Trần Hoàng Blog

► Bút nô của một nhà báo…

Posted by hoangtran204 trên 03/01/2013

Lời tựa của TH: Người VN có nhiều từ rất hay: thơ nô, văn nô, bút nô, ca nô,…để chỉ những người dùng biệt tài của mình bênh vực đảng CSVN để được vinh thân phì da, hưởng chút lợi lộc, tiền bạc, chức vụ…họ bất chấp tất cả chỉ cam tâm phục vụ để đổi lấy chữ nô. Thơ nô có Tố Hữu, văn nô có rất nhiều, nhà báo biến thành nô bộc thì gọi là báo nô, hay bút nô. 

Blog của Nguyễn Đức Hiển   (blog Bố Cu Hưng)  đã từng có nhiều bạn đọc trong những năm 2006-2009. Nhưng , sau khi được đảng cân nhắc lên chức Tổng Thư Ký báo Pháp Luật Thành Phố, tác giả đã dần dần thay đổi cách viết và  lập luận. Chắc có lẻ bị nhiều blogger phê bình lắm, nên  tác giả khóa hết phản hồi dưới các bài viết trên blog của tác giả. Tác giả Nguyễn Đức Hiển nhắc cho các blogger nhớ đến  BEO BLOG của HỒ THỊ THU HỒNG. Người vừa bị cách chức tổng biên tập, tờ báo Thể thao – Văn hóa, cách đây 2 tháng

*Hồi còn yahoo 360! khoảng 2006-2009, Bố Cu Hưng tức nhà báo Nguyễn Đức Hiển và Hồ Thu Hồng (Beo Blog) khá tương phản nhau trong các bài viết. Nhưng đặc biệt, có lần  họ trở thành  một cặp  “song kiếm hợp bích”, họ bênh vực nhau kín đáo, và đã tìm cách tố cáo Huy Đức như sau: 

Nhà báo Hồ Thu Hồng viết về Osin Huy Đức  13-9-2009  

Chủ nhân của blog Beo, nhà báo Hồ Thu Hồng, cựu phó Tổng biên tập báo Thể thao – Văn hóa, vừa có một bài viết về Osin Huy Đứcvới những cáo buộc như “nói dối và nói nửa sự thật”, “dùng ngòi bút làm kinh tế cá thể”, “làm Osin cho triều đình”, “chơi trò hai mang”… Tác giả của bài viết này cũng thông báo rằng trong bài sau “sẽ chỉ rõ từng bài Osin phụng sự các ông chủ thay vì phụng sự xã hội ra sao” và thông báo sẽ “viết riêng một entry về minh chủ và các đầy tớ”, liên quan đến “một chủ nữa của Osin kiêm minh chủ của các bạn Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức…”

Trong mục giới thiệu bài viết và thông tin trên mạng này, chúng tôi cũng đã giới thiệu ý kiến của nhà báo Hồ Thu Hồng về trang Bauxite Việt Nam.

 Nhà báo Đức Hiển lên tiếng về vụ Hồ Thu Hồng – Osin Huy Đức   talawas blog

Nguyễn Đức Hiển

13-9-2009

Về bài “Osin Huy Đức” của nhà báo Hồ Thu Hồng, người “cầm trịch” tờ Thể thao TPHCM từ ngày 08/12/2008 thay thế Tổng Biên tập Thái Phong Sương đã nghỉ hưu, đồng thời là chủ nhân của blog Beonhà báo Đức Hiển, quyền Tổng Thư ký báo Pháp luật TPHCM, tức blogger Bố Cu Hưng, vừa có đôi lời với chị Thu Hồng“, liên quan đến vụ gặp ông Đại sứ Hoa Kỳ Michalak:

Thứ nhất, Đại sứ Mỹ Michael W. Michalak có mời bốn nhà báo gồm Huy Đức, hai đồng nghiệp ở Tuổi Trẻ và Thời báo Kinh tế Sài Gòn và tôi đi uống cà phê. Ông Đại sứ không mời trực tiếp tôi mà thông qua Phòng Thông tin lãnh sự quán Hoa Kỳ, nơi này lại thông qua Tổng Biên Tập báo Pháp Luật TPHCM. Tôi xem đó là việc tiếp xúc bình thường của nhà báo và nhận lời . Vì thế, đây không phải là việc “t tp mt nhóm nhng người iêu nước M. Các đồng nghiệp Tuổi Trẻ, TBKTSG chắc cũng đồng ý điều đó.

Thứ hai, tại cuộc gặp, tôi chỉ nói chuyện và tìm hiểu về những điều bạn đọc của Báo quan tâm như thủ tục cấp visa cho du học sinh Việt Nam. Nếu Osin trình báo cho A.25 nội dung này, chắc cũng không sao. Hơn nữa, vì là công việc nên sau đó tôi báo cáo với Ban Biên Tập- bằng văn bản- nội dung cuộc tiếp xúc. Nếu A.25 hỏi, chắc chắn BBT của Báo cũng sẽ cung cấp.

Chị Hồng có thể có thông tin và xem tôi như nạn nhân bị Huy Đức chơi xấu. Tuy nhiên, về phía mình, tôi cũng muốn nói lại như trên.    

[nguồn talawas blog va` ttngbt.blogspot.com  ]  13-9- 2009

————————————–

Năm 2013, Nguyễn Đức Hiển, tức Bố Cu Hưng có bài báo Cuốn sách “Bên thắng cuộc” của Huy Đức: Cái nhìn thiên kiến về lịch sử   phê bình tác phẩm Bên Thắng Cuộc của Huy Đức và có nhiều bạn đọc viết trên tờ danluan.org phản hồi như sau:

Góp ý với nhà báo Nguyễn Đức Hiển

Trương Đình Trung

2-1-2013

Tác giả gửi tới Dân Luận dưới dạng phản hồi

Theo tôi, quyển Bên Thắng Cuộc (BTC) không phải là môt quyển sách lịch sử. Huy Đức đã không có chủ ý tự biến mình thành một sử gia. Quyển sách, tuy nói về một giai đoạn lịch sử, được viết theo phong cách một phóng sự trường thiên của một nhà báo. Tác giả đã viết với tư cách đó về một giai đoạn lịch sử, nhưng theo góc độ nhận định của bản thân, không chịu gò bó trong lối nhìn chính thức của chế độ hiện thời.

Tôi không đồng ý với một số điểm của Nguyễn Đức Hiển nêu ra trong bài báo trên Pháp Luật TP Hồ Chí Minh:

 “Cuốn sách “Bên thắng cuộc” của Huy Đức: Cái nhìn thiên kiến về lịch sử“.

1. Nỗ lực chống Pháp không chỉ là của riêng của đảng CSVN, mà là của chung của mọi người Việt Nam thuộc nhiều khuynh hướng chính trị. Trong cuộc đấu tranh ấy, đảng CSVN đã luôn cố giành độc quyền lãnh đạo, tìm cách thủ tiêu, loại trừ những chính đảng khác, những chính khách khác, không cùng chính kiến với mình. Vì lý do đó, những chính đảng và những người Việt Nam không chấp nhận chủ trương CS đã phải tìm cách củng cố một Miền Nam riêng cho những người-Việt-Nam-không-CS. Chính điều này, đến lượt nó, nêu rõ sự khác biệt giữa hai cuộc chiến tranh: Cuộc Kháng Chiến chống Pháp từ 1946-1954, và Cuộc Nội Chiến Nam-Bắc từ 1960-1975. Khi cố gắng xoá mờ sự khác biệt giữa hai cuộc chiến đó, Hiển đã chỉ lặp lại luận điệu xuyên tạc lịch sử đã có từ lâu của đảng CSVN mà thôi; luận điệu đó cố tình đồng nhất giữa đảng CSVN và toàn dân tộc VN, phủ nhận một sự thật lịch sử là đã từ lâu có hàng triệu triệu người VN, khi đã biết rõ bản chất của CS, đã không chấp nhận chủ nghĩa ấy và muốn xây dựng VN theo chế độ nhân bản và dân tộc hơn. Và sự sụp đổ của hệ thống các nước CS từ năm 1991 cho đến nay chứng tỏ hùng hồn rằng những người VN không CS, tức những người quốc gia, đã có lựa chọn đúng đắn về chế độ chính trị. Việc “Đổi Mới” và thực chất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay lại càng là bằng chứng khác, hùng hồn hơn, về sự lưạ chọn đúng đắn đó.

2. Đề cập đến vấn đề tù cải tạo trong sách BTC, Nguyễn Đức Hiển đem sự ngược đãi của nhà tù VNCH đối với các tù chính trị VC ra bào chữa cho chính sách tập trung “cải tạo” vô nhân đạo của nhà cầm quyền CS,sau 1975. Làm như vậy, Hiển đã phạm hai sai lầm:

– Lấy cớ người kia làm điều xấu, rôi mình làm xấu theo là nguỵ biện. Cứ cho rằng chế độ tù của VNCH đối với VC là độc ác và tàn bạo đi. Nhưng không lẽ điều đó đủ biện minh cho sự hành xử vô nhân đạo của nhà cầm quyền CS, sau 1975, đối với sĩ quan và viên chức Miền Nam?

– Nhà tù của VNCH đối với các cán bộ VC nằm trong bối cảnh khi cuộc chiến đang diễn ra, hai bên đang đánh nhau chí tử. Trong lúc đó, các trại “cải tạo” của nhà cầm quyền CS đối với sĩ quan MN nằm trong khung cảnh khi chiến tranh đã kết thúc, quân đội miền Nam đã đầu hàng hoàn toàn, không còn kháng cự nữa. Như vậy việc đem hai điều đó ra so sánh là sai, không những về lý luận mà cả về đạo đức.

Đã gần 40 năm qua rồi kể từ khi kết thúc chiến tranh, người VN ở khắp nơi nên nỗ lực thoát ra khỏi các định kiến, tạo ra do sự tuyên truyền xuyên tạc, thành tâm nhìn vào những sai lầm đã qua, nỗ lực đến với nhau trong tinh thần hoà giải, đoàn kết toàn dân tộc, rủ bỏ những gì ngoại lai đã gây ra vô số tổn hại vật chất-tinh thần cho Đất Nước, đoàn kết nhau lại để đối đầu với hiểm hoạ ngàn đời phương Bắc đang sừng sững trước mắt.

Có thể không đồng ý với Huy Đức, nhưng nên để cho tiếng nói của Huy Đức được cất lên tự do, mà không nên cấm đoán. Nếu muốn những tiếng nói như của Huy Đức không rơi vào phiến diện, không chính xác thì hay nhất là những ai không đồng ý với anh ta, như Nguyễn Đức Hiển chẳng hạn, cũng cần phải tỏ ra khách quan và công minh trong nhận định về lịch sử của mình một cách tương xứng.

————————————————–

Lời bình của Linh Hoang Vũ:

Cái logic trong bài báo của NĐH trên Pháp luật TP HCM hơi bị funny. Ví dụ như sau:

Huy Đức: 1975 là kết thúc 20 năm “huynh đệ tương tàn”.
Đức Hiển: Thiên kiến vậy cha! Cuộc kháng chiến ấy bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước.

Huy Đức: Khi thất trận vào tháng 4/1975 đã có những tướng lĩnh Sài Gòn tuẫn tiết.
Đức Hiển: Thiên kiến quá! Sao không kể chuyện lính Cộng sản hy sinh trong chiến tranh???

Huy Đức: Sau khi thống nhất đất nước, hàng vạn sỹ quan, viên chức của VNCH đã bị lừa đưa đi cải tạo.
Đức Hiển: Ơ kìa, còn chuyện VNCH đối xử tệ hại với tù binh của miền Bắc trong khi chiến tranh thì sao không kể? Thiên kiến vậy sao cha?

Túm lại, mình vẫn chưa rõ ý của Đức Hiển có phải là muốn đề nghị Huy Đức viết 1 cuốn tổng tập lịch sử Việt Nam từ 1858 tới nay, ghi nhận quan điểm và các sự kiện xảy ra của tất cả các bên từ bên thắng cuộc, bên thua cuộc cho tới bên trùm chăn, bên tắt đèn… cho nó thực sự là khách quan, đa chiều?

Nếu tóm gọn lại thì cái thông điệp mà NĐH (tỏ ra) muốn chuyển tải trong bài viết của mình là câu này: “Nếu lịch sử được mô tả chỉ từ một hướng với sự sắp đặt thiên kiến thì nó không còn là lịch sử nữa”. Mình đang hình dung ra cảnh anh đang hùng hồn phát biểu câu này với cố GS. Trần Huy Liệu, với GS. Phan Huy Lê, những người viết SGK Lịch sử ở Việt Nam, với thầy giáo dạy Lịch sử cho con trai của anh ở trường, hay với Trưởng ban Tuyên giáo TW. Không biết các vị ấy có cười nửa miệng hay sẽ chột dạ, nghĩ thằng này phản động, định mỉa mai gì đối với lịch sử của “chúng ta”?

Dù sao đi nữa thì mình cũng mơ tới 1 ngày kia, những thứ lịch sử và không chỉ lịch sử mà cả chúng ta lẫn con cái chúng ta đang bị nhồi nhét hàng ngày đến mức phát nôn sẽ không phải là một thứ lịch sử “được mô tả chỉ từ một hướng với sự sắp đặt thiên kiến”. Bên Thắng Cuộc chính là 1 cố gắng để đạt được điều đó, bằng cách đưa ra một góc nhìn khác, kể về những thân phận khác, những người bị vùi dập, bị làm ô nhục, đục tên và xé bỏ các câu chuyện trong SGK Lịch sử chính thống, báo chí chính thống, tác phẩm được xuất bản chính thống. Đó là gì, nếu không phải là một cố gắng làm giảm sự thiên kiến trong ghi chép lịch sử, và quan trọng hơn nữa, là làm giảm sự thiên kiến trong cách nhìn nhận, cách tư duy và sự thấu cảm của con người?

Theo FB

—————————————————–

Nguyễn quang Lập, một nhà văn ở trong nước, phê bình về bài báo của Đức Hiển:

http://quechoa.vn/2013/01/02/ve-mot-cai-nhin-thien-kien/#more-30348

Về một cái nhìn thiên kiến

NQL: Mình đã đọc bài của nhà báo Đức Hiển ( tại đây) và thấy rằng thực sự Đức Hiển đã có cái nhìn rất chi là thiên kiến về cuốn Bên thắng cuộc.

Chỉ riêng việc Đức Hiển nói đoạn này: “Nhấn mạnh “chế độ hà khắc” của các trại cải tạo nhưng cuốn sách lại không nhắc đến những trại tù và cách ứng xử của chế độ Sài Gòn cũ đối với những người yêu nước. Không nhắc đến một thực tế là đã không có người tù cải tạo nào bị tra tấn bằng vôi bột, bị đóng đinh, gí điện, bị đánh đến tàn phế… như những gì mà nhiều người trong số họ từng đối xử với đối phương của mình ở Phú Lợi, Côn Đảo, Phú Quốc, Chuồng cọp Sở thú và hàng trăm nhà tù khác khắp miền Nam.” … đủ cho thấy hoặc Đức Hiển không phân biệt được thế nào là đối xử với hàng binh sau chiến tranh và thế nào là đấu tranh để khai thác thông tin từ các tù binh trong cuộc chiến; hoặc đó là lối tư duy qui chụp mà Đức Hiển luôn luôn phản đối nhưng chính anh lại không sao thoát ra được. Rất buồn. Đáng lẽ phải viết một bài, nhưng thôi, vì mình biết chính Đức Hiển cũng thừa sức viết lại bài đập lại bài của Đức Hiển và chỉ ra được tính bút nô của bài báo này.

Cuốn sách “Bên thắng cuộc” của Huy Đức: Cái nhìn thiên kiến về lịch sử

phapluattp.vn

NGUYỄN ĐỨC HIỂN  

TP.HCM ngày 2-1-2013

(PL)- Chưa bàn đến những chi tiết cụ thể của cuốn sách này, góc tiếp cận của tác giả đã khó vươn tới điều mình muốn: Hiểu đúng về bản chất của cuộc chiến tranh.

Bên thắng cuộc là cuốn sách gồm hai tập của Huy Đức. Phần I với tựa đề Giải phóng đã phát hành trên mạng Internet từ trung tuần tháng 12-2012. Nội dung xoay quanh những diễn biến tại Việt Nam từ sau ngày thống nhất 30-4-1975. Lời đầu sách, tác giả viết “không ai có thể bước tới tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ. Nhất là một quá khứ chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm”.

Ngày thống nhất

30-4-1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc. Ngày chấm dứt hơn 20 năm “da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”.

Ngay những dòng đầu tiên của chương đầu tiên, tác giả đã gói cuộc chiến chống ngoại xâm vỏn vẹn vào 20 năm. Song cuộc kháng chiến ấy thật sự bắt đầu từ hơn một thế kỷ trước đó, khi người lính đầu tiên của quân xâm lược Pháp đặt chân lên đất nước Việt Nam. Từ đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, người Mỹ đã bộc lộ âm mưu can thiệp vào Việt Nam từ trận Điện Biên Phủ. Cuộc kháng chiến giành độc lập vì vậy đã trải qua thêm một chương bi tráng và khốc liệt: chống Mỹ.

Sự thật không thể phủ nhận là người Pháp đã khởi đầu chiến tranh, người Mỹ thay vai chuyển nó sang một giai đoạn khác và cả dân tộc này đã đổ máu xương để kết thúc nó. Không phải chỉ có 20 năm và càng không thể là cuộc chiến“da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”như Huy Đức đã viết.

Lịch sử diễn ra liên tục nhưng trong Bên thắng cuộc, nó bị cắt khúc ra, nhìn nhận như là cuộc chiến ý thức hệ, cuộc nội chiến Nam-Bắc của nội bộ người Việt từ năm 1954 đến ngày 30-4-1975. Cách lập luận này, người Mỹ đã nói từ mấy chục năm trước đó khi muốn có cớ can thiệp vào đất nước ta. Dù vậy, người Mỹ không thể phủ nhận sự thật là người Việt đang chiến đấu vì Tổ quốc mình.

Cuộc chiến giành độc lập của người Việt Nam thực sự đã nổ ra từ trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào năm 1930 với rất nhiều cuộc khởi nghĩa và những phong trào đấu tranh, dù bị đàn áp, thất bại nhưng chưa bao giờ quy phục. Những người cộng sản chỉ nối tiếp sứ mệnh mà lịch sử giao phó. [Lịch sử giao phó? Đây là một cụm từ vô nghĩa. Chỉ có người này giao phó cho người kia làm chuyện gì, chứ không có lịch sử giao phó.  Giao phó cho ai? giao phó cái gì? Khi con người tham gia vào một biến cố nào đó, và người khác  ghi chép lại sự kiện ấy một cách khách quan,  theo phương pháp sử quan, mà hình thành nên lịch sử.  Vì thế không có chuyện lịch sử giao phó, chỉ có con người  cố tình tham gia vào chuyện này hay chuyện kia mà  gây ra  chuyện và người khác ghi chép lại   theo phương pháp sử quan mà viết ra lịch sử-chữ màu đen là của TH ]

Vì thế, nó là cuộc chiến không của một chính thể mà của cả dân tộc. [Đây là sự đánh đồng tầm bậy tầm bạ và nhằm lừa bịp những người mù chữ]  Càng không là cuộc chiến của miền Bắc XHCN với nửa nước còn lại. Vì thế, 30-4-1975 là ngày đất nước thống nhất sau hơn một thế kỷ bị xâm lược, đô hộ và chia cắt, không phải “Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc”. Đó không phải là chiến thắng của một “bên thắng cuộc” hạn hẹp mà là chiến thắng của mọi người Việt Nam, trong đó cả những người từng ở phía bên kia.

Một nhân vật trong cuốn Bên thắng cuộc sau khi đọc sách đã nói rằng nếu không vì lòng yêu nước và tinh thần dân tộc mà chỉ là cuộc chiến Bắc-Nam thì sẽ không có những người ở Lạng Sơn, Thái Bình xung phong lên đường ra trận và chết ở Cà Mau. Và đâu phải chỉ có bộ đội miền Bắc vào Nam đánh Mỹ, chính nhân dân cả miền Nam đã làm nên Nam Bộ kháng chiến thời kháng Pháp rồi cùng nổi dậy Đồng khởi từ khi chính quyền Ngô Đình Diệm phá hủy hiệp định đình chiến và truy sát những người kháng chiến. Người Việt ở cả hai miền đã cùng cầm súng chống ngoại xâm.

Viết về chiến tranh không thể không nói đến mục đích, ý nghĩa, đối tượng, quy mô, thời gian và các bên tham chiến. Khi mục đích chống xâm lược giành độc lập và thống nhất nước nhà bị bỏ qua, sẽ không thể lý giải thỏa đáng nguyên nhân và ý nghĩa của chiến thắng, còn bóp méo sự thật lịch sử dù với bất cứ lý do gì thì đều là tệ hại.

Ngày cuối chiến tranh và “tù cải tạo”

Huy Đức viết: “Cuốn sách này bắt đầu từ những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé 13, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”.

Tác giả đòi hỏi “hiểu trung thực về quá khứ” nhưng lại nói về “bên thắng cuộc” bằng cách ghi nhận chỉ một phần những gì diễn ra với một số ít người ở phía bên kia. Nhiều trang sách đề cập những tướng lĩnh quân đội Sài Gòn tự sát trong ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, mà tác giả gọi là “tuẫn tiết”. Sự tuyệt vọng dẫn đến cái chết ấy ở đây xin không bình luận. Nhưng tác giả từng là lính, không thể không biết những đồng đội thế hệ trước mình đã làm gì trong những ngày ấy. Hình ảnh ngày cuối chiến tranh không đơn giản chỉ là những chiến xa bánh xích hiền lành với những anh bộ đội miền Bắc lạ lẫm ở Dinh Độc lập sáng 30-4-1975.

Hơn 10 năm trước, một đoàn làm phim của hãng BBC qua Việt Nam, họ muốn làm một bộ phim về ngày cuối chiến tranh từ trận đánh cầu Rạch Chiếc. Nơi đó, trong ba ngày cuối cùng, một đơn vị bộ đội biệt động đã quần nhau với hai tiểu đoàn Trâu Điên giữ cầu và nhà máy điện Thủ Đức cùng với lực lượng chi viện hùng hậu. Nhiều người lính đã hy sinh trên cầu để chiếc cầu, nhà máy điện được giữ nguyên, cửa ngõ ấy mở ra cho những đoàn tăng T.54 vào giải phóng và góp phần giữ nguyên vẹn Sài Gòn cho hôm nay. Và trong những ngày ấy, có rất nhiều sự hy sinh như thế của những người lính giải phóng.

Bên thắng cuộc hướng suy nghĩ của người đọc rằng chế độ mới thiếu nhân văn khi nói về điều kiện sống của những sĩ quan chế độ Sài Gòn bị đưa đi học tập. Thật ra cái khó khăn mà những sĩ quan cao cấp đó gánh chịu chỉ bằng một phần rất nhỏ những gì mà quân và dân Việt Nam chịu đựng suốt trong hai cuộc kháng chiến, không lẽ tác giả không biết? Nhấn mạnh “chế độ hà khắc” của các trại cải tạo nhưng cuốn sách lại không nhắc đến những trại tù và cách ứng xử của chế độ Sài Gòn cũ đối với những người yêu nước. Không nhắc đến một thực tế là đã không có người tù cải tạo nào bị tra tấn bằng vôi bột, bị đóng đinh, gí điện, bị đánh đến tàn phế… như những gì mà nhiều người trong số họ từng đối xử với đối phương của mình ở Phú Lợi, Côn Đảo, Phú Quốc, Chuồng cọp Sở thú và hàng trăm nhà tù khác khắp miền Nam. Cuốn sách cũng đã không nói rằng sau khi tiếp quản, không hề có việc lê máy chém đi khắp miền Nam như chế độ cũ đã làm với cán bộ cách mạng và thân nhân trong Luật 10-1959.

Cần phải đặt trong sự tương quan khi nhận định về sự nhân văn nhưng tác giả cuốn Bên thắng cuộc đã không làm hoặc không muốn làm điều đó.

Để có bản tin giải phóng trên loa phóng thanh mà cậu bé 13 tuổi nghe khi đang vật nhau với bạn ven đồi, phải trả giá bằng trăm ngàn mất mát, đau thương chứ không đơn giản chỉ là việc húc đổ cổng Dinh Độc lập và cắm cờ trên nóc.

Nếu lịch sử được mô tả chỉ từ một hướng với sự sắp đặt thiên kiến thì nó không còn là lịch sử nữa.

Trên đây chỉ là một số nhận xét về cuốn sách. Người viết không có ý định đi sâu vào tính chính xác của từng sự việc, từng chi tiết bởi nó không mới và không hẳn cần thiết. Tuy nhiên, đã có phản hồi bất bình của những nhân vật trong sách, từ cả hai phía, về tính chính xác của các sự kiện và cách trích dẫn cắt cúp, tách bối cảnh ra khỏi sự kiện để gián tiếp giải thích nguyên nhân theo chủ kiến của tác giả.

Công bằng mà nói, lao động và khả năng của Huy Đức đối với việc sưu tập tư liệu cho cuốn sách là điều cần được nhìn nhận. Với ưu thế là phóng viên của nhiều tờ báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, Sài Gòn Tiếp Thị, anh có cơ hội tiếp cận với nhiều thông tin. Rất tiếc những thông tin ấy được cố ý sắp đặt để phục vụ chủ kiến của tác giả, vì vậy nó hoàn toàn không chân thật.

NGUYỄN ĐỨC HIỂN

TP.HCM ngày 31-12-2012

*Bài viết của Nguyễn Đức Hiển cho thấy tác giả không hiểu hết ý nghĩa của các chữ. Lập luận của một người nói ngang, lập lại lối lập luận của đảng, đảng nói sao thì phải nghe vậy, nên thiếu tính hợp lý. Bởi vậy, các lý lẻ tác giả NGUYỄN ĐỨC HIỂN đưa ra không đứng vững khi có bạn đọc phê bình.
TH chỉ viết tóm gọn: bài của Nguyễn Đức Hiển có đầy lỗi. Hầu như câu nào cũng có vấn đề, nên sẽ mất rất nhiều thì giờ nếu phản biện bài báo của Nguyễn Đức HiểnChắc chắn có nhiều người viết phản hồi phê bình bài báo của Nguyễn Đức Hiển, nhưng tác giả  không cho đăng lên. (Nguyễn Đức Hiển viết nhiều blog lấy tên là Bố Cu Hưng(?)) 

Blog của Nguyễn Đức Hiển đã từng có nhiều bạn đọc viết phê bình trong những năm 2006-2009, nhưng dần dần, sau khi được đảng cân nhắc lên chức tổng biên tập cho báo Pháp Luật TP, tác giả đã thay đổi cách viết và lập luận, và nay thì tác giả khóa hết phản hồi dưới các bài viết trên blog của tác giả. Tác giả Nguyễn Đức Hiển nhắc cho các blogger nhớ đến  BEO BLOG của HỒ THỊ THU HỒNG. Người vừa bị cách chức tổng biên tập, tờ báo Thể thao – Văn hóa, cách đây 2 tháng.

——————————–

Lật lại những câu chuyện lịch sử “nhạy cảm” trong chiến dịch Mậu Thân 1968

24-1-2013

Đã có nhiều nguồn tin trái chiều về những cuộc thảm sát trả thù đẫm máu bên trong thành Huế sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô. Chính sự đẫm máu thảm khốc, trong một thời gian dài, người ta né tránh nhắc đến chiến dịch Mậu Thân năm 1968.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân ta đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc chiến với Mỹ. Vào thời điểm ấy, quân đội Mỹ đã hoàn toàn sa lầy trong cuộc chiến tranh với Việt Nam. Quân đội Mỹ không thể bình định được miền Nam Việt Nam, cũng không thể rút quân về nước. Trong tình hình đó, dư luận thế giới, dư luận của chính nội bộ nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh tại Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt. Nắm lấy thời cơ này, Bộ Chính trị đã quyết định đánh một trận gây tiếng vang lớn, “Một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng chính trị” (Lê Duẩn). Chiến dịch Mậu Thân năm 1968 đã bất thần được quyết định như thế để tạo bước ngoặt lớn trong chiến tranh, buộc Mỹ phải xuống thang, đi tới đàm phán.

Sáng sớm ngày 31/1/1968, trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân, quân ta đã đồng loạt tấn công bất ngờ vào nhiều thành phố, trong đó có những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế… Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 được đánh giá là một thắng lợi có tầm vóc lớn về chiến thuật của quân ta, tạo tiền đề quan trọng để Mỹ xuống thang chiến tranh, đi đến đàm phán tại Hội nghị Paris năm 1973.


Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, nhiều nguồn thông tin nhiễu loạn đã khiến chiến dịch Mậu Thân năm 1968 trở thành câu chuyện lịch sử nhạy cảm, ít được nhắc đến. Những thông tin về các ngôi mộ tập thể được tìm thấy ở Huế, thông tin về những cuộc thảm sát đẫm máu mang tính trả thù cá nhân sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được thành Huế… được lan truyền một cách ẩn ức trong dư luận suốt một thời gian.

Khi câu chuyện về chiến dịch Mậu Thân năm 1968 vẫn tồn tại như một câu chuyện lịch sử nhiều bí ẩn, một nữ đạo diễn Việt Nam đã âm thầm chuẩn bị tài liệu trong suốt 10 năm để lật lại, để truy tìm sự thật, để nói đến tận cùng về những câu chuyện “nhạy cảm” năm 1968.


Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.
Lý do của 10 năm đổ công sức, tiền bạc đi tìm tài liệu, đi tìm nhân chứng về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của nữ đạo diễn Lê Phong Lan khiến người viết thực sự cảm động. Chị nói, “Có một động lực vô hình nào đó thôi thúc tôi đi tìm hiểu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trong quá trình đi tìm tài liệu, đi tìm những nhân vật là chứng nhân lịch sử của cả hai chiến tuyến, tôi đã nhìn thấy những tấm ảnh tư liệu ghi lại hình ảnh chiến sỹ giải phóng của ta hy sinh như thế nào, đổ xương đổ máu ra sao… Tôi không tin những người lính ấy lại có thể tạo ra những cuộc thảm sát”.Theo đạo diễn Lê Phong Lan, “Lịch sử đã trải qua 45 năm, thời gian đã có đủ độ lùi để chúng ta nhìn nhận lại về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Thời thế đã đổi thay. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nói chuyện với nhau thật thẳng thắn về tất cả những câu chuyện xảy ra từ 45 năm trước. Trong 10 năm ròng, tôi đã đi, đã tìm kiếm, đã gặp gỡ, phỏng vấn, để xây cất nên 12 tập phim tài liệu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Tôi gặp gỡ cả những người lính ở hai chiến tuyến, tôi gặp gỡ hỏi chuyện cả những người chỉ huy ở cả hai chiến tuyến. Ở cấp chỉ huy, ở cấp lính, mỗi người đều có cái nhìn khác nhau về cuộc chiến. Suốt 10 năm tôi đi và đi, phỏng vấn và phỏng vấn… Và tôi nghĩ, 12 tập phim tài liệu xây cất trong 10 năm ròng của tôi sẽ giúp khán giả giải mã được sự thật còn gây tranh cãi của chiến dịch Mậu Thân năm 1968”.

 


Nữ đạo diễn Lê Phong Lan và nhà báo, nhà sử học Mỹ Stanley Karnow trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu 12 tập “Mậu Thân- 1968”12 tập phim tài liệu với tựa đề “Mậu Thân- 1968” là sự nhìn nhận, đánh giá của chính những người trong cuộc sau độ lùi 45 năm thời gian. Tính đến thời điểm hiện tại, 2/3 số nhân vật được phỏng vấn trong 12 tập phim tài liệu của đạo diễn Lê Phong Lan đã ra đi. 10 năm không mệt mỏi để một nữ đạo diễn bươn chải, tìm cho bằng được những sự thật về “Mậu Thân-1968”.

Và với những gì tìm được, nữ đạo diễn trả lời, “Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Để khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam”.


Nước Mỹ đã “khủng hoảng niềm tin” sau Chiến dịch Mậu Thân 1968“Tôi chỉ có một câu hỏi, “Tại sao cha ông chúng ta, thế hệ những người trẻ như tôi, như bạn thời ấy lại có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống, hy sinh gia đình của mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc? Vậy, độc lập, tự do là gì? Tại sao người ta có thể hy sinh ghê gớm đến thế vì độc lập, tự do. Nếu các bạn cũng như tôi, đã đọc, đã tìm hiểu, đã nhìn tận mắt những hình ảnh về chiến tranh Việt Nam, các bạn sẽ thấy đó là một huyền thoại. Lịch sử Việt Nam đã được viết bằng những huyền thoại”- Đạo diễn Lê Phong Lan chia sẻ sự xúc động.

Nữ đạo diễn tin rằng, thế hệ trẻ bây giờ thờ ơ với lịch sử là vì họ không hiểu lịch sử, họ gần như không biết gì về lịch sử với những bài học giản đơn ở trường lớp. Nếu đã hiểu, họ cũng sẽ yêu vô cùng những huyền thoại đã được viết bằng máu của đất nước mình.

Máu đã viết nên huyền thoại về đất nước, nếu ai đã lắng nghe, đã thấu hiểu, cũng sẽ cúi đầu trước những huyền thoại ấy.

Trích dẫn lời của một trong những nhân vật của 12 tập phim tài liệu- “Mậu Thân- 1968”:

Ông Larry Berman- GS. Sử học Mỹ “Tết Mậu Thân là một bước chuyển mang tính quyết định, chấm dứt leo thang chiến tranh Việt Nam. Người Mỹ sử dụng cụm từ “khủng hoảng lòng tin”. Cuộc tấn công bộc lộ cho người Mỹ thấy rằng, toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá”.

Cũng trong nhiều tài liệu nghiên cứu sử học của Mỹ đã phải thừa nhận, những thông tin về vụ thảm sát tại Huế sau khi Quân giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô là hoàn toàn vu cáo./.

Hiền Hương

Phan hoi tren danluan.org

*

1968 (khách viếng thăm) gửi lúc 21:39, 25/01/2013 – mã số 77575

Logic của toàn bộ câu chuyện này rất đơn giản: Người Mỹ không chủ trương giành chiến thắng tại Việt Nam. Họ chỉ có mục đích chia rẽ Nga, Trung Quốc và giữ nguyên hiện trạng miền Nam Việt Nam. Đỉnh điểm là chiến tranh Nga – Trung 1969. Đạt được mục đích, người Mỹ biến khỏi Việt Nam ngay, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa cũng bật đèn xanh luôn.

Càng hăng đít vịt bao nhiêu thì cuối cùng bên chuốc cay đắng nhiều nhất vẫn là Việt Nam. Nhà báo Huy Đức mới vừa đưa ra thêm những bằng chứng cho điều này trong cuốn Quyền Bính.

Mậu Thân 1968 là sản phẩm của cuộc đảo chính tiếm quyền lực của bác Lê Duẩn, Lê Đức Thọ hạ bệ bác Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Vịnh, Đỗ Đức Kiên, Kim Giang, Hoàng Minh Chính… “Phe ta” thừa nhận đau đớn tưởng như không gượng dậy được, Bác Hồ chịu không nổi đã chuyển qua từ trần. Lê Duẩn, Lê Đức Thọ rơi vào thế yếu trước con mắt các tướng lĩnh, cố đấm ăn xôi “nổi dậy” thêm mấy phát nữa trong cùng năm để vớt vát, vẫn không ăn thua.

Nhưng may quá, chiến tranh Nga – Tàu xảy ra, người Mỹ đã xong việc và tự động rút quân nhanh chưa từng thấy (từ hơn nửa triệu xuống còn 20000) mà chưa cần Hiệp định Paris xuống thang xuống nấc gì hết.

————————–

maile (khách viếng thăm) gửi lúc 22:52, 25/01/2013 – mã số 77582

Điều cần nhắc lại ở đây là có cam kết ngưng bắn, đình chiến trong 3 ngày Tết truyền thống của VN giữa 3 bên VNDCCH, CHMNVN và VNCH.

Đa số quân nhân VNCH đã được cho về nhà ăn Tết, có rất ít người ở lại đơn vị.

Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân là một vi phạm trắng trợn của chính phủ VNDCCH và CHMNVN vào cam kết ngưng bắn cũng như đã ngồi xổm lên truyền thống trọng đại linh thiêng của Dân Tộc VN trong ngày Tết.

1. Người Huế (khách viếng thăm) gửi lúc 20:43, 25/01/2013 – mã số 77563

Lê Phong Lan nói láo một cách trơ trẽn, dốt nát. Đi về xứ Huế mà hỏi năm 1968 ai chôn sông người dâ, binh lính VNCH bị bắt thì rõ ngay.
Tháng giêng này nhiều nhà có giỗ vì có thân nhân bị chết do CSVN chôn sống trong các hố chôn tập thể.
Hỏi một vài người thì biết ngay Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan có tham gia; Nguyên Đắc Xuân cũng tham gia xét xử trong một tòa án nhân dân tại Bãi dâu, Huế.
Gần 7000 người bị hảm sát dã man, ghê rợn.
Bọn cộng sản giết người dã man.

2. nguyễn hoàng dũng (khách viếng thăm) gửi lúc 21:01, 25/01/2013 – mã số 77568

giờ lòi ra thêm một con Vẹm trơ tráo !!!

3. Khách Lỡ Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 21:16, 25/01/2013 – mã số 77570

Dân trí mà được nuôi bằng những ‘thức ăn’ như thế này thì chẳng mấy chốc được ‘khai’ bốc trời 🙂

Người chết không nói được, nhất là những ai bị đứt cuống họng, nhưng thân nhân họ thì chắc còn nhớ dai lắm. Khi nào hết sợ, do bị ám ảnh bởi chính cái chết của thân nhân, thì tha hồ mà nghe họ kể!

Phiên Ngung gửi lúc 21:49, 25/01/2013 – mã số 77573

Chị đạo diễn này không biết có phỏng vấn tên này không?

Nhìn cái mặt sát máu của hắn khi nói về việc “xử tội tay sai Mỹ ngụy” thì đủ hiểu. Tên này vì say men chiến thắng 4/75 mà mắc phải lỗi lầm kia chứ như Lê Khả Phiêu, là Trung đoàn trưởng và chỉ huy mặt trận Huế chẳng dám hó hé gì mãi đến khi về hưu mà cũng chỉ phiên phiến về Huế và Mậu thân 68 thôi.

Thế mới biết tại sao trong một thời gian dài, người ta né tránh nhắc đến chiến dịch Mậu Thân năm 1968.

————–

*Trần Hoàng post video này

Hoang Phu Ngoc Tuong, 1982 Chien tranh Vietnam war

——————-Thụy Khuê

Nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu Thân ở Huế (RFI, 12 tháng 7, 1997)
 

Thụy Khuê: Thưa anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, đây là lần đầu tiên anh đến Pháp? Lý do gì đã khiến anh được đi? Xin anh cho biết cảm tưởng của anh.


Hoàng Phủ Ngọc Tường: Đúng là lần đầu tiên tôi tới Pháp. Tôi sang Pháp qua cửa ngõ của nước Đức, ở đấy tôi đã nhận được sự bảo trợ của hiệp hội Schmitz Stiftung để đi dự tuần Việt Nam của tổ chức “Chung Một Thế Giới” ở thành phố Freiberg. Tiếp theo tôi đi dự hội thảo Euro-Việt III tại Amsterdam. Và sau đó tôi sang Pháp chơi. Ấn tượng mạnh nhất của tôi sau gần một tháng lãng du bên Tây là như thế này: Trước mắt tôi là một cuốn sách mà tưởng chừng như tôi đã biết hết mọi cái ở trong đó, nhưng chính lúc này tôi lại đang giở ra những trang đầu. Cuốn sách đó tên gọi là Châu Âu.

TK: Thưa anh, nhân dịp này xin hỏi anh một vài vấn đề liên quan đến biến cố Mậu Thân ở Huế mà từ bao nhiêu năm nay, anh đã bị một số dư luận xem như anh có dính líu vào, hoặc anh là một trong những “thủ phạm” vụ Mậu Thân. Trước hết, xin anh cho biết: Mọi việc thực sự đã xẩy ra như thế nào?


HPNT: Hàng chục năm nay, mỗi năm cứ tới dịp 30 tháng 4, hoặc dịp Tết thì nhiều tờ báo hải ngoại lại đưa tên tôi ra làm con vật tế thần, bằng cách nói đi nói lại, y như thật, rằng tôi là một tên đồ tể Mậu Thân ở Huế. Thực ra thì đó là một sự bịa đặt, mang ý định vu khống hoàn toàn. Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế.


Sau năm 1975, ít ra là đã có ba tài liệu sau đây xác nhận rằng tôi không có mặt ở Huế hồi Mậu Thân:

1. Nhiều người hay nhớ lõm bõm bài trả lời phỏng vấn của anh Lê Văn Hảo trên báo Quê Mẹ, xuất bản ở Paris, để buộc tội tôi. Thực ra thì trong bài này, tôi đã đọc kỹ, thấy anh Hảo nói rất đúng rằng, hồi Tết Mậu Thân, cả anh Hảo và tôi đều đang ở trên một vùng núi, cách xa Huế gần 50 cây số, và không hề có chuyện tôi về Huế để giết người.

2. Bài viết của anh Đặng Tiến đăng trên báo Thông Luận, Paris, trong đó Đặng Tiến dẫn chứng nhiều nguồn tư liệu đã công bố ở trong nước, do nhiều nhân vật khác nhau cung cấp, bác bỏ những lời lẽ xảo ngôn lệnh sắc trên báo Thông Luận buộc tội tôi về chuyện giết người ở Huế trong năm Mậu Thân.

3. Trong cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế, của Nhã Ca in sau biến cố Mậu Thân, tác giả cũng nói rằng: Phủ (tức là tôi), không về Huế, và nếu có về thì chắc cũng không giết người. Tôi thành thật cảm ơn chị Nhã Ca đã dành cho tôi điều nhìn nhận khách quan rất quan trọng này, dù trong cảnh tượng máu lửa hỗn quan hỗn quân của Huế Mậu Thân.

Đã không có mặt ở Huế thì làm sao tôi -Hoàng Phủ Ngọc Tường- lại có thể làm cái việc ghê gớm gọi là “đồ tể” Mậu Thân ở Huế được?  …

Mời các bạn đọc tiếp ở đây

http://thuykhue.free.fr/tk97/nchpngoctuong.html

Cuộc phỏng vấn giáo sư HPNT video 1982 cho thấy ông ta thừa nhận ông có mặt ở Huế trong Tết Mậu Thân, Nhưng trong cuộc phỏng vấn của nhà văn Thụy Khuê 1997, giáo sư HPNT đã phủ nhận: “Đã không có mặt ở Huế thì làm sao tôi -Hoàng Phủ Ngọc Tường- lại có thể làm cái việc ghê gớm gọi là “đồ tể” Mậu Thân ở Huế được?” 

 

Một phản hồi to “► Bút nô của một nhà báo…”

  1. […] ► Bút nô của một nhà báo… […]

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: