Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Một 27th, 2013

►Hiệp định Paris 27-1-1973 – Một bản án tử hình dành cho VNCH

Posted by hoangtran204 trên 27/01/2013

Lời tựa của Trần Hoàng

Hòa đàm Paris do TT L.B.Johnson đảng Dân Chủ khởi xướng từ đầu năm 1968, ông xem đây là trọng tâm cho chiến dịch vận động tái ứng cử chức vụ TT Mỹ.

1968, Richard Nixon, đại diện cho đảng Cộng Hòa, ra ứng cử TT Mỹ. Ông ta muốn phá TT Johnson, làm cho ông này bị mất uy tín, và làm cho  kế hoạch vận động tranh cử TT Johnson của đảng Dân Chủ (giải quyết chiến tranh VN) bị hỏng, nên Nixon đã bí mật liên lạc và xúi với các đại diện của chính quyền ông Thiệu rằng: hãy KHOAN ngồi vào bàn hội nghị Ba Lê trước dịp bầu cử TT Mỹ vào tháng 11-1968, mà hãy đợi Nixon đắc cử thì đảng cộng hòa của Nixon sẽ ủng hộ cho ông Thiệu bằng một kế hoạch mạnh mẻ hơn. Tin lời này, ông Thiệu dùng dằng và không chịu ngồi vào bàn hội nghị (được dự tính là tháng 9-1968). Về sau, quá đau đầu về chiến tranh Việt Nam, TT Johnson đã quyết định rút lui, không ra tranh cử chức vụ TT vào tháng 11-1968.

Trong website này có viết về vấn đề này như sau.

Trước cuộc bầu cử  11- 1968 ở Mỹ, “…các đại diện của ứng cử viên Nixon đã (bí mật tiếp xúc và) trấn an chính phủ VNCH rằng: một chính phủ của đảng Cộng Hòa đắc cử trong thời gian sắp tới (1968-1972) sẽ đề nghị với VNCH một kế hoạch (giải quyết chiến tranh VN) tốt đẹp hơn là những gì mà chính phủ của đảng Dân Chủ do TT Johnson đã và đang đề nghị, và thế là chính phủ VNCH đã rút lui khỏi cuộc thương thuyết vào thời gian trước khi có cuộc bầu cử TT Mỹ, do đó Nixon đã phá hỏng sáng kiến hòa bình mà đảng Dân Chủ (TT Johnson) trước đó đã đặt nền tảng cho kế hoạch vận động tranh cử TT Mỹ. Trước cuộc bầu cử tháng 11-1968, TT Johnson đã tình nghi Richard Nixon bí mật can thiệp vào chuyện này và ông đã gọi đó là phản bội. Tuy vậy, không có người nào đã bị truy tố ra tòa tội hình sự trong vấn đề này”

http://en.wikipedia.org/wiki/Paris_Peace_Accords

Ai là tác giả hiệp định Paris

khoanh-khac-ha-noi-bi-rai-bom-nam-1972-9e1c1f

Khi hiệp định Paris được ký kết, trước đây 40 năm, nhiều người vui mừng, vì ít nhất dân Việt Nam sẽ không chết vì chiến tranh nữa. Nhiều người còn hy vọng đó là một bước rẽ, mở con đường mới cho miền Nam Việt Nam.

Sau cùng, ai cũng biết, đó chỉ là một thủ thuật, dùng trong một giai đoạn, của đảng Cộng Sản Việt Nam trong chương trình chiếm quyền cai trị trên cả nước Việt Nam, với mục đích “đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Nhưng ngay cả nỗi vui mừng vì cảnh chết chóc chấm dứt cũng biến mất. Người Việt Nam trong vài năm tiếp theo không chết vì chiến tranh thường xuyên nữa, nhưng nhiều người vẫn chết vì sau đó cuộc chiến lại tiếp tục. Số quân nhân hai bên bị tử thương trong cuộc tổng tấn công của Cộng Sản năm 1975 cũng lớn gấp nhiều lần so với khi chiến tranh còn tiếp diễn. Số người chết trên đường vượt biển còn lớn hơn số thường dân chết trong một năm chiến tranh. Chưa kể nỗi đau thương của bao nhiêu gia đình bị đẩy đi vùng kinh tế mới hoặc có người bị đi tù cải tạo. Và chiến tranh lại tiếp diễn ở Campuchia với 50 ngàn thanh niên Việt Nam bỏ xác, và ở biên giới Hoa-Việt, mà con số thương vong không bao giờ được công bố.

Số phận của những người dân miền Nam Việt Nam đã được quyết định trước đó nhiều năm. Năm 1968, trong khi đang tranh cử tổng thống Mỹ, ông Richard Nixon đã cho cố vấn là Henri Kissinger đến gặp đại sứ Nga ở Washington đề nghị giới lãnh đạo Nga Xô đừng làm trò gì ảnh hưởng đến cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc. Kissinger trình bày trước lập trường của ông chủ mình về bang giao Nga-Mỹ; trong đó ông ta đặc biệt nhấn mạnh: Nếu đắc cử, ông Nixon sẽ rút quân khỏi Việt Nam; sau đó chế độ chính trị ở miền Nam ra sao không quan trọng, dù có một chính quyền Cộng Sản. Ðiều này, ông Kissinger còn lập lại khi đến thăm Ðại Sứ Anatoly Dobrynin sau khi ông Nixon thắng và chưa tuyên thệ nhậm chức.

Hiệp định Paris cũng chỉ là một văn kiện để giúp Tổng Thống Richard Nixon rút quân ra khỏi Việt Nam một cách chính thức, nghĩa là vẫn giữ được thể diện. Năm 1972 nước Mỹ bầu tổng thống, và ông Richard Nixon cần tái đắc cử, nhờ thành tích chấm dứt cuộc chiến tranh quá dài mà dân Mỹ bắt đầu thấy chán. Nixon sai Kissinger thu xếp để tiến tới hiệp định Paris trước khi dân Mỹ bỏ phiếu.

Trong cuộc thu xếp này, Nixon được Mao Trạch Ðông hỗ trợ. Trước năm 1970, Mao rất căm hận Nixon vì ông tổng thống Mỹ chỉ chú ý nói chuyện với Moskva mà không quan tâm đến Bắc Kinh; coi Mao chỉ là một lãnh tụ Cộng Sản hạng nhì. Trong một cuộc chuyện trò với Phạm Văn Ðồng, Mao hỏi: “Tại sao bọn Mỹ không làm rùm beng lên về chuyện có 100,000 quân đội Trung Quốc đang xây dựng đường xe lửa, đường bộ, và phi trường ở Việt Nam, mặc dù chúng biết sự kiện này?” Phạm Văn Ðồng nói vuốt đuôi: “Vì chúng nó sợ!” Nhưng chúng ta cũng biết rằng ngay từ khi chiến tranh bắt đầu, các chính quyền Mỹ đã cam kết với Trung Quốc là họ sẽ không bao giờ gửi quân đội Mỹ và cũng không để cho quân đội miền Nam tiến ra Bắc Việt. Chính quyền Mỹ lờ đi như không biết có quân đội Trung Cộng ở ngoài Bắc, vì nói ra sẽ làm cho bài toán rắc rối hơn, ngay trong khung cảnh chính trị nội bộ của Mỹ. Mao Trạch Ðông còn tỏ ý bất bình, nói với Phạm Văn Ðồng rằng “Tại sao bọn Mỹ chúng nó lại ước tính số binh sĩ Trung Quốc ở Việt Nam ít hơn sự thật như vậy?”

Tháng 11 năm 1970 Chu Ân Lai được lệnh bắn tin qua các nhà ngoại giao Rumania là nếu Nixon muốn thăm Trung Quốc thì sẽ được mời. Nixon bảo Kissinger đừng tỏ ý muốn đi vội vàng quá, cuối tháng 2 Kissinger mới bắn tiếng lại, tỏ ý thân thiện nhưng không nói gì đến việc Nixon có thể sang Tàu. Tháng 3 năm 1971, các cầu thủ bóng bàn Trung Quốc gặp các cầu thủ Mỹ ở Nhật Bản, và khi đi chung một chuyến xe buýt, tay vợt Mỹ Glenn Cowan đã bắt tay nhà vô địch Trung Quốc Trang Tắc Ðống (Zhuang Zédòng), nói muốn sang thăm Trung Quốc. Mao Trạch Ðông đã bắt lấy ý đó, ra lệnh mời các cầu thủ Mỹ qua Tàu! Sau đó, Kissinger đi đêm để chuẩn bị chuyến Nixon sang Tàu năm đầu 1972.

Trong chuyến thăm bí mật năm 1971, Kissinger đã hứa hẹn với Chu Ân Lai rằng Mỹ sẽ cung cấp cho Trung Quốc các tin tức tình báo về hoạt động của quân Nga ở vùng biên giới Nga-Hoa. Ông cũng cam kết Mỹ sẽ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, mà ông phác họa một thời biểu là trong vòng 12 tháng. Lúc đó là tháng 7 năm 1971, sáu tháng trước khi Mỹ ký hiệp định Paris, mà chính Kissinger cũng không biết chắc là sẽ có một hiệp định hay không. Vì vậy, Kissinger đã nói thẳng với Chu Ân Lai là dù không có thỏa hiệp nào thì chính phủ Nixon cũng đơn phương rút quân, và không bao giờ trở lại Việt Nam nữa, bỏ rơi luôn chính quyền miền Nam Việt Nam.

Kissinger nói rõ ràng: “Sau khi hòa bình rồi, người Mỹ chúng tôi sẽ ở xa Việt Nam cả vạn dặm, còn Hà Nội thì vẫn ở đó.” Những chi tiết này được kể lại trong một sách của William Burr, năm 2002 (The Bejing – Washington Back Channel); kể chuyện các chuyến đi bí mật của Kissinger năm 1970, 71; sách này nằm trong tài liệu điện tử của cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ NSA; được thuật lại trong sách MAO, của Jung Chang và Jon Halliday, 2005.

Nixon đã toại nguyện, vì Mao sẵn sàng giúp ông tái đắc cử. Dưới sức ép của Mao, Bắc Việt chịu ký tên vào bản hiệp định Paris. Quân Mỹ rút về “trong danh dự”. Nhưng số phận Nixon lại bị quyết định do một xì căng đan chính ông ta gây ra; khiến ông phải từ chức khi Quốc Hội Mỹ chuẩn bị đàn hạch và truất phế, vào năm 1974. Người thương tiếc Nixon nhất lại là Mao Trạch Ðông. Mao nhắn tin qua bà Imelda Marcos mời Nixon qua chơi. Năm 1975, Mao sai mời con gái Nixon là Julie và chồng qua Tàu, Mao lại nói với cô con bảo nói với bố rằng “Tôi nhớ ông ấy lắm.” Tháng 2 năm 1976, Mao đưa một chiếc máy bay Boeing 707 sang tận Los Angeles đón Nixon qua uống trà; bảy tháng sau thì Mao chết.

Bản hiệp định Paris cuối cùng là kết quả của cuộc gặp gỡ giữa Nixon và Mao. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không thể làm gì được, khi nước đồng minh lớn nhất đã bỏ rơi. Cộng Sản miền Bắc đã được Moskva và Bắc Kinh báo cho biết trước Mỹ sẽ rút quân, trong khi vũ khí của Nga vẫn đổ sang ngày càng nhiều, họ nắm chắc phần thắng. Nhưng họ vẫn phải đặt bút ký vì Mao Trạch Ðông muốn tặng Nixon một món quà. Cộng Sản miền Bắc cũng cần một thời gian chuẩn bị để đánh một trận chót, cho nên hiệp định Paris cũng là một bước nghỉ chân.

Những người lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa chắc không ai biết gì về những lời Kissinger đã hứa với Dobrynin hay với Chu Ân Lai. Người dân miền Nam lại càng không biết gì cả. Bao nhiêu chiến sĩ đã bỏ mình trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Bao nhiêu đồng bào tử nạn trên đường vượt biển. Nhắc lại 40 năm hiệp định Paris, chúng ta hãy thắp nhang tưởng nhớ họ, đó là cách kỷ niệm có ý nghĩa nhất. Bài học của một dân tộc nhược tiểu là đừng bao giờ vì các lý thuyết, tư tưởng trừu tượng, ngoại lai mà để đồng bào tàn sát lẫn nhau. Trong cuộc chiến tranh nào, người dân cũng đau khổ.

Nguồn: Nguoi-viet.com

——————————–

Đọc bài báo trên và đọc bài báo dưới đây ta thấy dường như ông Dương Danh Dy có nhận định sai lầm về mối giao hảo giữa Trung Cộng và Liên Xô 1969-1979…

——————–

Hồ Chí Minh với Trung Quốc

Tác giả: Dương Danh Dy

Bài đã được xuất bản.: 16/05/2010

tuanvietnam.net

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ đã đi tới nhiều nơi trên thế giới, nhưng có lẽ Trung Quốc là một trong mấy nước Bác lui tới nhiều lần nhất, sinh sống ở đó trong thời gian dài nhất, có cống hiến rất lớn cho phong trào cách mạng cũng như để lại ở đó nhiều tình cảm nhất.

Tôn trọng vai trò nước lớn nhưng không nhắm mắt làm theo

Trong bài viết nhỏ nhân dịp kỷ niệm lần thứ 120 ngày sinh của Bác này, tôi không dám đề cập tới mọi vấn đề mà chỉ muốn nhắc tới một vài bài học từ Bác mà trong quá trình nghiên cứu về Trung Quốc tôi không bao giờ dám quên.

Trước tiên, Hồ Chí Minh luôn  tỏ ra tôn trọng và tán thành vai trò nước lớn mà Trung Quốc cần phải có và xứng đáng phải có trong quan hệ Xô Trung cũng như trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Bác rất coi trọng tình đoàn kết Trung – Xô, không đồng tình với một số việc làm thái quá của ban lãnh đạo Liên Xô…, nhưng khi phía Trung Quốc đi quá mức, Bác đã khôn khéo tỏ thái độ không tán thành, giữ vững chính kiến của mình và tiến hành đấu tranh, hành động theo đường lối của đảng ta mà Bác là linh hồn chứ không một chiều với Trung Quốc.

Trong lĩnh vực này, tôn trọng vai trò và lợi ích nước lớn của Trung Quốc trong quan hệ quốc tế với Bác không có nghĩa là không tôn trọng lợi ích chung của phe xã hội chủ nghĩa của phong trào cộng sản quốc tế, của nhân dân các nước khác.

Với Bác tôn trọng vai trò nước lớn và gìn giữ tình hữu nghị của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam không có nghĩa là nhắm mắt làm theo, từ bỏ lợi ích chính đáng của dân tộc.
Ảnh tư liệu Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông.

Thứ hai, Bác vui lòng chấp thuận vai trò nước lớn mà Trung Quốc nên có và nhất định phải có trong quan hệ với nước Việt Nam láng giềng nhỏ hơn, cần sự giúp đỡ của họ. Bác thực lòng muốn chung sống hữu nghị với Trung Quốc. Bác tôn trọng dân tộc Trung Hoa và người lãnh đạo của họ, nín nhịn, tinh tế khi xử lý vấn đề nhưng không phải bằng bất cứ giá nào.Khi lợi ích dân tộc, chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm, khi đối phương đi quá mức có thể chấp nhận được thì không bao giờ Bác từ bỏ nguyên tắc độc lập, tự chủ,  bình đẳng dân tộc và tỏ ra sợ hãi.

Với Bác tôn trọng vai trò nước lớn và gìn giữ tình hữu nghị của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam không có nghĩa là nhắm mắt làm theo, từ bỏ lợi ích chính đáng của dân tộc.

Vài mẩu chuyện cụ thể

Tôi có đầy đủ dẫn chứng để chứng minh cho hai luận điểm trên, nhưng nếu kể ra hết thì rất dài. Vì vậy chỉ xin nêu một vài ví dụ.

Chúng ta đều biết đầu những năm 60 của thế kỷ trước, bất đồng Trung – Xô từ chỗ âm ỉ dần dần công khai bộc lộ. Để lôi kéo Việt Nam đứng hẳn về phía minh chống Liên Xô, ông Đặng Tiểu Bình, lúc đó là Tổng Bí thư TWĐCSTQ, và Phó thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc đã bí mật sang thăm Việt Nam, với lời hứa Trung Quốc sẽ bao toàn bộ số viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam không phải hoàn lại… Và như chúng ta đều biết, Đảng ta và Bác đã khôn khéo nhưng thẳng thắn tỏ rõ lập trường của mình và từ chối “lòi mời” trên.

Khi phong trào “chống xét lại Khrushchov” phát triển, đã có lúc giới truyền thông nước ta do lý do này nọ hầu như quên không nói đến Liên Xô, thì Bác vẫn lặng lẽ viết bài ca ngợi nhân dân Liên Xô.

Vai trò của Bác trong việc giữ gìn sự đoàn kết và bảo vệ Trung Quốc  tại hai hội nghị lớn của các đảng cộng sản và công nhân thế giới vào các năm 1957 và 1960 không ai không biết. Chính Bác đã mấy lần đứng ra làm trung gian hoà giải bất đồng Trung Xô.

Tôi buộc phải nói ra điều không muốn nói này: ngay cả khi đã lìa khỏi cõi đời, cái chết của Bác đã tạo cơ hội cho cuộc gặp gỡ hai Thủ tướng Trung Quốc và Liên Xô tại sân bay Bắc Kinh tháng 9 nắm 1969, góp phần mở đầu cho tiến trình đàm phán bình thưòng hoá quan hệ Trung – Xô sau này.

Một ví dụ nữa. Tôi được biết bằng việc nắm chắc tình hình đấu tranh trong nội bộ Trung Quốc nên Bác đã chỉ đạo đảng ta không phản đối nhưng cũng không ủng hộ cái gọi là “đại cách mạng văn hoá” và chính chủ trương sáng suốt đó đã khiến chúng ta tránh khỏi bao nhiêu nguy hiểm, phiền phức.

Ban đầu tôi tưởng chỉ có thế, nhưng sau này qua những tài liệu của chính ngưòi Trung Quốc mà tôi đọc được, tôi mới biết là Bác không chỉ làm như vậy.

Thời kỳ đầu của cách mạng văn hoá khi các tiểu tướng Hồng Vệ Binh phê phán đấu tố các vị Bành Chân, La Thuỵ Khanh… Bác đã nói với Ngũ Tu Quyền, Phó ban đối ngoại của ĐCSTQ: nhân dân Việt Nam khá quen biết mấy đồng chí này, nay xử lý họ như vậy chúng tôi biết nói với nhân dân Việt Nam thế nào? (theo Hồng Tả Quân-nguyên Cục trưỏng Ban Đối ngoại TWĐCSTQ, Tạp chí “Thế giới trí thức” số 13 năm 1999).

Sau đó, trong một lần gặp Bác, Mao Trạch Đông mời Bác khi tới Hàng Châu, ghé thăm Trường Đại Học Triết Giang  xem ” Báo chữ lớn”, Bác vui vẻ trả lời: “Tôi nhất định đi, Việt Nam không phải là không có vấn đề, nhưng trước mắt chưa thể làm cách mạng văn hoá. Chúng tôi còn phải làm  đại cách  mạng ‘vũ hoá'”(tức  cuộc đấu tranh chống Mỹ giành thống nhất đất nước). Mao Trạch Đông (đành phải) nghiêm túc trả lời: “Đúng vậy, Việt Nam chưa thể làm đại cách mạng văn hoá, (theo Văn Trang trong “Nhớ Hồ Chí Minh” – Nhà xuất bản Hồng Công tháng 5 năm 2009, tr 144).

Còn khi Khang Sinh, một trong những người lãnh đạo chủ chốt cách mạng  văn hoá lúc đó đến thăm Bác, ông ta giới thiệu với Bác rất nhiều về cách mạng văn hóa, đặc biệt nhấn mạnh việc phát động quần chúng chống kẻ cầm quyền đi đường lối tư bản chủ nghĩa. Nghe xong, Bác hỏi lại: đảng uỷ có vấn đề, không thể lãnh đạo, nhưng phát động quần chúng mà không có sự lãnh đạo của đảng thì sẽ ra sao? Suy nghĩ một lúc, Khang Sinh mới trả lời: lần cách mạng văn hoá này là do Mao Chủ tịch lãnh đạo và phát động. Nghe xong Bác không nói gì, nhưng sau khi Khang Sinh ra về, Bác đã nói với Văn Trang (tác giả cuốn sách ): phong trào quần chúng mà không có đảng lãnh đạo sẽ loạn (nguồn nt trang 244).

Qua mấy mẩu chuyện trên có thể thấy Bác không đồng tình với chủ trương lớn này của người lãnh đạo Trung Quốc, không ủng hộ và không làm theo (một việc mà theo lý, đã là bạn đồng minh nhất là lại đang được họ viện trợ to lớn lẽ ra phải nên có) nhưng bằng những câu nói và thái độ hết sức thông minh, khôn khéo Bác đã tỏ rõ được lập trường thái độ của mình mà người ta không thể không chấp thuận, cho dù không đồng ý nhưng đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”.

Vì sao Bác Hồ  được các nhà lãnh đạo và người dân Trung Quốc đương thời tôn trọng và ngưỡng mộ như vậy? Một lý do quan trọng là Bác luôn coi sự nghiệp và lợi ích của cách mạng Trung Quốc như của chính mình. Ảnh tư liệu Hồ Chí Minh và Đặng Tiểu Bình.

Vì sao Bác Hồ  được các nhà lãnh đạo và người dân Trung Quốc đương thời tôn trọng và ngưỡng mộ như vậy? Một lý do quan trọng là Bác luôn coi sự nghiệp và lợi ích của cách mạng Trung Quốc như của chính mình.

Ngoài một số chuyện như đã kể trên, xin nói thêm mấy việc nữa. Ngay trong thời hoạt động ở Pháp Bác đã giúp đỡ nhiều nhà cách mạng Trung Quốc như Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân (sau này chính thủ tướng Chu Ân Lai đã nói với ta, ông coi Bác như bậc huynh trưởng và đã thân quen với Bác trước nhiều người Trung Quốc khác, ông chỉ vào Phó thủ tướng Lý Tiên Niệm và nói thêm, chỉ sau này khi về nước tôi mới quen biết đồng chí ấy).

Với tư cách là đảng viên đảng cộng sản Pháp, Bác đã giới thiệu 3 nhà hoạt động cách mạng Trung Quốc lúc đó tại Pháp vào đảng cộng sản Pháp (trong đó có nhà thơ nổi tiếng Tiêu Tam sau này).

Trong ba lần hoạt động dài ngày ở Trung Quốc, có lúc Bác tham gia chi đội Bát Lộ Quân của Diệp Kiếm Anh nhưng ngay cả những lúc chuyên hoạt động vì cách mạng Việt Nam, Bác không quên cách mạng Trung Quốc.

Bộ “Toàn tập Hồ Chí Minh” mà tôi có trong  tay được xuất bản vào những năm quan hệ hai nước chưa bình thường và tôi biết có một số bài viết của Bác về Trung Quốc không được đưa vào, nhưng chỉ bằng vào những bài đã được công bố trong đó, tôi có thể mạnh dạn nói rằng ngay từ khi ở Pháp, ở Liên Xô cho đến khi hoạt động ở Trung Quốc và về Việt Nam, khi còn là nhà cách mạng hoạt động bí mật cho đến khi trở thành người đứng đầu một nước, Bác luôn là ngưòi nước ngoài tuyên truyền cổ vũ nhiều nhất cho cách mạng Trung Quốc.

Học Bác thế nào?

Để vận dụng tốt hai bài học trong ứng đối với Trung Quốc của Bác, tôi nghĩ mỗi người Việt Nam chúng ta, nhất là những người lãnh đạo và đông đảo những nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu, nhà quản lý các địa phưong.. cần nghiêm túc tu dưỡng rèn luyện không ngừng về ba mặt chủ yếu: trí tuệ, bản lĩnh, nghệ thuật. Trong hoạt động đối ngoại đó là ba điều không thể thiếu, nhưng học cho thấu đáo và vận dụng được chúng  không dễ.

Bộ mặt của những người dốt nát,  lười biếng, rút rát, e sợ, thô lỗ, hay quị luỵ, chỉ lo nghĩ đến bản thân… sớm hay muộn đều không thoát khỏi sự phán xét của nhân dân và lịch sử.

Những ai hết lòng vì đất nước, những chiến sĩ hữu danh và vô danh trên mặt trận này sẽ sống mãi trong lòng dân.

———————————————————–

Hiệp Định Paris, một bản án tử hình?

Tác giả:

11-1-2011

Hiệp định Paris khai mạc vào ngày 10-5-1968 dưới thời Tổng thống Johnson. Tổng thống Nixon nhậm chức đầu năm 1969 tiếp tục cuộc đàm phán cho tới bốn năm sau mới ký kết vào ngày 27-1-1973. Mới đầu Nixon tưởng cuộc hoà đàm sẽ kết thúc năm 1969 nhưng không ngờ nó kéo dài cho tới 4 năm sau. Ông kể lại trong cuốn No More Vietnams trang 126: Những năm 1965, 66, 67, 68

dưới thời Johnson-McNamara phong trào phản chiến ôn hoà, chỉ có biểu tình hoặc đốt thẻ trưng binh nhưng sang 1969, khi Nixon lên cầm quyền phong trào đã biến thành bạo động dữ dội. Sinh viên bắn cảnh sát, dùng dao uy hiếp ban giám đốc nhà trường, bắn súng, đốt nhà, ném bom lớp học, bạo động lan ra toàn quốc.

Năm 1970 Mỹ yểm trợ cho VNCH hành quân sang Cambodia khiến cho phong trào bạo động lan ra toàn quốc dữ dội, có đổ máu, năm 1971 hành quân sang Hạ Lào. Nixon cho biết sở dĩ ông cho hành quân đánh vào các căn cứ bên kia biên giới để phá hủy hậu cần CS, ngăn chận những đợt tấn công của họ trong năm tới để có thể rút quân và giúp VNCH bảo vệ lãnh thổ, những người phản chiến đã phá hoại chương trình của ông. Nixon cho biết vì phản chiến làm rối loạn đất nước đã khiến cho CSBV lần khân không chịu ký Hiệp định Paris, họ hy vọng nhiều vào phản chiến. Phong trào phản chiến và Quốc hội chống đối ông đã khiến cho cuộc hoà đàm bế tắc trong bốn năm liền.

Cho tới 26-10-1972, Kissinger họp báo lạc quan tuyến bố,

“Chúng ta có thể tin tưởng hoà bình đã ở trong tầm tay, chúng ta có thể tin rằng đã thấy hoà ước”

(“We believe that peace  is at hand.We believe that an agreement is within sight” – No More Vietnams, trang 154).

Cũng trong sách đã dẫn trang 142, Nixon cho biết từ năm 1969 ông đã phải đương đầu với mối nguy là Quốc Hội có thể ra luật chấm dứt chiến tranh Việt nam. Các Dân biểu, Thượng nghị sĩ  đã đưa nghị quyết  buộc Tổng thống  rút hết  quân về nước để đổi lấy tù binh Mỹ còn bị Bắc Việt giam giữ. Năm 1972  Thượng viện đã tiến hành việc này, tại Hạ Viện hội gần đủ số phiếu thuận. Nhưng vì Chính phủ đã thông báo việc rút quân khiến những người ủng hộ chiến tranh cho thấy chứng cớ hiển nhiên cuộc chiến đã suy giảm nhờ đó dự luật không thành hình, VNCH thoát chết từ năm 1972.

(Since 1969, we had been faced with the danger of Congress legislating an end to our involvement. Antiwar Senators and Congressmen had been introducing resolutions to force us to trade a total withdrawal of our troops for the return of our POWs. By 1972, the Senate was regularly passing these measures, and the votes in the House were getting close. We were able to prevent the passage of these bills only because our withdrawal announcements provided those whose support for the war was wavering with tangible evidence that our involvement was winding down).

Cuối tháng 10-1972, Kissinger gặp Tổng thống Thiệu để bàn về việc ký kết Hiệp định nhưng ông Thiệu không đồng ý, đòi sửa một số điều khoản trong đó BV phải rút quân về Bắc. TT Nixon cho ông Thiệu biết nếu miền Nam không chịu ký kết Hiệp định, gây trở  ngại cho hoà đàm thì Quốc Hội sẵn sàng ra luật chấm dứt chiến tranh tháng 1-1973, cắt đứt viện trợ bỏ rơi VNCH để đánh đổi lấy khoảng 580  tù binh Mỹ tại Hà Nội. Nixon cho biết.

“Sự tồn tại của miền nam Việt Nam không phụ thuộc vào việc quân địch còn đóng tại một số vùng dân cư thưa thớt. Nó phụ thuộc vào việc Nước Mỹ cưỡng bách thi hành Hiệp định cùng với việc tiếp tục viện trợ và với sự đe doạ trừng trị bằng vũ lực. Điều đó chỉ có được nếu Sài Gòn được Quốc Hội ủng hộ. Nếu chúng ta không giải quyết cuộc chiến nhanh chóng, Quốc Hội có thể biểu quyết đạo luật chấm dứt chiến tranh vào tháng 1. Nếu Quốc hội kết luận rằng miền Nam Việt nam gây trở ngại việc ký kết, việc này có thể khiến ta (Hành pháp) không giúp được đồng minh nếu cần. Tuy nhiên tôi cũng để cho Thiệu có thời gian suy nghĩ” – No More Vietnams trang 155.

Thật vậy, khoảng 140 ngàn quân CSBV chiếm đóng những vùng biên giới thuộc VNCH không phải là mối nguy sinh tử, mà sự tiếp tục viện trợ quân sự kinh tế của Quốc Hội Mỹ mới là điều then chốt. Cho dù đòi được điều kiện Cộng quân phải rút hết về miền Bắc nhưng sau đó một thời gian họ lại xâm nhập miền Nam thì cũng như bắt cóc bỏ đĩa thôi. Từ những năm 1971, 1972 Quốc Hội Mỹ nằm trong tay thành phần phản chiến, trong đó Dân chủ chiếm đa số, đường lối của họ trái ngược với Cộng Hoà.

Quốc hội phản chiến chống đối Nixon dữ dội, thúc đẩy ông phải ký kết hiệp định vào tháng 1-1973 bằng mọi giá để đem tù binh về nước, chấm dứt  chiến tranh. Nixon cho biết một sự thật phũ phàng là Quốc hội mà đa số là Dân chủ,  chống chiến tranh sẵn sàng cắt viện trợ, hy sinh VNCH và cả Đông Dương để đánh đổi lấy hoà bình và khoảng 580 tù binh Mỹ còn nằm trong tay Hà Nội nếu miền Nam gây trở ngại cho việc ký kết. Trong khoảng thời gian này tại Sàigòn báo chí cũng đã cho biết số phận miền Nam phụ thuộc vào đám tù binh Mỹ tại Hà Nội. Cương vị Tổng thống VNCH ông Thiệu cương quyết chống lại bản sơ thảo do Mỹ và BV ký kết vì tự ái dân tộc và sự sinh tồn của miền Nam là điều hợp lý nhưng Hành pháp Mỹ cũng có lý của họ.

Trong khi tỷ lệ người ủng hộ chiến tranh ngày một  giảm, số người chống ngày càng tăng: Từ đầu 1967 tới cuối 1967 giảm từ 52% xuống còn 45%, từ  đầu 1968 tới tháng 10-1968 giảm từ 42% xuống còn 37%, từ đầu 1969 tới tháng 10-1969 giảm từ 39% xuống 32%, từ đầu 1970 tới giữa 1971 giảm từ 33% xuống còn 28%… (Theo Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war).

Nixon cho biết chưa bao giờ nước Mỹ bị phân hoá như thế. Người ta đã quá chán cảnh sinh viên chống chiến tranh ẩu đả với cảnh sát, vệ binh quốc gia bể đầu, đổ máu ngoài đường phố từ năm nọ đến năm kia, đã đến lúc phải có hoà bình.

Ngày 9-11-1972 Nixon cử Tướng Haig sang Sài Gòn trao thư cho T.T Thiệu nói ông không thể sửa đổi bản sơ thảo gì hơn, như thế là tốt đẹp rồi. Haig nhấn mạnh với  T.T Thiệu nếu không ký kết trước phiên họp Quốc Hội vào tháng 1-1973, họ sẽ cắt viện trợ cho VNCH, ông Thiệu vẫn cương quyết bác bỏ.

Ngày 14-11, TT Nixon hứa với TT Thiệu

“Tôi xin cam kết tuyệt đối với ông nếu Hà Nội  vi phạm Hiệp định, tôi sẽ trừng trị họ nghiêm khắc ngay”

(You have my absolute assurance that if Hà Nội fails to abide by the terms of this agrement, it is my intention to take swift and severe retaliatory action – No More Vietnams, trang 156)

Ngày 20 -11-1972 tại cuộc Hoà đàm Paris, Kissinger đưa những điểm TT Thiệu đề nghị sửa lại, BV bác bỏ ngay, từ đầu tháng 12 BV tỏ ra ngoan cố không chịu đàm phán, họ trông chờ Quốc Hội Mỹ sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh, khi ấy bất chiến tự nhiên thành. Ngày 14-12 BV bỏ họp. TT Nixon cương quyết dùng vũ lực bắt Hà Nội phải trở lại hoà đàm. Sau 12 ngày oanh tạc BV bằng B-52 từ 18 -12-1972  cho đến cuối tháng 12-1972,  BV phải trở lại bàn hội nghị.

Nixon thông báo cho Kissinger chấp nhận những điều khoản đã có từ tháng 10 để ký Hiệp Định. Ông đã cố gắng thuyết phục ông Thiệu sớm ký kết vì đã tới hạn kỳ, Quốc Hội phản chiến đã quá mệt mỏi muốn Hiệp định phải được ký kết ngay trong tháng 1-1973

Nay vấn đề trở ngại là sự đồng ý của TT Thiệu, Nixon cố gắng trấn an ông bằng  lá thư ngày 5-1-1973, ông  cam kết sẽ tiếp tục yểm trợ trong thời gian sau khi ký kết và sẽ trả đũa hết mình nếu BV vi phạm thoả hiệp.

(You have my assurance of continued assistance in the post-settlement period and that we will respond with full force should the settlement be violated by North Vietnam – Theo Wikipedia, Operation Linebacker II).

Nhưng lúc này đang bị Quốc hội chống đối, địa vị Nixon không cho phép ông hứa như vậy, thí dụ nếu đưa yêu cầu này ra Quốc hội thì sẽ chẳng hy vọng gì được chấp thuận. Tuy nhiên ông Thiệu vẫn không chịu, ngày 14-1-1973, TT Nixon đã cảnh cáo:

“Tôi đã nhất quyết tiến hành ký Hiệp Định vào ngày 23-1-1973.. nếu cần tôi sẽ đơn phương ký với ho ï

(I have therefore irrevocably decided to proceed to initial the agreement on January 23, 1973…I will do so, if necessary, alone – Theo Wikipedia, Operation Linebacker II).

Hiệp định cuối cùng được ký kết ngày 27-1-1973, Nixon nhìn nhận:

“Tôi biết rằng Hiệp định  có nhiều khuyết điểm. Nhưng tôi nghĩ nhìn chung cũng tốt đẹp. Và tôi biết rằng trong khi Quốc Hội đang phản đối ầm ĩ, chúng ta không thể làm gì khác hơn thế”.

(But I believed that on balance it was sound.  And I knew that, in light of the growing stridency of our opposition in Congress, we had no alternative to signing it – No More Vietnams, trang 167)

Trang 166 Nixon nói:

Hiệp định Chấm dứt chiến tranh và Phục hồi Hoà bình tại Việt Nam không được hoàn hảo lắm. Nhưng nó cũng đủ bảo đảm sự sống còn của miền nam VN – khi mà Hoa Kỳ sẵn sàng bó buộc sự thi hành các điều khoản của nó”

Nixon thừa biết BV sẽ vị phạm Hiệp định,  thực ra tại miền Nam VN, một đứa trẻ nít cũng biết CS sẽ không bao giờ chấp hành các thỏa hiệp đã ký kết. Nixon đã dự trù hai kế hoạch để giữ hoà bình bảo vệ VNCH, ông cho rằng Hoa Kỳ đã chiến đấu trên 10 năm, đã hy sinh hơn 50,000 quân nên quyết không thể để đồng minh VNCH rơi vào tay CSBV.

-Trước hết ông sẽ tiếp tục viện trợ quân sư cho VNCH để họ tự vệ chống xâm lăng.

– Kế đó sẽ trừng trị thích đáng CSBV bằng sự yểm trợ của không lực Mỹ.

Miền Nam chống lại những vi phạm nhỏ của BV, Mỹ sẽ trả đũa  những  vi phạm lớn, tóm lại oanh tạc cơ B-52 và viện trợ quân sự là hai kế hoạch chính.

Ngoài ra ông cũng dùng chính sách cây gậy và củ cà rốt (But the Paris agreement contained carrots as well as stick). Trong Hiệp định có ghi Mỹ sẽ viện trợ tái thiết cho miền Bắc, đây cũng là điều khoản rất quan trọng, BV tan nát vì bom đạn rất cần  tái thiết, viện trợ của Mỹ sẽ là động cơ thúc đẩy Hà Nội giữ hoà bình.

Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên, khôn tới mấy cũng không ai khôn hơn được Ông Trời, kế hoạch của Nixon đã bị Quốc Hội phá hỏng hết. Nixon thú nhận ông đã ước tính sai lầm tình hình:  Trước ngày  ký Hiệp định Paris 27-1-1973 ông tưởng rằng nếu đem lai hoà bình và tù binh về nước, những người phản chiến sẽ thôi chống đối nhưng họ lại càng gia tăng chống đối hơn trước

(I miscalculated how they would respond after the settlement. I thought their opposition to our policy would end with the war end. Instead, it increased – No More Vietnams,  trang  182).

Sau vấn đề chiến tranh VN, họ quay ra vụ Watergate tháng 4-1973, tiếp tục chống đối chính phủ. Ngay sau ngày ngưng bắn 27-1-1973, CSBV đưa quân xâm nhập miền Nam, Nixon định cho oanh tạc nhưng sợ ảnh hưởng đến việc BV trả tù binh cho Mỹ ngày 27-3-1973. Tại Cambodia, lực lượng Khmer đỏ do CSBV gây dựng bao vây Nam vang, Nixon cho lệnh oanh tạc Khmer đỏ để yểm trợ cho Lon Nol. Tháng 4 -1973 Nixon hăm doạ oanh tạc BV để họ đừng vi phạm và xâm nhập nhưng Quốc Hội chống đối dữ dội làm tiêu tan khả năng trả đũa của ông. Chính phủ cần tiền để tiếp tục oanh tạc tại Miên, Quốc hội không những từ chối còn bắt đầu soạn tu chính án cấm dùng mọi ngân khoản cho oanh tạc, họ nói  chính phủ phải dùng ngoại giao đàm phán chứ không thể dùng vũ lực. Mọi nỗ lực của hành pháp để ngăn chận sự chống đối của Quốc hội thất bại tháng 6-1973.

Khi tu chính án đưa lên bàn Tổng thống 27-6-1973, Nixon phủ quyết và cho biết tu chính án có thể phá hỏng mọi nỗ lực hoà bình ở Cambodia, nhóm phản chiến Quốc hội chống đối dữ hơn. Thương nghị sĩ Mansfield cho biết nếu TT không ngưng oanh tạc Miên ông sẽ bị cắt ngân sách điều hành chính phủ. Nixon miễn cưỡng ký thành luật ngày 30-6 và có hiệu lực từ 15-8-1973, theo đó chấm dứt tất cả ngân khoản trực tiếp, gián tiếp xử dụng cho việc tác chiến tại Mên, Lào, BV, Nam VN. Sự thất bại này khiến Nixon không còn thẩm quyền giữ hoà bình cho VN, Đông Dương và để cho BV tự do thao túng tại miền nam VN.

Quốc hội tiếp tục hạn chế quyền Tổng thống về quân sự, đó là War Power Act: Tổng thống phải thảo luận với Quốc hội trước khi tham chiến. Tổng thống có quyền tham chiến 60 ngày không cần được Quốc hội đồng ý và thêm 30 ngày gia hạn nếu chứng minh bằng văn bản xác nhận sự cần thiết để bảo đảm an ninh cho quân ta. Ngày 24-10 -1973 Nixon phủ quyết  dự luật War Power Act cho rằng nó vi hiến xâm lấn quyền Tổng thống , ngày 7-11-1973 Quốc hội phủ quyết sự phủ quyết của Nixon, như thế họ đã bật đèn xanh cho BV xâm lăng VNCH.

Ngoài ra kế hoạch cây gậy củ cà rốt của Nixon cũng bị Quốc hội dẹp luôn:

“Chẳng bao lâu các vị dân cử phản chiến cấm hết mọi hoạt động quân sự của chính phủ tại Đông Dương, họ cũng cấm viện trợ tái thiết cho BV, Quốc hội đã dẹp luôn cả gậy và cà rốt đã được ghi trong Hoà ước, như thế Hà Nội không còn lý do để chấp hành các điều khoản”- Sách đã dẫn trang 178.

Về kế hoạch viện trợ quân sự cho VNCH, ngân khoản do Nixon đề nghị đã bị Quốc hội cắt giảm liên tục  từ hai tỷ mốt (2,1 tỷ) tài khoá 1973 xuống một tỷ tư (1,4 tỷ) tài khoá 1974 và 700 triệu tài khoá 1975. Trong khi ấy BV vẫn được  CS quốc tế viện trợ dồi dào : Giai đoạn 1969-1972: 684,666 tấn hàng vũ khí, giai đoạn 1973-1975:  649,246 tấn , hai giai đoạn coi như tương đương.

Khi Hiệp định Paris được ký kết, miền Nam VN mạnh hơn miền Bắc, BV bị thiết hại nặng trong trận mùa hè đỏ lửa, khoảng từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn cán binh bị tử trận, từ 500 cho tới 700 chiến xa bị phá hủy, VNCH thiệt hại khoảng một nửa. Sau trận oanh tạc cuối tháng 12-1972, các hạ tầng cơ sở quân sự, kho hàng, tiếp liệu, phi trường, ga xe lửa …tại miền Bắc bị tàn phá trầm trọng. Nhưng dần dần trong khi miền Bắc ngày một mạnh hơn nhờ CS quốc tế viện trợ dồi dào, miền Nam ngày một suy yếu vì Quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ tới xương tủy đưa tới sự sụp đổ  ngày 30-4-1975  như ta đã thấy.

Nixon đổ lỗi cho Quốc hội, ông nói:

“Chúng ta chiến thắng ở Việt Nam nhưng không giữ được hoà bình . Thành quả mà  ta đạt được  sau  mười hai năm chiến đấu đã bị vứt bỏ trong một cơn điên khùng vô trách nhiệm của Quốc hội”- Sách đã dẫn trang 165.

Nixon cũng chịu trách nhiệm trong sự sụp đổ VNCH và Đông Dương,  sự hoà hoãn  với Trung Cộng, Nga Sô do ông thực hiện được năm 1972 đã ngầm thúc đẩy Quốc hội bỏ rơi Đông Dương vì thuyết Domino không còn giá trị.

Trả lời một cuộc phỏng vấn của một tờ báo Đức tại hải ngoại, cựu TT Thiệu cũng đã xác nhận sự thất bại không phải do Cộng quân không chịu rút về Bắc mà vì VNCH không được tiếp tục viện trợ  quân sự của Hoa Kỳ cũng như  sự yểm trợ hoả lực của họ.

Như thế không phải Hiệp định Paris đã bức tử VNCH.

© Tác giả:

© Đàn Chim Việt

———————————————–

Tài liệu tham khảo.

Richard Nixon: No More Vietnams, Arbor House, New York 1985.

Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war.

English.illinois.edu/maps/vietnam/antiwar.html: Mark Barringer: The Anti-war Movement in the United States.

Radical times:The antiwar Movement of the 1960s, Politic and the Antiwar Movement.

Answer.com: Vietnam Asntiwar Movement

Lars-Klein. com: Nixon plan for ending Vietnam war.

Digital history. uh. Edu/… Nixon and Vietnam.

Kansaspress.ku.edu: Nixon’s Vietnam war

Wikipedia: Operation Linebacker II

The Hauenstein Center for Presidential: Nixon and the Christmas bombing.

http://www.answer.com/topic/domino-theory: Domino theory.

BBCVIETNAMESE.Com: Viện Trợ Quốc Tế Cho Miền Bắc Trong Chiến Tranh , 10-5-2006

Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war.

Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006.

Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.

Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Đại Nam.

Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003.

Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh 2005

Đặng Phong: 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trí Thức, Hà Nội 2008

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Tagged: | Leave a Comment »