Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám 22nd, 2013

►Đảng mới phải xuất hiện cái đã. Nhưng thời cơ đến chưa?

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2013

Đỗ Thúy Hường

Nguồn: boxitvn.net

21-8-2013

Một đảng mới nếu xuất hiện công khai sẽ bị đảng Cộng sản dìm chết sớm nhất.

Đảng CS còn muốn dìm chết cả ý đồ lập đảng mới.

Không thể mơ hồ, ngây thơ chuyện này.

Từ xưa tới nay là thế.

Đảng của cụ Hoàng Minh Chính (bị dìm chết) là như vậy. Nguyên nhân là ra đời quá sớm, tình thế chưa cho phép. Thời cơ chưa chín.

Nhưng từ nay về sau lại chưa hẳn thế.

Vâng, NẾU (phải có “nếu”).

Nếu khủng hoảng phát triển ngày càng toàn diện (như hiện nay)…

Nếu nông dân, công nhân ngày càng bất mãn (như hiện nay)…

Nếu vụ tham nhũng nào cũng lòi mặt những đảng viên CS…

Nếu một số đảng viên CS già, có quá trình sinh hoạt lâu năm, có công trạng với đảng, với số lượng vài trăm, cùng lúc ra Tuyên bố lập đảng mớithì câu chuyện có thể rất khác.

Đây chính là thời cơ.

Sau đó ít tháng, nếu số lượng lên 500 hoặc 1000, đảng mới sẽ không thể chết nữa.

Do vậy, chúng ta đã có trong tay con số trên chưa? Phải là con số thật, chớ tính trên giấy. Cũng chớ tung toàn lực lượng ra quá sớm trong bước khởi đầu.

Người khởi xướng thích hợp nhất?

Hẳn đó là những người đã từng sống với Việt Nam Cộng hòa và thấy chế độ đó chưa đủ dân chủ (đúng vậy đấy), hy vọng chế độ miền Bắc sẽ khá hơn (theo sự tuyên truyền chính thức trước 1975), nhưng nay – sau 40 năm trải nghiệm – đã hoàn toàn thất vọng. Mọi góp ý với thái độ xây dựng, lễ phép, tôn trọng… đều bị vứt bỏ. Đơn giản như khái niệm nhân quyền mà Đảng Đỉnh Cao vẫn cố tình bóp méo. Thử hỏi, con trông mong gì sự phục thiện?

Nếu lợi dụng được Hiến pháp để lập đảng, tính chính danh sẽ càng cao. Đồng thời vạch rõ: Đảng CS cũng chưa thật chính danh. Nếu nó muốn được ghi vào Hiến pháp (như điều 4) trước hết dân ý phải cho kết quả “tán thành” nó lãnh đạo.

Kèm với “tuyên bố lập đảng” phải là một bản Cương lĩnh dễ hiểu, có những mục tiêu thiết thực, khả thi, đúng tâm nguyện nhiều người. Chớ quên nông dân, công nhân, tiểu thương, dân nghèo. Quả là cuộc sống dưới đáy, dân trí thấp, đồng bào chưa quan tâm những quyền lợi tinh thần (như trí thức quan tâm). Trí thức dễ xa dân là do vậy.

Hướng đồng bào vào mục tiêu xây dựng (tạo diễn biến hòa bình) hơn là hướng cái khối đồ sộ này vào mục tiêu căm thù bọn phản bội lời hứa thời xưa.

Được vậy, sẽ đỡ lo hỗn loạn xã hội.

Nội dung Cương lĩnh phải có một ý: Không chống đảng CS, mà thi đua lành mạnh với đảng CS trong thực hiện các mục tiêu mà “chính đảng CS – trên lời nói – cũng đang phấn đấu cho dân”.

Phải xuất hiện đảng mới, mới có thể ra báo và đưa người ứng cử Quốc hội. Đây mới thật là môi trường thi đua và cạnh tranh giữa các đảng chính trị. Một tờ báo, một đại biểu trong QH đủ làm cán cân nghiêng ngả. Tương lai, dân càng tín nhiệm, cán cân còn thay đổi lớn.

Vẫn hoan nghênh các đảng viên CS tiếp tục bỏ đảng, nhưng sinh lực của đảng mới phải trông vào lớp trẻ… Chỉ có đông đảo lớp trẻ mới hoàn thành mục tiêu khai dân trí, chấn dân khí… đặng thực hiện Cương lĩnh, xây dựng xã hội mới.

Mười năm nữa sẽ có lớp lãnh tụ trẻ.

Đây là chuyện dài, điều cần là phải có đột phá.

Nhưng vấn đề là cần có sự xuất hiện một đảng mới trong hệ thống toàn trị độc đảng. Đó là đột phá khẩu. Cửa đột phá chỉ cần duy trì một năm, đủ để nó tự mở toang, không thể ai bịt lại nữa.

Phải nhắc lại: Hãy thực tâm không chống lại đảng CS.

Chỉ cần đảng CS thay đổi căn bản. Nếu nó không thay đổi, đó là nó muốn tự sát. Thế thì, mặc… mẹ nó chết đi. Ai mà cứu nổi nó, một khi tự nó muốn chết?

Nó chết không vì ai giết, mà vì sẽ tới lúc không đảng viên CS nào muốn cùng chìm theo con thuyền chuyên chở Giáo, Mác, Lê.

Đ.T.H.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Advertisements

Posted in ►Chiến Tranh mạng giữa Blogger VN và Đảng CSVN, Đảng mới | Leave a Comment »

►Nợ xấu bất động sản, sự thua lỗ của doanh nghiệp và Ngân hàng, nợ công của chính phủ…sẽ dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở VN

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2013

Trần Hoàng tóm tắt bài phỏng vấn của đài RFI dành cho Tiến sĩ Phạm Chí Dũng-

Hiệp định TPP mà VN đang khao khát xin vào có các điều kiện như: không chỉ gắn với điều kiện minh bạch về thị trường và cơ chế quản lý kinh tế, mà còn liên hệ mật thiết với các điều kiện về dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam.

Tính minh bạch là một trong những điều kiện đầu tiên để Việt Nam có thể tham gia TPP. Nhưng ở Việt Nam, thì nhà cầm quyền VN luôn luôn thiếu minh bạch, và nay họ sẽ trả giá. Thí dụ: sự chênh lệch giữa các số liệu của nền kinh tế Việt Nam đã góp phần làm chậm bước tiến xin gia nhập Hiệp định TPP của quốc gia này.

Có đến hàng chục ví dụ cho những lời phát ngôn hoặc báo cáo mang tính bất nhất hoặc thiếu trung thực của các bộ ngành liên quan ở Việt Nam, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, khiến người dân và giới bình luận kinh tế quốc tế hầu như không thể có nổi một chút niềm tin bền vững vào cái thực trạng mà người ta gọi thống kê giả hay là “giả số liệu” từ bao nhiêu năm qua.

1./ tỉ lệ nợ xấu bất động sản so với dư nợ thuộc lãnh vực này.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước vào tháng 5/2013 chỉ là 5,68%.

Theo báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG), vào năm 2013, thì lên đến 33-35%    

độ chênh biệt của hai con số đã lên đến 6 lần!

Với mong ước được vào Hiệp Định TPP, Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt của những vấn đề nhạy cảm kinh tế – chính trị đang có chiều hướng bắt buộc bị bạch hóa dưới ánh sáng mặt trời.

Những quan chức can đảm của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã bạch hóa thế này: dư nợ bất động sản và và nợ xấu bất động sản thực chất cao hơn nhiều so với số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng. Và khi một tổ chức của chính phủ phải công bố điều đó, tức tình hình tài chính – bất động sản đang rất nguy ngập rồi.

Ở Thái Lan năm 1997, cuộc khủng hoảng kinh tế do bất động sản gây ra- Trước khủng hoảng, tỉ lệ nợ xấu bất động sản tại quốc gia này được báo cáo chỉ có 5%, nhưng đến khi xảy ra khủng hoảng thì tỉ lệ này đã tăng vọt đến 50%, tức gấp đúng 10 lần.

2./ -Chẳng hạn, trong khi số liệu báo cáo của chính phủ Việt Nam về nợ công quốc gia chỉ là 55% của GDP; tức khoảng 75 tỷ đô la (GDP của VN năm 2012 là 136 tỷ đô la). Nhưng hiện có hai nguồn tin của các nhà chuyên môn đưa ra một con số nợ công quốc gia thật sự lớn hơn gấp 2 lần con số báo cáo của chính phủ. 

-Tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân vào tháng 4/2013 tại Nha Trang, một số chuyên gia phản biện người Việt ở Ba Lan đã tính toán tỷ lệ nợ công quốc gia lên đến 95% của GDP;  mức nợ công tương ứng là 129 tỷ đô la (Ngay lập tức con số này nhận được sự đồng cảm của khá nhiều chuyên gia và cả quan chức Việt Nam. )

-Trước đó vào cuối năm 2012, phản biện đối với báo cáo nợ công của chính phủ, ông Vũ Quang Việt, cựu chuyên viên tài chính của Liên Hiệp Quốc, đã tính toán về tiêu chí nợ nần này lên đến 106%; mức nợ công tương ứng là 141 tỷ đô la ( GDP của VN năm 2012 là 136 tỷ đô la) 

3./ Trong lĩnh vực bất động sản: Trong khi những báo cáo được công bố hầu như liên tục của Bộ Xây dựng chỉ cho thấy con số tồn kho căn hộ vào khoảng 40.000 căn,

-Nhưng tài liệu thống kê của một số hãng tư vấn bất động sản quốc tế có văn phòng ở Việt Nam như CBRE hay Savills lại xác thực hơn nhiều và có thể đang tồn đến 200.000 căn hộ thuộc các phân khúc, trong đó có đến 70% thuộc về phân khúc cao cấp và trung cấp.

-Một số chuyên gia và doanh nhân bất động sản cũng xác nhận có đến chừng đó căn hộ (200.000 căn hộ) đang tồn kho ở Việt Nam.

Chuyên gia người Anh John Sheehan đã dành cho thị trường bất động sản Việt Nam một lời bình đặc biệt: “Tôi chia thị trường thành ba giai đoạn:

_sau khi xảy ra khủng hoảng gọi là giai đoạn phủ nhận, thường khoảng 2 năm;

_giai đoạn xử lý vấn đề nợ xấu mất khoảng 4 năm;

_cuối cùng là khi thị trường phục hồi, mất chừng 6 năm.

Hiện tại, Việt Nam đang ở nấc “phủ nhận””.   

Thị trường Việt Nam đang trong giai đoạn “phủ nhận” với việc người tiêu dùng mất niềm tin và quay lưng với thị trường (không mua nhà và chờ nhà xuống thấp hơn nữa). Nếu không vượt qua được hai năm 2013-2014 và không giải quyết được ít nhất một nửa núi hàng tồn kho căn hộ cao cấp và trung cấp, chưa cần hết giai đoạn phủ nhận, sẽ có không biết bao nhiêu đại gia bất động sản phải chính thức ký vào “bản án tử hình” dành cho mình.

Chuyện gần 200.000 căn hộ các loại tồn kho từ Bắc vào Nam đã là một cái gì đó không thể cứu vãn nổi.

Muốn giải phóng núi căn hộ tồn kho 200.000 căn hộ, thị trường bất động sản Việt Nam có thể phải kiên tâm chờ đợi đến hàng chục năm, nếu quả thực nó muốn chờ và có thể làm được điều đó.

Nhưng kết quả thời gian đến hàng chục năm như vậy lại hoàn toàn có thể khiến thị trường… tự sát.

Bởi nửa đầu của năm 2013 đã trôi qua mà hệ số tiêu thụ căn hộ vẫn hầu như không nhích lên được bao nhiêu.

…trong ngắn hạn năm 2013 và năm 2014, tình trạng nợ khó đòi của các doanh nghiệp bất động sản lại luôn có thể tạo nên địa chấn bùng vỡ cho giới ngân hàng chủ nợ, và kéo theo một làn sóng sụp đổ dây chuyền giữa một số ngân hàng lớn.

Trong khoảng thời gian 20 năm qua (1993-2013), giá nhà đất tại những thành phố lớn trên cả nước đã tăng đến 100 lần. 

Như vậy số phận của các ngân hàng sẽ như thế nào, liệu có chết theo lãnh vực bất động sản hay không ?

Một lần nữa, tính chênh lệch của số liệu báo cáo đã lộ diện: con số tồn kho nhà đất thực tế cao gấp 5 lần số báo cáo. Nếu so lại hai con số chênh nhau đến 6 lần về nợ xấu bất động sản giữa Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia với Ngân hàng Nhà nước thì mọi chuyện đều rất logic (hợp lý).

Nếu cuối năm nay, Việt Nam được gia nhập TPP với tính minh bạch tồi tệ như hiện thời, nhiều người dân và giới bình luận sẽ nhìn rõ một sự phi-logic không thể hiểu nổi.  (phi-logic = bất hợp lý )

+Đây chính là một cái vòng luẩn quẩn mà sẽ dẫn tới “thời điểm Minsky” – tức thời điểm nền kinh tế phải chịu cảnh đổ vỡ dây chuyền, bắt đầu từ khối doanh nghiệp con nợ và ngân hàng chủ nợ không thu hồi được các món nợ, dẫn tới khả năng sụp đổ kinh tế.

Việt Nam sẽ có nhiều triển vọng rơi vào một cơn khủng hoảng mới còn ghê gớm hơn cả khủng hoảng 2008 và đợt suy thoái kéo dài suốt ba năm qua. Khủng hoảng kinh tế lại rất dễ dẫn đến khủng hoảng xã hội – một phạm trù vốn đã tiềm ẩn nhiều mầm mống được thể hiện trên nhiều đường phố. Khi đó, liệu một chính khách cao cấp nào – tổng bí thư, chủ tịch nước hay thủ tướng – có thể dám chắc là không xảy ra một cơn địa chấn về chính trị?

Muốn giải quyết nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản nói riêng thì phải xử lý tồn kho nói chung và tồn kho bất động sản nói riêng; muốn xử lý tồn kho bất động sản lại phải làm tăng tổng cầu và niềm tin tiêu dùng cho nền kinh tế. Nhưng ai cũng biết rằng muốn tăng tổng cầu kinh tế thì phải bơm tiền, trong khi nguồn tiền đang có dấu hiệu cạn kiệt do bị tồn kho và không giải quyết được nợ xấu. Chưa tính tới yếu tố bơm tiền hoàn toàn có thể sinh ra lạm phát…

Máy in tiền sẽ đi vào hoạt đông năm 2014…(nguồn)

Nợ xấu bất động sản có dẫn đến khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam?

Thụy My thực hiện

Theo Đài RFI

Chia sẻ bài viết này

19-8-2013

Gần đây báo chí trong nước đã tỏ ra bất ngờ về tỉ lệ nợ xấu bất động sản, có thể lên đến 33-35% dư nợ thuộc lãnh vực này. Các con số thống kê của nhiều cơ quan khác nhau đưa ra chênh lệch cho đến nỗi, dư luận hết sức lo ngại nếu không đánh giá đúng tình hình, thì không thể nào đưa ra quyết sách đúng đắn, dẫn đến những hậu quả nặng nề cho đất nước.

RFI Việt ngữ đã trao đổi với Tiến sĩ Phạm Chí Dũng ở Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề trên.

RFI: Xin chào Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã vui lòng dành thì giờ cho RFI Việt ngữ. Anh nhận xét như thế nào về tỉ lệ dư nợ bất động sản có nhiều con số khác nhau, mà theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) thì lên đến 33-35% dư nợ ?

TS Phạm Chí Dũng: Con số của UBGSTCQG là một con số bất ngờ và đột biến, tức là đến 33-35% là nợ xấu trong dư nợ thuộc lĩnh vực bất động sản. Con số này được công bố lần đầu tiên, phát lộ vào năm 2013. Điểm hết sức đặc biệt là con số của ủy ban này lại hoàn toàn trái ngược với số báo cáo của Ngân hàng Nhà nước vào tháng 5/2013 chỉ là 5,68%.

Như vậy là, ngay giữa hai cơ quan quản lý mà độ chênh biệt của hai con số đã lên đến 6 lần. Sự khác biệt chưa từng thấy này nói lên điều gì? Nó làm cho người ta có cảm giác Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt của những vấn đề nhạy cảm kinh tế – chính trị đang có chiều hướng bắt buộc bị bạch hóa dưới ánh sáng mặt trời.

Những quan chức can đảm của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã bạch hóa thế này: dư nợ bất động sản và và nợ xấu bất động sản thực chất cao hơn nhiều so với số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng. Và khi một tổ chức của chính phủ phải công bố điều đó, tức tình hình tài chính – bất động sản đang rất nguy ngập rồi.

Cần nhắc lại, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cũng đã có một báo cáo rất chi tiết về các ngân hàng dính dáng đến nợ xấu và nợ xấu bất động sản vào cuối năm 2011. Song khi đó, con số nợ xấu ở nhiều ngân hàng mới chỉ dừng ở mức 10-15% thôi – như vậy đã gọi là cao rồi. Tất nhiên, nhiều ngân hàng vẫn cố giấu kín thực chất nợ xấu của họ. Những gì còn lẩn khuất trong bóng tối vẫn cố thu mình.

Nhưng sau công bố của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia đã làm cho công luận cùng giới bất động sản trong nước kinh ngạc và cho là sát thực tế hơn nhiều các cơ quan khác, bầu không khí số liệu lại trở về thói quen khép miệng của nó. Vào tháng 8/2013, Bộ Xây dựng lại nêu ra một con số mới về tỉ lệ nợ xấu bất động sản chỉ có 6,5% – tức là có cao hơn báo cáo của Ngân hàng Nhà nước gần 1%. Rõ ràng, người ta vẫn quyết tâm phong tỏa số liệu nhằm bưng bít một cuộc khủng hoảng bất động sản – ngân hàng rất có thể sẽ xảy ra.

RFI: Năm 1997, Thái Lan cũng đã bị khủng hoảng tài chính và cũng có nợ xấu như Việt Nam bây giờ. Liệu Việt Nam có đang tái lập kịch bản của người Thái?

TS Phạm Chí Dũng: Có thể. Không khí trái ngược giữa các con số báo cáo và con số thực về nợ xấu ở Việt Nam rất dễ làm người ta nhớ lại trường hợp Thái Lan năm 1997. Trước khủng hoảng, tỉ lệ nợ xấu bất động sản tại quốc gia này được báo cáo chỉ có 5%, nhưng đến khi xảy ra khủng hoảng thì tỉ lệ này đã tăng vọt đến 50%, tức gấp đúng 10 lần.

Chính người Anh đã cung cấp cho giới điều hành mơ màng của Việt Nam cái minh chứng không hề mơ màng đó. Vào đầu năm 2013, John Sheehan – thành viên của tổ chức giám định bất động sản Hoàng gia Anh (FRICS), đã có một chuyến thăm Việt Nam, và đã cung cấp một kinh nghiệm là tỉ lệ nợ xấu thực bao giờ cũng cao gấp ít nhất 4 lần con số báo cáo.

Trong thực tế điều hành và của điều được gọi là “minh bạch hóa” số liệu ở Việt Nam, tỉ lệ nợ xấu được báo cáo thường dao động chỉ từ 6-10%. Nhưng vào cuối năm 2011, trong khi giới chuyên gia bất động sản bắt đầu nói toạc ra rằng có đến 50% nợ bất động sản là nợ khó đòi hoặc không thể đòi được, thì giới ngân hàng cũng bắt đầu thầm thì về chuyện có đến phân nửa nợ xấu ở các ngân hàng A, B nào đó là không thể đòi được.

Có đến hàng chục ví dụ cho những lời phát ngôn hoặc báo cáo mang tính bất nhất hoặc thiếu trung thực của các bộ ngành liên quan ở Việt Nam, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, khiến người dân và giới bình luận kinh tế quốc tế hầu như không thể có nổi một chút niềm tin bền vững vào cái thực trạng mà người ta gọi là “giả số liệu”.

Người Thái hay người Philippines trong cùng khu vực Đông Nam Á là những bài học nhãn tiền cho Việt Nam. Do phủ nhận sự minh bạch trong kiểm soát thị trường, họ đã phải nhận lãnh tai họa.

RFI Việc thiếu minh bạch thì lâu nay Việt Nam vẫn bị chỉ trích. Không biết là có mối liên hệ nào giữa tính minh bạch ấy với việc Việt Nam đang chuẩn bị tham gia Hiệp định TPP?

TS Phạm Chí Dũng: Chắc chắn là có, vì tính minh bạch là một trong những điều kiện đầu tiên để Việt Nam có thể tham gia TPP. Nhưng ở Việt Nam thì thái độ thiếu minh bạch đã phải trả giá. Sự chênh lệch giữa các số liệu của nền kinh tế Việt Nam đã góp một phần rất ấn tượng làm chậm bước tiến vào vòng chung kết TPP của chính nền kinh tế quốc gia này.

Chẳng hạn, trong khi số liệu báo cáo của chính phủ Việt Nam về nợ công quốc gia chỉ là 55%, thì các phản biện của giới chuyên gia độc lập lại lộ liễu hơn nhiều. Tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân vào tháng 4/2013 tại Nha Trang, một số chuyên gia phản biện người Việt ở Ba Lan đã tính toán tỷ lệ nợ công quốc gia lên đến 95%. Ngay lập tức con số này nhận được sự đồng cảm của khá nhiều chuyên gia và cả quan chức Việt Nam. Trước đó vào cuối năm 2012, phản biện đối với báo cáo nợ công của chính phủ, ông Vũ Quang Việt, cựu chuyên viên tài chính của Liên Hiệp Quốc, đã tính toán về tiêu chí nợ nần này lên đến 106%.

Minh bạch lại là một trong những điều kiện tiên quyết để Việt Nam được tham dự vào bàn ăn TPP. Cho dù lộ trình thông qua TPP đối với Việt Nam đã được nước chủ nhà là Hoa Kỳ hứa hẹn “có thể sớm nhất vào cuối năm 2013”, nhưng giới quan sát quốc tế có lẽ đã thừa trải nghiệm để hiểu rằng TPP không chỉ gắn với điều kiện minh bạch về thị trường và cơ chế quản lý kinh tế, mà còn liên hệ mật thiết với các điều kiện về dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam.

Còn trong lĩnh vực bất động sản, vẫn có thêm những minh họa khác về tính bất nhất. Trong khi những báo cáo được công bố hầu như liên tục của Bộ Xây dựng chỉ cho thấy con số tồn kho căn hộ vào khoảng 40.000 căn, thì con số thống kê của một số hãng tư vấn bất động sản quốc tế có văn phòng ở Việt Nam như CBRE hay Savills lại xác thực hơn nhiều. Nhìn chung, có thể đang tồn đến 200.000 căn hộ thuộc các phân khúc, trong đó có đến 70% thuộc về phân khúc cao cấp và trung cấp. Một số chuyên gia và doanh nhân bất động sản cũng xác nhận có đến chừng đó căn hộ đang tồn kho ở Việt Nam.

Một lần nữa, tính chênh lệch của số liệu báo cáo đã lộ diện: con số tồn kho nhà đất thực tế cao gấp 5 lần số báo cáo. Nếu so lại hai con số chênh nhau đến 6 lần về nợ xấu bất động sản giữa Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia với Ngân hàng Nhà nước thì mọi chuyện đều rất logic.

Logic đến nỗi mà nếu cuối năm nay Việt Nam được gia nhập TPP với tính minh bạch tồi tệ như hiện thời, nhiều người dân và giới bình luận sẽ nhìn rõ một sự phi logic không thể hiểu nổi.

RFI: Khi các con số khác biệt quá lớn như vậy thì thị trường bất động sản Việt Nam thực chất đang trong tình trạng như thế nào?

TS Phạm Chí Dũng: Tôi xin nêu một minh họa để đối chứng. Chuyên gia người Anh John Sheehan đã dành cho thị trường bất động sản Việt Nam một lời bình đặc biệt: “Tôi chia thị trường thành ba giai đoạn: sau khi xảy ra khủng hoảng gọi là giai đoạn phủ nhận, thường khoảng 2 năm; giai đoạn xử lý vấn đề nợ xấu mất khoảng 4 năm; cuối cùng là khi thị trường phục hồi, mất chừng 6 năm. Việt Nam đang ở nấc “phủ nhận””.

Một cách chính xác, thị trường Việt Nam đang trong giai đoạn “phủ nhận” với việc người tiêu dùng mất niềm tin và quay lưng với thị trường. Nếu không vượt qua được hai năm 2013-2014 và không giải quyết được ít nhất một nửa núi hàng tồn kho căn hộ cao cấp và trung cấp, chưa cần hết giai đoạn phủ nhận sẽ có không biết bao nhiêu đại gia bất động sản phải chính thức ký vào “bản án tử hình” dành cho mình. Sông Đà, Vinaconex, Hoàng Anh Gia Lai, Quốc Cường Gia Lai, Phát Đạt… đều là những cái tên một thời danh giá, nhưng cho đến giờ đều thật khó để hình dung về thân phận của họ sẽ ra sao nếu thị trường không được “giải cứu”.

Muốn giải phóng núi căn hộ tồn kho đến 200.000 căn hộ, thị trường bất động sản Việt Nam có thể phải kiên tâm chờ đợi đến hàng chục năm, nếu quả thực nó muốn chờ và có thể làm được điều đó.

Nhưng kết quả thời gian đến hàng chục năm như vậy lại hoàn toàn có thể khiến thị trường… tự sát.

Bởi nửa đầu của năm 2013 đã trôi qua mà hệ số tiêu thụ căn hộ vẫn hầu như không nhích lên được bao nhiêu. Nếu vào năm 2012 hệ số này chỉ khoảng 5-10% theo thống kê của những hãng tư vấn bất động sản có uy tín, tình hình trong nửa đầu năm 2013 tuy có chuyển biến đôi chút song vẫn là quá ít so với những kích thích tố được tung ra từ phía Nhà nước và sự cố gắng của các doanh nghiệp bất động sản.

Các ngân hàng cũng vì thế đang rơi vào chính cái bẫy do họ giương ra từ năm 2011. Họ đã bắt các doanh nghiệp sản xuất và cả nền kinh tế trở thành con tin, nhưng cuối cùng chính họ cũng không thoát khỏi cái vòng kim cô tham lam vô cùng tận.

RFI: Như vậy số phận của các ngân hàng sẽ như thế nào, liệu có chết theo lãnh vực bất động sản hay không ?

TS Phạm Chí Dũng: Rất có thể. “Trạng chết, Chúa cũng băng hà”, ngân hàng sẽ không thoát khỏi nghiệp chướng mà họ là một tác nhân gây ra.

Giữa năm 2013, Ngân hàng Nhà nước đã bắt buộc phải một lần nữa “tái cơ cấu nợ vay” cho các doanh nghiệp bất động sản, chuyển nhóm nợ từ xấu sang nhóm đỡ xấu hơn, và do vậy các ngân hàng vẫn còn thời gian để thu xếp việc thanh toán với con nợ đến giữa năm 2014, chứ không nhất thiết phải siết nợ thẳng thừng.

Dù cố giấu diếm, nhưng từ gần giữa năm 2012, khối ngân hàng thương mại cổ phần đã bắt đầu phải tiết lộ về những con số nợ vay bất động sản, và sau đó vấn đề này trở thành một làn sóng rộng khắp các ngân hàng, biến thành tiếng kêu cứu ai oán của nhóm lợi ích đậm đặc này.

Vào thời điểm tháng 4/2012, số nợ vay được tái cơ cấu là 250.000 tỉ đồng. Nhưng mà trong hơn một năm qua, điều đáng buồn là chẳng ai làm được phần “hậu sự” cho các ngân hàng lẫn con nợ. Thậm chí nợ vay còn tăng thêm khoảng 20.000 tỉ đồng, đưa con số hiện thời lên khoảng 272.000 tỉ đồng.

Nếu ngân hàng – chủ nợ lớn nhất của bất động sản – còn phải lâm vào vòng túng quẫn, người ta có thể hình dung tình thế đã trở nên bĩ cực đến mức nào. Những con số và tỉ lệ nợ xấu về bất động sản cho đến nay vẫn liên tiếp nhảy múa mà chưa chịu dừng chân. Cái chết đã lộ hình ở phía trước con đường.

RFI: Theo anh hậu quả sẽ ra sao?

TS Phạm Chí Dũng: Hậu quả chưa hẳn xảy ra tức thì đối với giới ngân hàng, nhưng đã hiện hữu đối với giới chủ đầu tư. Vào cuối năm 2011, hàng loạt vụ bể tín dụng đen bất động sản đã xảy ra ở Hà Nội, sau đó lan ra một số tỉnh thành khác. Vào giữa năm 2013, giám đốc doanh nghiệp Vĩnh Hưng, được xem là một trong những đại gia kinh doanh bất động sản ở Hà Nội, đã bị bắt liên quan đến những bê bối về nợ nần, và đây là một vụ rúng động.

Câu hỏi đang được rốt ráo đặt ra là sau vụ Vĩnh Hưng, liệu có xảy ra những cú đổ vỡ nào khác? Và liệu có xảy ra một làn sóng dây chuyền đổ vỡ liên quan đến nhiều doanh nghiệp bất động sản, tất yếu kéo theo một số nhà băng liên quan về nợ vay?

Dĩ nhiên với nhiều chủ đầu tư bất động sản ở Việt Nam, đây là một thời buổi kinh hoàng, thời buổi mà họ chỉ “mong một cuộc sống không nợ nần”.

Vào năm 2011, báo chí bắt đầu đề cập những câu chuyện về đại gia chứng khoán phải tự tử hoặc nhập viện tâm thần vì thiếu nợ hoặc phá sản. Còn đến năm 2012, câu chuyện tương tự được tiếp nối với một số đại gia bất động sản. Hiện tượng xã hội đặc thù này đang như khuấy động một cơn khủng hoảng sắp tới ở Việt Nam.

Còn giờ đây, hiện tượng đang trở thành bản chất khi khó có thể kềm giữ những gì sẽ phải phát nổ.

Khác nhiều với thị trường bất động sản Mỹ và cũng khác khá nhiều với thị trường nhà ở Irland với nguồn cung tồn kho hạn chế, bất động sản Việt Nam đã ở vào thời kỳ cầm cự cuối cùng. Theo rất nhiều dự báo, thời kỳ đó sẽ không thể kéo dài đến hết năm 2014.

RFI: Không biết so sánh có khập khiễng không, nhưng anh có thể nêu vài so sánh giữa thị trường bất động sản Việt Nam và Mỹ?

TS Phạm Chí Dũng: Có một “đồng pha” rất rõ trong “quan hệ bang giao” giữa hai thị trường bất động sản Mỹ và Việt Nam. Phất lên vào năm 2006 và đạt đỉnh vào năm 2007, thị trường nhà ở Mỹ đã có mức giá cao gấp đôi so với năm 2000. Còn với Việt Nam, tuy sóng nhà đất cũng đồng pha với Mỹ về thời gian và kể cả thời điểm, nhưng chuyện tăng giá thì hơn Mỹ nhiều, và có thể nói là theo đuôi…Trung Quốc. Đó chính là việc giá nhà ở tại Bắc Kinh đã tăng đến 800% chỉ trong 5 năm từ 2003 đến 2007. Trong khi đó, giá nhà đất ở Việt Nam cũng không hề kém cạnh, bốc lên tương đương với mức tăng chẵn một chục lần của giá vàng trong nước từ năm 2000 đến 2011.

Một “đồng dạng” khác là từ năm 2007 đến nay, chỉ số giá nhà đất S&P/Case-Shiller của Mỹ đã giảm khoảng 25-30%, trong khi mức giảm này cũng được các quan chức ngành xây dựng Việt Nam “định giá” cho mặt bằng giá nhà đất tại đây. Và gần đây hãng tư vấn bất động sản Saville ở Việt Nam cũng đã tính là giảm khoảng 30%. Dĩ nhiên với trường hợp thị trường ở Việt Nam, phần lớn các con số thống kê chỉ mang tính tương đối, thậm chí nặng về cảm tính và độ tin cậy là rất đáng nghi ngờ. Hiện tượng “loạn số liệu tồn kho bất động sản” diễn ra trong thời gian gần đây là một minh chứng hùng hồn.

Đúng ra, thị trường nhà ở Mỹ đã hồi sinh trước thị trường bất động sản Việt Nam ít nhất một năm rưỡi, tính đến giờ phút này. Từ cuối năm 2011, cùng với việc nền kinh tế Mỹ tiếp nhận những kết quả bắt đầu khả quan, số lượng nhà phát mãi của Mỹ cũng bắt đầu xuất hiện tín hiệu giảm, trong khi số nhà khởi công mới dần tăng lên. Đà tăng răng cưa này đã diễn biến lặng lẽ trong suốt năm 2012, để đến cuối năm ngoái, giới phân tích Mỹ đã chính thức xác nhận rằng thị trường nhà ở quốc gia này đã chính thức “thoát khỏi suy thoái”.

Khác hẳn với Việt Nam, thị trường nhà ở Mỹ không hề có bong bóng, cho dù các đảng phái ở quốc gia này thỉnh thoảng vẫn nhắc lại từ ngữ bóng bẩy đó như một ẩn ý chính trị đối với đảng cầm quyền. Bất chấp số nhà ở bị niêm phong và đưa vào diện phải phát mãi là “khủng khiếp” trong năm 2008, chính sách tài chính hơn 900 tỉ USD của chính phủ Mỹ đã bắt đầu tỏ ra hiệu nghiệm. Tình trạng trì trệ lui dần.

Tới nay, 87% các thành phố ở Mỹ có giá nhà tăng, dẫn đầu là Sacramento thuộc bang California và Atlanta thuộc bang Georgia với mức tăng 39%, tiếp đó là Fort Myers thuộc bang Florida 36%, Reno thuộc bang Nevada tăng 33%, và Las Vegas thuộc bang Nevada tăng 31%. Đó cũng là lý do vì sao các chỉ số chứng khoán Mỹ tăng tiến không ngưng nghỉ trong thời gian gần đây.

Nhưng với thị trường bất động sản Việt Nam lại hoàn toàn khác. Khoảng thời gian cuối năm 2011 chỉ là khởi đầu cho tan vỡ. Còn nguyên năm 2012 lại chứng kiến sự thê thảm không khác gì tình trạng vỡ bong bóng. Tuy không phải tất cả các phân khúc, nhưng chỉ riêng chuyện gần 200.000 căn hộ các loại tồn kho từ Bắc vào Nam đã là một cái gì đó không thể cứu vãn nổi.

Lúng túng và chậm lụt, các cơ quan và chính sách “giải cứu” thị trường bất động sản ở Việt Nam đã không làm được một việc gì có ý nghĩa từ năm 2010, khi tình trạng nợ xấu bất động sản vẫn chưa quá xấu, và cho đến nay – vào lúc mọi chuyện đã trở nên cám cảnh đến mức có giám đốc công ty kinh doanh nhà đất phải ra đường bán trà đá.

Tình hình như thế đã cho thấy thị trường bất động sản Việt Nam nói riêng và nền kinh tế của nước này nói chung đã bị lệch pha rất lớn so với đà phục hồi thị trường nhà đất và nền kinh tế Mỹ. Điều đó cũng cho thấy sức khỏe của nền kinh tế Việt Nam đã rất yếu ớt, như một người bệnh thâm căn cố đế và không còn sức đề kháng trước cơn ung thư di căn đang hoành hành.

Nếu không giải quyết được nợ xấu bất động sản, nền kinh tế Việt Nam sẽ không có khả năng nào đối ứng với hiệp định TPP, cho dù có được chấp nhận tham dự vào bàn tiệc này.

RFI: Như vậy theo anh thị trường bất động sản Việt Nam mất bao lâu mới có thể phục hồi được?

TS Phạm Chí Dũng: Như phân tích của một tổ chức nghiên cứu quốc tế, thị trường nhà ở Mỹ đã phải mất hơn 6 năm kể từ khi khủng hoảng để phục hồi trở lại, cũng như phải mất hơn 4 năm kể từ khi các chính sách giải cứu được áp dụng rộng rãi để thị trường tăng trưởng trở lại.

RFI: Còn với thị trường và cơ chế ở Việt Nam thì sao?

TS Phạm Chí Dũng: Một số nhà phân tích nêu ra một cách nhìn lạc quan hơn, căn cứ vào tính chu kỳ trong lịch sử vận động của thị trường bất động sản Việt Nam tính từ năm 1995. Khởi phát từ năm đó, thị trường này đã sôi trào vào năm 1997, để sau đó lần đầu tiên rơi vào suy thoái trong khoảng 4 năm. Đến năm 2001, bất động sản Việt Nam lại một lần nữa bật dậy. Chu kỳ tiếp theo chìm lắng suốt từ năm 2002 đến năm 2006. Như vậy, tính bình quân cho khoảng lắng giữa các đợt tạo sóng là thời gian khoảng 5 năm.

Cho đến nay, đã 6 năm trôi qua kể từ năm 2007, vượt hơn cả một chu kỳ suy thoái trong dĩ vãng. Nếu theo cách suy diễn này, thị trường tất nhiên có đầy đủ cơ sở để phục hồi.

Tuy thế, làm sao để tạo “sóng” lại là một câu chuyện hoàn toàn lạ lùng và có lẽ còn trở nên dị hợm trong bối cảnh đương đại, khi trong 20 năm qua, giá nhà đất tại những thành phố lớn trên cả nước đã tăng đến 100 lần. Như vậy những người có nhu cầu thực tế về nhà ở sẽ nhìn vào cái cấp số nhân đó để tính toán cho phép thử cung – cầu trên thị trường hiện nay.

Đó cũng là tất cả những gì mà hệ quả của nợ xấu đang tác động, và trở thành tác động có tính quyết định.

Với tất cả những gì bất cập đến mức không thể chấp nhận trong lịch sử tồn tại của thị trường bất động sản, không ai có thể trả lời được câu hỏi sẽ mất bao lâu để phục hồi nó.

Chỉ biết rằng nếu bất động sản không được “siêu thoát” trong năm nay và cùng lắm trong năm sau, không biết nền kinh tế còn bị “phủ nhận” đến bao giờ.

RFI: Nếu dùng từ của anh là nền kinh tế bị “phủ nhận”, liệu xã hội Việt Nam liệu có lâm vào một cuộc khủng hoảng?

Rất có thể. Hiện thời, giới điều hành đầy quan liêu cùng các nhóm lợi ích ở Việt Nam đang phải đối diện với một phương trình có quá nhiều ẩn số.

Muốn giải quyết nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản nói riêng thì phải xử lý tồn kho nói chung và tồn kho bất động sản nói riêng; muốn xử lý tồn kho bất động sản lại phải làm tăng tổng cầu và niềm tin tiêu dùng cho nền kinh tế. Nhưng ai cũng biết rằng muốn tăng tổng cầu kinh tế thì phải bơm tiền, trong khi nguồn tiền đang có dấu hiệu cạn kiệt do bị tồn kho và không giải quyết được nợ xấu. Chưa tính tới yếu tố bơm tiền hoàn toàn có thể sinh ra lạm phát…

Đây chính là một cái vòng luẩn quẩn mà sẽ dẫn tới “thời điểm Minsky” – tức thời điểm nền kinh tế phải chịu cảnh đổ vỡ dây chuyền, bắt đầu từ khối doanh nghiệp con nợ và ngân hàng chủ nợ không thu hồi được các món nợ, dẫn tới khả năng sụp đổ kinh tế.

Theo một số chuyên gia phản biện độc lập như Bùi Kiến Thành và Nguyễn Trí Hiếu, triển vọng giải quyết tồn kho bất động sản sẽ rất chậm và phải kéo dài ít nhất 4-5 năm. Nhưng ngay trong ngắn hạn năm 2013 và năm 2014, tình trạng nợ khó đòi của các doanh nghiệp bất động sản lại luôn có thể tạo nên sang chấn bùng vỡ cho giới ngân hàng chủ nợ, mà có thể kéo theo một làn sóng sụp đổ dây chuyền giữa một số ngân hàng lớn.

Nếu không thể giải quyết núi tồn kho bất động sản vào thời hạn “Minsky” giữa năm 2014, hoặc chậm lắm đến cuối năm 2014, rất nhiều khả năng nợ xấu bất động sản sẽ làm bùng vỡ nợ xấu quốc gia và đẩy các ngân hàng vào thế tồn vong. Thế tồn vong đó cũng có thể gây tác động tiêu cực không nhỏ đến chân đứng của một nền chính trị vốn đang chịu nhiều xáo động.

Nếu không tự thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của mình, nền kinh tế Việt Nam sẽ có nhiều triển vọng rơi vào một cơn khủng hoảng mới còn ghê gớm hơn cả khủng hoảng 2008 và đợt suy thoái kéo dài suốt ba năm qua. Khủng hoảng kinh tế lại rất dễ dẫn đến khủng hoảng xã hội – một phạm trù vốn đã tiềm ẩn nhiều mầm mống được thể hiện trên nhiều đường phố. Khi đó, liệu một chính khách cao cấp nào – tổng bí thư, chủ tịch nước hay thủ tướng – có thể dám chắc là không xảy ra một cơn địa chấn về chính trị?

RFI: Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phạm Chí Dũng.

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của Việt Nam | Leave a Comment »

►Vì muốn bảo vệ quyền lợi cho các tập đoàn viễn thông, TT Nguyễn Tấn Dũng đã « chỉ đạo » cho Bộ Thông tin và Truyền thông VN là cần sớm ban hành “chính sách quản lý” các dịch vụ liên lạc miễn phí qua mạng Internet

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2013

Vì bị mất quyền lợi, các tập đoàn viễn thông của nhà nước như  Viettel, MobiFone, VNPT đã yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội cấm sử dụng VIBER, WHATSAPP, Line…là những nhu liệu miễn phí mà khi tải về Smartphone, sẽ cho phép người gọi phone với nhau miễn phí. Không cần trả tiền cho các công ty điện thoại.

Hôm tháng 2/2013, các cuộc gọi ở trong nước và từ nước ngoài gọi về VN đã tăng phí lên 100% Trước cuối tháng 1-2013, các cuộc gọi từ Mỹ về VN chỉ có 2,9 cents/ 1 phút,  nay người tiêu dùng phải trả 6,9 cents/ 1 phút.

Đáp trả với sự tăng phí các cuộc gọi là hơn 100%, người tiêu dùng đã mua smart-phone và sử dụng nhu liệu miễn phí VIBER, WHATSAPP, LINE…để gọi cho nhau và khỏi trả tiền.

6 tháng qua, các tổng công ty viễn thông của nhà nước- do cán bộ đảng, đảng viên cao cấp, và gia đình của họ làm chủ- đã bị thất thu tiền bạc. Chúng đã khiếu nại đòi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành lệnh cấm sử dụng các nhu liệu này. Và thay vì bảo vệ quyền lợi của dân chúng, không xía vào quyền tự do thông tin và truyền thông, TT Nguyễn tấn Dũng  đã « chỉ đạo » cho Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam là cần sớm ban hành  “chính sách quản lý” các dịch vụ liên lạc miễn phí qua mạng Internet 

Quyền sử dụng VIBER một cách tự do và không phải trả tiền đó thuộc về quyền tự do thông tin và truyền thông, nằm trong quyền tự do ngôn luận, và là thuộc quyền con người. Việc làm của TT Nguyễn tấn Dũng chỉ là vì muốn bảo vệ quyền lợi của các tập đoàn viễn thông. Vì thế, các bạn blogger cần phải phản đối.  

Việt Nam muốn quản lý Viber. Lo ngại « kiểm duyệt » gia tăng

 21-8-2013

Trọng Nghĩa

 viet.rfi.fr

Nhân cuộc họp ngày 07/08/2013 vừa qua về giá cước điện thoại quốc tế tại Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã « chỉ đạo » cho Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam là cần sớm ban hành  “chính sách quản lý” các dịch vụ liên lạc miễn phí qua mạng Internet.

Nội dung yêu cầu này được nêu lên trong thông báo 312/TB-VPCP đề ngày 16/08. Xuất phát từ yêu cầu của các tập đoàn viễn thông nhà nước Việt Nam, đang sợ bị thiệt hại, đề nghị này đã tạo ra lo ngại về khả năng chính sách mới sẽ lại là một công cụ kiểm duyệt internet.

Trong thời gian một hai năm gần đây, các dịch vụ nhắn tin, gọi điện thoại miễn phí thông qua đường Internet – thuật ngữ tiếng Anh là OTT (Over The Top) – đã ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam. Các công cụ như Viber, Line, WhatsApp… – gắn trên điện thoại thông minhsmartphone – càng lúc càng được nhiều người sử dụng.

Tình hình này đang tác hại đến doanh thu của các tập đoàn, công ty điện thoại truyền thống trong nước, đặc biệt trong bối cảnh lượng người dùng smartphone có xu hướng gia tăng. Hãng tin Anh Reuters, dựa theo một báo cáo từ Google, cho biết là Việt Nam hiện đã có 17 triệu người dùng điện thoại thông minh.

Theo Reuters, phát biểu với báo chí trong nước, một đại diện của Viettel, một trong những nhà cung cấp mạng điện thoại lớn nhất của Việt Nam báo động là Viettel có thể sẽ mất đến 50% doanh thu nếu tất cả 40 triệu khách hàng của tập đoàn này sử dụng Viber thay vì dùng các dịch vụ gọi điện thoại hay gởi tin nhắn truyền thống.

Báo chí Việt Nam cũng trích lại một số lời báo động từng được các tập đoàn Việt Nam đưa ra công khai, theo đó do sự phát triển của các dịch vụ OTT trong thời gian qua, Viettel và MobiFone bị thất thu khoảng 1.000 tỷ đồng mỗi năm, trong lúc VNPT cũng bị mất từ 9% đến 10% doanh thu.

Các tập đoàn này do đó đã yêu cầu chính quyền sớm ban hành chính sách quản lý các dịch vụ OTT. Trước mắt, có ý kiến cho rằng Nhà nước nên nghiêm cấm việc dùng các dịch vụ này, vốn do các hãng ngoại quốc không có văn phòng tại Việt Nam cung cấp. Theo một số chuyên gia Việt Nam, việc sử dụng các công cụ này đặt ra vấn đề « an ninh chủ quyền Việt Nam ».

Đề nghị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng như vậy đã đáp ứng yêu cầu sớm ban hành chính sách, nhưng không thấy đề cập đến yêu cầu cấm đoán. Cho dù vậy, theo hãng Reuters, chủ trương kiểm soát dịch vụ OTT có thể khiến cho những lo ngại về sự kiểm duyệt của Đảng Cộng sản gia tăng vào lúc Việt Nam đã nhiều lần bị chỉ trích vì các biện pháp bị cáo buộc là nhằm kềm chế tự do ngôn luận và trấn áp các blogger đã dám chỉ trích chế độ độc đảng.

Thái độ quan ngại càng tăng khi « chỉ đạo » của Thủ tướng Việt Nam – theo Reuters – đã không giải thích rõ ràng những gì chính phủ dự định tiến hành, tương tự như nhiều quy định khó hiểu khác, trong lúc truyền thông nhà nước lại gợi lên khả năng « cấm » tất cả các dịch vụ OTT.

Một nguyên do khác gây lo ngại là tuyên bố của Thủ tướng Dũng được đưa ra hai tuần sau khi chính phủ ra lệnh cho tất cả các mạng web nước ngoài, trong đó có Facebook, là phải đặt ít nhất là một máy chủ ở Việt Nam.

Reuters đã trích lời một nhà ngoại giao xin giấu tên nhấn mạnh rằng : « Điều này tương tự như một bước mới của chính phủ (Việt Nam) nhằm kiểm duyệt người dùng internet. Một khi không thể kiểm soát được, thì họ sẽ chặn tất cả ».

Ả Rập Xê Út vào tháng Sáu vừa qua đã cấm Viber, sau khi gặp khó khăn trong việc kiểm soát và trước tình hình các công ty viễn thông được phép hoạt động bị thất thu.

Tuy nhiên, trả lời hãng Reuters, ông Jong Buhm Park, Giám đốc điều hành của hãng NHN Việt Nam, nhà phát triển ứng dụng Line của Nhật Bản, đã có nhận định lạc quan hơn. Theo ông, sẽ không có lệnh cấm vì : « Chính phủ Việt Nam có nhiều lựa chọn khác, như yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ OTT hợp tác với các tập đoàn viễn thông Việt Nam ».

Posted in Kiểm Soát Thông Tin- Internet | Leave a Comment »