Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười, 2012

►Tôi và Việt Cộng (HNC) – Tôi Không Phải Quan Làm Báo (DTHY)

Posted by hoangtran204 trên 06/10/2012

Đối với Đảng và Nhà nước, tháng 10 hàng năm có ý nghĩa lịch sử rất lớn, đó là cách mạng tháng 10 Nga, và ngày quốc khánh của Trung Quốc 1-10.  Đảng CSVN sinh ra trong nghèo khổ, trưởng thành qua lừa dối, mưu mẹo và gây ra các cuộc chiến tranh, phải sống nhờ LX và TQ. (►Ai, những ai đang cõng rắn cắn gà nhà?)

 Trong thời gian hơn 50  năm qua, Đảng và nhà nước tổ chức  lễ lạc rất lớn vào tháng này vì LX va TQ đã  viện trợ  thực phẩm, xăng dầu, vũ khí, và tiền bạc ước tính 50-70 tỷ đô la ..  Bởi vậy, suốt từ 1954- cho đến nay, cứ đến tháng 10 là khẩu hiệu màu đỏ, chữ vàng giăng khắp hang cùng ngõ hẻm, đường sá cầu cống, tường nhà, trường học,…đều có khẩu hiệu đón mừng. Tiền vải, tiền sơn, tiền công đi treo…tốn kém không biết bao nhiêu là kể và dân đói kém ra sao cũng mặc, nhưng phải có khẩu hiệu đón mừng trước đã.

Người VN nào sống lâu ở nước ngoài có dịp trở lại thăm quê nhà mà về vào dịp trước 2-9 và vào tháng 10 là coi như lãnh đủ. Đường phố VN cứ như một phường tuồng, màu đỏ của biểu ngữ, chữ vàng giăng khắp nơi trông rất phiền con mắt. TH đoán là người dân trong nước chắc đã quen mắt nên không còn nhìn thấy 2 màu đỏ vàng này nữa.

Hai người dưới đây sinh ra và lớn lên trong khoảng thời gian các buổi lễ này được tổ chức hàng năm ở Miền Bắc 1954 và sau đó tổ chức trên toàn quốc từ sau 1975. Cựu Phóng viên báo TT Huỳnh Ngọc Chênh viết chuyện kể lại sự liên hệ của ông với Việt Cộng 1957-1975 và sau đó. Cựu Đại biểu Quốc hội Đặng thị Hoàng Yến, qua phỏng vấn,  kể lại những việc bà làmtrong thời gian gần đây. Mời các bạn đọc thưởng thức 

TÔI VÀ VIỆT CỘNG

30-9-2012

Huỳnh Ngọc Chênh (cựu PV báo Tuổi Trẻ)

Mấy ngày nay hơi mệt, định không viết lách gì. Nằm riết ở nhà không đi đâu, nhìn ra ngoài  trời mưa mù mịt, bỗng dưng nhớ đến thời ấu thơ. Lại lấy bàn phím ra…

Nói về chống cộng, có lẽ tôi là người chống cộng từ rất sớm. Không biết có đạt được danh hiệu người chống cộng nhỏ tuổi nhất Việt Nam hay không, chứ hồi ấy mới khoảng 6,7 tuổi gì đó, tôi đã có âm mưu và hành vi chống Việt Cộng rất cụ thể rồi.

Lớn lên trong giai đoạn Ngô Đình Diệm về chấp chánh, bị tuyên truyền qua những buổi tối xem chiếu phim hiếm hoi được tổ chức vài ba tháng một lần, qua các áp phích chống cộng dán trên các bảng tin đầu làng… tôi cũng như nhiều đứa trẻ trong làng tự dưng thấy căm thù Việt Cộng dù chẳng hiểu nó là cái gì.

Tôi lại được hơn mấy đứa trẻ khác trong làng là rất ham đọc sách. Mà thời đó sách vở rất hiếm hoi, vớ được cái gì, đọc cái đó đến thuộc lòng. Hồi đó tôi mới học lớp 1, lớp 2 gì đó thì chị tôi học lớp ba. Ba tôi mua cho chị ấy cuốn ” Việt Nam Toát Yếu sử Lược lớp Ba” của tác giả nào đó tôi không còn nhớ tên. Tôi suốt ngày đọc cuốn đó thích thú như đọc truyện cổ tích, đọc đi đọc lại đến nỗi thuộc nằm lòng từng trang sách. Qua đó tôi hiểu rằng giặc Ân, giặc Hán, giặc Nam Hán, giặc Tống, giặc Nguyên, giặc Minh, giặc Mãn Thanh, giặc Pháp, giặc Nhật là rất xấu xa ác độc. Và mỗi thời có giặc là có một vài anh hùng xuất hiện để chống giặc cứu dân. Đó là các anh hùng Phù Đổng Thiên Vương, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ lão, Lê Lợi, Lê Lai, Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…Cũng từ đó tôi suy ra rằng, thời xưa thì có các giặc đó, còn thời nay là …giặc Cộng. Bị nhiễm những câu chuyện anh hùng trong cuốn sách lịch sử lớp ba, tuổi ấu thơ của tôi bỗng dưng nghĩ ra rằng: thời giặc Cộng nầy phải có một anh hùng đứng lên chống lại để cứu nước cứu dân và người đó chính là…tôi.

Theo những gì tuyên truyền hồi đó, hình ảnh giặc cộng trong tôi là “thằng Việt Cộng” mặc áo đen, khuôn mặt hung ác, miệng lòi ra cả răng nanh, tay cầm mã tấu, đêm đêm lén lút mò về làng giết người dân lương thiện. Thế là tôi nghĩ mình phải noi gương Trần Quốc Toản hoặc Thánh Gióng làm một hành động gì đó để chống lại giặc Cộng ngay từ lúc còn bé chứ không chờ đến lớn lên. Một âm mưu chống lại giặc Cộng hình thành trong đầu thằng bé chưa quá 7 tuổi. Âm mưu nầy, có lẽ tôi cũng học được ngay trong cuốn lịch sử lớp ba.

Tôi bí mật đào một cái hố be bé ở góc vườn, bỏ xuống đó một ít gai tre rồi đậy nắp hố bằng một tấm phên mục, có lớp lá tre khô bên trên để ngụy trang, rồi chờ đêm xuống, Việt Cộng mò về là sụp hầm chông.

Dĩ nhiên cai hầm chông bé như cái lỗ mũi của tôi chẳng bẫy được chú Việt Cộng nào nhưng dầu sao hành vi cấu thành tội phạm của tôi đã rõ. Nếu vụ việc này mà hồi tố thì nguy cơ tôi ở tù rất chính đáng đến vài chục năm.

Trong lúc hàng  đêm mơ  mình trở thành anh hùng chống Việt Cộng, thì tôi nào có hay ngay trong nhà tôi, Việt Cộng nằm đầy cả ổ. Ba tôi, mẹ tôi,  anh rễ tôi, cô dì chú bác, bà con họ hàng nội ngoại đều toàn là Việt Cộng nằm vùng hoặc đã thoát ly. Không những thế, ba tôi còn là trùm Việt Cộng của làng, ông là bí thư chi bộ đảng từ năm 1945 cho đến ngày ông bị đi tù lần cuối cùng vào năm 1965. Bản thân tôi lại sinh ra ngay trong vùng Việt Minh ở Tam Kỳ, tiền thân của Việt Cộng, khi vào năm 1952 mặt trận Hòa Vang bị Pháp đánh vỡ, cả gia đình tôi cùng dân làng bỏ chạy vào chiến khu ở Tam Kỳ và tôi được sinh ra ở đó. Nhà tôi là một gia đình Việt Cộng “toàn tòng” và tôi là thằng bé sinh ra đã là Việt Cộng rồi mà tôi nào có hay.

Không biết tôi được “giác ngộ cách mạng” khi nào, để từ một đứa đang mơ làm người anh hùng chống cộng trở thành một thằng Việt Cộng nhí hung hăng . Có lẽ là sau khi đảo chánh Ngô Đình Diệm vào năm 1963. Thời kỳ đó, những buổi họp chi bộ, những buổi giao ban chớp nhoáng diễn ra trong nhà tôi nhiều hơn và ít dè dặt hơn. Có những đêm tôi giật mình thức giấc bổng nghe những tiếng rì rầm của nhiều người trong nhà tôi. Những kế hoạch phá Ấp Chiến Lược, chống tề diệt ngụy, kháng chiến chống Mỹ cứu nước…cứ âm thầm đi vào trong tôi cùng với giấc ngủ.

Có lẽ tôi cũng đã đi du kích và chết mất xác như bao bạn bè cùng trang lứa với tôi nếu như mẹ tôi không gởi tôi xuống Đà Nẵng nương nhờ nhà bác ruột của tôi, cũng là một đảng viên Việt Cộng nằm vùng, để tiếp tục học lên cấp hai khi ba tôi bị “Mỹ Ngụy” bắt đi tù lần cuối cùng vào năm 1965.

Cái sự học nó đẩy tôi đi luôn một mạch từ cấp hai ở Hòa Vang, Đà Nẵng lên đến cao học ở tận Sài Gòn để tôi không có dịp cầm súng cho phe nào, giữa hai phe đang bắn vào nhau quyết liệt. Nhiều bạn bè tôi bất hạnh hơn, cũng sinh ra trong gia đình Việt Cộng như tôi nhưng giữa chừng đứt đường học, bị bắt lính cầm súng bắn lại chính cha anh, chú bác của mình ở phe bên kia.

Những năm đại học, tôi cũng được một hai lần tham gia biểu tình chống Mỹ Thiệu. Sau đó tôi được lôi kéo vào nhóm sinh viên chống Mỹ ở đại học Khoa Học mà trưởng nhóm là anh HTH, giảng nghiệm viên, hướng dẫn thí nghiệm hóa của tôi. Hồi đó, hoạt động yêu nước cao nhất của tôi là tham gia vài lần biểu tình và viết mấy bài báo đưa cho anh H để anh ấy ký một cái tên nào đó rồi gởi đăng vào tờ báo chuyền tay bí mật nào đó mà có nhiều khi tôi chẳng thấy mặt nó.

Sáng 30 tháng tư 1975, tôi được lệnh đi theo H cùng với một nhóm sinh viên xuống “chiếm đài truyền hình và đài phát thanh Sài Gòn”. Nói chiếm cho oai, chứ thực ra khi chúng tôi đến nơi, tuy Việt Cộng chưa vào Sài Gòn, quân lính bảo vệ và nhân viên của hai đài đã bỏ chạy từ lúc nào rồi.

Tôi có mặt tại đài phát thanh lúc ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu được bộ đội chở đến để đọc lời đầu hàng. Theo nhật ký của tôi ghi lại sau thời điểm đó vài ngày, tôi đã cùng với  vị chỉ huy bộ đội (sau nầy tôi biết đó là ông Bùi Tùng) soạn lời đầu hàng cho Dương Văn Minh đọc và lời tiếp nhận đầu hàng cho ông chỉ huy ấy đọc. Hai văn bản lịch sử đó không biết ai đã lấy và cất giữ.(Đại úy Phạm Xuân Thệ chăng?)  

Năm ngày sau kết thúc chiến tranh, biết lớp cao học đang chuẩn bị thi và làm luận án tốt nghiệp của tôi bị giải tán, tôi buồn rầu vì mất học (lúc ấy tôi học đang ngon trớn), lại thêm buồn vì mất cô bạn gái (cô ấy theo gia đình bay sang Mỹ trước ngày 30.4 cô ấy tên là Thu Hải, không biết sau ngần ấy năm trời cô có còn nhớ đến tôi). Sài Gòn không còn gì cho tôi nữa, tôi lặng lẻ lên bến xe Petrus Ký (nay là Lê Hồng Phong)  mua vé xe đò, chào từ giả Sài Gòn, về lại quê hương miền Trung dù lúc ấy tôi biết rằng nhóm sinh viên chống Mỹ mà tôi tham gia thuộc đường dây an ninh T4, cụm tình báo  A 10 gì gì đó.  Tôi dính líu với an ninh tình báo của Việt Cộng đấy, mà tôi cũng nào có hay và có thiết gì…
(Mệt quá, viết chưa xong)

http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/toi-va-viet-cong.html#more

CỒN DẦU VỚI TÔI

 1-10-2012

Huynh Ngoc Chenh 

Ảnh tự chụp trước nhà thờ Cồn Dầu tháng 5.2012

Cái làng Cồn Dầu nhỏ bé ngày xưa, đầy ắp kỷ niệm, rất thân thương mà cũng rất đáng ghét đối với tôi thuở ấu thơ, nay nổi tiếng ra toàn thế giới, tôi cũng nên ăn theo một chút chứ nhỉ.

Qua cửa ngõ Hội An, người Quảng Nam tiếp xúc rất sớm với Tây Phương trong đó sớm nhất có lẽ là các cha đạo. Thế nhưng người Quảng Nam rất bảo thủ nên đạo Thiên Chúa rất khó thâm nhập vào vùng đất nầy. Cả tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng rộng lớn chỉ có ba làng đạo. Đó là Hòa Sơn, Trà Kiệu và Cồn Dầu.

Dường như làng Cồn Dầu là từ làng Trung Lương của tôi tách ra vì ở cả hai làng, họ Huỳnh Ngọc đều chiếm đa số và bà con thân thuộc với nhau. Hơn nữa ranh giới giữa hai làng chỉ là lũy tre hàng rào của các nhà dân. Chui hàng rào từ nhà nầy qua nhà hàng xóm là đã đi từ làng nầy qua làng nọ.

Thế mà hai làng đã cách xa nhau đến vạn dặm. Trai gái hai làng hiếm khi lấy nhau, hiếm khi đi lại quen biết nhau. Cái ý thức hệ tuy vô hình mà chia cách người ta đến ghê gướm vậy.

Hồi đó tôi học hết lớp Tư (tức là lớp Hai bây giờ) thì trường làng không còn chữ để dạy tôi. Chị tôi lúc ấy đã được ba tôi xin lên trường công lập của xã học đến lớp Nhì (lớp Bốn) rồi. Ba tôi lại đi tù, mẹ tôi lo đi làm quần quật để nuôi đàn con năm đứa, chị tôi gồng hết can đảm dắt tôi lên trường xã để xin tôi vào học lớp ba.

Dắt tôi tới cổng trường, chị tôi sợ quá không dám đưa tôi vào xin thầy, bỏ tôi đứng lấp ló một mình ngoài cổng như thằng ăn trộm. Tôi khóc cho đến trưa chờ chị tôi tan học dẫn tôi về.

Hôm sau mẹ tôi nhờ một người chú bà con dẫn tôi lên xin học, nhưng người chú ấy cũng quá sợ hãi trước sự trang nghiêm của ngôi trường tiểu học nên không dám đưa tôi vào. Loay hoay thế nào đó chú gởi tôi cho một người quen và người ấy dẫn tôi đến lớp hương trường của làng Lỗ Giáng học chung với những đứa chưa được vào trường công lập.

Lớp học dự bị ấy được tổ chức tại nhà văn hóa của xã. Học được một tuần đến sáng thứ hai tuần tiếp theo lên trường thì đã thấy, thay vì trường học là  một đống tro tàn còn nghi ngút khói. Tối hôm trước, Việt Cộng về đốt mất trường. Nói cho công bằng là họ đốt nhà văn hóa xã mà lớp học của tôi mượn đặt ở đó.

Lớp học được chuyển vào một nhà dân giàu có ở cách xa trung tâm xã. Thầy giáo của tôi là một anh trai làng học khoảng chừng lớp đệ thất (lớp sáu bây giờ) chưa có bằng cấp gì. Vào giờ học, hoặc thầy hoặc trưởng lớp lên chép cái gì đó lên bảng, chúng tôi chép lại rồi ngồi làm còn thầy thì bỏ đi đâu mất tiêu. Sau nầy chúng tôi biết là thầy qua nhà bên cạnh tán gái. Học như vậy chúng tôi sung sướng lắm. Đến hết năm học, ba tôi cũng vừa ra tù, ông kiểm tra lại trình độ học vấn của tôi, hoảng kinh vì thấy tôi không những không có chút tiến bộ nào mà còn giảm xuống đến mấy bậc.

Không còn tin vào trường xã, ba tôi bấm bụng dẫn tôi lên Cồn Dầu xin vào trường đạo. Ông cũng như bao dân làng rất chống lại làng đạo nầy nhưng ngầm biết rằng nền giáo dục của họ là tốt đẹp.

Quyết định của ba tôi là sáng suốt, chỉ học ở đây có một năm duy nhất mà tôi tiến bộ hẳn. Chữ viết như mèo quào của tôi được cải thiện, sách vở được giữ gìn sạch sẽ và quan trọng hơn, bỗng dưng tôi ngộ ra là biết làm toán đố là môn học trước đây tôi hoàn toàn mù mịt. Sự học của tôi bắt đầu thăng tiến từ cái trường đạo Cồn Dầu nhỏ bé nầy. Tôi biết ơn ngôi trường ấy và biết ơn thầy Huỳnh Ngọc Thọ đã dạy tôi hồi đó.

Trường đạo Cồn Dầu chỉ có hai phòng học, mỗi phòng học chung hai lớp. Lớp Năm và lớp Tư chung một phòng do thầy Ba Lai dạy, lớp Ba và lớp Nhì chung một phòng do thầy Thọ dạy.

Ba tôi nói, xét theo thứ bậc họ hàng, tôi gọi thầy Thọ bằng anh. Tôi và thầy bà con nhau gần lắm nhưng vì nhánh thầy tách ra theo đạo nên trở thành xa cách. Thầy Thọ dạy cho tôi bao điều hay lẽ đẹp để trở thành một học sinh nề nếp. Tuy nhiên thầy cũng là anh trai làng học dang dở cấp hai, không có bằng cấp sư phạm gì nên có những cái thầy làm cũng phản giáo dục lắm. Phạt học sinh bằng roi vọt riết cũng chán, thầy nghĩ ra cách mới.

Cùng lớp ba với tôi có thằng cu T. bị bệnh thối tai (bệnh nầy hồi đó lắm người bị nhưng không thấy ai chữa trị gì, cứ để như vậy năm này qua tháng nọ). Mỗi sáng kêu học sinh lên dò bài, đứa nào không thuộc, thầy cho đứng xếp hàng một dãy bên bảng đen. Sau đó thầy gọi cu T. lên đứng giữa lớp. Những học sinh không thuộc bài lần lượt đi ngang qua ngửi vào tai cu T. một cái rồi mới về chỗ ngồi.

Tôi bị ngửi có một lần mà tởn đến già, và ấn tượng đến mức đến bây giờ sau 54,55 năm tôi vẫn còn nhớ y nguyên tên và khuôn mặt thằng bạn bất hạnh của mình. Có lẽ nhờ vậy mà tôi học hành tiến bộ chăng? Trong khi đó thằng bạn bên cạnh tôi liên tục bị phạt ngửi tai thối mà vẫn không có biểu hiện khó chịu gì. Tôi tò mò hỏi nó: Sao mầy chịu được? Hắn cười bí hiểm nói nhỏ vào tai tôi: Thay vì hít vào, tao khịt ra nên không nghe thối.

Tôi ngộ ra, đứa nào cũng làm vậy chứ không riêng gì thằng ấy, chỉ có tôi ngây thơ và thật thà rán hít vào cho thành tiếng để thầy nghe là mình đã hít. Cuộc đời tôi về sau luôn luôn bị thiệt thòi vì sự thật thà ngu ngơ nầy.

Vì hai lớp học chung một phòng nên chỉ có một lớp trưởng đó anh Huỳnh Ngọc Đi. Anh ấy học hơn tôi một lớp nhưng tuổi đời có khi hơn đến nửa thập kỷ. Anh cao to như hộ pháp, lại rất hung dữ nên tôi sợ anh không thua gì sợ thầy Thọ.

Một lần tôi lấy cắp cuốn lịch sử lớp Nhất của chị tôi mang lên trường khoe các bạn. Thời đó đi học hiếm ai có sách giáo khoa, riêng chị tôi mỗi năm học đều được ba tôi mua cho vài cuốn vì nghĩ rằng còn để lại cho tôi học tiếp. Cuốn lịch sử nầy tôi cũng đọc thuộc đến nằm lòng từ hồi mới mua về. Hồi đó tôi căm ghét các cha đạo mũi lõ không khác gì bọn giặc Pháp. Cuốn lịch sử lớp Nhất ấy có in hình Henry Riviere, Francis Garnier, đô đốc Courbet, Giám mục Bá Đa Lộc, Giám mục Alexandre De Rhode…tôi lấy bút gạch nát vào mặt mấy “thằng giặc” ấy ngay khi sách còn mới (vì chuyện nầy mà chị tôi khóc một trận).

Khi tôi mang sách lên trường khoe, mấy thằng bạn cùng lớp xem xong bất mãn lắm. Chúng mang đi méc với anh Huỳnh Ngọc Đi lớp trưởng. Anh ấy xem qua, xách lỗ tai tôi lên rồi lật từng trang sách. Cứ mỗi thằng Tây bị gạch mặt, anh ấy cú vào đầu tôi một cái đau điếng hồn. Anh ấy cú tôi đến năm, sáu  cái gì đó mới xong hình phạt về tội dám gạch vào mặt các đức cha. Tôi khóc dầm dề như mưa và mếu máo cãi lại: Tui gạch mặt mấy thằng giặc Tây xâm lược mà.

Anh ấy là người đàng hoàng. Thấy tôi khóc quá, anh giở sách ra xem lại và phát hiện ra tôi bị cú oan đến 4 cái. Anh ấy nói: Chỉ phạt mầy cái tội gạch vào mặt các đức cha mà thôi, còn gạch vào mặt mấy thằng Tây xâm lược thì không sao. Anh cho phép tôi cú lại đầu anh bốn cái. Tôi nào dám, nhưng nhờ vậy mà tôi hết khóc.

Sau nầy khi tôi lên học cấp hai, thỉnh thoảng về quê ở lại chơi vài ngày với mẹ, bất ngờ một lần tôi gặp lại anh ấy. Bấy giờ anh đã vào lính địa phương quân, chỉ huy một tiểu đội, oai phong đi hành quân ngang qua nhà tôi, thấy tôi lê lết dưới đất bắn bi với mấy đứa nhỏ, anh vui vẻ ký nhẹ vào đầu tôi ý nói học cùng thời với anh sao bây giờ vẫn còn chơi với con nít.

Tôi không vui chút nào, trừng mắt nhìn anh đầy căm thù. Lúc đó tôi đã “giác ngộ cách mạng”,  phân rõ địch ta. Tôi với anh đã khác nhau chiến tuyến. Đúng là hồi đó tôi còn quá trẻ con.

Chiến tranh càng khốc liệt, làng tôi và làng Cồn Dầu càng ngăn cách với nhau.
Nhưng sau 75, dân làng hai bên lại nhanh chóng hòa hiếu với nhau, tôi tin vậy. Nhất là bây giờ, họ cùng cảnh ngộ khi cả hai làng đều bị cày sạch để phân lô.

Nhà thờ Cồn Dầu trên 100 năm tuổi và ngôi trường nhỏ của tôi bên cạnh- Ngôi trường nầy đã được xây dựng lại.

TÔI VÀ VIỆT CỘNG ( 2)

2-10-2012

…Một tuần sau ngày 30.4, tôi về lại Đà Nẵng.
Đà Nẵng đã hưởng hòa bình trước một tháng, gia đình tôi cùng nhiều bà con khác đang chuẩn bị trở lại quê nhà. Tôi ủng hộ quyết định nầy của ba tôi.

Mẹ tôi buôn bán tảo tần dành dụm được vài chục cây vàng mang ra bán dần để đổ tiền vào khẩn hoang ruộng đồng, gần chục mẫu ở quê ngoại Hòa Quý và  5 mẫu ở quê nội Hòa Xuân. Hồi đó phải thuê người rà gỡ bom mìn rất tốn kém.
Các chú, các bác, các cậu tôi đang từ miền Bắc trở về hoặc từ trên núi xuống đang giữ các cương vị kha khá ở Đà Nẵng cũng như ở Hòa Vang, đến gợi ý tôi tham gia vào chính quyền mới như làm công an, cán bộ huyện, ngành du lịch…nhưng tôi đều từ chối. Tôi thích về quê làm nông với ba mẹ và em gái của tôi.

Khi nằm ở Sài Gòn, nhiều đêm nhớ lại những ngày tháng nông tang ở quê nhà mà lòng quặn thắt. Ước nguyện  của tôi là khi hòa bình lập lại nếu đường học dở dang thì sẽ về lại quê nhà vui thú với nghề nông mà trước đây chiến tranh khốc liệt đã làm cho đứt đoạn.

Nhưng làm nông khi tôi còn bé chỉ chạy theo làm những việc phụ thì nó vui vẻ và lãng mạn lắm. Bây giờ trở thành lao động chính thì nghề nông quả là rất nghiệt ngã với tôi. Không còn những đêm hè đầy sao và đom đóm, lũ trẻ chúng tôi chạy quanh sân vừa đạp lúa vừa chơi trò vật lộn, không còn những trưa hè nằm vắt vẻo trên chiếc võng treo dưới bóng râm nghe tiếng ve râm ran sau bửa cơm trưa giữa đồng, không còn chuyện tát nước đêm trăng rồi kéo nhau xuống mương tắm mát cùng ánh trăng….Đúng là hai lần không thể cùng tắm trên một giòng sông như triết gia gì đó của Hy Lạp đã nói.
Dù đã có thuê nhiều người làm, nhưng tôi cũng phải làm quần quật cùng ba mẹ và đứa em gái từ sáng sớm đến chiều tối. Thế nhưng sức trai hai mươi quá thừa năng lượng giúp tôi vượt qua và nhanh chóng thích nghi với công việc nặng nhọc.

6 giờ chiều đã ăn tối, nên tôi có một buồi tối rất dài. Tôi chong đèn dầu nằm đọc sách cả đêm. Những năm ở SG, lo học cấp tập rồi còn lo chuyện tranh đấu nên hầu như không có thì giờ đọc sách cũng như đầu óc  rãnh rỗi để tiếp thu được nội dung của sách. Thời đó hầu như tháng nào gia đình gởi tiền vào tôi đều đi mua sách. Sau đó đi dạy thêm có tiền cũng chỉ mua sách. Mua để đó hoặc liếc qua chứ chưa có thời giờ đọc. Sau ngày 30.4, trước khi về lại Đà Nẵng tôi đã đảo một vòng lề đường SG mua được rất nhiều sách quý với giá rẻ mạt. Sách nầy do đám hôi của lấy từ các gia đình quyền thế bỏ chạy mang ra bán sôn.

Bấy giờ ở quê nhà đêm thanh vắng, tôi lần lượt gặm nhấm một cách thích thú những gì tôi mang từ SG về. Các tác phẩm của Tolstoi, Dostoievski, Victor Hugo, Charles Dicken, Nieztche, Herman Hess…tôi đọc được từ dạo ấy. Mỗi tuần tôi lại tự cho mình được nghỉ một hai ngày. Khi ấy tôi chạy xe xuống Đà Nẵng mượn sách tại thư viện công đoàn nằm ở ngã tư Lê Lợi -Hùng Vương. Tôi làm thẻ thư viện và quen với cô phụ trách ở đó nên mỗi lần tôi mượn được hàng đống sách. Đó là các tác phẩm của Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp…và các sách về triết học Mác Lenin. Trong bốn tháng làm nông, tôi đã đọc say mê rất nhiều sách cũ và sách mới . Tôi tiếp thu chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử một cách nhanh chóng với niềm đam mê thích thú. Tôi là dân khoa học, hơn nữa năm lớp12, tôi là học sinh rất giỏi môn triết. Hồ Chí Minh và Trường Chinh tôi không thích lắm nhưng tôi rất thích Lê Duẩn. Cuốn “Dưới lá cờ vẻ vang…” của ông giúp tôi khai phá ra bao nhiêu điều về chủ nghĩa xã hội. Vì quá say mê Lê Duẩn nên sau nầy tôi nhanh chóng bị hụt hẫng bởi chính ông ta. Khi đó tôi đã đi dạy học được một năm, một lần tôi vớ cuốn  Stalin Tuyển tập trong thư viện nhà trường, đọc xong tôi ngỡ ngàng. Những gì Lê Duẩn viết đều gần như sao y từ Stalin, chỉ sửa lại đôi chữ cho phù hợp với Việt Nam. Ngay cả cái viết ra tưởng như từ sự xúc động chân thành tận đáy lòng là điếu văn đọc trước linh cửu HCM của Lê Duẩn cũng hao hao giống điếu văn của Staline đọc trước Lê nin. Không lâu sau đó, thần tượng Hồ Chí Minh cũng sụp đổ trong tôi khi tôi phát hiện ra tác giả Trần Dân Tiên ca ngợi bác Hồ hết lời trong tác phẩm “Những mẫu chuyện về cuộc đời hoạt động của bác Hồ” chính là Hồ Chí Minh. Trái tim hồn nhiên non trẻ của tôi bị một nhát đâm rướm máu.

 Hồi đó tôi không lăn xăn tham gia vào chính quyền không có nghĩa là tôi không yêu chính quyền mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng dần dần những chuyện như vậy, rồi qua sách vở, lẫn những chuyện trong thực tế về sau nầy, tình yêu ấy mòn dần trong tôi…Tôi và lý tưởng cộng sản, ai đã phản bội ai?

Tôi sống đời nhà nông bốn tháng, thu hoạch được một vụ mùa cả lúa lẫn sắn khoai cũng kha khá. Tôi từ một thư sinh trắng trẻo biến thành một anh nông dân thực thụ, thô kệch, ốm o và đen đúa. Mẹ tôi thương tôi quá, bảo: Con xuống Đà Nẵng tìm việc gì đó làm cho nhàn nhã. Làm nông như vậy là đủ rồi, không phải là nghề của con. Ba tôi cũng nói : Chẳng lẽ cho con ăn học nhiều như vậy mà bây giờ lại về làm nông hay sao.

Tôi biết vậy nhưng thật tình tôi không biết cái bằng cử nhân hóa học của tôi sẽ xin vào làm công việc gì vào thời đó ngoài những việc ở các cấp chính quyền, ở công an, thuế vụ, du lịch, quản lý thị trường…tôi vốn không hề thích thú. Cuối cùng tôi thấy nghề dạy học là có thể sử dụng được chuyên môn của mình, hơn nữa lại không dính líu gì nhiều đến chính trị, tôi đi tìm tới ty Giáo Dục QNĐN.

Tôi nộp hồ sơ xin dạy học ngay cho trưởng phòng tổ chức. Anh ta còn khá trẻ, lớn hơn tôi chừng vài tuổi, mặt mày đăm đăm trông rất “cán bộ Việt Cộng”. Anh đọc hồ sơ rồi nói:

– Lí lịch sao ghi đơn giản rứa.
Đúng vậy, lí lịch phần bản thân tôi chỉ ghi có mấy chữ:

  • 1952:  Sinh ra đời.
  • Từ 1957 đến 30.4. 1975: Đi học tại Hòa Vang, Đà Nẵng và Sài Gòn. 
  • Không làm gì cho ta và cho địch.
  • Từ tháng 5.75 đến tháng 9. 75:  Về quê làm ruộng.

Cán bộ hỏi:
– Hồi sinh viên không tham gia chi hết hay sao?
– Ừ, không tham chi hết, chỉ biết đi học.
Cán bộ Việt Cộng lại hỏi:
– Ở Đại học Khoa Học có biết Huỳnh Văn Xuân không?
Tôi trả lời ngay:
– Biết chứ. Nhưng không biết mặt chỉ nghe tên. Anh ấy là một trong những lãnh tụ nhóm sinh viên Bừng Sống có tiếng. Khi tôi vào học thì nhóm ấy bị tan rã. Một số bị bắt, một số chạy lên núi. Tôi nghe Huỳnh Văn Xuân chạy lên núi không biết bây giờ ra sao.
Cán bộ hỏi:
– Làm sao biết Huỳnh Văn Xuân?
– Báo chí công khai cũng như báo chí bí mật của sinh viên tranh đấu có nhắc đến anh ấy.
Anh ta cười nói:
– Huỳnh Văn Xuân là tui đây. Có nguyện vọng chi không?
Tôi nói:
– Đi dạy học thôi chứ nguyện vọng chi.
Huỳnh Văn Xuân nói:
– Không muốn ưu tiên chi à? Mà đồng chí còn trai trẻ, tôi cử lên dạy trường miền núi mới mở, có chịu không?
-Ư, thì được chứ sao.
Sau nầy đi làm báo gặp lại Huỳnh Văn Xuân ở Sài Gòn, khi ăn nhậu với nhau tôi chọc quê y:
– Ông tưởng lúc ấy đày tôi lên miền núi tôi buồn lắm sao. Bao năm rồi tôi thầm biết ơn ông mà không có dịp gặp lại để cám ơn. Ông đưa tôi vào đúng một một ổ giáo viên nữ trẻ đẹp, hoặc chưa chồng, hoặc chồng đi học tập. Các cô ấy hầu hết đều ở Đà Nẵng nên đi dạy xa nhà phải ở lại tập thể với tôi. Các cô đều sợ ma, đêm đến tối thui, đi đâu cũng đều bấu lấy tôi. Mà tôi thì còn trai trẻ chưa vợ …hì hì..

Đúng là những năm đi dạy học tuy có nghèo đói nhưng là những năm hạnh phúc nhất của tôi khi sống dưới chế độ Việt Cộng. Tôi được sống trong môi trường của những thầy cô giáo lưu dung trước 75, là những nhà giáo uy tín, giỏi chuyên môn, lịch lãm văn minh trong sinh hoạt, có tâm với học sinh. Họ là những trí thức tiểu tư sản thực thụ của thành thị miền Nam. Đó là những đồng nghiệp Nguyễn Văn Minh, Trần thị Quế Hương, Lê Mỹ Ý, Tống Viết Thụy, Tôn nữ Phương Tần, Thái Thị Mỹ Lý, Nguyễn Thị Tâm, Hồ Sỹ Thứ, Nguyễn Đình Sắt, Nguyễn Văn Gia, Đoàn Thị Ngọc Lan, Lê Thanh Xuân, Nguyễn Hoàng Thọ, Lê Thị Thanh, Hồ Điền, Phạm Hường, Phan Thanh Kế, Trần Thông, Trần Đại Tăng, Văn Công Liên, Phan Khắc Đồ…có người còn sống, có người đã chết mà hơn ba mươi năm qua tôi vẫn không quên.

Sau nầy tôi chuyển qua làm báo chẳng qua vì muốn tìm đường chuyển gia đình  vào Sài Gòn cho con cái lên đại học đỡ phải xa nhà chứ tôi không yêu thích chi nghề báo mấy.
Tôi vẫn yêu nghề giáo. Nhưng tôi biết bây giờ trở lại trường học, môi trường giáo dục không còn như xưa.

Hai lần không thể tắm cùng trên một giòng sông.

———————————————

Bà Yến: Tôi không phải ‘Quan làm báo’

BBC  (phong van) – thứ năm, 4 tháng 10, 2012

 

 BBC 

Bà Đặng Thị Hoàng Yến (phải) nói bà không ‘thân’ với lãnh đạo nào 

Cựu dân biểu Đặng Thị Hoàng Yến đã bác bỏ cáo buộc bà và em trai, Đại biểu Quốc hội Đặng Thành Tâm, có liên quan tới trang tin Quan làm báo.

Tin đồn này đã xuất hiện trên mạng internet trong khi mới đây hai nhân viên của tập đoàn Tân Tạo của gia đình họ Đặng đã bị bắt vì bị cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân” và “Chiếm đoạt tài liệu bí mật Nhà nước”.

Cả bà Yến và ông Tâm đều đã có thư ‘kêu cứu’ lên Bộ Chính trị về vụ bắt bớ nhân viên của họ.

Trong trả lời phỏng vấn BBC qua thư điện tử hôm 30/9 với tư cách Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Tân Tạo, trước hết bà Yến trả lời câu hỏi ‘bà có bình luận gì về các vụ bắt giữ’ (những chữ viết hoa toàn bộ là nguyên văn email trả lời của bà Yến, tựa đề phụ là của BBC).

Bà Đặng Thị Hoàng Yến: Có lẽ tôi không cần bình luận gì thêm vì chính bản thân sự việc nói lên tất cả.

Một cô nhân viên hành chính bị bắt cóc giữa đường bởi những người mặc thường phục tự xưng là an ninh, sau đó, cô này bị giam giữ ở đâu đó, nhưng đã buộc phải gọi điện cho cơ quan nói dối “bận việc không đến làm việc được”.

Tôi cũng có đọc trên các mạng xã hội nói rằng ai đó phát hiện ra ‘máy chủ’ của Quan làm báo ở nhà riêng của tôi ở bên Mỹ.  » Cựu dân biểu Đặng Thị Hoàng Yến
 
[Nên gọi là đại biểu quốc hội mới đúng. Phương cách ra ứng cử, việc làm của dân biểu, và đối tượng mà họ phục vụ khác hẳn với đại biểu quốc hội.  ĐBQH do đảng cử, người này đã được đảng lựa chọn từ trước, và đảng bắt buộc dân phải đi bầu cho có hình thức, ĐBQH chỉ đồng ý hợp thức hóa các việc làm mà đảng đề ra và chỉ đạo. TH ]

Rồi vào buổi chiều khi trường đại học đã về hết, hàng chục người mặc thường phục kéo đến lấy lí do “có virus độc hại phát tán từ máy tính”, dù KHÔNG đưa ra bất cứ giấy tờ chứng minh và cũng không hề giới thiệu danh tính, nhưng buộc bảo vệ cho vào văn phòng để khám xét và đe doạ những người có mặt: “KHÔNG được báo cho ai và phải giữ “bí mật”.

Chỉ sau khi tôi gửi đơn kêu cứu lên các cấp lãnh đạo cao nhất của Việt Nam thì một quyết định tạm giam của Bộ Công an đưa ra mà không hề được Viện kiểm sát phê chuẩn. Sau đó liên tục nhiều lần công an gọi điện doạ nạt gia đình KHÔNG được thuê luật sư bảo vệ!

Nếu quả thật cô nhân viên hành chính này có tội như họ đã công bố thì ai đó có phải cất công làm nhiều ‘thủ thuật’ như vậy không?

Đến ngày 20/9/2012, Phó Giám đốc Sinh viên vụ của Đại học Tân Tạo, trên đường đi làm về, tương tự, cũng bị hai người tự xưng là an ninh ép chặn giữa đường yêu cầu phải hợp tác và câu hỏi của những người này xoay quanh việc: Bà Chủ tịch Hội đồng Quản trị đang ở đâu, biết gì về bà này.

Chỉ đến khi anh này gọi điện cầu cứu thì hai người này mới bỏ đi…

Vậy thì, có cần phải bình luận không hay bất cứ một người dân bình thường nào cũng có câu trả lời cho trường hợp này?

KHÔNG PHẢI QUAN LÀM BÁO

BBCMột số blogger thậm chí có vẻ gợi ý rằng bà và ông Đặng Thành Tâm có liên quan tới blog Quan làm báo, bà nghĩ sao?

Tôi cũng có đọc trên các mạng xã hội nói rằng ai đó phát hiện ra ‘máy chủ’ của Quan làm báo ở nhà riêng của tôi ở bên Mỹ.

Có lẽ ai cũng biết, máy chủ của các Blog như Quan làm báo, Dân làm báo, anh Ba Dũng, 4Sang… đều sử dụng chung hệ thống máy chủ của Blogspot thuộc về Google.

Bản thân tôi trong thời gian vừa qua không ở tại nhà riêng vì đang chữa bệnh, các con tôi đều đi học xa, nhà riêng của tôi bỏ trống và không có ai ở.

Còn em trai tôi thì có lẽ năm năm nay không sử dụng máy ví tính mà chỉ làm việc bằng máy điện thoại Blackberry thì làm thế nào mà làm chủ Quan làm báo?

Quan điểm cá nhân tôi: ngay cả luật pháp Việt Nam cũng có quy định quyền cơ bản của con người là tự do ngôn luận, do vậy, nếu những trang mạng phản ánh không đúng thì các báo chính thống của Nhà nước có thể công khai tranh luận và Chính phủ có thể trả lời bằng hành động thực tế của mình.

Tôi tin rằng 90 triệu người dân yêu nước Việt Nam có đủ trí tuệ và tấm lòng để nhận thức được đúng sai, thật giả.

BBCCó một số nguồn tin cho rằng bà và em trai có quan hệ gần gũi với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và đang bị kẹt trong cuộc đấu đá quyền lực giữa ông Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, bà có thể bình luận về chuyện này không?

À, tôi có đọc trên mạng cho rằng tôi ‘thân’ với Thủ tướng mà! Còn em trai tôi, nếu nói là có quan hệ tốt với Chủ tịch nước thì có lý hơn.

Tôi nghĩ doanh nhân Việt Nam đóng góp rất lớn vào GDP, tới gần 50% và tạo ra trên 46 triệu trong tổng số 52 triệu việc làm của cả nước.

Riêng doanh nghiệp của chúng tôi, hai tập đoàn đã tạo hàng triệu công ăn việc làm, chỉ một công ty đã đứng thứ 129 trên hơn 600.000 doanh nghiệp trên cả nước về nộp thuế trong năm 2010, thu hút đầu tư nước ngoài chiếm trên 20% của cả nước trong năm 2011.

 

[Chúng tôi, các doanh nhân,] cũng chỉ như những cánh bèo mà thôi, bất cứ ai cũng có thể mang đi băm vụn ra vì hệ thống luật pháp chưa hoàn thiện và con người thực hiện lại cố tình không coi luật pháp tồn tại! »

Đặng Thị Hoàng Yến, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tân Tạo

Chúng tôi cũng là những tập đoàn duy nhất ngoài quốc doanh được thưởng nhiều huân chương Lao động hạng 3, 2 và hạng nhất, chiến sĩ thi đua, cờ của Thủ Tướng hàng chục năm.

Song thực tế hiện nay [chúng tôi] cũng chỉ như những cánh bèo mà thôi, bất cứ ai cũng có thể mang đi băm vụn ra vì hệ thống luật pháp chưa hoàn thiện và con người thực hiện lại cố tình không coi luật pháp tồn tại!

Đối với nhà đầu tư nuóc ngoài ít nhiều họ còn lo ngại bị phản ứng qua đường ngoại giao, còn các doanh nghiệp trong nước họ muốn cho sống được sống, muốn giết thì phải chết!

‘QUỐC HỘI THÍCH CỪU’

BBCBà có tiếc vì bị bãi nhiệm vị trí Đại biểu Quốc hội không? Theo bà, có động cơ chính trị nào trong việc bãi nhiệm bà hay không?

Có lẽ hối tiếc thì không! Nhưng tôi đã ‘NGỘ’ ra nhiều điều rằng: Dường như KHÔNG mấy ai cần người dám nói lên những bức xúc của người dân trong Quốc Hội, mà cũng không nhiều người muốn đấu tranh vì một Việt Nam tốt đẹp hơn.

Có lẽ tại nghị trường Việt Nam, người ta thích những con cừu hoặc có thể chấp nhận những ông bà Nghị mà câu phát biểu bao giờ cũng phải được bắt đầu bằng “Tôi hoàn toàn nhất trí với báo cáo” rồi sau đó, có thể phản biện vài ba khuyết điểm của tập thể, chẳng chết ai bao gìờ!

Hình như, người ta không chấp nhận những ông bà Nghị dám đấu tranh trực diện, điểm mặt, gọi tên bản chất của sự việc và càng không muốn có những tiếng nói trái chiều, những tiếng nói phản ánh nỗi bức xúc, nhức nhối của Người dân…

Việc bãi miễn tôi bởi những lý do mà bất cứ một con người có lương tri và khối óc nào cũng đều thấy nó không có thật, vậy thì việc bãi miễn đương nhiên phải để phục vụ lợi ích của ai đó hay của nhóm lợi ích nào đó.

BBCTrong thời gian làm Đại biểu Quốc hội ngắn ngủi, bà nghĩ mình đã làm được gì cho người dân?

Bà Yến nói Quốc hội Việt Nam ‘có lẽ chỉ thích những con cừu’ thay vì các đại biểu dám nghĩ và dám nói

Trong thời gian làm Đại biểu Quốc hội, tôi tự hào vì đã hoàn thành cao nhất vai trò của mình trong việc tham gia vào những chính sách vĩ mô, dám đấu tranh thẳng thắn vào những việc nổi cộm, gây nhiều bức xúc trong xã hội.

Chẳng hạn về vấn đề về thuế, tôi đã vạch ra việc thu thuế phí ở Việt Nam chiếm tới 28-32% GDP là cao nhất Khu vực làm kiệt sức dân và doanh nghiệp.

Ý kiến này đã được sự đồng tình ủng hộ của nhiều đại biểu và đã được Quốc Hội tiếp thu đưa vào giảm xuống trong những năm tới ở mức 22-23%/GDP.

Còn về vấn đề các công trình thủy lợi, tôi đã cảnh báo về hậu quả chất lượng quá kém và đầu tư không đồng bộ của trên 3.000 hồ thuỷ lợi, thuỷ điện trên khắp cả nước.

Thực tế sự cố đập thủy điện Sông Tranh 2 đã xảy ra.

Cá nhân tôi cũng đã đấu tranh tích cực cho sự bình đẳng của các thành phần kinh tế, đề đạt xoá bỏ sự độc quyền, ưu đãi của các doanh nghiệp nhà nước là cội nguồn của tham nhũng, thất thoát lớn làm suy kiệt sức dân và nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua.

Tôi cũng đã đề xuất cần xem xét lại định hướng phát triển kinh tế đất nước phải dựa vào thế mạnh hiện có đến 4,3 triệu ha đất trồng lúa là một đất nước xuất khẩu gạo đứng nhất, nhì thế giới hàng chục năm qua.

Cần phải bằng những chính sách vĩ mô thúc đẩy sản xuất và chế biến nông nghiệp chất lượng cao nói chung và sản xuất gạo xuất khẩu chất lượng cao nói riêng mà 90% giá trị gia tăng là ở trong nước.

Bà Yến nói bà đã làm được nhiều việc trong thời gian làm Đại biểu Quốc hội

Đặc biệt Việt Nam cần tham gia tích cực vào đảm bảo an ninh lương thực cho thế giới với gần một tỷ người còn đang bị đói là nỗi ám ảnh lớn trong thế kỷ 21, từ đó sẽ nâng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tôi cũng tâm đắc đã được đóng góp tích cực vào Luật giáo dục Đại học của Việt Nam. Tuy chưa hẳn đã đươc như mong muốn, song cũng có một bước tiến bộ lớn.

Ngoài ra, tôi cũng đã mạnh dạn cảnh báo về loại tội phạm ngân hàng và các nhóm lợi ích chi phối chính sách kinh tế vĩ mô, điều mà thời gian qua đã xảy ra và chính Thủ Tướng đã chỉ đạo phải làm rất kiên quyết.

Song có lẽ bản thân tôi đã phải gánh chịu hậu quả của chính những phát hiện, chất vấn này với ông thống đốc Nguyễn Văn Bình vào kỳ họp thứ 2 của Quốc Hội.

Đối với các cử tri nơi đã tín nhiệm bầu tôi, tuy chỉ mới có một năm ngắn ngủi, song có lẽ họ là những người hiểu rõ nhất những đóng góp của cá nhân tôi, có thể kể một vài ví dụ:

Hiến tặng toàn bộ tài sản xây dựng trường Đại học Tân Tạo đẹp nhất Việt Nam trên diện tích 103 ha. Đây là trường đại học theo tiêu chuẩn quốc tế, giảng dạy bằng tiếng Anh và phi lợi nhuận đúng nghĩa đầu tiên ở Việt Nam, thực hiện cấp học bổng 100% cho các sinh viên tài năng mà nghèo khó.

Hỗ trợ khám chữa bệnh miễn phí cho 4000 phụ nữ, tài trợ tiêm phòng Viêm Gan B cho 18500 trẻ em, tài trợ mổ tim dị tật bẩm sinh cho 500 em, tài trợ học bổng cho 2000 Hoa Trạng nguyên của đất nước….

Tài trợ Đề án trồng lúa gạo sạch theo tiêu chuẩn Global Gap đưa năng suất lúa tại vùng dự án trước đây chỉ đạt từ 3-4 tấn/ha nay đã qua hai vụ lúa luôn đạt 7 – 8 tấn/ha/vụ với giá trị dinh dưỡng cao, giúp người nông dân tăng thu nhập cao hơn so với thu nhập bình quân trước đây từ 10 – 20 triệu đồng/1 ha/vụ lúa.

Mô hình này đã được thí điểm thành công và hiện đang được nhân rộng tiến đến xây dựng thương hiệu gạo sạch của Việt Nam.

Đến nay dù không còn là đại biểu Quốc hội, tôi vẫn đang tiếp tục triển khai những gì mình đã làm.

‘BÓP NGHẸT TỰ DO DÂN CHỦ’

BBCVới tư cách là một doanh gia, bà nghĩ sao về các chính sách kinh tế hiện nay của chính phủ Việt Nam?

Không phải cá nhân tôi nghĩ sao mà thực tế hiện nay đã cho thấy nền kinh tế đất nước đang bộc lộ nhiều bất cập của các chính sách vĩ mô và ngay Chính phủ Việt Nam cũng đã phải nhìn nhận chính sách vĩ mô bị chi phối bởi nhóm lợi ích.

Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam so với các nước Asean thấp hơn, cho dù xuất phát điểm cao hơn nếu xét cho thời điểm năm năm qua.

Các tập đoàn Nhà nước làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng bộc lộ rõ nét nhất, điều chưa từng xảy ra trước đây.

 

Nếu tiếp tục định hướng doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo thì chắc chắn sẽ không phải chỉ có một Vinashin, Vinaline mà hầu hết các Tập đoàn Nhà nước sớm muộn cũng sẽ đổ bể và hậu quả có thể còn tồi tệ hơn Vinashin. 

» Cựu dân biểu Đặng Thị Hoàng Yến

Tuy nhiên nếu tiếp tục định hướng doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo thì chắc chắn sẽ không phải chỉ có một Vinashin, Vinaline mà hầu hết các Tập đoàn Nhà nước sớm muộn cũng sẽ đổ bể và hậu quả có thể còn tồi tệ hơn Vinashin.

Hệ thống Ngân hàng, tín dụng bị bóp méo và mô hình của Nước Nga từ mấy chục năm trước được Thống đốc Bình mang về áp đặt nguyên xi cho Việt Nam đã dẫn đến hậu quả nặng nề khiến hàng trăm ngàn doanh nghiệp phá sản.

Các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô bằng can thiệp hành chính như chính sách độc quyền vàng, hay sự tùy tiện xếp loại các ngân hàng thương mại cổ phần một cách không minh bạch, bị buộc thanh tra, giám sát đặc biệt, buộc sáp nhập tuỳ tiện theo sự chi phối của lợi ích nhóm đã không đạt được mục tiêu Chính phủ đề ra là củng cố hệ thống ngân hàng theo hướng chuẩn hóa quốc tế.

Đặc biệt việc bỏ ‘quên’ tái cấu trúc các ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm đến 60-70% thị phần cả nước với nợ xấu đúng chuẩn theo công bố của chính Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là 10% thì đã gần như mất hết vốn, thật sự tiềm ẩn rủi ro lớn cho nền kinh tế khi bị đổ bể.

BBCBà cũng hay có dịp ra nước ngoài, vậy bà thấy cái nhìn của người Việt và người nước ngoài về Việt Nam ra sao?

Bạn bè trong ngoài nước bày tỏ sự quan ngại sâu sắc đối với tình hình của Việt Nam hiện nay.

Xem ra, đất nước đang bị kéo lùi trở lại thời kỳ hành chính bao cấp, những quyền cơ bản của con người, quyền tự do dân chủ đang bị chi phối và bị bóp nghẹt và nhân dân đang bị nghèo hơn đi cả về đời sống vật chất và tinh thần.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Ngân hàng Việt Nam có thể phải khai phá sản và phải nhờ Quỹ Tiền Tệ Quốc tế cứu trợ (5-10-2012)

Posted by hoangtran204 trên 05/10/2012

 

Đọc tiếp »

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Hỏi chuyện Nguyễn Chí Thiện

Posted by hoangtran204 trên 05/10/2012

 

Hỏi chuyện Nguyễn Chí Thiện

Phương Tây chiều thứ Bảy

Việt Mercury, 24/8/01

Hoàng Hải Thủy

Nguyễn Chí Thiện và tôi ở gần nhau, trong Virginia, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, hai thị trấn ở quanh Washington D.C.. Hai năm vừa qua,1999-2000, Nguyễn Chí Thiện sống ở Pháp, ba tháng hè anh về Mỹ sống với ông anh H.Ọ. Có thể tháng Mười năm nay, 2001, anh sẽ sang sống một năm ở Ðức. Mỗi lần Thiện về Mỹ chúng tôi đều gặp nhau. Tất nhiên chúng tôi có trao đổi với nhau về chuyện văn nghệ nhưng đây là lần thứ nhất chúng tôi nói chuyện tay đôi qua điện thoại cả hai, ba tiếng đồng hồ về những chuyện đời tư, chuyện thơ văn, chuyện sáng tác. Tôi hỏi, Thiện trả lời. Tôi viết lại những lời Thiện nói.

H.Mười năm trước khi anh đến Hoa Kỳ, anh cho là kiếp này anh không được thấy phương Tây, anh đành chờ kiếp sau. Ðến hôm nay anh đã sống năm, sáu năm ở phương Tây, anh thấy phương Tây thế nào, anh cho biết đôi chút về cuộc sống của anh ở phương Tây, phương Tây có đáng để anh mơ ước đến sống không, anh có thấy thương nhớ quê hương không? Anh có thấy tiếc đã bỏ nước ra đi không? Những gì trong cuộc sống của anh ở phương Tây làm anh hài lòng, có gì làm anh thất vọng, bất mãn?

Ð. Từ ngày mới lớn những hình ảnh của phương Tây, sông Seine, vườn Luxembourg, thành phố Cựu Kim Sơn… đã hấp dẫn tôi. Tôi muốn được thấy tận mắt những cảnh ấy. Năm 1995 tôi rời quê hương sang phương Tây, sau sáu năm tôi thấy phương Tây không thích hợp với những người có tuổi, nhiều bệnh, như tôi. Khi đã thấy phương Tây tôi không còn thích nó nữạ Phương Tây chỉ tốt khi ta du học, du lịch, phương Tây không phải là nơi để tôi sống vĩnh viễn.

Ở các nước phương Tây khoa học, kỹ thuật phát triển, nhân dân có đời sống vật chất cao, được hưởng nhiều quyền tự do nhưng cùng lúc tội ác cũng gia tăng, bạo loạn không ngừng, an ninh của người dân không được bảo đảm, người phương Tây có thể bị chết đột ngột ở nơi làm việc, trong trường học, trong cả nhà thờ, đời sống tinh thần sa sút, số người chán đời càng ngày càng nhiều; thống kê cho thấy năm 2000 có 12,000 người tự tử ở Pháp.

Sống ở phương Tây tôi không phải lo về cơm áo, như những người cùng tuổi, tôi phải sống cô đơn. Tôi không tiếc đã bỏ nước ra đi vì tôi ra đi với ý định tôi sẽ làm ở nước ngoài một số công việc tôi nghĩ có ích cho nhân dân, cho tổ quốc, những viêc tôi không thể làm khi tôi sống trong nước. Có xa mới thấy nhớ. Sáu năm rồi, tôi rất nhớ Hà Nội, Hải Phòng, tôi nhớ Sài Gòn dù tôi chỉ sống ở Sài Gòn ít ngày. Tôi rất mong có ngày tôi được trở về quê hương.

H. Từ ngày sang Hoa Kỳ anh có làm bài thơ nào không? Nếu có anh có thể cho bạn đọc thưởng thức một vài bài thơ mới làm ở hải ngoại của anh không? Nếu không có bài thơ nào mới anh có thể cho biết tại sao lại không?

Ð. Tôi ngừng làm thơ từ năm 1988 khi tôi ở trại tù B 14, thường gọi là Sà-lim Bộ, ở Hà đông. Từ năm đó tôi dành thì giờ và trí óc vào việc học cho thuộc lòng thật kỹ những bài thơ tôi đã làm, sửa chữa, hoàn chỉnh những bài thơ đó. Cho đến năm 1988 tôi đã làm khoảng 700 bài thơ. Thơ Tù quanh quẩn ở mấy đề tài cùm kẹp, đói khổ, khoai sắn, bệnh hoạn chết chóc, tôi đã làm thơ về tất cả những đề tài đó. Với tôi, đề tài tù đày đã cạn kiệt.

Ðời sống ở xứ người chưa thâm nhập trong tôi đủ để tôi có cảm xúc làm thơ. Từ ngày sang Hoa Kỳ tôi chỉ làm hai bài thơ; bài thứ nhất tôi làm ở San Jose năm 1995, mấy tháng sau ngày tôi đặt chân lên đất Hoa Kỳ, khi tôi gặp ở đó bà con gái cụ Vũ Thế Hùng, một tù nhân chính trị đồng tù với tôi. Cụ Hùng có mang vào tù mấy tấm ảnh gia đình, trong số có ảnh cô con của cụ . Trong tù buồn không có việc gì làm, mỗi lần cụ Hùng nhớ gia đình lấy ảnh ra xem, mấy anh tù trẻ xúm lại xin xem ké. Khi đến San Jose tôi gặp người tôi đã nhìn thấy trong ảnh mười mấy năm xưa ở Nhà Hỏa Lò, năm 1995 bà con gái cụ Hùng khoảng 50 tuổi. Nhớ lại khi ở trong tù nhìn thấy ảnh bà chụp năm bà 16, 17 tuổi, tôi làm bài thơ:

Bóng hồng dương thế

Có người con gái mắt bồ câu

Lưu lạc, ly hương từ thưở xuân thì

Ðất Mỹ

Trời Âu

Xa lắm!

Nơi rừng sâu

Người cha rầu rầu

Thường mang ảnh con mình ra ngắm

Ðêm tù

Âm khí âm u

Mấy chàng trai mắt trũng, chân phù

Thờ thẫn cầm nàng trong tay

Cầm cả mùa xuân hạnh phúc

Bóng hồng dương thế xa baỵ

Ðây là bài thơ thứ hai tôi làm ở Hoa Kỳ, năm 1995:

Hồng van

Bao lâu rồi, có thấy gì đâu

Anh thôi đợi, nhưng cà-phê nguội đắng

Anh ngồi lặng, nhìn ra phố vắng

Làm bận lòng em, anh biết lỗi từ lâu

Buổi gặp em như một phép nhiệm mầu

Lòng anh, cảnh trời Ðông bảng lảng

Em hiện ra, thành mượt mà hè sáng

Tưng bừng huyết phượng nở ngàn bông

Nhưng thời gian không hơi ấm tình nồng

Hoa phượng đỏ thâm bầm tiết động

Trời Ðông về, ảm đạm, mênh mông

Lãng đãng bay xa, xa mãi, vết mây hồng

H. Xin anh kể vài chuyện chung quanh vụ anh vào Tòa Ðại Sứ Anh ở Hà nội gửi gấm bản thảo Hoa Ðịa Ngục. Tại sao anh chọn vào Tòa Ðại Sứ Anh mà không chọn vào Tòa Ðại Sứ Pháp?

Ð.Tôi đã kể chuyện này năm 1995 khi tôi mới sang Hoa Kỳ, nay tôi kể lại. Tôi vẫn có ý định vào Tòa Ðại Sứ Pháp gửi tập thơ nhờ họ mang đi, nhưng Tòa Ðại Sứ Pháp có cái sân rộng bên trong, lại có nhiều người làm trong đó là người Việt. Phần lớn những người này làm việc cho công an. Tôi khó vượt qua được khoảng sân rộng để vào tòa nhà mà không bị ngăn chặn. Tối ngày 13 tháng Bảy năm ấy, năm 1979, Tòa Ðại Sứ Pháp mở liên hoan chiêu đãi nhân Ngày 14 Juillet, tôi định lợi dụng lúc quan khách ngoại giao đoàn đến dự liên hoan, khi họ xuống xe tôi trà trộn vào họ để chạy vào sứ quán, hy vọng có quan khách ngoại quốc bọn công an sẽ không dám làm dữ. Tối ấy tôi dắt tập thơ trong bụng, đến nơi thấy không thể vào được vì xe hơi không đậu ở ngoài đường mà đi thẳng vào trong sân. Tôi chuyển ý định sang Sứ Quán Anh. Tòa Ðại Sứ Anh có sân trước nhỏ hơn, chỉ năm bẩy bước từ cổng là vào đến nhà. Cổng có một tên công an đứng gác. Sáng ngày 16 tháng Bảy tôi đi uống cà-phê với anh cháu con bà chị tôi, nó biết tôi sắp liều mạng vào Tòa Ðại Sứ Anh. Khi chia tay tôi bảo nó đi làm đi, mặc cậu, tôi đi bộ đến Tòa Ðại Sứ Anh, khi đi tôi lấy dáng bộ tự nhiên, không trông ngang trông ngửa, không quay nhìn lại đằng sau, nên cháu tôi vẫn dắt xe đạp lẽo đẽo đi theo tôi mà tôi không biết. Từ vỉa hè nhìn vào thấy sứ quán mở cửa, trong cửa có cái bình phong che. Tôi tưởng vào đó là tôi gặp ngay nhân viên người Anh của sứ quán, thấy tên công an gác cửa không nhìn ngó tôi chạy luôn vào. Nhưng vào sau bình phong tôi thấy một căn phòng rộng, có cái bàn lớn kê ở giữa phòng, có ba tên người Việt, hai đàn ông, một phụ nữ, ngồi ở bàn, tôi thấy cánh cửa phòng bọc da đỏ . Vì tấm bình phong che tôi không thấy ba người Việt này, nếu thấy họ tôi đã không chạy vào. Thấy tôi, một tên hỏi: “Ðồng chí có chuyện gì?”. Tôi nói tôi là nhân viên Bộ Ngoại Giao, có việc sang gặp ông đại sứ. Y hỏi giấy đâu, làm gì có giấy, tôi nói tôi vẫn gặp ông đại sứ luôn, cứ cho tôi gặp ông ấy. Thấy bại lộ, tôi tạt sang một bên, thấy cái phòng nhỏ không có cửa, loại phòng tiếng Pháp là boudoir, trong có một phụ nữ Anh rất trẻ, chỉ ngoài 20, đang đứng chải tóc. Tôi nói tiếng Anh với cô: “Xin cô cứu tôi…” Cô ngạc nhiên nhìn tôi, sợ hãi, tôi nói: “Tôi là người lương thiện, tôi không hại cô, xin cô giúp tôi…” Khi ấy một trong hai tên đàn ông chạy ra ngoài báo động, mụ đàn bà nhào đến ôm tôi, tôi lên gối vào bụng mụ, mụ ngã lăn ra, tôi nhẩy tới lấy hết sức lật cái bàn. Bàn đổ, những đồ vật trên bàn rơi xuống loảng xoảng. Cánh cửa phòng bọc da đỏ mở ra, ba người Anh từ trong phòng bước ra. Tôi nói: “Tôi có tài liệu quan trọng gửi quí ông, xin cho tôi vào phòng…”

Tôi lọt ngay vào phòng làm việc đó. Vào phòng, tôi rút vội tập thơ dắt trong bụng ra, để xuống chân tường sau cánh cửa, để khi cửa mở người nhìn vào sẽ không thấy tập thơ. Ba người Anh trở vào phòng, hai người trẻ tuổi, một ông trạc 40, họ đóng cửa lại. Về sau tôi được biết ông trung niên ấy là vị đại biện lâm thời tòa đại sứ. Tôi nói với ba ông tôi là tù chính trị, tôi có tập thơ nhờ các ông mang về Luân Ðôn, xin đừng đưa nó cho bất cứ người Việt nào ở trong nước. Tôi lấy tập thơ đưa cho ông trung niên. Rồi tôi hỏi các ông có thể cho tôi tị nạn trong tòa đại sứ được không? Ông đại biện nói không được, bên ngoài công an đã vây kín tòa đại sứ. Tôi lại đề nghị cho tôi ngồi trong xe hơi từ trong tòa đại sứ chạy ra, đến chỗ nào đó tôi sẽ nhẩy xuống, ông đại diện cũng nói không thể được. Tôi lấy bịch thuốc vấn của tôi ra lấy một điếu hút. Lúc ấy tôi có cái bật lửa Zippo đã mất nắp, tôi phải bọc nylon cho xăng khỏi bay. Mấy ông nhìn ngây cái bật lửa quái dị của tôi. Tôi nói nhờ các ông mang tác phẩm của tôi về Anh, trao cho tổ chức người Việt chống cộng ở bên ấỵ Ông đại biện bảo tôi viết tên tuổi, địa chỉ, để lại.

Khi tôi cám ơn và từ biệt, tôi bắt tay ba ông, ông đại biện bắt tay tôi bằng cả hai tay, tôi thấy mắt ông có ánh thán phục. Vừa ra khỏi cổng tôi bị hai công an nắm cổ đi luôn, họ đưa tôi lên xe hơi, chở tôi vào thẳng Hỏa Lò. Dù tôi có ngồi xe hơi sứ quán chạy ra cũng không thoát được.

Vào Hỏa Lò tôi bị thẩm vấn ngay. Tôi khai tôi chạy vào sứ quán xin tị nạn, bọn công an trong sứ quán nghe được câu tôi nói lúc đầu với ba người Anh là tôi có tài liệu quan trọng muốn đưa, nên họ vặn hỏi tôi đưa tài liệu gì vào Sứ Quán Anh. Tôi nói tiếng Anh của tôi loại giả cầy, tôi nói tôi có chuyện quan trọng muốn nói chứ tôi có nói tài liệu gì đâu. Những ngày đầu bọn thẩm vấn rất ngọt với tôi, chúng nói “Anh có đưa tài liệu gì cứ nói, chúng ta sẽ lấy lại tài liệu đó cho tổ quốc không bị thiệt hại, chúng tôi hứa sẽ trả tự do cho anh ngay.” Tôi vẫn nói tôi không có đưa tài liệu gì cả .

Mấy tháng sau đó tôi chờ đợi tin tác phẩm của tôi được xuất bản ở hải ngoại, nếu được xuất bản, bọn công an sẽ biết, chúng sẽ hành tội tôi ngay. Ruột tôi như có lửa đốt mà hết tháng này sang tháng khác, không thấy có gì mới cả . Tôi vẫn bị gọi ra khai cung nhưng chỉ toàn là hỏi những chuyện vớ vẩn. Mãi đến 16 tháng sau, tháng Mười, 1980, lần ấy ra làm việc tôi được đưa vào một phòng lớn, trong có ba bốn tên công an bự chờ sẵn, tôi hồi hộp biết là có chuyện mới. Lần này họ cho tôi thấy trang thư tiếng Pháp tôi viết trên đầu tập thơ. Lúc ấy tôi biết tác phẩm Hoa Ðịa Ngục của tôi đã được xuất bản, và đến lúc ấy tôi mới nhận tôi vào Sứ Quán Anh là để trao cho nhân viên sứ quán tập thơ ấy. Sự việc sau đó diễn ra như tôi đã kể .

Tôi sang Anh Quốc nhiều lần, lần nào tôi cũng đến thăm trụ sở Pen International ở Luân Ðôn. Gặp tôi, những ông bà Văn Bút Anh đều nói họ xấu hổ vì nhân viên sứ quán của họ năm 1979 đã không bảo vệ tôi, đã không cho tôi được tị nạn trong tòa đại sứ. Tôi có tìm, và nhờ tìm, ba vị nhân viên sứ quán Anh năm xưa, nhất là ông đại biện, để tôi được cám ơn các ông, nhưng Bộ Ngoại Giao Anh từ chối không tiết lộ danh tính, địa chỉ của ba ông….

Vì năng lực hạn chế, tôi làm thơ rất vất vả, mất nhiều công sức, thời gian. Làm xong mỗi bài thơ phải sửa chữa rất nhiều. Tập thơ này tôi làm từ năm 1978 tới năm 1988, được hơn 400 bài.

Năm 1988 vì quá yếu tôi không làm thơ nữa, dành thì giờ để học thuộc. Ngày nào tôi cũng đọc lại trong đầu trọn vẹn hơn 400 bài. Cứ đọc như thế trong gần 1,000 ngày, tôi thuộc làu làu như một cuộn băng. Có những ngày mưa rét, vừa nhẩm đọc, vừa ứa nước mắt, lưng dựa vào tường, người run rẩy.

Tới cuối năm 1990 tôi từ trại Thanh Liệt chuyển đi Ba Sao. Lúc đó tôi bị bệnh đau đầu, không nhẩm đọc thơ nữa. Tôi cũng chủ quan cho rằng thuộc đến thế, thời không thể quên nổi.

Tháng Mười, 1991, tôi được tha. Về nhà, định chép thơ ra giấy rồi dấu đi, tôi thấy quên gần hết. Thì ra đầu óc tôi không còn như trước nữa, suy yếu nhiều. Tôi phải mất hơn một năm trời nằm vặn óc ra mới nhớ lại được hơn 300 bài. Còn độ 100 bài thì không thể nhớ nổi. Ngưng trích.

http://www.angelfire.com/zine2/risingsun/Literature/hoanghaithuy_NgChiThien.html

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Đề nghị QUỐC HỮU HÓA ngân hàng mất sạch vốn do ‘nợ khủng’

Posted by hoangtran204 trên 05/10/2012

Tình hình tài chánh của các ngân hàng VN đang nguy ngập. Chỉ cần một ngân hàng sập, là các ngân hàng khác phải sụp đổ theo. Chỉ cần 5000 người rút tiền và vàng ra khỏi ngân hàng như vào ngày 23-8-2012 khi nghe tin Bầu Kiên bị công an bắt, là hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ rơi vào khủng hoãng,  nhà Sản sẽ đi bán muối, dân Việt Nam sẽ thoát khỏi chế độ nhà Sản kéo dài 58 năm qua.

Cơ quan đánh giá tín dụng MOODY  nói rằng, tín dụng VN trong 4 năm qua tăng 4 lần! Điều này có nghĩa là chính phủ VN đã tung tiền mặt (gấp 4 lần lượng tiền đồng VN lưu hành vào năm 2008) vào thị trường để mua vàng (coi link dưới, ai mua 35 tấn vàng trong năm 2011?), mua đô la do Việt kiều gởi về ( trung bình mỗi quý 3 tháng, Việt kiều đã và đang gởi về 2 tỷ đô la (nguồn) (và đây). Hậu quả  la`  làm cho lạm phát gia tăng, vật giá lên cao khủng khiếp…

Trong lúc các ngân hàng cho các đại gia vay mượn tiền mua bất động sản để chờ giá lên bán kiếm lời, nhưng không may vì kinh tế bị khủng hoảng (2007- nay), nên giá bất động sản xuống. Kết quả các đại gia không có tiền trả nợ cho ngân hàng, ngân hàng cụt vốn, phải đi vay mượn tiền, vàng, đô la của dân chúng…

Cùng lúc, vì muốn chiếm đoạt một số ngân hàng tư nhân để  giao  cho gia đình và những tay chân thân cận nắm giữ và dẹp bỏ một số ngân hàng nhỏ khác vì nhà Sản e rằng không kiểm soát được; cách này cũng giống như dẹp bỏ Mặt Trận GP Miền Nam hồi 1976 “sau khi đã làm xong nhiệm vụ lịch sử”. Bên cạnh đó, nhà Sản xưa nay nổi tiếng nhờ chính sách nhất quán: Dùng xong là phải bỏ hoặc giết đi, không thể chia chác chức vụ và chiến lợi phẩm. Ai mà không biết sự xuất hiện của các ngân hàng nhỏ của tư nhân đã giúp tháo khoán nhiều vấn nạn tài chánh, tín dụng trong giai đoạn hệ thống ngân hàng nhà nước còn yếu kém 1994-2007, nay tiền đô do Việt kiều gởi về quá nhiều, các chương trình do ngoại quốc cho vay rót vào quá nhiều, nhà Sản cần phải độc quyền hưởng hết số ngoại tệ này, không thể chia chác bớt khách cho các ngân hàng nhỏ của tư nhân. Thế là nhà Sản đòi hỏi các ngân hàng phải tăng vốn điều lệ từ 1000 tỷ lên 3000 tỷ trong một thời hạn rất ngắn.

Ngân hàng bèn tranh nhau dụ dân gởi tiền và hứa trả tiền lời cao trên 14% để có tiền nộp vốn điều lệ và chi trả các thứ thua lỗ, cạn vốn do cho vay mà không đòi được nợ .

 Hiện nay ngân hàng ngắt ngoải vì phải trả tiền lời cho dân, phải trả tiền lương cho công nhân viên, trả tiền lời cho các ngân hàng khác (vi du: ngân hàng ACB bỏ 770 tỷ đồng vào ngân hàng Eximbank để kiếm lời, kết quả mới đây ông Trần Xuân Giá chủ tịch HĐQT ACB bị truy tố) , và trả tiền lời cho các vụ đầu tư bất động sản bị thua lỗ. 

Năm trước, nhiều ngân hàng huy động (mượn) vàng của dân để bán lấy tiền góp vào vốn theo điều lệ của chính phủ tăng vốn từ 1000 tỷ lên 3000 tỷ.  Lúc mượn, giá vàng còn rẻ, khoảng 40 triệu, nay giá vàng cao 48 triệu đồng 1 lượng. Nếu dân đi đòi vàng, là ngân hàng cũng sụp đổ vì không có tiền mua vàng trả lại cho người dân đã gởi hồi năm ngoái.  

“Ví dụ  ngân hàng ACB. Họ đang âm gần 1 triệu lượng vàng, nếu dân cùng lúc vào lấy ra, hoặc ACB bị thanh lý tài sản, thì họ tìm đâu ra HƠN 1 TỈ USD mua vàng về trả cho dân?

http://cafef.vn/20111014014936834CA34/ai-da-mua-30-tan-vang-thang-qua.chn
“…Tính đến ngày 7-10-2011 số dư huy động vàng của ACB là 930.000 lượng (tương đương 35 tấn), nhưng vàng tồn quỹ chỉ có 137.000 lương…”

Đề nghị quốc hữu hóa ngân hàng mất sạch vốn do ‘nợ khủng’

04/10/2012   Vietstock.vn

“Đồng ý là không thể để xảy ra đổ vỡ ngân hàng. Nhưng nếu tiếp tục công bố là không để ai mất tiền gửi ngân hàng thì không khác gì NHTM được nhà nước bảo kê. Nói nôm na, ngân hàng thương mại bắt nền kinh tế này làm con tin” – TS Trần Du Lịch, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thẳng thắn.

Phương án hợp lý để giải quyết, theo ông Trần Du Lịch, là phải quốc hữu hóa những ngân hàng có hệ số vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản dưới 8%, mà nợ xấu lên tới trên 10%, tức là đã mất hết vốn.

Phản ứng trước chỉ số giá cả (CPI) tháng 9 vừa được Tổng cục Thống kê công bố tuần trước, TS Vũ Đình Ánh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính) thốt lên: “Không phải là lạm phát cao có dấu hiệu quay trở lại, mà thực sự là đã quay trở lại rồi”. Chia sẻ quan điểm với ông Vũ Đình Ánh, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia Vũ Viết Ngoạn cũng bình luận: “CPI tháng 9 lên tới 2,2% cho thấy việc điều hành chính sách vẫn bị động theo diễn biến mà không chủ động điều hành bám theo lạm phát mục tiêu”.

Ngay trong Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng có một số ý kiến thẳng thắn cho rằng, trong các báo cáo của mình, Chính phủ vẫn nhận định nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao là do cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng chưa hợp lý, do nới lỏng chính sách tài khóa, tiền tệ trong nhiều năm… Tuy nhiên, trong vài năm qua cũng với các nguyên nhân này mà lạm phát có năm rất cao, nhưng có năm lại thấp (?).

Bất chấp việc người phát ngôn của Chính phủ – Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam – luôn luôn khẳng định “điều hành chính sách của Chính phủ sẽ không giật cục theo kiểu thấy lạm phát giảm thì lại kích cầu, rồi lại lạm phát cao…”, tại một hội nghị vừa được Viện Kinh tế Việt Nam tổ chức gần đây, nhiều nhà kinh tế đã đưa ra những ví dụ rất cụ thể cho thấy nỗi lo về sự “phập phù”, thiếu nhất quán trong các chính sách kinh tế vĩ mô không phải là không có cơ sở.

Ghi nhận một số chủ trương điều hành năm 2012 là tốt, nhưng không được thực hiện rốt ráo, TS. Lê Đình Ân, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – Xã hội phát biểu: “Thật không thể hiểu nổi khi tranh luận mãi mà giá xăng dầu, giá điện vẫn không thống nhất được, không minh bạch được. Rồi việc phân loại ngân hàng thương mại theo nhóm kèm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng có đề ra là thực hiện 6 tháng sẽ rút kinh nghiệm nhưng sau 6 tháng cũng chả thấy rút ra điều gì, mà ngân hàng nào xin bao nhiêu cho bấy nhiêu”. Về nợ xấu, ông Ân nhận xét: “Tư duy xử lý là không nhất quán. Lúc bảo nhà nước có trách nhiệm xử lý nợ xấu, lúc bảo ngân hàng tự phải trả”.

TS Trần Du Lịch, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội còn sử dụng hình tượng mạnh mẽ hơn nữa khi bàn về nợ xấu: “Đồng ý là không thể để xảy ra đổ vỡ ngân hàng. Nhưng nếu tiếp tục công bố là không để ai mất tiền gửi ngân hàng thì không khác gì ngân hàng thương mại được nhà nước bảo kê. Nói nôm na, ngân hàng thương mại bắt nền kinh tế này làm con tin”.

Phương án hợp lý hơn, theo ông Trần Du Lịch, là phải quốc hữu hóa những ngân hàng có hệ số vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản dưới 8%, mà nợ xấu lên tới trên 10%, tức là đã mất hết vốn. Ông cũng đề nghị Quốc hội giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 25% hiện nay xuống còn 20% và bù đắp khoản hụt thu bằng cách cắt giảm 10% chi thường xuyên trong năm 2013 so với năm 2012 (ngoại trừ tiền lương và chi an sinh xã hội). TS Lịch ví von, việc này giống như khi nồi cơm vơi thì cả nhà cần bớt ăn đi một chút chứ không thể bắt những đứa con đang yếu mệt phải làm việc vất vả hơn, đóng góp nhiều hơn.

Để giải quyết căn cơ kiểu chính sách ăn đong, nhiều chuyên gia có chung đề nghị không chỉ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho riêng năm 2013 mà nên xây dựng kế hoạch tổng thể cho cả ba năm tới. Song điều đáng nói là đâu phải các cơ quan hoạch định chính sách không nhận thức được điều này! Bảo vệ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm do Bộ mình chủ trì xây dựng trước các nhà lập pháp, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh từng khẳng định, một trong những cải cách đột phá đáng kể nhất chính là việc sẽ phân giao vốn theo kế hoạch trung hạn (thay vì làm hàng năm như hiện nay), giúp cho chuyện phân bổ vốn minh bạch hơn, tránh được năm nào biết năm ấy cũng như cơ chế xin – cho. Cơ chế này sẽ khiến cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư có vẻ như “chẳng còn quyền hành gì”, nhưng ngành vẫn quyết tâm làm, nhằm khắc phục tình trạng đầu tư công dàn trải, kém hiệu quả hiện nay.

Có lẽ vấn đề là ở chỗ, muốn lập được kế hoạch dài hơi như vậy một cách đúng đắn, để có thể thực hiện nhất quán mà không phải nay sửa, mai đổi thì phải dự báo được khá sát tình hình, đồng thời chuẩn bị được các phương án ứng phó với mọi tình huống.

Khổ thay, đây vẫn là gót chân Asin của Việt Nam!

 Bình An

DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP

http://vietstock.vn/2012/10/de-nghi-quoc-huu-hoa-ngan-hang-mat-sach-von-do-no-khung-757-241781.htm

—————–

Phần tin dưới đây TH  ”vay” từ Dr.Tran

Hàng mấy chục ngân hàng, tổ chức tín dụng nay đang cần mỗi nơi bạc tỉ USD mới kéo tổng tài sản lên ZERO. Nay họ đang ÂM mỗi nơi bạc tỉ USD. 

Ví dụ ACB. Họ đang âm gần 1 triệu lượng vàng, nếu dân cùng lúc vào lấy ra, hoặc ACB bị thanh lý tài sản, thì họ tìm đâu ra HƠN 1 TỈ USD mua vàng về trả cho dần?

http://cafef.vn/20111014014936834CA3…-thang-qua.chn
“…Tính đến ngày 7-10-2011 số dư huy động vàng của ACB là 930.000 lượng (tương đương 35 tấn), nhưng vàng tồn quỹ chỉ có 137.000 lương…”

Giá vàng VN, do tính bằng tael, cao hơn giá thế giới 20% tính bằng troy ounces. Hiện nay giá vàng thế giới là 1790 USD/ ounce, như vậy 1 tael vàng VN giá 2150 USD. 

Chỉ tính con số thâm hụt trên đây, từ năm ngoái, thì ACB bị thâm hụt 793.000 taels x 2150 USD/ tael = 1 tỉ 704 triệu 950 ngàn USD. 

Việc này, chúng tôi ghi ra hồi… năm ngoái: 
http://dudoankinhte.wordpress.com/20…g-tra-cho-dan/

————-

Thị trường chứng khoán Việt Nam  đang  te tua vì giá các cổ phiếu nay chỉ còn vài trăm đồng Việt Nam

(Phần tin dưới đây TH  “vay” từ Dr.Tran)

VN-index đêm nay (5-10-2012) sẽ lại lập kỷ lục… rẻ tiền, thấp nhất trong lịch sử kể từ ngày phát hành năm 2005. 

Ban biên tập báo Quân đội Nhân dân hẳn phải khóc ròng vì thua tiền và vì xấu hổ cho bài viết này: 

Một cách “đánh” vào niềm tin?

11-9-2011

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61…9/Default.aspx

“…Thị trường chứng khoán trong tuần qua đã sôi động trở lại. VN-Index đóng cửa phiên giao dịch cuối tuần (ngày 11-9-2011) tăng 6,66 điểm (+1,47%) lên 459,92 điểm…

Cũng phải nói thêm rằng, thị trường chứng khoán là thị trường cao cấp nhất trong các loại thị trường (thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học-công nghệ…); là nơi các doanh nghiệp thu hút nguồn vốn trung, dài hạn của xã hội để có kế hoạch đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, giảm bớt sự lệ thuộc vào nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại (thường phục vụ chủ yếu cho nhu cầu ngắn hạn)Đây còn được coi là hàn thử biểu của nền kinh tế, bởi nó đo lường và báo hiệu xu hướng phát triển của nền kinh tế…

Sự khởi sắc của chứng khoán báo hiệu những gì khó khăn nhất của nền kinh tế đã đi qua. Điều này trái với nhận định của một số người cho rằng “Kinh tế Việt Nam sắp sập”.

Như vậy, những “dự đoán” của những người tự xưng là “các nhà khoa học trẻ” thực chất chỉ là “võ đoán”, xuyên tạc sự thật. Cần cảnh giác với những dự báo như vậy.

Phú Quý, Một cách “đánh” vào niềm tin?, Báo Quân Đội Nhân Dân 11-9-2011, http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/2/97/97/160229/Default.aspx

Hôm qua, 4-10-2012, khi đóng cửa

VN- index  11/9/2011: 459 điểm
                       1/10/2012: 384 điểm 

Sụt: 16,34%. 
LẠM PHÁT: ít nhất 20%. 
Tổng giá trị bị mất, sau khi tính lạm phát: Ít nhất 36,34%. 

Anh Phú Quý ơi, ai nghe lời anh, bỏ tiền vào TTCK, thì mất béng ÍT NHẤT 36,34% tiền rồi! 

Đó là chưa kể phí giao dịch, và nếu mượn tiền đánh margin thì mất hết tiền rồi, do bỏ vô 1, mượn 5, 7, 10 đánh CK, thành ra giá sụt 16,34% thì thua đứt vốn từ lâu!

Và đó là chưa tính OPPORTUNITY COST, vì nếu đem đầu tư đúng chỗ, sinh lời cao hơn lạm phát, thì 100 đô la khi đó (9-9-2011), nay  lên thành 105 đô la (sau khi trừ lạm phát), thay vì chỉ còn vỏn vẹn 64 đô la!

…Báo Quân đội Nhân dân có đủ can đảm, tính khí anh hùng mã thượng, đăng bài XIN LỖI BẠN ĐỌC hay không?

Ai cũng biết câu trả lời ra sao rồi.

———————

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/553711/No-cong-thanh-dai-hoa-neu…-tpp.html

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

►CÔNG AN ĐỘT NHẬP VĂN PHÒNG VIETNAMCREDIT…

Posted by hoangtran204 trên 04/10/2012

Giám đốc cty là Lê Đình Quản, em trai LS Lê Quốc Quân, bị bắt. “Nhân viên bàng hoàng khi nghe một người trong toán nói thầm [để toàn thế giới nghe?]là có liên quan đến quanlambao“. (abs)

 An ninh bao vây, cướp phá công ty gia đình LS Lê Quốc Quân (DLB).  – Em trai LS Lê Quốc Quân bị An ninh cho đứng sau Quan Làm Báo(Cầu Nhật Tân).

CÔNG AN ĐỘT NHẬP VĂN PHÒNG VIETNAMCREDIT – KHỐNG CHẾ NHÂN VIÊN THU GIỮ NHIỀU TÀI LIỆU DỮ LIỆU CÔNG TY

http://lequocquan.blogspot.com

Sáng sớm ngày 3/10/2012, đúng khi Mooddy’s hạ điểm tín nhiệm ngân hàng Việt Nam, một toán người mặc thường phục và cả sắc phục công an đã đột ngột xông vào văn phòng công ty Thông tin tín nhiệm và Xếp hạng Doanh nghiệp Việt Nam (VietnamCredit) của Doanh nhân Lê Đình Quản (là em trai Luật sư Lê Quốc Quân) khống chế toàn bộ nhân viên, bắt ngồi im và chiếm đoạt toàn bộ tài sản, gồm hồ sơ, đĩa CD và dữliệu của công ty.

Gần 30 nhân viên ở Văn phòng Hà Nội đã phản ứng và yêu cầu xuất trình giấy tờ nhưng họ vẫn áp đảo làm việc khi chưa lệnh. Công ty VietnamCredit là công ty chuyên về thông tin tín nhiệm và xếp hạng doanh nghiệp. Đây là ngành kinh doanh thuộc kinh tế tri thức mới, chuyên cung cấp thông tin tín nhiệm cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Công ty cũng đã lần đầu tiên đưa ra chỉ số tín nhiêm Việt Nam (VietnamCredit) và “xếp hạng không tham vấn” một loạt ngân hàngở Việt Nam. Ý tưởng này sau đó đã bị công ty CRV sử dụng và đưa ra cuộc xếp hạng đình đám gần đây ngay trong văn phòng chủ tịch nước. 

Sau khi giám đốc phản ứng thì bị hành hung và đưa đi ra ngoài để cho nhóm người lục lọi giấy tờ, sau đó công an đã đưa giám đốc Lê Đình Quản về nhà. Rất đông công an đã ập vào nhà khống chế và lấy đi một số CD là tài sản riêng của gia đình. 

Cùng lúc đó công an đã ập vào văn phòng đại diện của VietnamCredit tại TP.HCM do ông Lê Quốc Quyết làm trưởng đại diện (với hơn 10 nhân viên) . Công an cũng khống chế một số nhân viên còn lại đuổi ra khỏi văn phòng và tiến hành lục lọi, thu giữ giấy tờ, tài liệu, đĩa CD và ổ máy tính. Ông Lê Quốc Quyết hôm xét xử 3 bloggers cũng đã bị bắt giữ chỉ vì ngồi uống cafe gần tòa án và mặc áo “T do cho người yêu nước”. Cho đến giờ ông Lê Quốc Quyết và bà nhân viên là  Nguyễn Thị Tâm Nhung vẫn đang bị công an trong Sài Gòn tạm giữ

Không có lệnh bắt giám đốc, bây giờ anh Lê Đình Quản vẫn đang bình an cùng với gia đình. Ông Lê Đình Quản là một doanh nhân bình thường không quan tâm đến chính trị. Công ty ông có gần 50 nhân viên đều học về phân tích tài chính và có trình độ cao, làm ăn minh bạch, đóng thuế nhiều cho nhà nước. Tuy nhiên gần đây công ty ông  liên tục bị các cơ quan công an, thuế, thanh tra…gây khó dễ, đe dọa nhân viên. Nhưng Ông Quản luôn tin tưởng rằng cá nhân ông và Công ty không làm gì sai pháp luật cả. 

Tổng cộng các cơ quan chính quyền cả an ninh, cảnh sát, dân phòng đã thu giữ 15 bì tải và 8 thùng các tông tài liệu cùng 20 chiếc máy tính để bàn của 20 nhân viên ở Văn phòng Sài gòn.

Ở Hà nội công an cưỡng đoạt chiếm 8 bì tải toàn bộ tài liệu, dữ liệu và hồ sơ của công ty. Đây là sự xâm phạm cực kỳ nghiêm trọng pháp luật Vietnam. Có phải chăng cuộc chiến giữa các phe phái đang gay cấn và có thể cuối cùng các doanh nghiệp vô tội sẽ bị kéo vào cuộc chơi của các lực lượng?

Liệu việc khống chế và cướp bóc tài liệu này có liên quan đến việc đấu đá phe nhóm và vụ bắt các ông trùm ngân hàng gần đây không ?. Mặt khác, trong khi khống chế thì có nhân viên nghe một người trong nhóm nói là vì liên quan đến “quanlambao” hay vì lý do là em trai của Luật sư bất đồng chính kiến Lê Quốc Quân 

Vậy thực chất vấn đề ở đây là gì ? Công luận và những người yêu chuộng pháp quyền, và tin vào công lý đang cần có câu trả lời cụ thể vì không thể để việc này làm ảnh hưởng đến các nhà đầu tư nước ngoài đang hằng ngày sử dụng dịch vụ của công ty VietnamCredit ?

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục : Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua đời, thọ 73 tuổi

Posted by hoangtran204 trên 03/10/2012

QUẬN CAM, CA 2-10 (NV) – Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục, vừa qua đời lúc 7 giờ 17 phút sáng Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012, tại một bệnh viện ở thành phố Santa Ana, quận Cam, California, thọ 73 tuổi.

 

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (bên phải) gặp dịch giả Huỳnh Sanh Thông (bên trái) tại thành phố New Haven, Connecticut, hồi Tháng Tư 2005. (Hình: Quang Phu Van – Vietnam Literature Project)

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vào bệnh viện vào sáng sớm ngày 26 Tháng Chín, 2012. Tại đây, bệnh viện điều trị chứng nhiễm trùng đường phổi nhưng ông vẫn thấy đau ở ngực. Một số xét nghiệm cả về tim mạch, chụp phim và lấy mẫu phổi (biopsy) truy tìm ung thư cũng đã được thực hiện.

Tuy nhiên, cho đến sáng ngày Thứ Hai, 1 Tháng Mười 2012 thì bệnh trở nặng. Mười giờ sáng Thứ Hai, Linh Mục Cao Phương Kỷ đã làm các nghi thức cần thiết để ông trở thành một tín đồ Công Giáo theo ước nguyện trước sự chứng kiến của ông bà Bác Sĩ Trần Văn Cảo, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Trang, bà Lâm Thiên Hương, nhà văn Trần Phong Vũ.

Nhà văn Trần Phong Vũ, người kề cận, chăm sóc nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong những ngày ở bệnh viện, đã vuốt mắt cho nhà thơ sau khi ông qua đời.

Người anh của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đáp máy bay từ Virginia tới Quận Cam sáng nay cũng không kịp gặp mặt em trước khi mất.

* Người tù 27 năm

Ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội. Ông có một người anh là sĩ quan cao cấp VNCH đang ở sống ở tiểu bang Virginia, hai người chị ở Việt Nam.

Ông bị tù cộng sản tổng cộng 27 năm qua nhiều nhà tù miền Bắc, đặc biệt là nhà tù nổi tiếng Cổng Trời. Lần ra khỏi tù sau cùng của ông là ngày 28 Tháng Mười 1991.

Khi ông chạy vào Tòa Ðại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội đưa tập thơ và xin tị nạn chính trị, viên chức tòa đại sứ chỉ nhận tập thơ để chuyển ra ngoại quốc và cho biết họ không giúp ông tỵ nạn chính trị được. Bước ra khỏi trụ sở Tòa Ðại Sứ Anh thì ông bị công an CSVN bắt giữ liền.

Nhờ sự can thiệp đặc biệt của nhiều nhân vật quốc tế, ông đã được chế độ Hà Nội thả cho đi Mỹ định cư Tháng Giêng 1995.

Ông đã đem kinh nghiệm về chế độ Cộng Sản, kinh nghiệm tù đày trình bày với các cộng đồng người Việt khắp nơi từ Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và Úc Châu.

Tập thơ Hoa Ðịa Ngục đã được dịch ra Anh, Pháp, Ðức và Hòa Lan ngữ.

Sau khi đến Mỹ, năm 2001 ông cho xuất bản tập truyện Hỏa Lò. Tập truyện Hai Chuyện Tù được ông xuất bản năm 2008.

Ông Nguyễn Chí Thiện từng gặp cha Chính Vinh, cha Nguyễn Văn Lý trong nhà tù CSVN.

Nhân cách và cái chết của cha Chính Vinh tại nhà tù Cổng Trời (tỉnh Hà Giang) được nhiều người viết hồi ký kể lại trong đó có ông Kiều Duy Vĩnh. Ông Vĩnh là một trong rất ít người thoát chết trở về sau nhiều năm bị giam ở trại Cổng Trời, mới qua đời hồi Tháng Bảy vừa qua và cũng đã chịu các phép bí tích để trở thành tín đồ Công Giáo.

Những kỷ niệm cũng như nhân cách của cha Chính Vinh, Linh Mục Lý đã gây ấn tượng sâu sắc thúc đẩy nhà thơ Nguyễn Chí Thiện chọn đức tin Công Giáo và lấy tên thánh là Thomas More.

Tác giả Hoa Địa Ngục

Vào năm 1980, người ta thấy xuất hiện ở hải ngoại một tập thơ không có tên tác giả, xuất bản bởi “Ủy Ban Tranh Ðấu cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam”. Tập thơ mang tựa đề “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” mà tác giả là “Ngục sĩ” hay khuyết danh. Ít tuần lễ sau, tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong đưa ra một ấn bản cùng một nội dung nhưng với tựa đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”.

Tựa đề tập thơ Hoa Ðịa Ngục có từ khi Yale Center for International & Area Studies ấn hành bản Anh ngữ Flowers From Hell do ông Huỳnh Sanh Thông dịch. Sau người ta mới biết tác giả tập thơ là Nguyễn Chí Thiện.

Những bài thơ của ông trong tập Hoa Ðịa Ngục gây xúc động sâu xa trong tâm thức người đọc về cái đói, sự đày đọa ác độc, sự gian ác của chế độ Cộng Sản đối với con người.

Tập thơ thoát ra khỏi Việt Nam khi nhà thơ lén lút mang tới Tòa Ðại Sứ Anh tại Hà Nội và được Giáo Sư Patrick J. Honey thuộc đại học London sang Việt Nam Tháng Bảy năm 1979 và mang về. Kèm trong tập thơ 400 trang viết tay này là lá thư mở đầu với lời ngỏ:

“Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Ðó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm.” (TN)

ĐÀN BÒ SỮA Nguyễn Chí Thiện Truyện ngắn
Đôi môi nồng nàn Nguyễn Chí Thiện Truyện ngắn
Một Lựa Chọn Nguyễn Chí Thiện Truyện ngắn
Những Bài Ca Cách Mạng Nguyễn Chí Thiện Truyện ngắn
Sương Buồn Ôm Kín Non Sông Nguyễn Chí Thiện Truyện ngắn
Trăng Nước Sông Hồng Nguyễn Chí Thiện Truyện ngắn

Hoa Ðịa Ngục

http://thongtinberlin.de/tailieu/hoadianguc.htm

—————————————————————————

Nguyễn Chí Thiện trong “Đêm giữa ban ngày”

Vũ Thư Hiên: Người bạn tù thân thiết của tôi, anh Nguyễn Chí Thiện đã trút hơi thở cuối cùng lúc 7 g 17 phút sáng ngày 2 tháng 10 – 2012, ở xa quê hương mà từng phút từng giây anh hướng về. Chúng tôi có với nhau nhiều kỷ niệm, của đời tù cũng như của cuộc sống ngoài đất nước. Anh là nhà thơ bất khuất của “phe nước mắt” (chữ của nhà thơ Dương Tường). Khóc bạn, tôi chia sẻ vài dòng hồi ức về anh để các bạn hiểu thêm về con người đáng kính, và hơn nữa, đáng yêu này.

—————————————-

Cán bộ giáo dục trại tên Bưởi cũng nương nhẹ đối với những người cộng sản Trung Quốc thuộc “vụ Quảng Ninh”.

– Họ giữ tư cách đàng hoàng lắm – Bưởi nhận xét – Đáng phục.

– Căn cứ tuổi họ thì đây là những người đã tham gia giải phóng Trung Quốc. – tôi nói – Vào thời gian đó chỉ những người có tư cách mới lãnh đạo được quần chúng.

Những người cộng sản này đến Việt Nam bằng con đường khá vòng vèo. Khoảng đầu thập niên 60, tôi không còn nhớ rõ năm nào, vùng Hoa Nam bị lâm vào một nạn đói cực kỳ khủng khiếp. Người chết đầy đường. Dân đói ùn ùn kéo đi Hồng Kông, nghe nói cả triệu người. Chính quyền Trung Hoa lục địa không tài nào ngăn nổi một cuộc di dân ồ ạt như thế. Nó không thể xảy ra nếu không được những người dày kinh nghiệm đấu tranh lãnh đạo. Chính những người cộng sản địa phương đã tổ chức cuộc chạy trốn ấy. Chính quyền Hồng Kông giam dân di tản lại rồi báo cho Bắc Kinh biết. Bắc Kinh tuyên bố: “Không hề có chuyện các công dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bỏ chạy tới Hồng Kông”. Đảo quốc Đài Loan giang tay đón những đứa con đói khát của tổ quốc, nhưng không phải chỉ vì tình thương, mà còn vì những mục đích chính trị – họ nghĩ tới những đội biệt kích rồi đây sẽ được phái về “giải phóng tổ quốc”. Những người cộng sản được lọc ra, được huấn luyện, rồi được bỏ lên những con thuyền buồm, nhằm hướng Hoa lục. Không hiểu la bàn hỏng, thuyền trưởng tồi, hay vì những trục trặc nào khác, nhưng họ lại cập bến Quảng Ninh sau một cơn bão, tưởng mình đã ở trên đất đai của tổ tiên.

Tôi hỏi một cựu bí thư huyện ủy (huyện của Trung Quốc to bằng tỉnh của ta):

– Anh thất vọng về chủ nghĩa cộng sản, và chống lại nó?

– Đâu có. Tôi vẫn thích chủ nghĩa cộng sản. Tôi vẫn tin chỉ có nó mới mang lại cho chúng tôi công bằng và hạnh phúc.

– Thế mà anh đã ra đi khỏi nơi đang xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Tại sao?

– Mao Trạch Đông không phải cộng sản. Tôi có trách nhiệm trước dân chúng mà tôi lãnh đạo. Họ đói. Đã có những người chết. Chủ nghĩa cộng sản thì xa. Nồi cơm gần hơn.

Anh Nguyễn Chí Thiện, một tù nhân có thâm niên đáng kính, một nhà thơ được ưu ái trong tầng lớp trí thức của xã hội tù, bĩu môi:

– Các anh nói thối bỏ mẹ: “trách nhiệm trước dân chúng mà tôi lãnh đạo”. Dân chúng chẳng cần tới sự lãnh đạo của các anh. Vì các anh dân mới đói. Vì các anh dân Trung Quốc mới thân tàn ma dại.

Ông bí thư huyện, anh hùng lao động nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhìn Thiện, nín lặng.

Những người cộng sản Trung Quốc sống trong nhà tù Việt Nam như khách. Họ chỉ quan tâm tới tình hình Việt Nam trong chừng mực những gì liên quan tới họ. Ngoại giả, họ mặc. Là tù đấy, nhưng họ không quỵ lụy cán bộ trại, cũng không hòa nhập với cộng đồng tù Việt. Cán bộ có quát nạt họ cũng giả vờ điếc, không nghe thấy, không hiểu. Thỉnh thoảng hứng lên họ hát đồng ca những bài hát cách mạng của Trung Quốc, như bài “Xì lai!” mà chúng tôi cũng biết. Hoặc “Quốc tế ca”. Nhưng không bao giờ họ hát bài “Đông phương hồng” . mặt trời lên. Trung Hoa chúng ta có Mao Trạch Đông!”.

– Nạn đói là kinh niên đối với một nước như Trung Quốc. – tôi nói với Thiện – Không phải những người cộng sản là nguyên nhân duy nhất. Thời Tưởng, tôi biết, nạn đói còn xảy ra nhiều hơn. Hãy nhớ lại bọn Tàu phù sang ta năm 1945. Không phải chỉ đói, mà còn man rợ nữa…
Thiện trợn mắt nhìn tôi. Anh không thích một câu đế ngang xương như thế. Với anh, cộng sản là xấu, là tồi tệ, là kinh tởm, chấm hết. Không một cái gì của cộng sản có thể là tốt. Cái cách tôi đánh đồng loạt chính quyền Thưởng Giới Thạch với chính quyền Mao Trạch Đông như thế là không được. Không hiểu sao anh vẫn chấp nhận tôi như một ngoại lệ.

Nguyễn Chí Thiện làm nhiều thơ. Chiều chiều chúng tôi tụ họp nhau ở sau trại ngắm hoàng hôn, uống trà và nghe thơ. Nhìn cảnh những Kiều Duy Vĩnh, Nguyễn Chí Thiện, Lê Trình, Văn Thợ Mộc, Phổ Gián điệp, Tôn Thất Tần… kẻ đứng người ngồi trong ráng chiều bàng bạc của một vùng rừng núi âm u bắt đầu ngả sang màu tím, tôi nhớ tới bức tranh nổi tiếng Những Người Tháng Chạp trong cảnh lưu đầy ở Sibir thời Sa hoàng.

Những bài thơ của Nguyễn Chí Thiện không hợp với tạng tôi. Thơ của anh trần trụi, bỗ bã, nói thẳng vào vấn đề, mà tôi thì lại thích thơ gợi, thơ kích thích trí tưởng tượng, thứ thơ cho phép người đọc được tham gia thêm vào cái đã có sẵn trong bài thơ, câu thơ, một chút tâm hồn mình. Nhưng cũng có bài của anh đọng lại trong trí nhớ:

Không có chỗ trên con tàu Trái đất
Tôi là người hành khách bơ vơ.
Lỡ chuyến, lầm ga, mất cắp, bây giờ
Tôi ủ rũ trên sàn toa lạnh ngắt,
Cái toa đen dành cho súc vật.

hoặc:

Người xưa ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Rồi cúi đầu thương nhớ cố hương…
Còn tôi đây ngẩng đầu nhìn nhện chăng tơ vướng
Rồi cúi đầu nhặt hạt cơm vương…

Cao lênh khênh giữa các bạn tù, Nguyễn Chí Thiện nhìn đời qua cặp kính trắng mà đàng sau chúng là cặp mắt lồi ngơ ngác. Bộ quần áo trại phát, dự tính cho người tù có chiều cao trung bình, quá cũn cỡn trên người anh, làm thò đôi cẳng chân khẳng khiu ra ngoài. Thiện không bao giờ đi dép, tứ thời anh diện đôi guốc mộc tự đẽo, làm anh cao thêm mấy phân nữa. Thiện không phải là người tù bướng bỉnh, chống đối bất cứ ai, vào bất cứ lúc nào. Anh còn thuộc loại hiền lành nữa là khác. Có vẻ lúc nào anh cũng ngơ ngác, cũng ngạc nhiên trước cuộc đời bụi bặm và uế tạp. Anh ghê tởm nó, nhưng cũng không có ý định dọn dẹp nó hay sửa chữa nó. Nói tóm lại, anh chẳng gây sự với cán bộ trại giam. Nhưng đó là một người tù không thể bẻ gãy. Tinh thần bất khuất trong những người tù không biểu hiện ở thái độ ngang tàng mà ở thái độ bất cần, thái độ khinh mạn.

Có lần đi lao động về tôi thấy Nguyễn Chí Thiện đã bị khóa cánh tiên ngoài cổng trại. Trông anh như bộ xương người trong giờ học cách trí – lồng ngực ưỡn ra nhìn rõ từng rẻ sườn. Nhìn thấy tôi Thiện mặt đỏ gay còn cố mỉm cười thay lời chào.

Trình Hàng Vải thì thào với tôi:

– Chúng nó bắt được mấy bài thơ của Thiện.

Những người tù số lẻ lặng lẽ đi ngang bạn mình đang bị hành hạ. Mặt họ đanh lại. Tôi nghĩ: chỉ cần nhìn thấy cảnh này chứ không cần nếm nó người dân cũng khó mà yêu được chế độ.

Kiều Duy Vĩnh đánh giá cao cái ngoại lệ mà người tù chống cộng đến cùng dành cho tôi:

– Thiện nó tin anh lắm đấy! Mà cũng trọng anh lắm đấy! Nếu không nó chẳng đọc thơ cho anh nghe đâu.

Tôi hiểu Kiều Duy Vĩnh quý tôi. Trong cái sự trọng tôi của Nguyễn Chí Thiện có ảnh hưởng tình cảm của Kiều Duy Vĩnh dành cho tôi. Nhưng không có Kiều Duy Vĩnh thì Nguyễn Chí Thiện cũng vẫn tin tôi không làm ăng-ten. Những người tù trí thức khác cũng tin như vậy.

Nguyễn Chí Thiện có trọng tôi hay không là chuyện không quan trọng. Trong tù tôi học được cách sống tự tại, mặc kệ người ta nghĩ về mình thế nào. Tôi mãi mãi vẫn là tôi, không phụ thuộc vào sự đánh giá của bất kỳ ai.

Trích từ “Đêm giữa ban ngày”/ Facebook Vũ Thư Hiên

————————————————————————–

Nhà thơ “ngục sĩ” Nguyễn Chí Thiện từ trần

RFA

2012-10-02

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, được mệnh danh “Ngục sĩ”, nhà thơ phản kháng nổi tiếng nhất của Việt Nam, vừa từ trần tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ lúc 7 giờ 17 phút sáng ngày 2/10/2012, hưởng thọ 73 tuổi.

 

Courtesy VietAmReview

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và tác phẩm “Hoa Địa Ngục”. 

Ông sinh ngày 27 tháng 2 năm 1939 tại Hà Nội, học hành và sinh sống ở Hà Nội, Hà Nam, Hải phòng với song thân phụ mẫu và một người chị.

Ông từng bị chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà bắt giam từ năm 1961, vì tội “phản tuyên truyền” bằng những bài thơ phê phán chế độ. Được trả tự do vào tháng 11 năm 1964, đến tháng 2-1966 ông lại bị tống giam đến tháng 7-1977. Ông viết lại bằng tay tập thơ “Hoa địa ngục” sáng tác và ghi nhớ trong tù.

Tháng 7-1979, ông đem đưa được tác phẩm này vào bên trong toà đại sứ Anh. Ông không đi tị nạn ở Anh và bị bắt ngay trước cổng toà đại sứ, bị tống giam thêm 12 năm, với chế độ giam giữ khắc nghiệt hơn hết so với những khoảng thời gian bị giam cầm trước đó.

Tập thơ “Hoa địa ngục” từ toà đại sứ Anh ở Hà Nội được chuyển tới giáo sư Patrick Honey (1925-2005) dạy tại đại học Luân đôn. Sau đó thơ ông được phổ biến trên báo chí, sách vở của người Việt hải ngoại, được dịch và xuất bản bằng Anh, Pháp, Việt ngữ. Năm 1985 ông được tặng thưởng khiếm diện giải thưởng thơ quốc tế tại Rotterdam.

Từ năm 1981 Tổ chức Ân xá Quốc tế Amnesty International, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch và Tổ chức nhân quyền Quê Mẹ cùng phát động chiến dịch kêu gọi quốc tế can thiệp với nhà cầm quyền Việt Nam về trường hợp của ông.

Suốt thời gian đó ông bị giam tại Hoả Lò, Hà Nội, đến năm 1985 bị đưa đi biệt giam giữa rừng, kiệt sức và gần chết đói. Năm 1990 ông được đưa tới trại tù Ba Sao săn sóc thuốc men, và được trả tự do vào tháng 10 năm 1991.

Được anh ruột bảo lãnh sang Hoa Kỳ từ năm 1995, ông ghi lại và phổ biến tập “Hoa địa ngục” thứ nhì, gồm những bài ông sáng tác và ghi nhớ trong thời gian cầm tù sau . GS Nguyễn Ngọc Bích dịch tác phẩm nay sang Anh ngữ và xuất bản song ngữ. Ông viết tự truyện bằng Anh ngữ, được đại học Hawaii xuất bản trong “Beyond Works: Asian Writers on Their Works.”

Thi sĩ “ngục sĩ” Nguyễn Chí Thiện được giải thưởng của Hội Nhà văn Quốc tế vào năm 1998. Ông sang Pháp, ở lại đó 3 năm để viết “Hoả Lò tập truyện”. Tác phẩm được dịch sang Anh ngữ, đại học Yale xuất bản năm 2007.

Nhà thơ cư ngụ tại quân Cam California từ năm 2004, phải phấn đấu thường xuyên với những di chứng bệnh tật trong suốt 27 năm tù ngục, nhưng vẫn đi nhiều nơi để nói chuyện về kế hoạch dân chủ hoá Việt Nam.

Ông là một người độc thân, mất đi trong sự săn sóc của bạn bè thân hữu và những cuộc thăm viếng của những đồng bào Việt Nam ái mộ thơ văn của ông, ngưỡng mộ ý chí bất khuất của ông trước chế độ cộng sản của Nhà nước Việt Nam Xã hội Chủ Nghĩa.

Nguồn: RFA

———————————-

Tác giả Hoa Địa Ngục qua đời

Ngọc Lan, thông tín viên RFA
2012-10-02

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ nổi tiếng Hoa Ðịa Ngục, vừa qua đời lúc 7 giờ 17 phút sáng Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012, tại một bệnh viện ở thành phố Santa Ana, quận Cam, California, thọ 73 tuổi.

Photo courtesy of chinhnghiaCố nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (giữa)
 

 

Ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội. Ông bị tù cộng sản tổng cộng 27 năm. Lần ra khỏi tù sau cùng của ông là ngày 28 Tháng Mười 1991.

Năm 1979, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện mang tập thơ tới Tòa Ðại Sứ Anh tại Hà Nội xin tị nạn chính trị. Nhưng viên chức tòa đại sứ chỉ nhận tập thơ để chuyển ra ngoại quốc. Kèm trong tập thơ 400 trang viết tay này là lá thư mở đầu với lời ngỏ:

“Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Ðó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm.”

Vào năm 1980, “Ủy Ban Tranh Ðấu cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam” xuất bản tập thơ mang tựa đề “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” mà tác giả được ghi là là “Ngục sĩ” hay khuyết danh. Ít tuần lễ sau, tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong đưa ra một ấn bản cùng một nội dung nhưng với tựa đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”.

Tựa đề tập thơ Hoa Ðịa Ngục có từ khi Yale Center for International & Area Studies ấn hành bản Anh ngữ Flowers From Hell do ông Huỳnh Sanh Thông dịch. Sau người ta mới biết tác giả tập thơ là Nguyễn Chí Thiện.

Nhà thơ đã bị công an Việt Nam bắt giữ ngay sau khi ra khỏi tòa đại sứ. Nhờ sự can thiệp đặc biệt của nhiều nhân vật quốc tế, ông đã được chế độ Hà Nội thả cho đi Mỹ định cư Tháng Giêng 1995.

Thông tín viên Ngọc Lan của đài Á Châu Tự Do đã có cuộc phỏng vấn nhà văn Trần Phong Vũ, người kề cận, chăm sóc nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong những ngày ở bệnh viện, về sự ra đi của nhà thơ.

Ngọc Lan: Được biết nhà văn Trần Phong Vũ là người đã ở bên cạnh nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong những ngày vừa qua, xin chú cho biết về tình trạng hiện tại của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện.

Nhà văn Trần Phong Vũ: Tôi rất lấy làm đau buồn để thưa rằng giây phút này thì người bạn của cộng đồng Việt Nam tị nạn, người bạn riêng của cá nhân tôi cũng như một số anh em quý mến, anh Nguyễn Chí Thiện đã ra đi thực sự vào lúc 17 giờ 17 phút sáng hôm nay. Cá nhân tôi sau khi trao đổi với bác sĩ mấy lời trước khi vội vã ra xe chạy lên đây nhưng tôi vẫn không kịp gặp anh lần cuối. Nhưng anh vẫn còn mở mắt. Tôi đưa tay vuốt mắt anh thì anh  khép mắt lại. Đấy là niềm đau chung cho tất cả mọi người. Đó là điều chúng tôi muốn được thông báo đến tất cả quý vị thính giả, đặc biệt đến những anh em từng có quen biết với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện.

Ngọc Lan: Là người ở bên cạnh nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong những ngày cuối đời của ông, xin chú tóm tắt lại diễn biến tình trạng sức khỏe cũng như những ý nguyện của nhà thơ trong thời gian vừa rồi.

Nhà văn Trần Phong Vũ: Thực sự nhà thơ Nguyễn Chí Thiện là một người rất gan dạ, can trường về nhiều mặt, ngay cả cái chết đối với anh cũng coi thường. Ở anh có một sự quyết liệt, kể cả sự quyết liệt trong những ngày cuối. Khi mà Thứ Tư tuần vừa qua khi anh được đưa vào cấp cứu ở trong này, thì anh gọi tôi vào và nhắc nhở với tôi vài điều là anh muốn được theo về với đạo Công Giáo. Anh nhắc tới cha Nguyễn Văn Lý là người đã dạy cho anh rất nhiều những bài học về giáo lý. Về người mà anh kính phục nhất là cha Chính Vinh là một linh mục đã bị chết ở trong nhà tù Cổng Trời. Anh cũng nhắc tới người bạn thân thiết của anh là anh Kiều Duy Vĩnh, người cùng ở tù với anh một thời gian, cũng là người đi trước anh theo về với niềm tin Công Giáo. Tâm nguyện của anh đã được thực hiện khi mà cách đây mấy ngày, theo yêu cầu của anh, Linh Mục Cao Phương Kỷ, linh hướng của Diễn Dàn Giáo Dân, đã tới để cử hành nghi thức bí tích cho anh và xức dầu lần cuối cho anh.

Ngọc Lan: Là một người bạn của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, chú có suy nghĩ như thế nào về con người nhà thơ Nguyễn Chí Thiện?

Trần Phong Vũ: Những suy nghĩ của tôi về Nguyễn Chí Thiện có lẽ đã gói ghém đầy đủ trong hai bài tôi viết vào những giây phút, những năm tháng mà anh bị người ta dùng những lời lẽ để mạt sát, miệt thị anh, tôi đã thẳng thắng trình bày những suy nghĩ của tôi rồi. Riêng trong giây phút này, tôi chỉ muốn nói một điều thôi: anh tên Nguyễn Chí Thiện, tôi nghĩ anh đã không hổ với song thân anh khi các ngài đã đặt cái tên đó cho anh. Anh là người chí thiện. Sáng hôm nay, tôi có nhắc lại điều này trước các bạn hữu của tôi và nói rằng: xin anh nếu hồn thiêng của anh còn phảng phất đâu đó và được Thiên Chúa đưa về với Người thì xin anh dạy cho chúng tôi bài học sống lương thiện như anh, sống ngay thẳng tròn đầy như anh với con người bởi vì anh đã sống trọn vẹn cái ân tình của người yêu thương trọn đời.

———————————————

Hỏi chuyện Nguyễn Chí Thiện

Phương Tây chiều thứ Bảy

Việt Mercury, 24/8/01

Hoàng Hải Thủy

Nguyễn Chí Thiện và tôi ở gần nhau, trong Virginia, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, hai thị trấn ở quanh Washington D.C.. Hai năm vừa qua,1999-2000, Nguyễn Chí Thiện sống ở Pháp, ba tháng hè anh về Mỹ sống với ông anh H.Ọ. Có thể tháng Mười năm nay, 2001, anh sẽ sang sống một năm ở Ðức. Mỗi lần Thiện về Mỹ chúng tôi đều gặp nhau. Tất nhiên chúng tôi có trao đổi với nhau về chuyện văn nghệ nhưng đây là lần thứ nhất chúng tôi nói chuyện tay đôi qua điện thoại cả hai, ba tiếng đồng hồ về những chuyện đời tư, chuyện thơ văn, chuyện sáng tác. Tôi hỏi, Thiện trả lời. Tôi viết lại những lời Thiện nói.

Hỏi: Mười năm trước khi anh đến Hoa Kỳ, anh cho là kiếp này anh không được thấy phương Tây, anh đành chờ kiếp sau. Ðến hôm nay anh đã sống năm, sáu năm ở phương Tây, anh thấy phương Tây thế nào, anh cho biết đôi chút về cuộc sống của anh ở phương Tây, phương Tây có đáng để anh mơ ước đến sống không, anh có thấy thương nhớ quê hương không? Anh có thấy tiếc đã bỏ nước ra đi không? Những gì trong cuộc sống của anh ở phương Tây làm anh hài lòng, có gì làm anh thất vọng, bất mãn?

Đáp: Từ ngày mới lớn những hình ảnh của phương Tây, sông Seine, vườn Luxembourg, thành phố Cựu Kim Sơn… đã hấp dẫn tôi. Tôi muốn được thấy tận mắt những cảnh ấy. Năm 1995 tôi rời quê hương sang phương Tây, sau sáu năm tôi thấy phương Tây không thích hợp với những người có tuổi, nhiều bệnh, như tôi. Khi đã thấy phương Tây tôi không còn thích nó nữạ Phương Tây chỉ tốt khi ta du học, du lịch, phương Tây không phải là nơi để tôi sống vĩnh viễn.

Ở các nước phương Tây khoa học, kỹ thuật phát triển, nhân dân có đời sống vật chất cao, được hưởng nhiều quyền tự do nhưng cùng lúc tội ác cũng gia tăng, bạo loạn không ngừng, an ninh của người dân không được bảo đảm, người phương Tây có thể bị chết đột ngột ở nơi làm việc, trong trường học, trong cả nhà thờ, đời sống tinh thần sa sút, số người chán đời càng ngày càng nhiều; thống kê cho thấy năm 2000 có 12,000 người tự tử ở Pháp.

Sống ở phương Tây tôi không phải lo về cơm áo, như những người cùng tuổi, tôi phải sống cô đơn. Tôi không tiếc đã bỏ nước ra đi vì tôi ra đi với ý định tôi sẽ làm ở nước ngoài một số công việc tôi nghĩ có ích cho nhân dân, cho tổ quốc, những viêc tôi không thể làm khi tôi sống trong nước. Có xa mới thấy nhớ. Sáu năm rồi, tôi rất nhớ Hà Nội, Hải Phòng, tôi nhớ Sài Gòn dù tôi chỉ sống ở Sài Gòn ít ngày. Tôi rất mong có ngày tôi được trở về quê hương.

H. Từ ngày sang Hoa Kỳ anh có làm bài thơ nào không? Nếu có anh có thể cho bạn đọc thưởng thức một vài bài thơ mới làm ở hải ngoại của anh không? Nếu không có bài thơ nào mới anh có thể cho biết tại sao lại không?

Ð. Tôi ngừng làm thơ từ năm 1988 khi tôi ở trại tù B 14, thường gọi là Sà-lim Bộ, ở Hà đông. Từ năm đó tôi dành thì giờ và trí óc vào việc học cho thuộc lòng thật kỹ những bài thơ tôi đã làm, sửa chữa, hoàn chỉnh những bài thơ đó. Cho đến năm 1988 tôi đã làm khoảng 700 bài thơ. Thơ Tù quanh quẩn ở mấy đề tài cùm kẹp, đói khổ, khoai sắn, bệnh hoạn chết chóc, tôi đã làm thơ về tất cả những đề tài đó. Với tôi, đề tài tù đày đã cạn kiệt.

Ðời sống ở xứ người chưa thâm nhập trong tôi đủ để tôi có cảm xúc làm thơ. Từ ngày sang Hoa Kỳ tôi chỉ làm hai bài thơ; bài thứ nhất tôi làm ở San Jose năm 1995, mấy tháng sau ngày tôi đặt chân lên đất Hoa Kỳ, khi tôi gặp ở đó bà con gái cụ Vũ Thế Hùng, một tù nhân chính trị đồng tù với tôi. Cụ Hùng có mang vào tù mấy tấm ảnh gia đình, trong số có ảnh cô con của cụ .

( Bố tôi và người tù Nguyễn Chí Thiện”, tác giả Vũ Triều Nghi)

Trong tù buồn không có việc gì làm, mỗi lần cụ Hùng nhớ gia đình lấy ảnh ra xem, mấy anh tù trẻ xúm lại xin xem ké. Khi đến San Jose tôi gặp người tôi đã nhìn thấy trong ảnh mười mấy năm xưa ở Nhà Hỏa Lò, năm 1995 bà con gái cụ Hùng khoảng 50 tuổi.   Nhớ lại khi ở trong tù nhìn thấy ảnh bà chụp năm bà 16, 17 tuổi, tôi làm bài thơ:

Bóng hồng dương thế

Có người con gái mắt bồ câu

Lưu lạc, ly hương từ thưở xuân thì

Ðất Mỹ

Trời Âu

Xa lắm!

Nơi rừng sâu

Người cha rầu rầu

Thường mang ảnh con mình ra ngắm

Ðêm tù

Âm khí âm u

Mấy chàng trai mắt trũng, chân phù

Thờ thẫn cầm nàng trong tay

Cầm cả mùa xuân hạnh phúc

Bóng hồng dương thế xa baỵ

Ðây là bài thơ thứ hai tôi làm ở Hoa Kỳ, năm 1995:

Hồng van

Bao lâu rồi, có thấy gì đâu

Anh thôi đợi, nhưng cà-phê nguội đắng

Anh ngồi lặng, nhìn ra phố vắng

Làm bận lòng em, anh biết lỗi từ lâu

Buổi gặp em như một phép nhiệm mầu

Lòng anh, cảnh trời Ðông bảng lảng

Em hiện ra, thành mượt mà hè sáng

Tưng bừng huyết phượng nở ngàn bông

Nhưng thời gian không hơi ấm tình nồng

Hoa phượng đỏ thâm bầm tiết động

Trời Ðông về, ảm đạm, mênh mông

Lãng đãng bay xa, xa mãi, vết mây hồng

H. Xin anh kể vài chuyện chung quanh vụ anh vào Tòa Ðại Sứ Anh ở Hà nội gửi gấm bản thảo Hoa Ðịa Ngục. Tại sao anh chọn vào Tòa Ðại Sứ Anh mà không chọn vào Tòa Ðại Sứ Pháp?

Ð.Tôi đã kể chuyện này năm 1995 khi tôi mới sang Hoa Kỳ, nay tôi kể lại. Tôi vẫn có ý định vào Tòa Ðại Sứ Pháp gửi tập thơ nhờ họ mang đi, nhưng Tòa Ðại Sứ Pháp có cái sân rộng bên trong, lại có nhiều người làm trong đó là người Việt. Phần lớn những người này làm việc cho công an. Tôi khó vượt qua được khoảng sân rộng để vào tòa nhà mà không bị ngăn chặn. Tối ngày 13 tháng Bảy năm ấy, năm 1979, Tòa Ðại Sứ Pháp mở liên hoan chiêu đãi nhân Ngày 14 Juillet, tôi định lợi dụng lúc quan khách ngoại giao đoàn đến dự liên hoan, khi họ xuống xe tôi trà trộn vào họ để chạy vào sứ quán, hy vọng có quan khách ngoại quốc bọn công an sẽ không dám làm dữ. Tối ấy tôi dắt tập thơ trong bụng, đến nơi thấy không thể vào được vì xe hơi không đậu ở ngoài đường mà đi thẳng vào trong sân. Tôi chuyển ý định sang Sứ Quán Anh. Tòa Ðại Sứ Anh có sân trước nhỏ hơn, chỉ năm bẩy bước từ cổng là vào đến nhà. Cổng có một tên công an đứng gác. Sáng ngày 16 tháng Bảy tôi đi uống cà-phê với anh cháu con bà chị tôi, nó biết tôi sắp liều mạng vào Tòa Ðại Sứ Anh. Khi chia tay tôi bảo nó đi làm đi, mặc cậu, tôi đi bộ đến Tòa Ðại Sứ Anh, khi đi tôi lấy dáng bộ tự nhiên, không trông ngang trông ngửa, không quay nhìn lại đằng sau, nên cháu tôi vẫn dắt xe đạp lẽo đẽo đi theo tôi mà tôi không biết. Từ vỉa hè nhìn vào thấy sứ quán mở cửa, trong cửa có cái bình phong che. Tôi tưởng vào đó là tôi gặp ngay nhân viên người Anh của sứ quán, thấy tên công an gác cửa không nhìn ngó tôi chạy luôn vào. Nhưng vào sau bình phong tôi thấy một căn phòng rộng, có cái bàn lớn kê ở giữa phòng, có ba tên người Việt, hai đàn ông, một phụ nữ, ngồi ở bàn, tôi thấy cánh cửa phòng bọc da đỏ . Vì tấm bình phong che tôi không thấy ba người Việt này, nếu thấy họ tôi đã không chạy vào. Thấy tôi, một tên hỏi: “Ðồng chí có chuyện gì?”. Tôi nói tôi là nhân viên Bộ Ngoại Giao, có việc sang gặp ông đại sứ. Y hỏi giấy đâu, làm gì có giấy, tôi nói tôi vẫn gặp ông đại sứ luôn, cứ cho tôi gặp ông ấy. Thấy bại lộ, tôi tạt sang một bên, thấy cái phòng nhỏ không có cửa, loại phòng tiếng Pháp là boudoir, trong có một phụ nữ Anh rất trẻ, chỉ ngoài 20, đang đứng chải tóc. Tôi nói tiếng Anh với cô: “Xin cô cứu tôi…” Cô ngạc nhiên nhìn tôi, sợ hãi, tôi nói: “Tôi là người lương thiện, tôi không hại cô, xin cô giúp tôi…” Khi ấy một trong hai tên đàn ông chạy ra ngoài báo động, mụ đàn bà nhào đến ôm tôi, tôi lên gối vào bụng mụ, mụ ngã lăn ra, tôi nhẩy tới lấy hết sức lật cái bàn. Bàn đổ, những đồ vật trên bàn rơi xuống loảng xoảng. Cánh cửa phòng bọc da đỏ mở ra, ba người Anh từ trong phòng bước ra. Tôi nói: “Tôi có tài liệu quan trọng gửi quí ông, xin cho tôi vào phòng…”

Tôi lọt ngay vào phòng làm việc đó. Vào phòng, tôi rút vội tập thơ dắt trong bụng ra, để xuống chân tường sau cánh cửa, để khi cửa mở người nhìn vào sẽ không thấy tập thơ. Ba người Anh trở vào phòng, hai người trẻ tuổi, một ông trạc 40, họ đóng cửa lại. Về sau tôi được biết ông trung niên ấy là vị đại biện lâm thời tòa đại sứ. Tôi nói với ba ông tôi là tù chính trị, tôi có tập thơ nhờ các ông mang về Luân Ðôn, xin đừng đưa nó cho bất cứ người Việt nào ở trong nước. Tôi lấy tập thơ đưa cho ông trung niên. Rồi tôi hỏi các ông có thể cho tôi tị nạn trong tòa đại sứ được không? Ông đại biện nói không được, bên ngoài công an đã vây kín tòa đại sứ. Tôi lại đề nghị cho tôi ngồi trong xe hơi từ trong tòa đại sứ chạy ra, đến chỗ nào đó tôi sẽ nhẩy xuống, ông đại diện cũng nói không thể được. Tôi lấy bịch thuốc vấn của tôi ra lấy một điếu hút. Lúc ấy tôi có cái bật lửa Zippo đã mất nắp, tôi phải bọc nylon cho xăng khỏi bay. Mấy ông nhìn ngây cái bật lửa quái dị của tôi. Tôi nói nhờ các ông mang tác phẩm của tôi về Anh, trao cho tổ chức người Việt chống cộng ở bên ấỵ Ông đại biện bảo tôi viết tên tuổi, địa chỉ, để lại.

Khi tôi cám ơn và từ biệt, tôi bắt tay ba ông, ông đại biện bắt tay tôi bằng cả hai tay, tôi thấy mắt ông có ánh thán phục. Vừa ra khỏi cổng tôi bị hai công an nắm cổ đi luôn, họ đưa tôi lên xe hơi, chở tôi vào thẳng Hỏa Lò. Dù tôi có ngồi xe hơi sứ quán chạy ra cũng không thoát được.

Vào Hỏa Lò tôi bị thẩm vấn ngay. Tôi khai tôi chạy vào sứ quán xin tị nạn, bọn công an trong sứ quán nghe được câu tôi nói lúc đầu với ba người Anh là tôi có tài liệu quan trọng muốn đưa, nên họ vặn hỏi tôi đưa tài liệu gì vào Sứ Quán Anh. Tôi nói tiếng Anh của tôi loại giả cầy, tôi nói tôi có chuyện quan trọng muốn nói chứ tôi có nói tài liệu gì đâu. Những ngày đầu bọn thẩm vấn rất ngọt với tôi, chúng nói “Anh có đưa tài liệu gì cứ nói, chúng ta sẽ lấy lại tài liệu đó cho tổ quốc không bị thiệt hại, chúng tôi hứa sẽ trả tự do cho anh ngay.” Tôi vẫn nói tôi không có đưa tài liệu gì cả .

Mấy tháng sau đó tôi chờ đợi tin tác phẩm của tôi được xuất bản ở hải ngoại, nếu được xuất bản, bọn công an sẽ biết, chúng sẽ hành tội tôi ngay. Ruột tôi như có lửa đốt mà hết tháng này sang tháng khác, không thấy có gì mới cả . Tôi vẫn bị gọi ra khai cung nhưng chỉ toàn là hỏi những chuyện vớ vẩn. Mãi đến 16 tháng sau, tháng Mười, 1980, lần ấy ra làm việc tôi được đưa vào một phòng lớn, trong có ba bốn tên công an bự chờ sẵn, tôi hồi hộp biết là có chuyện mới. Lần này họ cho tôi thấy trang thư tiếng Pháp tôi viết trên đầu tập thơ. Lúc ấy tôi biết tác phẩm Hoa Ðịa Ngục của tôi đã được xuất bản, và đến lúc ấy tôi mới nhận tôi vào Sứ Quán Anh là để trao cho nhân viên sứ quán tập thơ ấy. Sự việc sau đó diễn ra như tôi đã kể .

Tôi sang Anh Quốc nhiều lần, lần nào tôi cũng đến thăm trụ sở Pen International ở Luân Ðôn. Gặp tôi, những ông bà Văn Bút Anh đều nói họ xấu hổ vì nhân viên sứ quán của họ năm 1979 đã không bảo vệ tôi, đã không cho tôi được tị nạn trong tòa đại sứ. Tôi có tìm, và nhờ tìm, ba vị nhân viên sứ quán Anh năm xưa, nhất là ông đại biện, để tôi được cám ơn các ông, nhưng Bộ Ngoại Giao Anh từ chối không tiết lộ danh tính, địa chỉ của ba ông….

Vì năng lực hạn chế, tôi làm thơ rất vất vả, mất nhiều công sức, thời gian. Làm xong mỗi bài thơ phải sửa chữa rất nhiều. Tập thơ này tôi làm từ năm 1978 tới năm 1988, được hơn 400 bài.

Năm 1988 vì quá yếu tôi không làm thơ nữa, dành thì giờ để học thuộc. Ngày nào tôi cũng đọc lại trong đầu trọn vẹn hơn 400 bài. Cứ đọc như thế trong gần 1,000 ngày, tôi thuộc làu làu như một cuộn băng. Có những ngày mưa rét, vừa nhẩm đọc, vừa ứa nước mắt, lưng dựa vào tường, người run rẩy.

Tới cuối năm 1990 tôi từ trại Thanh Liệt chuyển đi Ba Sao. Lúc đó tôi bị bệnh đau đầu, không nhẩm đọc thơ nữa. Tôi cũng chủ quan cho rằng thuộc đến thế, thời không thể quên nổi.

Tháng Mười, 1991, tôi được tha. Về nhà, định chép thơ ra giấy rồi dấu đi, tôi thấy quên gần hết. Thì ra đầu óc tôi không còn như trước nữa, suy yếu nhiều. Tôi phải mất hơn một năm trời nằm vặn óc ra mới nhớ lại được hơn 300 bài. Còn độ 100 bài thì không thể nhớ nổi. Ngưng trích.

http://www.angelfire.com/zine2/risingsun/Literature/hoanghaithuy

————————————–

Bố tôi và người tù Nguyễn Chí Thiện

tác giả Vũ Triều Nghi (1943-       )

Vận nước nổi trôi, dòng đời nào khác chi giông bão cùng với nghiệt ngã của chiến tranh, những bất hạnh dồn dập đến với gia đình chúng tôi.

1945, cậu em trai tôi chào đời vào năm đói Ất Dậu. Bố Vũ Thế Hùng bị Việt Minh bắt. Mẹ tôi, nào khác hạt bụi giữa cuồng phong, bỗng một sớm một chiều chấp nhận lầm than, tảo tần, buôn thúng bán bưng, vất vả đi theo nuôi bố qua bao nhiêu trại tù. Sau này bố tôi tâm sự “không có mẹ thì bố mất xác đã lâu, còn đâu tới ngày hôm nay mà gặp các con nữa”.

Không liên hệ gia đình, không là bạn tù, có lẽ mẹ tôi là người biết về Nguyễn Chí Thiện sớm nhất là vì vậy.

Ba anh em chúng tôi lớn lên bằng tài chánh eo hẹp, lần lượt cô dì này đến chú bác khác cưu mang. Ôi, những ngày vàng son thuở ấy, một “giấc Nam Kha khá bất bình…”. Năm người trong gia đình chúng tôi, mỗi người một ngả, thậm chí hơn cả nửa thế kỷ rồi mà cũng hiếm khi xum họp dưới một mái nhà kể từ khi “đất bằng dậy sóng” 1945. Ông anh huynh trưởng của tôi, năm 5 tuổi đã nhập học trường Dòng, anh lớn đi theo tiếng Chúa gọi, nay trở thành Linh mục Mathieu Vũ Khởi Phụng của biến cố Giáo Xứ Thái Hà, Hà Nội, mà gần đây báo chí đã tốn khá nhiều giấy mực viết về anh.

Ngày em đi, anh niềm vui Chủng viện,
Buổi em về Linh mục đã phong sương!!

Nỗi đau còn hằn mãi trong tâm tưởng, tôi đâu ngờ rằng cậu em trai duy nhất của tôi, một ngày tháng Tư 1975, lại nối gót bố 30 năm xưa cùng với Sài Gòn hấp hối, em tôi trở thành người tù cải tạo với gần 8 năm dài bóc lịch!

Tôi ư? Một cánh bèo trôi dạt mãi trên sông, hay phận mình là áng mây phiêu bạt, để rồi, rời quê hương thật sớm (1975) , bỏ lại cậu em trai dãi nắng dầm sương trong quân ngũ, bỏ lại bố mẹ già ở miền Bắc xa xôi, tôi đâu còn nhớ mặt, ngày ly tan tôi mới hai tuổi đầu  (năm1945,  bố tác giả bị bắt lúc tác giả  2 tuổi.)  . Bấy giờ một mình vượt Thái Bình Dương (1975) :  (phần trong ngoặc của TH ghi chú vì tác giả viết hơi khó hiểu)

Đất Mỹ,
Trời Âu xa lắm
Nơi rừng sâu
Người cha rầu rầu
Thường đem ảnh con mình ra ngắm

Thi sỹ Nguyễn Chí Thiện

Đó là những dòng thơ Nguyễn Chí Thiện diễn tả về tôi khi thấy bố già ngắm hình đứa con gái. Anh làm quen với tên T.N. từ đấy, bởi đó là niềm vui của bố và của một anh tù thuở “mắt trũng chân phù” trong trại tù Phong Quang.

Đất Mỹ, trời Âu xa lắm, nổi trôi mãi chẳng ngừng. Đây những ngày xuân xa xứ, hồn tả tơi tựa những cánh hoa đào rơi lả chả bên dòng Potomac đẫm rong rêu! Đây trời Arlington buốt giá, đôi bờ tuyết phủ. Từ mùa hạ Chicago nắng cháy đỏ da, tôi trôi dạt về chiều El Paso mưa buồn xót mắt. Cứ thế tôi đã đánh mất bao nhiêu mùa xuân trong đời, rồi tôi dừng lại đây với hơn 18 mùa sương phủ trên chiếc cầu lạnh giá Cựu Kim Sơn. Để rồi “xin nhận nơi này làm quê hương”. Một ngày tỉnh mộng nghe tim mình ray rứt thương về mảnh đất hình chữ S. Mùa xuân 1992, tôi trở về cố quận.

Lòng như cơn bão, giữa rừng người đứng ở phi trường Tân Sơn Nhất kia, có bố mẹ già còm cõi mà gần nửa thế kỷ tôi mới được tái ngộ. Có ông anh trịnh trọng trong bộ áo Dòng, có cậu em trai gầy gò răng rụng, với mái tóc bạc màu tù cải tạo.

Bố đón tôi bằng dòng nước mắt lăn dài trên khuôn mặt hom hem, bàn tay gầy guộc đặt trên vai tôi. Bố hỏi “Con có nghe câu thơ này chưa”? Rồi bố đọc chậm rãi :

Thân không trời đất mà mưa gió
Lòng chẳng gươm đao cũng chiến trường

Thế đó! Là phút giây hội ngộ của gia đình chúng tôi lần đầu tiên trong đời, đủ được 5 người.

Tôi xa Hà Nội không phải “năm em mười tám khi vừa biết yêu” mà là khi cô bé 11 tuổi phải rời trường Saint Paul, nay rất gần Tòa Khâm Sứ. Tuổi thơ tôi di cư vào Nam với bao nỗi nhọc nhằn. Bây giờ Hà Nội xưa của tôi hiện ra trước mắt, sao bỗng dưng tôi nghe vị mặn ở bờ môi. Một Hà Nội đưa tôi vào lạc lõng, một Hà Nội của Trịnh Công Sơn với cây cơm nguội vàng và hồn tôi ngỡ ngàng xa lạ. Tôi đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác khi đặt chân lên thềm nhà của bố mẹ. Căn nhà nhỏ mốc meo rêu với mùi ẩm mốc khó chịu. Tất cả hiện ra cảnh nghèo khó tới rợn người. Thế mà bố mẹ tôi hân hoan ra mặt. Bố cười bảo tôi:

Con ở ngoại quốc về chắc thấy chỗ này ghê rợn lắm. Từ ở tù ra gần cả chục năm rồi, bố mẹ sống đạm bạc đã quen, nhà thờ Hàm Long ngay đầu phố, tiện lắm. Bố muốn con hiểu rằng, căn nhà nghèo khó này đã từng tiếp đón những người bạn trí thức tuyệt luân, lại đầy nhân ái và tình người. Bố mẹ yêu những người ấy như ruột thịt. Con sẽ lần lượt gặp họ, ai cũng muốn gặp con đấy, vì bố đã nói nhiều về con trong những năm tháng tù đày. Này nhé, nhiều tên tuổi lừng danh con nên kính phục -Phùng Cung, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Chí Thiện và còn nhiều nữa trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, con có nghe tên họ chưa”?

* Nghe thì nghe nhiều rồi đó, nhưng chả bao giờ tôi lại nghĩ rằng, mình may mắn gặp được những nhân tài này. Rồi bố giới thiệu: Nguyễn Chí Thiện, người bạn tù lâu năm, người bạn vong niên của bố.

Tôi quan sát anh, định cất tiếng chào “Thưa chú”… nhưng anh gạt đi -”Gọi bằng anh nhé. Chị quên là tôi gọi bác là bác kia mà, tôi không lớn hơn chị lắm đâu”. Tôi ngồi lắng nghe bố đọc thơ anh làu làu, rồi hai người say sưa luận bàn thơ phú. Tôi không quen với thể thơ của Nguyễn Chí Thiện, nên im lặng nghe bố kể:

Con chưa biết nó đâu, dáng dấp lừng khừng là thế, lại gầy ốm tong teo như cây sậy, mà can đảm không lường, bố phục nó, dám một mình vào sứ quán Anh bất chấp nguy hiểm, miễn sao thơ nó được lọt ra nước ngoài. Còn ở trong tù mà nó dám làm thơ có thể chết người con ạ. Trong tù, đứa nào cũng đói rã ruột, thế mà đứa nào cũng tử tế với bố, nhường từng miếng khoai sùng, sắn sượng cho bố vì thấy bố già nua. Chúng nó là những anh hùng bất chấp gian nan, bố phục lắm”.

Rồi bố cười: Triều Nghi là đề tài cho Thiện nó làm thơ đấy. Tôi bắt đầu có chút cảm tình với anh, bỗng anh ngập ngừng hỏi tôi : “Muốn nhờ chị một điều, không biết chị có nhận lời không”? Tôi e ngại -”Anh cứ nói”.

Chị có thể đem tập thơ của tôi ra ngoại quốc được không ? Ít bài thôi”.

Tôi chưa biết trả lời ra sao thì anh lại tiếp: “Gặp bác và chị thế này, ngoài kia khối con mắt dòm ngó đấy, nhưng tôi ở tù quen rồi, nên cóc sợ”.

Câu nói của anh làm tôi hoảng vía, bởi năm 1992 nào phải như bây giờ, bất trắc nào cũng có thể xảy ra, nên tôi thẳng thắn từ chối :

“Thôi anh ạ, đừng buồn nhé. TN. không dám đem đâu. Xin cho em hai chữ bình an để trở về Mỹ trót lọt”.

Một thoáng thất vọng trong mắt anh : “Thôi, thế này, Trần Nhu chắc là có tập thơ của tôi đấy, chị hỏi hộ ông ấy nhận được chưa”?

– “Vâng, chuyện đó thì được”.

Người kế tiếp tôi gặp là Phùng Cung, tôi đọc được chút gì trìu mến cho tôi nơi anh. Bằng một mẩu giấy màu vàng nhàu nát, anh ứng khẩu rồi viết luôn:

Bé Triều Nghi, bé Triều Nghi,
Mắt cười, đọng vẻ phân kỳ ngày xưa.

Mẩu giấy đó tôi còn giữ mãi.

Người bạn kế tiếp của bố là Nguyễn Hữu Đang. Ông không làm thơ tặng tôi, chỉ bắt tay tôi cười khan rồi nằm dài chửi đổng chế độ.

Ngày từ biệt bố mẹ trở lại Mỹ, bố nhắn với theo:

Nguyễn Chí Thiện khá lắm. Thằng ấy khí khái anh hùng, con giúp được gì cho nó thì làm, nó hết lòng với bố trong tù đấy”.

Trở về Mỹ, cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại bắt đầu quyên góp để yểm trợ cho anh và tôi thường xuyên có mặt. Thời gian thấm thoắt, có lẽ thơ anh bắt đầu có tiếng vang bên trời Âu. Năm anh đến bến bờ tự do, cộng đồng Việt khắp nơi đón rước anh, tên anh nổi như cồn qua hàng loạt bài diễn văn. Tôi mừng thầm.

Nguyễn Chí Thiện nay đã nổi tiếng, và tôi tự nhủ: Chắc anh đã quên tôi. Thật cảm động, tôi nghĩ lầm về anh, cú điện thoại đầu tiên vồn vã: –“T.N. đấy ạ, Thiện đây ! Nhờ thưa với bác, Thiện tới Mỹ bằng an nhé”!

Một niềm vui lớn lao cho tôi khi thấy anh toại nguyện. Tôi cười, mừng anh, đồng thời nhắn rằng, T.N. sẽ không có mặt trong những buổi diễn thuyết của anh, bởi tôi không thích đám đông và không làm chính trị. Từ đó, mỗi lần về Bắc Cali, dù không gặp nhau thì vẫn là những lời thăm hỏi chí tình.

Nguyễn Chí Thiện, mỗi lần gặp anh là tôi mường tượng ra lần đầu hội ngộ với anh, với bố già trong căn nhà nghèo khó ở Hà Nội, và tôi đã từng khuyên anh “cẩn thận nhé. Nay anh làm dâu trăm họ rồi đấy”, vào năm 95 khi vừa đặt chân trên đất Mỹ.

Nay thì câu nói ấy đã hiệu nghiệm. Ở một nơi tự do ngôn luận, tự do báo chí trên mảnh đất quá nhiều tự do này. Tôi biết rằng anh đang gặp dữ nhiều, lành ít. Tôi từ chối không đọc những bài báo nói không trúng về anh. Hôm qua tình cờ gặp một nhà thơ cao tuổi, bác Hà Thượng Nhân, bác bảo: “Sao cô không lên tiếng cho Nguyễn Chí Thiện”. Tôi thiết nghĩ, tôi lên tiếng là đã quá thừa, bởi nhà văn Phan Nhật Nam, giáo sư Jean Leaby đã viết quá đầy đủ về anh rồi. Sự thật vẫn là sự thật. Anh Thiện ơi, càng cao danh vọng càng dày gian nan ! Thôi thì, đó cũng là định luật sống.

Viết những dòng này cho anh, bố già nay đã miên viễn, Nguyễn Hữu Đang cũng vô thường, mà Phùng Cung thì đã “hạt bụi nào hóa kiếp thân anh”. Chỉ còn lại một Nguyễn Chí Thiện ở tuổi hoàng hôn, thế mà cây muốn lặng sao gió không ngừng. T.N. nhớ mãi lời bố khi giới thiệu anh “Thằng ấy khí khái, anh hùng, con có dịp hãy đọc thơ nó, bố phục nó lắm”.

Đấy, lời một người bạn tù nằm xuống chắc đã làm anh vui. Viết những dòng này gửi tới anh khi ngọn gió đầu đông đón chào mùa xuân trên đất Mỹ, tôi thấy thương bố V.T.H. vô cùng, thương những người chiến sĩ chiến đấu bằng ngòi bút cho lý tưởng tự do, trong đó có anh Nguyễn Chí Thiện.

Ta đau trời Phong Quang
Ta giận tràn Vĩnh Phú
Oán hờn một thuở Lao Kai
Từ ta lưu lạc dấu giày
Lời thơ phẫn nộ vẫn say sắc thù
Thương ai ngưỡng cửa ngục tù
Xác thân nghiệt ngã đời hư ảo đời

Những dòng thơ này xuất phát tự đáy lòng tôi gửi tới bố V.T.H. và các anh cùng chung chí hướng. Tôi nợ anh một lời tạ lỗi năm nào đã không dám đưa thơ anh đi. Tôi nợ anh bao ân tình cho miếng khoai mẩu sắn anh nhường cho bố tôi dạo ấy. Mùa xuân này xin anh nhận nơi tôi một đóa hồng cho người tôi ngưỡng mộ : nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, người bạn vong niên của bố tôi mà sinh thời, bố từng thán phục và mến thương.

Tác giả: Triều Nghi (bài do một thân hữu gửi tới)
————————————————

Và sau đây là bài thơ Nguyễn Chí Thiện viết tại trại tù Phong Quang: Bóng Hồng Dương Thế:

BÓNG HỒNG DƯƠNG THẾ
(Tặng Triều Nghi)

Có người thiếu nữ mắt bồ câu
Lưu lạc, ly hương từ độ xuân thì
Đất Mỹ, trời Âu xa lắm
Nơi rừng sâu
Người cha rầu rầu
Thường đem ảnh con mình ra ngắm
Đêm tù
Âm khí âm u
Những chàng trai mắt trũng chân phù
Thơ thẩn cầm nàng trong tay
Cầm cả mùa xuân hạnh phúc
Bóng hồng dương thế xa bay.

NGUYỄN CHÍ THIỆN

—————————————————–

Vài kỷ niệm với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

Tháng 1 năm 1995, anh Thiện rời Việt Nam sang Hoa Kỳ, khi ấy tôi đang làm Phó Ngọai Vụ cho Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc châu, nên đựơc Ban Chấp Hành thu xếp mời anh Thiện sang thăm đồng bào Úc châu. Tôi gọi điện thọai cho anh Thiện ngỏ lời và sau đó viết thơ bằng Anh Ngữ để anh Thiện lo thủ tục nhập cảnh. Vì lý do sức khỏe mãi đến cuối năm 1996 anh Thiện sang Úc lần đầu, tôi có trong Ban Tổ Chức nhờ đó tôi có vài kỷ niệm với anh Thiện.

Việc tiếp xúc với đồng bào thì anh Thiện đã quá quen nên rất nhẹ cho ban tổ chức. Về ngọai vận chúng tôi có tổ chức họp báo. Tôi nhớ hôm ấy anh Thiện vẫn đội cái nón anh thường đội đầu cúi xuống bàn không phải để đọc mà để tập trung thuyết trình. Anh nói tiếng Anh giọng Pháp nhưng rõ ràng mạch lạc dễ hiểu. Nhưng đến phiên người Úc đặt câu hỏi thì anh phải nhờ chúng tôi dịch lại vì anh không hiểu tiếng Anh giọng Úc.

Tờ báo chính tại thành phố Melbournee tờ The Age có gởi ký giả đến tham dự. Tôi ngồi cạnh người ký giả này, ngay khi kết thúc tôi hỏi anh ta: ”anh có cần phỏng vấn hay thêm tin tức gì không ?” anh ký giả trả lời “không tôi đã viết xong bài”. Hôm sau Báo The Age có bài viết rất dài và rất hay về một nhà thơ Việt Nam đang dũng cảm đấu tranh cho tự do.

Anh cũng được Viện Đại Học Victoria mời đến nói chuyện. Lúc ấy tôi đang học và làm việc tại Viện Đại Học Melbourne nên nhận ra nhiều anh chị sinh viên sang du học đã tham dự cuộc nói chuyện. Tôi có nói với anh Thiện để anh biết và quan tâm đến các anh chị em này. Anh rất vui khi biết được điều này.

Một Câu Lạc Bộ nay không còn sinh họat cũng mời anh thuyết trình, người chủ trương Câu Lạc Bộ này có quan điểm chính trị không đồng nhất với các Tổ Chức trong Cộng Đồng, nhưng do yêu cầu của anh “người ta mời thì mình nên tới”, tôi được thu xếp đưa anh đến sinh họat với Câu Lạc Bộ này. Khác với các sinh họat khác anh thường rất từ tốn tại đây anh nói lớn, đôi khi gằn giọng lên án cộng sản và cả những người hải ngọai tiếp tay với cộng sản.

Cộng Đồng tại Victoria tổ chức nhiều buổi để anh Thiện có cơ hội tiếp xúc với đồng bào. Nói chung tại Victoria chuyến thăm viếng lần đầu của anh rất thành công.

Khi rảnh chúng tôi có hỏi anh có muốn chúng tôi chở đi đâu chơi không ? Anh Thiện cho biết anh làm thơ so sánh bác Hổ và bác Hồ nhưng chưa bao giờ được thấy con hổ (con cọp) nếu sở thú Melbourne có cọp thì cho anh đến xem. Nếu tôi không lầm lần ấy anh đã được gặp bác Hổ dù chỉ là bác Hổ trong chuồng. Tôi biết it nhất có hai bài thơ anh Thiện viết về bác Hổ:

THẦN HỔ

Ôi hổ đó đáng thờ như thần hổ
Chớp nhoáng vài giây tạt chết bốn bò!
Thịt lại có mùi, công an đành bỏ
Hổ chẳng miếng nào, tù được bữa no!
Từ bữa đó, tù gọi tôn là bác Hổ
Vẽ chân dung người rõ đẹp, rõ oai
Đem đóng treo lên ở phía cửa ngoài
Thay bác Hồ, ai cũng chán tận mang tai!

Những Ghi Chép Vụn Vặt
Thứ 27

Khổng Tử nói: “Hà chính sợ hơn mãnh hổ”
Tôi tưởng đó chỉ là lời văn cường điệu mà thôi
Chế độ này đã mở mắt cho tôi
Tôi sợ bác Hồ vạn lần hơn bác Hổ!

Anh Thiện là người sống nội tâm, ít nói, ai hỏi thì vui vẻ trả lời. Ngay giữa chỗ đông người ồn ào vui nhộn tôi vẫn thấy có lúc anh ngồi im lặng trầm ngâm như đang nghỉ ngơi tâm trí hay nghĩ ngợi chuyện gì.

Mười năm sau 2006 tôi gặp lại anh Thiện tại Canberra, anh vẫn bất khuất và kiên cường như ngày nào, sức mạnh nội tâm anh như truyền cho mọi người vững bước đấu tranh. Tôi hỏi xin anh email và anh cho biết không có, tôi không ngạc nhiên vì biết đó là cách sống của anh.

Năm 1996 anh Thiện có nói với tôi anh sẽ sống để chứng kiến sự sụp đổ của chế độ cộng sản tại Việt Nam. Tiếc thay chế độ cộng sản đang tan rã nhưng anh không còn để tận mắt chứng kiến.

Xin gởi đến gia đình Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện lời chia buồn và cầu chúc linh hồn Thomas More Nguyễn Chí Thiện sớm nhập cõi vĩnh hằng.
Melbourne, Úc Đại Lợi
2/10/2012

© Nguyễn Quang Duy

© Đàn Chim Việt

————————————–

Một vì sao vừa tắt

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả Chuyện Kể Năm 2000, và nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (bên phải)

Một Vì Sao Vừa Tắt

Ngày 2 tháng 10 năm  2012
Tim ngừng đập
Một vì sao vừa tắt
Chó thôi sủa, mèo thôi kêu
Những con quạ đen thôi cụng ly chửi rủa
Giữa hàng triệu trái tim thương tiếc
Kẻ vô sĩ vẫn huyên thuyên
Kệ chúng nó – Anh vẫn thường nói vậy
Vì tên anh thánh thiện vẫn hơn người

Ngày 16 tháng 7 năm 1979
Bên hàng rào sứ quán
Hoa Địa Ngục nở hoa
Khi anh ưởn ngực bước vào tù
Những người dũng cảm cũng ngã nón
Phường tiểu nhân vẫn hung hăng
Thuở anh làm người thì chúng chẳng ra đời

27 năm thử lửa địa ngục
Quỷ sa tăng cũng cúi đầu khuất phục
Anh vẫn đứng, sừng sửng như núi
Chỉ có kẻ lòng lợn tim trâu mới lên giọng dạy đời

Kệ chúng nó – Anh vẫn hiền hoà nói vậy
Vì tên anh hướng thiện lúc làm người

Ngày 6 tháng 10 năm 2012
Thân về cát bụi
Hồn lìa trần nhưng uy dũng vẫn còn đây
Anh không chết vì tên anh đã là lịch sử

Là chứng nhân “Tã trắng thắng cờ hồng”

Đỗ Thành Công
(Tưởng nhớ anh Nguyễn Chí Thiện)

http://www.danchimviet.info/archives/66679

————————————————–

Vĩnh biệt nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

Blog / Nguyễn Xuân Hoàng

Thanh Thương Hoàng

http://www.voatiengviet.com/content/vinh-biet-nha-tho-nguyen-chi-thien/1519858.html

Hôm thứ Năm tuần trước tôi đến Quận Cam để dự buổi họp mặt chúc mừng thọ của anh em ký giả Nhật báo Chính Luận trước năm 1975 và các thân hữu. Sáng thứ Sáu tôi gọi điện thoại cho Nguyễn Chí Thiện để mời anh đi ăn sáng nhưng không được. Tôi gọi cho anh Trần Phong Vũ. Tôi biết anh Trần Phong Vũ trong thời gian gần đây thường xuyên gần gũi Nguyễn Chí Thiện để đưa anh đi khám bệnh bác sĩ, đi ăn uống cũng như gặp gỡ tiếp xúc bạn bè thân hoặc lên đài truyền thanh, truyền hình.

Tôi vừa ngỏ lời, anh Trần Phong Vũ nói ngay: “Thiện đã vào bệnh viện cấp cứu. Tôi đang ở đó anh tới ngay nhé!”.

Tôi và bà xã vội phóng xe tới bệnh viện. Anh Thiện nằm tầng thứ 6. Anh Trần Phong Vũ và bác sĩ Nguyễn Văn Quát (tới thăm) đứng bên giường bệnh. Các cô y tá đang làm công việc đo nhịp tim và nghe phổi để sửa soạn đưa Thiện xuống phòng chuyên môn làm biopsy. Vì Thiện tim đập và nhịp thở quá yếu, người hoàn toàn mất sức, họ phải tiêm thuớc tăng lực và để anh nằm nghỉ một lúc. Tôi thấy mặt Thiện trắng bệch gầy guộc, đôi má hóp, lưỡng quyền nhô cao nhưng đôi mắt vẫn sáng. Anh nhận ra tôi ngay và đưa tay bắt. Anh cũng nhận ra bà xã tôi, mặc dầu mới gặp anh lần đầu cách đây dăm bẩy tháng. Khi các y tá đưa Thiện xuống phòng xét nghiệm, tôi mới có dịp hỏi Trần Phong Vũ về bệnh tình của anh. Anh Vũ cho biết: Thiện mắc bệnh phổi và vài bệnh khác từ lúc còn ở trong nhà tù cộng sản.

Sang Mỹ, Thiện rất ít lo việc chữa bệnh. Bạn bè hối thúc anh mới chịu đi. Nhưng cũng chỉ chữa qua loa, đỡ thì thôi. Trong vòng hơn năm trở lại đây, tuy thường xuyên ốm đau mệt mỏi, thân thể nhức nhối (khổ lắm) không ăn không ngủ được nhưng các đoàn thể hiệp hội gần xa mời anh tới dự hay nói chuyện anh vẫn cố gắng đi. Rồi các đài phát thanh, truyền hình địa phương liên tục mời anh tới phỏng vấn anh cũng đến với họ. Mấy tháng nay bệnh Thiện chuyển sang nặng, anh sống gần như khép kín trong căn phòng nhỏ nơi lầu 4 một chung cư ở Quận Cam. Anh ít tiếp xúc với mọi người. Anh mệt mỏi chán nản “hết muốn sống”. Anh nói với Trần Phong Vũ như vậy.

Trước nay Thiện ít tâm sự riêng tư với bạn bè nhưng có lẽ ngày càng cảm thấy cuộc đời trống rỗng mênh mông và cô đơn đến tận cùng nên anh giãi bầy với Trần Phong Vũ những nỗi niềm riêng (phải chăng anh linh cảm mình sắp lìa xa cõi thế?). Thiện sống khắc khổ trong đơn độc. Anh đi chợ nấu ăn lấy. Bạn bè tới mời ăn uống thì đi chứ cũng không mấy thích thú vì “ăn chẳng được bao nhiêu lại làm phiền bạn bè đưa đón” .

Tôi nhớ cách đây vài năm Nguyễn Chí Thiện đến San Jose tham dự đại hội gì đó, tôi mời anh về nhà ăn uống chuyện trò. Trong lúc vui câu chuyện tôi hỏi anh sao không lập gia đình. Sống nơi xứ người bọn mình nên có một người bạn đời giúp đỡ chăm nom săn sóc, nhất là với anh thân thể mang đầy bệnh hoạn. Tôi biết có nhiều cô nhiều bà cảm mến quý trọng anh, muốn sống chung với anh. Thiện trả lời ngay: “Tôi cũng muốn lắm nhưng gần 30 năm tù đầy khổ ải, thân thể đầy bệnh tật, nếu lập gia đình tôi biết mình sẽ không làm trọn vai trò người chồng. Tôi không muốn họ khổ lây vì mình nên đành phải sống cu ky một mình thôi”. Anh nghèo, tất nhiên (vì biết làm gì ra tiền). Ngoài số tiền trợ cấp hàng tháng của Sở Xã Hội, anh chẳng có một thu nhập nào. Làm thơ thì không có nhuận bút, hơn nữa từ khi sang Mỹ anh đâu còn làm thơ! Ngay cả tập thơ “Hoa Địa Ngục” người ta in tràn lan nhưng anh không được lấy một xu bản quyền. Chỉ có tập truyện ngắn viết trong 2 năm có tiền bản quyền thì đã ăn tiêu, nhất là gửi cho bạn bè hết từ lâu. Với số tiền trợ cấp hàng tháng của Nhà Nước chẳng có là bao, chi cho riêng mình còn thiếu. Thế mà anh vẫn nhịn ăn nhịn tiêu cóp nhặt từng đồng gửi về cho bạn bè đang sống khốn khổ trong nước.

Anh không nhận mình là thi sĩ. Anh nói là chỉ làm công việc ghép vần những câu chữ để nói lên sự phẫn uất căm hờn bọn lãnh tụ và chế độ cộng sản tàn ác và thân phận tù đầy trong địa ngục trần gian. 27 năm tù đầy và gần 20 năm trải qua bao nghiệt ngã nơi xứ người. Anh vẫn không nản lòng thối chí, vẫn “đường ta, ta cứ đi” .

Tôi đang viết những giòng này anh Trần Phong Vũ điện thoại cho biết sáng nay, khoảng 9 giờ, khi hay tin Thiện mất, anh vội vã tới Bệnh viện “gặp” Thiện và theo anh, một “dấu hiệu lạ” đã diễn ra: “Ông ấy nằm bất động đôi mắt mở lớn, tôi đưa tay vuốt nhẹ đôi mắt từ từ nhắm lại”. Nguyễn Chí Thiện từ chối mọi giải phẫu vì “không muốn kéo dài cuộc sống trong bệnh tật”. Bác sĩ đã không cho giây truyền kéo dài thêm ít giờ hấp hối để chờ người anh ruột là ông Nguyễn Công Dân từ Washington DC tới, vì “Thiện không muốn”.

Và anh qua đời để lại bao ngổn ngang dang dở việc đời. Anh chết vì bệnh phổi và bệnh tim. Ngày hôm trước Thiện nắm tay Trần Phong Vũ nói những lời trăn trối: Anh không muốn tham gia các tổ chức đoàn thể hoạt động chính trị. Anh muốn tự mình cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho quốc gia dân tộc, cho đấu tranh tự do dân chủ. Khi chết anh muốn bạn bè tổ chức an táng đơn giản theo nghi thức công giáo (anh nhập đạo Công giáo mấy tháng trước).  Lễ hỏa táng Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện tổ chức vào ngày thứ Bảy 6.10.2012 tại Quận Cam, bang California.

Thế là chấm dứt cuộc đời một người làm thơ đầy vinh quang nhưng cũng đầy gian nan nghiệt ngã. Bây giờ linh hồn Nguyễn Chí Thiện đang bay bổng nơi cõi Thiên Đường hay lại trở về quê hương đất nước san sẻ nỗi đau cùng Quốc Gia Dân Tộc và tiếp tục làm thơ tranh đấu?

Chúng ta tặng Nhà Thơ một bông hoa và mãi nhớ thương quý mến con người suốt đời hy sinh tranh đấu cho lý tưởng cao đẹp và sáng ngời ý chí bất khuất. Anh Nguyễn Chí Thiện! Anh ra đi chúng tôi mất một người bạn hiền, một người bạn quý. Vĩnh biệt Anh, Nguyễn Chí Thiện! [TTH]

Thanh Thương Hoàng

03.10.2012

Tiểu Sử Nhà Thơ Nguyễn Chí ThiệnNguyễn Chí Thiện sinh ngày 27.2.1939 tại Hà Nội, là tác giả tập thơ nổi tiếng “Hoa Địa Ngục” sản phẩm của 27 năm trong lao tù cộng sản.

Tập thơ, vì đưa lậu ra hải ngoại nên đã được in ra dưới những tựa đề khác nhau như “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” và “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam” cũng như được gán cho một tác giả vô danh đã gây ra nhiều vụ tranh cãi một thời gian. Sang Mỹ vào cuối năm 1995, Nguyễn Chí Thiện cho xuất bản tập thơ “Hoa Địa Ngục 2” tức “Hạt Máu Thơ” (1996) và tập truyện ngắn “Hỏa Lò”, tác phẩm thứ ba của ông.

Thơ của Nguyễn Chí Thiện được dịch sang nhiều các tiếng Anh, Pháp, Đức, Tàu, Nhật, Tiệp và được các nhạc sĩ tên tuổi phổ nhạc. Hai lần ông được đề nghị trao giải Nobel Văn học. Nghị viện các nhà văn (Parlement des Ecrivains) Âu Châu đã mời và đài thọ ông ăn ở trong hai năm tại Strasbourg rồi St. Lô ở Pháp để nghỉ ngơi và viết sách.

Tập truyện “Hỏa Lò” và một bản dịch Pháp văn “Hoa Địa Ngục” ( Fleurs De L’enfer) là kết quả của 2 năm này.

Chỗ đứng của Nguyễn Chí Thiện trong nền văn học thế giới ngày nay được ghi trong sách “Who’s who in Twentieth-century World Poetry” do Mark Willhard chủ biên (London & New York, Routledge, 2000).

——————————————-

Zulu

Từ những năm cuối cuả thế kỷ trước, nhiều lần đi biểu tình, tôi cũng để tỏ lòng ngưỡng mộ thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, đã đến chào hỏi giống như TMY, tôi hụt hững vì thi sĩ NCT chỉ đáp trả một cách hờ hững, chiếu lệ. Lúc đó tôi thầm nghĩ, có lẻ thái độ hờ hững ấy là do thói quen sống dưới chế độ cộng sản mà ra, nên không buồn như Ô. bạn.

Sau này, về ở quận Cam, sinh hoạt trong nhóm thân hữu TNCV, tôi thường gặp, trao đổi với thi sĩ NCT trong những lần họp mặt tại nhà bình luận gia Lý Đại Nguyên   (LĐN). Tôi nhận ra có 2 NCT rất rõ nét. Một NCT trong thân quen, và một NCT trên bục thuyết trình hay trên sân khấu. Trong khi diễn thuyết, NCT trông khoẻ, hùng hồn, trí tuệ, linh hoạt, nhưng khi trò chuyện với người quen, NCT ôn tồn, chỉ nói, trả lời gảy gọn rồi ngồi im.

Từ những tiếp xúc đó, tôi hiểu và kính nể Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện nhiều hơn. Những lễ lược trong năm, Party hay sinh nhật, Ông Bà LĐN đều chở thi sĩ NCT đến, mấy người con của bình luận gia LĐN (Lý Đại Nguyên) tặng quà cho Ba các cô ấy sao, thì tặng thi sĩ NCT cũng như vậy, thâm tình giủa ÔB. LĐN  (Lý Đại Nguyên)  với thi sĩ NCT là sự gắn bó cả hai mặt, tinh thần và tình cảm.

Mới đây tôi gặp thi sĩ NCT, trông Ông bình thường, tĩnh táo và vui vẻ nói với tôi đã nhận bức chân dung do quỷ TNLT (Tù Nhân Lương Tâm) trao tặng. Không ngờ đó là lần cuối. Tôi đi San Diego ở chơi với mấy ông  mấy hôm, trên đường về nghe tin Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã mất. Tôi exit tấp vào một cây xăng, lặng người.

Chuyện thi sĩ NCT rửa tội làm tôi chưng hững, hoả táng là một chứng tỏ ảnh hưởng Phật giáo.
Tôi thành kính cầu nguyện hương hồn thi sĩ yên nghĩ nơi cõi vĩnh hằng.

(http://dcvonline.net/modules.php?name=News&file=article&sid=9396)

Minh Đức

Nguyễn Chí Thiện dường như được miễn nhiễm với các từ ngữ hoa mỹ của tuyên truyền. Trong nhiều bài thơ ông nói lên sự thực trong đời sống miền Bắc mà hàng chục năm sau này, một số người sống miền Bắc thời đó mới chịu công nhận. Trong khi toàn thể dân miền Bắc được đọc báo, nghe radio là đời sống dưới chế độ mới rất ấm no thì ông Nguyễn Chí Thiện dường như dửng dưng trước những bài ca tụng xã hội đẹp đẽ đó mà làm thơ như:

Tôi thường đi qua phố
Có anh chàng mù, mắt như hai cái lỗ
Kính chẳng đeo, mồm thời xệch méo
Ngậm vào tiêu, cổ nổi gân lên
Dốc hơi tàn thổi đứt đoạn như rên
Mấy bài hát lăng nhăng ca ngợi Đảng:
-Đã mang lại ấm no và ánh sáng!
Một buổi sớm, anh hình như choáng váng
Gục xuống đường, tiêu rớt sang bên
Tôi vội vàng quay lại đỡ anh lên
Anh chỉ khẽ rên: Trời, đói quá!

NCT, 1959

——————————-

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn từ biệt nhà thơ Nguyễn Chí Thiện với lời lẽ như sau:

Nhìn lại bối cảnh khắc nghiệt, tăm tối của Hoa địa ngục cách đây gần nửa thế kỷ và thực trạng hôm nay còn rất nhiều bậc trí giả vẫn tự coi Đảng, Bác là những thứ húy kỵ, lại càng thấy cái ghê gớm nhất, đáng kính phục nhất của Hoa địa ngục: không phải là bản lĩnh tù đày, kiên gan trong cô đơn hay trường thơ tố cáo in trong trí nhớ, mà là sự nhìn ra sớm, nhìn thấy triệt để nhưng lại không giấu mọi người về cái Ác rất to lớn – cái Ác ở tầm quốc gia, dân tộc.

Hoa địa ngục đương nhiên phải chia tay trần thế nhưng chắc chắn không bao giờ phải đi về địa ngục.!

Đồng ý với BS Phạm Hồng Sơn!

Người ra đi nhưng thơ ở lại
Để mọi người cùng đọc lai rai
Nhớ đến ông Thiện, ngẫm tương lai
Mong một ngày TỰ DO trở lại

“Hoa địa ngục” và Đảng, Bác, Mác-Lê…

———————————————————-

Chương trình Tang Lễ
của Nhà Thơ Thomas More Nguyễn Chí Thiện

Lễ Phát Tang, Thánh Lễ Cầu Nguyện,
và thăm viếng sẽ được tổ chức tại:

** Nhà Thờ Đức Mẹ La Vang
(Our Lady of La Vang Church)
288 S. Harbor Blvd.,
Santa Ana, Ca. 92704.

** Thứ Sáu, ngày 5 tháng 10, 2012:

Từ 12:00 P.M đến 1:00 P.M : Lễ Phát Tang

– Từ 1:00 P.M đến 7:00 P.M: Thăm viếng và Cầu nguyện.

– Từ 7:00 P.M đến 8:00 P.M: Thánh Lễ Cầu Nguyện sẽ do
Đức Giám Mục Mai Thanh Lương, Giám Mục Phó Giáo
phận Quận Cam, và một số linh mục đồng tế.

** Thứ Bảy, ngày 6 tháng 10, 2012:

8:00 A.M: Thánh Lễ An Táng.

Sau đó linh cửu sẽ được di chuyển để hỏa táng tại nhà quàn:

Melrose Abbey Memorial Park
2303 South, Manchester Ave.
Anaheim, CA 92802

Tang Gia Xin Miễn Phúng Điếu

—————————————————–

mythanh

Thơ Gởi Ngục Sĩ

Từ đáy vực vẫn ươm Hoa Địa Ngục
Ngục sĩ mơ
Sẽ Có Một Ngày

Nửa thế kỷ dài
Thoát tù đày,
Trăm ngàn bài diễn thuyết …
Đến xuôi tay
Một Ngày còn trong khát vọng

Ngục sĩ ơi
Trời Cali nắng ấm
mà giá ngấm tận tim
Nắng quái kia nhòa nhạt một ảnh hình
Mái tóc bạc, dáng thanh cao…

Chào từ biệt
Một nhân cách của dân tộc Việt
Cương kiên đời oan nghiệt
Núi đá giữa đau thương
Đá hóa thơ, phá cấm cố rào tường
Bay tới tự do
Lấp lánh soi dòng văn chương đất nước
Dòng thơ xuyên suốt thời bạo ngược
Không mỹ từ chải chuốt
Chỉ sự thật, những lời uất uất
Thơ như Người
Uy vũ bất năng khuất

Chào biệt nhé, người thi sĩ của quê hương
Phải vui thôi, không rơi nước mắt
Vui tiễn chuyến hành trình đến thiên đường
Người để lại đời tập thơ bất tử
Và ước mơ bao dung đang chờ giờ lịch sử

“Sẽ Có Một Ngày…
Đứng bên nhau trên mất mát quây quần …
Đặt vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông
Khai sáng kỷ nguyên tã trắng thắng cờ hồng.”
(thơ NCT)

——————————————————

thibang

Tưởng Niệm Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện !

Ôi ! Đêm kinh hòang
Xích xiềng khua lỏang xỏang
Lũ thú người
Cộng sản tựa ma trơi
Nhe nanh
Bên vạn xác người
Đưa miền Bắc vào thời Trung cổ !

Trong tuyệt vọng tối trời
Bổng nở
Một đoá hoa sen rực rỡ
Giữa bùn nhơ
Giơ nắm tay chánh khí
Sáng ngời ngời
Ngòi bút thép
Rực muôn lời thơ thống thiết !

Nguyễn Chí Thiện
Tên đi vào sử Việt
Sỉ khí rạng ngời
Bất diệt thiên thu
Gần ba mươi năm trời
Đày đạo chốn lao tù
Vì dám cất lời
Đòi tự do dân chủ !

Chí cả quên thân
Chống gian manh Cộng phỉ
Vướng đòn thù
Xiềng xích lao lung
Thân gày gò
Như tuổi thanh xuân
Trải bao năm tháng tận cùng gian khổ !

Hoa Địa Ngục
Từ đọa đày bừng nở
Tiếng vọng từ đáy vực
Bổng vang lên
Tố cáo tội ác tận cùng
Của lũ Cộng điên
Lời báo động vọng vang
Gây kinh hòang
Khắp năm châu bốn biển !

Văn hiến ngàn năm
Linh hiển
Giục tòan dân Viêt
Hãy đứng vùng lên
Lửa căm hờn theo gió bảo
Biến thành đạn tên
Lửa đia ngục!
Sẻ thiêu đốt sạch bầy ác quỉ !

Than ôi!
Mấy dòng chánh đạo
Muôn đời còn bừng sĩ khí
Nhắm mắt xuôi tay
Mà vẫn vẹn tấm lòng son
Hoa Địa Ngục
Nước non còn ghi nhớ mãi !

04/10/2012
thibang
Thành Kính Tưởng Niệm !

——————————-

Remembering Nguyen Chi Thien

http://www.huffingtonpost.com/john-l…b_1943010.html

John Lundberg-Writer, Poetry teacher

Posted: 10/07/2012 2:50 pm

Even those who don’t love poetry should take some time to reflect on the courageous life and works of Nguyen Chi Thien, who passed away on Tuesday at a hospital in Santa Ana, California at the age of 73. 

Nguyen was first arrested by the North Vietnamese government in 1960 for refusing to pass along misinformation about the Second World War while teaching — he made clear to his students that the United States, not the Soviet Union, had forced the Japanese to surrender. The indiscretion earned him three and a half years in a government labor camp. Undeterred, Nguyen was arrested again in 1966, this time for spreading “propaganda” through his poetry. For the crime, he served another eleven years in prison, finally earning his release in 1977, two years after the end of the Vietnam War. 

While such harsh treatment would likely cow most people into silence, Nguyen was unbroken. In 1979, he audaciously walked into the British embassy in Hanoi with a 400-page poetry manuscript he’d composed and memorized while in prison. He was arrested as he left the embassy, and this time forced to serve 12 years in the infamous Hanoi Hilton. 

During Nguyen’s last prison term, Flowers from Hell, the poetry manuscript for which he’d sacrificed his freedom, was published in Vietnamese, English, French, German, Dutch, Chinese and Korean. It won him the International Poetry Award in 1985, while he was still imprisoned. 

Reading Flowers from Hell, it’s quickly apparent why the government sought to silence Nguyen, who was bold and outspoken in his criticism. This excerpt from “If Tomorrow I Have to Die,” is one example:

Why is it that I dream only of the better facets,
That only glories of the past seep through to my poetry?

Can it be that life today
Is filled with poison in its very innards
Whereas the old society’s defects were mere pimples?

And in this excerpt from “Today, May 19th,” written in 1964 about Vietnamese president Ho Chi Minh, Nguyen did not mince words:

Let the hacks with their prostituted pens
Comb his beard, pat his head, caress his arse!
…The hell with Him!

Nguyen was finally released from prison in 1991, and he eventually settled in the Little Saigon area of Los Angeles. In his poem “Every Day I Would Go,” written in 1958, Nguyen described his days before protest and imprisonment:

Every day I would go to the tea shop
At a time when it is almost deserted
I would pick a table in the innermost corner
Where I could sit by myself reading the paper and brewing

The poem ends, dejectedly, with Nguyen

…shaking my head in an attempt to shake away
The images blurred and rather melancholic
Of a meaningless life, almost thrown away.

Nguyen reportedly spent his last days in similar manner: sipping tea, reading late into the night, and even talking a little politics. But, in his last years, he could reflect on a life of extraordinary meaning that, by all accounts, he did not throw away.

You can read some of Nguyen’s poetry here, and can purchase a copy of Flowers from Hell here.

http://www.vietnamlit.org/nguyenchithien/poems.html

 

 

Posted in Nhan Vat | 1 Comment »

►Cuộc chiến tranh giành quyền kiểm soát các ngân hàng giữa các nhóm lợi ích, nhà nước, và gia đình các cán bộ cao cấp của đảng

Posted by hoangtran204 trên 02/10/2012

Bà Nguyễn Thanh Phượng lên chức chủ tịch Hội Đồng quản trị Bản Việt 20-2-2012 và trở thành người đại diện pháp luật cho Bản Việt.

Biết trước sắp có chuyện xảy ra và cần phải đề phòng, nên ngày 20-6-2012, bà Nguyễn Thanh Phượng thôi làm người đại diện pháp luật cho ngân hàng Bản Việt

Quả nhiên, đúng 2 tháng sau, chuyện xảy ra khi công an bắt Bầu Kiên vào ngày 20-8-2012, kế đó bắt Tổng giám đốc ACB Lý Xuân Hải, bắt giám đốc Trần Ngọc Thanh, và bà Nguyễn Thị Hải Yến – Kế toán trưởng Công ty Cổ phần đầu tư ACB Hà Nội, tất cả bị khởi tố với vai trò là đồng phạm với Nguyễn Đức Kiên trong vụ án.

Đúng 1 tháng sau, ngày 20-9-2012, quan làm báo đưa tin công an sẽ bắt và truy tố chủ tịch hội đồng quản trị ACB Trần Xuân Giá. Đến ngày 22-9, báo phỏng vấn nói là ông Giá đang lo sợ, buồn vì có tin đồn ông sắp bị bắt và truy tố. Quả nhiên 3 ngày sau đã có tin chính thức ông cựu bộ trưởng này bị truy tố, rồi tin TXG được tha và cho tại ngoại.  Trước khi bị khởi tố vài ngày, 19-9-2012,  ông Giá  loan tin ông bị ung thư trực tràng!

Ông này biết rất nhiều chuyện bí mật về tài chánh, đầu tư nước ngoài vào VN từ hồi 1981 cho đến nay, tin trên mạng còn cho biết, ông Trần Xuân Giá là người thầy đỡ đầu cho Nguyễn Thanh Phượng trong hơn mười mấy năm nay,  nên chắc chắn không ai dám đụng đến ông ta.

Tiểu sử ở đây cho thấy ông ta được du học qua Nga thời chiến tranh VN,  rồi trở về nước giảng dạy; ông nói có làm bộ đội vài năm ở chiến trường Huế. Năm 1981 đã là thứ trưởng, rồi bộ trưởng, và 2003 đó làm trưởng ban đổi mới chính sách kinh tế, xã hội, hành chính, và tham gia làm luật doanh nghiệp 2005.

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Khởi tố ông Trần Xuân Giá (27/09/2012)

Ông Trần Xuân Giá: ‘Tôi rất buồn vì tin đồn bị khởi tố’ (22/09/2012)

Chủ tịch ACB Trần Xuân Giá: “Mình bị ung thư, nay xin từ nhiệm” (20/09/2012)

Ông Trần Xuân Giá từ nhiệm, Ông Trần Hùng Huy lên làm chủ tịch HĐQT của ACB (19/09/2012)

Chủ tịch ACB Trần Xuân Giá đang đi công tác nước ngoài (22/08/2012)

Ông Trần Xuân Giá: Giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp (28/05/2012)

Ông Trần Xuân Giá: Tái cấu trúc nền kinh tế phải bắt đầu từ tái cơ cấu đầu tư (12/09/2011)

Ông Trần Xuân Giá: Không nên bỏ qua bài học của quá khứ (16/03/2011)

——————————————————-

Nữ doanh nhân 32 tuổi làm chủ tịch HĐQT ngân hàng Bản Việt và 3 đại công ty

  •  Thời hoàng kim

    Sau khi ngân hàng TMCP Gia Định đổi tên thành ngân hàng Bản Việt, đội ngũ lãnh đạo của ngân hàng có sự thay đổi lớn…Trước đó, trong đại hội cổ đông bất thường của GiaDinhBank ngày 3/11/2011, có thông tin cho rằng bà Phượng chỉ giữ chức thành viên hội đồng quản trị ngân hàng này.

              30-1-2012  Ngân hàng TMCP Gia Định công bố chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bản Việt.  (Nguồn)
  • 20-2-2012  Bà Nguyễn Thanh Phượng giữ chức Chủ tịch VietCapital Bank (Nguồn)

    Ngoài ra, nữ thạc sỹ 31 tuổi này còn nắm chức vụ Chủ tịch 3 tổ chức khác là công ty quản lý quỹ Bản Việt, công ty chứng khoán Bản Việt và công ty bất động sản Bản Việt.

    Sau khi đổi tên từ ngân hàng TMCP Gia Định (GiaDinhBank) sang ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank),

    30-1-2012,  bà Nguyễn Thanh Phượng đã chính thức thay ông Đỗ Duy Hưng đứng vào vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT).

    Ông Hưng hiện đảm nhiệm vai trò mới là Tổng giám đốc ngân hàng này thay cho ông Lê Trung Việt.

    Đến nay, bà Phượng là Chủ tịch HĐQT của 4 công ty, tổ chức. Ngoài ngân hàng Bản Việt, bà còn là Chủ tịch HĐQT của 3 công ty khác là công ty quản lý quỹ Bản Việt, công ty chứng khoán Bản Việt và công ty bất động sản Bản Việt.

    … bà tốt nghiệp ngành Tài chính – Ngân hàng ở Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội) và đã hoàn tất chương trình Thạc sĩ chuyên nghành Quản trị tài chính của trường Đại học Quốc Gia Geneva, Thụy Sĩ.

  • 20-2-2012   Con gái Thủ tướng giữ chức Chủ tịch VietCapital Bank*   (Nguồn)

    Trở thành người đại diện pháp luật cho VietCapital Bank (ngân hàng Bản Việt). 

  • 20-6-2012  Bà Nguyễn Thanh Phượng thôi làm người đại diện pháp luật của VietCapital Bank

    Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt (VietCapital Bank) vừa thông báo thay đổi tên người đại diện theo pháp luật từ ngày 20/6/2012

  • 27-9-2012 Hai thành viên xin rút khỏi Hội đồng Quản trị VietCapital Bank

    Ngày 27/9, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt (Viet Capital Bank) đã tổ chức thành công Đại hội cổ đông bất thường năm 2012

Hai thành viên xin rút khỏi Hội đồng Quản trị VietCapital Bank

THU THỦY

28/09/2012

picture

Đoàn chủ tọa đại hội cổ đông bất thường năm 2012 của Viet Capital Bank.

Ngày 27/9, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt (Viet Capital Bank) đã tổ chức thành công Đại hội cổ đông bất thường năm 2012. Các cổ đông đại diện cho hơn 86,14% vốn điều lệ của Viet Capital Bank đã tham dự đại hội.

Theo đó, Đại hội cổ đông đã thông qua việc sửa đổi một số nội dung trong Điều lệ của Viet Capital Bank. 

Theo Viet Capital Bank, sự thay đổi này nhằm cập nhật những quy định mới, phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng hiện hành và nâng cao khả năng quản trị, sức cạnh tranh của ngân hàng trong giai đoạn mới. 

Ngoài việc thông qua sửa đổi một số nội dung trong Điều lệ, đại hội cổ đông Viet Capital Bank cũng đã thông qua việc xin thôi làm thành viên Hội đồng Quản trị Viet Capital Bank của ông Nguyễn Văn Cựu và bà Trần Tuấn Anh.

Như vậy, sau khi hai thành viên trên xin rút, Hội đồng Quản trị của Viet Capital Bank sẽ gồm 5 thành viên.

——————————-

*Mời các bạn chạy qua trang của blogger Đinh Tấn Lực để đọc các bài nhận định và phân tích thời sự trong nước. 

2-10-2012

Động loạn bầy vua – Te tua bầy quan

nguon: http://dinhtanluc.wordpress.com/dong-loan-bay-vua-te-tua-bay-quan/

. Đinh Tấn Lực 

Lũ ta là con rối
Cho cuộc đời giật dây…
(Chế Lan Viên)

 

Lũ giật dây bỗng ngỏm
Bèn lạy thằng hàng xóm:
Hữu nghị tình xin nối
Mối dây nhờ chăm nom.
(Đinh Tấn Lực)

Từ giữa năm tới giờ, cái âm thanh xoành xoạch nghe ra mỗi lúc mỗi rát tai. Tình hình thay đổi nhanh hơn tốc độ pốt tin/tháo bài trên hệ truyền thông chính quy. Tất yếu là nhanh hơn dự phóng của bộ sậu tứ trụ triều đình vốn dĩ có tầm nhìn chưa đời nào qua khỏi tròng kính cận.

Chẳng bao lâu trước đây, tình trạng sứ quân hỗn chiến hầu hết xảy ra dọc theo hàng nghìn cây số biên giới và các vùng kinh tế chủ quản mênh mông từ xám tới đen. Nay đã hỗn quân hỗn quan/loạn chiêu đòn độc, giữa sân chầu. Vì đâu?

Trước, quyền sinh lợi. Nay, lợi mãi quyền. Tiêu chí quyền lợi bao trùm quyền lực, kể từ khi hệ quốc doanh chủ đạo biến thể thành những tập đoàn quả đấm vĩ mô và đồng loạt rơi vào tay viên thừa tướng nức tiếng đại tài thu gom/vun vén. Cả than, cả thép, cả dầu, cả khí, cả nhôm, cả gạo, cả điện, cả sim, thậm chí, cả kho bạc có thằng ku bảo vệ cứ lăm le nhìn nghiêng/trông thẳng… Đầu vào có tên là tài nguyên đất nước và lao động giá bèo. Đầu ra là các trương mục ngân hàng Thụy Sĩ.

Chính trường và Thương trường trở thành món hàng hai trong một. Các nhóm lợi ích thăng hoa và đầy túi. Có xấp xỉ đâu đó hàng chục tập đoàn và gần trăm tổng công ty ổ nhện giăng mạng định hướng bát nháo cho nền kinh tế thị trường xà xẻo. Dẫn đầu quy trình hóa bùn đại trà là những quả đấm thép Vinashin, Vinalines và các thứ đồng loại Vinakủkải… Quả táo kinh tế, dưới những câu thần chú có tên là nghị quyết và tái cấu, đã tóp teo/nhăn nhúm như táo tàu phơi mẹt chờ đậy vung nồi sâm bổ lượng. Nhung nhúc đầy sâu. Miếng ăn ngày càng nhỉn. Thị trường thu hẹp không chờ ai ngạc nhiên. Địa bàn manh mún. Nia nhiều hơn sàng. Mô mìn san sát. Nỗ lực tranh phần ngày càng gay. Chỏ tay ngày càng nhọn. Mắt mũi ngày càng nhầu. Sân chầu ngày càng náo. Cung vua phủ chúa ngày càng căng. Miếng trả miếng. Đòn tiếp đòn. Mắt răng tung tóe.

Tình hình chung là Bục Bể Phốt. Tên chữ là Vỡ Trận.

Cả Vỡ Trận kinh tế. Cả Vỡ Trận ngoại giao. Cả Vỡ Trận truyền thông.

Và sau cùng là Vỡ Trận thỏa hiệp thượng tầng nội bộ đảng.

*

Lóng Lánh Bóng Xà Phòng

Kinh tế VN, trong vài thập niên qua, đã dập dồn chuyển đổi từ Chỉ huy Tập trung sang Thị trường Hoang dã bằng Định hướng Sứ quân cát cứ Giành giật địa bàn. Rồi biến tướng thành Tập trung mọi Địa bàn vào tay thủ tướng đương nhiệm và gia tộc hắn, kể từ ngày 27-06-2006.

Ở VN, xưa giờ, chưa có nhà nào làm giàu nhanh hơn gia đình Nguyễn Tấn Dũng. Vừa nắm trọn các mũi nhọn lẫn các quả đấm kinh doanh đa ngành đa lãnh vực, lại vừa nắm luôn chức vụ trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng để bao che/be bờ cho băng đảng, thì nhịp độ làm giàu cao tốc đó là điều không đáng ngạc nhiên. Nó chỉ gây sốc trong toàn đảng một khi nhịp độ vỡ bóng kinh tế và vỡ nợ khu vực công cũng thuộc hàng cao tốc không kém. Từ Vinanày đến Vinakhác. Từ dầu khí tới thủy điện. Từ địa ốc tới ngân hàng. Từ tay Cục trưởng tàu ngầm Dương Chí Dũng cho tới415.000.000.000.000đ (415 nghìn tỷ đồng) nợ xấu có cơ mất trắng

Thậm chí, ngay cả những biện pháp nhồi sâm/tiêm thuốc khỏe hồi dương cho nền kinh tế hấp hối lâm sàng này, dưới tên gọi kích cầu/bơm tiền/tái cấu, cũng đều là những cơ hội lại quả/xà xẻo/vét chuyến chót. Lớn là xây bảo tàng hàng chục nghìn tỷ đồng và tàu cao tốc/điện hạt nhân hàng tỷ USD. Còn nhỏ là ăn đá Trường Sa/ăn tiền cứu trợ/ăn cả hài cốt liệt sĩ.

Cũng chưa bao giờ trong chế độ độc tài nhân danh XHCN này xảy ra trường hợp các đầu nậu ngân hàng từ chức đồng loạt, ngay sau hai biến sự lịch sử là đại biểu QH Hoàng Yến bị thanh trừng bất chợt và sự nghiệp trùm Mafia của bầu Kiên bị thanh toán tức tưởi bởi đòn phép tàn độc chặt chân chặt tay nhau của các ủy viên Bộ Chính Trị. Khiến cả con gái của Tô Huy Rứa và con gái của Nguyễn Tấn Dũng cũng vội vã vất giày tháo chạy khỏi những chức vị trong tầm ngắm của các đối thủ thượng thừa, trước đó. Rồi mới đây, thêm hai thành viên xin rút tên ra khỏi Hội đồng Quản trị Ngân hàng Bản Việt.

Mọi khuyết tật kinh tế thật và đầy tràn, đang rất cần nỗ lực cấp thiết cải thiện, đều trở thành ưu tiên thứ yếu so với động lực vơ vét tài nguyên đất nước làm của riêng và các biện pháp trả đòn nội bộ. Kể cả các khuyết tật lạm phát phi mã, giá cả tăng vọt, sức mua kiệt quệ, chứng khoán thủng đáy, lãi suất phá trần, tín chấp chào vay, mê trận vàng thỏi, sản xuất đình động, doanh nghiệp cạn vốn, ô-tô hấp hối, hàng Việt yếu thế ngay trên sân nhà, thị trường bất động sản suy thoái toàn diện, mức tín dụng ngân hàng tụt xuống hạng Caa1 và mức tín nhiệm quốc gia xuống mức B2, gần chục vạn doanh nghiệp giải thể, lâm trường bị hủy diệt, thị trường bị TQ xâm chiếm, ngư trường bị TQ phong tỏa v.v…

Nội dung số 6 của Kết luận 21 ghi rõ: “Ở Trung ương, thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban”. Thế nhưng trên đường thực thi Kết luận 21, Chính phủ đã thực hiện dự thảo sửa đổi bổ sung Luật Phòng Chống tham nhũng theo chỉ đạo của Nguyễn Tấn Dũng là dự án này “chưa cần đề cập đến đến việc kiện toàn Ban Phòng chống tham nhũng”. Con tàu tất yếu xoay ngang, rồi xoay mòng giữa dòng, bất kể chiều nước/hướng gió, một khi lái tàu nhất quyết cùng lúc giật cần điều khiển máy chạy hết công suất “tả tiến-hữu lùi”. Quốc hội đâm hoang mang cùng cực, rồi cùng nhau đệ đạt BCT “tiếp tục thảo luận nhiều hơn về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”. Rõ ràng là kết luận họp đảng không bằng kết quả họp đàn.

Chưa bao giờ tình hình “Nam liềm-Bắc búa” rõ nét bằng độ phân giải cực cao như hiện giờ. Liềm Dũng đã gặt tận gốc rạ trên mọi mặt trận kinh tế, trong lúc búa Trọng chỉ mới vỗ nhẹ trên đe phòng chống mấy thằng đầu gấu mót lúa, mà chưa chắc sẽ níu được cái lưng ghế trưởng ban chỉ đạo. Thị trường chứng khoán VN nhấp nháy sụt mất hơn 5 tỉ USD chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, ngay sau khi báo chí được phép lộ tin con bạch tuộc Mafia đầu bạc bị tóm rồi bị chuyển tội danh kinh tế thành chính trị, với cái án dự phóng trước mắt từ mọt gông tới dựa cột. Các bên không cứu được thuộc hạ, đành mang tiếng thí quân, và chỉ có thể rửa hận bằng cách truy bức thuộc hạ khác của đối thủ để mong đánh vỡ đội hình phe nó. Chẳng phải do rỗi hơi mà Trương Tấn Sang đích thân dẫn đầu một phái đoàn hùng hậu đi săn lùng/kiểm điểm đảng bộ Ngân Hàng Nhà Nước.

Các trụ cột của chế độ va nhau long vôi rớt vữa, như những hàng chai nhựa dưới sức dập của quả bóng Bowling có in hình các vị tổng thống Mỹ. Những đồng đô thần chú đã tài tình đến mức thần sầu trong quy trình biến cải rất đông đồng chí thành những kẻ thù đồng mộng đô-la nhưng không đồng sàng cơ cấu.

Chẳng hề có một thế lực thù địch hay yếu tố khách quan nào dự phần vào đây. Chính động lực vơ vét và trả đòn nhau của lãnh đạo đảng mới là những hồi kèn thôi thúc cho tiến trình vỡ trận kinh tế, vĩ mô là các quả đấm thép hóa bùn, còn vi mô là các bó rau muống hóa vàng.

*

Chập Chờn Tờ Hiệp Ước

Ngay khi Trương Tấn Sang khấu kiến Hồ Cẩm Đào nhân dịp tham dự Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 20, và diễn ra cuộc Đối thoại chiến lược quốc phòng cấp thứ trưởng Việt-Trung lần thứ ba giữa  Thứ trưởng Bộ Quốc phòng VN Nguyễn Chí Vịnh với Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội TQ Mã Hiểu Thiên để cùng “khẳng định tình đoàn kết giữa quân đội hai nước”, thì cũng là lúc Cục Quản lý Thông tin tỉnh Hải Nam tiến hành công tác Quy hoạch các hạng mục xây dựng mạng thông tin thành phố Tam Sa.

Ngay đúng vào lúc Nguyễn Tấn Dũng tham dự Hội chợ triển lãm ASEAN – Trung Quốc (CAEXPO) và Hội nghị thượng đỉnh đầu tư-thương mại ASEAN-Trung Quốc (CABIS) lần 9 tại thành phố Nam Ninh, thì, như tin báo chí chính quy VN loan tải: “TQ lại hoành hành ở biển VN”. Trong lúc Tân Hoa Xã long trọng đăng phóng sự “VN-TQ đồng ý nhiều thỏa hiệp về biển”. Còn Nguyễn Chí Vịnh tuyên bố: “Việt Nam không còn bất cứ băn khoăn gì khi hợp tác với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực, giải quyết với Trung Quốc mọi bất đồng”.

Truyền hình VTV1 đã long trọng chiếu hình ảnh Nguyễn Tấn Dũng ôm hôn thắm thiết lãnh đạo khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây, tức thuộc hàng quan chức địa phương cấp thấp của TQ. Trong lúc Chính phủ VN cử một nữ bộ truởng vô danh tiếp đón Phó Thủ tướng Đức Philipp Rösler. Hay chỉ thị cho báo chí trong luồng đăng những bài viết thiếu tính lành mạnh ngoại giao về Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton…

Rồi vào đúng ngày quốc khánh của CSTQ, Phó thủ tướng VN kiêm Chủ tịch Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương VN-TQ đã dzung dzăng lãnh đạo một số Bộ, ngành, địa phương của VN cùng đại diện Đoàn Ngoại giao tới dự tiệc chiêu đãi do Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam Khổng Huyễn Hựu tổ chức . Tại đây, Nguyễn Thiện Nhân đã khiến Khổng Huyễn Hựu cười tươi bằng một khẳng định chắc nịch: “Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc tiếp tục có những tiến triển mới trên tất cả các lĩnh vực. Các chuyến thăm và gặp gỡ cấp cao được duy trì thường xuyên đã góp phần tăng cường hơn nữa tin cậy về chính trị giữa hai bên”. Cụ thể ra là: “Không để Biển Đông ảnh hưởng quan hệ Việt-Trung”, như lời thánh phán.

Mọi kỳ vọng/nghi ngờ/đồn đoán về thế chân vạc “Trung-Việt-Mỹ”có thể thu nhỏ độ ồn vì mặt trận ngoại giao đã vỡ nát tại đây, bởi, nhìn chung, tình hình là TQ tăng tốc chi phối đảng và nhà nước CSVN toàn phần và toàn phương vị, ngay sau khi Phó thái thú An Nam Đô hộ phủ Nguyễn Tấn Dũng thực hiện mỹ mãn chuyến khấu tấu “Thành Đô hồi hai”.

Cũng không còn thắc mắc gì nữa. Mọi người đều rõ: Rắn ở đâu và đứa nào đang cõng. Gà chỗ nào và thằng nào đang cắn. Một khi triều đình đã lệnh xử chém mọi Công dân lẫn Việt kiều gióng tiếng đòi bảo vệ chủ quyền ông cha để lại cho dân tộc Việt hơn bốn ngàn năm qua, khiến dư luận thế giới đồng thanh phản đối, lên án “phi công lý”, “đáng xấu hổ”… Cả chính phủ, quốc hội các nước Âu Mỹ Úc. Cả HRW, IA, RSF, Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc… đều cùng nhăn mặt.

Kể ra, quả thật là có lý có tình biết bao, khi nghe đâu đó một tay kiến trúc sư thượng thặng của đảng đã luận rằng: “Xây bảo tàng nghìn tỷ để khẳng định chủ quyền nước Việt”.

Rõ là rất nên cất giữ chủ quyền VN vào viện bảo tàng, từ đây, để con cháu đều rõ là chúng ta đã từng có thời có nó.

Xập Xình Đài Với Báo

Dương Chí Dũng lọt lưới, mất tích, rồi nghe đâu sa lưới, nhưng vẫn thất tung, chí ít là trên mặt truyền thông đại chúng. Ai chung chi cho hắn? Hắn chung chi cho ai? Ai giúp hắn bôn tẩu? Ai chỉ đạo truy sát? Công an chập chờn vào cuộc rồi bị ai đá văng khỏi cuộc? Ai thực sự làm chủ cái nắp hũ mắm dòi? Dương Chí Dũng thuộc đường dây nào trong nhóm lợi ích có tên là chính phủ? Mức độ hiểu biết tận tường ngõ ngách tham nhũng của hắn tới đâu? Mắt xích nào có thể bung kế tiếp? Các đầu gấu thượng tầng đã có đủ thời gian làm bốc hơi chứng cớ? Con cờ thợ lặn hết bình hơi đó sẽ được dùng trong Hội nghị TW cấp tập đầu tháng 10 này như thế nào? Vân vân…

Trầm Bê còn nhớn nhác. Cố vấn Hưởng bị đá đít. Bố già Kiên bị tóm cổ. Liệu bầu Kiên hiểu biết thông thoáng hơn Dương Chí Dũng về các đường dây tham nhũng cao tốc? Động cơ nào khiến tội danh kinh tế biến thành an ninh chính trị? Có phải bầu Kiên là một thứ Năm Cam cao cấp thời điện hạt nhân sắp thành dự án? Do đâu có lời dọa một bản án tử hình? Xác suất hắn “hợp tác khai báo” với phe đối nghịch cao thấp ra sao? Liệu kẻ thù của chính phủ còn có khả năng nào khác để khóa sĩ bắt tượng cho trống hàng rào bảo vệ thủ tướng? Lý do nào khiến BCT không bỏ phiếu nội bộ về Nguyễn Tấn Dũng mà phải cập rập tổ chức Hội nghị TW kỳ 6 trước hạn định? Canh bạc TW đầu tháng 10 này sẽ lật tẩy con bài Kiên và lột truồng đồng bọn của nó? Vân vân…

Báo đài ta hoàn toàn mù tịt, về cả những dấu hỏi lẫn các thứ vân vân. Trong lúc truyền thông địch mặc sức tung hoành. Thành một dấu than to tướng. Ngay khi thương phế binh tự làm Youtube và dân oan làm Thông cáo Báo chí để gióng tiếng đấu tranh, thì Hội nhà báo không cần mở cuộc thi khép cánh cũng tự động biến thành Hội nhà bướm. Ký giả/phóng viên có thẻ nhưng không còn khả năng làm báo. Thời oanh đã nhất quyết chuyển sang thời liệt. Thế giới chưa có loại Viagra cho các cây bút oằn ngòi.

Đến mức phải hỏi nhau sao chẳng ai dám ẳng lên một tiếng? Hai phóng viên bị nện tơi tả ở Văn Giang mà không nghe bất kỳ giới chức nào há miệng. Lại tiếp tục im re khi bọn khốn nạn giải thích rằng “tưởng đâu là… dân”!

Đến mức lá thư cầu cứu của đại biểu QH Đặng Thành Tâm gửi đến hầu hết báo chí mà không một tòa soạn nào dám đăng tải.

Ngay cả một ký giả báo Pháp Luật cũng khẳng định trong cuộc phỏng vấn của đài ngoại: “Chúng tôi không biết làm sao bảo vệ mình. Nỗi sợ lớn ngăn không cho chúng tôi lên tiếng…Ngay cả lúc này, tôi không biết có bị nghe lén không”.

Phải cảm thông cho các nhà báo chính quy. Họ không có tự do cả viết lẫn lách. Bởi, chiếu theo  định nghĩa về Tự Do đạt chuẩn mực cao nhất/rõ nhất/gọn nhất/tượng hình nhất/thật nhất xưa giờ ở nước CHXHCNVN của Trung tá công an Vũ Văn Hiển, thì rõ là họ bị …thiến.

Đã bị thgiến thì còn sợ gì nữa?

Vậy mà vẫn còn đó một Nỗi Sợ Lớn: Sợ trả thù!

Ai trả thù?

Câu hỏi tưởng khó, hóa ra câu trả lời rất dễ, nếu người ta quan tâm đến một chuỗi sự kiện xảy ra từ khoảng tháng 06-2006 tới nay:

Các nhân vật từng có nỗ lực gợi ý tạo sự thay đổi cho VN cất cánh hay đòi hỏi công lý (mà không nệ hà “nỗi sợ lớn”) đều bị bỏ tù hay bị bắt giam vô thời hạn:

Nguyễn Đan Quế, Hà Sĩ Phu, Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Phạm Minh Hoàng, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thăng Long, Phạm Thanh Nghiêm (đã mãn hạn tù); Lê Công Định (thách thủ tướng tranh luận), Trần Huỳnh Duy Thức (chấn Việt), Nguyễn Tiến Trung (Tập hợp thanh niên), Cù Huy Hà Vũ (kiện thủ tướng), Điếu Cày Nguyễn Văn Hải (chống TQ xâm lược), Tạ Phong Tần (Sự thật & Công lý), Phan Thanh Hải (biểu tình là hợp pháp), Nguyễn Quốc Quân (Việt kiều về nước dạy kỹ thuật mềm), Lm Nguyễn Văn Lý, Ms Dương Kim Khải, Trần Thị Thúy, cùng rất nhiều người khác nữa…

Cách trả thù cũng rất đa dạng: ném phân, vất mắm, tạt dầu cặn, chẹt xe, dùng bao cao su đã qua sử dụng, áp án chồng lên án, vu tội khủng bố, viết bài mạ lỵ, cô lập kinh tế, làm nhục người thân, bêu xấu người quen, dọa chủ cho thuê nhà, thậm chí bêu rếu con cái họ ở trường… trước khi đọc các bản án bỏ túi.

Chính tiến trình và cách thức trả thù đó đã định vị tư thế của kẻ đứng đầu chính phủ, tạo ra nỗi sợ lớn nói trên, và khiến cho mặt trận truyền thông bị bỏ ngõ. Nhà báo không làm báo thì đã có dân làm báo, và hút cạn độc giả cả nước, khiến một số khá đông nhà báo có thẻ cũng tràn sang lề dân, để nói điều không thể nói bên lề đảng. Phòng tuyến truyền thông thủng lớn. Giới truyền thông quy hồi chánh nghĩa ngày càng đông. Trụ cột truyền thông rơi từng mảng bê tông đến lộ cốt tre. Kéo theo cả luồng khói thẻ đảng ngún cháy của những Nguyễn Chí Đức, những Tô Hoài Nam, chính thức và công khai trước công luận.

Cũng chính tiến trình và cách thức trả thù gây hệ lụy bỏ ngõ đó đã khiến cho kẻ địch của chính phủ trong nội bộ đảng tận tình khai thác kỹ thuật truyền thông thời a còng để tấn công đến nát mặt. Quan làm báo trở thành siêu sao mới trong một thời gian ngắn. Tin tức và bình luận không nhất thiết theo đúng bài bản báo chí, nhưng vừa mắt người đọc/vừa tai người nghe. Cung hết thâm. Sử bớt bí. Ít ra trong những điều nói ra đã hơn nửa là những điều có thật, kiểm chứng được, nên khiến cho người đọc tin thật cả những điều chưa kiểm chứng. Chưa thời nào kỹ thuật tuyên truyền xám bắt mắt và hưng phấn như thời này.

Cây kim làm gãy lưng con lạc đà là cái quyết định hớ đầy khe hở của tay thủ tướng nổi tiếng tư thù vặt và chuyên trả thù vặt vừa nói, sau khi đã bắt giam một cán bộ lõi, cũng tên Dũng, tưởng đâu là tác giả trang mạng quan làm báo của phe địch trong đảng. Cứ ngỡ quyết định dập blog đó là một cú hích đạp bẹp dàn báo ngoài luồng, không ngờ lại khiến số view của chúng tăng vọt không ngờ. Âu cũng là một bài học đắt giá về tiếp thị thời nay. Quả cấm có sai ai đó từng bảo đứa ngu không di hại bằng đứa ngu mà có quyền (ra quyết định).

Rõ là truyền thông vỡ trận trước cả hiệp hai của trận đấu.

*

Thượng Phương Kiếm Kẹt Vỏ

Nếu bản tin bầu Kiên bị tóm gây bất ngờ như tiếng sấm giữa hè, thì những bản tin về cựu Bộ trưởng Trần Xuân Giá, đương kim Chủ tịch ACB, quyết định từ nhiệm, rồi bị khởi tố, rồi đính chính không có khởi tố, rồi lại khởi tố và tại ngoại, rồi lại bị gỡ tin… cứ như bóng đèn néon sắp tắt, cứ chớp chớp giật giật liên hồi.

Không chỉ độc giả, mà chính giới truyền thông cũng không kém hoang mang. Không một ai biết chắc điều gì xảy ra đằng sau hậu trường sân khấu Ba Đình. Kịch bản cà giựt này là của ai, do ai và vì ai? Nó liên hệ ra sao với sức níu nhiều phía của cái ghế chỉ đạo phòng chống tham nhũng? Liệu là cố vấn Hưởng vẫn còn khả năng thì thầm/thỏ thẻ? Tỷ lệ phiếu tín nhiệm của thủ tướng vẫn là 4/14 hay tăng giảm thế nào trong BCT? Nó hữu cơ máu thịt thế nào với cái “Cương lĩnh lật đổ” từng nghe bàn sôi nổi/râm ran bên lề cuộc họp đảng bộ các cấp, và cả trong bàn nhậu suốt mấy tuần nay? Bộ công an thuộc chính phủ, nhưng làm việc cho phe nào? Cũng vậy, Bộ 4T nhận lệnh trực tiếp của BCT hay của thủ tướng? Có bao nhiêu chỉ thị của “trên” alô xuống các tổng biên tập? “Trên” nào là trên hết? “Trên” nào đang thắng thế? Độ cao thấp ra sao của xác suất đổi ngựa giữa giòng? Vân vân…

Nhìn ngược lại từ phía đương sự, với bề dày hãn mã và phong thái ít lem luốc của Trần Xuân Giá dưới thời Phan Văn Khải, người ta càng hoang mang gấp bội: Có phải trình độ hiểu biết bài bản của Trần Xuân Giá cao hơn hạng mánh mun Bầu Kiên/Trầm Bê nhiều cái đầu? Có phải tầm Bầu Kiên/Trầm Bê có thể tế thần như hạng Năm Cam khi xưa mà không luyến tiếc hay lo ngại hệ lụy gì nhiều? Có phải hàng thứ trưởng vẫn là giới hạn rọi đèn cho tới giờ này? Có phải thượng sách (cho cả hai phe) là nên kiêng dè với Giá vì Giá biết quá nhiều bí mật kinh tế/viện trợ/kiểm toán cấp quốc gia? Hay đơn giản chỉ vì Trần Xuân Giá là bậc thầy đỡ đầu của công chúa Nguyễn Thanh Phượng trong gần cả thập niên dài, nên hoàng thượng nhất định không để cái lạnh mùa xuân lây lan đến gốc phượng xanh mướt của mình?

Rõ là thanh Thượng Phương Bảo Kiếm của triều đình bị kẹt vỏ, phải rút ra thụt vào nhiều lần mà vẫn chưa ra khỏi bao. Nói gì tới những đường gươm tuyệt kỹ triệt hạ quần ma có tên là XHCN.

Mà đã thế thì không một ai ngạc nhiên khi nghe tin Trần Xuân Giá đột tử, vì ung thư hay vì bất cứ chứng trúng gió nào khác. Bởi đó mới là thượng sách cho cả hai phe hiện giờ.

Cho đến lúc đó, Trần Xuân Giá vẫn là một loại thuốc nổ độ nhạy cực cao, trong bối cảnh các phe sử dụng chiêu thức cơ chế để giải quyết nhân sự cấp cao, có thể làm bung sập cả chế độ.

Cái này, văn hoa gọi là Vỡ Trận thỏa hiệp thượng tầng nội bộ đảng.

Tội biết bao, cho cả chế độ lẫn “công thần” của chế độ. Nhưng dù sao, mọi người vẫn cần phải nhớ lấy quy định mới nhất của Tỉnh ủy Bình Dương, rất xứng đáng được nhân rộng cho cả nước, về sự giới hạn vòng hoa phúng điếu đám tang cả đảng.

 

02-10-2012 – Mấy đêm liền chong đèn nhớ bạn.

Blogger Đinh Tấn Lực

http://dinhtanluc.wordpress.com/dong-loan-bay-vua-te-tua-bay-quan/

*Mời các bạn chạy qua trang của blogger Đinh Tấn Lực để đọc các bài nhận định và phân tích thời sự trong nước. 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Tin tức về một số các blogger đang ở tù…

Posted by hoangtran204 trên 01/10/2012

Viết cho những người tôi quen

Song Chi

Chỉ trong vòng hơn 3 năm, một số người tôi quen đã phải bước chân vào tù ngục, chịu đựng những bản án nặng nề, phi lý, phi nhân sau những phiên tòa bôi bác như trò hề.

Trong số đó có luật sư Lê Công Định, người mà ngày mai 1 tháng Mười là sinh nhật lần thứ 44.

Lê Công Định bị bắt đã hơn 3 năm, (kể từ ngày 13 tháng 6 năm 2009).

Một ngày tù nghìn thu ở ngoài.

Tôi nhớ lại ấn tượng của mình về Định trong một vài lần hiếm hoi tiếp xúc, trò chuyện ở ngoài đời. Định có khuôn mặt sáng sủa, hiền lành, trí thức, đẹp trai. Phong cách lịch sự dễ mến, giọng nói nhỏ nhẹ từ tốn. Một người trí thức, thông minh. Còn bài viết của Định gửi đăng trên BBC hồi đó thì tôi đọc nhiều. Định viết tốt. Một con người phải nói là đang có trong tay hầu như tất cả những gì mà nhiều người khác mơ ước: một nền tảng học vấn vững vàng, đã từng giành được học bổng du học ở cả Pháp và Mỹ, (trong đó đi Mỹ là học bổng Fulbright danh giá), một sự nghiệp đang lên, thành đạt, vợ đẹp, cuộc sống thong dong về tiền bạc. Thế nhưng vì cái tâm với đất nước, con người ấy đã lên tiếng và rồi phải vào tù.

Tất cả sự nghiệp coi như mất hết. Hạnh phúc gia đình cũng mất.

Không phải ai cũng có đủ can đảm đánh đổi những gì mình đang có khi lên tiếng vì sự bất bình trước những bất công phi lý trong xã hội cho đến cái sai lầm của mô hình thể chế chính trị, của con đường mà cả dân tộc đang buộc phải đi theo dưới sự lãnh đạo của một đảng cầm quyền.

Nhất là khi người đó lại đang có quá nhiều thuận lợi trong cuộc sống như Lê Công Định.

Hay như người thanh niên trẻ Nguyễn Tiến Trung, với cái cười rất lạc quan hồi đó, tương lai cũng đang phơi phới.

Từ xưa đến nay luận điệu của nhà cầm quyền VN khi nói về những người bất đồng chính kiến, những nhà hoạt động dân chủ thường là “những kẻ bất tài, thất bại nên bất mãn với cuộc sống, với chế độ, quay sang chống đối…”. Câu nói đó không đúng với Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung cũng như với rất nhiều người khác. Từ ông Hoàng Minh Chính, tướng Trần Độ, nhà báo Bùi Tín, nhà văn Dương Thu Hương, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, luật sư Lê Thị Công Nhân, luật sư Nguyễn Văn Đài, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức, doanh nhân Lê Thăng Long, tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ v.v…

Khi Lê Công Định bị bắt, báo chí “lề phải” mới hôm nào còn rất ca ngợi trình độ, nhân cách của luật sư Lê Công Định, được lệnh, lại đồng loạt bôi nhọ Định và những người bạn vừa bị bắt xuống tận bùn đen. Như đã từng và sẽ còn bôi nhọ, bịa đặt đủ thứ điều xấu xa cho bất cứ ai trong những trường hợp tương tự.

Ở VN, một khi ai đó dám lên tiếng nói lên những sự thật mà nhà cầm quyền muốn che dấu hoặc những có những quan điểm bị nhà cầm quyền cho là đi ngược lại quan điểm của họ như ủng hộ đa đảng, đa nguyên, canh tân hệ thống luật pháp, chính trị của Việt Nam, ví dụ như Lê Công Định và những người bạn của mình, thì không chỉ phải vào tù với những bản án nặng nề mà coi như cả cuộc đời, sự nghiệp cũng chấm dứt. Bởi khi vừa bị bắt, nhà cầm quyền đã huy động báo chí truyền thông quốc doanh bôi đen luôn cả nhân cách, sự nghiệp của người đó. Cho dù sau khi ra tù, mãn hạn tù cộng với thi hành xong thời gian bị quản thúc, thì cũng khó làm việc, gầy dựng lại sự nghiệp ở VN.

Nói như vậy để thấy cái giá phải trả cho sự dấn thân, dám lên tiếng ở VN là vô cùng đắt. Lại càng đắt hơn trong sự đơn độc giữa một xã hội mà phần lớn người dân hoặc bị nhà nước nhồi sọ đến mức không biết rằng mình đang bị cướp mất những quyền tối thiểu gì và cuộc sống của dân mình so với dân các nước khác ra sao, hoặc không quan tâm đến chính trị, chỉ lo cho cuộc sống của mình và gia đình, hoặc sợ hãi, bạc nhược….

Những người bị bắt khác mà tôi quen biết còn có 3 blogger nổi tiếng Điếu Cày tức nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải, Anh Ba SG tức luật gia Phan Thanh Hải và Công Lý và Sự thật tức cựu công an, luật sư, nhà báo Tạ Phong Tần.

Cả 3 người đều là con em của chế độ này, không những thế, anh Nguyễn Văn Hải, người Bắc, từng là bộ đội, Phan Thanh Hải, cũng người Bắc, là con một gia đình cách mạng, Tạ Phong Tần từng là cựu công an.

Và họ cũng không phải là những người thất bại trong cuộc sống để phải bất mãn với chế độ. Anh Nguyễn Văn Hải sau nhiểu năm kinh doanh đã tạo dựng cho mình một cuộc sống có thể nói là không cần phải vất vả mưu sinh nữa, với 5 căn nhà-chia cho vợ cũ sau ly hôn 3 căn, giữ lại cho mình 2 căn, anh có thể sống nhẹ nhàng với thu nhập cho thuê nhà và theo đuổi sở thích nhiếp ảnh hoặc cà phê, bù khú với bạn bè. Phan Thanh Hải có một gia đình êm ấm, có công ty tư vấn luật riêng. Tạ Phong Tần nếu không vướng vào những chuyện như thế này thì cũng có thể thong dong mà sống vì một thân một mình, không có gì khó.

Với cả 3 con người này, cũng như rất nhiều người trước đó, nhà cầm quyền càng khó giải thích với thế giới vì sao ngày càng có những con người là con đẻ của chế độ, được học tập và lớn lên trong lớn lên trong môi trường của nước “cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN”, lại “bất mãn với chế độ”.

Nhưng chính vì từng là người lính nên Nguyễn Văn Hải càng phẫn nộ khi thấy một phần thân thể của đất nước là thác Bản Giốc, hàng trăm kilomét dọc biên giới phía Bắc cũng như Hoàng Sa Trường Sa bị mất vào tay nước láng giềng, càng lo âu khi thấy âm mưu bành trướng của TQ ngày càng rõ rệt.

Là người có học luật, cũng như các luật sư khác từng bị sa vào vòng lao lý ở VN, Phan Thanh Hải khó mà chấp nhận được một cái xã hội không được xây dựng trên một nền tảng pháp quyền vững chắc và một nhà nước đứng cao hơn luật pháp, hành xử bất chấp luật pháp như nhà nước VN.

Từng là công an, Tạ Phong Tần hiểu rõ trong giới công an, có những kẻ lộng hành nhũng nhiễu tác oai tác quái với dân lành, coi thường luật pháp, chà đạp lên nhân quyền ra sao.

Và họ phải lên tiếng.

Những con người ấy khi bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa chắc cũng biết rằng không thể thoát khỏi sự trừng phạt của một nhà nước độc tài, chỉ quen bịt miệng nhân dân. Nhưng chắc cũng không thể ngờ bản án dành cho họ lại nặng nề đến thế. Cũng chỉ vì xui rủi gặp trúng thời điểm có những kẻ trong nội bộ lãnh đạo cao nhất ở VN muốn dùng bản án này để vừa làm vui lòng Trung Nam Hải, vừa để răn đe giới blogger nói riêng và tất cả những ai muốn lên tiếng nói chung!

Đó là chưa kể rất nhiều người khác mà tôi quen, tuy chưa phải vào tù dài hạn nhưng thường xuyên bị sách nhiễu, gây áp lực phải mất việc làm, bị mời ra quán café “nói chuyện” với công an hoặc mời lên đồn “làm việc”, bị giữ lại một vài ngày nếu đi biểu tình phản đối TQ, thậm chí những trò đê tiện hơn như bị gây tai nạn té ngã xe ngoài đường, bị đấu tố ở phường, bị ném chất bẩn, hôi thối vào nhà…

Sỡ dĩ nhà cầm quyền ngày càng dám áp dụng với những người dũng cảm đủ mọi thứ thủ đoạn xấu xa, từ những trò dấu mặt, sách nhiễu cho đến những bản án phi nhân bất chấp dư luận trong và ngoài nước là bởi vì người dân đã cho phép họ làm như thế. Bằng vào sự im lặng trước vận mệnh của đất nước, tương lai của dân tộc trong đó có tương lai của chính mình, con cháu mình, và trước sự bất công chụp lên đầu người khác.

Chỉ trong vòng 3 năm, khi TQ đã đi được những bước rất dài trong việc xâm phạm chủ quyền của VN trên biển Đông đồng thời bủa lưới bao vây buộc VN phải lệ thuộc về mọi mặt, thì ngược lại, nhà cầm quyền VN cũng đã đi những bước rất dài trên chặng đường tiếp tục nhu nhược với kẻ bành trướng và siết chặt bàn tay sắt với nhân dân.

Một ví dụ nhỏ, mới ngày nào, khi TQ vừa tuyên bố sẽ thành lập thành phố Tam Sa, người dân Sài Gòn, Hà Nội, Sài Gòn đã đổ xuống đường biểu tình và trước những động thái bất ngờ nhưng quyết liệt này, TQ buộc phải hoãn kế hoạch lại. Còn bây giờ thì TQ ngang nhiên tổ chức lễ thành lập thành phố Tam Sa, xây dựng cơ sở vật chất, hành chính cho thành phố Tam Sa v.v…

Nhưng bây giờ thì những người yêu nước đã bị nhà cầm quyền đàn áp đến nỗi khó mà thực hiện nổi những cuộc xuống đường dù vẫn chỉ với mục đích phản đối TQ (!), lòng yêu nước thì đã bị dội cho những gáo nước lạnh đến… nguội ngắt và những người đi đầu trong việc biểu tình hay lên tiếng về họa ngoại xâm thì bị giáng cho những bản án tù giam cộng với thời gian quản chế từ 15-17năm!

Câu hỏi đặt ra nhức nhối trong lòng mọi người VN còn thao thức với số phận đất nước, đó là 5-10 năm nữa TQ sẽ đi đến đâu, VN sẽ như thế nào, và bao nhiêu con người nữa vẫn phải tiếp tục vào tù?

http://danluan.org/tin-tuc/20121001/song-chi-viet-cho-nhung-nguoi-toi-quen

—————————————————

 Nhớ Lê Công Định

(Ngày 1 tháng 10 là ngày sinh Định. Mến tặng sinh nhật bạn.)

Lê Thăng Long

Năm 2008 tôi tư vấn cho một một đối tác nước ngoài thực hiện một dự án tại Hà Nội. Liên quan đến tư vấn luật, tôi giới thiệu cho họ một công ty luật ngoài Hà Nội để thuận tiện phối hợp. Nhưng đối tác này dứt khoát phải vào tận Tp. HCM để trao việc này cho DCLaw. Tôi hỏi vì sao thì được trả lời rằng họ được bạn bè ở nước ngoài giới thiệu rằng hãng luật này có một trong những luật sư giỏi nhất về luật thương mại quốc tế ở Việt Nam. Tôi cười vui vì biết công ty luật DCLaw là của bạn mình, luật sư Lê Công Định. Sau này tôi được biết đối tác nói trên đã trả cho DCLaw hàng trăm ngàn USD phí tư vấn tính theo giờ làm việc (gần 400 USD/giờ).

Thời điểm đó Định còn nổi tiếng không kém bởi những bài viết nặng lòng vì đất nước đăng tải trên các báo trong và ngoài nước như Tia sáng, Tuổi trẻ, BBC… Không những vậy anh còn dùng thời giờ quý như vàng của mình để làm luật sư bảo vệ cho các vụ án của anh Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), luật sư Nguyễn Văn Đài và luật sư Lê Thị Công Nhân. Đến bây giờ mà việc tìm được các luật sư sẵn sàng đứng ra bảo vệ cho những người bị cáo buộc về tội chính trị, xâm phạm an ninh quốc gia còn rất khó, đừng nói là vào thời đó. Người ta thường sợ dây vào những vụ án này vì sẽ bị ảnh hưởng đến công ăn việc làm của mình, hoặc chỉ chấp nhận bào chữa cho những trường hợp xin khoan hồng để giảm nhẹ hình phạt. Bảo vệ cho thân chủ vì công lý và quyền con người là một rủi ro nên tránh. Hơn thế nữa, Định luôn phải bù bằng tiền túi của mình để đi bảo vệ cho những vụ án như vậy.

Tôi bị bắt ngày 04/06/2009. Dù biết rằng thế nào người ta cũng bắt Định nhưng lòng tôi vẫn thắt lại khi nghe đài tiếng nói Tp. HCM loan báo việc bắt giữ Định kèm theo rất nhiều lời thóa mạ. Bản tin này (rạng sáng ngày 15/06/2009) bị ngắt giữa chừng và sau đó trại giam không mở đài hàng ngày nữa. Không đài, không TV, không báo. Tất cả những thông tin từ bên ngoài mà chúng tôi nghe được đều thông qua các nhân viên điều tra theo cách mà họ muốn chúng tôi biết. Âm thanh được nghe thường xuyên nhất là tiếng chìa khóa lắc cắc và tiếng đóng mở phòng giam mà dường như họ cố tình dập rất mạnh để làm cho người bị giam bên trong phải khủng hoảng. Bạn thử tưởng tượng, ở ngoài đời nếu một lúc không may bạn bị mất điện thoại thôi thì đã thấy mình bị “cô lập” như thế nào, thì sẽ hiểu phần nào tình trạng bị cách ly hoàn toàn trong tù. Bỗng dưng ta không còn gì cả ngoài chính mình và xung quanh toàn những cạm bẫy.

Chúng tôi bị giam riêng hoàn toàn, không hề được biết tin tức về nhau cho đến khi gặp nhau ở phiên tòa sơ thẩm (20/01/2010). Lần kế tiếp được gặp lại là tại phiên tòa phúc thẩm (11/05/2010). Với một chính sách cách ly như vậy tôi đã nghĩ rằng chúng tôi chỉ có thể gặp lại nhau sau khi ra tù. Nhưng thật bất ngờ, sáng ngày 07/07/2010 họ đưa cả ba chúng tôi lên chung một xe chạy về Xuân Lộc. Trên xe họ luôn tìm cách ngăn cản để chúng tôi không thể thoải mái nói chuyện, nên tôi lại nghĩ đến trại giam Xuân Lộc mỗi thằng sẽ mỗi nơi. Nhưng còn bất ngờ hơn nữa, cả ba chúng tôi lại được đưa đến chung một phòng trong khu cách ly, và chỉ có ba anh em. Ngày đầu tiên chúng tôi thức gần đến sáng, tranh thủ chia sẽ thông tin và bàn bạc với nhau, cứ lo họ có thể sẽ tách chúng tôi ra. Không hề ngạc nhiên nhưng chúng tôi vẫn buồn cho nhau vì sự nghiệp làm ăn đều mất hết sau 20 năm gầy dựng. Nhưng chẳng ai bi quan cả. Đặc biệt là Định.

Mọi người đều biết đến Định như một luật sư nổi tiếng. Nhưng ít ai biết rằng anh ấy còn có biệt tài có một không hai là sáng tác và kể chuyện tếu lâm. Suốt ngày chúng tôi không bao giờ vắng tiếng cười nhờ anh ấy. Cuộc sống trong tù vì thế không những chẳng nặng nề mà còn lạc quan vui vẻ, nhẹ như lông hồng.

Thời gian trôi nhanh thật, chúng tôi chia tay nhau đã hơn hai năm – ngày 10/08/2010 Định chuyển về Chí Hòa. Khi đi anh ấy ôm chặt tôi và anh Thức dặn giữ gìn sức khỏe. Phải nói mất cả tuần tôi và anh Thức mới nguôi ngoai nỗi nhớ bạn. Chắc chắn bạn ấy cũng thế. Chúng tôi đã có với nhau hơn một tháng ở chung phòng trong khu cách ly. Đó có lẽ là khoảng thời gian tuyệt vời nhất của cả ba chúng tôi. Nơi đó chúng tôi đã bàn luận những vấn đề để bây giờ có Phong trào Con đường Việt Nam. Chúng tôi có thời gian để ôn lại cả một quãng đường dài, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau và tha hồ mà cười ngặt nghẽo suốt ngày.

Còn một tài năng của Định mà có lẽ chỉ có tôi và anh Thức mới được chứng kiến. Tài năng ấy mới chỉ được khai lộ từ khi anh ấy vào tù. Đó là khả năng làm thơ thật xuất chúng. Chỉ trong hơn một năm từ khi bị bắt (ngày 13/06/2009) anh Định đã làm hơn 100 bài thơ trong lúc đang bị giam ở B34. Đây là thời gian tạm giam để điều tra và xét xử, rất khắc nghiệt. Bị cách ly cô lập hoàn toàn, giấy viết bị cấm tiệt, suốt ngày chỉ quanh quẩn trong căn phòng khoảng chừng 12 m2. Định phải làm thơ trong đầu mà còn nhớ như in hơn cả trăm bài thơ của mình. Mà có bài rất dài, đến hơn 200 câu viết lại cả một chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam. Tôi và anh Thức nghe anh Định đọc thơ mà choáng luôn. Đủ các thể loại. Khí tiết thật tuyệt vời. Chỉ có những tâm hồn lớn mới làm nên những vầng thơ như vậy. Anh Thức là người hay thơ mà còn phải bái phục Định. Định có khả năng xuất khẩu thành thơ.

Vào một buổi chiều cuối tháng 07/2010, chúng tôi đang đi bộ vừa tập thể dục vừa bàn chuyện. Về hướng Nam có một ngọn núi lớn tên Gia Lào, anh Thức bảo Định: “Ông vịnh Gia Lào đi”. Chỉ vài phút sau anh Định cất tiếng:

Trời mây như vận phủ
Che đỉnh núi Gia Lào
Người nay cam bước thấp
Thế mai bừng vươn cao

Anh Thức tấm tắc khen bài thơ nhưng ánh mắt thoáng buồn nói: “Tôi thấu cảm tấm lòng của hai bạn. Vì đất nước các bạn đã phải chịu đựng để chúng ta có thể tiếp tục tiến bước. Với những người như chúng ta thì không có gì khủng khiếp hơn phải chịu đựng như vậy cả. Nhưng hãy nhớ ngày hôm nay, nhớ bài thơ này để đến một ngày không xa đất nước này, dân tộc này sẽ bừng vươn cao. Hai bạn phải chịu đựng nhiều hơn tôi.

Với tôi, Lê Công Định là một nhà thơ lớn. Tôi tin một ngày không xa nữa nhà thơ ấy sẽ bừng vươn cao cùng với những khát vọng của anh ấy cho đất nước.

Ngày 1 tháng 10 là ngày sinh Định. Mến tặng sinh nhật bạn.

Lê Thăng Long

conduongvietnam.org

danluan.org

————————————–

* Trần Huỳnh Duy Thức (blogger Trần Đông Chấn)

Admin gửi lúc 16:12, 01/10/2012 – mã số 68964

Được sự đồng ý của bác Huỳnh, tôi xin chia sẻ cùng độc giả DL bức thư của bác Huỳnh gửi tới Ban Quản Trị Con Đường Việt Nam về lần thăm anh Thức gần đây nhất:

Chào BQT

Sáng nay tôi và gia đình đi thăm Trần Huỳnh Duy Thức về. Thức vẫn ở phòng một mình như lần trước. Sưc khỏe vẫn bình thường. Thức nói thỉnh thoảng thấy buồn man mác vì dạo này mưa nhiều quá, có khi mưa cả ngày réo rắc. Thấy nhớ nhà, nhớ mọi người. Năm ngoái mưa không nhiều và lại có Long nên ít thấy buồn và nhớ nhà.

Thức cũng nhớ đến sinh nhật Định vào ngày mai. Tôi có kể PT có viết bài và làm quà sinh nhật trên mạng cho Định. Thức cũng vẫn nhớ bài vịnh Gia Lào. Thức gửi lời thăm mọi người trong PT.

Khi gia đình kể Thức nghe tình hình kinh tế hiện nay đang rất khó khăn, người dân lầm than nhiều lắm. Đúng như những gì Thức dự đoán, ánh mắt Thức buồn hẳn đi. Thức nói rằng sẽ còn kéo dài lâu, người dân còn khổ nhiều hơn nữa. Nhưng nếu không có được giải pháp đột phá thì tình trạng đó cũng không thể thoát ra được. Thức nói rằng nếu tỷ giá ngoại tệ tiếp tục bị ghim giữ cố định như mấy năm nay thì thì sẽ không bao giờ ổn định được nền kinh tế, lạm phát sẽ còn cao và nhiều bất ổn.

Thức có nói PT nên quan tâm vấn đề này. Từ lúc nói chuyện này đến lúc ra về tôi thấy Thức trầm tư hẳn đi.

Vài dòng báo tin mọi người biết!

Thân mến
TVH

———————————————

Sau khi vào Việt Nam được Mỹ hổ trợ cho tham gia WTO (Tổ chức Thương mại Thế Giới) 2006, các nhà đầu tư nước ngoài thật sự đổ xô vào VN làm ăn 2007, các văn phòng luật sư Việt Nam chuyên lo tư vấn về luật đầu tư hái ra tiền kể từ ấy. Trong tương lai, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ trở lại và đầu tư vào VN sau khi tình hình kinh tế sáng sủa hơn hiện nay.

Thị trường tư vấn pháp lý Việt Nam có sự chuyển biến tích cực sau một năm gia nhập WTO

Việt Nam gia nhập WTO, giới doanh nhân Việt Nam có nhiều cơ hội hợp tác với những đối tác nước ngoài nhiều hơn. Đồng thời số lượng các nhà đầu tư nước ngoài tìm tới thị trường Việt Nam để đầu tư cũng ngày càng tăng. Vì vậy, để việc kinh doanh thuận lợi thì việc hiểu biết pháp luật kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi nhà đầu tư. Được hỗ trợ bởi một luật sư giỏi sẽ giúp doanh nghiệp nhanh chóng giải quyết các vấn đề liên quan tới pháp luật. Do vậy, vai trò của Luật sư hiện nay ngày càng được chú trọng trong hoạt động của mỗi doanh nghiệp.

Tết đến, luật sư Lê Thành Kính, Trưởng văn phòng Luật sư Lê Nguyễn, “tậu” chiếc Captiva bảy chỗ thay cho chiếc Toyota bốn chỗ đã bạc màu. Luật sư Lê Công Định “săn lùng” mặt bằng đắc địa ở quận 1 để mở rộng văn phòng Công ty Luật DC. Luật sư Bùi Quang Nghiêm hướng Văn phòng Luật sư Nghiêm & Chính sang lĩnh vực tư vấn…

Thời cơ

Theo luật sư Lê Công Định, từ khi vào WTO, thị trường tư vấn pháp lý của Việt Nam nhộn nhịp lên hẳn. Thật vậy, trong năm 2007, giới đầu tư nước ngoài đã đổ xô vào Việt Nam để tìm cơ hội làm ăn. Mà đã làm ăn ở Việt Nam thì nhà đầu tư không thể không biết luật pháp của Việt Nam. Cho nên, rất dễ hiểu khi thị trường tư vấn luật năm qua thật sự khởi sắc…

Luật sư Lê Thành Kính cho rằng, trước đây, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ thăm dò môi trường đầu tư, còn bây giờ họ đầu tư thật sự. “Hồi trước, 10 nhà đầu tư đến văn phòng chúng tôi thì chỉ có một, hai trường hợp nhờ tư vấn thủ tục đầu tư; còn bây giờ thì ngược lại, 10 nhà đầu tư đến thì chỉ có một, hai trường hợp là thăm dò”, ông Kính nói.

Hơn nữa, trước đây, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị hạn chế kinh doanh một số lĩnh vực như đại lý hàng hải, nhà hàng, nhập khẩu… nhưng khi vào WTO các lĩnh vực này đã được “mở cửa”, nên nhiều doanh nghiệp có nhu cầu hoàn tất các thủ tục pháp lý để mở rộng hoạt động kinh doanh…

Ở một góc nhìn khác, khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập, nhiều vụ tranh chấp thương mại quốc tế đã xảy ra… chủ các doanh nghiệp trong nước đã có cái nhìn đúng đắn hơn về vai trò của luật sư tư vấn. “Nhiều doanh nghiệp đã sử dụng và quen với khoản chi phí dịch vụ tư vấn pháp lý. Họ đã biết ‘phòng thủ từ xa’ chứ không phải để khi xảy ra sự việc mới ‘giải quyết hậu quả’”, luật sư Bùi Quang Nghiêm nói.

Luật sư Định nhận định: “Thị trường tư vấn luật hiện nay tốt hơn bất cứ lúc nào trong quá khứ”. Nhiều công ty luật nước ngoài đang tìm cách chen chân vào thị trường Việt Nam để tìm kiếm cơ hội. Theo luật sư Kính, năm rồi, văn phòng luật sư của ông nhận được đề nghị hợp tác của rất nhiều công ty luật đến từ Mỹ, Thái Lan, Nhật, Hàn Quốc, Singapore… Các đối tác tiềm năng này cho rằng, thị trường tư vấn luật nhiều nước trong khu vực đã bão hoà. Việt Nam là thị trường mới nổi nên họ muốn vào để chia sẻ thị trường trên cơ sở hỗ trợ lẫn nhau.

Luật sư Nghiêm cho rằng, phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài khi vào Việt Nam đều sử dụng công ty luật của họ; nhưng điều này không ảnh hưởng nhiều đến chuyện làm ăn của các công ty luật trong nước. “Đây là cơ hội để các công ty luật trong nước và nước ngoài hợp tác, phát huy thế mạnh mỗi bên”, ông Nghiêm nói.

Quả thực, với sự xuất hiện của nhiều công ty luật nước ngoài trong thời gian vừa qua, giới luật sư Việt Nam học tập được rất nhiều điều về tính chuyên nghiệp, theo luật sự Định.

Khấm khá

Người viết bài này thật sự bất ngờ khi chị bạn, chủ doanh nghiệp tư nhân ở một tỉnh miền Trung, nhờ tìm luật sư tư vấn trước khi chị ký hợp đồng làm ăn với đối tác nước ngoài. Chị nói qua điện thoại: “Giới thiệu giùm chị luật sư giỏi, chi phí không thành vấn đề, miễn là được việc”. Mới hay luật sư tư vấn “rất có giá”.

Luật sư Kính kể, có vị khách hàng đến văn phòng của ông nhờ tư vấn làm hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản. Sau khi trình bày sự việc, vị khách hỏi “chi phí dịch vụ thực hiện hết bao nhiêu?”, ông Kính nói “4.000 đô” (đô la Mỹ).

Vị khách này nói “sẽ trả 10.000 đô” và ngay ngày hôm sau ông Kính nhận được tiền. Theo ông Kính, khách hàng nước ngoài rất ít khi trả giá dịch vụ. “Nhiều trường hợp tư vấn vấn đề không quá phức tạp, khách nói sao lấy phí rẻ thế, trong khi mình đã tính phí đến 50 triệu đồng rồi!”, ông Kính nói.

Điều mừng hơn là các văn phòng luật sư luôn đầy khách hàng. Luật sư Lê Công Định cho biết, nhiều lúc bị “bội thực” công việc nên phải từ chối yêu cầu của khách hàng. “Năm 2007, công việc ở Công ty DC tăng gấp hai lần so với năm 2006. Hầu như ngày nào tôi cũng làm việc đến 1 giờ sáng mà vẫn không hết việc”, luật sư Định nói.

Kế hoạch mà Công ty Luật DC đang triển khai là tuyển dụng và mở rộng quy mô hoạt động để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Luật sư Kính cũng cho biết năm rồi công việc của Văn phòng Luật sư Lê Nguyễn tăng 100% so với năm 2006. “Từ đầu tuần đến cuối tuần, lịch làm việc của tôi kín bít”, ông nói. Theo ông, thị trường tư vấn luật hiện nay “nặng” về tư vấn kinh doanh và “nhẹ” về tư vấn tranh chấp.

“Tư vấn về tranh chấp là khoảng trống của thị trường hiện nay, trong lĩnh vực này chỉ có luật sư Việt Nam mới có thế mạnh, nên chúng tôi sẽ tập trung vào lĩnh vực này trong thời gian tới”, ông Kính nói.

Vấn đề còn lại

Thị trường tư vấn luật phát triển nhảy vọt, tuy nhiên cũng còn rất nhiều khó khăn. Luật sư Định cho rằng, nhu cầu tư vấn luật ngày càng nhiều nhưng các công ty luật trong nước muốn mở rộng hoạt động không phải dễ – vì tìm không ra người.

Luật sư Kính cũng có cùng nhận định: “Đội ngũ luật sư tư vấn luật có thể đáp ứng được yêu cầu thị trường hiện nay không nhiều, vì quá trình đào tạo ở các trường luật hiện nay còn xa rời thực tế”.

Ngay môi trường pháp lý về đầu tư, kinh doanh của Việt Nam cũng là một lực cản. Còn quá nhiều tồn tại trong chuyện quản lý nhà nước, nhất là cách giải thích luật của các cơ quan chức năng chưa thống nhất.

Trước đây, Việt kiều được quyền chọn lựa hình thức đầu tư (đầu tư trong nước hoặc đầu tư nước ngoài); bây giờ, theo luật mới, Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp.HCM chấp nhận Việt kiều là nhà đầu tư trong nước nhưng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì giải thích ngược lại…

Hay chuyện một số cam kết WTO chưa được thực thi trọn vẹn, như mở cửa thị trường bán lẻ, ngân hàng… nên các luật sư khó giải thích cho các khách hàng của mình khi họ hỏi “Luật cho phép sao không làm được?”.

(Theo TBKTSG)

——————————————-

Khi Phó Tổng thống là khách đi tàu nổi tiếng nhất

Là một trong những người quyền lực nhất nước Mỹ nhưng ông Joseph Biden vẫn “khoái” đi tàu để có dịp tiếp xúc, trò chuyện nhiều hơn với người dân, qua đó tìm hiểu được tâm tư, nguyện vọng của công chúng.

Với tư cách là Phó Tổng thống quốc gia giàu nhất hành tinh, ông Biden có quyền sử dụng đủ loại phương tiện giao thông hiện đại, nhanh nhất, từ máy bay phản lực, trực thăng cho tới đoàn xe có hộ tống… Thế nhưng, chính trị gia này vẫn không thích những “chiếc hòm” trên bởi nó ngăn cách ông với thế giới bên ngoài, với cuộc sống thường nhật. Do đó, ông tranh thủ mọi dịp thuận lợi là đi tàu điện, để được gặp gỡ, trò chuyện càng nhiều người dân càng tốt.

 
Ông Biden được coi là hành khách đi tàu nổi tiếng nhất nước Mỹ. Chỉ cần gõ từ khóa Biden – Amtrak (liên đoàn tàu khách quốc gia Mỹ) thì Google cho ngay 2,2 triệu kết quả trong 0,27 giây

Sở thích “lạ kỳ”, giản dị của Phó Tổng thống Mỹ không phải bây giờ mới có. Trước khi vào Nhà Trắng, hầu như ngày nào ông Biden cũng đi làm và về nhà bằng tàu điện. Trong 36 năm làm việc ở Thượng viện, ông đi hơn 7.000 chuyến từ nhà ở Delaware tới công sở ở Washington D.C và ngược lại. Thời gian ở trên tàu là khoảng 10.000 giờ, với quãng đường 1,4 triệu km.

Ông Biden vất vả đi tàu như vậy, ngoài sở thích trò chuyện với người dân, còn là vì ông luôn muốn được ăn tối với gia đình, chăm sóc hai con trai nhỏ (nhất là từ khi vợ ông mất trong một tai nạn ô tô năm 1972).

Trong 6 năm làm “gà trống nuôi con” (Biden lấy vợ mới năm 1977), ông càng chăm sóc cẩn thận hai cậu nhỏ, luôn sẵn sàng dừng mọi việc để nhận điện thoại của con, cho dù lúc đó ông đang ở xa, xử lý những công việc hệ trọng. Và dù có bận mấy, làm việc khuya thế nào, ông vẫn bắt tàu về nhà với các con ở Delaware.

Ngoài tình yêu dành cho con, cứ tới ngày 18/12 là “người đàn ông của gia đình” lại nghỉ việc, không phải để du lịch, nghỉ dưỡng mà để tưởng nhớ người vợ và con gái bị tai nạn năm nào.

Tổng thống Obama từng thừa nhận: “Tôi may mắn được làm việc với một trong những chính trị gia giỏi nhất trong thời đại này, người có lối sống dễ chịu với mọi người, từ các lãnh đạo thế giới cho tới những người lái tàu”.

Trong khi đó, để vinh danh hành khách đi tàu “vĩ đại”, nhà ga Wilmington (đông khách thứ 12 ở Mỹ) sau khi được nâng cấp cũng được đổi tên thành Joseph R. Biden vào năm ngoái.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »