Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy 10th, 2013

►Nông dân được mùa nhưng điêu đứng vì giá lúa hạ giảm 30% so với 2 năm trước đây

Posted by hoangtran204 trên 10/07/2013

Cơn bão dư luận!

06.07.2013

Bài viết về tình trạng các nhóm lợi ích ép giá lúa đến nổi thấp hơn giá ốc bươu vàng đã được rất nhiều bạn đọc quan tâm và bình luận. Trên sgtt.vn (nơi bản gốc xuất hiện) có 11 bình luận. Qua một diễn đàn khác, tôi mới biết VietQ có đăng lại bài viết đó, và Dân Trí đăng lại từ VietQ. Nhưng khi lên Dân Trí thì có đến 105 bình luận!

Báo Dân Trí hôm nay có bài bình luận cho rằng bài đó đã “tạo nên cơn bão mới trong dư luận” dù chuyện đó nằm trong nhóm các chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

http://dantriCopy a Post.com.vn/xa-hoi/tro-treu-oc-buou-vang-gia-tri-hon-lua-khi-chinh-sach-van-di-duong-vong-751429.htm

Tôi rất cảm động khi xem qua những bình luận trên sgtt.vn và đặc biệt là Dân Trí. Cảm động không chỉ vì có người đồng cảm và đồng tình, mà vì xã hội vẫn còn những người quan tâm đến nông dân. Trong cái thời mà người mới lên tỉnh, võ vẽ học vài chữ đã vội quên đi hương đồng gió nội và lên lớp dạy đời dân quê, mà vẫn còn có rất nhiều người còn quan tâm đến “chân quê” thì quí hoá. Như vậy là xã hội vẫn không quên bà con nông dân.

Trong cuộc đời viết báo như là một “hobby” của tôi, có những giây phút làm tôi thấy ngòi bút (bàn phiếm) của mình có ích. Trong một lần nói chuyện về báo chí và khoa học do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ngoài Vĩnh Phú (có cả thứ trưởng Nguyễn Quân tham dự) tôi có nói rằng một trong những bài báo tôi tự hào nhất là bài “Bưởi không gây ung thư vú”, vì qua bài đó mà tôi giúp ích rất nhiều nông dân trồng bưởi. Bài đó tôi cũng viết trong bức xúc khi nghe tin giá bưởi giảm từ hơn chục ngàn đồng xuống còn 3-4 ngàn đồng chỉ vì một bản tin trên báo nói rằng bưởi gây ung thư.

Tôi về nhà viết bài đó trong vòng 2 giờ đồng hồ, và gửi bài cho Thanh Niên hay Tuổi Trẻ (tôi quên) lúc 11 giờ đêm. Nhưng họ không dám đăng, vì lúc đó báo chí rầm rộ cho rằng bưởi gây ung thư vú.

Tuy nhiên, Thời báo Kinh tế Sài Gòn đăng. Sự việc dẫn đến vài tờ báo bị phạt vì đưa tin thất thiệt, hình như Thanh Niên bị phạt nặng nhất. Rất nhiều hội đoàn nông dân gửi thư cho tôi cám ơn bài viết đó. Những lá thư viết rất Nam bộ làm tôi thật sự cảm động.

Trước hay sau bài “Bưởi không gây ung thư vú”, còn có những bài khác làm tôi “gây thù chuốc oán” với Bộ Y tế. Đặc biệt nhất là loạt bài mắm tôm và dịch tả, trong đó tôi viết rằng mắm tôm không thể nào chưa vi khuẩn tả được vì chứng cứ thí nghiệm cho thấy chẳng có con V. cholerae nào sống nổi trong môi trường 5% muối.

Các giới chức y tế không tin tôi, họ đóng cửa các cơ sở mắm tôm, đi lấy hơn 200 mẫu để xét nghiệm. Kết quả cho thấy chẳng có mẫu mắm tốm nào chứa V cholerae. Hoan hô khoa học! Ấy thế mà họ không xin lỗi mắm tôm.

Một bài khác cũng làm tôi vui là vụ “ngực nở chân dài” mới được lái xe. Lúc đó (cũng 5 năm rồi) Bộ Y tế ra qui định rằng người lái xe phải có chiều dài chân tối thiểu là 75 cm và vòng ngực kha khá. Nhưng qui định này hình như không dựa vào những tham số căn bản về nhân trắc nên rất sai.

Tôi viết bài “Tìm đâu ngực nở chân dài” trên Tuổi Trẻ và Tuần Việt Nam. Bằng dữ liệu thực tế của chúng tôi và với giả định rất cô điển (trong sách giáo khoa y khoa) tôi tính ra rằng chỉ có 5% nữ và 50% nam có thể lái xe nếu làm theo qui định của Bộ Y tế. Sau này thì qui định đó bị bác.

Một hôm tôi và Nguyên đi giảng ở Viện Nhi Hà Nội, một em bác sĩ lên cám ơn tôi, mà tôi chẳng hiểu cám ơn cái gì, nhưng em ấy nói là “nhờ bài của thầy mà em được lái xe”. Tôi nhìn cô ấy thì quả thật là cô có chiều cao khiêm tốn. Tôi thấy trong lòng vui ghê vì không ngờ bài báo đó cũng gây tác động.

Bây giờ thì vụ cơn bão giá lúa. Hôm tháng 6 tôi về quê thăm nhà, và mỗi lần về quê là rôm rả chuyện trò đồng áng. Trong những câu chuyện như không bao giờ hết, có chuyện do anh Ba Đen nói một cách mỉa mai: ối, mày ơi, bây giờ ốc bươu vàng còn có giá hơn lúa. Mấy người trong bàn thêm vào những chi tiết về kinh nghiệm bán lúa của họ.

Ốc bươu vàng được xem là rác, không thể so sánh với ốc bươu đồng được. Vui nhất là anh Hai, người gốc Khmer, bằng một giọng lơ lớ nói: tao sống đến độ tuổi này mà chưa bao giờ thấy giá lúa thua giá ốc rác. Anh chua chát nói: chắc mai mốt tao đi nuôi ốc bươu vàng.

Rồi câu chuyện xoay quanh tình trạng ô nhiễm con sông, tôm cá càng ngày càng hiếm, con trai bỏ làng ra đi lang bạt làm thuê trên thành phố, con gái cũng bỏ đi làm trên thành phố mà ai cũng đoán là làm bia ôm, bệnh tật như đột quị và ung thư càng ngày càng phổ biến, v.v. Ai cũng nghĩ thôn quê mình không còn như ngày xưa nữa. Thì dĩ nhiên phải có đổi thay, nhưng tiếc thay, sự thay đổi làm cho nông thôn tồi tệ hơn.

Tôi hứa với mấy người anh em và hàng xóm là tôi sẽ cố gắng viết một bài gióng một tiếng nói dùm cho bà con. Thấy sgtt.vn đang quan tâm đến vụ này và chuyện bên Thái Lan (ông bộ trưởng bị cách chức vì trợ giá cho nông dân) nên tôi gửi cho họ. Có bạn đọc trên sgtt.vn phê bình tôi cảm tính. Dĩ nhiên là tôi bày tỏ cảm tình của mình đến bà con chòm xóm tôi, vì tôi thấy bất công và phi lí trước mắt mình. Thấy chuyện bất công mà không lên tiếng là bất nhẫn. Con người mà vô cảm thì quả là quá tệ.

Tôi nghĩ vấn đề nông thôn, không chỉ ĐBSCL mà toàn quốc, là vấn đề lớn. Có thể nói không ngoa rằng nông thôn VN đang khủng hoảng. Nên nhớ rằng 70% dân ta vẫn là nông dân. Đừng có tưởng chỉ vài khu công nghiệp là ta trở thành nước công nghiệp. Cũng đừng nghĩ sự hiện diện của những cửa hàng xa hoa đắt tiền ở thành phố mà cho rằng VN bây giờ khá quá. Càng sai lầm hơn nếu nghĩ rằng với thu nhập 1100 hay 1300 USD đầu người là VN đã thoát nghèo, vì đó chỉ là cái “flaw of average” mà thôi.

Trong thực tế, chỉ cần đi ra ngoài thành phố 20-30 cây số thì sẽ thấy cái nghèo của người dân ra sao. Nghèo xác xơ. Ở quê tôi, chỉ cách Rạch Giá có 20 cây số, mà những đứa trẻ ốm tong teo trong những bộ đồ ngã màu nước phèn phải đi lao động để phụ thu nhập cho nhà. Bất cứ ai có chút tình cảm con người chỉ cần nhìn ánh mắt của chúng sẽ nhói lòng. Đối với những em bé này và ba má chúng thì những lời vàng thước ngọc của Nick Vujicic chẳng có ý nghĩa gì.

Một điều trớ trêu là những nơi là căn cứ nuôi mấy ông bà cách mạng ngày xưa thì bây giờ là những nơi nghèo nhất. An Biên, Gò Quao, Giồng Riềng, v.v. những nơi từng nuôi cán bộ trong thời chiến, bây giờ là những nơi có lẽ là nghèo nhất nhì của Việt Nam.

Nhưng khổ nỗi mấy ông bà ấy bây giờ có mấy ai còn nhớ đến chân quê, đến cái gốc của mình. Do đó, tôi rất tâm đắc với ai đó của Vietnamnet đã có bài với tựa đề “Mới ra tỉnh đã quên mình ‘chân quê’”.

Thật ra, chữ chân quê khôg nên viết trong ngoặc kép, vì đáng lí ra họ phải biết tự hào mình là chân quê chứ. Thử hỏi: ai trong chúng ta mà không có cái gốc quê? Không có quê thì làm sao có thành phố? Do đó, tôi nghĩ các quan chức thay vì ngồi trong phòng lạnh mà ra chính sách thì nên vi hành một vài lần về quê nghèo để làm một cái gì đó thiết thực cho nông dân.

Theo blog Nguyễn Văn Tuấn

**

Một số các nhà khoa học có các công trình nghiên cứu thiếu  chứng cớ khoa học, không kết luận điều gì rõ ràng, và các phóng viên báo chí hiểu sai lạc các kết quả ấy, và viết các bài báo làm cho dư luận hoang mang, lo sợ, và phải ngừng ăn bưởi, để  mua các thuốc hạ giảm cholesterol.

Thí dụ ăn 1 trái bưởi mỗi ngày, mỗi tuần ăn 5 trái, thì sẽ làm hạ giảm mở cholesterol trong máu mà không cần uống thuốc hạ giảm mở trong máu như  (Lipitor, Zocor,  atorvastatin (Lipitor), simvastatin (Zocor), lovastatin (Mevacor), pravastatin (Pravachol), rosuvastatin (Crestor) và các thứ  thuốc khác .

Tuy nhiên, điều cần nhớ là KHÔNG ĐƯỢC ăn bưởi và uống thuốc hạ giảm cholesterol trong cùng một ngày hay cùng thời gian điều trị (thường là 6-9 tháng). Lý do: nồng độ của một hợp chất có trong bưởi có khả năng  làm giảm sự đào thải của thuốc ra khỏi cơ thể, kết quả là thuốc tích tụ lại trong máu, làm nồng độ của thuốc CAO lên gấp nhiều lần theo thời gian dùng thuốc, điều này gây cho các bắp thịt của bệnh nhân bị đau vì bị suy thoái, người uể oải, và làm gia tăng sự nguy hại gan của người bệnh. (Trần Hoàng)

———

Trớ trêu ốc bươu vàng giá trị hơn lúa!

4-7-2013

Lần đầu tiên trong lịch sử, giá lúa rẻ hơn giá ốc bươu vàng. Bà con nông dân nói đùa vui với nhau nhưng đó là nỗi đau của cả một nền nông nghiệp đang tự hào xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới.

Bộ trưởng thương mại Thái Lan, Boonsong Teriyapirom, bị Thủ tướng Yingluck Shinawatra cách chức, vì ông là tác giả của một chương trình nông nghiệp dẫn đến giá gạo Thái cao hơn giá gạo Ấn Độ và Việt Nam, và làm giảm lượng xuất khẩu của gạo Thái.

Đọc bản tin này tôi không thể không nghĩ đến và ngậm ngùi cho thân phận của bà con nông dân ở quê tôi, nơi mà giá lúa đang bị hạ thấp đến độ vô lí, nhưng không ai chịu trách nhiệm.

Phi lý

Quê tôi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đó là vùng đất được ví von là vựa lúa của Việt Nam, và có thể là một vựa lúa lớn trong vùng Đông Nam Á. Để có cái danh hiệu đó, người dân quê tôi phải bán mặt cho đất bán lưng cho trời trên những cánh đồng. Suốt năm này sang năm khác, người nông dân ở đây phải đương đầu với rất nhiều thiên tai, thảm họa, và vì thế cuộc sống của họ càng ngày càng chật vật hơn.

 

Đời nông dân vất vả, thiệt thòi.

Vài năm trước, vùng ĐBSCL kinh qua một thảm nạn có tên là “ốc bươu vàng”. Đó là loại ốc do ai đó vì lí do nào đó đã “du nhập” từ Trung Quốc hoặc Đài Loan về Việt Nam. Những con ốc sinh sôi nảy nở với tốc độ chóng mặt. Nhưng chúng cũng tàn phá ruộng lúa theo tốc độ cấp số nhân.

Những cây lúa chưa kịp lớn đã bị chúng “cắt” ngang. Trong một thời gian dài, Nông dân quê tôi khốn đốn với chúng, nhìn lúa bị huỷ hoại mà không làm gì được. Có năm, như 2010, có hàng chục ngàn ha bị chúng phá sạch. Chẳng ai chịu trách nhiệm. Trong khi đó thì người dân phải tìm cách đối phó. Đến vài năm sau người ta mới tìm thấy “tác dụng” của ốc bươu vàng: làm thức ăn cho vịt. Thế là bà con nông dân, kể cả trẻ con, đi ruộng bắt ốc bươu vàng bán cho các trại nuôi vịt. Nhưng ốc bươu vàng được xem là thứ “rác rưởi”, như cây cỏ, nên giá bán cũng rất thấp.

Nhưng điều trớ trêu ngày nay là ốc bươu vàng có giá trị hơn … lúa. Lần đầu tiên trong lịch sử, giá lúa rẻ hơn giá ốc bươu vàng! Khi nghe bà con chòm xóm bàn tán và so sánh một cách hài hước, tôi nghĩ họ chỉ nói đùa cho vui.

Nhưng không, lúa ở quê tôi (và vùng ĐBSCL nói chung) có giá trị thấp hơn ốc bươu vàng. Đó là một thực tế. Một kílô ốc bưu vàng giá 15000 đồng. Ba kí lô lúa chỉ khoảng 10.000-12.000 đồng.

Ba kílô lúa không bằng 1 kílô ốc bươu vàng. Tôi không biết có nơi nào mà người ta có thể ăn ốc bươu vàng thay cho gạo. Tôi cũng không biết có nơi nào trên thế giới mà giá lúa thấp hơn giá ốc bươu vàng vốn được xem là một loại rác sinh học.

Người nông dân quê tôi vốn nghèo nay càng nghèo hơn. Trước khi sạ lúa, bà con đã phải vay tiền (từ ngân hàng hay bạn bè, thân nhân) để mua phân bón, thuốc trừ sâu. Giá phân bón và thuốc trừ sâu lúc nào cũng gia tăng theo thời gian. Thành ra, bây giờ khi thu hoạch lúa xong, với cái giá bèo đó thì họ hoặc là lỗ hoặc là huề vốn. Có người sau một mùa vụ thì trắng tay vẫn hoàn trắng tay. Tình trạng này rất nhất quán với con số của Tổng cục Thống kê, rằng trong số những người nghèo nhất nước, 83% là nông dân. Đó là con số đáng báo động.

Ai hưởng lợi?

Chính phủ có Nghị quyết “Về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia” và “đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30% so với giá thành sản xuất.” Con số lời 30% có lẽ ru ngủ nhiều người và đẹp trên trang giấy, nhưng trong thực tế thì giá lúa tính chung giảm 30% từ năm 2011 đến 2012.

Sở dĩ có tình trạng này là người nông dân bị ép giá khi mới thu hoạch. Nhưng vì phải thanh toán nợ nần nên họ đành phải bán lúa dưới giá sàn. Hậu quả là những con thương hưởng lợi. Thống kê cho thấy trong hai năm 2008-2009, Việt Nam xuất khẩu gần 11 triệu tấn gạo trị giá 5.5 tỉ USD, và tính trung bình giá xuất khẩu là 10,360 đồng một kílô. Trong khi đó giá mua thì chỉ 7000 đồng / kílô gạo. Như vậy, giá xuất khẩu và giá mua chênh lệch đến 3360 đồng mỗi kílô lúa!

Ai là người hưởng lợi? Để trả lời câu hỏi này, có thể nhìn qua qui trình buôn bán lúa và xuất khẩu gạo. Xong mùa vụ, nông dân bán lúa cho các thương lái nhỏ (thường đi bằng ghe trên sông). Các thương lái nhỏ này bán cho thương lái lớn. Trong quá trình đó lúa có thể bị pha trộn và giảm chất lượng.

Thêm vào đó là chính sách tạm trữ lúa gạo của Nhà nước vô hình chung tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mua lúa và tạm trữ. Các doanh nghiệp này, dù đã được hưởng lợi từ Nhà nước, chọn thời điểm để ép giá lúa, và hệ quả là người nông dân lãnh đủ. Đã có người đề cập đến “nhóm lợi ích nông nghiệp”, và đã đến lúc phải xác minh và nhận dạng nhóm này để thực thi Nghị quyết của Chính phủ.

Với tình trạng như thế thì chẳng ai ngạc nhiên khi thấy cha mẹ “quyết không để con làm ruộng”. Thu nhập của nông dân nếu tính ra còn thấp hơn thu nhập của công nhân trong các hãng xưởng. Do đó, không ai ngạc nhiên khi phụ nữ xếp hàng đi lấy chồng Tàu, Hàn (một số thì bị chết thảm), và vấn nạn này là một quốc nhục.

Trong khi đó, nam thanh niên thì đi lang bạt làm thuê ở các khu kĩ nghệ khắp nước. Có nơi (như Thới Bình, Cà Mau) chỉ trong vòng 6 tháng có hàng ngàn thanh niên bỏ huyện đi làm ở các tỉnh khác. Ngày nay, đến mùa gặt lúa nông thôn rất khó tìm nhân công. Thêm vào đó là sự tăng trưởng dân số cộng với sự thiếu qui hoạch đã gây nên sức ép môi trường ghê gớm. Hệ quả là môi trường sống và môi trường canh tác càng ngày càng xấu đi một cách nghiêm trọng. Ở quê tôi, không ai dám tắm sông. Có thể nói không ngoa rằng nền tảng nông thôn vùng ĐBSCL đã và đang lung lay.

Những người dân thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã đưa ViệtNam thành một trong những nước xuất khẩu gạo và nông sản hàng đầu thế giới. Họ đã đóng góp và đem về cho ngân sách hàng tỉ USD mỗi năm. Ấy thế mà người dân vùng ĐBSCL bị thiệt thòi nhất nước. Đánh giá qua bất cứ chỉ tiêu nào (giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng, đường xá, nhà ở, v.v.) ĐBSCL đứng hạng chót hay áp chót. Đối với người dân ở đây, câu nói ĐBSCL là “vùng đất trù phú” chỉ là huyền thoại và là một sỉ nhục.

Một quan chức cao cấp thuộc vùng ĐBSCL từng giải thích sự sa sút của vùng đất lúa gạo này: “ĐBSCL ở xa trung ương quá, lâu lâu Bộ mới vào một lần. Trung ương mà không sớm thay đổi chánh sách, bỏ rơi thì miền Tây không thoát nghèo được”…

Theo GS Nguyễn Văn Tuấn

VietQ

http://dantri.com.vn/kinh-doanh/tro-treu-oc-buou-vang-gia-tri-hon-lua-750560.htm

Giá lúa thua cả giá ngô

12-6-2013

(Dân trí) – Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết hiện giá lúa là 5.000 đồng/kg thì giá ngô là 7.000 đồng/kg. Vị “thủ lĩnh” ngành nông nghiệp khuyên người dân nên dịch chuyển từ trồng lúa sang ngô, khoai bởi nhu cầu về các ngũ cốc này trên thế giới cao.

Trớ trêu ốc bươu vàng giá trị hơn lúa: Khi chính sách vẫn “đi đường vòng”

(Dân trí) – Tình cảnh khốn khó vẫn hoàn khốn khó của nông dân cả nước nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng, qua bài viết đầy sức thuyết phục của GS Nguyễn Văn Tuấn tạo nên cơn bão mới trong dư luận dù đó vẫn chỉ là một trong bao chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”

 >>  Trớ trêu ốc bươu vàng giá trị hơn lúa!

Nông dân vùng ĐBSCL vất vả làm ra hạt lúa nhưng luôn canh cánh trong lòng nỗi lo giá thấp, khó tiêu thụ 

Đánh đu với giá

Dù có là nông dân hoặc con em nhà nông hay không, người dân cả nước ta cũng ít nhiều hiểu được nghịch lý rất lớn khi những người trực tiếp làm ra của cải vật chất cho XH lại vẫn luôn phải chịu nhiều thiệt thòi nhất, đúng như GS Tuấn nhận xét: Nông dân vốn nghèo nay càng nghèo hơn. Có người sau mùa vụ trắng tay vẫn hoàn trắng tay… Tình trạng đó nhất quán với con số rất đáng báo động – trong số những người nghèo nhất nước, có tới 83% là nông dân.

Rất nhiều ý kiến phản hồi nêu rõ sự trớ trêu khi nông dân luôn bị đẩy vào thế chẳng khác gì phải chơi canh bạc với giá cả sau mỗi mùa vụ, khi nghịch lý được mùa rớt giá cứ lặp đi lặp lại…Trong khi đó mọi chính sách để đến được với nông dân, thay vì trực tiếp lại trở thành gián tiếp (nói cách khác là đi đường vòng thay vì đường thẳng) nhưMinh Hiep  cmhiep@gmail.com vạch rõ:

“Đồng ý với những phân tích của GS Tuấn. Tôi cũng là 1 người con của ĐBSCL, cũng đang công tác trong ngành nghề có liên quan đến nông nghiệp. Qua theo dõi tình hình giá lúa và các biện pháp của Chính phủ, của Bộ NNPTNT, tôi nhận thấy vẫn chưa đặt người nông dân làm mục tiêu chính để phát triển. Hầu hết mọi chính sách vẫn chưa thiết thực, chưa giúp trực tiếp cho người nông dân, mà lại vẫn khiến người nông dân được hưởng ít nhất và sau cùng của chính sách. Ví dụ như chi 30.000 tỷ để cứu BĐS, còn giải cứu giá lúa cho nông dân thì chỉ thu mua tạm trữ 1 triệu tấn, đó có phải là sự chênh lệch không?”

Sự chênh lệch đó tiếp tục được phân tích trong nhiều ý kiến phản hồi khác:

 “Thời hiện đại ngày nay rồi mà người nông dân vẫn thật khổ. Giá phân, giá thuốc… cái gì về nông nghiệp đều tăng, chỉ có giá lúa lúc nào cũng bèo. Mới tăng một ít thì báo chí đã đưa tin người dân trúng lớn, nhưng ai biết được đằng sau đó bao giọt mồ hôi nước mắt đổ ra mà có khi vẫn chưa đủ ăn, mà giá lúa nay thế này, mai thế khác. Đã vậy thời tiết mưa nắng thất thường, đã mất mùa còn bị ép giá (chê xấu lúa, không đủ nắng, lúa cho gạo không đẹp….) Đâu ai biết rõ được nỗi khổ người trồng lúa??? Tôi cũng mong sẽ có chính sách ổn định về giá phân, thuốc ….và cải thiện giá lúa. Còn tình cảnh hiện nay luôn khiến tôi nhớ lời khuyên của bố:  ‘Gia đình đã vất vả lắm rồi, không muốn tụi bây theo con đường làm nông nữa. Hy sinh đời bố củng cố đời con…” Vậy nên người nông dân dù chịu nắng mưa vất vả bao nhiêu cũng cố làm, để lo cho con cái học hành với hy vọng làm nghề khác khá hơn, chứ làm nghề nông biết bao giờ khá nổi” – Trần Hoài Phúctranhoaiphuc91@gmail.com

“Đây là một trực trạng khiến nhiều năm qua ĐBSCL vẫn chưa thoát khỏi nghèo đói. Đó cũng chính là những nguyên nhân và hệ lụy khi chưa có chính sách thật bền vững để nông dân thoát nghèo, thì làm sao nâng cao đời sống và dân trí được? Theo tôi, muốn giải quyết được những vấn đề nan giải trên đòi hỏi phải có một chính sách tổng thể minh bạch, giải quyết dứt điểm rõ ràng những nghịch lý vẫn tồn tại, để người nông dân trực tiếp hưởng lợi từ chính sách nhà nước. Cần có những người đứng đầu có TÂM đưa ra những chính sách kịp thời thì mới hy vọng giải quyết được tình trạng như bài báo đã viết, nếu không sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ĐBSCL nói riêng và của cả nước nói chung” – Giang:  nguyenhoanggianghello@gmail.com

 

 

Giá lúa bấp bênh khiên nông dân luôn trong thế “nắm dao đằng lưỡi” (ảnh minh họa: Nguyễn Hành)

 

Từ chính sách tới thực tế

Nghịch lý thì bao năm qua ai cũng biết nhưng tình hình vẫn gần như dậm chân tại chỗ, song điều trớ trêu  nhất đúng như SG Tuấn nhấn mạnh: Lần đầu tiên trong lịch sử, giá lúa rẻ hơn giá ốc bươu vàng quả thật khiến ai cũng phải giật mình, từ không thể tin tới… sốc… trước sự thực quá đau lòng này. Tựu trung lại, dư luận chung quan điểm rằng vẫn còn khoảng cách còn quá lớn giữa chính sách với thực tế.

“Tôi nghĩ bài báo trên đây cần được đưa vào tư liệu cho việc hoạch định chính sách của Đảng, Nhà nước vì bài viết mang tính thực tiến rất cao, có lẽ giá  trị của bài báo có tầm nhìn cho các nhà quy hoạch chiến lược của quốc gia suy nghĩ. Tôi nhận thấy trong khi nước ta vẫn hô hào nông dân sản xuất thì đồng thời các chính sách và giải pháp đề ra vẫn như lại khiến họ đưa nền nông nghiệp nước nhà vào ngõ cụt vì:

 + Chưa tạo được thị trường thực sự về nông sản, lúa gạo cho VN và đưa ra thị trường thế giới, khi giá trị lúa gạo còn thấp hơn giá “rác thải nông nghiệp” là con ốc bươu vàng (!!??)

+ Chưa có một chính sách phù hợp về chế biến nông sản, về tỷ lệ trồng lúa hợp lý so với chăn nuôi, về các cây nông nghiệp có giá trị thương phẩm cao.

+ Nhà nước chưa đầu tư nhiều vào nông nghiệp, vẫn như ăn xổi vào sản lượng các vụ lúa?  Chưa sử dụng được các viện nghiên cứu vào mục tiêu tìm ra lối thoát cho sản phẩm nông nghiệp lâu dài. Vì vậy, riêng về mảng nông nghiệp chúng ta tự đánh mất thế mạnh và đánh cả mất tính nhân văn khi vẫn để cho nông dân nghèo khổ???” – Trần Ngọc Hiệp: Hiepkq@gmail.com

“Một bài viết tuyệt vời! GS Tuấn phải là 1 người yêu quê lắm, yêu nông dân lắm và yêu cái vùng đất “xa mặt trời” lắm thì mới viết được một bài sâu sắc, thắm đượm tình người, tình đất, tình quê hương thế này! Ước gì các vị giới chức hữu quan cũng có được cái tâm, cái tầm và cái lòng nhiệt huyệt vì nông dân như GS Tuấn thì VN ta đã thực sự sánh vai với các cường quốc năm châu từ lâu rồi. Chứ đâu có năm này qua tháng nọ chỉ thấy toàn so với Lào, Campuchia, Myanmar… Ôi….!”-Hoàng Anh:  truonghoanganh84@yahoo.com.vn

“Cảm ơn bài viết của GS Nguyễn Văn Tuấn. Đúng là nhìn chính sách của Thái Lan mà nông dân VN phát  thèm luôn. Nhưng điều cơ bản là người dân VN (đặc biệt là người nông dân) đâu có quyền chọn người làm chính sách???” –  Huỳnh Văn Sắc:  sachuynh@yahoo.com

 

Và mấu chốt vấn đề có lẽ là ở chỗ, chính sách của họ đi đường thẳng chứ không chọn đường vòng như của chúng ta chăng???

Khánh Tùng

——————————————————————————-

Nỗi niềm người nông dân

thesaigontimes.vn

Thứ Tư,  16/7/2008

Nông dân Hoàng Kim nói: “Xin đừng hỏi nông dân chúng tôi trồng cây gì, vì nông dân hiện đang trồng cây gì cũng chết”. Ảnh: Lê Toàn

(TBKTSG Online) – LTS:  Nhiều năm nay, người nông dân luôn đối mặt với khó khăn và chịu nhiều thiệt thòi dù họ là thành phần lao động đóng góp sức lực, của cải không nhỏ cho xã hội. Bài viết dưới đây là tâm tư của một nông dân làm lúa ở ĐBSCL. Tòa soạn xin giới thiệu bài viết này.

>> Xem thêm chủ đề: Nông nghiệp – Nông thôn – Nông dân

Ngoài lúa, không biết nên trồng gì?            

Nông dân làm mỗi năm hai vụ lúa nhưng thực chất chỉ có vụ đông xuân là chính yếu còn vụ hè thu có năm lời có năm lỗ. Làm một vụ mà chi tiêu cả năm thì chuyện nghèo khó là điều tất yếu.  

Muốn tăng thu nhập nông dân phải tăng năng suất và giảm giá thành hoặc phải tăng vụ. Việc tăng năng suất xin nhờ các nhà khoa học. Còn việc giảm giá thành, vấn đề chính yếu là phải có một giống lúa cứng cây không đổ ngã để nông dân có thể sử dụng máy gặt đập liên hợp trong vụ hè thu. Việc tạo một giống lúa cứng cây theo tôi là điều có thể vì khoảng nhiều năm về trước tôi có đọc được một bài báo là Nhật Bản đã nghiên cứu thành công một giống lúa rất cứng cây.  

Việc tăng ba vụ lúa mỗi năm chỉ giúp nông dân tăng thu nhập một vài năm đầu nhưng làm cho đất ngày càng cằn cỗi, tạo ra dịch rầy nâu mang đến bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá làm cho năng suất lúa thấp. Cách tăng vụ hợp lý nhất hiện nay là hai vụ lúa một vụ màu, thế nhưng phải trồng cây màu nào thì nông dân không biết.

 

Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn xem cây gì thế giới đang tiêu thụ mạnh, lấy giống đem về trồng thử nghiệm để xem cây đó có thích hợp với khí hậu nước ta hay không. Nếu thích hợp  thì giới thiệu và hướng dẫn nông dân chúng tôi trồng.. Xin đừng hỏi nông dân chúng tôi trồng cây gì, vì nông dân hiện đang trồng cây gì “cũng chết”.  

Nghịch lý giá lúa

Người nông dân đang sống trong kinh tế thị trường: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật , xăng dầu và các mặt hàng thiết yếu đều căn cứ giá thế giới. Khi muốn giảm giá lúa người ta giải thích là giá gạo thế giới hạ. Nhưng khi giá gạo thế giới tăng thì giá lúa trong nước lại không tăng được.

Việc kiểm soát giá lúa gạo nhằm giữ ổn định thị trường trong nước, đảm bảo an ninh lương thực là điều hợp lý với mọi người ăn gạo, tuy nhiên sẽ là bất hợp lý đối với nông dân. Việc hạ giá này chính là bắt người nông dân – những người nghèo nhất nước – phải đem thu nhập còm cõi của mình đảm bảo giá gạo rẻ cho cả nước.

Việc đảm bảo an ninh lương thực chỉ hợp lý khi Chính phủ dùng ngân sách để trợ giá cho những người ăn gạo trong nước. Việc trợ giá này xin được hiểu là trợ giá cho người ăn gạo chứ không phải trợ giá cho nông dân.    

Còng lưng gánh giá cao phân bón

Tôi xin nêu giá cả mà tôi ghi trong sổ thu chi của tôi: ngày 9-11-2006, phân DAP giá 278.000 đồng một bao; ngày 20-5-2008, DAP giá 1.250.000 đồng một bao, tăng 4,49 lần so với năm 2006. Chưa được hai năm mà phân DAP tăng 4,49 lần, còn các loại phân khác cũng tăng hơn gấp đôi.

Trong điều kiện giá phân DAP quá cao, có một phương pháp thay thế là nông dân sử dụng phân lân nung chảy hoặc super lân sản xuất trong nước, thế nhưng hiện nay trên thị trường không có bán loại phân này. Tại sao không tăng sản lượng hai loại phân lân này để thay thế phân DAP? Tại sao không đầu tư nhà máy để tăng sản lượng hai loại phân trên?

Giá cả phân bón trong nước tăng phi mã, vậy mà: “theo báo cáo của ngành hải quan, từ đầu năm 2008 các doanh nghiệp đã xuất khẩu gần 100.000 tấn phân bón các loại, gây thiếu hụt và đẩy giá phân bón trong nước lên cao.” ( báo Tuoitre online ngày 2/6/2008, bài “Tạm dừng xuất khẩu phân bón”). 100.000 tấn phân xuất khẩu này doanh nghiệp đã hưởng lợi để rồi nó sẽ được tái nhập khẩu với giá cao hơn và nông dân chúng tôi phải còng lưng gánh chịu. Nước ta là một nước thiếu phân trầm trọng, phải nhập khẩu phân hằng năm, việc xuất khẩu phân ra nước ngoài là việc mua bán lòng vòng làm tăng giá phân. 

Chất lượng phân bón hiện nay đang bị thả nổi. Nông dân mua phân bón bằng cách nhắm mắt mua đại từ các đại lý phân bón, không có cách nào để kiểm tra chất lượng phân bón. Rất mong Chính phủ chấn chỉnh việc mua bán phân từ các công ty nhập phân cho đến các tầng lớp đại lý để đảm bảo giá cả và chất lượng cho nông dân.

Những quy định luật pháp đảm bảo chất lượng phân bón lại quá nhẹ do biện pháp chế tài quá thấp: bán phân bón giả không rõ nguồn gốc làm chết 500 cây cà phê bị phạt một triệu đồng (Tuoitre online ngày 9-5-2008 bài “mua nhầm phân bón giả”). Với hình phạt này thì chúng ta không thể ngăn được nạn làm phân giả, phân kém phẩm chất.  

Nhập nhằng thuốc bảo vệ thực vật  

Về chất lượng thuốc bảo vệ thực vật, nông dân không có cách nào để kiểm tra. Về nhãn mác thì muôn hình vạn trạng có loại ghi diệt được trứng rầy thế nhưng thực tế diệt không được, có loại ghi thuốc rầy có thể bảo vệ lúa được 20 ngày nhưng thực tế chẳng có tác dụng gì cả.

Có những loại thuốc ngoài nhãn chỉ hướng dẫn sử dụng cho cây ăn trái hoặc cây màu, nhưng công ty lại cử người tiếp thị giải thích rỉ tay với nông dân là do trốn thuế nên không ghi trị cho lúa. Trước đây chỉ có một số công ty của nhà nước nhưng nay rất nhiều nhà sản xuất, cùng một hoạt chất có rất nhiều tên thương mại, với giá cả chênh lệch rất nhiều.  

Đâu rồi nhà khoa học?

Khi dạy chúng tôi làm lúa, các nhà khoa học nói phải bón phân cân đối giữa đạm, lân và kali. Nhưng cân đối là thế nào và tỷ lệ từng loại ra sao thì không ai giải thích. Khi máy sạ lúa theo hàng mới được sử dụng, các nhà khoa học và báo đài đều nói đến ưu điểm tuyệt vời của nó: giảm giống, giảm sâu bệnh, giảm phân mà năng suất lại tăng. Thế là nhiều nông dân vội đi mua máy về làm, kết quả là sau một hai vụ hầu hết họ không sử dụng máy sạ nữa. Lý do là khi nông dân sạ dày, việc bón phân muộn không ảnh hưởng nhiều đến năng suất lúa; còn việc sạ theo hàng đòi hỏi phải bón phân sớm để lúa đẻ kín hàng, nhưng việc bón phân sớm này không có nhà khoa học nào nói cả.

Hiện nay, nông dân cần một loại giống cứng cây, nếu kháng được sâu bệnh càng tốt. Về máy móc, thì cần nhất là máy gặt đập liên hợp và máy cấy. Có một nghịch lý là các nhà khoa học thì khoanh tay; các xí nghiệp cơ khí lớn thì bàng quan trong khi nông dân thì lại lao vào nghiên cứu để cải tiến và chế tạo máy móc: nông dân làm máy cấy, nông dân làm máy gặt đập liên hợp, nông dân làm máy phun thuốc trừ sâu, nông dân làm máy tách vỏ dừa, nông dân làm máy tách vỏ đậu phọng… 

Nhân đây, tôi cũng xin các nhà khoa học đừng để cho các doanh nghiệp quảng cáo thuốc lợi dụng lòng tin của nông dân chúng tôi vào các vị. Xin trả quảng cáo về quảng cáo.

Hiện nông dân chúng tôi cần rất nhiều sự giúp đỡ của Chính phủ: giảm giá các loại máy móc phục vụ nông nghiệp để nhiều người nông dân có thể đầu tư mua sắm, hoàn thiện máy gặt đập liên hợp, hoàn thiện máy cấy, lai tạo một giống lúa cứng cây để gieo sạ vụ hè thu, thực hiện tốt việc phân phối giống lúa đến từng nông dân, công nghệ sau thu hoạch của lúa và các loại cây ăn trái, phát triển các nhà máy đóng hộp các loại cây ăn trái.

Tóm lại, chúng tôi rất cần một nền nông nghiệp có một kế hoạch phát triển rõ ràng.    

HOÀNG KIM (Đồng Tháp)

——————————————————————————–

Bưởi không gây ung thư vú

Nguyễn Văn Tuấn

Tuần qua, một số báo ở Mĩ và Anh chạy một bản tin đầy tính giật gân “Grapefruit linked to breast cancer” (Bưởi có liên hệ với ung thư vú) và một số báo chí trong nước dịch in lại.  Nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó thì không có gì phải bàn thêm, nhưng ở đây những bản tin như thế đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng kinh tế của một bộ phận nông dân Việt Nam. Giá bưởi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long giảm từ 10.000-16.000đ/kg xuống còn chỉ 8.000đ/kg, thậm chí 1000đ/kg.  Nhiều nông dân đang điêu đứng với sự giảm giá do thông tin trên.  Đây là trường hợp khoa học hại dân.  Do đó, cần phải thảo luận nghiêm chỉnh vấn đề.  Tôi tin rằng báo chí Tây phương hiểu không đúng dữ liệu khoa học cho nên mới gây nên nhầm lẫn nghiêm trọng. Nói một cách ngắn gọn, tôi cho rằng chưa có nghiên cứu nào chứng minh rằng ăn bưởi là nguyên nhân gây ung thư vú.  Xin nhắc lại để nhấn mạnh: chưa có bằng chứng nào cho thấy ăn bưởi có liên hệ đến ung thư vú.  Thật ra, ngược lại, nhiều bằng chứng khoa học cho thấy ăn bưởi có lợi ích cho sức khỏe. 

Trong các loại trái cây, bưởi là một loại hoa quả có nhiều giá trị y học, vì giàu dung lượng sinh tố C, A, B1 và B2.  Một vài nghiên cứu cơ bản cho thấy bưởi có khả năng ức chế lượng cholesterol trong máu và làm giảm lượng đường trong máu.  Ngoài ra, vỏ và lá bưởi còn được sử dụng để điều trị ho, đờm trong cuống phổi, nói chung là những ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe.  Người viết bài này có thể trình bày hàng chục nghiên cứu liên quan đến tác dụng của bưởi, nhưng vài nghiên cứu mới nhất tưởng cũng có thể làm cơ sở cho các phát biểu trên [1-3].

Tác dụng của bưởi còn nhiều và khó liệt kê hết ra trong bài viết ngắn này, nhưng bao nhiêu đó cũng để thấy bưởi không “có tội” như người ta đang gán ghép cho nó.  Tuy nhiên, cũng như bất cứ thực vật nào, bưởi cũng có những phản ứng phụ cần lưu ý.  Bởi vì bưởi hàm chứa lượng flavonoid naringin, và hoạt chất này có thể can thiệp vào sự kích hoạt của enzyme CYP3A trong gan (enzyme này được sản sinh bởi cơ thể chúng ta nhằm mục đích phân hóa một số hóa dược, nhất là những loại thuốc điều trị cholesterol và cao huyết áp).  Nếu bệnh nhân vừa các uống thuốc này và vừa ăn buởi thì các flavonoid naringin sẽ ngăn chận sự chuyển hóa của thuốc, làm cho thuốc không chuyển hóa được, và hóa dược tồn đọng trong cơ thể, gây độc hại cho chơ thể [4-6].

Tuần qua, một nhóm nhà nghiên cứu thuộc Đại học Nam California và Đại học Hawaii công bố một công trình nghiên cứu, mà trong đó họ kết luận rằng phụ nữ sau mãn kinh ăn bưởi có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú (nguyên văn: “Grapefruit intake may increase the risk of breast cancer among postmenopausal women”) [7].  Đáng lẽ họ phải viết cụ thể hơn rằng mối liên hệ (mà họ cho rằng vừa phát hiện đó) chỉ tồn tại ở phụ nữ sống ở Mĩ (cụ thể là bang California và Hawaii), chứ không phải phụ nữ người Á châu hay người Việt Nam.

Từ một nghiên cứu như thế, giới báo chí Tây phương chạy nhiều cái tít giật gân như “Grapefruit may increase your risk of breast cancer” (Bưởi làm tăng nguy cơ ung thư vú), “Grapefruit linked to breast cancer” (Bưởi có liên hệ với ung thư vú), thậm chí “Eating grapefruit can increase breast cancer risk by a third” (Ăn bưởi có thể tăng nguy cơ ung thứ một phần ba), v.v…  Những bản tin này gây hoang mang không ít người trong cộng đồng, đến nổi Hội đồng Ung thư Anh phải ra một thông báo để trấn an người dân.  Bản thông cáo của Hội đồng Ung thư Anh viết rằng những phát hiện về mối liên hệ giữa bưởi và ung thư vú chưa xác định.  Thật ra, theo tôi, phải viết chính xác hơn là: chưa có mối liên hệ giữa bưởi và ung thư vú.

Để hiểu câu phát biểu trên của tôi, cần phải xem qua số liệu mà họ công bố trong bài báo khoa học một cách khách quan và có hệ thống.  Trong công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu theo dõi 46.080 phụ nữ sau mãn kinh (tức trên 48 tuổi) trong thời gian 1993 đến tháng 12 năm 2002.  Họ thu thập số liệu về thói quen ăn uống của các phụ nữ này lúc ban đầu.  Đối với bưởi các nhà nghiên cứu hỏi: “trong vòng 1 năm qua chị ăn uống bao nhiêu bưởi?”  Trong thời gian 9 năm sau đó họ liên kết với cơ sở dữ liệu về ung thư của bang California và Hawaii để biết ai trong số này bị ung thư vú.  Kết quả cho thấy như sau (Bảng 1):

Bảng 1.  Tỉ lệ phát sinh ung thư vú phân theo nhóm ăn bưởi và không ăn bưởi

Thói quen ăn bưởi

Số trường hợp ung thư vú

Số đối tượng không ung thư vú

Tổng số

Tỉ lệ phát sinh ung thư vú

Không ăn uống bưởi

794

22409

23203

3,4%

Có ăn uống bưởi

863

22014

22877

3,8%

Nguồn: xem tài liệu tham khảo số 7.

Như thấy trong bảng trên, có đến 50% các phụ nữ báo cáo rằng họ từng ăn bưởi (hay uống nước bưởi) trong vòng 1 năm qua (tức là năm 1993).  Trong số 22.877 phụ nữ từng ăn uống bưởi, có 863 người bị ung thư vú sau đó, và tỉ lệ là 3,8%.  Trong số 23.203 phụ nữ nói rằng họ không ăn uống bưởi trong vòng 1 năm qua, có 794 người mắc bệnh ung thư vú, và tỉ lệ phát sinh là 3,4%.  Như vậy, nhóm ăn bưởi có tỉ lệ ung thư vú cao hơn nhóm không ăn bưởi là 0,4% (3,8% trừ cho 3,4%).  Trong y học, một khác biệt chỉ có 0,4% không thể xem là có ý nghĩa lâm sàng được. (Chú ý rằng phần lớn báo chí đều tường thuật rằng ăn bưởi tăng nguy cơ ung thư vú 30%.  Nhưng thông tin này quá sai, vì như tôi vừa trình bày, mức độ tăng chỉ 0,4% mà thôi.)

Đó là phần kết quả.  Nhưng kết quả đó có đáng tin cậy hay không còn là một vấn đề quan trọng khác.  Nghiên cứu này có nhiều vấn đề về phương pháp mà theo tôi có thể làm cho kết quả rất khó diễn dịch.  Ở đây tôi chỉ nói đến 4 vấn đề nổi cộm sau đây:

Thứ nhất là vấn đề số liệu về ăn uống bưởi.  Một câu hỏi rất đơn giản như vừa trình bày rất khó mà nói là chính xác được.  Nên nhớ rằng các đối tượng tương đối cao tuổi (tuổi trung bình là 62), vấn đề “hồi tưởng” lại 12 tháng trước ăn uống bao nhiêu gram bưởi không phải là chuyện dễ dàng.  Vả lại, số liệu về ăn uống bưởi chỉ là một loại “số liệu cắt ngang” (cross-sectional figure), nó chỉ cung cấp thông tin tại một thời điểm, chứ không phải xuyên suốt thời gian theo dõi.  Nói cách khác, các nhà nghiên cứu không biết (và không thể biết) là có bao nhiêu đối tượng thay đổi thói quen ăn bưởi trong thời gian từ 1993 đến 2002 (thời gian mà họ theo dõi ai bị ung thư vú).  Có bao nhiêu người không ăn bưởi trong thời gian 1992 nhưng sau đó lại ăn bưởi, hay có bao nhiêu người ăn bưởi trong năm 1992 nhưng sau đó không ăn bưởi hay giảm thói liều lượng ăn bưởi?  Không có những con số này, không thể nói rằng ăn bưởi có liên quan đến ung thư vú.

Thứ hai là vấn đề chẩn đoán ung thư vú. Trong công trình này, các nhà nghiên cứu không trực tiếp chẩn đoán ung thư vú; họ chỉ dựa vào số liệu hành chính từ các cơ quan y tế chuyên về ung thư thuộc bang California và Hawaii.  Ai làm nghiên cứu y khoa ở các nước Âu Mĩ đều biết rằng cơ sở dữ liệu của các cơ quan y tế này nổi tiếng là không chính xác.  Có nhiều trường hợp bệnh nhân mắc ung thư nhưng không bao giờ báo cáo cho cơ quan y tế biết.  Do đó, không ngạc nhiên khi trong vòng 9 năm mà tỉ lệ phát sinh ung thư vú chỉ 3,6% (tức trung bình 0,4% mỗi năm).  Cần biết rằng trong độ tuổi này, tỉ lệ phát sinh ung thư vú thường khoảng 1% mỗi năm, chứ không thể quá thấp như trong công trình nghiên cứu này.

Chẩn đoán ung thư vú không đơn giản.  Mỗi vú có khoảng 15 đến 20 “khu vực”, gọi là thùy (lobe); mỗi thùy được chia thành nhiều vùng nhỏ, gọi là tiểu thùy (lobules).  Thùy và tiểu thùy liên kết với nhau bằng những ống dẫn nhỏ (ducts).  Dựa vào cấu trúc này, ung thư vú được phân thành nhiều loại khác nhau, chủ yếu là: ung thư ống dẫn sữa có giới hạn (ductal carcinoma in situ hay còn gọi là DCIS), ung thư ống dẫn sữa lan rộng (invasive ductal cancer), ung thư miu-xin (mucinous carcinoma, một dạng bướu ác tính), và ung thư tiểu thùy lan rộng (invasive lobular carcinoma, một dạng ung thư thường hiện diện trong hai đầu ống dẫn sữa hay trong các tiểu thùy).  Một số chuyên gia không xem DCIS là ung thư vú.  Trong công trình nghiên cứu này, chúng ta không biết bệnh nhân thuộc loại ung thư nào.  Do đó, số liệu về ung thư vú rất khó tin được.

Thứ ba là vấn đề các yếu tố trung gian.  Ung thư vú có nhiều nguyên nhân và nhiều yếu tố nguy cơ.  Trong các yếu tố nguy cơ đã được chứng minh nhiều lần có liên hệ với ung thư vú là sử dụng thuốc thay thế hormone (HRT), tuổi có kinh, sắc dân, và hút thuốc lá. Các yếu tố này có thể tương tác với nhóm người ăn (hay không ăn) bưởi.  Thật ra, trong phân tích mối tương tác giữa HRT và thói quen ăn bưởi, các nhà nghiên cứu không phát hiện mối liên hệ có ý nghĩa nào giữa ăn bưởi và ung thư vú trong ba nhóm phụ nữ chưa bao giờ sử dụng HRT, đã từng sử dụng HRT và đang sử dụng HRT.

Nhưng họ không phân tích mối tương tác giữa ăn bưởi và tuổi có kinh lần đầu hay sắc tộc.  Nếu những người ăn bưởi cũng chính là những người có kinh sớm hay là những người thuộc sắc tộc gốc Á châu, thì kết quả mà các nhà nghiên cứu thu thập được không phản ảnh ảnh hưởng của bưởi mà chính là của các yếu tố lâm sàng và nhân trắc vừa kể.  Rất tiếc là các nhà nghiên cứu không tìm cách phân tích vấn đề này cho có hệ thống.  Ngay cả phương pháp phân tích thống kê của họ quá đơn giản và không thích hợp cho một vấn đề phức tạp.

Thứ tư là vấn đề thống kê và xác suất. Trong nghiên cứu khoa học, cứ mỗi lần nhà nghiên cứu kiểm định một giả thuyết họ phải chấp nhận một sai lầm 5%, và đúng là 95%.  Trong trường hợp của nghiên cứu bưởi, điều này có nghĩa là nếu bưởi thật sự không có liên hệ gì với ung thư thì xác suất mà phương pháp kiểm định thống kê cho ra kết quả có ý nghĩa (significant) là 5%, hay nói theo ngôn ngữ chẩn đoán đó là tỉ lệ dương tính giả 5%.  Nếu nhà khoa học kiểm định 2 giả thuyết thì xác suất mà họ sẽ “phát hiện” một giả thuyết có ý nghĩa thống kê là (1 – 0,95 x 0,95) = 0,0975 (gần 10%).  Nhưng trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu kiểm định đến 30 giả thuyết liên quan đến bưởi, do đó xác suất mà họ phát hiện một mối liên hệ có ý nghĩa thống kê là (1 – 0.9530) = 0.785.  Nói cách khác, trong 30 lần kiểm định giả thuyết, xác suất mà họ có thể phát hiện ít nhất là một mối liên hệ [hoàn toàn ngẫu nhiên chứ chẳng phải sinh học gì cả] là 78,5.

Để khắc phục tình trạng so sánh đa giả thuyết này (multiple comparisons), các nhà thống kê đề nghị lấy một chuẩn mực thấp hơn 5% để tuyên bố “có ý nghĩa thống kê”.  Chuẩn mực này tùy thuộc vào số lần kiểm định giả thuyết.  Trong trường hợp nghiên cứu này, trị số P để nhà nghiên cứu có quyền phát biểu có ý nghĩa thống kê là 0,05 / 30 = 0,0017 (chứ không phải 0,05).  Tức là một mối liên hệ trong nghiên cứu phải có trị số P thấp hơn 0,0017 thì nhà nghiên cứu mới có thể phát biểu về ý nghĩa thống kê.  Nhưng điểm qua hai bảng số liệu 2 và 3 trong bài báo, tôi không thấy bất cứ phân tích và so sánh nào đạt được chuẩn mực này (<0,0017) cả.  Điều này rất quan trọng, vì nó cho chúng ta biết tất cả các mối liên hệ hay so sánh mà nhà nghiên cứu trình bày trong bài báo đều không có ý nghĩa thống kê.  Nói cụ thể hơn,không có bằng chứng thống kê nào cho thấy bưởi có liên hệ đến ung thư vú.

Sau cùng, một điều quan trọng cần phải nhấn mạnh ở đây lànghiên cứu này không cho phép bất cứ ai phát biểu gì về mối liên hệ nhân quả giữa bưởi và ung thư vú.  Bởi vì đây là một công trình khoa học theo mô hình nghiên cứu quan sát (observational study) chứ không phải nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized clinical trial), cho nên kết quả chỉ có giá trị khoa học trung bình và chỉ gợi ý, chứ không thể nói bưởi là nguyên nhân gây ung thư vú.  Ngoài ra, như tôi vừa trình bày những vấn đề về phương pháp rất nghiêm trọng không thể kết luận gì về kết quả này.

Nói về những sai lầm của các nghiên cứu quan sát, tưởng cần nhắc lại một sai lầm mang tính kinh điển trong y khoa: đó là công trình nghiên cứu của Cameron và Pauling (Tiến sĩ Linus Pauling là người từng chiếm giải Nobel hóa học năm 1954 và giải Nobel hòa bình năm 1962 do chống lại vụ thử nghiệm vũ khí nguyên tử].  Năm 1976, Cameron và Pauling công bố một nghiên cứu về mối vitamin C và ung thư, mà theo đó họ kết luận rằng bổ sung vitamin C cho các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối có thể kéo dài thời gian sống đến 4 lần so với nhóm không dùng vitamin C [8]. Nhưng sau đó, một công trình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (một mô hình nghiên cứu mang tính tiêu chuẩn vàng trong y khoa) ở Mayo Clinic hoàn toàn bác bỏ kết quả của Cameron và Pauling: bổ sung vitamin C không kéo dài thời gian sống các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối [9].  Tại sao Cameron và Pauling sai lầm nghiêm trọng như thế?  Câu trả lời là họ dựa vào mô hình nghiên cứu quan sát và dù cẩn thận trong việc chọn nhóm, nhưng họ không chọn một cách ngẫu nhiên để quân bình các yếu tố trung gian.  Đây là một sai lầm thuộc vào loại kinh điển trong nghiên cứu y khoa thường được đem ra làm ví dụ cho sinh viên.

Nói tóm lại, các vấn đề trên đây cho thấy kết quả của công trình nghiên cứu này không có giá trị khoa học cao, và cũng không đáng tin cậy.  Nếu kết quả của công trình nghiên cứu này gợi một ý nào đó, thì tôi cho rằng ý đó là ăn bưởi không có liên hệ gì với ung thư vú.

Cần nói thêm rằng một nghiên cứu khác do các nhà khoa học thuộc Đại học Chicago (công bố chỉ 1 tuần sau nghiên cứu của Đại học Nam California) cho thấy bưởi có tác dụng phòng chống ung thư.  Trong nghiên cứu này, các bác sĩ cho biết các bệnh nhân dùng thuốc lapatinib (một loại thuốc dùng điều trị ung thư vú) cùng với bưởi có lợi ích gấp 5 lần so với bệnh nhân chỉ dùng thuốc.  Họ giải thích rằng nước bưởi có tác dụng gia tăng chuyển hóa thuốc trong cơ thể.  Năm 1997, một nhóm khoa học thuộc Đại học Western Ontario (Canada) công bố kết quả cho thấy nước cam và nước bưởi có khả năng ức chế sự tăng trưởng của các tế bào ung thư vú và giảm LDL cholesterol (tức loại cholesterol xấu) trong máu [10-11].  Các nhà nghiên cứu tin tưởng rằng “vũ khí” phòng chống ung thư vú nằm trong tầm tay của chúng ta: trái bưởi và cam!

Để nhắc lại và nhấn mạnh một lần nữa: bưởi không gây ung thư vú. Ngược lại, nếu ăn bưởi điều độ và tránh can thiệp với thuốc, bưởi có lợi cho sứck khỏe.

Viết thêm:

[1] Viết xong bài này, tôi được biết Thủ tướng Chính phủ vừa yêu “cầu làm rõ và xử lý nghiêm cơ quan báo chí, ban biên tập và phóng viên đã viết, đăng thông tin sai sự thật nêu trên, báo cáo Thủ tướng trước ngày 15-9”. Tôi e rằng giới báo chí và phóng viên trong nước hoàn là nạn nhân của những bản tin báo chí Tây phương mà họ dịch và đăng, chứ họ không phải là thủ phạm trong việc này.

[2] Tôi thấy một vài đồng nghiệp trong nước phát biểu rằng bưởi mà họ nghiên cứu không liên quan gì đến bưởi Việt Nam, vì bưởi Việt Nam là trái lớn (pomelo), thuộc nhóm trái cây có tên khoa học là citrus maxima.  Tôi e rằng điều này không chính xác, vì trong nghiên cứu mà tôi đề cập, các nhà nghiên cứu xem xét cả hai loại bưởi lớn và bưởi nhỏ (grapefruit, thuộc nhóm citrus paradisi).

[3] Để phản nghiệm kết quả của nghiên cứu bên Mĩ, có thể thực hiện một nghiên cứu đơn giản, không tốn kém gì nhiều.  Bạn nào có ý định này có thể liên lạc tôi để biết thêm chi tiết.  Email của tôi là t.nguyen@garvan.org.au.

Tài liệu tham khảo:

[1] Gorinstein S, Caspi A, Libman I, Lerner HT, Huang D, Leontowicz H, Leontowicz M, Tashma Z, Katrich E, Feng S, Trakhtenberg S. Red grapefruit positively influences serum triglyceride level in patients suffering from coronary atherosclerosis: studies in vitro and in humans. J Agric Food Chem. 2006 Mar 8;54(5):1887-92

[2] Reshef N, Hayari Y, Goren C, Boaz M, Madar Z, Knobler H. Antihypertensive effect of sweetie fruit in patients with stage I hypertension. Am J Hypertens. 2005 Oct;18(10):1360-3.

[3] Folts JD. Potential health benefits from the flavonoids in grape products on vascular disease. Adv Exp Med Biol. 2002;505:95-111.

[4] de Castro WV, Mertens-Talcott S, Derendorf H, Butterweck V. Grapefruit juice-drug interactions: Grapefruit juice and its components inhibit P-glycoprotein (ABCB1) mediated transport of talinolol in Caco-2 cells. J Pharm Sci. 2007 May 31;96(10):2808-2817

[5] Bressler R. Grapefruit juice and drug interactions. Exploring mechanisms of this interaction and potential toxicity for certain drugs. Geriatrics. 2006 Nov;61(11):12-8.

[6] Mertens-Talcott SU, Zadezensky I, De Castro WV, Derendorf H, Butterweck V. Grapefruit-drug interactions: can interactions with drugs be avoided? J Clin Pharmacol. 2006 Dec;46(12):1390-416.

[7] Monroe KR, Murphy SP, Kolonel LN, Pike MC. Prospective study of grapefruit intake and risk of breast cancer in postmenopausal women: the Multiethnic Cohort Study. Br J Cancer. 2007 Jul 31;97(3):440-5. Epub 2007 Jul 10.

[8] Cameron E, Pauling L. Supplemental ascorbate in the supportive treatment of cancer: Prolongation of survival times in terminal human cancer. Proc Natl Acad Sci U S A. 1976 Oct;73(10):3685-9.

[9] Moertel CG, Fleming TR, Creagan ET, Rubin J, O’Connell MJ, Ames MM. High-dose vitamin C versus placebo in the treatment of patients with advanced cancer who have had no prior chemotherapy. A randomized double-blind comparison. N Engl J Med. 1985 Jan 17;312(3):137-41.

[10] So FV, Guthrie N, Chambers AF, Moussa M, Carroll KK. Inhibition of human breast cancer cell proliferation and delay of mammary tumorigenesis by flavonoids and citrus juices. Nutr Cancer. 1996;26(2):167-81.

[11] Guthrie N, Carroll KK. Inhibition of mammary cancer by citrus flavonoids. Adv Exp Med Biol. 1998;439:227-36.

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »