Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười 13th, 2012

►Cái giá của Tự Do

Posted by hoangtran204 trên 13/10/2012

Củng cố niềm tin hay hoang mang bất định

Trần Văn Huỳnh
Kính gửi: Dân LuậnXin gửi Dân Luận bài viết dưới đây. Mong Dân Luận đăng để chia sẻ nỗi niềm về chuyện chung lẫn chuyện riêng của tôi.Xin cảm ơn và trân trọng kính chào.Trần Văn Huỳnh.

Cuộc sống đang thật ngột ngạt. Đến như cái thời khủng hoảng 1985, 1986 tôi cũng không có cảm giác như thế này dù điều kiện sống bây giờ không thiếu ăn như thời đó. Có lẽ vì nhờ những món ăn tinh thần của sự cởi trói cho báo chí vào đầu giai đoạn đổi mới. Khó khăn nhưng mọi người vẫn còn chút hy vọng vào những thay đổi tốt đẹp hơn sắp đến. Còn bây giờ không chỉ khủng hoảng kinh tế trầm trọng mà sự khủng hoảng niềm tin còn ghê gớm hơn gấp bội. Mọi thứ đều như bất định, không biết sẽ về đâu, không biết phải làm gì, sự trấn an của báo, đài, TV dường như chẳng còn tác dụng nếu không muốn nói là ngược lại. Bên cạnh những viễn cảnh và hứa hẹn tươi đẹp là sự u ám của những cái bóng của các thế lực thù địch, của sự khơi dậy hận thù và chia rẽ. Chẳng tìm đâu thấy những giá trị chân thực phản ánh đúng hơi thở của người dân để có được những giải pháp hợp lòng dân mà vượt qua khó khăn. Ngược lại, mọi thứ dường như bị bóp ngẹt. Thở còn khó nói gì đến mở miệng.

Tôi vừa đọc lại các bức thư con mình gửi từ trong tù. Đây là cách để tôi duy trì chút niềm tin vào những gì còn lại giữa chốn hồng trần xô bồ, bất định hiện nay. Nhiều lúc tôi cũng không hiểu được Thức lấy đâu ra những nguồn nghị lực và lạc quan lớn đến như vậy, dường như chẳng bao giờ cạn. Có lẽ nó chỉ có ở những người theo câu danh ngôn: “Luôn luôn hy vọng, không bao giờ được tuyệt vọng. Đó là bản chất của người có tâm hồn lớn”. Người ta bỏ tù Thức đã gần ba năm rưỡi. Từ lúc được gặp lần đầu đến giờ chẳng khi nào tôi thấy ánh mắt Thức mất đi sự lạc quan dù là vào những thời điểm thử thách khốc liệt nhất. Tôi được nghe những người đã từng ở trại giam B34 kể lại rằng trước khi ra tòa sơ thẩm, cả ngày Thức chẳng nói nhiều với ai, chỉ trầm tư suy nghĩ. Nhưng ngay sau phiên tòa nhận được bản án 16 năm tù thì Thức cười nói suốt ngày, hát, làm thơ, sáng tác nhạc rộn ràng. Người ta cho người vào làm bạn tù chung phòng với Thức, được đánh cờ với nhau, và khuyên Thức nên nhận tội xin khoan hồng tại phiên tòa phúc thẩm thì được giảm án xuống một nửa. Nếu Thức đồng ý thì sẽ có người đủ thẩm quyền đứng ra cam kết điều đó. Thức cười trả lời: “Hãy nói điều đó nếu ông đánh thắng được tôi”. Nhưng Thức là một tay cờ có hạng.

Lần thăm Thức sau phiên tòa sơ thẩm, cả nhà tôi đã phải bàn bạc mấy ngày liền để làm sao động viên, truyền sức mạnh cho Thức vượt qua được bản án khắc nghiệt. Nhưng kỳ thực, vị thế lại bị đảo ngược lại một cách rất tự nhiên. Thức mới chính là người đã truyền nghị lực, niềm tin và hy vọng để cả nhà vượt qua được nỗi đau đớn khôn cùng bởi người thân thương của mình bị trù dập. Lúc đó Thức nói mọi người đừng bận tâm đến con số 16 năm mà hãy nhìn vào sự tiến triển theo quy luật tất yếu. “Kinh tế sẽ khủng hoảng trầm trọng đến mức sụp đổ và phải buộc dẫn đến sự thay đổi từ 3 đến 5 năm nữa. Lúc đó con sẽ trở về”. Xin được nhắc lại là khi đó đang đầu tháng 02/2010, vào lúc mà báo chí đang ca ngợi thành tích đưa nền kinh tế vượt qua khủng hoảng trong năm 2009 và tô hồng những viễn cảnh của những năm sau đó. Thành tích này được chọn là một sự kiện hàng đầu trong 10 sự kiện nổi bật của cả nước trong năm 2009. Nếu báo chí có tiếng nói khách quan, phản ánh đúng thực tế cuộc sống khi ấy thì có lẽ giờ này người dân đã không phải lãnh những hậu quả khốn cùng như bây giờ.

Thức không chỉ nói với gia đình mà còn viết rõ những lời cảnh báo như vậy trong đơn kháng cáo: “Ngay vào lúc này tôi vẫn thấy những nguy cơ đó chực chờ và ngày càng nguy hiểm”. Đọc lá đơn của Thức gia đình đầm đìa nước mắt nhưng hy vọng rằng nó sẽ giúp thay đổi bản án. Nhưng Thức đã nói vào lần gặp gia đình trước phiên tòa phúc thẩm rằng đừng hy vọng gì vào phiên tòa này, sẽ không có sự thay đổi nào hết. Thức đã viết đến 50 trang A4 chỉ để tận dụng cơ hội nhằm tiếp tục cảnh báo. Khi còn tạm giam, chỉ có lúc ấy mới có được giấy viết mà thôi. Sau này tôi được biết không có bàn ghế gì hết, Thức phải nằm sấp xuống nền nhà mà viết. Nhiều luật sư nói với tôi rằng chưa bao giờ họ thấy một lá đơn kháng cáo nào như vậy. Nó phân tích những hiện trạng và chỉ ra quy luật để cho thấy rằng chính sách kinh tế đã và đang dẫn đến ngõ cụt và nếu không có sự điều chỉnh ngay lập tức thì không chỉ là sụp đổ kinh tế mà còn là sự đổ vỡ toàn diện về chính trị và xã hội. Không những vậy nó còn chỉ ra một con đường phù hợp nhất để vượt thoát được hiểm họa đó, mà tình trạng tồi tệ nhất là đất nước sẽ bị thôn tính trở thành phiên thuộc. Thức gọi con đường đó là Con đường Việt Nam.

Cả từ trước khi bị bắt, đã bị bắt và đã bị kết án để Thức không còn có thể lên tiếng cảnh báo thì Thức vẫn bằng mọi cách để nói cho mọi người biết về nguy cơ và thảm họa của đất nước cũng như con đường để khắc phục. Nếu không đảm bảo quyền con người, mở rộng dân chủ để những hiền tài của đất nước tham gia điều hành nhằm giải quyết những vấn đề nan giải của quốc gia thì thảm họa nói trên không cách gì tránh được. Cuộc chỉnh đốn Đảng đang diễn ra quyết liệt hiện nay nhằm làm trong sạch bộ máy lãnh đạo không biết sẽ đi về đâu. Nhưng có lẽ cái mà người dân cảm nhận được từ nó rõ rệt nhất thời gian qua chính là sự hoang mang lo lắng và bất định. Không chỉ người nghèo bất định, đến cả những người giàu có thành đạt cũng bất an không biết tai hoạ sẽ đổ ập xuống đầu lúc nào. Những thông tin chính thức thì hoàn toàn thiếu vắng. Còn những tin tức đồn đoán cho thấy sự đấu đá nội bộ lại lan truyền rộng rãi. Người dân đa số chẳng còn biết tin vào điều gì. Trong một bối cảnh mà người dân rất cần biết và tin vào những quyết sách đột phá để giúp họ vượt qua khó khăn khốn đốn thì lại chỉ nhận được sự lộn xộn, lẫn lộn tùng phèo giữa cái tốt, cái thiện và cái tà, cái xấu. Chẳng thể phân biệt nổi chính tà nữa khi mà những cái xấu tệ hại đã rõ ràng trong thực tế lại được báo đài chính thống nói là tốt đẹp. Còn những điều tốt cần được lắng nghe thì lại bị đồng thanh lên án, kết tội. Sự thờ ơ là hệ quả tâm lý tất yếu của tâm trạng hoang mang và bất định. Hầu hết con người đều không thể làm gì khác được để tránh hậu quả đó. Nếu không chọn sự thờ ơ thì con người sẽ bị rơi vào một trạng thái khủng hoảng tinh thần tồi tệ. Nghĩ đến nó thì không tìm được lối thoát, không nghĩ đến thì đương nhiên sẽ trở thành buông xuôi, phó mặc. Tốt nhất là chọn thờ ơ. Xã hội vì thế mà trở nên vô cảm. Có rất nhiều cái không muốn thơ ơ vô cảm nhưng cũng chẳng làm thì khác được ngoài cách phó mặc, như là tai nạn rình rập, rau bẩn, thực phẩm độc hại, ô nhiễm, v.v… Một xã hội mất niềm tin.

Nghĩ đến đó mà tôi thấy thương con mình vô hạn. Xã hội ngoài đời còn như thế. Trong tù người ta chà đạp nhau mà sống còn khắc nghiệt đến như thế nào. Nhưng Thức chưa bao giờ vô cảm, chưa bao giờ thờ ơ với thế sự, vẫn trăn trở cho vận mệnh dân tộc. Cách đây một năm, đi thăm Thức tôi được biết Thức tiếp tục viết Con đường Việt Nam dài gần 50 trang. Một cán bộ trại giam lúc đó nói với tôi rằng tài liệu đó không phù hợp. Nhưng vừa rồi Lê Thăng Long đánh máy lại những trang viết đó và gửi tôi đọc. Thật khó mà diễn tả được cảm xúc khi đọc những dòng được viết từ trong tù mà vẫn nặng lòng với cuộc sống của người dân và tương lai đất nước đến như vậy. Ấy vậy mà chính vì đã viết những điều tâm huyết đó nên Thức đã bị hạn chế giấy viết. Do đó cả năm nay tôi và gia đình đã không còn nhận được những bức thư Thức gửi về đều đặn hai lần một tháng nữa. Cho nên tôi cứ phải đọc lại những bức thư cũ.

Đó là những bức thư để dạy con mình lòng yêu quê hương đất nước thông qua tình yêu từng cọng cỏ, ngọn cây, từng con sông dòng suối. Yêu quý và trân trọng thiên nhiên đã cho mình môi trường sống. Yêu thương không chỉ ông bà, cha mẹ, anh chị em, cô bác mà cả bạn bè, tình làng nghĩa xóm và cả những con người không may cơ nhỡ. Dạy con cháu sống như thế nào để không phải ích kỷ, thờ ơ và vô cảm. Dặn mọi người trong nhà hãy đừng vì sự nhiễu nhương mà đánh mất niềm tin và buông xuôi phó mặc. Dặn con nếu được đi du học thì xong hãy trở về mà đóng góp cho đất nước. Từ những triết lý sống rất đơn giản nhưng chân thực đến những phương pháp tư duy để giải quyết những vấn đề phức tạp, đến cả những kinh nghiệm quản trị chiến lược mà nếu tổng hợp hết lại sẽ là một tài liệu rất quý giá đáng để học hỏi. Thức là như vậy, chẳng bao giờ ngưng làm việc có ích cho dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Chẳng bao giờ thôi trăn trở vì vận mệnh dân tộc. Cuối tháng 9 vừa rồi gặp, tôi kể Thức nghe cuộc sống bên ngoài giờ khó khăn lắm, rất nhiều người phải sống lầm than. Đúng như những gì Thức dự đoán. Tôi thấy Thức buồn. Thức nói rằng sẽ còn kéo dài lâu, người dân còn khổ nhiều hơn nữa. Nhưng nếu không có được giải pháp đột phá thì tình trạng đó cũng không thể thoát ra được. Thức nói rằng nếu tỷ giá tiếp tục bị ghim giữ cố định như mấy năm nay thì thì sẽ không bao giờ ổn định được nền kinh tế, lạm phát sẽ còn cao và nhiều bất ổn. Nhưng trong tâm trạng như vậy mà Thức vẫn nhớ hôm sau (01/10) là sinh nhật bạn mình, Lê Công Định. Tôi kể Long viết bài mừng sinh nhật Định có nhắc bài thơ Vịnh Gia Lào. Thức vẫn thuộc và đọc bài thơ đó.

Trước khi ra về Thức dặn “Con đường sẽ còn nhiều khó khăn thách thức. Nhưng chỉ cần giữ được ánh lửa không tắt trong giông bão thì sau đó nó sẽ bừng sáng. Ba hãy giúp Long giữ gìn ánh lửa đó”. Và tôi đã hứa với con mình như vậy. Tôi nguyện với lòng mình cho dù phải hy sinh đến thế nào đi nữa tôi cũng sẽ cố làm bằng được điều đó. Vì tôi biết rằng ánh lửa đó không chỉ là niềm tin của riêng mình.

———————————————–

Sự mất tự do của một số người là điều kiện cho tự do của mọi người

Nguyễn Thị Từ Huy

quốc bảo của một đất nước
chính là những con người không còn sợ hãi
Aung San Suu Kyi [*]

Đầu đề của bài viết này được gợi ý từ chủ đề của diễn từ nhận giải Sách Hay của Nguyễn Văn Trọng: «Tự do của mỗi người là điều kiện đảm bảo cho tự do của mọi người». Và đấy là một luận điểm của Marx.

Một số người được nói đến ở đây là những người đi vào chốn lao tù bằng sự can đảm, bằng lòng cao thượng, nghĩa hiệp. Họ vào tù để thể hiện tự do của chính họ, và tự do của họ, hay là sự mất tự do của họ, nếu nhìn từ góc độ khác, là điều kiện cho việc một ngày nào đó mọi người ở Việt Nam sẽ có tự do. Theo định nghĩa của Aung San Suu Kyi, họ chính là quốc bảo.

Họ là những Trần Huỳnh Duy Thức, Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Lê Thanh Hải, Đinh Đăng Định… là những thanh niên công giáo và tất cả những người chịu mất tự do thân xác để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ sự thật, bảo vệ quyền con người, bảo vệ tự do suy nghĩ và hành động của chính họ và của những người khác. Họ đánh đổi tự do thân xác để giữ lấy tự do tư duy và tự do hành động. Hẳn nhiên, vào tù cũng là một hành động.

Các vị thẩm phán có thể kết án những con người không còn sợ hãi đó, đưa họ vào tù, giam cầm thân xác họ. Nhưng không thể giam cầm tự do của họ. Nghịch lý là, sự cầm tù về thân xác lại chính là biểu hiện, là minh chứng cho tự do tinh thần của họ, là minh chứng cho sự can đảm của họ, là điều kiện để xác nhận rằng họ không còn sợ hãi, để họ trở thành quốc bảo của đất nước.

Đất nước này đang hủy hoại quốc bảo của mình một cách không thương tiếc, gần như tất cả mọi lĩnh vực: những ngôi chùa như chùa Trăm Gian bị phá hủy (phá hủy bằng cách trùng tu); những thắng cảnh như Hồ Tây bị phá hủy bởi những con rồng xi măng xấu xí tột độ, phản thẩm mỹ tột độ; những khu rừng quốc gia như Cát Tiên cũng đang lăm le bị phá hủy; tài nguyên khoáng sản như bô xít, than… chảy dần ra nước ngoài cho đến khi kiệt quệ; những bộ óc tài năng bị tê liệt, những nguồn năng lượng chất xám bị hút kiệt trong những môi trường kìm hãm, trong những điều kiện làm việc tồi tệ cả về vật chất lẫn tinh thần; những con người không còn sợ hãi bị bắt giữ và giam cầm…

Một đất nước hủy hoại tất cả mọi quốc bảo của mình thì tương lai của đất nước ấy sẽ ra sao?

Tương lai của đất nước ấy chỉ có thể được cứu vãn bởi những con người không còn sợ hãi, Aung San Suu Kyi có lý khi nói như vậy (Mở ngoặc để đưa một minh chứng nhỏ: đồi Vọng Cảnh đã tiêu vong nếu không có Cù Huy Hà Vũ). Cho dù giờ đây họ còn quá đơn độc, ít ỏi, bị xa lánh, cho dù họ thất bại, cho dù kể cả trong trường hợp người ta có thành công trong việc hủy hoại hoàn toàn đất nước này, thì điều mà họ có thể và đã làm được là: bằng chính sự thất bại của họ trong việc để mất tự do thân xác, bằng cách chấp nhận trả giá cho tự do tinh thần và tự do hành động, họ đã để lại những ký ức, những dấu ấn tốt đẹp cho cả một cộng đồng, cho cả một dân tộc. Nói một cách khác, nếu cả đất nước này bị tiêu vong thì họ sẽ là những người còn lại.

Họ sẽ không bao giờ bị tiêu vong.

Họ là quốc bảo, vì nhờ có họ mà ta có cơ sở để hy vọng rằng cái ngày mà mọi người ở Việt Nam có tự do sẽ đến. Nhưng nó đến nhanh hay chậm thì tùy thuộc vào những người cho đến hiện nay vẫn còn tự do thân xác có vượt qua được nỗi sợ hãi của mình hay không.

N.T.T.H.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

________________

[*] Câu này trích từ bản dịch của An Văn đăng trên Bauxite Việt Nam, ngày 6/6/2011. Nhân đây, tôi xin cảm ơn ông/bà An Văn đã đề tặng bản dịch cho tôi. Một lời cảm ơn thật ra không thể đủ để diễn tả những trợ lực tinh thần to lớn mà tôi cảm nhận được khi đọc bài này và khi hình dung sự chia sẻ mà An Văn đã làm lan tỏa, không chỉ sang một mình tôi, cùng với hành động đặt bút dịch văn bản của Aung San Suu Kyi. Có thể đọc bản dịch ở đường link sau đây: boxitvn.wordpress.com

danluan.org    (repost)

————————-

Posted in Tự Do ngôn Luận | 1 Comment »

►Liên Xô đã làm gì trong cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung 17-2-1979

Posted by hoangtran204 trên 13/10/2012

 

CÁC CỐ VẤN LIÊN XÔ VÀ CUỘC CHIẾN TRANH 30

NGÀY Ở VIỆT NAM

 

CÁC CỐ VẤN LIÊN XÔ VÀ CUỘC CHIẾN TRANH 30 NGÀY Ở VIỆT NAM 

Có những ngày khác nhau trong lịch sử, có ngày vui hân hoan, nhưng cũng có những ngày bi thảm. Ngày 17 tháng Hai năm 1979 là một ngày bi thảm đối với nhân dân Việt Nam.
 
 
17/2/1979, quân đội Trung Quốc đã vượt qua biên giới Việt Nam. Bắc Kinh muốn “trừng phạt Hà Nội” vì Việt Nam đã tham gia vào việc lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot ở Campuchia. Lực lượng Trung Quốc xâm lược bao gồm 7 quân đoàn, lên đến 600.000 người. Phía Việt Nam, đối phó với lực lượng này, lúc đó chỉ có một sư đoàn quân chủ lực, một sư đoàn quân địa phương, lính biên phòng và dân quân tự vệ, với số lượng vũ khí không nhiều, gồm có pháo, súng cối và vũ khí chống tăng.
 
Ngày 18 tháng Hai, chính phủ Xô viết đã đưa ra một tuyên bố, trong đó, ngoài những điều khác, có nêu rõ: “Liên bang Xô viết sẽ thực hiện các cam kết theo Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam”. Hiệp ước này được ký kết tại Matxcova ba tháng trước đó.
 
Để biểu thị sự hỗ trợ cho Việt Nam và hướng sự chú ý của quân đội Trung Quốc theo phía nam, 29 sư đoàn bộ binh của quân đội Liên Xô gồm 250 nghìn người, với sự hỗ trợ không quân đã được điều đến khu vực gần Mãn Châu ở biên giới Xô-Trung.  

 
Đồng thời, lãnh đạo Liên Xô đã gửi bổ sung thêm cho Việt Nam một nhóm cố vấn quân sự.
 
Một trong những nhà lãnh đạo của Hiệp hội các cựu chiến binh Nga trong chiến tranh Việt Nam, đại tá Gennady Ivanov nhớ lại:
 
“Sáng 19 tháng 2, vào ngày thứ ba của cuộc xâm lược, một nhóm các cố vấn quân sự của Liên Xô đã bay tới Hà Nội, gồm các vị tướng có kinh nghiệm nhất, đứng đầu là đại tướng Gennady Obaturov. Ngay sau khi đến nơi, họ lập tức gặp tổng tư lệnh tối cao của Quân đội nhân dân Việt Nam”.
 
Các cố vấn  quân sự Liên Xô không chỉ nắm tình hình thực tế qua cuộc tiếp xúc với bộ trưởng quốc phòng Văn Tiến Dũng và tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam Lê Trọng Tấn, mà còn ra mặt trận, lên tuyến đầu nơi quân đội Việt Nam bảo vệ Tổ Quốc. Tại đó, họ đã rơi (vào – FDDinh bổ xung) trận pháo kích mạnh của quân Trung Quốc, nhưng may mắn thay, không ai bị thương. Tuy nhiên, đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô vẫn không tránh được tổn thất.
 
Tại cuộc họp kéo dài 3 giờ đồng hồ ngày 25 tháng Hai với ông Lê Duẩn, đại tướng Obaturov đề xuất di chuyển lực lượng quân chủ lực được huấn luyện tốt hơn từ Campuchia về mặt trận phía Bắc. Đề xuất này, cũng như một loạt đề xuất khác do đại tướng Liên Xô đưa ra, đã được phía Việt Nam thông qua.
 
Theo  lệnh của tướng Obaturov, các phi công lái máy bay vận tải quân sự Xô Viết đã chuyển cánh quân Việt Nam từ Campuchia về hướng mặt trận Lạng Sơn, khiến cho tình hình lập tức thay đổi nghiêng theo hướng thuận lợi cho Việt Nam. Đầu tháng Ba năm đó, sáu cố vấn Liên Xô đã hy sinh tại Đà Nẵng trong tai nạn máy bay, khi đang giúp Việt Nam. 
Tướng Obaturov cũng đã gửi các lãnh đạo Liên Xô công văn yêu cầu khẩn cấp viện trợ cho Việt Nam vũ khí và trang thiết bị bằng đường hàng không.
 
“Các tổ chức quân sự Matxcova nhanh chóng và tích cực đáp ứng mọi yêu cầu của nhóm cố vấn Liên Xô tại Việt Nam – Đại tá Gennady Ivanov nói tiếp. –  Trong thời gian ngắn nhất, quân đội nhân dân Việt Nam đã nhận được tất cả mọi thứ cần thiết để chống lại kẻ thù. Việt Nam đã được viện trợ tên lửa “Grad”, trang bị kĩ thuật cho các đơn vị thông tin liên lạc, tình báo và các phương tiện hỗ trợ chiến đấu khác, bằng máy bay vận tải quân sự.”
 Các biện pháp đó đã góp phần làm cho các cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc bị sa lầy. Một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiến đấu không cho đối phương tiến lên quá 30 km kể từ biên giới.

 

 
Những kẻ xâm lược đã mất hơn 62.000 sĩ quan và binh lính, 280 xe tăng và xe bọc thép, 118 khẩu pháo và súng cối cùng một số máy bay. Ngày 05 tháng Ba năm 1979, Trung Quốc bắt đầu rút quân khỏi các vùng lãnh thổ chiếm đóng. Ngày 18.3, chiến sự chấm dứt.

 

 

Hải quân Liên Xô đã không bàng quan đứng bên ngoài những sự kiện dữ dội ấy. Mời các bạn đón nghe Đài Tiếng nói nước Nga, phát thanh từ Matxcova.

 

Vào những ngày này 32 năm trước, quân đội Trung Quốc đã tấn công vào miền Bắc Việt Nam. Bắc Kinh muốn “trừng phạt Hà Nội” vì Việt Nam đã tham gia vào việc lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot ở Campuchia.
 
rong chương trình lần trước, chúng tôi đã nói về vai trò của các cố vấn quân sự Liên Xô đã giúp cho quân đội nhân dân Việt Nam đối phó với lực lượng Trung Quốc gồm 600.000 người, về các đợt cung cấp vũ khí và kỹ thuật quân sự của Liên Xô. Hồi đó, không chỉ các tỉnh miền Bắc mà cả bờ biển phía Bắc của Việt Nam cũng bị đe dọa bởi Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc gồm gần 300 tàu chiến.
 
Sau đây là ý kiến của nhà Việt Nam học, sử gia Maxim Sunnerberg: “Khi quân đội Trung Quốc vượt qua biên giới Việt Nam, một tàu tuần dương và một tàu khu trục của Hạm Đội Thái Bình Dương đang hiện diện tại các điểm quan trọng của biển Đông để phô trương sự hỗ trợ của Liên Xô cho Việt Nam. Sau mấy ngày chiến sự giữa Việt Nam và Trung Quốc có thêm mấy tàu chiến của Liên Xô tiến tới khu vực. Sau ngày 20 tháng Hai, 13 tàu chiến, kể cả mấy tàu ngầm, đã chờ đợi đoàn tàu mới do tàu tuần dương “Đô đốc Senyavin” và tàu dương hạm tên lửa “Vladivostok” dẫn đầu tới khu vực. Đầu tháng 3, đoàn tàu xô-viết bao gồm 30 tàu chiến”. 
 
Sau đây là đoạn trích từ nhật ký của thuyền trưởng tàu ngàm “B-88” Fedor Gnatusin:
 
“Đầu năm 1979, tàu chúng tôi đang bảo quản tại xưởng đóng tàu. Rồi vào tháng 2, có lệnh khẩn cấp ra biển. Các quả ngư lôi, lương thực và thiết bị kỹ thuật đã được rất nhanh xếp lên tàu. Đã có mấy tàu chiến khác cũng lên đường đi Việt Nam từ Vladivostok và Nakhodka”.
 
Còn đây là đoạn trích từ nhật ký của trung tá hải quân Vladimir Glukhov:
 
“Với tư cách chỉ huy bộ tham mưu của sư đoàn, tôi đã có nhiệm vụ đảm bảo đoàn tàu chiến Liên Xô chuyển đến Việt Nam, cụ thể đảm bảo các tàu chiến ghé vào các cảng Việt Nam. Cần phải kiểm tra độ sâu, hành trình di chuyển, hải lưu, kiểm tra bến tàu. Chúng tôi đã mất một ngày đêm để thực hiện công việc này, và sau 5 ngày nữa đã ghé vào cảng Đà Nẵng.  Rồi chúng tôi hướng tới bán đảo Cam Ranh, nơi đang thành lập căn cứ hải quân Liên Xô. Mọi người đã làm việc khẩn trương để tiếp đón các tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương”.
 
Các thủy thủ xô-viết đảm bảo hành trình an toàn cho các tàu vận tải từ Vladivostok, Nakhodka và Odessa chở hàng tiếp tế cho Việt Nam. Trong thời gian chiến sự, 6 tàu thủy Liên Xô đã tới cảng Hải Phòng vận chuyển kỹ thuật quân sự, kể cả tên lửa và thiết bị radar giành cho Việt Nam.
 
Đoàn tàu Liên Xô đã hiện diện ở vùng biển Đông đến tháng 4 năm 1979. Kết quả là, hạm đội Hải Nam của Trung Quốc không tham gia hoạt động quân sự chống Việt Nam.
 
Nhà Việt Nam học, sử gia Maxim Sunnerberg nói tiếp: “Trong khi đó, thủy thủ Liên Xô đã phải đối phó đoàn tàu Mỹ do tàu chở máy bay “Constellation” dẫn đầu đã hiện diện ở khu vực Đông Nam Á từ ngày 6 tháng 12 năm 1978. Ngày 25 tháng 2 năm 1979, các tàu chiến Mỹ đã chuyển đến bờ biển Việt Nam như người Mỹ giải thích “để kiểm soát tình hình”. Các tàu ngầm của Liên Xô đã chắn hành trình tiến tới vùng chiến sự không cho tàu chiến Hoa Kỳ đến gần bờ biển Việt Nam. Một số tàu ngầm vẫn ở lại dưới nước, số khác hiện lên trên mặt nước. Hóa ra, hệ thần kinh của các thủy thủ Liên Xô là vững vàng hơn – tàu chiến Mỹ không dám vượt qua tuyến ngăn chặn do các tàu ngầm Liên Xô xây dựng. Ngày 6 tháng 3, các tàu chiến Hoa Kỳ đã rời khỏi vùng biển Đông”.

 36 thủy thủ của Hạm đội Thái Bình Dương đã được tặng huân huy chương của Chính phủ Liên Xô vì lòng  dũng cảm  và chủ nghĩa anh hùng trong thời gian Việt Nam đối phó với cuộc xâm lược của Trung Quốc.

 
 Theo: http://vietnamese.ruvr.ru/2011/02/17/44740573.html

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | 5 Comments »