chết mà sống lại).

2 – “Ve sầu thoát xác, thật giả kiếp người” (Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng lên vũ đài lịch sử).

3 – “Cuộc sống lưu vong phiêu bạt” (Hồ Chí Minh ở Liên Xô và Trung Quốc).

4 – “Khúc bi ca về tình yêu và hôn nhân” (Sự thật về tình yêu, hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh).

5 – “Nhật ký trong tù và Di chúc” (Làm rõ khả năng Hán văn của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh).

Từ cách nhìn lịch sử ở những góc độ khác nhau, lật lại sự kiện Nguyễn Ái Quốc chết bệnh vào năm 1932, và Hồ Chí Minh của năm 1933 là Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan tiếp tục tiếp tục đăng đài thực hiện nhiệm vụ Quốc tế cộng sản giao phó, rất mong được các chuyên gia học giả cùng bạn đọc chỉ giáo. 

 

Thời đại internet hiện đại, nên sách được loan tải trên mạng rất rộng rãi. Nhiều người đến trao đổi với tôi, hầu hết là những người từng trực tiếp tham gia kháng chiến, là bộ đội, là cán bộ tuyên huấn… Một số người phản đối, cho cuốn sách là bịa đặt, “đổi trắng, thay đen”. Một số người thì bảo chuyện này cũng đã được nghe từ lâu. Và tin lời tác giả. Họ dẫn chứng: năm 1957, cụ Hồ Chí Minh về thăm quê ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An mà không ra thắp hương mộ thân mẫu là cụ Hoàng Thị Loan. Năm 1945, khi bắt đầu làm Chủ tịch nước, bà chị là Nguyễn Thị Thanh ở quê ra thăm, cụ Hồ tránh mặt, không dám gặp, chỉ cử 2 cán bộ cao cấp tiếp. 

 

Bản thân tôi rất kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự hào đã 45 năm là “Lính Bác Hồ”, “Bộ đội Bác Hồ.” Khi làm Tổng biên tập báo Phòng Không-Không Quân, ba lần được tiếp xúc với Chủ Tịch khi Chủ Tịch thăm Quân chủng và trận địa tên lửa, viết bài về Chủ Tịch. Nhiều lần về thăm quê Chủ Tịch và thắp hương lễ mộ cụ Hoàng Thị Loan, vào Sài Gòn đến Cảng Nhà Rồng thăm nơi “Bác Hồ đi tìm đường cứu nước.” Nhiều lần vào lăng viếng Bác.

 

Kính mong nhà cầm quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam cử giới khoa học lịch sử làm rõ sự thật vụ việc này. Nếu tác giả bịa đặt thì đưa ra tòa án quốc tế xét xử, làm rõ sự thật. 

 

Ngày 25/8/2013

Đ/C: 37 – Lý Nam Đế – Hà Nội

ĐT: 627 00002

Nguồn: Tập san TỔ QUỐC số 164

 
Những tấm ảnh của HCM chưa được đảng tân trang.

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »