Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám 21st, 2013

►Các ý kiến về sự kêu gọi thành lập đảng Dân Chủ Xã hội ở Việt Nam của ông Lê Hiếu Đằng

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2013

Đảng của những người bỏ Đảng

21-8-2013

Huỳnh Ngọc Chênh

Theo blog Huỳnh Ngọc Chênh

Chia sẻ bài viết này

Sau khi thoát cơn bịnh nặng rồi viết “bảng quyết toán” để tính sổ với đảng, người đảng viên có trên 40 năm tuổi đảng là bác Lê Hiếu Đằng được đồng chí của mình là bác chủ tịch nước tặng cho một liều thuốc cực quý để tiếp tục chữa cho dứt bịnh. Nghe nói đó là loại thuốc quý hiếm chỉ được dùng cho các BCT.

Nghe được chuyện ấy, các bạn bè thân thiết của bác Đằng mới khuyên bác đừng nên dùng, hãy gởi lại cho BCT dùng vì hiện nay chỉ các vị ấy mới cần thuốc chữa bịnh.

Riêng tôi thì cho rằng, thuốc ấy cũng chẳng chữa được bịnh của các vị ấy. Bịnh nặng lắm rồi, muốn chữa phải dùng thuốc đặc trị chữa đúng bịnh chứ không phải dùng thuốc quý.

Vậy thuốc đặc trị cho các vị ấy là thuốc gì? Xin thưa đó chính là thang thuốc nam mang tên Lê Hiếu Đằng.

 

Ông Lê Hiếu Đằng trong lần tham gia biểu tình với các bạn trẻ 

Đảng bịnh nặng lắm rồi. Hai vị đứng đầu của đảng là bác Tư Sang và bác Trọng Lú đã công khai công nhận điều đói. Nhiều bịnh lắm nhưng bịnh có tính quyết định cho sự sống còn của đảng là bịnh tham nhũng. Ở đây xin đi lạc đề để bàn chữ “lú” một tí chứ có người chưa biết chuyện lại hiểu nhầm ý tốt của tôi. Gắn chữ lú vào bên cạnh tên bác Trọng, theo như bài báo chính thức trên lề đảng là tỏ ý ca tụng bác là người cực kỳ trong sạch chứ không phải chê bai bác là lú lẫn. Theo bài báo ấy vì bác quá sức trong sạch, trong sạch một cách kỳ lạ, dân gian không còn từ gì để ngợi ca nên phải sáng tạo ra từ mới là “lú” để dùng. Lú nầy đồng âm với lú kia nhưng dị nghĩa.

Qua đó thấy rằng bác Trọng rất rất trong sạch. Bác Tư cũng được xem là trong sạch. Hai bác đều trong sạch nên rất mạnh khỏe. Mạnh khỏe nên chưa nhóm bịnh dù đang sống trong một môi trường rất bịnh. Do vậy không còn ai xứng đáng hơn hai bác ấy trong việc đứng lên phất cao ngọn cờ chống bịnh, đặc biệt là bịnh tham, là căn bịnh trầm kha đang đến hồi phát tác khủng khiếp.

Hai bác ấy rất có tâm, có lòng với đảng, rất nhiệt tình lo chữa trị cho đảng nhưng khổ nỗi hai bác ấy lại dùng các phương thuốc quá cũ để chữa trị. Cái bịnh tham bây giờ nó biện chứng phát triển đến mức siêu việt theo sự phát triển của thời đại rồi. Mỗi lần nó ăn là ăn đến hàng trăm, hàng ngàn tỉ. Và cách ăn của nó cũng rất. ..công khai minh bạch. Ăn qua chính sách, ăn qua cách ra nghị định và thông tư, ăn qua dự án, ăn qua nhóm lợi ích, ăn qua các công ty sân sau, ăn qua các ngân hang, ăn qua đấu thầu công khai…nghĩa là có muôn trùng cách ăn và ăn rất dễ dàng là nhờ vào chính cơ chế vận hành để sinh tồn của đảng.

Vậy mà hai bác trong sạch lại dung liều thuốc phê và tự phê, là cái bài thuốc của ông lang Mao du nhập vào VN cách đây hơn nửa thế kỷ chỉ dùng để bôi ngoài da cho các vết lở gây ra bởi bệnh tham lúc còn sơ khai cho đỡ ngứa tạm thời chứ không dứt được căn nguyên. Ngay với cái bệnh tham thời sơ khai chỉ ăn vài cân thóc, vài lạng thịt, vài tờ tem phiếu thì liều thuốc ấy cũng không chữa dứt được, huống chi là chữa cái bịnh tham đã tiến hóa lên đến mức siêu việt như ngày nay cùng những biến chứng tinh vi của nó.

Để chữa bịnh tham, thế giới đã có bài thuốc mà hầu hết quốc gia tiên tiến đang sử dụng rất hiệu nghiệm. Một nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, một xã hội dân sự, một nền kinh tế thị trường minh bạch là thang thuốc cực tốt để đẩy lùi bịnh tham nhũng.

Thật ra bác Lê Hiếu Đằng không phải là một thang thuốc, nhưng những bước đi của bác đang cùng mọi người góp phần đấu tranh cho sự hình thành một thang thuốc hiện đại để chữa bịnh cho cả quốc gia.

Từ lâu, nhiều đảng viên đã nhìn thấy căn bịnh của đảng đang phát tác và lây lan khắp nơi nên tự cứu mình bằng cách bỏ đảng chạy ra ngoài. Số lượng đảng viên bỏ đảng chưa có thống kê chính thức, nhưng tính từ năm 75 nghe đồn cứ lai rai gộp lai đến bây giờ cũng ra một con số không nhỏ. Hiện nay theo như bác Đằng nói thì có khá nhiều người đang muốn ra và dường như họ muốn rũ rê nhau cùng công khai tuyên bố ra một lúc vào một ngày đẹp trời nào đó.

 

Hai ông Huỳnh Nhật Tấn và Huỳnh Nhật Hải là hai đảng viên bỏ đảng rất sớm 

Ra rồi thì có thể cứu được bản thân mình. Nhưng còn đảng và dân chúng thì sao. Căn bịnh của đảng không chỉ lây lan trong đảng mà còn di căn ra ngoài xã hội. Xã hội hiện nay cũng bịnh quá rồi. Đâm, chém, cướp, hiếp, lừa đảo, mại dâm, ma túy… tràn lan khắp nơi. Các bác ra khỏi đảng nhưng còn thấy mình có trách nhiệm với đảng và quan trọng là với xã hội và đất nước. Phải chăng vì vậy mà các bác ấy muốn làm cái gì đó để cứu đảng, cứu nước, cứu dân?

Vào những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, những năm cuối cùng của chế độ cộng sản Xô Viết, một nhà văn nào đó của Liên Xô dấy lên chuyện lập đảng cho những người không đảng. Tôi không còn nhớ rõ, đại khái ông nói rằng đất nước Xô Viết với hơn 400 triệu dân mà chỉ có một đảng dành riêng cho 20 triệu đảng viên vì vậy nên có một đảng dành cho những người không đảng còn lại để nhằm vào mục tiêu cứu nước Liên Xô vĩ đại. Nhưng đảng ấy chưa kịp lập ra thì chế độ Xô Viết đã ngã ra đột tử vì bịnh đã quá nặng, hết phương cứu chữa.

Bây giờ thì bác Đằng và bác Nhuận hô hào lập đảng từ những người bỏ đảng. Khi chuyện nầy nổ ra đã tạo nên những phản ứng đa chiều trong dư luận.

Ủng hộ, công kích, nghi ngờ…thôi thì đủ kiểu suy diễn. Có vài chiều ý kiến từ chính những người đã bỏ đảng hoặc chuẩn bị bỏ đảng đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Theo một luồng ý kiến thì thời cơ chưa chín mùi để ra đời một cái đảng như vậy (nhưng không biết khi nào thì chin mùi?). Một luồng ý kiến khác thì cho rằng liệu pháp của hai bác Đằng- Nhuận là quá sốc đối với một cơ thể đã quá già nua và đang bịnh nặng. Gộp từ hai luồng ý kiến đó đã phát sinh ra một luồng ý kiến nữa là nên chăng đưa ra một liệu pháp ít sốc hơn là thay vì lập đảng thì lập một phong trào rộng rãi gì đó để vận động nhiều người tham gia để cùng nhau cứu nước, cứu dân.

Theo Hiến Pháp thì mọi công dân đều có quyền tự do lập đảng, lập hội, lập nhóm. Tuy nhiên từ sau năm 75 đến nay chỉ thấy hai đảng chính trị hợp pháp là đảng Dân Chủ và đảng Xã Hội bị giải tán chứ chưa thấy một tổ chức chính trị nào có đường lối độc lập với đường lối của đảng CSVN được ra đời hợp pháp. Nhiều tổ chức nhen nhóm ra đời đã nhanh chóng bị dập tắt. Từ đảng Dân Chủ phục hoạt của cụ Hoàng Minh Chính đến nhóm 8406… thậm chí đến một câu lạc bộ ngành nghề như câu lạc bộ Báo chí Tự do cũng không thể nào được phép hoạt động và những người khởi xướng là Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn đều đang bị nằm tù như mọi người đã biết.

Từ đó dư luận không tin rằng tổ chức chính trị mà hai bác Đằng- Nhuận hô hào khởi xướng sẽ ra đời được.

Tuy nhiên cũng có một luồng dư luận nhỏ hơn cho rằng, tình hình đang càng ngày càng thuận lợi, có vài tín hiệu cho thấy đã đến lúc phải tỏ ra cởi mở và thay đổi. Miến Điện đã làm được và không gây ra xáo trộn gì, sự xuất hiện của phe đối lập không những không làm cho phe cầm quyền ngã lăn ra đột tử mà còn làm cho họ tăng thêm uy tín trong dân và dưới mắt bạn bè thế giới. Miến Điện làm được thì lý gì Việt Nam anh hùng tài giõi hơn lại không làm được.

Nhưng dù cho đảng của những người bỏ đảng ấy không lập ra được vì lý do nào đó thì tiếng hô hào của họ cũng giúp đánh tan được phần nào nỗi sợ hãi đang bao trùm, cũng là góp tiếp những bước đi cho sự hình thành xã hội dân sự.

—————————

Việc công khai kêu gọi thành lập đảng ở Việt Nam của ông Lê Hiếu Đằng là một bước tiến về chính trị

21-8-2013

Khách Dân Luận

Tác giả gửi tới Dân Luận dưới dạng phản hồi. Tựa đề do BBT Dân Luận đặt.

Chia sẻ bài viết này

Với tôi, như đã nêu lên trong một còm ở đâu đó trên Dân Luận, rằng, bất kể cái đảng mà ông Đằng đang PR là như thế nào, cứu cánh ở đâu, phương thức tiến hành ra sao… tôi vẫn ủng hộ sự ra đời của nó.

Đảng CS hiện đang là đảng DUY NHẤT, các đảng từng có, dẫu là bù nhìn đã bị giải thể. Bây giờ, nếu có cơ hội phục hoạt, hoặc lập một hay nhiều đảng mới để CÓ MẶT (chỉ cần có mặt, khoan hãy nói đến cạnh tranh), đó đã là một bước tiến. Bước tiến nhỏ nhưng quan trọng. Bước tiến từ KHÔNG thành CÓ.

Lúc này còn quá sớm để nói TIN hay KHÔNG TIN ông Đằng, hay ông nào đó phía sau ông ĐẰNG. Lại càng quá sớm để đánh giá hiệu quả của hành động kêu gọi này.

Dĩ nhiên là, ai cũng có quyền nói TIN hay KHÔNG TIN một ai đó, dù chỉ giáp mặt lần đầu, thậm chí chưa kịp gặp. Đó là quyền tuyệt đối riêng tư. Nhưng, liệu có là hành vi đúng đắn hay không, khi mở miệng là ra mùi đấu tranh dân chủ, nhưng lại chăm chăm nghĩ là những người cũng đang (nói) đấu tranh dân chủ khác là ngụy, là giả dối, là cò mồi. Hơn nữa, lại la làng trước thanh thiên bạch nhật chứ không phải trong vòng thân hữu.

Tôi lặp lại, kể cả khi, “lực lượng” phía sau ông Đằng, ông Nhuận là ai (xấu nhất, nguy hiểm nhất, là của Tàu Khựa giả danh), thì việc CÓ MẶT CHÍNH THỨC một chính đảng ngoài đảng CSVN hiện nay, đều là một tiến bộ cho môi trường chính trị ở nước ta.

Việc quan trọng nhất bây giờ là hành động như thế nào để thúc đẩy việc HIỆN DIỆN CHÍNH THỨC càng nhanh càng tốt. Sau đó, đánh giá nó như thế nào mới là việc tiếp theo. Cho là quý vị KHÔNG TIN, thì cứ để cho nó ra đời, thành hiện thực đi đã, rồi lúc đó tha hồ mà phán, chẳng hạn, tôi đã bảo mà, tôi đã biết trước cơ mà…

Quý vị có mất gì đâu, hỡi những người luôn chứng tỏ rằng mình là người đấu tranh cho dân chủ. Những rủi ro sẽ xảy ra cho người khác chứ chắc chắn không xảy ra cho quý vị. Có thể quý vị vì lo lắng cho những thanh niên trẻ trung ngây thơ trong sáng tối mắt vì nông nỗi để bị mắc lừa, đó cũng là một thiện ý. Nhưng,…

Hôm qua tôi vừa đọc một bức tâm thư của Hieu Minh’s blog lên tiếng khuyên nhủ vỗ về cô gái trẻ P.Uyên. Không loại trừ đây là thiện ý đơn thuần của một bậc cha chú. Nhưng, kể cả khi điều đó là sự thật, nó cũng không bào chữa được sự lệch lạc của nội dung bức thư. Xin lặp lại, hãy cố mà tập cho cái thói quen cha chú, trưởng lão đi vào dĩ vãng. Hành động của mỗi cá thể trưởng thành trong xã hội ngày nay hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định của chính họ. Họ có thể đúng, có thể sai, và họ thừa bản lĩnh để giơ vai giơ trán ra chịu trách nhiệm. Thời điểm mất còn của nền dân chủ, thậm chí cả sự tồn vong của một dân tộc đang lừ lử tiến đến. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách kia mà. Tại sao một thanh niên đầy đủ năng lực, đầy đủ sự sáng suốt bình thường, lại không có quyền lên tiếng đấu tranh cho cái sự tồn vong ấy?

Thôi đi quý vị ạ. Nghi thì cứ nghi, vẫn có quyền ngờ, nhưng hãy biết mở lòng ra để thấy, có hằng trăm con đường thể hiện lòng yêu nước. Chả phải chỉ có ai cùng chí hướng, cùng phương cách với quý vị mới là người yêu nước.

Tôi cũng chưa chắc đã tin nhiều hơn quý vị đối với ông Đằng, ông Nhuận, nhưng, tôi không muốn làm bất cứ gì, nói bất cứ gì có thể làm thui chột đi cái sức sống còn không nhiều của những ông già 70.

Mấy ngày tới đây, tôi hy vọng nghe được tiếng nói của ông Huỳnh Tấn Mẫm nữa cơ. Người sinh viên đấu tranh nổi tiếng cách đây đã mấy chục năm, người luôn sát cánh với ông Đằng thời gian gần đây trong các cuộc biểu tình chống Tàu khựa. Có vẻ như các ông đã thỏa thuận với nhau từng bước hành động bao giờ, ở đâu, việc gì…

Kể cả khi một hoặc nhiều ông bị TAI NẠN BẤT KỲ.

Hãy để cho các ông ấy được quyền thốt lên câu:

ĐI CHẾT ĐI CÁI ĐẢNG CSVN KIA!

 ———————

Từ đầu năm đến nay đã có rất nhiều người trong đó bao gồm cả những đảng viên cộng sản tỏ chính kiến công khai trên các báo chí chính thống trong nước như Vietnam.net, VnExpress, đề xuất bỏ Điều 4 ra khỏi Hiến Pháp 1992. Chúng ta hãy cùng nhau điểm lại tình hình.

Ngày 14/1/2013, ông Trần Đình Nhã, Uỷ ban quốc phòng-an ninh của Quốc hội nói với báo chí: ”Chưa bao giờ từ tham nhũng xuất hiện với tần số nhiều như ở thời điểm này. Tham nhũng đang thách thức sự kiên nhẫn và sức chịu đựng của nhân dân“.

Ngày 27/2/2012, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài: ”Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng“ đã viết: ”Bây giờ trong Đảng cũng có phân hoá giầu-nghèo. Dư luận xã hội bức xúc nhất là tham nhũng, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm“. Ông Trọng còn nói: ”Về nguyên nhân thì nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Về tính chất của những tệ nạn đó là nghiêm trọng. Về phạm vi là tương đối phổ biến, trong đó có cả một số cán bộ cao cấp. Về xu hướng là diễn biến phức tạp. Về hậu quả là làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng“.

Ông Trương Tấn Sang, đương kim Chủ tịch nước nói về nạn tham nhũng như sau: ”Trước đây chỉ có 1 con sâu làm rầu nồi canh. Nay thì nhiều sâu lắm. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, nay cả 1 bầy sâu thì chết cái đất nước này“.

Từ khi chủ nghĩa Mác được ĐCSVN điều chỉnh, cho phép đảng viên cộng sản kinh doanh, trở thành nhà tư bản tư nhân, thì những thủ đoạn làm giầu bất chính của những người có chức vụ, có quyền, nhằm tích tụ tư bản ban đầu như ở giai đoạn tiền tư bản chủ nghĩa hoang sơ man rợ, không phân biệt trắng trợn hay tinh vi xảo quyệt, ngày càng lan rộng trên mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ.

Đất nước đang cần nhiều người có đức có tài ra gánh vác việc nước nhưng môi trường tham nhũng, bè phái, lợi ích nhóm không phải là môi trường có khả năng tập họp những người vừa có đức, vừa có tài.

Ông Trần Viết Hoàn, cử tri Hànội đã nói với đại biểu Quốc hội: ”Dân ta coi tham nhũng là giặc nội xâm, là quốc nạn, là giặc nằm trong lòng“.

Ngày 26/2/2013, ông Nguyễn Đăng Tấn nói với báo chí: ”Hiên nay chống tham nhũng là vấn đề cốt tử nhất mà nhân dân quan tâm, nhưng cho đến nay, mỗi lần tổng kết chống tham nhũng, chúng ta vẫn nói chỉ mới đạt được kết quả bước đầu“.

Năm 2011, trong lễ nhậm chức Thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: ”Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng thì tôi xin từ chức ngay“. Tuy nhiên cho đến nay tình hình tham nhũng càng nghiêm trọng và phổ biến trong xã hội.

Tại sao nạn tham nhũng có mặt ở tất cả các quốc gia nhưng các quốc gia khác thì diệt được nạn tham nhũng nhưng ở Việt Nam thì không làm được như vậy?

Ngày 01/12/2012, TBT Nguyễn Phú Trọng nói với cử tri Hà Nội: ”Đảng đã tiến hành tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết trung ương 4 nhưng “nhiều vị không chịu thừa nhận khuyết điểm sai lầm“. Ông Trọng còn nói: ”Chỉ ra bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên đã suy thoái đạo đức là bao nhiêu thì trừu tượng quá và cũng khó tách bạch ai nằm trong bộ phận đó“. Ông Trọng nói thêm: ”Rất khó để ai đó nhận ra khuyết điểm của mình“Như thế có nghĩa là ĐCSVN đã thất bại khi chỉ dựa vào giám sát nội bộ, tự cho phép mình đứng ngoài sự kiểm tra giám sát thực sự của nhân dân và pháp luật.

Ngày 12/6/2010, khi là Phó Thủ tướng, ông Nguyễn Sinh Hùng nói trước Quốc hội: ”Hôm nay thấy sai chỗ này một chút thì xử lý cách chức đi, kỷ luật đi. Ngày mai thấy sai chỗ kia một chút thì xử lý cách chức đi, kỷ luật đi thì lấy ai mà làm viêc, các đồng chí?”.

Ông Nguyễn Tấn Dũng thì nói: ”Đồng chí Phạm Văn Đồng là người làm Thủ tướng lâu nhất, có lần nói chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào cả, Chắc là tôi phải học theo đồng chí Phạm Văn Đồng“.

Nhưng Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Thắng, Học viện chính trị-hành chính quốc gia TP Hồ Chí Minh ngày 31/1/2013 thì chỉ ra đích danh với báo chí rằng: ”Chỉ những người có chức, có quyền, những cán bộ công chức nắm trong tay quyền, tiền, của cải thì mới có khả năng tham nhũng, mà tuyệt đại đa số là đảng viên“.

Ngày 14/1/2013, Bà Lê Thị Nga, Uỷ ban tư pháp của Quốc hội nói với báo chí: ”Tham nhũng về bản chất là sự lạm dụng quyền lực, là sự tha hoá quyền lực bởi những người có chức, có quyền trong bộ máy Nhà nước nhằm lợi ích riêng. Muốn chống tham nhũng thì phải kiểm soát quyền lực. Quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân. Quyền lực của Nhà nước là quyền lực phái sinh, do nhân dân trao cho. Quyền lực nếu không được kiểm soát sẽ trở thành tha hoá. Để chống tham nhũng, quốc gia nào cũng buộc phải xây dựng cho được thể chế kiểm soát quyền lực có hiệu quả“.

Ngày 11/1/2013, ông Vũ Oanh, nguyên uỷ viên Bộ chính trị ĐCSVN đã nói với báo chí: ”Khi đặc quyền, đặc lợi quá lớn sẽ dẫn đến hiện tượng mua quan, bán chức, cán bộ suy thoái đạo đức và sẽ dẫn đến tham nhũng. Cơ chế của ta đã tạo ra đặc quyền đặc lợi lớn. Có xử lý được vấn đề này mới có thể chống tham nhũng được“.

Giáo sư Nguyễn Văn Huyên (nguyên Viện trưởng Viện Chính trị học) cảnh báo: ”Đảng cần xem lại cả về tâm và tầm để liệu xem Đảng thật sự có đạo đức, có văn minh, là trí tuệ, là thiên tài chưa?”.

Ngày 23/1/2013, ông Bùi Đức Lại, chuyên gia cao cấp của Ban tổ chức trung ương đã nói với báo chí: ”Chỉ từ Hiến pháp 1980 mới có Điều 4 nói về vai trò lãnh đạo của Đảng. Trước đó Hiến pháp nước ta chưa có điều khoản nào tương tự nhưng không vì thế Đảng cộng sản Việt Nam mất quyền lãnh đạo. Đảng cộng sản Liên Xô dù vẫn giữ được điều khoản tương tự trong Hiến pháp của họ nhưng vẫn không tránh được thất bại. Các Đảng cộng sản Đông Âu cũng vậy. Vì thế ở đây là vấn đề Chính Đảng lãnh đạo có đủ phẩm chất và năng lực đảm đương sứ mệnh được nhân dân uỷ thác hay không “. Ông Bùi Đức Lại còn nói: ”Trong Nhà nước pháp quyền của dân và vì dân thì dân là chủ thể quyền lực. Vai trò Đảng cộng sản lãnh đạo Nhà nước về bản chất là do nhân dân uỷ thác cho Đảng. Không thể đặt vấn đề Đảng lãnh đạo đứng trên hay đứng ngoài Hiến pháp và Pháp luật. Đảng không những phải tôn trọng mà còn phải chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp và Pháp luật bình đẳng như mọi chủ thể chính trị khác và chịu sự giám sát của nhân dân.

Ngày 6/2/2013, ông Vũ Mão, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã nói với báo chí: ”Việc Đảng chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình cần được Luật hoá“. Ông nói thêm:

”Tình hình hiện nay rất nguy hiểm. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên trong đó có cả một số cán bộ cao cấp là vô đạo đức, tham nhũng, vơ vét của dân. Đó là điều không thể chấp nhận“.

Các ông Phạm Xuân Hằng nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hoàng Thái và Lê Truyền nguyên uỷ viên trung ương MTTQVN và ông Nguyễn Khánh nguyên Phó thủ tướng đều đã thông qua báo Vietnamnet ngày 19/2/2013 tỏ ý kiến đồng tình với sự cần thiết có Luật về Đảng và sự lãnh đạo của Đảng.

Nhưng giả sử có Luật về Đảng và sự lãnh đạo của Đảng thì giám sát bằng cách nào?

Ông Vũ Oanh đã chỉ ra rằng “Cơ chế của ta (do ĐCSVN tạo nên) đã tạo ra đặc quyền đặc lợi lớn. Đó là 1 trong những nguyên nhân quan trọng làm cho cán bộ, Đảng viên suy thoái đạo đức, dẫn đến tham nhũng“.

Thực trạng hiện nay là trong hệ thống cơ chế đó, điều 4 của Hiến pháp 1980 và của Hiến pháp 1992 chính là cái gốc tạo ra đặc quyền đặc lợi, bởi 2 lẽ:

Thể chế chính trị một Đảng cầm quyền vốn thường đẻ ra chuyên quyền độc đoán, dùng quyền lực thay cho chân lý, thay Pháp luật trong chỉ đạo và điều hành. Theo Điều 4 Hiến pháp thì chỉ ai là đảng viên cộng sản mới được cất nhắc lên những vị trí thật sự có chức có quyền, nắm giữ những quyền lực có khả năng chi phối tiền bạc, tài sản công để tham nhũng mà rất khó bị phát hiện và ngăn ngừa. Những kẻ muốn có những đặc quyền đặc lợi đó tất yếu sẽ tìm mọi cách, kể cả những thủ đoạn gian manh, hối lộ, mua chuộc để được vào Đảng và đến lượt họ, bằng chính kinh nghiệm của mình, khi đã vào Đảng, họ không bao giờ thực sự trở thành công bộc của dân. Giám sát họ không dễ dàng.

Ngày 31/1/2013, Tiến sĩ Tống Đức Thảo (Viện chính trị học) nói với báo chí: ”Một trong những quyền quan trọng thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân là quyền được quyết định chọn lựa các đại diện thể hiện ý chí của mình, đi đôi với nó là quyền phế truất khi người được uỷ quyền không thi hành đúng ý nguyện của nhân dân“. Nhưng cơ chế nào bảo đảm cho sự thực hiện cái quyền đó?

Ông Đỗ Mười đã có sáng kiến thiết kế ra “Quy chế dân chủ ở cơ sở“ để cho dân được bày tỏ ý kiến của mình trong các buổi họp Tổ dân phố với Tổ trưởng phải là đảng viên, hoặc tham gia biểu quyết trực tiếp bằng cách giơ tay hoặc không giơ tay tán thành. Với những vấn đề “thuộc loại nhạy cảm“ như chống tham nhũng, chắc rằng không ai dại dột sử dụng Quy chế dân chủ cơ sở của ông Đỗ Mười để mang vạ vào thân. Với Quốc hội Việt Nam, 90% Nghị sĩ là đảng viên cộng sản, cũng không người dân nào muốn gửi tiếng nói của mình thông qua Quốc hội về những vấn đề gọi là “nhạy cảm“ như chống tham nhũng.

Ngay ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Nguyễn Sinh Hùng không muốn kỷ luật ai cũng có cái lý của hai ông. Các Bộ trưởng giúp việc và các quan chức đầu Tỉnh, đầu Thành phố trực thuộc trung ương, dưới quyền hai ông đều ít nhất là uỷ viên trung ương Đảng. Làm phật lòng họ, hai ông có thể mất phiếu và do đó mất chức mất quyền. Như vậy, nếu có Luật về Đảng thì cái cơ chế hiện nay không tạo được thuận lợi cho sự giám sát sự thực thi Luật đó.

Những ý kiến trên đây là của những đảng viên cộng sản đã được đăng công khai trên các báo chính thống.

Làm thế nào để có thể giám sát có hiệu quả?

Ngày 19/2/2013 ông Trần Đức Thuận, nguyên phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội nói với báo chí: “Một Đảng cầm quyền nên chấp nhận cạnh tranh. Chấp nhận cạnh tranh chính là chấp nhận sự tự rèn luyện để ngày càng trưởng thành, trong sạch và vững mạnh. Nhân dân sẽ giúp Đảng loại bỏ những phần tử suy thoái tư tưởng, biến chất, tham nhũng“. Chấp nhận cạnh tranh tất yếu phải chấp nhận đa nguyên, đa đảng, phải bỏ điều 4 ra khỏi Hiến pháp 1992 . Như vậy, việc thành lập Đảng mới Dân chủ xã hội ở thời điểm này để giúp Đảng cộng sản rèn luyện ngày càng trong sạch, vững mạnh là việc làm hợp lòng dân, trong đó có rất nhiều Đảng viên cộng sản chân chính, trở thành một yếu tố cực kỳ quan trọng trong 3 yếu tố quyết định sự thành công là “thiên thời, địa lợi và nhân hoà“.

Hoàng Lô Giang

nguồn danluan.org

Advertisements

Posted in Đảng mới | 2 Comments »