Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một 23rd, 2012

►Việt Nam: nhà tù giam giới báo chí lớn thứ nhì ở Á châu!

Posted by hoangtran204 trên 23/11/2012

Việt Nam: nhà tù giam giới báo chí lớn thứ nhì ở Á châu!

nguồn DCVOnline.net Tin Asia Sentinel

Hội nghị Đông Tây hằng năm của Việt Nam bắt đầu trong tuần này, ông Bill Hayton, cựu phóng viên hãng thông tấn BBC từng làm việc ở Hà Nội trước đây, người được nhóm chuyên cung cấp dịch vụ cố vấn của Bộ Ngoại giao Việt Nam mời tham dự, đã bị Bộ Công an cấm vào Việt Nam.

Việt Nam là một nước cấm tác giả vào Việt Nam vì những gì họ viết,” ông Hayton nói trong một e-mail. “Tôi biết điều này vì nó đang xảy ra với tôi. Hai tháng trước, Học viện Ngoại giao Việt Nam mời tôi tham dự cuộc hội nghị Đông Tây hằng năm ở Việt Nam. Hôm nay, ngay tại quầy chờ làm thủ tục lên phi cơ ở phi trường Heathrow (Luân Đôn), tôi  đành phải bỏ những nỗ lực đi Việt Nam lần này.”  (Tên của ông nằm trong danh sách những người đã bị Bộ Công an cấm vào Việt Nam- TH).

Một người tham dự hội nghị khác nói qua e-mail: “Việc cấm ông Hayton vào Việt Nam chỉ có nghĩa khi nhìn qua lăng kính “tay trái không biết tay phải đang làm gì”.

Cuộc họp hằng năm này, lần này là lần thứ tư, là nỗ lực đứng đắn duy nhất của Việt Nam để đối thoại với các chuyên gia quốc tế về mối quan hệ Á châu, trước sự khủng hoảng do những người theo chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc gây ra khi họ cho mình có chủ quyền ở biển Nam Hải.”

Những cuộc họp trước đã mang nhiều lợi ích cho Việt Nam, nguồn tin cho hay, xét từ số người bình luận có cùng quan điểm ngày càng nhiềulà họ không còn xem tất cả các nước có tranh chấp lãnh hải đều có lỗi như nhau trước những sự chạm trán này.

“Có thể một số công an nội an lo lắng người ta sẽ xấu đối với nước láng giềng lớn của Việt Nam, nhưng không có lý do đặc biệt nào mà họ lại sợ điều ông Bill Hayton nói hơn những người tham dự hội nghị khác nói.”

Người ta nói rằng ông Hayton đã có một cuộc xung đột kéo dài với nhà cầm quyền Việt Nam. Ông là tác gỉả của cuốn sách Việt Nam: Con Rồng Đang Trỗi Dậy, được nhà xuất bản Yale University cho ra đời năm 2010, là một cái nhìn mang tính chỉ trích Việt Nam.

Lý do duy nhất mà Bộ (Công an Việt Nam) cấm tôi vào Việt Nam là vì họ không thích cuốn sách tôi xuất bản hai năm trước đây,” ông nói với đồng nghiệp qua e-mail. “Đó có thể là lý do duy nhất – Tôi không liên hệ gì với những tổ chức đối kháng, tôi không bao giờ có âm mưu lật đổ đảng hay nhà nước và tôi không bao giờ vi phạm luật di trú của Việt Nam. Dĩ nhiên, khi tôi làm phóng viên cho hãng BBC ở Hà Nội sáu năm về trước, tôi thường vi phạm Luật Báo chí – nhưng ở thời điểm đó nhà báo ngoại quốc nào làm việc ở Việt Nam cũng thường vi phạm luật Báo chí, hầu như hằng ngày. Không thể có nhà báo ngoại quốc nào làm việc ở Việt Nam mà không vi phạm những hạn chế cực kỳ khắc khe của Luật Báo chí Việt Nam.”

Tuy nhiên, đây không chỉ là những hục hặc của ông Hayton với Bộ Công an.

Tổ chức Phóng viên Không Biên giới nói là tự do báo chí ở Việt Nam ngày càng tệ, trượt dốc trong danh sách các nước nơi tự do báo chí bị hăm dọa. Việt Nam hiện đứng thứ 172 trên thế giới, chỉ hai bật trước Trung Quốc ở thứ 174. Quyết định cấm ông Hayton vào Việt Nam tuồng như tượng trưng cho thái độ khắc nghiệt dành cho một nền tự do báo chí.

Theo bản báo cáo của Ủy ban Bảo vệ Nhà báo (CPJ) của ông Shawn W. Crispin, đại diện cho RWB đặc trách vùng Đông Nam Á châu, Ủy ban Bảo vệ Nhà báo cho hay 14 nhà báo và bloggers đã bị tù vì chỉ trích nhà nước và tường thuật tham nhũng. Nhà nước Việt Nam dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản duy trì sự kiểm soát truyền thông khắc nghiệt và ngặt nghèo nhất Á châu trong lúc nhà nước muốn Việt Nam được biết đến như là một đất nước với nền kinh tế cởi mở,” ông Crispin viết. “Qua những phương cách đổi mới và mở rộng nền kinh tế, bắt đầu với cải cách hướng về nền kinh tế thị trường vào giữa thập niên 1980 và lên đến cao điểm khi Việt Nam được gia nhập vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO), lãnh đạo Việt Nam đã làm việc nhằm đưa nước này vào cộng đồng quốc tế.”

Cho dẫu Việt Nam vẫn duy trì sự cởi mở ở một mức độ nào đó, bao gồm cơ sở hạ tầng trong lãnh vực truyền thông trong lúc hội nhập vào nền kinh tế hoàn cầu, bản báo cáo của CPJ nói, “Nhà cầm quyền cùng lúc tấn công những nhà bất đồng chính kiến và những nhà báo tự do, hoạt động độc lập đang dùng mạng internet như phương tiện truyền thông. Sự phẫn nộ ngày càng tăng đối với việc bị nhà nước lấy đất, nhận thức việc nhà nước hiến lãnh thổ và nhượng bộ trước Trung Quốc, và giờ đây là nền kinh tế trì trệ được tường thuật bởi những blogs độc lập.”

Nhà nước do ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lãnh đạo đã trấn áp nặng nề sự bất đồng quan điểm, bỏ tù hằng chục người bất đồng chính kiến, người hoạt động đòi hỏi tự do tôn giáo, và những bloggers làm việc độc lập, và nhiều người khác vì họ lên tiếng đòi hỏi một nền dân chủ đa đảng, bảo vệ nhân quyền, và đòi hỏi một nhà nước minh bạch, có trách nhiệm hơn, theo bản báo cáo của ông Crispin. Việt Nam giờ đây đang trở thành nhà tù tồi tệ đứng hạng nhì ở Á châu chuyên bỏ tù nhà báo, chỉ đứng sau Trung Quốc, theo sự nghiên cứu của CPJ.

Nhà báo ngoại quốc làm việc ở Việt Nam chỉ được chiếu khán có giá trị trong sáu tháng, sau đó có thể xin gia hạn lại, đây là một cơ chế khuyến khích những nhà báo nào muốn làm việc lâu dài ở Việt Nam phải tự kiểm duyệt, trưởng phòng báo chí của một hãng thông tấn quốc tế cho CPJ hay và yêu cầu được ẩn danh.

Sau khi một nhà báo ngoại quốc tường thuật sự đàn áp của nhà nước đối với người bất đồng chính kiến và những bloggers độc lập, nhà nước Việt Nam đã giảm chiếu khán của ông ta xuống còn ba tháng và yêu cầu những bài tường thuật ông mới viết gần đây nhất cần đưa cho nhà nước duyệt.

Trong lúc đó, những nhà báo ngoại quốc vào Việt Nam làm việc ngắn hạn, bị đòi hỏi phải thuê một người VN đi theo và người này do nhà nước VN chỉ định với giá 200 đô-la một ngày, đây là một sự thu xếp có tính theo dõi, làm khó cái khả năng tiến hành những cuộc phỏng vấn kín đáo, riêng tư với nguồn cung cấp tin độc lập và hạn chế sự tác nghiệp của nhiều hãng thông tấn lớn cho dẫu họ có khả năng xùy tiền ra trả cho dịch vụ thuê người độc đáo này.

© DCVOnline


Nguồn:

(*) Press Freedom in Vietnam Fades from View. Asia Sentinel, 21 November 2012
(*) Tựa đề do DCVOnline đặt.

Comment trên dcvonline.net

Minh Đức  http://www.minhduc7.blogspot.com/

Trích: Có thể một số công an nội an lo lắng người ta sẽ xấu đối với nước láng giềng lớn của Việt Nam, nhưng không có lý do đặc biệt nào mà họ lại sợ điều ông Bill Hayton nói hơn những người tham dự hội nghị khác nói.

Tác giả bản tin này cho rằng không cho ông Bill Hayton đến Việt Nam dự hội nghị là sợ ông này nói xấu Trung Quốc. Phần trước đó thì bài này viết sau các hội nghị trước “số người bình luận có cùng quan điểm ngày càng nhiều là họ không còn xem tất cả các nước có tranh chấp lãnh hải đều có lỗi như nhau trước những sự chạm trán này”, có nghĩa là các cuộc hội nghị trước vạch ra cho thế giới thấy là Trung Quốc là thủ phạm trong các vụ tranh chấp về biển, đảo chứ không phải là vì mọi người đều làm trái như nhau cả. CSVN tổ chức hội nghị mà không muốn cho thế giới thấy rằng Trung Quốc là đế quốc bành trướng.

Câu tay trái không biết tay phải làm gì có lẽ là để nói chính quyền CSVN vừa tránh làm mất lòng Trung Quốc vừa vờ vịt tổ chức hội nghị.

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Thỏa hiệp với nước ngoài để chia cắt lãnh thổ Việt Nam, dâng hiến chủ quyền biển đảo…là Ai?

Posted by hoangtran204 trên 23/11/2012

Những người VN nào có đầu óc tỉnh táo và thường ôn lại các biến cố lịch sử VN trong 60 năm qua đều biết rõ AI đã thỏa hiệp với nước ngoài để chia cắt lãnh thổ Việt Nam, dâng hiến chủ quyền biển đảo…vào các năm 1950, 1954, 1958, 1999; tài liệu của đảng CSVN và báo chí khi viết tường thuật cũng đều đã ghi  rõ các biến cố này. Thế nhưng mỗi khi có người nào can đảm bình luận và dám nói ra sự thật cho nhiều người khác biết, thì lập tức họ sẽ bị đảng và nhà nước sai công an nhân dân đi bắt bớ, tù đày, và kêu báo đài  viết bài tố ngược: đây là bọn phản động chống nhân dân và phá nhà nước…Bài viết dưới đây của Nguyễn Hưng Quốc nói về việc này như sau, mời các bạn đọc:

Ai chống nhân dân và phá nhà nước?

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

Biếm họa Babui (DCVOnline.net)

Nhà cầm quyền Việt Nam, từ đảng đến chính phủ, thường chơi trò ăn gian. Hình thức ăn gian phổ biến, lộ liễu và trắng trợn nhất là ăn gian trong lãnh vực chữ nghĩa. Trong lãnh vực chữ nghĩa, hai chữ hay bị ăn gian nhiều nhất là: nhân dân và nhà nước.

Nhân dân, trên nguyên tắc, là toàn bộ những người mang quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, với nhà cầm quyền Việt Nam, chữ nhân dân vừa bị lạm dụng một cách bừa bãi lại vừa bị bóp méo một cách tùy tiện.

Lạm dụng ở chỗ: cái gì cũng nhân dân. Quân đội nhân dân. Công an nhân dân. Ủy ban nhân dân. Nhà sách nhân dân. Rồi chính quyền nhân dân. Ở điểm này, chúng ta thấy ngay sự khác biệt giữa Việt Nam (cũng như các nước theo chế độ cộng sản khác) và các quốc gia dân chủ ở phương Tây: Ở phương Tây, người ta rất hiếm khi dùng chữ “nhân dân”. Lý do là nó quá mơ hồ. Mơ hồ đến độ nó không có một nội dung cụ thể nào cả.

Nhớ, cách đây mười mấy năm, có một nữ giáo sư từ Việt Nam sang thăm một trường đại học Úc ở Melbourne. Buổi tối, một giáo sư Úc tại trường đại học ấy mời chị cùng một số bạn bè nữa, trong đó có tôi, đi ăn ở một tiệm Việt Nam. Giữa bữa ăn, chị giáo sư từ Việt Nam xin phát biểu. Chị cám ơn trường đại học đã mời chị sang thăm. Chị cám ơn các giáo sư trong trường đã tiếp đãi chị một cách nồng hậu. Và chị, một cách hết sức trang trọng, nhờ vị giáo sư Úc có mặt trên bàn tiệc, chuyển lời cám ơn của chị đến “nhân dân Úc” về việc chào đón chị, người khách từ một nước xa xôi như Việt Nam. Lúc ấy, người bạn của tôi, một giảng viên về thông ngôn và phiên dịch, đang giúp dịch lời phát biểu của chị sang tiếng Anh cho các vị khách Úc hiểu, bỗng đâm ra lúng túng thấy rõ. Nhưng rồi anh cũng dịch. Vị giáo sư người Úc nghe xong, không giấu được một nụ cười kín đáo và ý nhị. Đến lúc về, ở bãi đậu xe, vị giáo sự ấy đùa với chúng tôi, sau lưng chị giáo sư nọ: “Mấy ông bày tôi cách chuyển lời cám ơn đến ‘nhân dân Úc’ đi chứ!”

Vì khái niệm ‘nhân dân’ rất mơ hồ, nhà cầm quyền tha hồ bóp méo nó theo bất cứ hướng nào mà họ thích. Họ tuyên bố họ được nhân dân tín nhiệm và ủy thác cho trách nhiệm lãnh đạo nhân dân dù họ chưa bao giờ tổ chức bất cứ một cuộc bầu cử nào cho đàng hoàng, tự do và minh bạch. Họ cũng thường xuyên tuyên bố nhân dân ủng hộ các chính sách của họ dù họ không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, thậm chí, một cuộc thăm dò dư luận nào cả. Khi người dân, dù đông đảo, lên tiếng phê phán hay phản đối họ, họ đạp vào mặt, cho đó không phải là…nhân dân.

Nhân danh nhân dân, họ trấn áp ngay chính nhân dân. Mở miệng là phục vụ nhân dân, nhưng trên thực tế, họ sẵn sàng chà đạp lên nhân dân. Mọi quyết định của cái chính phủ được gọi là “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” ấy bao giờ cũng được thông qua từ một nhóm nhỏ của Bộ chính trị, gồm 14 người, hoặc rộng hơn một chút, Ban chấp hành trung ương, 175 người. Dường như, với họ, chỉ có những người ấy mới là nhân dân.

Chữ nhà nước cũng thế. Một trong những tội danh họ thường sử dụng để trấn áp những người đối lập, thậm chí, chỉ độc lập với họ là tội “chống phá nhà nước”.

Nhưng nhà nước là gì và là ai?

Chữ ‘nhà nước’ có thể dịch sang tiếng Anh bằng hai chữ: state và government. Nhưng trong tiếng Anh, hai khái niệm này khác nhau. Thứ nhất, khái niệm ‘state’ bao gồm bốn yếu tố chính: dân chúng, lãnh thổ, chủ quyền và chính phủ. Như vậy, government chỉ là một trong bốn thành tố tạo nên state. Thứ hai, state thì trường cửu trong khi government thì chỉ tạm thời, có thể thay đổi, hơn nữa, cần và nên thay đổi. Thứ ba, state bao gồm toàn bộ công dân, trong khi government thì chỉ bao gồm các cán bộ được ăn lương. Thứ tư, state là một khái niệm trừu tượng trong khi government rất cụ thể với những bộ máy và nhân sự cụ thể. Thứ năm, state gắn liền với yếu tố chủ quyền và quyền lực của nó được xem là tuyệt đối và vô giới hạn. Trong khi đó government không có chủ quyền: quyền lực của government là do hiến pháp quy định, giới hạn trong từng nhiệm kỳ. Thứ sáu, do tính phổ quát, tất cả state đều giống nhau trong khi government lại thay đổi trong cả thời gian lẫn không gian với những thể chế khác nhau.

Trong bản tiếng Anh của các bản án tại Việt, người ta dịch tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” lúc là “anti-government propaganda” lúc thì là “anti-state propaganda”. Nhưng dưới mắt người nói tiếng Anh trong các chế độ dân chủ, cả hai đều vô nghĩa.

Thứ nhất, nếu “tuyên truyền chống phá nhà nước” là anti-government thì tại sao lại buộc tội những người làm việc đó? Ở các nước dân chủ, do chủ trương government là cái nên và cần thay đổi nên không ai cấm việc tuyên truyền “anti-government” cả. Tổ chức lật đổ government bằng bạo động thì dĩ nhiên bị cấm và bị nghiêm trị. Nhưng tuyên truyền thì xin cứ tự nhiên. Đó là cái quyền của công dân. Tất cả các đảng đối lập được bảo vệ, thật ra, là để làm cái việc anti-government ấy. Ở Úc, đảng đối lập, do Tony Abbot lãnh đạo, suốt ngày cứ ra rả lên án Thủ tướng Julia Gillard là phản phúc (trong việc lật đổ cựu Thủ tướng Kevin Rudd), là nói láo (hứa rồi không làm), là bù nhìn của các thế lực đen tối trong đảng Lao Động. Không sao cả. Ở Mỹ, trước cuộc bầu cử ngày 6/11/2012, đảng Cộng Hòa, đại diện là Mitt Romney, lúc nào cũng lên án Tổng thống Barack Obama là dẫn đất nước theo một hướng hoàn toàn sai, là đã gây nên khủng hoảng kinh tế và nạn thất nghiệp trầm trọng, là bất lực trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, v.v. trong các diễn văn cũng như trong các quảng cáo trên radio và truyền hình. Không sao cả. Chả có ai bị bắt vì tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” cả.

Thứ hai, nếu “tuyên truyền chống nhà nước” là anti-state thì lại càng nghịch lý và phi thực.

Phi thực ở chỗ không ai có thể “anti-state” – hiểu theo nghĩa là chống lại một phức thể bao gồm cả dân chúng lẫn lãnh thổ, chính phủ và chủ quyền quốc gia bằng một vài bản nhạc như Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, bằng một số bài báo như Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, một lá truyền đơn như Nguyễn Phương Uyên…Càng phi thực và phi lý hơn nữa khi nội dung của các bản nhạc, bài báo và truyền đơn ấy là chống lại sự áp bức của công an, sự độc tài của Nguyễn Tấn Dũng hay sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam một cách ngang ngược của Trung Quốc. Nguyễn Tấn Dũng chỉ có thể buộc tội những người chống đối ông, kể cả tờ báo mạng Quan Làm Báo gần đây, nếu ông, cũng như vua Louis XIV của Pháp, người tương truyền từng tuyên bố: “Ta là Nhà nước” (L’État, c’est moi / I am the state).

Buộc tội “anti-state” cho những người dân như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, Nguyễn Phương Uyên, Cù Huy Hà Vũ, v.v…nghịch lý ở chỗ: Họ là người dân; họ không thể chống lại chính họ vì trong khái niệm “state” có cả khái niệm dân chúng.

Người ta chỉ có thể có hành động “anti-state” nếu người ta ở bên ngoài. Thuộc nước khác. Từ bên ngoài, người ta mới có thể chà đạp lên người dân, cướp đoạt lãnh thổ, xâm phạm chủ quyền của một nước được. Hành động “anti-state” thường bao gồm hai hình thức chính: xâm lược và khủng bố. Ở trong nước, người ta chỉ có thể có hành động “anti-state” khi người ta tiếp tay (ví dụ dưới hình thức làm gián điệp hay tay sai) với người nước ngoài để xâm lược hay để khủng bố đất nước của chính mình. Trong trường hợp đó, thứ nhất, họ tự động ly khai khỏi dân tộc, tự xem mình là người lạ với dân chúng; và thứ hai, phải dựa vào một thế lực từ bên ngoài.

Hiểu theo nghĩa đó, tất cả những người đã bị tòa án Việt Nam kết tội là “chống phá nhà nước”, anti-state, đều vô tội. Đó là điều họ không làm. Và không đủ sức để làm.

Những kẻ thực sự thỏa hiệp với nước ngoài để chia cắt lãnh thổ Việt Nam, dâng hiến chủ quyền của đất nước và chà đạp lên số phận của dân chúng mới là những kẻ “anti-state”.

Những kẻ ấy là ai, hẳn mọi người đã rõ.

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

danchimviet.info (re-post)

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►TT Obama và bà Ann San Suu Kyi

Posted by hoangtran204 trên 23/11/2012

‘Sức mạnh của tự do’

Obama đã ca ngợi bà Suu Kyi trong diễn văn của ông

Trong chuyến thăm 6 giờ đồng hồ đến Miến Điện, Tổng thống Mỹ Barack Obama có bài diễn văn tại Đại học Rangoon vào chiều ngày 19/11. BBC Việt ngữ lược dịch và trân trọng giới thiệu:

Tôi rất vinh hạnh được đến đây ở trường đại học này và là tổng thống đầu tiên của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ đến thăm đất nước các bạn.

Tôi đến đây vì tầm quan trọng của đất nước này. Các bạn nằm ở ngã ba đường của đông Á và nam Á. Các bạn tiếp giáp với quốc gia đông dân nhất hành tinh. Các bạn có lịch sử trải dài suốt mấy ngàn năm và các bạn có khả năng quyết định vận mệnh của khu vực phát triển nhanh nhất thế giới.

Tôi đến đây vì lòng kính trọng dành cho trường đại học này. Chính tại ngôi trường này mà phong trào đấu tranh chống lại chế độ thực dân bắt đầu bén rễ. Chính tại đây Tướng Aung San đã biên tập một tạp chí trước khi lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Chính tại đây mà Ngài U Thant đã tìm hiểu về hoạt động của thế giới trước khi trở thành lãnh đạo của Liên Hiệp Quốc.

Trên hết, tôi đến đây vì niềm tin của nước Mỹ vào phẩm giá con người. Trong suốt các thập niên vừa qua, hai nước chúng ta là những kẻ xa lạ. Nhưng hôm nay, tôi có thể nói rằng chúng tôi vẫn luôn tràn đầy hy vọng về người dân của đất nước này. Các bạn đã đem đến cho chúng tôi hy vọng và chúng tôi đã chứng kiến lòng can đảm của các bạn.

Chúng tôi đã chứng kiến các nhà hoạt động áo trắng đến thăm hỏi thân nhân tù chính trị vào các ngày Chủ nhật và chư tăng khoác cà sa tuần hành ôn hòa trên đường phố. Chúng tôi đã biết chuyện những thường dân tổ chức những nhóm cứu trợ bão và nghe thấy tiếng nói của sinh viên cũng như nhịp điệu của những nghệ sỹ hip-hop đang phát đi âm thanh của tự do. Chúng tôi đến đây để biết những người dân Miến lưu vong và tỵ nạn không bao giờ mất liên hệ với gia đình và nguồn cội. Và chúng tôi cũng được truyền cảm hứng bởi phẩm giá mạnh mẽ của Aung San Suu Kyi vì bà đã chứng tỏ rằng không một ai thật sự bị cầm tù nếu niềm hy vọng vẫn cháy bỏng trong tim.

Khi tôi lên làm tổng thống, tôi đã gửi đi một thông điệp đến các chính phủ cai trị bằng sự sợ hãi. Tôi đã nói trong diễn văn nhậm chức rằng: “Chúng tôi sẽ giơ tay ra nếu quý vị cũng sẵn sàng nới lỏng nắm đấm.”

Trong vòng một năm rưỡi qua đã bắt đầu một chuyển biến bất ngờ khi chế độ độc tài trong suốt năm thập niên đã nới lỏng ách cai trị của mình. Dưới chính phủ của Tổng thống Thein Sein, khát vọng thay đổi cùng với nghị trình cải cách đã gặp nhau.

Một nhân vật dân sự giờ đây đã lãnh đạo chính phủ và một Quốc hội đang khẳng định mình. Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ từng một thời bị đặt ra khỏi vòng pháp luật đã tham gia tranh cử và Aung San Suu Kyi đã trở thành đại biểu Quốc hội.
Hàng trăm tù nhân lương tâm đã được phóng thích. Lao động khổ sai đã bị cấm. Đã đạt được các lệnh ngừng bắn ban đầu với các nhóm vũ trang sắc tộc và các đạo luật mới ra đời đã tạo điều kiện cho một nền kinh tế cởi mở hơn.

Do đó hôm nay tôi đến đây để giữ lời hứa và chìa bàn tay hữu nghị. Nước Mỹ giờ đây đã có đại sứ trở lại ở Rangoon. Các lệnh cấm vận đã được nới lỏng, và chúng tôi sẽ giúp tái thiết nền kinh tế để đem đến các cơ hội cho người dân và để trở thành động cơ tăng trưởng của thế giới.

Tuy nhiên hành trình đặc biệt này chỉ mới bắt đầu và đoạn đường trước mắt còn xa. Các cuộc cải cách được khởi động từ thượng tầng xã hội cần phải đáp ứng nguyện vọng của những người dân vốn là nền tảng của xã hội. Những đốm lửa tiến bộ mà chúng ta đã thấy không thể để cho tắt ngúm – chúng phải được thổi bùng lên. Chúng phải trở thành Bắc đẩu tinh sáng ngời cho toàn thể người dân của đất nước này.

Tất cả những thành công của các bạn đều quan trọng với nước Mỹ cũng như đối với bản thân tôi. Ngay cả khi chúng ta đến từ những nơi khác nhau, chúng ta vẫn chia sẻ cùng ước mơ: được lựa chọn lãnh đạo của mình, được chung sống trong hòa bình, được học hành và có cuộc sống tốt, được yêu thương gia đình và cộng đồng. Đó là lý do tại sao mà tự do không phải là thứ mơ hồ – tự do chính là điều giúp cho nhân loại đạt được tiến bộ – tiến bộ không chỉ ở thùng phiếu mà còn trong cuộc sống hàng ngày.

Một trong những tổng thống vĩ đại nhất của Mỹ là Franklin Delano Roosevelt hiểu rõ điều này. Ông xác định chính nghĩa của nước Mỹ không chỉ là quyền được bỏ phiếu. Ông hiểu rằng dân chủ không chỉ là bầu cử. Ông kêu gọi thế giới hãy tôn trọng bốn quyền tự do cơ bản: tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do trước nhu cầu và tự do trước nỗi sợ. Bốn quyền tự do này bổ trợ cho nhau. Chúng ta không thể hoàn toàn thực hiện một quyền mà không có được các quyền còn lại.

Đó là tương lai mà chúng ta phấn đấu cho chính chúng ta và cho toàn thể người dân. Đó là điều mà tôi muốn nói với các bạn hôm nay.

Trước hết, chúng tôi tin tưởng vào quyền tự do ngôn luận để cho tiếng nói của những người dân bình thường được lắng nghe và chính phủ thể hiện ý chí của họ – ý chí của nhân dân.

Chúng tôi nhìn nhận rằng không hai quốc gia nào có thể đạt được những quyền này một cách giống hệt nhau, nhưng điều không thể nghi ngờ là quốc gia các bạn sẽ trở nên hùng mạnh hơn nếu phát huy được sức mạnh của toàn thể người dân. Đó là điều giúp các quốc gia thành công.

Và để bảo vệ quyền tự do của tất cả người dân, những người cầm quyền phải chấp nhận bị kiểm soát. Chế độ chính trị của Mỹ được định hình theo hướng này.

Giờ đây nước Mỹ có thể có quân đội hùng mạnh nhất thế giới, nhưng quân đội này phải nằm dưới sự kiểm soát dân sự. Tôi, với tư cách là tổng thống Mỹ, ra các quyết định mà quân đội phải thi hành chứ không phải ngược lại. Là tổng thống và tổng tư lệnh, tôi phải có trách nhiệm đó bởi vì tôi phải chịu trách nhiệm trước người dân của tôi.

Mặt khác, là tổng thống, tôi không thể áp đặt ý mình lên Quốc hội mặc dù đôi lúc tôi cũng ước gì mình có thể làm được. Nhánh lập pháp có quyền lực riêng và đặc quyền riêng nên họ kiểm soát và cân bằng quyền lực của tôi.

Tôi chỉ định các vị thẩm phán nhưng tôi không thể chỉ đạo họ phán quyết bởi vì tất cả mọi người ở Mỹ, từ một đứa trẻ bần hàn cho đến chính bản thân tôi, tổng thống, đều bình đẳng trước pháp luật. Và các vị thẩm phán có thể phán quyết liệu tôi có tuân thủ pháp luật hay vi phạm pháp luật hay không.

Tôi mô tả hệ thống chính trị ở Mỹ bởi vì đó là con đường mà các bạn phải vươn đến trong tương lai mà các bạn đáng được hưởng – tương lai mà chỉ một tù nhân lương tâm cũng là quá nhiều. Các bạn phải vươn tới một tương lai mà luật pháp có sức mạnh hơn bất kỳ một nhà lãnh đạo nào, một tương lai mà an ninh quốc gia được củng cố bằng một quân đội do lãnh đạo dân sự chỉ huy và một Hiến pháp đảm bảo rằng chỉ những người được người dân bầu lên mới lãnh đạo đất nước.

Lịch sử đã chỉ ra rằng chính phủ của dân, do dân và vì dân có sức mạnh vô cùng trong việc đem đến sự thịnh vượng.

Khi những thường dân có tiếng nói đối với tương lai của chính mình thì đất đai của họ không thể bị lấy đi. Đó là lý do tại sao các cuộc cải cách phải đảm bảo rằng người dân của đất nước này phải có những quyền sở hữu cơ bản nhất – quyền được sở hữu mảnh đất mà họ đang sống và làm việc.

Khi các tài năng của các bạn được giải phóng thì cơ hội sẽ được tạo ra cho tất cả mọi người. Giờ đây khi mà của cải đang chảy vào đất nước này, chúng tôi hy vọng rằng nó sẽ giúp nâng đỡ nhiều người. Nó không chỉ đem đến lợi ích cho những người ở trên cao. Nó phải giúp ích cho tất cả mọi người. Và mô hình tăng trưởng kinh tế như thế, nơi mà ai cũng có cơ hội – nếu anh làm việc chăm chỉ, anh sẽ thành công – đó là điều sẽ giúp một đất nước tiến nhanh.

Nhưng sự tăng trưởng như thế chỉ có thể có nếu tham nhũng bị đẩy lùi. Để cho đầu tư có thể tạo ra cơ hội, cải cách phải làm sao cho ngân sách minh bạch và các ngành kinh tế nằm trong tay sở hữu tư nhân.

Khi mà tiếng nói của người dân được chính phủ lắng nghe thì rất có thể các nhu cầu cơ bản của họ sẽ được đáp ứng. Đó là lý do tại sao cải cách phải chạm đến cuộc sống của những người đang thiếu đói và những người đang bệnh tật.

Sự sợ hãi là thế lực ngăn trở giữa con người và ước mơ của họ. Trong những khoảnh khắc đen tối nhất của cuộc đời khi mà Aung San Suu Kyi bị giam cầm, bà đã viết về sự tự do trước nỗi sợ. Bà nói nỗi sợ đã làm suy đồi những người đang mang nỗi sợ đó. Bài viết: “Nỗi sợ mất quyền lực làm suy đồi những kẻ nắm quyền, và nỗi sợ bóng ma quyền lực làm suy đồi những người bị quyền lực khống chế.”

Đó là nỗi sợ mà các bạn có thể bỏ lại phía sau. Chúng tôi đã nhìn thấy cơ hội đó ở những lãnh đạo mà đã bắt đầu hiểu được quyền lực đến từ việc nghe theo nguyện vọng của nhân dân chứ không phải lợi dụng nỗi sợ của họ.

Ngày hôm nay tôi nói với các bạn ở đây – và tôi nói với tất cả mọi người có thể nghe thấy tôi – rằng Hoa Kỳ sẽ sát cánh cùng với bạn, trong đó có những người đã bị lãng quên, những người bị cướp đoạt tài sản, những người bị tù đày, những người nghèo khó. Chúng tôi sẽ ghi nhớ hoàn cảnh của các bạn trong đầu và đem theo hy vọng của các bạn trong tim bởi vì trong thế kỷ 21 cùng với sự lan truyền kỹ thuật và sự dỡ bỏ các rào cản, tiền tuyến của tự do là trong lòng mỗi quốc gia và mỗi cá nhân.

Một cựu tù đã từng nói với các đồng bào của mình: “Chính trị là việc của quý vị chứ không phải chỉ dành riêng cho các chính trị gia.” Và chúng tôi cũng có một câu nói ở Mỹ rằng cơ quan quan trọng nhất trong một nền dân chủ là văn phòng của người dân chứ không phải văn phòng của tổng thống hay chủ tịch Hạ viện.

Do đó dù cho cuộc hành trình này có khó khăn, thách thức và đôi khi nản lòng, cuối cùng thì các bạn, công dân của đất nước này, là những người phải xác định thế nào là tự do. Các bạn chính là những người phải giành lấy tự do bởi vì cuộc cách mạng thật sự của tinh thần bắt đầu trong tim của mỗi chúng ta. Nó cần sự can đảm mà nhiều vị lãnh đạo của các bạn đã thể hiện.

Con đường phía trước sẽ còn những thách thức lớn lao và sẽ có những kẻ kháng cự lại dòng chảy thay đổi. Nhưng tôi đứng ở đây với lòng tin rằng điều gì đó đang xảy ra ở đất nước này là không thể đảo ngược và ý chí của người dân sẽ nâng quốc gia này đứng dậy và tạo thành tấm gương lớn cho thế giới. Và các bạn sẽ có Mỹ là bạn đồng hành trên cuộc hành trình dài đó.

Nguồn: BBC

danchimviet.info (re-post)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »