Trần Hoàng Blog

► Nhìn Lại Những Bến Bờ – Duyên Anh

Posted by hoangtran204 trên 18/03/2013

Nhân ngày cuối tuần, mời các bạn đọc lại một đoạn tác phẩm Nhìn Lại Những Bến Bờ  của Duyên Anh Vũ Mộng Long. 

Nhìn Lại Những Bến Bờ

Tác giả Duyên Anh- Vũ Mộng Long

…Cuối năm 1951, thị xã Thái Bình thêm một hiệu sách mới: Hiệu
sách Học Hải. Khác với hiệu sách Đông A chỉ bán sách giáo khoa,
9báo, dụng cụ học đường, hiệu sách Học Hải bán tiểu thuyết và cho
thuê tiểu thuyết. Những bộ trinh thám tiểu thuyết của Thanh Đình,
Ngọc Cầm, Phạm Cao Củng được tái bản. Tôi vùi đầu đọc Đoan
Hùng, Lệ Hằng, Lệ Hằng với chí phục thù, Dao bay, Nhà sư thọt,
Vết tay trên trần …, thay vì đọc Thạch Lam, Nhất Linh, Khái
Hưng … Rất thú vị những câu kết và những câu mở đầu mỗi
chương của Thanh Bình, tôi chép lia lịa.

Tôi học văn chương trinh thám và ảnh hưởng cách hành văn kêu boong boong, ngắn cũn cỡn
với khá nhiều ba chấm và chấm than. Kết quả là bài luận tả cảnh
trời mưa của tôi bị cụ cử Trịnh Đình Rư coi như “áng văn châu
ngọc”, “văng vẳng tiếng chuông chùa”. Cụ cử Rư “bình văn” của
tôi cả tiếng. Cụ châm biếm nghiệt ngã khiến tôi muốn độn thổ. Tôi
vỡ mộng viết văn. Từ đó, tôi không làm bài luận nào nữa. Luận
tiểu học tả con trâu của tôi ăn 2 điểm trên 10. Luận trung học tả
trời mưa của tôi ăn 1 điểm trên 20. Tôi hỏi “sư phụ” Đàm Viết
Minh, được nó giải thích:

– Luận văn nhà trường khác hẳn tiểu thuyết ngoài đời. Xuân Diệu
có làm thơ hát nói không ? Huy Cận có làm thơ Đường luật không
? Nhưng ai bảo mày đọc tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết kiếm
hiệp ? Văn chương kiếm hiệp, trinh thám là văn chương bỏ thùng
rác.

Thế thì tôi quay sang đọc tiểu thuyết tình cảm. Thời kỳ này, Ngọc
Giao đã bỏ kháng chiến về Hà nội. Ông cho tái bản Nhà quê và
tung ra những tác phẩm mới như Mưa thu, Đất, Cầu sương …

Các nhà văn mới đua nhau ném vào thị trường chữ nghĩa vùng tề những
tiểu thuyết tình. Người ta thấy xuất hiện những Nguyễn Minh
Lang, Thanh Nam, Nguyễn Triệu Nam, Vĩnh Lộc, Huy Quang,
Huy Sơn, Hoàng Công Khanh … Trong số những nhà văn mới,
viết ướt át và nhiều nhất là Thanh Nam. Tác giả Cần một người
đàn ông viết tiểu thuyết khi tôi còn mài đũng quần trên ghế nhà
trường.

Tôi đã đọc Thanh Nam, đã phiêu lưu theo nhân vật của anh
và đã khóc sướt mướt. Rồi tôi ước ao viết tiểu thuyết như Thanh
Nam. Bạn thân của anh, Nguyễn Minh Lang, vào làng văn bằng
tập truyện ngắn Trăng đồng nội, Nguyễn Minh Lang chinh phục
độc giả ngay. Anh viết bay bướm, tình tứ. Tôi nhớ, trang đầu của
Trăng đồng nội bảng lảng không khí và thời tiết kháng chiến,
Nguyễn Minh Lang đề tặng: “Trìu tặng Tâm Vấn*, người em gái
của lòng tôi”. Kế đó, anh cho xuất bản Hoàng tử của lòng em.
Nhiều nữa. Tiểu thuyết cuối cùng của anh là Cánh hoa trước gió.
Tiểu thuyết này đã đăng trên nhật báo “trung lập chế” Phương
Đông của Hồ Hữu Tường ở Sài gòn. Nguyễn Minh Lang và Thanh
Nam là hai nhà văn “ăn khách” của Hà nội. Độc giả của họ, đa số
là phụ nữ. Vĩnh Lộc viết cuốn Bừng sáng khá hay. Hoàng Công
Khanh đã nổi tiếng trong kháng chiến với truyện Trên bến Búng.
Vào tề, anh làm thơ, cho in kịch thơ Bến nước Ngũ Bồ và cho trình
11diễn vở kịch thơ này tại Nhà Hát Lớn, Hà nội. Những người khác
không có gì đáng nói. Chưa tìm thấy một tư tưởng mới hay một sự
làm mới chữ nghĩa của văn chương vùng tề. Tất cả chỉ là nối tiếp
cái lãng mạn tiền chiến. Tuy nhiên, ở Đất và Cầu sương, người ta
cũng khám phá ra sự chuyển biến tâm hồn của Ngọc Giao. Đặc
biệt, tạp chí Thế kỷ của Bùi Xuân Uyên đã giới thiệu hai cây bút
mới tuổi nhiều: Triều Đẩu với Trên vỉa hè Hà Nội và Trúc sĩ với
Kẽm trống.

Cùng thời kỳ này, tiểu thuyết Lê Văn Trương tái bản ào ạt, tiểu
thuyết của Tự lực văn đoàn tái bản ào ạt với thêm những nhà văn
mới: Linh Bảo, Gió bấc, Tàu ngựa cũ; Nguyễn Thị Vinh, Hai chị
em; Nguyễn Tường Hùng, Gió mát. Tôi lại say mê Thằng còm và
Thằng còm phục thù của Lê Văn Trương.

Tiểu thuyết Sài gòn cũng
bay ra miền Bắc tới tấp. Thu Hương, Chị Tập của Hồ Hữu Tường.
Nhốt gió của Bình Nguyên Lộc. Mây ngàn của Vita. Đồng quê của
Phi Vân. Những truyện dài rất Sài gòn của Thanh Thủy, Dương
Hà. Đọc tiểu thuyết Thanh Thủy, tôi đã cười hoài vì những câu đối
thoại “Em có yêu anh hôn ? Anh có dzìa hôn ?”. Tôi chưa hiểu
ngôn ngữ Nam bộ. Thế nhưng tôi đã bàng hoàng đọc truyện ngắn
Kòn trô, Chớp biển mưa nguồn của Lý Văn Sâm, nhà văn Biên
Hòa, đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy bộ mới. Lý Văn Sâm viết thật
sâu sắc. Tôi cho rằng anh ta viết hay nhất thời đó, trong số các nhà
văn miền Nam.

Tôi còn đọc cả Võ Hồng ở Tiểu thuyết thứ bảy.
12Hiệu sách Học Hải chịu khó đại lý tuần báo văn nghệ. Có bán tại
đây Phổ Thông của Nguyễn Vĩ. Tiểu thuyết tràn ngập các thành
phố vùng tề.

Suốt mùa hè 1951, tôi đọc tiểu thuyết và ghi chép những đoạn văn
hay. Tôi đọc mờ mắt luôn, đọc quên ăn, quên ngủ. Niên học 1952,
“sư phụ” Đàm Viết Minh lên Hà Nội học nhẩy thi tú tài nhất. Nó
đã đậu trung học phổ thông hạng bình.

Tôi bước vào năm học mới
mà luận văn không có tả cảnh. Tôi học Nguyễn Du, Nguyễn Công
Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Từ Diễn
Đồng, Học Lạc, Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường … Bí quyết của
“sư phụ” Đàm Viết Minh vất đi hết. Nước lã ra sông. Lúc này, bí
quyết nằm trong “Luận đề về …” của giáo sư Nguyễn Duy Diễn và
Nguyễn Sĩ Tế. Tôi không hứng thú đọc “Luận đề về”, chẳng hạn,
“Luận đề về Nguyễn Công Trứ”. Học thơ Phan Văn Trị, Tôn Thọ
Tường không vô. Cứ ông này xuất “Khuyên đàn con trẻ chớ thày
lay”, ông kia đối “Lòng ta sắt đá há lung lay”, tôi thối chí. Rồi thầy
việt văn của tôi còn “chụp mũ cách mạng” vào thơ Nguyễn
Khuyến mới nản !

Ai xui con cuốc gọi vào hè
Cái nóng nung người nóng nóng ghê
Ngõ trước vườn sau um những cỏ
Vàng phai thắm nhạt ngán cho huê
Đầu cành bướm lượn oanh xao xác
Trong tối đua bay đóm lập lòe
May được nồm nam cơn gió thổi
Đàn ta ta gảy khúc Nam nghe

Chỉ là bài thơ tả cảnh vào hạ. Nhưng thầy tồi “bình” rằng: Ai xui ta
mất nước khiến muôn dân căm phẫn. Trước sau toàn Việt gian,
những tâm hồn Cần Vương mai một. Kẻ nào chiến đấu, kẻ nào
phất cờ khởi nghĩa ? Nếu cách mạng nổi dậy, ta sẽ hoan hô !

Thằng bạn tôi ngứa miệng hỏi:
– Thưa thầy ở điển cố nào gió nồm nam là cách mạng, cỏ là Việt
gian ?
Thầy tôi nổi giận:
– Người đời sau soi sáng chữ nghĩa đời xưa !

Tôi cảm thấy mình không soi sáng cỏ ra Việt gian nên tôi cúp cua.
Và hai bài luận một niên học của tôi cọng lại được 5 điểm trên 20.
Điều đó không quan trọng. Quan trọng là bài báo đầu tiên của tôi,
bài báo “bút chiến” ở bích báo – báo dán tường – với Đính phở,
nhân dịp Tết Nguyên Đán.

Tôi vốn ghét Đính phở. Nó vây vo từ
năm ngoái, khi cụ cử Rư khen văn tài của nó, cụ tiên đoán nó sẽ là
nhà báo nổi danh. Bố nó bán phở. Bố tôi bán thuốc Bắc. Tôi tặng
nó biệt danh Đính phở. Nó tặng tôi biệt danh Long dao cầu. Bạn
tôi, Lê Huy Luyến, “chủ nhiệm” bích báo Mùa Xuân, mời Đính
phở viết bài. Nó bảo nó sẽ viết bài nhan đề Long dao cầu và thách
tôi viết bài Đính phở. Tôi chới với. Làm sao tôi địch nổi văn tài
“luận văn đệ ngũ” Đính phở, kẻ đã được cụ cử Rư “chấm” là nhà
báo ? Làm sao tôi địch nổi văn tài “luận văn đệ tứ” Đính phở, kẻ
đã được thầy Việt văn khen ngợi nức nở ?

Chợt nhớ lời “sư phụ”
Đàm Viết Minh: “Luận văn nhà trường khác hẳn tiểu thuyết ngoài
đời”, tôi gồng người chấp nhận sự thách thức của Đính phở.
Chủ nhiệm Lê Huy Luyến, mỗi sáng, đến trường thật sớm. Nó vào
các lớp, viết phấn trên bảng “quảng cáo” bích báo Mùa Xuân:
“Cuộc bút chiến nảy lửa giữa nhà báo Đính phở và nhà văn Long
dao cầu trên bích báo Mùa Xuân. Cả trường đón đọc nay mai”.

Thằng Luyến hại tôi. Nó phong tôi tước vị nhà văn ! Tôi mà là nhà
văn ư ? Tôi đang chép văn của thiên hạ dài tay ra thì có. Ông Nhật
Tiến ơi, ông viết kịch ngắn năm bao nhiêu tuổi ? Tôi đã chép trọn
vẹn vở kịch của ông đăng hai kỳ trên nhật báo Giang Sơn trang
nhất đấy. Tên vở kịch tôi quên rồi. Chắc ông chưa quên đâu nhỉ ?
Giá “sư phụ” của tôi còn ở Thái, tôi nhờ “sư phụ” tôi dạy dỗ … bút
chiến. Than ôi, “sư phụ” dấu nghề, “người” không chịu “phán” bút
chiến khác luận văn nhà trường, khác luôn tiểu thuyết ngoài đời.

Vậy bút chiến là gì ? Hiểu theo lẽ giản dị thì bút chiến là chiến
tranh bằng bút, là đánh nhau bằng bút. Đã đánh nhau, dù bằng súng
hay bằng bút, dù bằng chân tay hay bằng mồm, rất khó tìm ra chân
lý. Đánh nhau chỉ nhằm mục đích thắng và bại. Bút chiến cũng thế.
Chiến tụng Tây Hồ phú của Phạm Thái tìm ra chân lý nào ? Sự kết
án Nguyễn Hữu Lượng, tác giả Tụng Tây Hồ phú, bỏ Lê Chiêu
Thống theo Nguyễn Tây Sơn. Phò Lê Chiêu Thống là chân lý ?
Nếu có kẻ viết thêm “Chiến chiến tụng Tây Hồ phú”, chân lý của
Phạm Thái sẽ là “Đù ỏa trần gian sống mãi chi!”. Nguyễn Hữu
Lượng viết Tụng Tây Hồ phú. Phạm Thái hằn học viết Chiến tụng
Tây Hồ phú. Nguyễn Hữu Lượng không trả lời. Vậy bút chiến ở
đâu ? Đúng lý phải nói: Nguyễn Hữu Lượng ca ngợi công đức, sự
nghiệp Nguyễn Huệ, Phạm Thái chống Nguyễn Huệ, phò Lê Chiêu
Thống, cay cú Nguyễn Hữu Lượng, viết bài chửi Nguyễn Hữu
Lượng. Văn học sử Việt Nam vỏn vẹn ba cuộc bút chiến tạm gọi là
bút chiến. Cuộc bút chiến thứ nhất xảy ra giữa ông Việt gian Tôn
Thọ Tường và ông ái quốc Phan Văn Trị. Cuộc bút chiến thứ hai
xảy ra giữa thơ mới và thơ cũ. Cuộc bút chiến thứ ba xảy ra giữa
Nhân văn giai phẩm và đảng cọng sản Việt Nam. Còn lại rặt là
đánh đấm bằng bút. Có điều Ngô Đức Kế đánh đấm Phạm Quỳnh,
Ngô Tất Tố đáng đấm Trần Trọng Kim nho nhã, văn vẻ. Người
xưa hơn người sau chỗ đó. Cũng còn bút chiến với xác chết đấy.
Đó là cuộc bút chiến “độc diễn” giữa Nguyễn Văn Trung và Phạm
Quỳnh. Tồi tệ nhất lịch sử nhân loại là cuộc bút chiến giữa Cách
Mạng với những kẻ sĩ nằm tù, tay bị còng, miệng bị bịt ! Tuy
nhiên, phàm đã dùng bút đánh nhau, đều gọi là bút chiến cả.

Tôi sắp đánh nhau bằng bút với Đính phở. Chúng tôi tham dự bút
chiến … học trò. Đinh phở nộp bài trước. Bài ngắn thôi. Báo viết
tay dán tường mà. Chủ nhiệm Lê Huy Luyến không học “nghĩa vụ
luận” của nghề báo, lén đưa bài của Đính phở cho tôi đọc. Tôi tối
tăm mặt mũi. Thằng Đính phở bắt chân tay tôi run lẩy bẩy. Đọc
xong bài của nó, tôi bải hoải. Tào Tháo đang bị cảm cúm, đọc
xong hịch của Trần Lâm hài tội mình thì toát mồ hôi, khỏi bệnh,
tỉnh táo mà rằng: “Nó đánh ra bằng văn, ta đánh nó bằng võ”. Còn
tôi, tôi đánh với Đính phở bằng gì ? Văn nó hay hơn tôi gấp bội
phần. Võ nó to con, nó đấm tôi gãy xương. Tôi đọc lại bài “bút
chiến” của Đính phở. Nó giỏi thật sự, xứng đáng là nhà báo lỗi lạc
mai này. Nó lồng hình ảnh bố tôi vào tôi. Nó tả bố tôi như chụp
ảnh. Bố tôi thái thuốc, bố tôi đạp thuyền tán, bố tôi giã thuốc trong
cối đồng. Đinh phở miêu tả một cách tài tình. Đoạn nó làm tôi phì
cười là đoạn nó tả bố tôi cởi trần ngồi viên thuốc tễ. Trí nhớ của tôi
chỉ cho phép tôi ghi đoạn này:

“Long dao cẫu ngồi viên thuốc tễ đen xì. Thuốc tễ là các vị thuốc
bổ rang vàng, tán nát, rây thành bột trộn với mật. Long dao cầu rất
khổ vì ruồi nhặng đánh hơi mật kéo đến. Thuốc tễ muốn viên
nhanh cần phải lăn những cục tròn dài. Hề hề, ruồi nhặng đậu trên
đó, thật khó ví ! Đang viên thuốc, bị con ruồi bò sau gáy, Long dao
cầu cầm cả cục thuốc viên dở mà gãi. Ghét bẩn dính lẫn vào thuốc
bổ. Ấy, có khi ăn viên thuốc bổ dính ghét lại … trường sinh bất tử
17đấy nhé ! Nhưng khó béo, bằng chứng là Long dao cầu gầy nhom
…”.

Đính phở tả thật quá. Nó thuộc khuynh hướng tả chân. Thuốc tễ
mất vệ sinh lắm. Tôi đã nhìn nhặng đẻ giòi trên thuốc tễ ngào mật !
Nhờ thế, thuốc tễ bổ tì, bổ vị, bổ phế, bổ tâm, bổ não, bổ huyết …
Thuốc tễ nằm trong câu “Ăn bẩn sống lâu!”. Tôi phục Đính phở
bắt phì cười. Văn “bút chiến” của nó đạt tới hạng nhất. Tôi cần
chứng tỏ hơn nó. Bèn về lùng đọc Ba Giai, Tú Xuất, Trạng Quỳnh,
Tiếu lâm … Dở chồng báo cũ, tôi đọc Tam Lang, Hiền Nhân.
Chẳng tìm ra truyện nào, bài nào có thể “cóp” mà chửi Đính phở
cả. Buồn quá, tôi kiếm Đặng Xuân Côn vấn kế. Nó bảo tôi khai
triển mấy câu này:

Phở, phở, phở …
Chẳng ở thì xéo
Léo nhéo chi đây
Đánh giấy sang Tây
Bỏ tù thằng bán phở
Tôi khoái chí. Nghĩ rằng, mày đánh ông bằng “bút chiến”, ông
đánh mày bằng “truyện ngắn”. Và đây là bài của tôi ghi lại theo
hồi tưởng:

Đính phở
Phờ ơ ớ ở …
Phờ ơ ớ ở …
Phờ ơ ớ ở …

Nó chụm hai bàn tay sát miệng làm loa, cong người mà rao. Làm
cái nghề bán phở gánh ban đêm thảm não thật, thua thằng bán xực
tắc. Xực tắc nó gõ khúc tre vui tai. Phở gánh rao khiến mèo gào,
chó sủa. Bạn biết thằng rao phở là đứa nào không ? Đính phở đấy.
Năm ngoái nó học đệ ngũ trường Thị xã, cụ cử Rư đoán số luân
văn cho nó, quả quyết nó thành nhà báo lừng danh, ai ngờ nó đi
gánh phở bán rong. Nghĩ mà thương hại Đính phở. Nó “sinh ra đời
dưới một ngôi sao xấu số”. Tôi cần giúp đỡ nó, “thấy người hoạn
nạn thì thương”.
– Phở …
Đính phở mừng rỡ chạy lại, xun xoe:
– Thưa cậu gọi cháu ạ ?
– Ừ.
– Cậu dạy gì ?
– Bán cho cậu một bán chín nạc.
– Dạ.
– Nhớ vừa cầm thịt thái vừa móc tay gãi háng. Như thế khỏi nước
béo !
– Cháu đâu dám. Với người khác, cháu cầm cả miếng thịt thò vào
háng.
Ăn xong bát phở, tôi thân mật tâm sự:

– Này Đính phở, cậu hỏi cháu nói thật nhé, rồi cậu sẽ ăn ủng hộ
cháu mỗi tối một bát.
– Dạ, xin cậu dạy.
– Nghe nói cháu làm luận, văn hay chữ tốt lắm.
– Thưa cậu, cháu thuê ông giáo tiểu học làm, cháu chỉ chép.
– Mỗi bài bao nhiêu ?
– Một thau xương bò hầm.
– À, ra thế ! Này cháu, cậu thấy bố cháu có tiệm phở, tại sao nỡ bắt
cháu đi bán phở rong. Bố gì ác thế ?
– Thưa cậu, ông nội cháu dạy: “Bé đi câu, lớn đi hầu, già đi bán
phở”. Cháu sợ già đi bán phở nên cãi lời ông nội: “Bé bán phở, lớn
đơm đó, già ngồi đan giỏ”.
– À, ra thế !

Sư phụ của tôi dạy đúng. “Luận văn nhà trường khác hẳn tiểu
thuyết ngoài đời”. Sách có câu: “Con vua thì lại làm vua. Con sãi
nhà chùa lại quét lá đa”. Đính phở là con ông bán phở, dẫu vênh
vang cách mấy, rốt cuộc, cũng sẽ lại tiếp nối nghề bán phở gia
truyền.

Đây là “tác phẩm” đầu đời viết văn của tôi. Hẳn nhiên, cách hành
văn “nguyên thủy” của nó ngô nghê hơn là chép lại. Tôi rất tiếc
không nhớ cách hành văn “ngày xưa còn bé”. Ở tôi, mỗi giai đoạn
đời sống kinh qua, mỗi thời gian tuổi tác chồng chất, đều một lần
thay đổi hành văn và biến chuyển tư tưởng rõ rệt. Còn thay đổi nhờ
kiến thức tôi thâu lượm ngoài đời và trong sách vở, báo chí. Nhà
văn không nhất thiết phải trung thành với một lối hành văn, một
kiểu cấu trúc tác phẩm. Nhưng nhà văn cần thiết trung thành với lý
tưởng viết mà y đã chọn lựa từ tác phẩm đầu tay, vẫn theo tôi. Sự
phản tỉnh về lý tưởng, về tư tưởng của nhà văn, hình như, không
được chấp nhận. Rất giản dị, ở bất cứ không gian và thời gian nào,
Sự Thật luôn luôn là khuôn vàng thước ngọc của nhà văn. “Bút sa,
gà chết”, câu này đúng. Nhà văn bắt buộc phải có thái độ sống và
thái độ viết và phải tôn trọng thái độ của mình để được độc giả tôn
trọng. Thi sĩ Phùng Quán, một trong những kiện tướng của Nhân
văn giai phẩm, viết:
Người làm xiếc đi trên giây đã khó
nhưng không khó bằng người viết văn
trọn đời đi trên đường Chân Thật

Hơn mọi ai, nhà văn phải thật với chính tâm hồn mình khi cầm bút.
Anh chỉ có thể phản tỉnh một lần và một lần thôi. Đó là trường hợp
André Gide. Ông ta đã viết Le retour de l’URSS. Thấy không đúng
sự thật, André Gide can đảm viết Retouche sur mon retour de
l’URSS. Anh, nhà văn quốc gia chống cộng, anh phản tỉnh, anh
đứng chung hàng ngũ cộng sản chống lại quốc gia. Đồng ý. Bút
anh đã sa trên giấy cọng sản. Nếu anh thấy cần phản tỉnh thêm, anh
bỏ cộng sản sang với quốc gia, anh cứ sang. Nhưng, là nhà văn, lần
này anh đừng nuôi một ảo tưởng nào bằng ngòi bút của anh nữa,
21anh nên bẻ bút. Đó là anh có liêm sỉ. Người ta không tha thứ cái
thái độ tráo trở của nhà văn. Quốc rồi Cọng, Cọng rồi Quốc, muối
mặt mà văn học nghệ thuật, mà chống cộng như phường vô lại.
Cộng sản rất khinh bỉ loại nhà văn thò lò sáu mặt này. Còn quốc
gia ?

“Tác phẩm” đầu đời viết văn của tôi xuất hiện trên bích báo mùa
Xuân cạnh “tác phẩm” của Đính phở. Trong thế giới học trò Việt
Nam, tôi dám nói, chưa hề có bích báo nào đăng hai bài “bút
chiến” láo lếu thế. Do sáng kiến của chủ nhiệm Lê Huy Luyến, do
sự “thách đấu” của Đính phở, tôi bốc máu gò gẫm một “tác phẩm”
… phiếm luận cọng tiểu thuyết. Ôi, định mệnh đã an bài ! Bích báo
mùa Xuân dán tường đúng ngày liên hoan Tết. Độc giả chen nhau
đọc. Độc giả thi nhau cười. Long dao cầu và Đính phở thành hai
cái tên chết. Độc giả bình văn và chấm điểm. Độc giả khen Đính
phở sâu sắc, khen tôi đểu, xỏ lá kềnh. Tàn cuộc liên hoan, Đính
phở đến bắt tay tôi thân mật, rủ tôi cùng về.

– Mày viết hay hơn tao, Đính phở nói.
– Tao gò mấy đêm đấy. Mày giận tao không ? Tôi hỏi.
– Không, tao gây sự trước. Nhưng, nói thật đi, ai gà mày ?
– Tao tự viết.
– Thật chứ ?
– Thật.
– Thế thì cụ cử Rư sai lầm. Mày mới sẽ là thằng viết báo. Luận văn
22nhà trường khác hẳn tiểu thuyết ngoài đời, Long ạ !
– Long dao cầu.
– Long thôi. Từ này, đừng chế tao Đính phở nữa.
Đính phở khôi hài:
– Cháu xin cậu.
– Ừ, cậu tha cho làm phúc.

Đính phở khoác tay lên vai tôi. Nó dẫn tôi về hiệu phở nhà nó, mời
tôi ăn phở. Hôm sau, tôi “lại quả” nó một gói táo tầu. Khi tôi vào
nghề báo thực thụ, chẳng bao giờ tìm thấy cuộc bút chiến nào êm
ái như cuộc bút chiến giữa Đính phở và Long dao cầu. Nhà trường
còn khác hẳn cuộc đời đủ mọi thứ chuyện.

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: