Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám 12th, 2013

►Nghị định 72: Liên hệ với Mỹ như thế nào? Báo chí nước ngoài bình luận về Nghị định 72 ra sao

Posted by hoangtran204 trên 12/08/2013

Nghị định 72 và liên hệ với Hoa Kỳ 

Lê Phan

10-8-2013

Kể từ 1 tháng 9 tới đây chính quyền Hà Nội sẽ cho áp dụng Nghị định 72/2013 về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.”

Ðiều đã dấy lên những phản đối từ các tổ chức nhân quyền và gây hoang mang trong giới nhà báo tự do ở Việt Nam là điều khoản liên quan cái gọi là “trang thông tin tổng hợp” và tin tổng hợp. Về cái gọi là trang thông tin tổng hợp thì chính quyền định nghĩa như sau “Trang thông tin điện tử tổng hợp là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin chính thức và ghi rõ tên tác giả hoặc tên cơ quan của nguồn tin chính thức, thời gian đã đăng, phát thông tin đó.”

Khoản 2 của điều 20 như vậy đã khẳng định là các trang thông tin điện tử chỉ có quyền loan truyền những “nguồn tin chính thức.” Cũng trong điều 20, khoản 4 xác định về quyền hạn của “trang thông tin điện tử cá nhân” như sau “Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.”

Ngay lập tức chúng ta thấy là mục tiêu của nghị định này là những trang như Anh Ba Sàm, Bauxite Việt Nam, vốn là những trang mà mục đích chính là tổng hợp tin tức và cung cấp cho mọi người. Theo điều khoản trên thì họ sẽ không có quyền hoạt động nữa.

Dĩ nhiên các tổ chức bảo vệ quyền của nhà báo đã lên tiếng. Ở Pháp, Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) đã lên án “Việc thi hành nghị định này sẽ dẫn đến việc các cơ quan chính quyền thường xuyên kiểm soát toàn diện và liên tục mạng Internet.” Nhắc lại là theo nghị định, các blog và các trang giao dịch xã hội sẽ chỉ có quyền “cung cấp và trao đổi các thông tin mang tính cá nhân,” RSF khẳng định là nghị định này sẽ tạo nên một “lỗ đen” thông tin ở Việt Nam. RSF kêu gọi “toàn thể cộng đồng quốc tế lên án một cách nghiêm khắc Việt Nam, nếu chính quyền Việt Nam thị hành Nghị định 72…” 

RSF còn yêu cầu tính đến việc loại Việt Nam ra khỏi các đàm phán liên quan đến thỏa thuận mậu dịch xuyên Thái Bình Dương TPP vì trong thỏa ước này có điều khoản quốc gia tham gia phải bảo vệ nhân quyền.

Từ Bangkok, ký giả Shawn Crispin, đại diện Ðông Nam Á của Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo (CPJ) đã lên án nghị định này là “Cố gắng mới nhất của Việt Nam để đàn áp blog chính trị và ngăn chặn mọi hình thức bình luận chỉ trích online. Các blogger độc lập đang thách thức độc quyền của đảng Cộng sản cầm quyền về báo chí và truyền thông và nghị định mới này là cố gắng mới nhất của chính quyền để đóng cửa một không gian mở.”

Bình luận trong nhật báo Christian Science Monitor, giáo sư chính trị học chuyên nghiên cứu về Việt Nam Zachary Abuza đã chỉ ra là Việt Nam đang tự tạo cho mình nguy cơ làm các nhà đầu tư ngoại quốc tức giận bỏ đi với những nghị định luật ngày càng thêm khắt khe về Internet. Ông Abuza chỉ ra là trong khi Trung Quốc có đủ khối lượng khổng lồ người sử dụng Internet để có thể vì lợi nhuận điều đình với các đại công ty như Google, để có những cấm cản trong việc truy cập. Việt Nam không có được cái thế mạnh đó.

Và có lẽ chính vì vậy một số các nhà bình luận chỉ ra là ở một khía cạnh nào đó chính quyền đã chùn tay. Nghị định 72 nguyên thủy được soạn thảo với điều khoản đòi hỏi tất cả các công ty cung cấp dịch vụ Internet ngoại quốc phải có các server tức là các máy chủ và văn phòng tại Việt Nam nếu muốn được cho phép hoạt động ở Việt Nam. Ðiều này có thể buộc các công ty này phải cung cấp các thông tin về thân chủ và hoạt động trên Internet cho chính quyền Hà Nội nếu bị yêu cầu.

Vì thế Liên Minh Internet Á Châu, một tổ chức của ngành kỹ nghệ tin học thành lập bởi eBay, Facebook, Google, Salesforce và Yahoo, đã đưa ra tuyên bố chống lại những điều khoản này, nói sẽ có thể làm hại đến đầu tư ngoại quốc. Và ngay sau khi có tuyên bố này, chính quyền Hà Nội đã lặng lẽ rút bỏ những điều khoản về việc buộc họ phải có máy chủ ở Việt Nam.

Hà Nội cũng đã lùi bước bỏ đề nghị cấm những người sử dụng Facebook và Twitter đưa các web-links lên trang của họ. Với 11 triệu trương mục từ Việt Nam, Facebook đã ngày càng thay thế blog trong thông tin chính trị thành ra nhượng bộ này quả là đáng kể.

Nhưng như ông David Brown, một nhà cựu ngoại giao chuyên nghiên cứu về Việt Nam, nghị định này chưa chắc đã tạo nên mấy thay đổi. Bởi theo ông Brown, “Họ viết ra những luật như thế này, nhưng họ đã không thi hành hay là thi hành quá chọn lọc thành ra không bị coi như là đe dọa cho cá nhân.”

Vả lại, những người sử dụng Internet ở Việt Nam bây giờ rành rõi luật lệ lắm. Họ cũng rất rành nghề “trèo tường lửa” để tìm đến những địa chỉ họ muốn. Và một số blog đã chuẩn bị, với Anh Ba Sàm và Dân Làm Báo nay sử dụng những máy chủ ở ngoại quốc.

Như vậy là chưa chắc đã kiểm soát thêm được Internet chút nào không, nhưng chắc chắn là nghị định này đã làm Hoa Kỳ không hài lòng. Với Việt Nam có vẻ đang tiến tới trong việc cải thiện liên hệ với Hoa Kỳ qua cuộc viếng thăm dù vội vàng của Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng như một số các công ty Hoa Kỳ như Starbucks và McDonald’s tiếp tục tiến vào thị trường Việt Nam, Nghị định 72 đã làm Hoa Kỳ phản ứng mạnh.

Ðược biết là trước khi ông Sang đến Hoa Kỳ, trong chuyến công du của Tham mưu trưởng Quân Ðội Nhân Dân Tướng Ðỗ Bá Tỵ đã bày tỏ muốn được Hoa Kỳ hủy lệnh cấm bán vũ khí chiến tranh. Ðây là một việc mà Hà Nội coi như là một cách tăng cường thêm liên hệ giữa hai cựu thù và thúc đẩy hợp tác quân sự.

Nhưng hôm Thứ Tư, 7 tháng 8 vừa qua, Ðại sứ David Shear, trong một lời tuyên bố với báo chí trong nước, đã khẳng định “Phía Việt Nam đã bày tỏ muốn hủy bỏ giới hạn đó, và chúng tôi sẽ cứu xét việc này một cách nghiêm chỉnh. Nhưng chúng tôi cũng tin rằng để có tạo được ủng hộ chính trị cho việc hủy những giới hạn này… chúng tôi cần thấy có một số tiến bộ nào đó về nhân quyền về phía Việt Nam.” Ðiều ông đại sứ muốn nhắc khéo là luật cấm vận do Quốc Hội đưa ra và với tình hình nhân quyền hiện nay thì khó mà được Quốc Hội Hoa Kỳ chấp nhận cho hủy cấm vận vũ khí.

Cùng với chiến dịch bắt bớ blogger và những người chỉ trích chính quyền, nghị định mới này đã làm cho Việt Nam khó tăng cường liên hệ với Hoa Kỳ. Những giới hạn này cũng có tiềm năng gây phức tạp cho các liên hệ mậu dịch trong tương lai, kể cả cố gắng của Việt Nam tham gia Hiệp ước Ðối tác Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương TPP.

Một điều mà Giáo Sư Carl Thayer của Học Viện Quốc Phòng Úc đã chỉ ra cho ta thấy rõ là tuy Hà Nội đã có ký kết những hiệp ước đối tác chiến lược với Trung Quốc, Nga và cả Anh Quốc, chuyến công du của ông Sang đã không mang lại được một thỏa thuận đối tác chiến lược với Hoa Kỳ.

nguồn: nguoi-viet.com

——–

Báo chí nước ngoài bình về Nghị định 72

BBC

– thứ hai, 12 tháng 8, 2013

Một phần ba dân số Việt Nam sử dụng internet

Nghị định 72 về quản lý và cung cấp sử dụng dịch vụ Internet không chỉ gây tranh cãi tại Việt Nam mà còn thu hút sự chú ý của báo giới nước ngoài. BBC Việt Ngữ điểm một vài bài báo nước ngoài bình luận về Nghị định này.

The Economist

Tờ The Economist đăng bài với tựa đề Bấm”Việt Nam and the Internet: The audacity of repression” (“Việt Nam và mạng internet: Sự đàn áp táo bạo”) nhắc tới việc chính phủ Việt Nam sẽ bắt đầu từ tháng Chín áp dụng những quy định mới giới hạn việc sử dụng websites và mạng xã hội chỉ để trao đổi “thông tin cá nhân” mà thôi.

Bài báo trích dẫn một trong những quy định của Nghị định này cấm “Chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” và bình luận “Đây là một điều khoản tóm gọn ngoạn mục”.

“Nghị định cũng đòi hỏi các công ty khổng lồ như Google và Facebook phải đặt ít nhất một máy chủ (server) tại Việt Nam, mà có lẽ là khiến chính phủ có thể kiểm soát nhiều hơn nội dung của họ,” bài báo viết.

Vẫn theo bài báo này thì “đây là một đòn trong cuộc chiến của nhà nước Việt Nam chống lại bất đồng”.

Trích dẫn số liệu của tổ chức nhân quyền Human Right Watch, số bloggers và các nhà chỉ trích bị bắt chỉ trong sáu tháng đầu năm 2013 đã vượt con số của cả năm 2012 và bình thêm rằng “Nghị định 72 này sẽ cho phép nhà nước thêm một công cụ pháp lý đầy quyền lực khác nữa cho việc đàn áp”.

“Đây là một bằng chứng nữa, nếu cần có bằng chứng, rằng chính phủ Việt Nam đang có đường hướng tai hại, khác hẳn với cá nước khác trong vùng như Miến Điện, Malaysia và thậm chí nước láng giềng Campuchia”, tờ Economist viết, và nói tới “quan ngại sâu sắc” của Tòa đại sứ Mỹ tại Việt Nam trước Nghị định này.

Asia Sentinel

Tương tự, bài báo về chủ đề “Vietnam’s New Internet Decree” (Nghị định mới về internet của Việt Nam”) của tác giả David Brown với tựa đề “”Who’s Afraid of the Big Bad Wolf” ” (tạm dịch: “Ai sợ sói lớn độc ác”) đăng trên trang Asia Sentinel cũng mở đầu bằng quan ngại của các tổ chức như Ủy ban Bảo vệ Các nhà báo, tổ chức Phóng viên Không biên giới và của Tòa đại sứ Mỹ ở Hà nội về Nghị định 72 này.

Bài báo lưu ý tới một vài dòng trong điều 20 của nghị định này, theo đó cấm các bloggers hay người dân cung cấp tin tổng hợp trên Facebook hay các mạng xã hội khác.

“Rắc rối là, mà đó có lẽ nó không phải là chủ ý của giới chức trách Việt Nam – mà kể cả đó là chủ ý của họ đi chăng nữa – thì ngăn chặn những công dân thạo về internet không đăng lại hay đặt đường link tới các tin tức này gần như chắc chắn là một điều vượt ra ngoài khả năng của họ,” tác giả David Brown bình luận.

Tác giả viết tiếp: “Việc tìm kiếm ‘một nhà nước dựa trên luật pháp xã hội chủ nghĩa’ dẫn tới tình trạng rối ren về luật pháp vốn đang cố gắng nặn ra các nguyên tắc và luật lệ sao cho cho phù hợp với một nền kinh tế đang phát triển và một quan điểm về thế giới đang được mở rộng đối với những gì còn rơi rớt lại của lý tưởng Marxist-Leninist.

“Khó có một ví dụ nào tốt hơn về việc làm rối beng lên này như Nghị định 72, điều 46, 21 trang sắc lệnh quản lý internet của Thủ tướng, một nghị định đag bị truyền thông phương tây lên án.”

Nhìn chung tác giả cho rằng không có nhiều nội dung mới trong Nghị định 72 này mà phần lớn là sắp xếp lại một hướng dẫn từ năm 2008 theo đó tìm cách mở rộng các nguyên tắc quản lý truyền thông công cộng lên một mức mới, với tương tác trên internet và sự xuất hiện của mạng xã hội.

Tuy nhiên tác giả lưu ý tới ba “yếu tố thực sự mới và có vấn đề” của Nghị định này. Một trong số đó là việc tìm cách phân biệt các loại “trang thông tin điện tử” và chính đây là điều đã gây tức giận về những gì không thể hay có thể được đăng tải hợp pháp trên một trang blog hay Facebook.

Một điểm mới khác trong số này “mà Bộ Thông tin nói là động cơ chính cho việc sửa đổi các quy định quản lý internet, đó là Việt Nam cần thắt chặt bảo vệ sở hữu trí tuệ”.

Theo tác giả David Brown thì về nguyên tắc Bộ Thông tin Việt Nam hoàn toàn đúng vì trên mạng hay ngoài mạng báo chí Việt Nam in lại bất cứ những gì họ thấy thích hợp, dù là nội dung của trong nước hay nước ngoài, đôi khi có trích nguồn, đôi khi không.

“Trước mắt là Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, một ‘thỏa thuận thương mại của thế kỷ thứ 21’ mà Hoa Kỳ đang thúc đẩy. Hanoi tha thiết muốn được tham gia nhưng một phần lệ phí tham gia là một cam kết đáng tin cậy sẽ bảo vệ sở hữu trí tuệ của đối tác kia.

“Đó quả là một đòi hỏi khó khăn. Đặc biệt trong thực tế internet tại Việt Nam, giới chức trách Việt Nam không có khả năng giám sát liệu các trích dẫn là đầy đủ và chính xác chứ chưa nói gì tới chuyện truy tìm những trường hợp không tôn trọng bản quyền,” tác giả viết.

Bài báo nhìn nhận nhiều yêu cầu đề ra trong nghị định mới này cũng nảy sinh những khó khăn không khác gì so với thông tư năm 2008 và “đó là một vấn đề phổ biến với các luật và chỉ thị của Việt Nam: chúng thường là những tuyên bố về nguyên tắc mà nhìn chung không thể thi hành được”.

Một thức tế là sau Thông tư 2008, hầu hết các blogs hàng đầu của Việt Nam đã chuyển sang các trang được đặt ở nước ngoài như WordPress hay Blogspot và như vậy vượt ra ngoài tầm kiểm soát của luật Việt Nam nhưng vẫn tới được với độc giả người Việt.

Bài báo kết luận “cuối cùng thì cũng giống như nhiều luật và nghị định khác của Việt Nam, các điều khoản của Nghị định 72 gây nhiều tranh cãi này dường như có tính khích lệ, được thúc đẩy bởi lý tưởng và không thể thực thi một cách có hệ thống”.

The Washington Post

Trong khi đó một bài báo khác trên tờ Washington Post, mang tiêu đề “BấmFrom the U.K. to Vietnam, Internet censorship on the rise globally” (Từ Anh Quốc tới Việt Nam, kiểm duyệt internet gia tăng toàn cầu”), tác giả Caitlin Dewey viết, theo phân tích từ tổ chức Freedom House, “Việt Nam không phải là nước duy nhất thực hiện đàn áp mạng, và thậm chí các biện pháp của họ cũng không phải là đặc biệt cứng rắn” và kiểm duyệt internet đang gia tăng trên thế giới và các nước độc đảng như Việt Nam không phải là cac nước duy nhất có luật định về những gì có thể đăng trên mạng.

Mặc dù trong bối cảnh đó, tác giả cho rằng Nghị định 72 của Việt Nam “dường như đang tụt xuống một mức tồi tệ mới”.

“Việt Nam không phải là Bắc Hàn – sau cùng thì nước này nằm trong Tổ chức Thương mại thế giới và hơn một phần ba dân số sử dụng internet – nhưng đây vẫn là một trong những nước cộng sản cuối cùng trên thế giới và một trong những quốc gia có các quy định truyền thông cứng rắn nhất,” bài báo viết.

Mặc dù luật mới này là một tin xấu cho các blogger và những người tương tự, tác giả cho rằng “cho tới khi chúng ta biết chắc chắn là chính phủ sẽ thực thi quy định mới này như thế nào thì có lẽ vẫn còn một chút hy vọng: không giống các công cụ chặn lọc hoạt động ở cấp nhà cung cấp dịch vụ và cấp giấy phép mạng, vốn nhắm vào các trang là mục tiêu cụ thể, thì việc sàng lọc những gì mơ hồ như “thông tin phi cá nhân” sẽ là một cơn ác mộng về mặt hậu cần và có lẽ đòi hỏi việc kiểm duyệt phải do con người thực hiện để rà soát các mạng xã hội.

“Ít nhất thì dường như vẫn có khả năng trốn tránh được,” bài báo viết.

 

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Nhà văn Sơn Nam

Posted by hoangtran204 trên 12/08/2013

ĐI LÃNH NHUẬN BÚT VỚI NHÀ VĂN SƠN NAM

August 10, 2013 at 8:12pm

( Post lại nhân ngày giỗ ông )

Võ Đắc Danh

Đúng hẹn để nhận bài cho báo Tết, tôi gọi điện thoại đến nhà truyền thống quận Gò Vấp xin gặp nhà văn Sơn Nam. Bên kia đầu dây, ông trả lời ngắn gọn: “Cho hẹn lại sáng mai nghen, sáng nay mắc ra báo Công an mượn tiền xài, hiện giờ trong túi chỉ còn mấy chục đồng“. Tôi nói: “Vậy thì tía ở đó đợi con vào chở tía đi

Khi ngồi sau lưng tôi trên chiếc honda, ông nói: ” Sáng nay có mấy cô ký giả trẻ đến hạch hỏi mấy tiếng đồng hồ, trả lời muốn khan cổ họng mà chẳng có đồng xu. Nhưng kể ra cũng tội nghiệp tụi nó, sinh viên từ miền Tây mới ra trường, đang thử việc, không có bài hay thì chủ báo không ký hợp đồng nên ráng giúp tụi nó“.

Phỏng vấn, kể chuyện là phải trả tiền, gần như đó là nguyên tắc của ông – một người cả đời chỉ sống bằng nghề viết – Bởi những tư liệu mà ông có được, ông cũng phải tốn tiền. Ông kể, ngày xưa, ngay từ khi ông viết Lịch sử khẩn hoang miền Nam, sở dĩ ông có nhiều tư liệu quý là vì mỗi khi  vào thư viện ông đều tặng phong bì cho thủ thư nên họ rất nhiệt tình. Ông nói cụ Vương Hồng Sễn là một người rất sòng phẳng trong chuyện ấy, mỗi khi đến nhà cụ để đọc và ghi chép tài liệu hoặc nhờ cụ trả lời một vấn đề gì, trước khi ra về, dù ít hay nhiều cũng phải để lại một cái bao thư. Lý giải về sự sòng phẳng ấy, ông nói rằng, mình viết bài đăng báo được lãnh nhuận bút thì không lý do gì bắt người khác phải cung phụng cho mình.

Tôi kể cho ông nghe rằng cách nay ba ngày, trong một tham luận đọc tại hội nghị những người viết văn trẻ của thành phố, nhà thơ Nguyễn Trọng Tín có nói về một nền văn học ăn lương, đại khái rằng có những người suốt đời được trả lương để làm văn học nhưng chưa hẳn là có lợi cho văn chương. Nghe xong, ông cười có vẻ tâm đắc lắm: ” Cái thằng đó hay à ! Nói vậy là nó loại trừ tôi ra“.

Cả một đời gắn bó với văn chương, ông đã tự mình làm nên một Sơn Nam cho nền văn học – nói theo nghĩa một nền văn học ăn lương của Nguyễn Trọng Tín – bây giời, khi ông ngồi sau lưng tôi  đi đến một Tòa báo để mượn tiền xài, tôi chợt ngậm ngùi nhận ra ông thiếu đi nhiều thứ so với một thường dân : Cả đời không biết chạy xe, dù là xe đạp, tròn năm mươi năm qua sống trên đất Sài Gòn, ông chỉ biết đi bộ, đi xe buýt, xích lô và xe honda ôm; không có nơi tiếp khách dù là khách của ông ngày nào cũng có; không có điện thoại, dù là điện thoại bàn; cho đến bây giờ, ông vẫn viết bằng tay hoặc chiếc máy chữ mini mà tuổi thọ của nó cũng xấp xỉ tuổi nghề của ông.

Hồi tòa soạn báo Văn nghệ thành phố còn ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, mỗi sáng ông từ nhà tới đó ngồi uống café trong căn-tin đến 9 giờ, đó là khoảng thời gian ông tiếp khách. Hay nói đúng hơn đó là văn phòng giao dịch của ông để giao và nhận bài cho các cơ quan báo chí trong nước, và cả nước ngoài. Khi báo Văn nghệ dời đi cũng là lúc ông bỏ nhà đi lang thang vì chuyện cơm không lành, canh không ngọt. Từ đó văn phòng giao dịch của ông dời về quán café trong khuôn viên nhà truyền thống quận Gò Vấp, gần chục năm nay. Bây giờ ông đã trở về với mái ấm gia đình, nhưng địa chỉ văn hóa của ông vẫn còn chỗ cũ. Mỗi sáng, lúc 7 giờ 30, ông lên xe honda ôm từ Bình Thạnh ra Gò Vấp cũng giống như người ta đi đến cơ quan. Ơ đó có một cô nhân viên thư viện chuyên làm công việc chữa bản thảo cho những bài viết của ông, bởi do tuổi cao , mắt mờ, tay rung nên ông hay gõ sai nốt chữ. Ai muốn gặp ông qua điện thoại thì cứ gọi vào số máy của nhà truyền thống, nhân viên ở đây rất vui vẻ hỏi người gọi tên gì, ở đâu để chạy ra sân báo cho ông. Ơ đây, ngoài những biên tập viên của các cơ quan báo chí tìm đến ông đặt bài, nhận bài, trả nhuận bút, còn có những sinh viên báo chí, du lịch, ngữ văn, những nghiên cứu sinh đang làm luận án Tiến sĩ cũng tìm đến ông như để tra cứu một quyển từ điển sống, một kho địa chí văn hóa sài Gòn và đồng bằng Nam bộ.

Tôi mạo muội hỏi ông: ” Nhà xuất bản Trẻ mua đứt bản quyền của tía bao nhiêu ?“. Ông nói: ” Đây là chuyện tế nhị mà cả hai bên đã cam kết rằng không ai được nói ra“. Rồi ông lại cười giòn và tấm tắt khen bài tham luận của nhà thơ Nguyễn Trọng Tín mà tôi vừa kể với ông.

Đến Tòa soạn báo Công an, ông có vẻ thất vọng khi biết anh Trần Tử Văn đi vắng. Ra trước sân, ông trầm ngâm đứng lặng. Tôi hỏi ông cần khoảng bao nhiêu, ông nói khẽ: “Càng nhiều càng tốt, mấy đứa nhỏ đang gặp khó khăn, chứ bản thân tôi thì hề hấn gì“. Tôi đang nghĩ đến số nhuận bút bên Thời báo Kinh tế sài Gòn, nhưng khi nghe ông nói ” mấy đứa nhỏ đang gặp khó khăn” thì tôi biết ngay rằng nhuận bút của một vài bài báo sẽ chẳng có nghĩa lý chi, phận mình mới chân ướt chân ráo lên Sài Gòn, cái nhà còn chưa có ở . . . Nhìn ông già còm cõi, tem hem, môi rung, mắt mờ, chân yếu trong cơn tuyệt vọng trước nợ áo cơm giữa chốn phồn hoa đô hội mà tôi muốn rơi nước mắt. Một nhà văn bậc thầy, một tinh hoa của dân tộc mà thân phận như thế nầy sao ? Lòng tôi xót xa tự vấn.

Trong lúc đầu óc tôi đang bối rối thì ông già giục đi. Tôi hỏi đi đâu, ông bảo sang Hãng phim Giải phóng. Đi dọc đường, ông nói rằng ở bên đó ông còn mấy ngàn đô-la nhưng không biết nó đã về tới bên nây chưa hay là còn bên Mỹ. Tôi chở ông đi như sự cầu may.

Nhưng thật bất ngờ, khi vừa dừng trước cổng thì anh Trần Khải Hoàng, phụ trách tài vụ vừa dắt xe ra, gặp ông, anh mừng rỡ: ” Trời ơi, tía ! Vô đây con gởi tiền, con đợi tía mấy ngày nay !”

Anh Hoàng cho biết, một đạo diễn người Mỹ gốc Việt đã chuyển thể truyện ngắn “Mùa len trâu” của ông thành phim truyện nhựa, họ trả nhuận bút cho ông ba ngàn đô-la, tạm thời họ ứng trước cho ông một ngàn, số còn lại sẽ trả sau khi phim phát hành hai tháng. Anh Hoàng nhờ tôi chuyển chứng từ cho anh Phạm Sĩ Sáu ở nhà xuất bản Trẻ, bởi  về mặt thủ tục, số tiền nầy phải trả cho nhà xuất bản Trẻ vì bên ấy đã mua đứt bản quyền của nhà văn Sơn Nam.

Trên đường đi, ông Sơn Nam tỏ ra phấn chấn: ” Thằng xuất bản Trẻ nầy chơi ngon, bản quyền tôi đã bán cho nó rồi, vậy mà số tiền nầy nó vẫn để cho tôi hưởng trọn, không lấy tiền cò mặc dù hợp đồng do nó ký

Như ngẫm nghĩ điều gì một lúc rồi ông nói: “Tôi còn mấy chuyện hây lắm, nhưng về già mới viết được“. Nghe ông nói thế, tôi bật cười. Nhưng rồi tôi bổng giật mình chợt nghĩ : ông có lẫm cẫm rồi chăng ? Gần tám mươi tuổi rồi mà ông còn nghĩ “về già mới viết”.

Khi dừng lại một vỉ hè để uống café, tôi nhìn kỹ ông và nhận ra làn da ông hơi mọng nước, đôi môi rung rẩy nhiều hơn. Nhớ lại hồi sáng tôi phải dìu ông đi từng bước chậm xuống cầu thang ở báo Công an thành phố.

Lạy trời và lạy trời . . . !

———————-

Nhà văn Sơn Nam: “Sống bằng hơi thở đất rừng U Minh”

22:21:54, 14/02/2006

Đoàn Thạch Hãn

Sinh năm Bính Dần (1926) tại U Minh (Kiên Giang), tính theo tuổi ta đến tháng giêng năm nay, nhà văn Sơn Nam đã bước sang tuổi 81. Vậy mà sáng 15/2 ông phải chịu phẫu thuật vì nứt xương chậu do một tai nạn giao thông gây ra cách đây 7 tháng trên đường Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh, TP.HCM.

Sáng chủ nhật 12/2, chúng tôi đến thăm ông đang nằm điều trị tại phòng 3/07, lầu 2 tại Trung tâm chấn thương chỉnh hình TP.HCM. Người nhà ông cho biết, lẽ ra ca mổ đã được thực hiện ngay khi ông nhập viện vào thứ sáu tuần rồi, nhưng do sức khỏe quá yếu, gần như là kiệt lực nên các bác sĩ phải dời lại mấy ngày cho ông bồi dưỡng.
Căn phòng có bốn giường bệnh, nhà văn Sơn Nam nằm ở giường số một, gầy gò, hom hem dù vẫn còn nét tỉnh táo và ông nhận ra chúng tôi ngay bằng nụ cười rạng rỡ. Câu chuyện bắt đầu bằng giọng yếu ớt, chậm rãi nhưng dường như đã lâu không có ai để trò chuyện nên ông tỏ ra vô cùng hứng thú. Ông tâm sự: “Tôi sinh ra ở vùng đất U Minh, nơi đó là những cánh rừng tràm bạt ngàn kéo dài từ Rạch Giá qua Sóc Trăng, Bạc Liêu và đến tận Cà Mau. Tôi bắt đầu sự nghiệp viết lách bằng những truyện ngắn vào năm 1955 trên văn đàn Sài Gòn để từ đó mà có Mùa len trâu, Hương rừng Cà Mau… được viết ra từ ký ức quê nhà mãi mãi không bao giờ phai nhạt. Trời sinh ra cây tràm thật là kỳ diệu, nó bám chặt rễ trong sình, chìm ngập trong nước mà vẫn mạnh khỏe, vẫn sinh sôi nảy nở để giữ vững mảnh đất bồi cho quê hương và giữ người cho đất. Chẳng nơi nào có được những ngày rừng tràm nở rộ hoa trắng mênh mông, trùng trùng điệp điệp, quyến rũ cơ man hàng vạn bầy ong làm tổ trên cành hút nhụy hương rừng làm mật ban tặng cho người như đất U Minh…”.

Say chuyện, nhưng nhà văn Sơn Nam vẫn không thể ngồi dậy được. Ông vừa nằm vừa nói, thỉnh thoảng ngẩng đầu lên hỏi xin một điếu thuốc nhưng chẳng ai dám đưa vì bệnh viện cấm ngặt chuyện này. Chúng tôi hỏi ông hiện nay còn bao nhiêu ký, ông nói đâu ngoài bốn chục gì đó. Một chị phụ nữ đi nuôi người nhà nằm giường bên cạnh lên tiếng: “Bác làm gì được 40 cân, cao lắm 37 cân là cùng !”. Ông cười hóm hỉnh: “Ừ thì tự trấn an mình một chút có sao đâu, hồi nào tới giờ có cân đâu mà biết!”. Rồi ông lại tiếp tục nói về con người phương Nam. Mới đây, xem bộ phim Mê Kông ký sự của NSND Phạm Khắc, nhà văn Sơn Nam cho rằng ông càng hiểu thêm tính chất Nam Bộ, một lưu vực ở cuối con sông nổi tiếng này. Sau khi chảy qua nhiều quốc gia, nhiều dân tộc và nhiều nền văn minh khác nhau, sông Mê Kông không chỉ mang phù sa về tưới cho đồng bằng miền Tây Nam Bộ thêm màu mỡ mà còn chở về cho con người nhiều điều thú vị khác…

Chúng tôi hỏi ông tại sao khi tai nạn xảy ra ông không chạy chữa ngay mà phải chờ đến bây giờ? Nhà văn Sơn Nam thở dài buồn bã: “Trước hết là không có tiền, tôi suốt đời sống bằng ngòi bút nên chẳng bao giờ dư giả! Cứ tưởng chịu đựng một chút rồi sẽ qua, ngờ đâu sức già không đủ đề kháng. Thứ đến, tôi muốn “nhõng nhẽo” với Nhà nước, với anh em bằng hữu thử xem sao!” .

Thế mà đã 7 tháng qua và cho đến hôm ấy, đang nằm trên giường bệnh chờ ca mổ nhưng vẫn chưa thấy có một cơ quan chức năng nào đến với ông, dành cho ông một lời an ủi, động viên, nói chi đến việc chia sẻ khó khăn với một tên tuổi lớn đã cống hiến cho nền văn hóa nước nhà những công trình không nhỏ!

Ở tuổi quá gần đất mà rất xa trời, lại đang lâm vào khó khăn, hoạn nạn nhưng nhà văn Sơn Nam vẫn sống rất lạc quan. Ông luôn tin tưởng sẽ vượt qua tất cả, sẽ trở về và tiếp tục cầm viết bởi theo ông, đó không chỉ là nghiệp dĩ mà còn là niềm đam mê và cũng để trả nợ áo cơm cho đời.

Chúng tôi nghĩ, với tuổi tác và tình trạng sức khỏe hiện nay, theo quy luật kiếp người, một ngày nào đó không xa nhà văn Sơn Nam cũng phải ra đi. Và sẽ là một cuộc tiễn đưa rình rang với đầy hoa tươi và những lời ai điếu, tiếc thương. Điều đó cũng sẽ vô cùng ý nghĩa và xứng đáng với một chân dung lớn trong văn học nước nhà như ông.

Nhưng giá như những tháng ngày ngắn ngủi còn lại trên thế gian này, ông được đãi ngộ xứng đáng như những gì đã được tôn vinh để không như hoàn cảnh hiện tại cần 15 triệu đồng chữa bệnh mà chỉ còn biết nhờ báo chí kêu gọi các mạnh thường quân tiếp sức, trong khi có những quan chức Nhà nước dám bỏ ra hàng chục tỉ đồng trong cuộc đỏ đen. Đó không chỉ là nỗi buồn cho Sơn Nam mà còn là niềm tủi cho tất cả chúng ta.

——————–

Cuộc gặp gỡ cuối cùng với nhà văn Sơn Nam

QĐND – Thứ Năm, 19/04/2012,

QĐND – Đó là một ngày cuối năm 2007. Để rồi sau đó không lâu, ông chấm dứt chuỗi năm tháng “ở trọ trần gian”, thanh thản về với thế giới vĩnh hằng. Bây giờ mỗi dịp đi qua con đường trước thư viện quận Gò Vấp, bên cái quán cà phê “bụi” ven đường, tôi vẫn như thấy ông còn ngồi đó, dáng gầy gò, đôi mắt chớp chớp liên hồi sau cặp kính trắng dày cộp…

Nhà văn Sơn Nam (bên trái) trò chuyện với tác giả trong cuộc gặp gỡ cuối cùng. Ảnh:  Kim Tùng

Nói cuộc gặp gỡ cuối cùng là bởi trước đó, tôi đã mấy lần được gặp và hầu chuyện ông. Khi thì đặt ông viết bài cho số báo Xuân theo yêu cầu của Ban biên tập. Khi thì hỏi chuyện ông về văn hóa Nam Bộ. Nhưng cũng có khi đơn giản là cùng đám phóng viên và mấy nhà văn trẻ đến ngồi nghe ông nói chuyện bên ly cà phê “bụi” để tìm vốn ngôn ngữ viết bài. Với anh chị em làm báo, viết văn ở TP Hồ Chí Minh, ông là pho tư liệu sống về văn hóa, lịch sử, là một bậc thầy về ngôn ngữ Nam Bộ. Thế nên ông còn được gọi bằng cái tên rất đỗi thân thuộc là “Ông già Nam Bộ”.

Rất lạ và thú vị là mỗi lần gặp ông, câu chuyện mà ông mang đến cho chúng tôi mỗi lần mỗi khác, mỗi người mỗi khác, không “đụng hàng”, không lặp đề tài. Dường như ông biết, lớp trẻ chúng tôi cần ở ông điều gì nên dù là câu chuyện bên quán cóc vỉa hè, bao giờ ông cũng có thứ gì đó để chúng tôi thu nạp.

Tháng cận Tết hằng năm là khoảng thời gian ông bận rộn nhất. Hàng chục tờ báo lớn nhỏ đến tìm ông để đặt bài, phỏng vấn. Và chưa bao giờ ông từ chối. Khi được đặt bài, ông hỏi rất kỹ, cần ông viết về cái gì, bao nhiêu chữ? Và thường là chỉ sau vài ngày, chậm nhất là một tuần, ông hẹn đến lấy. Sản phẩm của ông là những trang giấy học trò viết bút mực, nét chữ mộc mạc, rõ ràng, dễ đọc. Chỗ nào cần sửa, bổ sung thì ông đánh dấu mực đỏ vào đó.

Tết năm nào cái tên nhà văn, nhà Nam Bộ học Sơn Nam cũng đứng dưới tên tác phẩm trên hàng chục tờ báo lớn, nhưng không bài nào “đụng hàng” nhau. Ông xuề xòa là vậy nhưng trong sáng tạo ngôn ngữ, ông có tính kỷ luật lao động rất cao và nghiêm túc. Cường độ viết và làm việc của ông thật đáng nể. Ngay cả khi đã nằm trên giường bệnh, ông vẫn chưa thôi viết.

Lần nào cũng vậy, điểm hẹn ông dành cho tôi là Thư viện quận Gò Vấp. Đây mới thực là “nhà” của ông. Còn cái nhà ông được Nhà nước cấp trong con hẻm, dường như chỉ là cái chốn trọ mỗi khi đêm xuống ông ghé về ngả lưng. Tài sản quý giá nhất và nhiều nhất trong căn nhà ấy cũng chỉ là sách báo.

Trở lại với cuộc gặp gỡ cuối cùng ông dành cho tôi. Bấy giờ ông đã yếu lắm. Người gầy tong teo, chân bị bệnh khớp nên ông đi lại khá khó khăn. Mỗi khi bước lên cầu thang phải có người giúp đỡ. Ông nói chuyện cũng chậm hơn nhưng cái sự say sưa, hóm hỉnh thì vẫn thế. Dấu ấn và phong cách Sơn Nam không thể lẫn, dù sức khỏe không cho phép ông nói nhiều. Cơ mặt giật giật liên tục mỗi khi ông cất tiếng nói. Vậy nhưng ông vẫn không từ bỏ thói quen đến thư viện đọc sách. Nghe đâu mấy bác xe ôm gần nhà cứ mỗi lần thấy “Ông già Nam Bộ” đi ra khỏi cửa là sẵn sàng phục vụ ông miễn phí. Nhưng ông có nguyên tắc, không lạm dụng lòng tốt của người khác. “Khuyến mãi” lần đầu thì được nhưng đến lần thứ hai thì ông nhất định trả tiền. Nếu không chịu lấy tiền thì ông “dọa” sẽ gọi xe khác.

Mấy cô thủ thư quen và yêu quý ông đến mức dành hẳn cho ông một cái bàn riêng trong gian phòng yên tĩnh để ông nghiên cứu và tiếp khách. Ông hẹn tôi lúc 8 giờ sáng. Tôi đến trước 15 phút đã thấy ông ngồi ở đó, trước mặt là một chồng sách. “Dạ! Sao bác đến sớm thế ạ?” – Tôi hỏi. Ông nheo nheo mắt cười, cái cười sảng khoái như bản tính con người Nam Bộ xưa nay: “Tui hẹn là hẹn cho cậu, chớ tui thì sáng mờ đất là đã ở đây rồi. Tuổi trẻ như cậu, quỹ thời gian còn dài, còn ham chơi, ham ngủ. Còn tui, sống được bao lâu nữa đâu mà ngủ muộn cho nó phí”.

Tôi lặng ngồi nhìn ông. Đôi dép lê. Cái áo sơ mi bạc màu. Chiếc quần Tây cũ trở nên rộng thùng thình bởi càng ngày ông càng gầy yếu hơn. Tôi hẹn hỏi chuyện ông về văn hóa phong tục để viết bài cho Báo Quân đội nhân dân. Chẳng kịp để tôi vào đề, ông nói luôn: “Bàn đến văn hóa phong tục nó rộng lắm, phong phú lắm. Để tiện cho cậu viết bài, tui chỉ nói gọn trong bốn cái gạch đầu dòng”. Nghe ông nói, tôi như mở cờ trong bụng. Sướng đến thế là cùng.

Thông thường người được phỏng vấn chỉ thực hiện mỗi việc trả lời câu hỏi của phóng viên, nhưng với ông, đó còn là những gợi ý rất có giá trị giúp phóng viên hoàn thành bài viết một cách tốt nhất. Bốn cái gạch đầu dòng mà ông dành cho tôi bắt đầu bằng 4 chữ “Quan – Hôn – Tang– Tế”.

Ông giải thích: Quan, để chỉ các nghi lễ, phong tục về con đường lập thân, lập nghiệp, nền nếp gia phong. Hôn, là những nghi lễ trong hôn nhân. Tang, là nghi lễ trong việc tang, thờ cúng. Tế, là những phong tục tín ngưỡng trong lễ hội, hoặc tín ngưỡng tôn giáo… “Một nguyên thủ quốc gia hay một người đạp xích lô, chạy xe ôm, bán vé số… khi vào đình, chùa, đến nhà thờ, đi lễ hội, làm lễ thành hôn trước bàn thờ gia tiên hay đứng trước linh cữu của cha mẹ… đều chung một nghi lễ. Ông bộ trưởng cũng phải vái lạy kẻ ăn mày nếu như người ta đến thắp nhang viếng cha (mẹ) mình. Cái giá trị tự thân của văn hóa phong tục là ở chỗ nó tạo ra sự bình đẳng giữa con người với con người. Xây dựng văn hóa ứng xử cho lớp trẻ hôm nay phải bắt đầu bằng cái gốc của văn hóa phong tục” – Ông nói.

Hôm sau tôi viết bài xong, mang đến cho ông xem trước khi đăng báo. Ông cẩn thận sửa những chỗ tôi sử dụng phương ngữ Nam Bộ chưa chuẩn. Tôi mời ông đi ăn ở nhà hàng nhưng ông từ chối. Ông kéo tôi vào quán cơm “bụi” ở gần thư viện Gò Vấp mà hằng ngày ông vẫn ghé ăn trưa. Bà bán hàng cơm đã quá hiểu “gu” ẩm thực của ông nên cứ thế mà đưa thức ăn ra, không cần chờ ông gọi. Một đĩa cơm. Cái trứng rán. Một ít rau muống luộc, bát canh và ly trà đá. Tất cả chỉ có thế.

Bữa ăn của một nhà văn nổi tiếng với khối lượng tác phẩm chất cao hơn đầu người chỉ có thế. Bao năm nay rồi cũng chỉ thế. Thói quen của ông như thế rồi. Ông ăn chậm lắm nhưng ngồi suốt buổi, đĩa cơm cũng chỉ vơi được già nửa. Tôi chợt thấy chùng lòng khi chứng kiến ngày trần gian của ông đang cạn dần… Con người ông giản dị, nhân nghĩa thế nên tác phẩm của ông cũng thế. Trong sáng tác văn học, ông hướng ngòi bút của mình đến những người nông dân Nam Bộ và dân nghèo thành thị, dành cho họ cái nhìn nhân văn.

Các công trình biên khảo, khảo cứu của ông có giá trị như những “giáo khoa” về lịch sử khẩn hoang đất phương Nam và văn hóa phong tục Nam Bộ xưa nay. Ông đọc nhiều, hiểu rộng lại tinh tường. Những sáng tác của ông mang hơi thở của thiên nhiên, của văn hóa và con người Nam Bộ, được thể hiện qua giọng văn giản dị, chân chất, mộc mạc, mang phương ngữ Nam Bộ rõ nét nhưng có sức cuốn hút bạn đọc kỳ lạ.

Ông “khoe” với tôi đã được Ban quản lý Nghĩa trang công viên Bình Dương (tỉnh Bình Dương) đặt vấn đề xin được… chôn cất thi hài ông tại nghĩa trang này sau khi ông qua đời. Một chuyện lạ rất hiếm gặp trong thực tế. Tất cả cũng chỉ bởi ông được nhiều người yêu quý, ngưỡng mộ. Ông nói với vợ con: “Người ta đã có ý tốt với mình như vậy, mình nhận lời thôi”.

Khoảng vài chục năm trước ngày giã từ trần gian, ông ít sáng tác văn học mà dành tâm huyết thực hiện các công trình khảo cứu văn hóa Nam Bộ. Ít ai ngờ ông già mảnh khảnh với dáng đi liêu xiêu trên phố Gò Vấp, thường xuyên ăn cơm “bụi” và cà phê vỉa hè ấy lại có một sức lao động ngôn ngữ phi thường đến thế. Có nhiều cuốn sách của ông được nhà xuất bản mua bản quyền ngay khi nó chưa xong bản thảo.

Ông trở thành người của công chúng khi xuất hiện nhiều trên truyền hình với vai trò là cố vấn văn hóa cho các sự kiện văn hóa lớn của Quốc gia và địa phương ở Nam Bộ. Những năm tháng cuối đời, ông được Nhà xuất bản Trẻ mua bản quyền toàn bộ tác phẩm Sơn Nam. Ông là trường hợp hiếm hoi được dựng tượng tại khu văn hóa Bình Quới khi đang còn sống. Ngày khánh thành tượng, mọi người xúm lại chúc mừng và hỏi ông về cảm nghĩ. Ông cười: “Bây giờ tui chỉ nghĩ, vậy là mình chết được rồi”.

Và ông đã ra đi vào một ngày đầu thu năm 2008 sau một thời gian lâm bệnh nặng. Ông sống một cuộc đời giản dị, thanh bạch và khá thiếu thốn, nhưng khi trở về thế giới bên kia, những người yêu quý nhà văn Sơn Nam đã lập mộ ông thật đẹp và trang trọng, giống như một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc. Giữa không gian xanh mát, mộ của nhà văn được ghép, ốp bằng đá Bình Định.

Trên bia mộ, các nghệ nhân đã khắc chân dung nhà văn dựa theo bức ảnh chụp cảnh ông đi thực tế sáng tác, khảo cứu tại Nam Bộ, vai đeo chiếc ba lô nhỏ, phía trên nóc ba lô còn nguyên một ổ bánh mì. Phía trước mộ, trên tảng đá lớn là hai câu thơ (cũng là đôi câu đối) của ông: “Phong sương mấy độ qua đường phố/Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”. Trên ngôi mộ ấy, thường xuyên thơm ngát khói nhang bên những bó hoa tươi…

Tháng Tư năm nay, giới nhà văn cả nước kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Hội Nhà văn Việt Nam. Trong chuỗi các hoạt động, chúng ta dành những khoảng lặng để tưởng nhớ nhà văn tên tuổi đã quá cố, có nhiều đóng góp như Sơn Nam. Mấy kỷ niệm nhỏ về ông được viết ra đây, xin coi như nén tâm nhang tưởng nhớ ông, một nhà văn xuất sắc của Nam Bộ cả về tài năng, đức độ và nhân cách.

Phan Tùng Sơn

————————————-

Nhà văn Sơn Nam nghèo mà sang

Nguyễn Quang Sáng

30-9-2008

NGUYỄN QUANG SÁNG“Cách đây ba năm tôi có viết về nhà văn Sơn , chớ không phải khi nghe tin anh đi xa rồi, tôi mới nghĩ đến anh. Tôi viết về anh lúc anh còn khoẻ mạnh và minh mẫn. Anh đã đọc, gật đầu, cười…”.

Nhà văn Sơn Nam nghèo mà sang

Hai mươi mốt năm (1954-1975) gặp lại nhà văn Sơn giữa Sài Gòn, câu đầu tiên tôi hỏi anh:
– Anh chạy xe đạp, xe máy được chưa?
Anh cười hề:
– Vẫn đi bộ!
Và từ đó đến nay, nhà văn Sơn vẫn đi bộ. Anh không nói với tôi vì sao anh thích đi bộ. Nhưng tôi có một người bạn cũng thích đi bộ, anh bạn nói: đi bộ thấy, nghe chuyện đời nhiều hơn, sâu hơn. Đúng vậy!
Ngày đầu giải phóng, có một số bạn không hiểu vì sao, một nhà văn ở R (Nguyễn Quang Sáng) và nhà văn Sơn Nam sống trong đô thị Sài Gòn lại có những câu đối đáp thân tình như vậy?

Năm 1950, tôi và nhà văn Sơn cùng làm việc trong phòng chính trị Phân Liên Khu Miền Tây bộ. Phòng chính trị có hai ban: Ban Tuyên huấn và Ban Địch ngụy vận. Trong Ban Tuyên huấn có một tiểu ban văn nghệ, gồm có nhiều văn nghệ sĩ. Trong số đó có ca sĩ Quốc Hương, nhà thơ Hoàng Tấn, Hoàng Phố (gọi đùa là ông Hai Hoàng), nhà văn Thái Bạch và nhà văn Sơn . Năm ấy, nhà văn Sơn lấy bút danh là Phạm Anh Tài (giấy khai sanh là Phạm Anh Tày). Tôi là người của Ban Địch ngụy vận, cơ quan chuyên nghiên cứu và theo dõi các sắc lính của quân đội Pháp và các tôn giáo. Tôi là cán bộ nghiên cứu, chả biết gì về văn chương. Hai cơ quan thường đóng quân trên một dòng kinh, tới lui qua lại thường gặp nhau.

Trong số văn nghệ sĩ ấy, người oai vệ nhất là ca sĩ Quốc Hương, lúc nào quân phục cũng chỉnh tề, cây súng ngắn đeo xề xệ đến tận gối, còn Phạm Anh Tài thì lang thang lếch thếch. Mấy bộ bà ba màu cháo lòng vừa cũ vừa nhàu nát. Thấy hết ham! Nhưng tôi nể tài văn chương qua hai truyện ngắn: “Cù lao dung” và “Tây đầu đỏ” của anh mà tôi được đọc. Anh ít khi ở cơ quan lâu ngày. Mới thấy anh đó thì ngày mai anh đã đi rồi. Anh về các làng của miền Tây, mỗi lần anh về, anh kể không biết bao nhiêu chuyện, kể liên miên. Nhiều chuyện lạ về đời sống của rừng. Qua chuyện của anh, tôi đoán là anh đi khắp cả rừng U Minh. Tôi nể anh hơn khi được biết anh là tỉnh uỷ viên dự khuyết của tỉnh Rạch Giá, không hiểu sao anh từ bỏ cương vị lãnh đạo tỉnh mà dấn thân vào con đường văn chương? Miền Tây bộ là miền sông nước, phương tiện đi lại là xuồng ghe. Xuồng ghe cơ quan cấp cho tuỳ theo cấp bậc. Cán bộ cao cấp thì đi ghe có mui bốn chèo. Lái hai chèo, mũi hai chèo, tức là hai giao liên. Dưới đó một cấp thì cũng ghe mui, nhưng chỉ có hai chèo, nếu không có mui thì hai mái lá che nắng, che mưa, cán bộ dưới nữa thì cơ quan cấp cho một chiếc tự chèo lấy, và dưới nữa nếu gặp chuyến thì theo giao liên còn không thì quá giang xuồng ghe của thương hồ. Ở cương vị cán bộ lãnh đạo như anh, anh phải đi trên chiếc xuồng hai chèo hoặc có mui hoặc có rèm. Là nhà văn, đi đâu anh cũng quá giang theo xuồng ghe của thương hồ. Anh đi sông lớn, sông nhỏ, theo kinh theo rạch, anh đi khắp cả sông nước miền Tây.

Chiến dịch Long Châu Hà năm 1950, một số văn nghệ sĩ và cán bộ các phòng ban cùng hành quân theo bộ đội. Qua sông, qua đồn bót địch, qua các cánh đồng, thọc sâu vào vùng địch. Trên đường hành quân, tôi nghe ca sĩ Quốc Hương, gặp nhà văn Phạm Anh Tài, nghe nhà thơ Vũ Anh Khanh đọc thơ…
Có một lần, tôi với anh cùng một chuyến đi, hai người một chiếc xuồng, tự chèo lấy, đi từ Rạch Ráng Cà Mau về huyện Tân Biên Rạch Giá. Xô xuồng ra đi từ buổi chiều. Đường dài như vậy thì phải thay nhau chèo. Tôi chèo, anh kể chuyện cho tôi nghe. Vừa kể chuyện vừa tự mình tranh luận với mình, anh đưa một giả thuyết sai trái trong văn chương, trong nghệ thuật rồi anh đập lại, nghe thật sướng tai. Nếu anh chèo thay, tôi nghỉ thì ai nói chuyện, nghĩ vậy nên tôi tự nguyện chèo suốt đêm để nghe chuyện của anh. Tuổi 20 tôi chèo xuồng suốt đêm là chuyện thường.

Sau chuyến đi ấy, bẵng đi rất lâu không gặp anh . Năm 1954, những ngày chuẩn bị tập kết thì anh về cơ quan để nhận quyết định đi hay ở. Anh ở cùng một xóm với tôi thuộc làng Phó Sinh. Anh được quyết định ở lại, còn tôi thì trên chưa quyết định đi hay ở. Anh yên phận là ở lại, nhưng ở lại thì ở đâu, anh nấn ná vài hôm để chờ. Bất ngờ, trên cho anh biết, Trung ương điện vào, anh phải ra Trung ương, nghĩa là tập kết ra Bắc. Anh nói với tôi:
– Tao không đi. Mày còn nhỏ, nếu trên cho đi thì đi, ra ngoài đó học tập (năm ấy tôi 22 tuổi).
Tôi hỏi:
– Ở lại, anh ở đâu?
– Sài Gòn.
Năm 1945, 13 tuổi, tôi có dịp lên Sài Gòn. Sài Gòn xe cộ quá chừng, tôi hỏi anh:
– Lên Sài Gòn, anh không biết chạy xe, làm sao sống?
Anh cười hề hề:
– …Đi bộ, lo gì.

Ấy là buổi chiều bên bờ kinh Phó Sinh, xuồng ghe thương hồ qua lại nườm nượp. Sáng hôm sau, không thấy anh đâu, vậy là tối hôm qua, anh ngoắc một chiếc ghe nào đó, quá giang đi rồi!
Tôi không nhớ năm nào, chắc cũng đã mười năm, Hà Nội có đại hội nhà văn trẻ, đại hội mời các nhà văn lão thành, trong đó có nhà văn Tô Hoài và nhà văn Sơn Nam. Là đại hội nhà văn trẻ, nhưng bài phát biểu hay nhất, ấn tượng nhất là bài phát biểu của hai nhà văn lão thành: Tô Hoài và Sơn . Nhà văn Sơn Nam phát biểu:
– Là nhà văn thì phải chấp nhận nghèo, nếu viết văn để làm giàu, thì ở Sài Gòn, dân Chợ Lớn làm hết rồi, không tới mình đâu!

Đại hội nhà văn trẻ bùng lên tiếng hoan hô. Đó là triết lý sống của anh!

Có một lần anh đến Hội Nhà văn Thành phố, anh than đang túng, với tư cách là Tổng Thư ký Hội Nhà văn Thành phố, tôi đề nghị văn phòng chi cho anh hai trăm đồng. Cầm hai trăm đồng, với cái tánh hài hước của anh, anh cười hề:

– Cám ơn Hội, cám ơn mày. Khi tao chết Hội khỏi phải đi vòng hoa! – Nói vậy rồi anh te te ra đường.

Nhà văn Sơn nghèo nhưng lại rất sang. Cái tên Sơn là cái tên sang trọng trong làng văn của nước nhà.
N.Q.S

—————————-

http://namkyluctinh.org/a-vhbkhao/hcongtin-sonnam.htm

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Ông Lê Hiếu Đằng: nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi Đảng, hoặc không còn sinh hoạt Đảng …Vậy tại sao chúng ta hàng trăm đảng viên không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới, chẳng hạn như Đảng Dân chủ xã hội…Giờ hành động đã đến. Không chần chừ, do dự được nữa.

Posted by hoangtran204 trên 12/08/2013

Thôi chết! Một cán bộ có 45 tuổi đảng, luật sư Lê Hiếu Đằng – từng dạy trong Trường Đảng Nguyễn Văn Cừ, từng đứng ngang hàng với chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, từng là  phó CT Ủy ban MTTQ VN TP.HCM (từ 1989-2009)-đang kêu gọi các đảng viên từ bỏ đảng CSVN, thành lập đảng mới như Dân Chủ Xã Hội, vì cho rằng hiện nay xu hướng chạy theo CN Mác-Lênin CNXH đã lạc điệu, ông đòi thành lập đảng mới “sẽ làm cho xã hội công dân, xã hội dân sự mạnh lên, không có thế lực nào ngăn cản được. Đây là cách chúng ta phá vỡ một mảng yếu nhất của một nhà nước độc tài toàn trị hiện nay…” Ở đầu bài viết, cho thấy ông Hiếu Đằng đã không sinh hoạt đảng 2 năm qua. Ông vào đảng 1966, năm nay 2013, đúng ra ông phải viết:”…với 47 tuổi đảng…”, nhưng ông viết 45 tuổi đảng…   

Ông viết: điều 4 hiến pháp là vô nghĩa, không cho rằng đảng CSVN là đảng lãnh đạo tiếp tục trong tình huống hiện nay, ông kêu gọi mọi người  ra khỏi đảng, thành lập chính đảng mới, thành lập xã hôi dân sự có nghĩa là ông Hiếu Đằng đang đòi hỏi quyền tự do lập hội; ngoài ra, ông còn đòi quyền tự do báo chí. “Quan điểm tôi là phải lấy ngày 15-4 là ngày số báo đầu tiên của Gia Định báo năm 1865 làm ngày báo chí VN. Năm sau, một số nhà báo cùng chúng tôi sẽ tổ chức ngày báo chí VN vào ngày 15-4. Còn ĐCS và các tổ chức của mình cứ lấy ngày 21-6 làm ngày báo chí Cách mạng cũng không sao. Việc ai nấy làm. Thế thôi.” Ông coi blogger là một lực lượng có tiếng nói 

Ông cho rằng: điều 4 Hiến Pháp hiện nay là vô nghĩa, vì khi thành lập nền kinh tế thị trường: đảng “chủ trương phải đổi mới kinh tế bằng cách phải chấp nhận kinh tế có nhiều thành phần trong đó có kinh tế cá thể. Thế thì một khi cơ sở hạ tầng có nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ có nhiều tầng lớp với lợi ích khác nhau thì tất yếu họ phải có tổ chức để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của họ. Đó là quy luật tất yếu vì vậy không thể không đa nguyên đa đảng được và như vậy điều 4 Hiến Pháp hiện nay là vô nghĩa. Trước sau gì các vị lãnh đạo của ĐCS phải chấp nhận thách thức này: các Đảng, tổ chức đối lập sẽ đấu tranh bình đẳng với ĐCS trong các cuộc bầu cử hợp pháp có quan sát viên Quốc tế giám sát như hiện nay Campuchia đã làm.”

ông đòi tam quyền phân lập để chống tham nhũng, đòi liên minh với các nước khác chống Tàu,  ông chê phản ứng của lãnh đạo Việt Nam thì quá nhu nhược trước các hành động uy hiếp, săn đuổi, bắt bớ một cách vô nhân đạo các ngư dân Việt Nam đang đánh bắt trong ngư trường truyền thống của mình, ông Lê Hiếu Đằng  tố cáo đích danh Trung Quốc là bọn bành trướng Bắc Kinh…

Bài dưới đây có 2 lỗi lầm: viết lộn tên.

Nguyễn Hữu Đang chứ không phải Trần Hữu Đang

Tô Thùy Yên chứ không phải là Tô Hoàng Yên

Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh…

 
Lê Hiếu Đằng  

12-08-2013

 

Lời dẫn của Nguyễn Huệ Chi

Thời gian vừa qua, có dịp vào Sài Gòn, được tin ông Lê Hiếu Đằng phải cấp cứu ở BV Bình dân, tôi và bạn bè đã đến thăm ông. Chúng tôi nhìn nhau khôn xiết bồi hồi. Sờ bàn chân ông thấy có hiện tượng phù nhẹ, nhưng trông khuôn mặt thì vẫn rất linh lợi, nhất là ánh mắt sáng láng, vẫn ngời lên cái khát vọng tha thiết về tương lai dân chủ hóa cho đất nước. Vài ngày sau tôi nhận được điện của ông, giọng rõ từng tiếng: “Thưa anh HC, tôi đã ra viện, đã trở về với đội ngũ. Sẽ sớm có bài viết tính sổ đời mình gửi đến anh”. Bồi hồi sung sướng, tôi vâng lên một tiếng thật to ở đầu dây bên này, và từ đó cứ chờ đợi bài ông.

Thì hôm nay, bỗng nhận được bài viết dưới đây trong e-mail với lời gửi gắm kèm thêm nói qua điện thoại: “Anh sửa chính tả thật kỹ giúp tôi, bởi đối với một người vừa qua cơn bệnh hiểm nghèo có thể viết còn nhiều lỗi. Nhưng toàn bộ những ý tưởng trong bài là của tôi, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm”.

Tôi xin vâng theo lời ông. Chợt nhớ tới câu châm ngôn mà chính nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã từng nhắc: “Nhân chi tương tử kỳ ngôn dã thiện”. Người bạn của tôi trong những ngày vừa qua cũng coi như đã một lần xáp mặt với cái chết và may mắn giải thoát khỏi nó, nên những lời ông nói ra là tất cả những gì tâm huyết ông muốn gửi gắm cho đồng bạn và cho lớp trẻ đang tiếp bước mình. Những lời vừa có tính chất ôn lại chuyện cũ để chiêm nghiệm sự đời cho sâu chín hơn, đồng thời cũng là sự kết đọng trong nó một lời tuyên ngôn chắc nịch về con đường nhất thiết phải đi để đưa dân tộc thoát khỏi số phận một chàng Sisyphe suốt đời phải đẩy khối đá khổng lồ chồng trên lưng mình như một định mệnh – mà một thời vẫn cứ mê muội ngỡ đó là trách nhiệm và vinh quang do lịch sử giao phó “Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa” – nhưng ở thời điểm hiện tại thì sự quá tải trên mọi phương diện của một cái ách cực kỳ phi lý hầu như bất kỳ ai cũng cảm nhận được rõ ràng. Và câu nói âm thầm từ muôn miệng hình như đang cùng muốn thốt lên: Hãy hất nó xuống khe vực để đứng thẳng dậy, sánh bước cùng nhân loại văn minh.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc. 

****************

Sau hơn 45 năm chiến đấu trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam, với 45 tuổi Đảng, những trải nghiệm cay đắng mà tôi cùng nhiều bạn bè nữa trong phong trào học sinh sinh viên trước 1975 đã chịu đựng, thôi thúc tôi phải “thanh toán”, “tính sổ” lại tất cả.

Trong lúc nằm bịnh tôi đọc quyển Chuyện nghề của Thủy của đạo diễn Trần Văn Thủy, các truyện của các nhà văn quân đội như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Trần Dần và qua ti vi xem các chuyến đi thăm Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thăm Hàn Quốc, Myanma (Miến Điện) lại càng giục giã tôi viết những dòng này. Các nhà văn đã cho tôi thấy thêm sự bi thảm của thân phận con người trong cái gọi là CNXH ở Miền Bắc, một xã hội không có bóng người.

Chuyến đi của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang không có những nghi thức cao nhất của một nguyên thủ quốc gia hay chuyến đi thăm Hàn Quốc, Myanma của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nếu đem so sánh các chuyến đi thăm Trung Quốc của các vị thì không khí hoàn toàn khác nhau. Một bên thì khô cứng, lạnh lùng của một nước lớn đầy tham vọng, một bên là không khí cởi mở, vui vẻ bình đẳng. Không biết các nhà lãnh đạo của ĐCS Việt Nam với lòng tự trọng dân tộc có “mở mắt” thấy điều đó không? Hẳn nhiên chúng ta không thể đòi hỏi Mỹ làm nhiều điều tích cực hơn bởi vì công bằng mà nói anh (Mỹkhông thể “mở lòng” với một nước mà thái độ không rõ ràng, bất nhất.

Tất cả tình cảm của gia đình và bạn bè trong nước nhcũng ư ở nước ngoài làm tôi suy nghĩ miên man trong lúc nằm bịnh càng khẳng định với tôi một điều: con đường mà tôi cùng nhiều bạn bè, đồng đội đã lựa chọn, con đường tiếp tục đấu tranh cho lý tưởng thời trai trẻ và một xã hội công bằng tự do dân chủ. Ở đó con người sống với nhau một cách tử tế, thật sự được giải phóng từ người nô lệ thành người làm chủ của đất nước.

Tôi ngày càng hiểu sâu sắc từ “GIẢI PHÓNG” không có nghĩa như ngày nay người ta thường dùng mà là sự thoát xác thật sự làm người tự do dù cho người cai trị là da trắng hay da vàng, thậm chí điều đau khổ, bi thảm nhất là hệ thống cai trị chính là người của dân tộc đó, là Việt Nam, là Trung Quốc, v.v. Nếu hiểu từ giải phóng theo ý thức sâu xa đó thì tôi cũng rất đồng tình với nhận xét của nhiều nhà báo, nhà văn, học giả ở Miền Bắc, trong đó có nhà báo Huy Đức trong cuốn Bên thắng cuộc mới đây. Thật sự là Miền Nam đã giải phóng Miền Bắc trên tất cả các lĩnh vực nhất là kinh tế, văn hóa, tư tưởng

Vì những lẽ trên tôi xin “tính sổ” với ĐCS VN và với bản thân cuộc đời của tôi, tư cách một đảng viên, một công dân ở những điểm cơ bản sau: một cách minh bạch, sòng phẳng để từ đây thanh thản dấn thân vô cuộc chiến mới.

1. Vì sao tôi đi kháng chiến, vào ĐCS Việt Nam?

Vào thế kỷ trước, chủ nghĩa Marx, CNXH, CNCS đã làm say mê biết bao trí thức, văn nghệ sĩ ở các nước, nhất là ở nước Pháp, cái nôi của khuynh hướng xã hội, dân chủ mà cả thời kỳ ánh sáng với các tên tuổi như Montesquieux, Voltaire, Jean Jacquess Rousseaux, v.v. với khát vọng xây dựng một xã hội bác ái, tự do, bình đẳng. Chủ nghĩa Marx, CNXH, CNCS chẳng những lôi cuốn, làm say mê nhiều thế hệ trí thức phương Tây mà ở Việt Nam cũng vậy. Những tri thức văn nghệ sĩ tên tuổi lẫy lừng như Văn Cao, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Thanh Tịnh, Thế Lữ, v.v. hay những tri thức tên tuổi ở nước ngoài như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường. Thật ra họ theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của HCM mà đi vào chiến khu chứ họ ít hoặc chưa biết chủ nghĩa Marx là gì, CNXH ra sao, nhưng họ hy vọng sau khi kháng chiến thành công sẽ xây dựng một xã hội dân chủ, tiến bộ xã hội, tự do, hạnh phúc mà trong tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp năm 1946 ông HCM đã trịnh trọng cam kết trước toàn dân trước Ba Đình lịch sử.

Lòng yêu nước, lòng tự trọng dân tộc đã thúc đẩy mọi người tham gia Cách mạng tháng 8 và sau đó đi kháng chiến. Bạn bè tôi và bản thân tôi cũng thôi thúc bởi những tình cảm đó: lòng yêu nước, ý chí chống xâm lược, giành độc lập tự do dân chủ cho Tổ quốc để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn các chế độ cũ ở đó công nhân, nông dân, người lao động, những người hy sinh nhiều trong chiến tranh có cuộc sống ấm no, hạnh phúc đã thôi thúc chúng tôi lên đường.

Tôi vào Đảng cũng rất đơn giản: năm 1966, anh Nguyễn Ngọc Phương (Ba Triết) phụ trách đơn tuyến tôi, hẹn tôi gặp nhau ở một chùa trên đường Trần Quốc Toản (nay là đường 3-2) để sinh hoạt. Anh Nguyễn Ngọc Phương nghiêm mặt tuyên bố: “Đ/c Bắc Sơn (bí danh của tôi lúc đó), đ/c từ nay là Đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng (thực chất là Đảng Lao động Việt Nam ở Miền Nam mà thôi). Lẽ ra tôi đưa điều lệ để đồng chí nghiên cứu nhưng đ/c là người hoạt động công khai trong Ban chấp hành Tổng hội sinh viên Sài Gòn và ĐH Luật Khoa nên tôi bây giờ mới phổ biến một số điều trong điều lệ để đ/c biết”. Một buổi kết nạp chẳng có lời thề thốt, cờ quạt gì cả.

Anh Nguyễn Ngọc Phương, người phụ trách tôi trong thời gian đầu, là người lớn lên trong một gia đình khá giả, có em gái lấy nghệ sĩ hài nổi tiếng Bảo Quốc. Thật ra qua một số người hoạt động ở Huế anh ấy đã biết tôi đã từng tham gia phong trào đấu tranh Sinh viên học sinh Huế lúc tôi còn học đệ nhị, đệ nhất Quốc học Huế và đã từng bị bắt giam ở lao Thừa Phủ Huế gần một năm với Lý Thiện Sanh (nay là bác sĩ định cư ở Úc). Vì chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó nghĩ tôi là thành viên của Đoàn TN nhân dân Cách mạng Miền Nam. Nhắc đến đây tôi có một kỷ niệm khó quên: ba tôi và mẹ Lý Thiện Sanh nóng lòng vì đã đến kì thi Tú tài II nhưng chúng tôi vẫn bị nhốt trong tù. Vì vậy ông bà làm đơn hú họa xin hai chúng tôi ra thi. Thế mà chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó lại giải quyết cho ra thi.

Tôi theo ban C Triết học nên chỉ còn vài ngày nữa là thi, ba tôi gửi một số sách vào cho tôi. May mắn lúc đó tôi đã đọc nhiều sách triết học của các Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn và các tạp chí Sáng tạo, Hiện đại của nhà văn Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, Tô Hoàng Yên, v.v., kể cả quyển sách viết về Nietzsche của Nguyễn Đồng Thi Hiền còn trai trẻ trước 1945 nên gặp đề thi triết khá hay tôi tán đủ điều, đậu hạng thứ dễ dàng. Còn Lý Thiện Sanh học ban B vốn rất giỏi nên đậu hạng bình thứ. Những ngày ba tôi đến đón tôi ra thi ông đã đi qua cánh đồng An Cựu trong giá lạnh. Tôi không thể nào quên hình ảnh đó của ba tôi. Bây giờ Người đã mất nhưng tôi không bao giờ quên ông, biết ơn nuôi dạy tôi thành người trưởng thành pha một chút ân hận vì tôi mà ông phải khổ sở. Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?

Trong thời gian đó, lúc nhà tù cho tù nhân làm văn nghệ tôi thường hát bài “Tình quê hương” thơ Phan Lạc Tuyên, nhạc Đan Thọ, lúc đó là Đại úy Quân đội Sài Gòn. Gia đình của người phụ trách lao Thừa Phủ đứng trên bức tường có đường đi bao quanh nhà tù để xem. Đúng là cái máu lãng mạng của đám Sinh viên học sinh chúng tôi lúc đó ngay trong tù cũng nổi dậy đùng đùng và có cô con gái rất thích bài đó. Lý Thiện Sanh đùa “Nó khoái mày rồi đó”.

Về anh Nguyễn Ngọc Phương – người phụ trách tôi sau này bị địch bắt, đã hy sinh trong tù năm 1973. Năm ngoái, nhân ngày giỗ anh, tôi có kể lại việc mỗi lần sinh hoạt với tôi xong anh đề nghị tôi hát bài “Trăng mờ bên suối” của Hoàng Nguyên. Hát xong tôi hỏi anh: “Anh là bí thư Đảng ủy sinh viên mà sao thích bài hát ướt át quá vậy?”. Anh cười buồn và nói: “Chúng ta chiến đấu xét đến cùng là vì con người. Nhưng bài hát đó viết rất hay về con người thì sao mình không thích được!”. Nghe anh tôi càng cảm phục người đ/c phụ trách tôi và hôm giỗ anh tôi hát lại bài “Trăng mờ bên suối” để cúng anh. Sau đó, chị Cao Thị Quế Hương có vẻ trách tôi vì cho rằng anh Phương không thể ủy mị như vậy. Tôi cười buồn và im lặng.

Tôi đã đi theo kháng chiến và vào Đảng như thế đó…

2. Vấn đề đa nguyên, đa đảng

Có thời gian từ 1975 đến 1983 tôi là giảng viên Triết học và Chủ nghĩa xã hội khoa học ở trường Đảng Nguyễn Văn Cừ thuộc khu ủy Sài Gòn-Gia Định. Về phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin mà tôi hiểu được có một điều cơ bản là cơ sở hạ tầng (bao gồm cơ sở xã hội, cơ sở kinh tế, v.v.) như thế nào thì phản ảnh lên thượng tầng kiến trúc như thế đó.

Sau một thời gian dài Đảng và nhà nước Việt Nam nhận chìm các tầng lớp nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam dưới chế độ quản lý kinh tế bao cấp, đi ngược lại tất cả quy luật tự nhiên, cop-py mô hình kinh tế của Liên bang Xô viết và Trung Quốc cộng sản 100%. Dân chúng đói kém rên xiết.

Các đợt cải tạo tư sản X1, X2 đã làm tan nát biết bao gia đình, làm dòng người vượt biên ngày càng nhiều và biết bao gia đình phải chết tức tưởi trên biển. Trong đó có gia đình nhà báo Trần Triệu Luật, người đã cùng tôi vào chiến khu và đã hy sinh vào ngày 11.10.1968 tại căn cứ Ban tuyên huấn T.Ư cục Miền Nam cùng với nhà thơ Thảo Nguyên Trần Quang Long sau trận bom ác liệt của F105 của Mỹ. Hoặc bị bọn cướp biển hãm hiếp làm nhục trước mặt chồng con. Có thể nói tất cả điều đó là tội ác của Đảng và Nhà nước Việt Nam, không thể nói khác được.

Trước sự rên xiết của người dân, những nhà lãnh đạo còn có tấm lòng và suy nghĩ đã chủ trương phải đổi mới kinh tế bằng cách phải chấp nhận kinh tế có nhiều thành phần trong đó có kinh tế cá thể. Thế thì một khi cơ sở hạ tầng có nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ có nhiều tầng lớp với lợi ích khác nhau thì tất yếu họ phải có tổ chức để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của họ. Đó là quy luật tất yếu vì vậy không thể không đa nguyên đa đảng được và như vậy điều 4 Hiến Pháp hiện nay là vô nghĩa. Trước sau gì các vị lãnh đạo của ĐCS phải chấp nhận thách thức này: các Đảng, tổ chức đối lập sẽ đấu tranh bình đẳng với ĐCS trong các cuộc bầu cử hợp pháp có quan sát viên Quốc tế giám sát như hiện nay Campuchia đã làm.

Tôi thách bất cứ ai trong Bộ chính trị, Ban bí thư, trong ban Tuyên huấn của Đảng mà đứng đầu là ông Đinh Thế Huynh, vừa là Trưởng ban, vừa là Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương trả lời luôn một cách công khai, minh bạch với chúng tôi trên các diễn đàn mà không chơi trò “bỏ bóng đá người” như đã từng thường sử dụng hiện nay.

Thực tế hiện nay, trong Nam ngoài Bắc đã tập hợp được những khuynh hướng có chủ trương đấu tranh cho một thể chế dân chủ cộng hòa mà tiêu biểu là đề nghị 7 điểm và dự thảo hiến pháp năm 2013 của nhân sĩ trí thức tiêu biểu ở trong Nam ngoài Bắc như nhà văn Nguyên Ngọc, các Giáo sư Hoàng Tụy, Chu Hảo, Tương Lai, Phạm Duy Hiển, những trợ lý Tổng bí thư, Thủ tướng hoặc Đại sứ nhiều thời kỳ như ông Trần Đức Nguyên, Việt Phương, Nguyễn Trung, v.v. Các nhà kinh tế có uy tín lớn như Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, các nhà báo, nhân sĩ trí thức kỳ cựu như Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Đình Đầu, Lữ Phương, Kha Lương Ngãi, Nguyễn Quốc Thái, và các “lãnh tụ” sinh viên trước đây đã có một thời kỳ lẫy lừng trong phong trào đấu tranh tại Sài Gòn và các đô thị Miền Nam trước 1975 như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Trần Văn Long (Năm Hiền), Huỳnh Kim Báu, Hạ Đình Nguyên, Cao Lập và biết bao con người tâm huyết mặc dầu đời sống kinh tế đã khá giả, có những người là giàu có nhưng không thể yên tâm thụ hưởng tất cả những tiện nghi của đời sống đã vùng lên sau một giấc ngủ khá dài để chấp nhận mọi rủi ro, nguy hiểm cho bản thân cá nhân mình cũng như gia đình để dấn thân vào cuộc chiến đấu mới để tiếp tục thực hiện lý tưởng thời trai trẻ mà hiện nay đã bị phản bội, chà đạp những lời hứa năm nào trong kháng chiến. Ngoài ra còn cả một lớp trẻ hăng hái, nhiệt tình bao gồm những blogger, những sinh viên đang có những hoạt động ở các trường Đại học hoặc nhiều tổ chức khác.

Tình hình trên cộng với thực tế hiện nay tôi biết nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi Đảng, hoặc không còn sinh hoạt Đảng (giấy sinh hoạt bỏ vào ngăn kéo)Vậy tại sao chúng ta hàng trăm đảng viên không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới, chẳng hạn như Đảng Dân chủ xã hội, những Đảng đã có trên thực tế trước đây cho đến khi bị ĐCS bức tử phải tự giải tán.

Tại sao tình hình đã chín mùi mà chúng ta không dám làm điều này?

Chủ trương không đa nguyên đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng chứ chưa có một văn bản pháp lý nào cấm điều này, mà nguyên tắc pháp lý là điều gì luật pháp không cấm chúng ta đều có quyền làm. Đó là quyền công dân chính đáng của chúng ta. Không thể rụt rè, cân nhắc gì nữa. Đây là một yếu tố sẽ làm cho xã hội công dân, xã hội dân sự mạnh lên, không có thế lực nào ngăn cản được. Đây là cách chúng ta phá vỡ một mảng yếu nhất của một nhà nước độc tài toàn trị hiện nay. Chẳng lẽ nhà nước này bắt bỏ tù tất cả chúng ta sao?

Chúng ta phải đấu tranh với phương châm công khai, minh bạch, ôn hòa, bất bạo động, phản đối tất cả mọi hành động manh động, bạo lực khiêu khích gây chiến tranh. Như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết đại khái trong bất cứ cuộc chiến tranh nào người thất bại đều là nhân dân. Giờ hành động đã đến. Không chần chừ, do dự được nữa.

3. Vấn đề Độc lập dân chủ, tự do và hạnh phúc

– Việt Nam đã thống nhất mặc dầu còn nhiều điều chưa hòa hợp, đoàn kết thực sự. Nhưng còn độc lập thì sao? Sau khi hy sinh biết bao xương máu, nay Đảng và Nhà nước Việt Nam đều phải len lén nhìn ông bạn láng giềng Trung Quốc, những kẻ luôn chực nuốt chửng nước ta và vào năm 1979 họ đã xua quân tàn sát người dân Lạng Sơn và các tỉnh phía Bắc mà tên Đặng Tiểu Bình xấc xược gọi là dạy cho Việt Nam một bài học.

Thật ra tổ tiên chúng ta, những tiền nhân thời xa xưa đã cho họ nhiều bài học Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Gò Đống Đa, v.v. Không biết tập đoàn Tập Cận Bình có còn nhớ những bài học đó không?

Riêng các vị lãnh đạo ĐCS và Nhà nước Việt Nam thì dường như chưa thấy hết sức mạnh của dân tộc Việt nam nên quá “hiền lành” đối với một nước lớn nhưng rất “tiểu nhân” (chữ nghĩa của các truyện Tàu), miệng thì xoen xoét nói về “bốn tốt mười sáu chữ vàng” trong lúc hành động thực tế là uy hiếp, săn đuổi, bắt bớ một cách vô nhân đạo các ngư dân Việt Nam đang đánh bắt trong ngư trường truyền thống của mình hoặc hèn hạ cắt đứt cáp các tàu thăm dò dầu khí của chúng ta. Thế mà phản ứng của lãnh đạo Việt Nam thì quá nhu nhược: chỉ là lời phản đối lặp đi lặp lại nghe quá nhàm tai và khó chịu của người phát ngôn viên bộ Ngoại giao. Đến nỗi có những vụ việc lớn càng không dám thực hiện những việc bình thường trong quan hệ quốc tế là triệu tập đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội để trao công hàm phản đối chứ không chỉ là đưa công hàm đến toà đại sứ. Vậy thì độc lập cái gì? Hẳn nhiên là chúng ta không dựa vào nước này chống các nước khác nhưng thực tế quốc tế hiện nay rất thuận lợi để chúng ta liên kết với các nước để đấu tranh với Trung Quốc về Biển Đông.

Tôi rất mừng nghe Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ở hội nghị Shangri-La chống lại nền chính trị cường quyền và những đối xử vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam. Trả lời phỏng vấn một thiếu tướng Trung Quốc, Thủ tướng đã khéo léo nói nước đó là nước nào ai cũng biết. Rõ ràng đây là cú đấm đích đáng bọn bành trướng Bắc Kinh trong một diễn đàn quốc tế. Tôi càng thấy vui hơn khi được biết đây là ý kiến của cá nhân Thủ tướng dám chịu trách nhiệm để tuyên bố như vậy chứ không có sự chỉ đạo nào của Bộ chính trị cả. Vì thế mà Hạ Đình Nguyên trong một bài viết về vấn đề này đã hoan hô Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến 5 lần.

4. Vấn đề Dân chủ, tự do và hạnh phúc

Thực chất đây là vấn đề dân sinh, dân chủ mà trước đây trong thời kỳ kháng chiến hoặc trước 1975 ĐCS VN đã phát động để đấu tranh giành quyền sống. Đây là vấn đề về con người.

+ Về dân chủ thì đã quá rõ. Muốn có dân chủ thực sự thì phải thay đổi thể chế từ một nhà nước độc tài toàn trị chuyển thành một nhà nước cộng hòa với tam quyền phân lập: lập pháp, hiến pháp, tư pháp độc lập. Tư pháp độc lập thì mới có thể chống tham nhũng. Cần có Quốc hội lập hiến để soạn thảo và thông qua Hiến pháp mới. Sau đó bầu Quốc hội lập pháp để ĐCS sẽ qua bầu cử bình đẳng mà trở thành người lãnh đạo.

Tôi nghĩ trong một thời gian dài ĐCS sẽ là một lực lượng chính trị mà không có bất cứ lực lượng nào có thể tranh chấp được. Các nhà lãnh đạo ĐCS cần tự tin điều đó. Dần dần các Đảng đối lập sẽ trở thành một lực lượng làm nhiệm vụ như một kháng thể trong một cơ thể xã hội lành mạnh. Nếu xã hội không có lực lượng đối lập sẽ trở thành một con bệnh SIDA khó trị, chờ chết mà thôi.

+ Con người khác con vật ở chỗ là có tự do. Tự do là thuộc tính của con người. Không có tự do thì con người chỉ là một đàn cừu (theo ngôn ngữ của Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu). Không có tự do thì không thể có khoa học, văn học, nghệ thuật, báo chí… thật sự. Do đó Hiến Pháp 1946 đã qui định những quyền tự do của con người. Đó là vấn đề quyền con người. Nhưng giờ đây chế độ toàn trị đã phản bội tước đoạt tất cả các quyền cơ bản đó, vất bỏ tuyên ngôn nhân quyền và nhai đi nhai lại luận điệu mỗi nước có hoàn cảnh riêng, có vấn đề nhân quyền riêng. Họ không biết rằng đó là quyền cơ bản và phổ quát mà loài người đã đấu tranh qua nhiều thế hệ. Đại tá nhà văn Nguyễn Khải đã nói: “khi đọc cuốn Bàn về tự do của Stuart Mil thì vỡ ra nhiều vấn đề”. Vì vậy anh Nguyễn Khãi đã nhìn lại những gì mà anh đã trải nghiệm một cách sâu sắc với một giọng văn nhẹ nhàng không hàm hồ nên rất thuyết phục. Đây là quyển sách đã đi sâu vào tim óc của chế độ mà không thấy các vị “phê bình chỉ điểm” (cách gọi mới đây của nhà văn Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội đối với tên Nguyễn Văn Lưu cùng với một số người trong việc “bề hội đồng” bài viết của Thạc sĩ Nhã Thuyên về nhóm “Mở miệng”) nào dám phê phán, chửi rủa.

Các vị lãnh đạo ĐCS tại sao không suy nghĩ trong chế độ thuộc Pháp lại có một thời báo chí, văn học nghệ thuật phát triển mà cho đến nay chưa có thời kỳ nào có thể so sánh được dù là chế độ gọi là “tự do gấp vạn lần” như bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã nói một cách hàm hồ, thiếu suy nghĩ, chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Báo chí thì nở rộ Gia Định báo, Phụ nữ tân văn, Nam Phong, Phong hóa, Ngày nay… với những học giả Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi,… Văn học nghệ thuật thì có cả một trào lưu thơ mới với Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư và nhiều nhà thơ nổi tiếng khác với nhiều bài thơ bất hủ mà đến nay ai cũng thuộc nằm lòng. Về tiểu thuyết thì có nhóm Tự lực văn đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo… Ngoài ra còn có hàng loạt nhà văn tài hoa khác như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Lan Khai, Thanh Tịnh, Nguyên Hồng, v.v. Với Thanh Tịnh tôi vẫn nhớ bài “Tôi đi học” trong tập Quê mẹ của ông. “Hàng năm cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức với những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nẩy nở trong lòng tôi như những đóa hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm đắt tay tôi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại nhiều lần nhưng lần này bỗng nhiên thấy lạ vì hôm nay tôi đi học”. Nhạc thì có một thời có nền tân nhạc rực rỡ với các tên tuổi như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Phạm Duy, Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Doãn Mẫn, Lê Thương, Nguyễn Văn Thương… Thế mà Thanh Tịnh và những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ nói trên dưới chế độ XHCN ở Miền Bắc chẳng có tác phẩm nào ra hồn.

Cũng may ra sau 1975, không khí vui vẻ, sum họp của những ngày đầu đã tạo nên trào lưu hứng khởi để nhạc sĩ VĂN CAO làm bài “Mùa xuân đầu tiên” với điệu valse dìu dặt. Nhưng tội nghiệp cho Văn Cao đã ngây thơ tin rằng “Từ đây người biết yêu người, từ đây người biết thương người, từ đây người biết quê người…”, thế mà bài ca này cũng bị cấm hát hết mấy năm. Những năm sau khi vào chơi với Trịnh Công Sơn và các nhạc sĩ Miền Nam ông đã nói lên nỗi thất vọng của ông. Cảnh chia lìa, vượt biên, đày đọa, tù tội trong đó có người bạn văn chương của các ông đã làm ông buồn bực và tiếp tục uống rượu. Chỉ có một điều an ủi ông là vào Nam, vào Sài Gòn ông nghe mọi người từ trẻ đến già đều hát “Mùa xuân đầu tiên”, “Thiên thai”, “Suối mơ”, “Trương Chi”, “Buồn tàn thu”, v.v. của ông.

Vấn đề là ĐCS VN cần trả lại những gì của lịch sử, của tiền nhân để lại. Việc đổi tên đường từ Trần Quý Cáp thành Võ Văn Tần, từ Phan Đình Phùng thành Nguyễn Đình Chiểu, v.v. là việc làm thiếu suy nghĩ, nếu không nói là ngu xuẩn, chà đạp lên lịch sử, xúc phạm những chiến sĩ tuy không phải là Cộng sản nhưng đã đấu tranh bảo vệ đất nước trong các phong trào Cần Vương, Duy Tân.

Ngay trong lĩnh vực báo chí tại sao lại lấy ngày ra đời báo Thanh niên, báo của tổ chức CS làm ngày báo chí VN. Quan điểm tôi là phải lấy ngày 15-4 là ngày số báo đầu tiên của Gia Định báo năm 1865 làm ngày báo chí VN. Năm sau, một số nhà báo cùng chúng tôi sẽ tổ chức ngày báo chí VN vào ngày 15-4. Còn ĐCS và các tổ chức của mình cứ lấy ngày 21-6 làm ngày báo chí Cách mạng cũng không sao. Việc ai nấy làm. Thế thôi.

Tại Miền Bắc gọi là XHCN khi hòa bình mới lập lại, các văn nghệ sĩ mà đặc biệt đi tiên phong là các nhà thơ, nhà văn quân đội, mà tiêu biểu là Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm,… đã gây chấn động trong vụ Nhân văn Giai phẩm. Có lẽ là những người trực tiếp chiến đấu chứng kiến cảnh chết chóc của nhân dân trong chiến tranh nên họ quyết tâm tiếp tục chiến đấu để xây dựng một chế độ xã hội tự do dân chủ và tiến bộ xã hội. Họ đã quy tụ được nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ giàn trận đấu tranh quyết liệt với Đảng để đòi hỏi tự do sáng tác, đòi hỏi chính trị không được can thiệp vào sáng tác của văn nghệ sĩ. Nhà nước độc tài Đảng trị trong những năm đó thấy đây là nguy cơ đe dọa của chế độ nên đã ra tay đàn áp, bắt bớ, tù đày một cách không nương tay. Người bị tù với vụ án ngụy tạo như công thần Nguyễn Hữu Đang, người đã làm lễ đài Độc lập năm 1946. Hữu Loan với lòng tự trọng của một người văn nghệ sĩ cương quyết về quê thồ vác đá nuôi vợ con. Ba mẹ vợ anh trong cải cách ruộng đất đã bị chôn sống để trâu bò bừa lên đầu, lên cổ cho đến chết. Một Nguyên Hồng khảng khái bỏ về Yên Thế nuôi heo để kiếm sống. Trần Hữu Đang sau khi ra tù sống những ngày tủi nhục phải góp nhặt bao thuốc lá làm hàng “đối lưu” với ếch nhái, rắn rết của bọn trẻ chung quanh kiếm cho. Năm 1989, tôi gặp Thạc sĩ Luật Nguyễn Mạnh Tường ở Pháp, người đã theo Hồ Chí Minh về nước năm 1946. Ông kể lại hoàn cảnh của ông lúc đó, bị cô lập đến nỗi học trò cũng không dám nhìn mặt, phải bán tủ sách quý để sống qua ngày. Còn nhà triết học Trần Đức Thảo, khi tôi còn làm Phó chủ tịch thường trực MTTQ TP HCM đã mời ông đến nói chuyện. Bước xuống xe ông ngó lên liền xem có công an theo dõi ông không. Buổi nói chuyện làm mọi người thất vọng vô cùng về ông.

Tôi còn có những kỷ niệm đau đến xé lòng khi còn nằm trong hệ thống chính trị của nhà nước toàn trị. Lúc còn là phó CT/TT MTTQ TP HCM và là đại biểu HĐND TP khóa 4, khóa 5. Có mấy việc tôi còn nhớ mãi:

+ ĐCS VN ngày trở thành kiêu binh. Đâu đâu cũng vỗ ngực xưng tên là “ĐCS VN quang vinh muôn năm”. Ngay cả Hội trường của cơ quan dân cử như HĐND TP thế mà chẳng thấy đất nước, Tổ quốc đâu cả, chỉ thấy một khẩu hiệu to chần dần [to đùng] “ĐCS VN quang vinh muôn năm”. Một số đại biểu trong HĐND trong Đảng cũng như ngoài Đảng thấy chướng mắt nhưng không dám nói. Họ đến nói với tôi. Tôi thông cảm họ. Trong HĐND khóa 5, khi lên phát biểu ở Hội trường tôi trầm giọng nói: “Đây là cơ quan dân cử, đại diện cho nhân dân TP, nhưng tôi không thấy đất nước, Tổ quốc ở đâu mà chỉ có ĐCS muôn năm thôi là sao? Đảng chỉ là một bộ phận của nhân dân, không có Tổ quốc, nhân dân thì làm gì có Đảng. Đảng phải đặt Tổ quốc lên trên hết, vì vậy tôi đề nghị thay đổi khẩu hiệu này bằng câu CHXHCN Việt Nam. Cả hội trường im phăng phắc. Nhưng ngay kỳ họp sau thì khẩu hiệu Đảng đã thay đổi bằng tên nước.

+ Tôi là Trưởng ban VHXH HĐND TP khóa 5. Trong các kỳ họp HĐND TP, các ban có bài thẩm định khá công phu. Phải đi thực tế, làm việc với các ngành và sau đó họp toàn ban để thông qua Trưởng ban là người quyết định cuối cùng. Tôi nhớ trong một kỳ họp, tôi thức suốt đêm sửa chữa, hoàn thiện văn bản để phát biểu trước HĐND. Khi lên phát biểu, nhìn xuống thì không thấy vị Phó CT nào dự, kể cả phó CT phụ trách VNXH. Thấy vậy tôi không đọc mà đề nghị ông Huỳnh Đảm, lúc đó là CT HĐND, cho các thư ký, trợ lý điện gấp cho các Phó CT, nhất là các Phó CT phụ trách VHXH về dự họp. Ban thẩm định chuẩn bị công phu để phân tích những vấn đề, nhất là những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, các vấn đề xã hội khác. Những vấn đề có liên quan thiết yếu đến đời sống nhân dân TP. Khi thấy các Phó CT lục tục về họp tôi mới phát biểu bản thẩm định của Ban. Đây là lần đầu tiên các phóng viên báo chí thấy việc này nên rất khoái. Từ đó, kỳ họp nào các PCT UBND cũng đều có mặt trừ một số PCT có lý do chính đáng. Cái bệnh chỉ coi trọng Đảng, Thành ủy, xem thường HĐND đã vào máu các vị quan chức của chúng ta.

+ Việc thứ ba là cuộc đấu tranh hay có thể nói là đấu khẩu của Chủ tịch UBND TP Võ Viết Thanh và tôi về việc có nên dẹp chợ hoa Nguyễn Huệ hay không? Cuộc đấu khẩu gay gắt đến nỗi CT Võ Viết Thanh nói đại ý nếu đ/c Đằng thấy Đảng chật hẹp quá thì xin ra khỏi Đảng. Tôi liền đốp chát lại: đó là chuyện mà tôi và anh sẽ nói trong Đảng, còn đây là HĐND. Giữa lúc có nhiều đại biểu đồng ý với tôi, trong đó có Trần Văn Tạo, Ủy viên TVTU, Phó giám đốc Công an TP, Phạm Phương Thảo, Ủy viên TVTU, Phó CT phụ trách VHXH UBND TP thì chủ tọa kỳ họp lại được tin ban Thường vụ Thành ủy họp và đã đồng ý dẹp chợ hoa TP. Tôi cương quyết đề nghị có Nghị quyết về vấn đề này nhưng chủ tọa làm ngơ và thông qua NQ ở HĐND TP. Tuy đấu tranh gay gắt như vậy nhưng đối với anh Võ Viết Thanh tôi vẫn tôn trọng tính trung thực, quyết đoán của anh.

Lúc đó tôi với tư cách đại biểu HĐND TP có phối hợp với các vị hưu trí Q.6, với Ban quản lý thị trường TP để tố cáo những tiêu cực, sai trái của Giám đốc Đông lạnh Hùng Vương. Phối hợp với cuộc đấu tranh này có anh Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên TV Quận ủy Q.6, Trưởng ban Tuyên huấn Q.6. Thắng cũng là dân phong trào SV. Không hiểu sao sau đó có một văn bản có danh sách 12 người gọi là điệp báo của Cục tình báo TƯ trong đó Nguyễn Văn Thắng nằm ở số 7. Lúc ấy anh Nguyễn Minh Triết mới về làm Phó bí thư thường trực của TƯ. Tôi gặp anh Nguyễn Minh Triết và trình bày với anh về vấn đề thì anh đề nghị tôi không can thiệp nữa vì danh sách đã có dấu đỏ của đặc ủy tình báo TƯ của Mỹ. Trước đó có người biết chuyện ngụy tạo danh sách này và nói danh sách láo được đánh trên giấy Bãi Bằng là giấy chỉ do Cộng sản sau 1975 sản xuất. Anh Nguyễn Minh Triết ghi nhận nhưng Nguyễn Văn Thắng vẫn bị giam ở 4 Bạch Đằng. Lúc ấy Q.6 tính lấy lại nhà của Nguyễn Văn Thắng ở Bà Hom, Q.6. Tôi gặp Chủ tịch Võ Viết Thanh và đề nghị anh xem xét lại vấn đề này thì anh nói với tôi một cách cương quyết: “Chuyện chính trị của Thắng tôi không biết nhưng chuyện nhà của Thắng tôi bảo đảm không ai lấy được”. Anh giữ lời hứa khi Thắng được giải oan về lại Bà Hom, Q.6 như cũ. Tôi gặp anh Võ Viết Thanh cám ơn anh. Nhân đó tôi hỏi thăm tại sao anh không đi học Cử nhân, Tiến sĩ như những người khác. Anh cười nói rất Nam Bộ: “Tôi không chơi kiểu đó. Nếu tôi học tôi sẽ xin nghỉ làm để đi học thật sự, không như những vị học giả mà bằng thật như hiện nay”. Từ đó quan hệ giữa anh và tôi rất vui vẻ, không còn nhớ gì trận đấu khẩu nảy lửa ở HĐND về vụ chợ hoa Nguyễn Huệ. Sau này anh bị thất sủng vì vụ án Sáu Sứ mà trong quyển Bên thắng cuộc nhà báo Huy Đức có nêu.

Tôi nêu những trải nghiệm nói trên để chứng minh rằng trong chế độ này không có chỗ cho người trung thực mà chỉ dành cho những người nói láo, tránh né đấu tranh. Giờ đây chúng ta phải phá vỡ nỗi sợ hãi đó đi để thực hiện một chủ trương cực kỳ quan trọng của nhà cách mạng Phan Châu Trinh: Khai dân trí, chấn dân trí, hậu dân sinh.

Cuối cùng tôi xác định bài viết này chỉ có mục đích là thanh toán, tính sổ cuộc đời của mình, trang trải những món nợ còn lại để gửi các vị lãnh đạo Đảng CSVN, để mong các vị “mở mắt” ra mà có sự lựa chọn con đường sống cho dân tộc. Hiện nay xu hướng chạy theo CN Mác-Lênin CNXH đã lạc điệu, không còn phù hợp nữa và đã sụp đổ tan tành ở ngay quê hương Xô Viết. Hiện nay là cuộc đấu tranh trên thế giới về dân quyền, dân sinh, dân chủ, tự do, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Nghĩa là đây là cuộc đấu tranh quyết liệt cho con người, vì con người chống lại các thế lực phản động đang âm mưu nô dịch nhân dân, phá hoại môi trường vì những lợi ích kinh tế ích kỷ của các tập đoàn, lung đoạn nhà nước.

Tôi không tin lắm về sự tự giác của một số nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước sớm thấy tình hình và xu thế phát triển hiện nay để đặt lợi ích của Đất nước, Tổ quốc lên trên hết mà có một giải pháp hợp lý, không vì lợi ích và sự tồn tại của Đãng, của chế độ mà đi ngược lại xu thế phát triển của thời đại hiện nay. Tôi quan niệm rằng làm nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là cương quyết đấu tranh cho một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ, tôn trọng thực hiện những lý tưởng của biết bao thế hệ cha anh chúng ta về một nước VN hòa bình, độc lập, tiến bộ xã hội, văn minh và giàu mạnh. Một khi xã hội dân sự, xã hội công dân mạnh lên, đủ sức kìm hãm, ức chế các khuynh hướng độc tài của một nhà nước toàn trị. Trước mắt là phải “chấn dân khí” để không còn sợ hãi các thế lực tàn bạo, không sợ bắt bớ, tù đày. Sau đó là “khai dân trí” và “hậu dân sinh”.

Bài viết nầy cũng là để trải lòng với bạn bè, đồng đội và những nhân sĩ trí thức, các văn nghệ sĩ, các bạn TNSVHS mà tôi đã quen hoặc mới quen, để khẳng định một điều: với lòng tự trọng của một công dân một nước có lịch sử hào hùng chúng ta phải hành động. Không nên ngồi tranh luận với nhau về sự đúng, sai khi chọn lựa đứng bên này hay bên kia. Vì thật ra cả một bộ phận loài người trong đó có người VN khát khao với một xã hội tốt đẹp hơn, chống lại cái ác, cái xấu nên đã có thời gian dài nuôi ảo tưởng về ĐCS VN và CNXH. Vấn đề là trước đây chúng ta chưa có đủ điều kiện, dữ liệu để nhận thức một số vấn đề sống còn của đất nước nhưng hiện nay tình hình trong nước và trên thế giới đã thay đổi, vì vậy chúng ta phải nhận thức lại một số vấn đề trước đây. Nhận thức lại và dấn thân hành động cho cuộc chiến đấu mới. Đừng loay hoay những chuyện đã qua mà làm suy yếu sức mạnh đoàn kết dân tộc. Hãy để con cháu chúng ta làm nhiệm vụ đánh giá lịch sử. Còn chúng ta trước mắt là hành động, hành động và hành động. Điều này tôi nói một lần rồi thôi…

Viết trong những ngày nằm bịnh.

L.H.Đ.

-Nguyên phó TTK Ủy ban TƯ LM các lực lượng Dân tộc, dân chủ và Hòa bình Việt Nam

-Nguyên phó CT Ủy ban MTTQ VN TP.HCM (từ 1989-2009)

-Đại biểu HĐND TP khóa 4, khóa 5

Theo BVN

 

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả

*Trong bài này có nhắc đến Võ Viết Thanh; trong cuốn Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) cũng có viết về Võ Viết Thanh, và  Theo blog BS Ngọc  có điểm sách như sau:

3.- Tàn nhẫnSự hành xử của một số lãnh đạo CS cấp cao có thể nói là tàn nhẫn. Sự tàn nhẫn thể hiện ngay giữa các đồng chí. Chúng ta thử đọc qua đoạn mô tả Võ Chí Công, Đoàn Khuê và Nguyễn Đức Tâm trả thù Võ Viết Thanh sau khi tướng Thanh bắt Năm Châu và Sáu Sứ:

“Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII’.”

Ông Võ Viết Thanh phản ứng như ssau:

“Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận.”

Theo blog BS Ngọc

———–

Tình hình hiện nay ở VN:

1.           ►Tàu lạ Trung Quốc đang hút cát ở Hà Tỉnh, có thể là cát đen có chứa quặng Titanium, giá 1 tấn cát đen là 7000 đô la « Trần Hoàng Blog

Tình hình đời sống của dân chúng…và của cán bộ đảng..

►“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất qua hợp đồng ăn chia 1/9

►18 tỉnh Việt Nam cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê mướn đất đai với giá cực kỳ rẻ, sao không bị chính quyền cưỡng chế?

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền | 2 Comments »