Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một 1st, 2012

►Những kẻ bắt người và bọn trộm cướp chỉ là một – Thực trạng đời sống công nhân nữ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất

Posted by hoangtran204 trên 01/11/2012

Các bạn liên kết một loạt 5 bài sau đây để hiểu thực trạng xã hội VN.  Các  bài này cùng xuất hiện trong tháng 10-2012,  đã vẽ ra một bức tranh hoàn chỉnh của Việt Nam về chính trị, xã hội, đời sống của nông dân, công nhân dưới chế độ xã-nghĩa, mà theo bà phó chủ tịch nước  Nguyễn thị Doan là “ưu việt gấp triệu lần tư bản” .

Các bạn sẽ nhìn thấy chính phủ mượn tay công bộc viết tờ trình, và dùng mãnh giấy ấy để hợp pháp hóa việc cướp đất và chia nhau ra sao ở dự án Ecopark huyện Văn Giang; các bạn sẽ thấy các “sói Nga” kết hợp với chính quyền chiếm đất, mua đất, đầu tư vào các dự án xây dựng những khu nghỉ dưỡng, chung cư và thương xá trung và cao cấp như thế nào. “Một lời bình luận tiếp theo bài viết trên Bloomberg cho biết công ty Viet Capital Securities tức công ty chứng khoán Bản Việt là của bà Nguyễn Thanh Phượng, con gái Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, có những mối quan hệ làm ăn mật thiết với chủ tập đoàn Vincom.”…

Chiến thắng của những kẻ yếu đuối

Nguyễn Hưng Quốc

Theo VoA Blog

Cô Nguyễn Phương Uyên, sinh viên đại học Công nghệ Thực phẩm, bị công an bắt đi từ nhà trọ hôm 14/10 với cáo buộc tham gia rải truyền đơn kêu gọi chống Trung Quốc và chống tham nhũng

Nguyễn Phương Uyên là sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh. Nhà em ở Bình Thuận. Để theo đuổi việc học, em phải thuê nhà ở trọ với bạn bè. Trưa ngày 14/10/2012, khoảng 10 công an ập vào nhà trọ của các em, bắt Uyên cùng với ba người bạn khác. Ba người bạn ấy, sau đó, được tha về, riêng Uyên thì bị chở đi đâu đó, biệt tích.

Bố mẹ của Uyên, từ Bình Thuận, tất tả chạy đến công an quận Tân Phú tìm con. Công an ở đó chối phăng, bảo là không hề bắt ai cả.Bạn học của Uyên viết thư gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang để kêu cứu.

Bức thư được đăng tải rộng rãi trên khắp các cơ quan truyền thông quốc tế cũng như trên các tờ báo mạng thuộc lề trái tại Việt Nam. Ông Trương Tấn Sang im lặng. Công an cũng im lặng.

Cuối cùng, gần 10 ngày sau, bố mẹ của Uyên mới biết con mình bị giam giữ tại tỉnh Long An với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước”. Các bạn học của Uyên thì cho biết cô ấy chỉ tham gia tuyên truyền chống Trung Quốc mà thôi. Một người bạn bị bắt một lần (sau đó được thả) với Uyên kể, ở văn phòng công an phường Tây Thạnh, Tân Phú, khi bị công an hỏi, Uyên đáp: “Cháu ghét Trung Quốc.”

Chưa biết chính quyền Việt Nam sẽ đối xử với Nguyễn Phương Uyên như thế nào. Chỉ biết là, từ mấy tuần vừa qua, vụ bắt bớ một nữ sinh nhỏ nhắn, hiền lành như thế đã gây chấn động dư luận. Vào internet, thấy ở đâu người ta cũng bàn luận. Ở đây, nổi bật lên hai hình ảnh đối nghịch: một mặt, cô gái còn trẻ măng, đeo kính cận, mắt sáng và nụ cười hiền, không làm gì khác ngoài việc bày tỏ thái độ chán ghét Trung Quốc; mặt khác, hình ảnh công an hành xử như những tên côn đồ: chúng ập vào nhà trọ bắt em rồi chối biếng là không biết gì về vụ bắt bớ ấy cả.

Vụ bắt bớ Nguyễn Phương Uyên khiến nhiều người liên tưởng đến cô bé Malala Yousafzai, người Pakistan, bị hai tên sát thủ Taliban bắn vào đầu vào ngày 9 tháng 10.

Báo chí tường thuật: hôm ấy, trên một chiếc xe buýt, Malala và các bạn cùng nhau chuyện trò và hát hò với các thầy cô giáo. Vừa mới thi cuối học kỳ, ai cũng vui vẻ. Nhưng khi chiếc xe vừa ra khỏi thành phố Mingora thì có hai người đàn ông cầm súng chận lại. Chúng bước lên xe, hỏi: “Đứa nào là Malala Yousafzai?” Mọi người đều im lặng, nhưng một cách tự phát, một số em quay nhìn Malala. Theo hướng mắt ấy, hai tên sát thủ nhận diện ra ngay được Malala. Không nói không rằng, một tên giơ sung lên, chĩa thẳng vào em. “Đoành! Đoành”. Hai phát súng vang lên khô khốc. Một phát trúng đầu và một phát trúng cổ. Sẵn trớn, tên sát thủ bấm cò, bắn thêm hai phát nữa vào đám bạn của Malala khiến hai em bị thương. Xong, chúng xuống xe. Và tẩu thoát.

Tại sao các tên Hồi giáo quá khích lại muốn giết một nữ sinh mới 15 tuổi như vậy?

Có hai lý do chính: Thứ nhất, em đi học, và thứ hai, em khuyến khích các bạn gái ở địa phương cùng đến trường đi học như em.

Với những người bình thường, hai lý do ấy hầu như không thể tin được. Tại sao đi học và khuyến khích bạn bè đi học mà lại bị thù ghét và bị bắn một cách dã man như vậy? Nguyên nhân: Taliban chủ trương phụ nữ thì phải ở nhà. Và phải mù chữ.

Chủ trương quái đản ấy đã được nhiều người biết. Người ta biết, cho là quái đản, và rồi, quên phắt đi. Người ta lại quay cuồng với đời sống hàng ngày với vô số những lo toan của chính họ. Taliban dường như thuộc về một thế giới khác. Bây giờ, trước sự việc một cô bé ngây thơ, mới 15 tuổi đầu, bị bắn một cách tàn nhẫn như vậy, người ta sững sờ và thấm thía hơn về tính chất man rợ của những kẻ cuồng tín. Càng thương Malala bao nhiêu, người ta càng căm ghét Taliban cũng như các lực lượng Hồi giáo cuồng tín bấy nhiêu. Lần đầu tiên tại Pakistan, tất cả các đảng phái chính trị cũng như các tôn giáo đều thống nhất với nhau trong việc lên án hành động vô nhân đạo của Taliban và cùng cầu nguyện cho em Malala.

Phát biểu trước bệnh viện Birmingham ở Anh trong chuyến thăm viếng Malala đang được điều trị, ông Yousafzai, bố của Malala, tuyên bố: “Khi Malala ngã xuống, nước Pakistan đứng dậy và cả thế giới trỗi lên.”

Bởi vậy, nhiều người mới nhận định: trong cuộc khủng bố nhắm vào em Malala, kẻ bị thua cuộc trước hết chính là Taliban. Chúng hiện hình, trước mắt thế giới, như một lũ ác quỷ. Ngay những người theo Hồi giáo cũng không thể biện minh được cho chúng. Chúng trở thành những phần tử cô đơn. Hung hãn nhưng cô đơn. Trong khi đó, hào quang chung quanh em Malala lại tỏa sáng. Như một thiên thần.

Vụ bắt bớ Nguyễn Phương Uyên ở Việt Nam cũng vậy.

Lâu nay, ai cũng biết chính phủ Việt Nam độc tài và tàn bạo. Tính chất độc tài và tàn bạo ấy thể hiện, trong mấy năm gần đây, qua các vụ đàn áp biểu tình và đàn áp các nông dân chống nạn cướp đất, và qua các phiên tòa xét xử những người đòi tự do hoặc phản đối Trung Quốc, từ vụ Cù Huy Hà Vũ đến vụ Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, Việt Khang… Nhưng dù sao, hình ảnh hiên ngang của những người ấy phần nào cũng làm mờ nhạt tính chất nạn nhân của họ. Người ta nhìn họ như những anh hùng mà có khi quên họ, trước hết, là những nạn nhân.

Nguyễn Phương Uyên thì khác. Em chỉ là một sinh viên. Em nhỏ nhắn và yếu đuối. Em hồn nhiên và còn vô tư lắm. Em chỉ có một vấn đề, như chính em thừa nhận: Em “ghét Trung Quốc”.

Trước hình ảnh nhỏ nhoi và yếu ớt ấy, hình ảnh mười tên công an ập vào nhà trọ bắt em, hình ảnh công an phường và công an quận bai bãi chối việc giam giữ em, hình ảnh cả một hệ thống tuyên truyền của nhà nước xúm vào xuyên tạc và bôi nhọ em, và cuối cùng, hình ảnh cả một guồng máy quyền lực âm mưu giày xéo lên em bỗng dưng đậm nét thêm lên.

Tính chất nạn nhân của Nguyễn Phương Uyên càng được tô đậm, tính chất độc tài và tàn bạo của chính quyền cũng theo đó bị gia tăng theo cấp số nhân.

Ít nhất dưới mắt dư luận, trong cũng như ngoài nước, với người Việt Nam cũng như người ngoại quốc, kẻ thua cuộc vẫn là nhà cầm quyền.

Theo VoA Blog

danluan.org (re-post)

…”Một đứa trẻ 20 tuổi không thể nào có đủ sức mạnh và bản lãnh để làm một cái việc tuyên truyền chống đối XHCNVN. Đó là một điều quá sức. Nếu một đất nước vững mạnh, với một chính quyền vững chắc thì một đứa trẻ 20 tuổi không có thể là một mối nguy hại lớn, đó là điều bức xúc thứ nhất.  Điều bức xúc thứ hai là khi gửi quà cho cháu, chị viết có ba chữ “Mẹ Yêu Con” ghi lên tờ giấy gửi quà mà họ cũng không chấp nhận…! Họ hết sức vô lương tâm, họ hoàn toàn không có lương tâm gì khi đối xử với con người.” – Mẹ Phương Uyên khóc khi trả lời phỏng vấn.

—————————-

Khi kẻ trộm cướp không chỉ là kẻ bần cùng

Hai Lúa

Hồi còn bé, những bài học làm người đầu tiên là những bài học mà Lúa tích cóp được từ mẹ. Có thể vì Lúa là con gái, gần mẹ nhiều nhất lại rất hay để ý… Một lần, Lúa nhìn thấy mẹ ngồi nấp trong bụi tre, nhìn một ông hàng xóm chặt trộm buồng chuối sim sau nhà, khi Lúa ra đến nơi, mẹ đưa tay lên miệng yêu cầu Lúa không được la lên, đợi ông ta vác buồng chuối bước xuống xuồng và chèo đi, mẹ ngồi dậy rồi bước vào nhà. Lúa hỏi, sao mẹ không la lên cho ông ấy bỏ buồng chuối lại? mẹ nhìn Lúa rồi bảo “họ nghèo, nhà đông con nên mới ăn cắp… thôi hãy ngoảnh mặt đi cho người ta đở tủi thân…… mình còn nhiều buồng chuối khác….”

Ca dao Việt Nam có câu “nhàn cư vi bất thiện”, hiểu nôm na là không có công ăn việc làm thì sẽ nảy sinh những việc làm sai trái . Điều đó cũng dễ hiểu thôi vì con người ai cũng cần có cái ăn để mà sống, vì thế nếu không có công ăn việc làm, không có thu nhập đủ để trao đổi, mua lấy những nhu cầu tối thiểu sẽ dễ dẫn tới những hành động sai trái, khuất tất, lỗi đạo khi họ không muốn chết. Một câu tục ngữ khác có lẽ mang tính chất khẳng định hơn “bần cùng sinh đạo tặc”, tức là khi con người bị đẩy vào thế bần cùng sẽ sinh ra trộm cướp, họ biết là họ phải vi phạm đạo đức, vi phạm luật pháp nhưng vẫn vi phạm vì họ đã bần cùng rồi.

Xã hội tiến bộ là một xã hội mà ở đó người ta khống chế con số những người bần cùng này, tạo điều kiện cho tất cả mọi người đều có điều kiện để lao động. Khi đó họ không nhàn cư nữa để mà bất thiện, họ cũng có thu nhập thì không thể rơi vào cái thế của kẻ bần cùng. Trong trường hợp không thể tìm việc làm, họ có một khoản trợ cấp gọi là trợ cấp thất nghiệp, đủ cho nhu cầu tối thiểu về thực phẩm của họ. Ở Nhật, nếu bị bắt gặp ăn cắp một lần thì đồng nghĩa với việc bạn sẽ phải đi ăn mày mà sống vì không một nơi nào, một cơ quan nào chịu nhận một kẻ có cái điểm đen trong lý lịch là “ăn cắp”. Tuy nhiên, nếu ăn cắp một hộp cơm, khi bị bắt chỉ cần bạn nóí, tôi đói quá, lập tức sẽ được tha bổng và không bị ghi chú trong lý lịch. Họ coi việc một người bị đói là trách nhiệm của xã hội, công việc được phân công như thế nào, nguồn quỹ cho phúc lợi xã hội ra sao mà lại có người phải đi ăn cắp vì họ đói.

Thế nhưng một xã hội mà người ta vẫn có việc làm nhưng thu nhập lại không đủ bù đắp, tái tạo sức lao động đã bỏ ra; như thế, sức lao động sẽ ngày càng bị mai một, liên tục bị “thâm hụt” cũng sẽ dẫn đến tình trạng bần cùng nếu chẳng may họ bị bệnh mà số tư bản tích lũy không đủ khả năng chi trả cho việc chữa bệnh. Vì thế thu nhập (từ lương) luôn được tính toán sao cho con người ít nhất cũng đáp ứng được những chi phí đó. Trong trường hợp ngược lại thì người lao động bị “lỗ vốn sức khoẻ” hay nói một cách dễ hiểu là “thu không đủ chi”.

Việt Nam được xếp vào một trong những nước có tỉ lệ tham nhũng là quốc nạn. Trước đây người ta còn né tránh, không nói đến nó nhưng bây giờ thì tất cả, tất cả từ cao xuống thấp, từ trên xuống dưới quan chức đều công nhận. Tham nhũng chính là hình thức ăn cướp của công làm của tư thông qua quyền lực, ảnh hưởng mà cá nhân đó, tổ chức đó có được. Vậy thì, ai, ai là người có quyền lực, có quyền ra những cái quyết định để tạo ra những kẻ hở cho tham nhũng hoành hành? Chắc không phải là những người dân nghèo, thấp cổ bé họng. Bây giờ, hóa ra cái bài học những kẻ ăn cắp thường là những kẻ nghèo xem ra không còn đúng nữa, mà những kẻ ăn cắp này giàu, rất giàu, chúng không hề nhàn cư nhưng vẫn bất thiện, chúng không hề bần cùng nhưng vẫn là đạo tặc. Và chúng không chỉ câu trộm con cá, bắt trộm con gà, chặt trộm buồng chuối để ăn vì thiếu thốn, vì đói; mà chúng ăn những thứ to lớn hơn, “cồng kềnh hơn”, từ sắt thép, tàu thuyền, ụ nổi,…. chúng cũng không phải ăn cắp của một người hay vài người mà ăn cắp của cả xã hội, ăn cắp của cả những người dân nghèo khổ, những người tất tả lao đao vì kiếm sống, những người với đàn con xanh mắt vì đói, mòn mỏi chờ những đồng cứu trợ của những tấm lòng hảo tâm gửi đến.

Bài học mà mẹ dạy cho Lúa đã hơn 20 năm qua có lẽ nào đã là lạc hậu, cũ kỹ rồi chăng? Hay chính cái đạo đức, luân lý đã bị đảo lộn?

—————————–

Đừng bắt nông dân gánh “Chủ nghĩa xã hội treo”!

Hoàng Kim  (Đồng Tháp)

Tại sao Đảng và Nhà nước đưa ra một quy định đi ngược lại tâm tư và nguyện vọng của tất cả nông dân?

Đây là câu hỏi mà Đảng và Nhà nước phải trả lời công khai cho nông dân chúng tôi được biết:Tại sao Đảng lại chiếm quyền sở hữu ruộng đất của nông dân chúng tôi, tại sao Đảng và Nhà nước quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân chúng tôi?

Để lãnh đạo xã hội một cách anh minh, Đảng phải tạo sự công bằng cho mọi thành phần trong xã hội. Bắt nông dân như những con tốt một mình tiến lên Chủ nghĩa xã hội, bắt nông dân gánh “Chủ nghĩa xã hội treo” bằng cách chiếm quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, buộc nông dân ngày càng nghèo hơn trong khi mọi thành phần khác ngày càng giàu lên khi đất nước phát triển, là một chính sách bất công đối với người nông dân.

Đừng bắt nông dân gánh “Chủ nghĩa xã hội treo”

Đảng đã trả lại quyền tư hữu cho tất cả mọi thành phần kinh tế khác, thì tại sao lại tiếp tục quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân? Tại sao lại bắt nông dân phải một mình tiến lên Chủ nghĩa xã hội?

Ở miền Nam, sau năm 1975, để tiến lên Chủ nghĩa xã hội, Đảng quốc hữu hoá mọi tư liệu sản xuất, Đảng và Nhà nước là chủ sở hữu của mọi tư liệu sản xuất. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt nên đất đai phải thuộc sở hữu Nhà nước.

Thế nhưng, sau đó, Đảng đã lùi một bước từ Chủ nghĩa xã hội về Chủ nghĩa xã hội có định hướng, chấp nhận kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, Đảng đã trả lại quyền tư hữu cho tất cả mọi thành phần kinh tế khác, thì tại sao lại tiếp tục quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân? Tại sao lại bắt nông dân phải một mình tiến lên Chủ nghĩa xã hội?

Trước đây, Đảng đưa cả nước tiến lên Chủ nghĩa xã hội, nay, tất cả mọi thành phần, mọi giai cấp khác điều dừng lại chưa tiến lên Chủ nghĩa xã hội, Đảng đã trả quyền tư hữu lại cho mọi giai cấp khác, mà không trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân là Đảng đối xữ không công bằng với nông dân.

Quốc hữu hoá ruộng đất chỉ đúng khi đã tiến lên Chủ nghĩa xã hội, nay, chưa tiến lên Chủ nghĩa xã hội mà bắt nông dân phải hy sinh quyền lợi để tiến lên một mình, tức là bắt nông dân gánh “Chủ nghĩa xã hội treo”.

Đất đai thuộc sỡ hữu toàn dân hay sỡ hữu của Đảng?

Điều 5 khoản 1 qui định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”.

Điều 5 khoản 2 mục c lại quy định Nhà nước có quyền thực hiện quyền định đoạt: “Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất”, với quy định này, Đảng và Nhà nước chính thức chiếm đoạt quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, bằng cách quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân.

Chúng ta điều đã biết: “toàn dân” tức là không phải của ai cả, không của ai cả mà Nhà nước đại diện chủ sở hữu, Nhà nước lại có quyền thu hồi đất thì có nghĩa là đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước. Đảng bộ các cấp lãnh đạo chính quyền các cấp, thế nên, thực chất của Điều 5 khoản 1 nói cho đúng sẽ như sau:

Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước do Đảng đại diện sở hữu”.

Nông dân có đồng ý cho Đảng và Nhà nước chiếm quyền sở hữu ruộng đất của mình không?

Câu trả lời tất nhiên là không.

Đất đai là tài sản thiêng liêng của nông dân, không nông dân nào lại muốn Đảng và Nhà nước chiếm quyền sở hữu của mình, để có thể bị thu hồi và bị cưỡng chế bất cứ lúc nào với giá đền bù rẻ mạt.

Nếu bây giờ, Đảng và Nhà nước thử trưng cầu nông dân ý về quyền sở hữu đất đai, tôi tin rằng 99,99% nông dân sẽ không đồng ý cho Đảng và Nhà nước chiếm quyền sở hữu ruộng đất của mình (không được 100% là do tôi trừ hao một số đảng viên có đất, nhưng vì tấm thẻ đảng nên buộc phải đồng ý với Đảng).

Cho nên, cần phải khẳng định rằng quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” mà thực chất là: “Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước do Đảng là đại diện sở hữu” là một quy định đi ngược lại tâm tư, nguyện vọng của tất cả nông dân.

Tại sao Đảng và Nhà nước đưa ra một quy định đi ngược lại tâm tư và nguyện vọng của tất cả nông dân?

Đây là câu hỏi mà Đảng và Nhà nước phải trả lời công khai cho nông dân chúng tôi được biết: Tại sao Đảng lại chiếm quyền sở hữu ruộng đất của nông dân chúng tôi, tại sao Đảng và Nhà nước quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân chúng tôi?

Cần phải khẳng định: Thay đổi quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” hay không, không phải là công việc nội bộ của Đảng, mà liên quan đến quyền lợi của tất cả nông dân, mà là tâm tư, nguyện vọng của tất cả nông dân.

Vì thế, Đảng phải có nhiệm vụ giải thích cho tất cả nông dân biết, lợi ích to lớn nào của quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” khiến cho Đảng quyết tâm bám giữ quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” – một quy định đi ngược lại nguyện vọng của nông dân.

Tốt nhất, Đảng hãy đưa những ông đảng viên nào quyết tâm nhất trong việc bám giữ quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” trong đại hội Đảng vừa rồi, đăng đàn giải thích rõ ràng lợi ích tuyệt đối của “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” so với  “đất đai thuộc sở hữu nông dân” cho nông dân chúng tôi được “sáng mắt sáng lòng”.

Tôi dám đảm bảo, các ông đảng viên cương quyết nhất này nếu không bị nông dân chúng tôi phản biện cho cứng họng, thì Đảng xử tội gì tôi cũng chịu.

Riêng Hoàng Kim tôi, nếu được tranh luận trực tiếp với đại diện của Đảng về quyền sở hữu ruộng đất, một mình tôi xin chấp một chục ông chuyên gia của Đảng.

“Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước” tạo ra nửa triệu dân oan

Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, kể từ khi luật đất đai năm 2003 bắt đầu có hiệu lực, đã có gần 1 triệu lượt đơn thư, khiếu nại tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai. Trong số này số lượng các vụ khiếu nại tố cáo đúng, hoặc có đúng có sai chiếm tỷ lệ gần 50%. Cũng có nghĩa là 10 năm qua, trong lĩnh vực đất đai đã có xấp xỉ gần 500.000 sai phạm của các cấp chính quyền.

Những con số thống kê cho thấy, luật đất đai 2003 đang tồn tại nhiều bất cập. Đó cũng chính là nguyên nhân của tình trạng lạm quyền và hoặc tham nhũng của cán bộ, thiệt thòi và bức xúc của nhân dân.

10 năm thực hiện luật đất đai 2003 cho thấy: Những công trình mà người dân mất đất chịu nhiều thiệt thòi nhất lại thường là những công trình do nhà nước đứng ra thu hồi đất. Có thực tế, đất đai mặc dù ở cùng một khu vực nhưng có thể được các địa phương định giá đền bù quá chênh lệch.

Bên cạnh đó, người dân trong cùng một địa phương, nhưng nếu nhà nước thu hồi đất thì giá đền bù có thể thấp hơn nhiều so với việc được chủ đầu tư tự thỏa thuận. Thậm chí trong cùng một dự án, ở cùng một địa phương, nhưng vẫn lại có thể có sự chênh lệch về giá đền bù khác nhau do sự khác biệt về thời điểm thu hồi đất và cách vận dụng văn bản quy phạm pháp luật” – Đài Truyền hình ViệtNam cho biết.

Trong vòng 10 năm bắt đầu phát triển, cán bộ đảng viên đã gây oan ức, đau khổ cho 500.000 gia đình nông dân, nếu tính mỗi gia đình nông dân có 4 người, thì có 2 triệu con người bị cán bộ, đảng viên đưa vào vòng oan ức, khiến cho 2 triệu con người đau khổ triền miên vì tài sản lớn duy nhất của mình bị tước đoạt bất chính là cả một tội ác.

10 năm tới con số sẽ là bao nhiêu triệu gia đình nông dân bị oan khuất?

Đất nước càng phát triển nông dân biến thành dân oan càng nhiều, đất nước càng phát triển, mọi thành phần khác điều giàu lên nhờ quyền tư hữu tư liệu sản xuất nên hớn hở vui tươi, chỉ có nông dân một mình than khóc vì mất đất do ruộng đất bị thu hồi, bị cưỡng chế là một nghịch lý vô đạo đức, đầy bất công với nông dân, sẽ đẩy nông dân vào thế đối kháng với Đảng và Nhà nước.

“Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước” đẻ ra “liên minh ma quỷ” giữa đảng viên ăn hối lộ và các chủ dự án

Ở Văn Giang, tiền đền bù cho nông dân là 135.000 đồng/m2, nhưng giá bán đất rẻ nhất là 20 triệu đồng/m2, đắt nhất là 45 triệu đồng/m2.

Dù lấy giá rẻ nhất là 20 triệu đồng/m2 thì chênh lệch giữa đền bù cho nông dân và giá bán là 19.865.000 đồng/m2, trừ cho chi phí đầu tư các chủ dự án vẫn đạt được siêu lợi nhuận.

Siêu lợi nhuận này, khiến cho chủ dự án đủ sức mua đứt mọi đảng viên lãnh đạo các cấp liên quan đến việc thu hồi đất.

Siêu lợi nhuận này sẽ tạo ra “liên minh ma quỷ” giữa chủ dự án và đảng viên lãnh đạo ăn hối lộ.

Thu hồi đất càng nhiều, đền bù đất càng rẻ thì chủ dự án càng lời to, có lời to các chủ dự án hối lộ cho đảng viên lãnh đạo càng nhiều, nhận được hối lộ càng nhiều đảng viên lãnh đạo thu hồi đất càng tăng, đền bù đất càng rẻ để nhận hối lộ nhiều hơn, “ liên minh ma quỷ” này sẽ càng ngày càng gia tăng việc thu hồi đất của nông dân.

Điều đặc biệt là “ liên minh ma quỷ” này lại nhân danh những điều tốt đẹp, nhân danh quy hoạch, nhân danh phát triển đất nước… để giựt đất của nông dân, và chúng trở lại tố cáo nông dân vi phạm pháp luật để xua quân cưỡng chế.

“Liên minh ma quỷ” này nằm ngoài tầm kiểm soát của Đảng Trung Ương.

Thay đổi Luật Đất Đai đúng đắn phải trả quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân

Khi đất nước chưa tiến lên Chủ nghĩa xã hội, để công bằng, Đảng phải trả quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân.

Nếu đất đai thuộc quyền sở hữu của nông dân, ai muốn sở hữu đất này phải thoả thuận mua của nông dân, nông dân có quyền ấn định giá bán, nông dân có quyền không bán đất nếu không muốn.

Thế nhưng, nay Đảng lại chiếm quyền sở hữu đất đai của nông dân, rồi lại giao cho đảng viên của mình quyền thu hồi đất, quyền cưỡng chế đất, khiến cho nông dân mất cả hai quyền là quyền ấn định giá bán và quyền không bán đất nếu không muốn.

Ở Văn Giang, tiền đền bù cho nông dân chỉ có 135.000 đồng/m2, sau đó chủ dự án chỉ đầu tư vào một ít, giá đất lên đến 20 – 45 triệu đồng/m2, giá trị gia tăng do chuyển mục đích từ đất làm lúa sang đất đô thị chủ dự án hưởng trọn, nông dân chỉ được đền bù rẻ mạt theo giá đất nông nghiệp.

“Về giá đất bồi thường cho người có đất bị thu hồi, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho biết: “nhiều ý kiến tán thành việc định giá đất để bồi thường cho người sử dụng đất phải theo mục đích sử dụng tại thời điểm thu hồi, có tính đến công sức đầu tư, bồi bổ của người sử dụng đất, nhưng không tính phần giá trị tăng thêm do quy hoạch của Nhà nước vì phần này không do đầu tư của người sử dụng đất tạo ra. Ngoài giá đất bồi thường, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để ổn định đời sống, việc làm cho người có đất bị thu hồi”” – theo báo Tuổi Trẻ.

Thưa ông Giàu:

Cha ông của nông dân chúng tôi mấy đời bám trụ ở mảnh đất khỉ ho cò gáy, chịu cực khổ thiếu thốn đủ điều để gìn giữ và truyền lại mảnh đất đó cho nông dân chúng tôi, nay mảnh đất khỉ ho cò gáy đó nằm ở địa thế phát triển thành đô thị, gía đất sẽ tăng, vậy tại sao nông dân chúng tôi lại không được nhận phần giá trị gia tăng đó?

Mấy đời bám trụ của ông bà, cha mẹ chúng tôi ông không thèm tính, vậy theo ông ai xứng đáng hưởng giá trị tăng thêm do đất đó phát triển thành đô thị? Đảng của ông xứng đáng hơn nông dân chúng tôi chăng? Hay các tay trọc phú là chủ dự án xứng đáng hưởng hơn chúng tôi?

Trong thực tế, hiện nay, chính “liên minh ma quỷ” giữa đảng viên ăn hối lộ và các chủ dự án táp hết giá trị gia tăng này đấy, và cả sau khi luật đất đai sửa đổi theo kiểu không sửa gì cả này “ liên minh ma quỷ” sẽ tiếp tục táp hết giá trị gia tăng khi chuyển từ đất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng khác.

Tôi đưa thêm một thí dụ làm sáng tỏ rằng Luật Đất Đai dù có sửa đổi vẫn bất công với nông dân:

Giả sử tôi có 1 ha đất là lúa nằm cặp lộ lớn, có một người muốn mua đất của tôi để xây dựng nhà máy, giá thoả thuận là 1 triệu đồng một mét vuông, thế nhưng tôi bán không được, vì muốn chuyển từ đất lúa sang đất phi nông nghiệp phải trình đến Thủ tướng, thế rồi có dự án thành lập khu công nghiệp, đất tôi lọt vào qui hoạch, bị thu hồi và đền bù có 100.000 đồng/m2, vì tôi không được hưởng giá trị gia tăng, không cho tôi bán đất giá cao 1 triệu đồng/m2 rồi thu hồi đền bù giá thấp 100.000 đồng/m2 liệu có hợp lý không thưa ông Giàu?

Đất tăng giá mà nông dân không được hưởng, để cho các chủ dự án và đảng viên ăn hối lộ hưởng là một chính sách ngu xuẩn và bất công đấy, ông Giàu ạ.

Không trả quyền tư hữu đất đai cho nông dân thì dù có đổi: “Nhà nước xác định giá đất sát với giá thị trường” thành “giá đất do Nhà nước quy định theo mục đích sử dụng đất tại thời điểm định giá, đảm bảo phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” cũng sẽ tiếp tục đẻ ra “liên minh ma quỷ” và tiếp tục tạo ra dân oan.

Không thay đổi Luật Đất Đai để trả quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân, Đảng treo trên đầu nông dân thanh gươm Damocles thu hồi, cưỡng chế đất. Nhưng không trả lại quyền sở hữu đất đai cho nông dân Đảng cũng tự treo thanh gươm Damocles dân oan, dân đối kháng trên đầu chính mình.

H.K.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Hoàng Kim (Đồng Tháp)

Theo Bauxite Việt Nam

danluan.org (repost)

—————

 

—————

Báo Mỹ viết về tỉ phú Phạm Nhật Vượng, tài sản $1.3 tỉ

Friday, October 26, 2012

HÀ NỘI (NV) -Báo tài chính của Mỹ Bloomberg hôm Thứ Năm vừa qua có một bài ký sự khá dài về một trong những người giàu có nhất tại Việt Nam hiện nay mà tờ báo nói có trị giá tài sản ròng ước lượng $1.3 tỉ USD.

Ở một xứ sở nghèo khó, lợi tức đầu người trung bình chỉ có $1,300 USD/năm ông Phạm Nhật Vượng, 44 tuổi, từ đầu thập niên 2000 đến nay đổ tiền đầu tư vào các dự án xây dựng những khu nghỉ dưỡng, chung cư và thương xá trung và cao cấp.

Giá bán 1 mét vuông ở những nơi đó rẻ thì từ $1,800 USD đến $2,500, và cao cấp ở trung tâm Sài Gòn bán với giá $8,000 USD  (khu Eden cũ trên đường Tự Do gần trụ sở Quốc Hội cũ)…

Mời các bạn đọc tiếp ở đây ( 2 bài báo này cùng tựa, nhưng khác nhau về các chi tiết; rất đáng chú ý)

http://nongnghiep.net.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Doanh-nhan/Vi-ty-phu-an-danh-o-Viet-Nam-758

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=156930&zoneid=1

————

Thực trạng đời sống công nhân nữ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất

Báo Nhân Dân

8-10-2012

Chợ cóc phục vụ công nhân ở khu nhà trọ xã Kim Chung (Đông Anh, Hà Nội).

Kỳ 1: Nhọc nhằn mưu sinh

Tâm lý muốn thoát ly khỏi đồng ruộng, tìm kiếm cơ hội đổi đời, việc làm có thu nhập ổn định đã cuốn hút lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị ngày càng đông. Trong đó, lao động nữ (LÐN) chiếm số lượng không nhỏ. Ước mơ đổi đời là khát vọng chính đáng. Tuy nhiên, với đồng lương ít ỏi nơi phố thị, trước mắt, cuộc sống của họ vẫn mịt mờ cơ hội đổi đời.

Thiếu thốn trăm bề

Ðã nhiều lần, chúng tôi chứng kiến cảnh hàng nghìn công nhân vội vã trở về khu nhà trọ sau giờ làm việc tại khắp các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX) trên cả nước. Nhưng buổi tan ca tại KCN Sóng Thần (Dĩ An, Bình Dương) trong cơn mưa như trút nước vào một ngày cuối tháng 9 vừa qua dễ dàng nhận ra trong chiếc áo mưa mỏng manh gồng mình đạp xe, nhấn ga, ngược chiều mưa gió, thậm chí có nữ công nhân đang mang thai. Người tấp nhanh vào vệ đường, nơi có những quầy hàng, nhìn qua đã biết không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, mua vội vài mớ rau, dăm quả trứng, ít cá khô. Nhiều người trong số họ trở về nhà trọ mà không biết bữa tối lấy gì cho vào bụng.

Vội vã theo bánh xe của cô công nhân Hoàng Thị Linh (Công ty ACTIVE, sản xuất yên xe đạp), chúng tôi tới nhà trọ tại khu dân cư Ðồng An, cách công ty hơn ba km. Thực đơn của hai vợ chồng hôm ấy không khác mấy so với các bữa cơm chiều khác: rau muống, vài miếng khổ qua kho thịt ba chỉ lõng bõng nước. Có lẽ ngượng với khách, Linh cúi mặt nhặt mớ rau đã héo phần nửa, lúng túng thanh minh: “Giá trời không mưa, em mua thêm ít đậu phụ hoặc cá khô. Mấy món này ăn hai tối rồi, cũng ngán”. Linh sinh ra trong một gia đình có sáu anh em ở một làng quê thuần nông huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Năm 2004, cô theo chân các cô gái trong làng vào đây làm công nhân với hy vọng thoát ly cảnh”chân lấm, tay bùn”, kiếm tiền đỡ đần bố mẹ nuôi các em ăn học. Tìm được tấm chồng sau một thời gian làm công nhân như Linh được coi như may mắn hơn nhiều nữ công nhân khác. Linh cho biết, với thu nhập của hai vợ chồng son, việc chi tiêu hết sức tằn tiện coi như tạm đủ, nếu như không có chuyện hai năm qua, có đồng nào dành dụm, cô đổ vào việc chữa trị tại Bệnh viện Từ Dũ, hy vọng có được mụn con. Chia tay chúng tôi, cũng là lúc bữa cơm đạm bạc hoàn tất vào lúc tám giờ tối, Linh nói: “Cho dù phải trở về quê hương với hai bàn tay trắng, thì việc có một, hai đứa con vẫn”lãi” hơn so với nhiều nữ công nhân quá lứa, lỡ thì khác. Nói rồi, cô quay vào với bốn bức tường trong căn nhà trọ rộng chừng tám mét vuông, không máy thu hình, không đài, báo, chờ chồng về trong cơn mưa dai dẳng.

Cuộc sống thiếu thốn, không dám mơ ước gì cao sang là tình trạng chung của hàng triệu lao động trong các KCN. Chưa đủ, LÐN càng thiệt thòi hơn khi họ đang phải sống cảnh “năm không”: Không nhà cửa do công nhân ngoại tỉnh chiếm hơn 70%, đa số phải thuê nhà trọ. Không gia đình, do nhiều doanh nghiệp sử dụng tỷ lệ LÐN tới 80-95%. Quanh năm, họ mải miết tăng ca mới mong đủ tiền trang trải cuộc sống, không có thời gian giao lưu, tìm hiểu bạn trai. Không được hưởng thụ các hoạt động văn hóa. Không quan tâm và mơ hồ về chính trị. Không được khám sức khỏe định kỳ, vốn quý nhất của NLÐ. Khi chưa lập gia đình, cuộc sống nữ công nhân ngoại tỉnh đã thiếu thốn, vất vả là thế, nhưng khi lập gia đình, họ lại phải đối mặt nhiều khó khăn khi sinh con. Thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản. Trước và sau khi sinh không được bồi dưỡng, thiếu thốn thời gian chăm sóc con nhỏ và gia đình. Ðiều kiện sinh hoạt kham khổ, ít được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, con cái không được nuôi dưỡng, giáo dục chu đáo do phải gửi con về quê nhờ ông bà trông giúp, là bức tranh chung của cuộc sống sau kết hôn của LÐN.

Câu chuyện của chị Nguyễn Thị Ngần, quê ở Hà Giang tại khu nhà trọ tại phường Bình Chiểu (quận Thủ Ðức, thành phố Hồ Chí Minh) là một thí dụ. Trước khi sinh đứa con thứ hai, chị là công nhân Công ty May Sài Gòn 3. Chị Ngần cho biết: “Ði tăng ca quần quật cũng chỉ đủ tiền gửi hai đứa con vào nhà trẻ tư nhân, cho nên quyết định ở nhà trông con. Bốn miệng ăn trông vào chưa đầy bốn triệu đồng lương thợ mộc của người chồng”. Chúng tôi thắc mắc làm sao gia đình nhỏ của chị”sống” nổi với số tiền khiêm tốn ấy, chị bảo:”Hai vợ chồng chỉ ăn rau qua ngày. Hằng tháng trả tiền nhà trọ, điện nước hết một triệu đồng, còn bao nhiêu mua sữa, thịt cho con ăn. Tháng nào chúng nó ốm đau đi viện thì vay tiền bà chủ trọ, hoặc của những người đồng hương… Ðược cái, cùng cảnh nghèo cho nên mọi người thương yêu, đùm bọc nhau. Cũng đành”hy sinh đời bố, củng cố đời con vậyể. Ðược hỏi: “Chị định”củng cố” đời bọn trẻ như thế nào trong xóm trọ tồi tàn, thiếu thốn đủ thứ này, chị Ngần lạc quan cho biết: “Thì phải cố gắng. Tằn tiện, chờ đợi đến bao giờ có năm, sáu chục triệu đồng, sẽ trở về quê chồng ở Nam Ðịnh, xin ông bà đất, dựng căn nhà, cùng nhau cày cấy, trở về điểm xuất phát vậy. Chồng tôi chăm mua vé số lắm. Biết đâu, lại có ngày trúng số độc đắc, đổi đời ngay. Các cụ chẳng bảo”nghèo thì lâu, giàu thì mấy”. Trường hợp trở về tay trắng, vẫn có hai của để dành đây. Còn người còn của, sá gì cơ cực, đói nghèoể. Nghe chị nói cười chúng tôi cũng thấy ấm lòng hơn. Có lẽ lâu lắm rồi, trong các khu nhà trọ, mới bắt gặp sự lạc quan hiếm hoi như thế. Phải chăng sức chịu đựng và khả năng vượt qua hoàn cảnh luôn là đức tính tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam. Bất giác, chúng tôi kỳ vọng vào một phép nhiệm mầu sẽ tới với gia đình bé mọn của người đàn bà tên Ngần ấy.

Tương lai nào đối với lao động nữ?

Tới khu nhà trọ nằm trong hẻm 149, đường Dương Thị Hoa (Thủ Ðức, TP Hồ Chí Minh) vào lúc sáu giờ chiều, chúng tôi thật khó khăn mới tìm được một căn phòng mở cửa. Ra đón khách là cô công nhân mặc chiếc áo Công ty giầy da An Thịnh. Nhìn em gầy guộc và rất trẻ, anh bạn đồng nghiệp buột mồm: Em đã 18 tuổi chưa vậy? Mặt cô đỏ bừng, lúng búng cho biết tên là Trần Thị Cẩm Hường, quê ở Chợ Mới, An Giang, 19 tuổi. Căn nhà trọ chưa tới chục mét vuông, một hình ảnh điển hình đến ngột ngạt, bức bối trong các khu nhà trọ công nhân từ nam ra bắc, bao gồm cả bếp, khu vệ sinh, nơi ăn uống, ngủ nghỉ của Hường và hai vợ chồng chị gái. Trò chuyện một lát, chúng tôi thấy một người phụ nữ đứng tuổi tay bế, tay dắt hai đứa trẻ đi vào. Hường giới thiệu đó là má và hai đứa con của chị gái. Bà Thu thấy khách lạ nhưng rất vồn vã: Chị con Hường bỏ hai đứa con cho tôi ở dưới quê từ khi đứa thứ hai mới hai tháng tuổi, giờ nó đã gần một tuổi rồi. Cách đây năm hôm, tôi mang hai nhỏ lên thăm má nó mổ ruột thừa. Lúc gặp má trong bệnh viện, đứa lớn nhận ra ngay, con nhỏ thì khóc thét khi má nó giơ tay bế. Tận tối qua, nó mới chịu theo má, rồi quấn riết. Thiệt khổ, vừa bén hơi nhau thì mai tôi lại đưa bọn chúng về dưới quê. Chẳng biết đến bao giờ vợ chồng, con cái mới được ở cùng nhau dưới một mái nhàể. Than thở là vậy, nhưng khi chúng tôi hỏi, dù bà biết đời sống của công nhân rất khó khăn nhưng sao vẫn để đứa con gái út đi làm công nhân? Bà Thu bảo: “Cực thì có cực, nhưng làm lụng chăm chỉ cũng có đồng ra đồng vào, còn hơn làm thuê làm mướn dưới quê. Tôi cũng tính bảo nó, làm công nhân khi nào có vài chỉ vàng lận lưng thì về quê kiếm tấm chồng. Cắm mặt riết vào cái máy khâu thì ế mất”.

Việc đưa chị em gái, họ hàng lên thành phố, ở trọ cùng tiết kiệm tiền thuê nhà, chi phí sinh hoạt là xu hướng mới của LÐN tại các KCX. Tại một khu nhà trọ phường Thủ Ðức (TP Hồ Chí Minh) chúng tôi không khó để tìm một căn phòng có hai, ba chị em ruột cùng ở trọ. Trong căn phòng chật hẹp của ba chị em ruột quê ở Yên Khánh, Ninh Bình, cô út tên là Phạm Thị Quyết tiếp chuyện chúng tôi. Người chị cả tên Phạm Thị Xuân chỉ im lặng, cắm cúi nhặt túi nấm kim châm, không một lần ngước mặt lên nhìn khách. Quyết giải thích: Không có nhiều tiền mua thịt, bọn em chuyển sang mua nấm, rẻ mà vẫn có chất đạm thực vật. Chỉ sau khi Xuân ra ngoài bể tập thể rửa nấm, Quyết mới cho hay: Chị gái em vào thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân may khi 24 tuổi. Ở quê, tuổi ấy khó lấy chồng, chị hy vọng vào môi trường nhiều công nhân dễ lấy chồng. Thấm thoắt đã 16 năm trôi qua, quanh năm ngày tháng chỉ biết con đường duy nhất từ công ty về nhà trọ. 40 tuổi rồi vẫn không chồng, không con, không gia đình, không sổ tiết kiệm, và không biết tương lai sẽ ra sao. Trò chuyện cùng các nữ công nhân khác ở khu nhà trọ này, chúng tôi được biết từ Tết Nguyên đán đến nay, gần chục công nhân quá lứa nhỡ thì trở về quê. Năm, sáu người khác tuổi ngoài bốn mươi, không đủ sức khỏe làm công nhân, cũng không muốn về lại nhà đành bỏ công ty, ra ngoài làm tạp vụ, bưng bê tại các quán ăn, nhà hàng với mức lương hai triệu đồng/tháng.

Trao đổi ý kiến với một số lãnh đạo LÐLÐ các tỉnh, chúng tôi được biết, tại một số KCN, xuất hiện tình trạng nhóm đối tượng xã hội đen cho vay nặng lãi. Công nhân thất nghiệp hoặc đồng lương không đủ trang trải sinh hoạt hằng ngày, chấp nhận vay tiền với lãi suất cao. Khi lãi mẹ đẻ lãi con, LÐN không có tiền trả, chúng ép nữ công nhân “làm thêm” tại các quán cà-phê đèn mờ. Bên cạnh đó, rời quê lên thành phố làm công nhân, sự hiểu biết hạn chế, không được trang bị kỹ năng, kinh nghiệm sống để tự phòng vệ, dễ choáng ngợp trước cuộc sống đô thị trong điều kiện cuộc sống của mình nhiều vất vả, lo toan; thiếu sự quan tâm và hỗ trợ của các đoàn thể, chính quyền địa phương. Không ít LÐN rơi vào cám dỗ, cạm bẫy cuộc sống, sống thử trước hôn nhân, góp gạo thổi cơm chung, chấp nhận trở thành “vợ hờ”, vợ bé của những người đàn ông có gia đình. Hậu quả là những đứa con ra đời không hôn thú… Không thể phủ nhận một điều, hàng triệu nữ công nhân ngoại tỉnh đang làm việc trong các KCN, KCX thoát ly đồng ruộng, không chỉ tìm kiếm cơ hội đổi đời cho bản thân mà còn vì thế hệ con em họ. Nhưng với tất cả những gì đã và đang diễn ra trong những khu nhà trọ tồi tàn và nhọc nhằn ấy, không một nữ công nhân nào trả lời được câu hỏi: tương lai của họ sẽ đi về đâu? Trong khi đó, một thế hệ mới đã và đang ra đời trong các xóm trọ này. Tương lai nào cho những đứa trẻ, thiếu dinh dưỡng, thiếu sự chăm sóc của người mẹ, không được giáo dục bài bản, không được hưởng các quyền vui chơi, học hành như bao trẻ em khác?

Bài 2: Chung tay chăm lo cuộc sống người lao động

Dây chuyền sản xuất máy in, máy fax tại Công ty TNHH Brother (Hải Dương)

Bà Trần Thị Bưởi (An Giang) lên khu chế suất ở Bình Dương, trông cháu cho con yên tâm lao động sản suất.

(Tiếp theo và hết) (*)

Ðời sống của nữ công nhân trong các khu nhà trọ tồi tàn vất vả, thiếu thốn là thế nhưng càng cơ cực hơn khi thời gian gần đây, nền kinh tế bị ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Hoạt động của các doanh nghiệp (DN) lâm vào cảnh lao đao. Công nhân lao động, trong đó phần lớn lao động nữ (LÐN) một lần nữa bị đè nặng khoán sản phẩm, khoán dây chuyền trên đôi vai vốn đã gầy guộc.

Còn nhiều nghịch lý

Theo Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, tính đến hết năm 2011, cả nước có 283 KCN, KCX được thành lập, trong đó có 180 KCN, KCX đang hoạt động, thu hút gần hai triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp. Gần 20% số LÐN phải làm việc bảy ngày trong tuần. Thu nhập trung bình rất thấp, đa số từ 1,6 đến ba triệu đồng.  Cường độ làm việc “chóng mặt” nhưng thu nhập lại không tương xứng. Mặc dù thời gian qua, các DN đã điều chỉnh theo hướng tăng tiền lương tối thiểu do Chính phủ quy định, tuy nhiên hầu hết LÐN cho rằng, tiền lương DN trả chưa tương xứng với thời gian và công sức lao động mà họ bỏ ra. Song, nhu cầu có việc làm ổn định, có thu nhập khiến đa số LÐN chấp nhận thực tại, không đòi hỏi, thậm chí không biết tới khái niệm thương lượng, thỏa thuận về tiền lương, thu nhập, cũng như thời gian tăng ca.

Tại các DN lớn, đơn đặt hàng giảm sút, số công nhân bị sa thải hoặc không chịu được cảnh đồng lương eo hẹp, đành trở về quê, hoặc tìm kiếm việc làm mới. Số công nhân còn bám trụ, muốn ổn định với hy vọng sẽ qua “cơn bĩ cực” lại đang bị áp lực công việc đè nặng. Bảy rưỡi tối, ánh sáng lờ mờ từ những căn phòng trọ tại phường Cẩm Thượng (Thanh Miện, Hải Dương) mới bật sáng. Ấy là khi, công nhân mới tăng ca lục tục trở về. Sự mệt mỏi hiện rõ trên gương mặt cô công nhân Vũ Thị Mến (Công ty TNHH Global). Mến cũng như nhiều nữ công nhân khác, trong cuộc đời làm thuê của mình từng nhảy việc hai đến năm lần với hy vọng tìm kiếm một chế độ đãi ngộ tốt hơn. Trước khi chuyển sang Công ty Global, Mến làm tại Công ty May Hưng Long do khi ấy, Global áp dụng chế độ khoán thời gian. Tuy nhiên, sau khi chuyển sang công ty mới một thời gian, theo xu hướng của nhiều DN khác, Công ty Global chuyển sang khoán dây chuyền. Trước đây, 7 giờ 30 phút sáng mới bắt đầu một ngày làm việc, nhưng từ Tết ra, nhằm bảo đảm chỉ tiêu, công nhân công ty phải có mặt tại xưởng từ bảy giờ kém 15 phút. Bữa cơm trưa trước  kéo dài một tiếng, nay chỉ còn 15 phút ăn suất cơm đạm bạc qua quýt cho đỡ đói. Mến cho biết, áp lực công việc khiến nhiều chị em ngất xỉu ngay trên bàn máy. Chưa kể, nhiều nữ công nhân mới tuyển dụng, tay nghề thấp, bị tổ trưởng các dây chuyền, trưởng ca, quản đốc mắng chửi, sỉ nhục do tiến độ công việc chậm, làm hỏng sản phẩm, ảnh hưởng tới năng suất cả tổ. Mến thở dài: “Thực ra cũng chả trách được họ, vì họ cũng chịu áp lực của chủ DN, nhục chẳng khác gì chúng tôi. Một số tổ trưởng, trưởng dây chuyền, chịu không nổi cũng bỏ việc”. Ði với chúng tôi hôm ấy còn có chị Nguyễn Thị  Láng, Trưởng ban Tuyên giáo LÐLÐ tỉnh Hải Dương. Chị Láng cho biết, cách đây vài ngày, LÐLÐ tỉnh có nhận được lá đơn cầu cứu của một công nhân nữ (xin giấu tên, để tiếp tục thẩm tra thông tin) cho biết nhiều công nhân lớn tuổi ở công ty này bị chủ DN lấy tay hất mặt công nhân khi họ đang mải miết đạp máy khâu, quát: tại sao già thế này vẫn còn làm ở đây? Những hành vi, lời nói nhục mạ công nhân không chỉ gây ức chế cho bản thân người đó, mà ảnh hưởng tới tâm lý nhiều người khác trong dây chuyền. Khi chị Láng hỏi, hiện tượng đó có xảy ra tại Công ty Global không, Mến lảng tránh câu trả lời. Có lẽ, cô sợ liên lụy.

Nhằm ổn định tình hình sản xuất, doanh thu, nhiều DN chuyển từ khoán thời gian sang khoán sản phẩm, khoán dây chuyền, tăng ca dẫn tới tình trạng vi phạm quy định của Luật Lao động, Luật Công đoàn. Ðiển hình, Công ty TNHH Uniden Việt Nam (Hải Dương) chỉ tính riêng trong năm 2011 đã có 2.811 người lao động làm thêm từ hơn 300 đến 600 giờ/năm. Thật đắng lòng khi nghe Nguyễn Thị Trang, công nhân Công ty TNHH Việt Pháp (Hải Dương) giãi bày: “Tăng ca cũng chết, không tăng ca còn chết hơn. Ðối với nữ công nhân có gia đình, có con, thì muốn không phải tăng ca để về chăm sóc con cái. Nhưng đối với nữ công nhân chưa có gia đình, hoặc đem con gửi về cho ông bà ở quê, thì về sớm để chòng chọc nhìn nhau trong bốn bức tường chật chội, bí bách này ư? Chưa kể, tăng ca còn được ăn thêm bữa tối, tiết kiệm điện, nước, chi phí. Vậy nên, bọn em chỉ muốn càng tăng ca càng tốt, hòng kiếm thêm được chút thu nhập”.

Tình trạng vi phạm chính sách, pháp luật đối với CNLÐ nói chung, LÐN nói riêng tại nhiều DN diễn ra phổ biến, phần lớn vi phạm về chế độ thai sản, chế độ BHXH, không được ký hợp đồng lao động (HÐLÐ). Khi  nữ công nhân mang thai, hoặc nghỉ thai sản mà HÐLÐ hết hạn, phần lớn các DN không muốn ký tiếp. Nhiều doanh nghiệp ép LÐN thỏa thuận những điều khoản bất lợi như: không được lấy chồng hoặc sinh con trong một khoảng thời gian nhất định. Không bố trí thời gian làm việc phù hợp sức khỏe và chức năng làm mẹ của LÐN. Tuy nhiên, Phó trưởng Ban Nữ công, Tổng LÐLÐ Việt Nam Phạm Thị Thanh Hồng cho rằng: “Nhiều DN vì lợi nhuận mà làm ngơ không thực hiện đầy đủ chính sách đối với LÐN. Nhưng trong nhiều trường hợp, do thiếu hiểu biết về quyền và lợi ích chính đáng của mình, bản thân LÐN vô tình trở thành chủ thể vi phạm pháp luật lao động. Thí dụ, Luật Lao động quy định, nữ công nhân mang thai đến tháng thứ bảy sẽ được chuyển sang công việc nhẹ nhàng hơn, hưởng lương cơ bản. Nhưng nhiều chị em lại xin giữ nguyên vị trí làm việc, tăng ca, tăng giờ để có thêm thu nhập”. Việc khám sức khỏe định kỳ, khám phụ khoa, đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho LÐN không được quan tâm thực hiện. Thời gian gần đây, đứng trước tình hình khó khăn về việc làm, nhiều DN công khai đăng thông báo chỉ tuyển nam giới với lý do: nam giới có thể đi xa, làm đêm, tăng ca thoải mái, thể hiện sự bất bình đẳng giới trong vấn đề  tìm kiếm việc làm. 

Quan tâm mọi mặt đối với người lao động

Nếu như tiền lương là mối quan tâm hàng đầu của LÐN các tỉnh phía bắc, thì nhà giữ trẻ lại là nỗi ám ảnh, lo lắng của LÐN ở các tỉnh phía nam. Còn nhớ năm 2009, dư luận xã hội bất bình trước sự việc cháu Hồ Thị Thúy Ngân, ba tuổi bị bảo mẫu Trần Thị Phụng (xã Thuận Giao, huyện Thuận An, Bình Dương) hành hạ qua clip được truyền tải trên mạng. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hậu quả này, nhưng nguyên nhân chính là chị Nguyễn Thị Thanh, mẹ cháu là lao động nhập cư, không có cơ hội, điều kiện gửi con vào nhà trẻ công lập. Nhà trẻ tư thục có chất lượng thì không có tiền gửi, cha mẹ cháu đành đưa con tới gửi ở chỗ quen biết, gần nhà trọ. Thấm thoắt đã hơn hai năm kể từ  tai nạn đó, chúng tôi tới thăm gia đình anh chị ở hẻm 2/84 ấp Bình Thuận 1. Chị Thanh đang nghỉ việc để chờ sinh đứa con thứ hai. Chị khoe: Sau khi vụ việc xảy ra, công đoàn công ty, chính quyền địa phương can thiệp cho cháu học tại Trường mầm non công lập Hoa Mai, được nhà trường miễn phí tiền đóng học, tiền ăn một năm. Chị Thanh cũng chia sẻ, dù còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng sau khi sinh bé thứ hai, anh chị không còn lo lắng chỗ gửi trẻ nữa bởi sắp tới, công ty sẽ mở cửa nhà trẻ đón con em công nhân. Ðồng chí Trịnh Anh Tuấn, Chủ tịch Công đoàn cơ sở Công ty TNHH công nghiệp Hài Mỹ, giải thích thêm: Ngay sau vụ việc xảy ra, BCH công đoàn công ty đã mạnh dạn đề xuất, được Ban giám đốc  đồng ý xây nhà trẻ. Do quy trình thủ tục cấp phép xây nhà trẻ cho chủ đầu tư nước ngoài phức tạp, cho nên địa phương chỉ được cấp giấy phép thành lập nhóm trẻ. Ðến tháng 2-2012, nhóm trẻ được xây dựng trong khuôn viên công ty với diện tích 361 m2 với cơ sở hạ tầng đầy đủ, đội ngũ giáo viên theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Ðào tạo. Bước đầu nhóm trẻ đón 75 cháu theo quy định. Anh Tuấn cũng cho biết, dưới sự  hướng dẫn của Sở Giáo dục và Ðào tạo tỉnh Bình Dương, công ty đã hoàn tất các thủ tục cấp phép hoạt động trường mầm non. Khoảng giữa tháng 10 sẽ được công nhận là trường mầm non, khi ấy sẽ đón khoảng hơn hai trăm trẻ, đáp ứng 80% nhu cầu gửi trẻ của nữ công nhân công ty. Ðây là việc làm thiết thực, góp phần tạo sự gắn bó lâu dài của công nhân với doanh nghiệp.

Tuy nhiên, những “điểm sáng” kiểu thế này khá hiếm hoi. Theo số liệu từ Ban Nữ công (LÐLÐ tỉnh Bình Dương), hiện toàn tỉnh có  28 KCN, trong đó có 26 KCN đi vào hoạt động với hơn hai nghìn DN có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng mới chỉ có chín DN trong các KCN xây nhà trẻ. Không có nhà trẻ, mẫu giáo, CNLÐ đành gửi con ở những điểm giữ trẻ tự phát, thiếu thốn cơ sở vật chất với những chủ nhóm trẻ không có chuyên môn nghiệp vụ. Trong khi các KCN, KCX liên tục hình thành và phát triển, CNLÐ ngày càng gia tăng về số lượng; hơn bao giờ hết, cần có nhà trẻ, mẫu giáo là nhu cầu cấp bách của NLÐ hiện nay.

CNLÐ nói chung và công nhân nữ đang làm việc trong các KCX, KCN cần và ước mơ nhiều thứ. Một công việc ổn định với điều kiện làm việc tốt. Một chế độ đãi ngộ thỏa đáng với mức thu nhập xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra. Một mái nhà đúng nghĩa với những đứa con được gửi trong những nhà trẻ đủ tiêu chuẩn giúp họ yên tâm làm việc. Một mơ ước chính đáng về sự hưởng thụ các giá trị, văn hóa tinh thần… Ðể thực hiện những ước mơ tối thiểu ấy, cần sự vào cuộc quyết liệt và sát sao của rất nhiều bộ, ngành. Trước mắt, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội LHPN Việt Nam, Tổng LÐLÐ Việt Nam và các bộ ngành có liên quan tiếp tục nghiên cứu bổ sung, sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội cho phù hợp tình hình hiện nay. Khẩn trương nghiên cứu đề án xây dựng Luật tiền lương tối thiểu nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho NLÐ. Chỉ khi nào, NLÐ có một việc làm ổn định, với mức thu nhập tương xứng với sức lao động bỏ ra, khi ấy họ mới có thể yên tâm gắn bó với DN, phát huy sáng kiến, sáng tạo đóng góp cho sự phát triển chung của DN và đất nước.

Một thực tế không thể phủ nhận là hiện nay, môi trường xã hội và hạ tầng dịch vụ xã hội trong KCN, KCX chưa tạo điều kiện thuận lợi cho LÐN. Quan niệm về KCN như một khu biệt lập thuần túy sản xuất, không có cơ sở hạ tầng xã hội là nguyên nhân đầu tiên khiến cho hầu hết các KCN mọc lên nhưng lại thiếu thốn các hạ tầng dịch vụ xã hội. Trong đó, thể hiện rõ nét nhất là việc không dành quỹ đất xây nhà ở, nhà trẻ. Giải pháp đưa ra trong tình thế này là Chính phủ cần chỉ đạo UBND các tỉnh chịu trách nhiệm tạo quỹ đất liền kề, xen kẽ các KCX, KCN để chính quyền địa phương xây dựng nhà trẻ, mầm non dưới sự hỗ trợ của doanh nghiệp theo Luật Lao động sửa đổi. Bên cạnh đó, Chính phủ cần ban hành những văn bản bổ sung chính sách ưu đãi đối với các DN sử dụng nhiều LÐN; sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn việc phân cấp trực tiếp trách nhiệm quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu, cụm công nghiệp tập trung cho Ban quản lý các KCN.

Với tư cách là tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLÐ, Phó Chủ tịch Tổng LÐLÐ Việt Nam Nguyễn Hòa Bình cho biết: Thời gian tới, Tổng LÐLÐ Việt Nam đẩy mạnh phối hợp các cơ quan hữu quan tham mưu với Chính phủ ban hành các giải pháp bảo đảm nhà ở cho NLÐ có thu nhập thấp trong các KCN theo hướng Nhà nước hỗ trợ, kết hợp huy động nguồn lực từ địa phương và trách nhiệm của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Tổng LÐLÐ Việt Nam đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của LÐN, tập trung đối tượng LÐN ngoại tỉnh.

(*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 8-10-2012.

(Còn nữa)

Bài và ảnh: ÐẶNG THANH HÀ

Posted in Uncategorized | 1 Comment »