Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín, 2012

►Tranh chấp quyền lực-quyền lợi… trong nội bộ đảng CSVN (Vinashin và kinh tế tập đoàn)

Posted by hoangtran204 trên 07/09/2012

2010,  Phạm Thanh Bình (Vinashin) bị ở tù vì làm Vinashin sụp đổ 2010, mất hơn 4,6 tỷ đô la(86.000 tỷ đồng VN).  Khi vụ Vinashin bùng nổ hồi năm 2010, một số đại biểu đòi bỏ phiếu bất tín nhiệm ông thủ tướng ở Quốc Hội thì. Ông Dũng chỉ ra trước Quốc Hội nói vài lời “nhận trách nhiệm” là xong. Riêng số phận những đại biểu quốc hội đòi bỏ phiếu bất tín nhiệm ông thủ tướng thì vài tháng sau, (22-5-2011) đã không còn được cơ cấu vào làm  đại biểu Quốc hội khóa XIII nữa. Vậy là từ nay không ai dám chỉ trích NTD nữa.

Kế đó, 2012, Vinalines của Dương Chí Dũng bị sụp đổ mất hơn 2 tỷ đô la (40.000 tỷ đồng VN).  Ông ta chỉ đao mua  50-60 chiếc tàu cũ, giá trị chỉ là đống sắt vụn bán cho ve chai, nhưng mỗi chiếc, ông tính giá mua trên hóa đơn kê khai là vài chục triệu đô la; mua xong phải kéo tàu về tốn 5-7 triệu đô, về tới VN là thuê sửa lại mất 1 vài năm, sửa xong tàu chạy chừng 1-2 năm là thủng đáy, nằm ụ ở ngoài sông, ngoài biển. Ông còn chỉ đạo mua ụ sửa chữa tàu cũ đóng từ hồi 1969 năm. Kéo ụ về tốn hàng triệu đô la, về tới nơi thì ụ bị rỉ sét thêm, và nằm yên trong bến tàu từ đó cho đến khi Vinalines hết tiền và bị đưa lên báo.

Một tháng sau Vinalines bị sụp đổ,  TT Nguyễn Tấn Dũng đã họp và đòi bỏ thêm 100.000 tỷ đồng VN ra cứu Vinalines!  Việc vây bè kéo cánh rất có lớp lang. Trước đó,  vào cuối năm 2011, Nguyễn Tấn Dũng đã mượn một đàn em khác, là bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng, giới thiệu cho Dương Chí Dũng vào chức vụ Cục trưởng Cục Hàng Hải. Phương cách dùng nhân vật khác giới thiệu là rất mưu lược,  nếu lỡ sau này Dương Chí Dũng có làm chuyện gì đổ bể, thì Đinh La Thăng là người chịu trách nhiệm chứ  không phải Nguyễn Tấn Dũng.  Chuyện này về sau diễn ra đúng như  như tiên liệu, và Nguyễn Tấn Dũng và bộ trưởng Đinh La Thăng không ai chịu trách nhiệm về chuyện bổ nhiệm, mà chỉ tuyên bố chiếu lệ, tỏ vẻ ngạc nhiên về khả năng leo cao, trèo sâu của Dương Chí Dũng!

Nhưng đấy chỉ là màn kịch, nhiều hình ảnh của Dương Chí Dũng xuất hiện trên báo cùng với TT Ng. T. Dũng cho thấy mối quan hệ rất gần gủi giữa 2 nhân vật này. Nếu không có sự đỡ đầu, DCD không có đủ gan mua  50-60 chiếc tàu cũ và ăn một mình trong suốt thời gian nhiều năm dài mà không ai hay biết và  tố giác.

Theo giới thạo tin, gần đây có hai phe nhóm trong đảng CSVN đang tranh chấp nhau. Phe của Nguyễn Phú Trọng – Trương Tấn Sang, và phe của TT Nguyễn Tấn Dũng.

Trước khi có hội nghị trung ương họp tháng 7 và tháng 8 vừa qua để làm “phê và tự phê”, phe của Trọng và Sang khui hai vụ Vinalines và các vụ sáp nhập bê bối của ngân hàng thương mại. Cả hai vụ này là do đàn em của TT Nguyễn Tấn Dũng làm ăn.

Kết quả cựu tổng giám đốc Vinalines Dương Chí Dũng và cũng là tổng cục trưởng Cục Hàng Hải bỏ trốn vào tháng 4/ 2012 và mới bị phe của Trọng và Sang bắt giữ hôm 3-9-2012. Phe của Trọng và Sang cũng bắt giữ Nguyễn Đức Kiên hôm 20-8-2012, và Kiên đang bị qui tội là kinh doanh trái phép của 3 doanh nghiệp hạng nhỏ do Kiên đứng tên,   Kiên thành lập 3 công ty, dùng tên 3 công ty này vay mượn tiền của ngân hàng, và dùng tiền này làm chuyện khác…Phe Trọng và Sang bắt giữ Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ngân hàng ACB. Chỉ trong 3 ngày sau vụ bắt bầu Kiên, người có tiền đã ra ngân hàng ACB rút tiền 400 triệu đô la.  Kết quả của vụ bắt bầu Kiên là thị trường chứng khoán VN sụt giảm, và đã bị mất từ  5,6 tỷ đô la.

Hồi 15-5-2012, báo Lao Động loan tin:  Hội nghị Trung ương 5  đã đưa ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung Ương về phòng chống tham nhũng trực thuộc Bộ chính trị, Tổng Bí thư làm Trưởng Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng (nguồn). Chức vụ này trước đó ở trong tay của TT Nguyễn Tấn Dũng từ 2006 cho đến đầu năm nay.  

Nhưng khi có vụ Nguyễn Đức Kiên bị bắt, thì 3 ngày sau, 23-8-2012 TT Nguyễn Tấn Dũng lại được báo chí loan tin...vẫn còn là Trưởng Ban Phòng Chống Tham Nhũng  đang họp lần thứ 18,  và  TT Nguyễn Tấn Dũng đã  chỉ đạo bắt Nguyễn Đức Kiên! (nguồn)

Hai điều đáng chú ý. Thứ nhất, Nguyễn Đức Kiên là đàn em thân tín của Dũng, và hồi tháng 3-2012, báo chí loan tin Kiên đã cùng Nguyễn Thị Thanh Phượng, con của TT Nguyễn Tấn Dũng, lợi dụng ngân hàng  Sacombank mất thanh khoản, nên đã chiếm đoạt Sacombank mà chỉ tốn rất ít tiền.

Điều thứ hai là cuộc bầu cử trước đó 3 tháng của Hội nghị Trung ương 5, đảng CSVN…bầu TBT Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Ban phòng chống Tham nhũng coi như là trò đùa, vì TBT Trọng  bị cho ra rìa trong khi TT Nguyễn Tấn Dũng vẫn tiếp tục giữ chức trưởng ban PCTN.  Cũng có người viện dẫn một bài báo khác nói rằng đến 15-10-2012, thì nhiệm kỳ làm trưởng ban PCTN của Nguyễn Tấn Dũng mới chấm dứt.   Người khác nói: ( http://thuvienphapluat.vn/archive/Luat/Luat-phong-chong-tham-nhung-2007-sua-doi-01-2007-QH12-vb54485t10.aspxTuy TBT Nguyễn Phú Trọng muốn thu hồi, nhưng Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn sinh Hùng chưa nhất trí để sửa bộ luật này.

Hiện nay Nguyễn Tấn Dũng đang trả đũa bằng cách cho báo Petrotimes khui tỷ phú Đặng Thành Tâm (phe của Trương Tấn Sang) là vi phạm luật trong việc rút tiền khỏi ngân hàng 600 tỷ đồng VN.  

Trước đó, phe Nguyễn Tấn Dũng cũng tìm cách hạ Đặng Thị Hoàng Yến (chị của Đặng Thành Tâm), và đẩy bà này ra khỏi chức vụ đại biểu quốc hội. (Bài báo vụ này được post ở cuối trang)

Đặng Thị Hoàng Yến là người phát biểu trước diễn đàn Quốc Hội được truyền hình trực tiếp chất vấn Thống đốc Nguyễn Văn Bình về các vụ sáp nhập các ngân hàng : “Tôi đã mạnh dạn đưa ra cảnh báo loại tội phạm mới lợi dụng chính sách để thôn tính doanh nghiệp, ngân hàng. Thực tế hiện nay đã, đang diễn ra và hàng trăm ngàn doanh nghiệp đang thật sự cam go…” (nguồn)

Sau khi chất vấn thống đốc Nguyễn văn Bình ở quốc hội về các vấn đề liên quan tới ngân hàng, bà Đặng thị Hoàng Yến bị  báo chí xoi móc về đời tư, về đơn ra ứng cử đại biểu quốc hội, về lý lịch đảng viên mà không khai… Khi ấy chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, phe của Nguyễn Tấn Dũng, mượn tay Mặt trận Tổ quốc họp, bỏ phiếu đề nghị bãi miễn chức vụ đại biểu quốc hội của bà Yến. Vậy là bà Yến biến mất khỏi diễn đàn quốc hội. 700 tờ báo của đảng không còn đưa tin gì liên quan đến bà Yến nữa.

Tham khảo (1), (2) (3) (4)

Ai đứng sau Dương Chí Dũng phá đất nước?

Cầu Nhật Tân

Chuyện Vinalines đã be bét như vậy mà gần đây Thủ tướng vẫn chủ trì cuộc họp với Bộ Giao thông Vận tải nghe cơ quan này trình bày đề án đầu tư thêm 100.000 tỉ đồng cho Vinalines. Sau đó, Thủ tướng lại rêu rao là “quyết bắt bằng được Dương Chí Dũng”. Thực tế, việc bắt họ Dương vừa qua lại do lực lượng đối lập với Thủ tướng thực hiện. Cần nhắc lại một sự thật không thể chối bỏ là dưới sự lãnh đạo, quản lý và trong phạm vi trách nhiệm của Thủ tướng, hai cái Vina (Vinalines + Vinashin) đã xơi của đất nước ta gần 7 tỉ USD.

Dương Chí Dũng từng kinh qua các chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines, Cục trưởng Cục hàng hải đã bị bắt ngày 3/9/2012 tại Campuchia. Việc ông này trốn thoát ngay trước khi cơ quan chức năng tống đạt quyết định bắt giam đang đặt ra câu hỏi lớn đối với lãnh đạo Bộ Công an.

Trung tướng Phạm Quý Ngọ (caravat đỏ), Thứ trưởng Bộ CA “thăm” Vinalines dịp Tết vừa qua

Đảng viên ưu tú và những cú “ảo thuật” nghìn tỉ

Năm 2011, ông Dương Chí Dũng được trên gắn mác Đảng viên ưu tú, đại diện cho ngành GTVT đi dự đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11. Chỉ trong thời gian ngắn từ 2007, bằng nhiều thủ đoạn và được hệ thống quan trên đỡ đầu, quan tham này đã tham ô và phá khoảng gần 50.000 tỉ đồng (tương đương gần 2,5 tỉ USD). Giữa năm 2011, Tổng thanh tra Chính phủ ban hành Quyết định thành lập đoàn Thanh tra 5 tập đoàn nhà nước trong đó có Vinalines. Trong thời gian thanh tra, Đoàn Thanh tra CP phát hiện nhiều sai phạm ở Vinalines và đã kịp thời báo cáo bằng văn bản lên Tổng thanh tra CP, Bộ chủ quản, Thủ tướng.

Lúc này, ông Dương Chí Dũng vẫn đang tại chức (Chủ tịch HĐQT Vinalines).

Theo Thanh tra Chính phủ, ngoài những sai phạm trong phát triển đội tàu, công tác quản lý và sử dụng vốn, tài sản tại Vinalines giai đoạn 2007 – 2010 còn xuất hiện những lỗ hổng lớn, đặc biệt là trong quá trình đầu tư xây dựng cảng, nhà máy sửa chữa tàu biển.

Đặc biệt, vào tháng 6/2007, Vinalines phê duyệt chủ trương xây dựng nhà máy sửa chữa tàu biển tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, trong đó có hạng mục mua và lắp đặt 1 ụ nổi cũ No83M có sức nâng 25.000 tấn. Ban đầu, tổng mức đầu tư dự kiến cho ụ nổi này là hơn 14 triệu USD, bao gồm chi phí sửa chữa tại nước ngoài và chi phí vận chuyển về VN. Nhưng sau đó, Vinalines quyết định tự đưa về VN và giao cho Công ty sửa chữa tàu biển Vinalines sửa chữa. Tuy nhiên, giá đưa ụ nổi này về VN đã là 13,5 triệu USD, quá trình sửa chữa tiêu tốn thêm hàng trăm tỉ đồng. Chưa hết, ụ nổi này được xác định là đã qua sử dụng 43 năm, vượt 28 năm so với quy định.

Trước đó, khi có mặt tại phiên họp báo thường kỳ Chính phủ đầu tháng 8/2010, thời điểm cựu Chủ tịch Vinashin Phạm Thanh Bình bị cơ quan công an khởi tố, ông Dương Chí Dũng được giao nhiệm vụ làm rõ hơn về quá trình tiếp nhận các đơn vị được chuyển giao khi Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy tiến hành tái cơ cấu. Trả lời báo chí, ông Dũng từng khẳng định: “Chúng tôi sẽ có cách làm bài bản hơn”, “chỉ nhận nợ sau khi đã kiểm toán”… Tuy nhiên sự việc sau đó xảy ra thì ai cũng đã biết. Như vậy, vụ mua ụ nổi No 83M là một cố ý sai phạm rõ ràng.

Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng đánh tháo cho Dương Chí Dũng

Tháng 8/2011, Bộ trưởng Đinh La Thăng nhậm chức. Tháng 9/2011, Bộ trưởng Thăng làm việc với Vinalines và nhận thấy sự nghiêm trọng trong các nội dung mà Thanh tra Chính phủ đang làm rõ. Đinh Bộ trưởng, lấy cớ Tổng Công ty này đang mất đoàn kết, đã ký tờ trình lên Thủ tướng, các Bộ liên quan đề xuất đưa ông Dũng về làm Cục trưởng Hàng hải, thủ trưởng của đơn vị có chức năng quản lý nhà nước trong chính lĩnh vực mà ông Dũng đang phá. Sau đó, Bộ GTVT và Bộ Nội vụ có văn bản trình Ban cán sự Đảng Chính phủ và đã được chấp thuận.

Các quan cần biết rằng Tổng công ty 91 (trong đó có Vinalines) do Thủ tướng trực tiếp quản lý và điều hành. Về chức vụ Đảng, sau khi được bổ nhiệm Cục trưởng Hàng hải, ông Dũng chỉ được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy Cục (đảng bộ cấp cơ sở), còn trước đó ông Dũng đang là Ủy viên Thường vụ đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung ương (tương đương với cấp tỉnh) và làm Bí thư Đảng ủy Vinalines (đảng bộ cấp trên cơ sở). Việc chuyển ông Dũng đi làm Cục trưởng như vậy thực chất là hạ cấp. Nếu lấy cớ là mất đoàn kết, ông Thăng có dám công khai ông Dũng đã mất đoàn kết với ai không? Trên cơ sở nào, dựa vào đâu mà ông Thăng đưa ra cái cớ này (trong khi cả dàn lãnh đạo Vinalines đều bị bắt).

Ngoài ông Đinh La Thăng, còn những ai khác bảo kê cho Dương Chí Dũng

Ngày 23/12/2011, Bộ GTVT có Tờ trình số 8794/TTr-BGTVT gửi Ban cán sự Đảng Chính phủ. Ngày 26/12/2011 Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương có Văn bản số 429-CV/ĐUK về công tác cán bộ của Vinalines, trong đó nêu rõ Ban Thường vụ Đảng uỷ thống nhất với chủ trương của Ban cán sự đảng Chính phủ về việc điều động và bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng.

Một người được bổ nhiệm bao giờ cũng phải có trong quy hoạch, kể cả ngày mai làm quy trình thì hôm nay anh ta cũng phải có trong quy hoạch, trước khi đưa ra làm lấy phiếu tín nhiệm. Cụ thể trong trường hợp này, Ban cán sự Đảng Bộ GTVT phải đưa ông Dũng vào quy hoạch rồi mới triển khai lấy phiếu tín nhiệm tại nơi làm việc (Vinalines), sau đó mới đến Cục Hàng hải. Đối với các Tổng công ty 91 như Vinalines, Chủ tịch Hội đồng thành viên do Thủ tướng bổ nhiệm thì Bộ Nội vụ có trách nhiệm thẩm định. Trách nhiệm của Bộ này thể hiện rõ trong Tờ trình số 07/TTr-BNV mà Bộ Nội vụ đồng ý với đề xuất đánh tháo cho Dương Chí Dũng.

Sau khi Bộ Nội vụ có Tờ trình số 07/TTr-BNV về công tác nhân sự tại Vinalines, ngày 06/02/2012, Thủ tướng có Quyết định số 142/QĐ-TTg về việc ông Dương Chí Dũng thôi giữ chức Chủ tịch HĐTV Vinalines để Bộ trưởng Bộ GTVT bổ nhiệm Cục trưởng Cục HHVN. Cũng trong ngày này, Bộ trưởng Bộ GTVT có Quyết định số 221/QĐ-BGTVT về việc bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng giữ chức Cục trưởng Cục HHVN. Mọi quyết định đều nhanh đến mức trẻ con cũng buộc phải nghĩ rằng các quyết định trên đã được soạn sẵn cùng thời gian (nhất là trong nền hành chính trì trệ như ở Việt Nam).

Thủ tướng nói gì đây?

Theo Nghị định 42/CP về Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, quyết định mua sắm có trị giá 200 tỉ đồng trở lên (như dự án mua tàu) thuộc dự án nhóm A, phải được sự chấp thuận của Chính phủ. Thêm nữa, trong số 73 tàu cũ mà Vinalines mua lại để kinh doanh với tổng vốn đầu tư lên đến gần 23.000 tỉ đồng, ba dự án sửa chữa tàu biển mà Vinalines góp vốn đầu tư ở Công ty TNHH Vinalines – Đông Đô (Hải Phòng), Công ty TNHH Sửa chữa tàu biển Vinalines phía Nam (Vũng Tàu) và Công ty cổ phần Sửa chữa tàu biển Nosco Vinalines (Quảng Ninh) đều là những dự án không có trong kế hoạch phát triển đã phê duyệt của Vinalines và càng không có trong quy hoạch phát triển tổng thể ngành công nghiệp tàu thủy.

Không còn gì để nói thêm

Chuyện Vinalines đã be bét như vậy mà gần đây Thủ tướng vẫn chủ trì cuộc họp với Bộ Giao thông vận tải nghe cơ quan này trình bày đề án đến năm 2020 đầu tư thêm 100.000 tỉ đồng cho Vinalines. Sau đó, Thủ tướng lại rêu rao là “quyết bắt bằng được Dương Chí Dũng”. Thực tế, việc bắt họ Dương vừa qua lại do lực lượng đối lập với Thủ tướng thực hiện. Một sự thật không thể chối bỏ cần nhắc lại là dưới sự lãnh đạo, quản lý và trong phạm vi trách nhiệm của Thủ tướng, hai cái Vina (Vinalines + Vinashin) đã xơi của đất nước ta gần 7 tỉ USD.

————————————————————-

————————————————————————————————-

 

Vụ bắt ông Dũng được cho là cách ‘kiểm soát thiệt hại’ của Thủ tướng

 

Bình luận về vụ bắt Dương Chí Dũng

BBC

Vụ bắt cựu Cục trưởng hàng hải và cựu Chủ tịch Tổng công ty hàng hải Việt Nam Vinalines  Dương Chí Dũng đặt câu hỏi liệu việc xử lý tình huống này báo hiệu điều gì trong thời gian tới đây.

Trong vụ Vinashin trước đó, một nguyên Trưởng phòng và một nguyên Tổng giám đốc thuộc hai công ty con khác nhau hiện vẫn còn đang bỏ trốn.

Ông Dũng bị bắt chỉ hai tuần sau khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố trong một phiên họp về tham nhũng rằng phải “bắt bằng được” vị cựu lãnh đạo Vinalines.

Vị Thủ tướng cũng được báo chí dẫn lời nói ông Dương Chí Dũng “từng nắm giữ nhiều chức vụ, được bầu làm đại biểu dự Đại hội Đảng XI” và nói thêm:

“Tất cả chức danh, vị trí công tác ấy đã được các cấp có thẩm quyền về cán bộ thẩm tra với thủ tục dày đặc, thế mà vẫn lọt sai phạm”.

‘Sức ép lên Thủ tướng’

Mặc dù Việt Nam luôn bác bỏ sự liên quan của các vụ án lớn tới chính trị, Giáo sư Carl Thayer từ Học viện quốc phòng Úc nói đây là điều “không tránh khỏi”.

Ông nói các nước phát triển như Úc có hệ thống tư pháp độc lập và người đứng đầu ngành tư pháp có thể đưa ra các quyết định mà không cần phải nhìn ngó tới các chính trị gia.

Nhưng điều này chưa xảy ra tại Việt Nam và cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay cũng nhuốm màu chính trị.

Giáo sư Thayer xem việc bắt ông Dũng là động thái “kiểm soát tác hại” của chính Thủ tướng Việt Nam và khó có khả năng việc chống tham nhũng sẽ đi xa hơn so với trước đây.

“Những đại công ty [ở Việt Nam] là con đẻ của Thủ tướng và ông là người phải chịu trách nhiệm cuối cùng.

“Các nhà lãnh đạo Đảng ở Việt Nam luôn nói, mặc dù chỉ nói suông, họ sẽ truy cứu những người tham nhũng bất kể họ giữ chức vụ cao tới đâu.

“Nhưng họ luôn dừng ở các cấp thấp hơn nhiều so với ủy viên Bộ Chính trị, có thể là đến cấp Thứ trưởng hoặc ủy viên trung ương nhưng không bao giờ lên mức cao hơn thế”.

Mặc dù vậy, ông Thayer nói Thủ tướng Dũng đang chịu “sức ép rất lớn” vì đã để tồn tại một môi trường kinh doanh lỏng lẻo cho dù ở các tổng công ty hay trong ngành ngân hàng.

‘Tư duy sai lầm’

Trong khi đó bình luận từ Hà Nội, tiến sỹ Nguyễn Quang A nói việc ông Dũng bị bắt là tín hiệu tốt nhưng nó không có ý nghĩa quá lớn trong việc chống tham nhũng nói riêng và các thay đổi tích cực trong xã hội nói chung:

Ông nói: “Tôi nghĩ rằng việc bắt được ông Dũng là một dấu hiệu tốt cho việc trừng trị những kẻ tham nhũng và dư luận trong thời gian vừa qua cũng nêu lên rất nhiều có ai bao che, vẽ đường cho ông Dũng này chạy hay không.

“Tôi nghĩ việc bắt được ông đó thì nó sẽ phanh phui ra đường dây vẽ đường cho ông Dũng như vậy nếu chuyện đó là thực.

“Và nếu làm được thế và làm được rạch ròi ra thì sẽ là điều tốt nói chung cho xã hội”.

Mặc dù vậy, vị tiến sỹ cũng nói thêm: “Tuy nhiên để nói rằng một cái việc của ông Dũng mà giải quyết được một bước rất lớn để giải quyết vấn đề chống tham nhũng thì hơi quá vì đấy dẫu sao vẫn chỉ là một vụ việc, một trường hợp.

“Còn gốc rễ của vấn đề tham nhũng mà chưa đụng đến thì cũng chẳng giải quyết được nhiều lắm.

“Tôi nghĩ rằng nếu mà Đảng cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục đường lối của mình về mặt kinh tế, vẫn coi rằng nhà nước phải trực tiếp làm kinh tế thông qua các tập đoàn, các tổng công ty và coi đó là sức mạnh vật chất của mình để điều khiển xã hội, dùng các tập đoàn, các tổng công ty như thế làm công cụ thì hết Vinashin và Vinalines thì lại đến Vinashin và Vinalines khác.

“…bản thân cái cơ chế đấy, bản thân tư duy sai lầm đấy nó đẻ ra những Vinashin và Vinalines và những ông Dũng như thế này”.

‘Sức ép xã hội’

Tiến sỹ Nguyễn Quang A cũng nói ông không hy vọng Đảng cộng sản sẽ tự thay đổi mà cần phải có sức ép lên đảng từ phía xã hội, khối doanh nghiệp và người dân nói chung.

Vị tiến sỹ cho rằng việc thay đổi và cho phép cạnh tranh chính trị là vì lợi ích của chính đảng cầm quyền hiện nay.

Ông nói điều mà ông gọi là “tham nhũng đại trà và rộng khắp” ở Việt Nam chỉ có thể được giải quyết bằng việc minh bạch hóa trong đó có đòi hỏi phải có tự do báo chí.

Trong khi đó Giáo sư Carl Thayer lại có vẻ cho rằng khối doanh nghiệp nhà nước đang bao trùm khắp nền kinh tế là chỗ dựa của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đối thủ chính trị của Thủ tướng sẽ phải dè chừng sức mạnh của khối này khi tấn công ông.

Ông Thayer cũng nói các nhà lãnh đạo Việt Nam luôn muốn giữ ổn định và sẽ không có chuyện các quan chức chóp bu hay các ủy viên bộ chính trị phải trả giá bằng chiếc ghế của họ.

Một trong các lý do là Việt Nam không muốn các nhà đầu tư phát hoảng gây ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế.

Nhưng ông cũng nói chính các nhà đầu tư nước ngoài có thể sẽ là nạn nhân sắp tới của chiến dịch thanh lọc kinh tế hiện nay khi những khoản lỗ lớn tại các liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài bị nhắm tới.

Ông nói đối tác Việt Nam trong những liên doanh như vậy có nhiều khả năng sẽ đẩy trách nhiệm sang phía nước ngoài.

Còn Tiến sỹ Nguyễn Quang A cho rằng không nên hình sự hóa việc quản lý kinh doanh vì các doanh nghiệp nhà nước cũng như các doanh nghiệp tư nhân đều phải đối mặt với “rủi ro và lỗ lã”.

Nguồn: bbc.co.uk

———————–

(PetroTimes đã  gỡ bỏ bài này tối qua)

nguon:  5

Tin sốt ruột: Ông nghị sĩ Đặng Thành Tâm ôm 600 tỉ đi đâu?

15:46 | 06/09/2012
(Petrotimes– Qua tìm hiểu của phóng viên Petrotimes, đến quý I/2012, Ngân hàng Phương Tây (Trụ sở chính đặt tại thành phố Cần Thơ) là ngân hàng mất khả năng thanh khoản và bị đặt trong tình trạng giám sát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước cũng đã tiến hành thanh tra và chỉ đạo tái cơ cấu tổ chức dẫn tới sự thay đổi lớn của thành phần cổ đông giúp Ngân hàng Phương Tây hiện nay đã hoạt động bình thường.

Đại biểu Quốc hội Đặng Thành Tâm (Ảnh: Internet)

Tuy nhiên, những sai phạm của các cá nhân, của một số cổ đông không hiểu vì sao cho tới nay chưa được xử lý. Ví dụ: Vi phạm nghiêm trọng Điều 55 khoản 3, Luật Các Tổ chức Tín dụng. Điều này quy định, cổ đông và người có liên quan cổ đông đó không được sở hữu quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Trong khi đó, cổ đông Nguyễn Thị Kim Thanh, là vợ của ông Đặng Thành Tâm và người có liên quan là anh, chị, em ruột… sở hữu 35,78% vốn điều lệ của Ngân hàng Phương Tây.

Nghiêm trọng hơn, trong vòng 3 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8/2011, 3 khoản tiền lớn Ngân hàng Phương Tây chuyển cho các khách hàng Vũ Thùy Hương (160 tỉ), Công ty Đầu tư Sài Gòn (212,3 tỉ), Công ty cổ phần Chứng khoán Navibank theo các hợp đồng đầu tư ủy thác. Ngay sau đó cả 3 khách hàng này đã chuyển toàn bộ số tiền trên vào tài khoản cá nhân của ông Đặng Thành Tâm. Đây là điều khuất tất nghiêm trọng cần phải được điều tra làm rõ.

Ông Đặng Thành Tâm hiện là Chủ tịch hoặc thành viên HĐQT hàng loạt công ty và đang là đại biểu Quốc hội. Ngân hàng Phương Tây đã không thể cung cấp sao kê tài khoản cá nhân ông Đặng Thành Tâm cho thanh tra Ngân hàng Nhà nước vì lý do ông Đặng Thành Tâm bất hợp tác, xưng danh đại biểu Quốc hội được quyền bất khả xâm phạm. Ông Tâm quên mất rằng Điều 58 của Luật Tổ chức Quốc hội chỉ cho phép Đại biểu được quyền miễn trừ trước các cơ quan tố tụng khi được sự chấp thuận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Còn các hoạt động kinh doanh cá nhân, ông phải có nghĩa vụ thực thi các quy định của luật pháp, thậm chí phải thực hiện nghiêm túc hơn người bình thường. Vì sao ông Tâm phải “núp” sau Điều 58, không dám minh bạch hóa con đường đi của hơn 650 tỉ đồng? Phải chăng số tiền này được dùng vào những hoạt động mờ ám nào khác?

Theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, mọi hoạt động kinh doanh tài chính ngân hàng phải được minh bạch. Bất kể người nào vi phạm luật pháp đều bị xử lý nghiêm minh. Hi vọng các cơ quan pháp luật không bỏ qua những sai phạm và khuất tất nghiêm trọng này.

Trích: Luật Tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10, đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 12 năm 2001

Điều 58

Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội. Việc đề nghị bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xét và quyết định.

Trong trường hợp đại biểu Quốc hội bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội đó.

Đại biểu Quốc hội bị Tòa án kết án thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Đại biểu Quốc hội không thể bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi việc, nếu không được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý.

 

Nhóm PV Petrotimes

———————————————————————————

*Có nguồn tin trong nước nói: Nguyễn Phú Trọng thân Trung Quốc, Trương Tấn Sang ở vị thế không thiên về nước nào, còn Nguyễn Tấn Dũng thân Mỹ. Ta thử quan sát các sự kiện xảy ra từ 2006 đến 2012 ra sao giữa VN và Trung Quốc. Đây là khoản thời gian TT Nguyễn Tấn Dũng nắm quyền. 

Chính phủ TTNguyễn Tấn Dũng  thân với Trung Quốc và làm lợi cho TQ nhiều nhất:

Năm 2000-2005, khi Phan Văn Khải còn làm thủ tướng, thương mại giữa VN và Trung Quốc chỉ vài trăm triệu đô la mỗi năm.

Năm 2006-2011, khi Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ tướng 2006, cửa khẩu biên giới ở Lạng Sơn, Móng Cái, và cảng Hải Phòng…, mở toang cho hàng hóa và rác TQ nhập vào VN tự do. Thức ăn bẩn và ô nhiễm của TQ cũng được tự do nhập vào VN.

Năm 2011, VN nhập  khẩu  hàng  TQ25 tỷ đô la (20 tỷ là hàng hóa tiêu thụ dỏm của TQ, gồm đồ nhựa, hàng tạp hóa, hàng tiêu dùng… và 5 tỷ là các máy móc thiết bị mau hư hỏng của TQ).

Trong khi VN xuất khẩu qua TQ 11 tỷ đô la hàng nguyên liệu thô (dầu thô, than đá, cao su, và một ít mặt hàng trái cây, đồ điện tử gia công) nguồn: Những thị trường Xuất Nhập Khẩu chính năm 2011

Nguyễn Tấn Dũng cho TQ khai thác bán mỏ boxit Tây nguyên 2007, cho các công ty TQ trúng tất cả các gói thầu nhiệt điện, thủy điện với tỷ lệ trúng thầu 100%, điểm đáng chú ý là đồng ý cho TQ xử dụng công nghệ lạc hậu và tiêu hao nhiều năng lượng. Tiền dành cho các công trình này mượn từ các nguồn nước ngoài trong chương trình như FDA và ODA; cho các công ty TQ xây dựng cầu đường, với xi măng TQ có phẩm chất thấp kém; dưới thời Nguyễn Tấn Dũng, một công ty của Đài Loan mà công ty mẹ là ở Trung Quốc, thuê 232.000 hecta rừng với giá 10.000 đồng VN / 1 hecta; cả nước có 11 tỉnh cho nước ngoài thuê mướn đất với hợp đồng từ 49 năm đến 99 năm!

Dưới thời Nguyễn Tấn Dũng, có bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh tuyên bố “hợp tác với quân đội Trung Quốc toàn diện”, có thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh họp ở TQ và tuyên bố: “khi trở về nước, sẽ dẹp các nhóm biểu tình phản đối Trung Quốc về vụ Biển Đông, Hoàng Sa và Trường Sa…vì các nhóm biểu tình làm phương hại tình đoàn kết giữa hai nước; …”

——————————————————————————————————

Tái cơ cấu để Vinashin phục hồi và phát triển

baomoi.com

23-11-2012

TT – Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã khẳng định như trên trong phần giải trình về vấn đề Vinashin trước Quốc hội chiều 23-11-2010

Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng khẳng định đến thời điểm này, “tư tưởng của toàn bộ công nhân Vinashin đã ổn định từ trên xuống dưới”. Ông cho biết: hiện Ủy ban Kiểm tra trung ương đang tiếp tục làm rõ trách nhiệm của Thủ tướng, các phó thủ tướng, các bộ trưởng trong vụ việc ở Vinashin và kết quả kiểm điểm trách nhiệm sẽ công bố trước công luận.

“Chúng ta sẽ thành công”

Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nói như vậy khi kết thúc phần giải trình.

Theo ông, VN phát triển ngành công nghiệp đóng tàu là phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế biển và Vinashin đã phát triển nhanh chóng về quy mô trong giai đoạn 2005-2006 – là thời kỳ hoàng kim của ngành hàng hải và ngành đóng tàu, nhưng “không ngờ rằng đến năm 2008-2009 Vinashin lâm vào tình trạng phá sản”.

“Khi Vinashin lâm vào tình trạng phá sản và chúng ta chọn phương án tái cơ cấu, đây là thời điểm hết sức khó khăn. Nhưng nếu không tái cơ cấu thì có nghĩa là cơ bản cơ sở vật chất đó trở thành đống sắt vụn, còn nếu tái cơ cấu thì nó sẽ phục hồi, phát triển và tự trả được nợ” – ông Hùng nói. Sau nửa năm tái cơ cấu và đặc biệt là ba tháng gần đây – theo Phó thủ tướng – các hợp đồng được hồi phục và công nhân đã có việc làm trở lại với thu nhập từ 2,8 triệu đồng/tháng trở lên.

“Năm nay sẽ đóng được 66 con tàu, doanh thu khoảng 600 triệu USD, cộng với thu từ công nghiệp phụ trợ nữa là có doanh thu khoảng 14.000 tỉ đồng. Sang năm có thể ký thêm được 110 hợp đồng đóng tàu. Tất cả 26 con tàu chuyển sang Vinalines thì 23 con đã hoạt động, có thể thu được 1.400 tỉ đồng trong năm nay. Còn lại ba tàu nữa, một con đã tháo dỡ và bán một phần rồi, một con sẽ sửa chữa được, còn tàu Hoa Sen đang cho thuê mỗi năm thu được khoảng 4 triệu USD vì nếu bán bây giờ sẽ lỗ nặng” – ông Hùng sơ bộ tình hình.

Về khả năng trả nợ, Phó thủ tướng nói: “Sản xuất kinh doanh phục hồi, đóng được tàu, tàu bán được thì có tiền trả nợ, trả nợ ngắn hạn, trả nợ dài hạn… Còn lại khoảng 20% các công ty phải tái cơ cấu bằng nhiều phương pháp, hoặc là cổ phần hóa, hoặc là bán, hoặc là bán nợ, hoặc là cho thuê để thu hồi vốn nhưng không bán đổ bán tháo. Tôi tin là có khoản sẽ mất, có khoản sẽ có lời nhưng về tổng thể là có lời. Nếu thị trường vận tải biển phục hồi, giá vận tải tăng lên, giá đóng tàu tăng lên thì phục hồi nhanh. Nếu chúng ta quản trị tốt và làm ăn có hiệu quả thì trước mắt năm nay lỗ, năm sau lỗ ít, năm 2012 có thể giảm lỗ và không lỗ nữa, năm 2013 có thể có lãi. Như vậy Vinashin có khả năng trả nợ. Con số 104.000 tỉ đồng tài sản và 86.000 tỉ đồng nợ thì đường đi của nó là như thế”.

Đối với những sai phạm và trách nhiệm trước vụ việc Vinashin, ông Hùng nêu rõ người làm trái, vi phạm sẽ phải xử lý theo quy định của pháp luật, cơ quan điều tra đang làm.

Sẽ xem lại cơ chế quản lý tập đoàn

Trước đó, trả lời các chất vấn về vụ Vinashin nợ 86.000 tỉ đồng, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng cho biết trước năm 2007 Vinashin hoạt động vẫn hiệu quả, ký được hợp đồng đến 12 tỉ USD. Hai bộ trưởng đều dẫn các quy định pháp luật, khẳng định tập đoàn được tự chủ trong huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu và phải tự chịu trách nhiệm hoàn trả, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn.

Luật cũng khẳng định nhiều quyết định đầu tư tập đoàn không phải báo cáo với bộ chủ quản, bộ chức năng. Vì vậy trả lời việc đầu tư dàn trải của Vinashin, ông Ninh và ông Dũng cùng cho rằng “Bộ không phải là người duyệt phương án đầu tư nên quyết định cụ thể về đầu tư, vay vốn của doanh nghiệp không phải thẩm quyền của chúng tôi”.

Ông Ninh cho hay Bộ Tài chính đã phát hiện, lập biên bản yêu cầu thực hiện kiến nghị thanh tra nhưng “có việc Vinashin thực hiện, có việc chỉ thực hiện một phần, cũng có những việc chưa hoặc không thực hiện”. Nhận thấy đã làm đúng với Luật thanh tra, nhưng Bộ trưởng Vũ Văn Ninh cũng khẳng định luật này có bất cập vì “phát hiện nhưng không thể buộc doanh nghiệp phải thực thi kiến nghị. Chúng tôi đang nghiên cứu để kiến nghị bổ sung”.

Sáng nay, Thủ tướng trả lời chất vấn

Theo chương trình làm việc của Quốc hội, sáng nay (24-11) Quốc hội sẽ nghe Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng làm rõ thêm một số vấn đề trong các phiên chất vấn bốn bộ trưởng hai ngày qua, đồng thời Thủ tướng sẽ trực tiếp trả lời chất vấn các đại biểu Quốc hội. Trước đó, theo tổng hợp của đoàn thư ký kỳ họp, đã có gần 30 câu hỏi chất vấn Thủ tướng. Phiên chất vấn sẽ được truyền hình và phát thanh trực tiếp, bắt đầu từ 8g.

Về phiên chất vấn, trả lời chất vấn hôm 23-11, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhận định các bộ trưởng nắm được rất kỹ, chắc và trả lời các câu hỏi cặn kẽ, tỉ mỉ, chu đáo “nhưng Bộ trưởng Vũ Văn Ninh trả lời hơi dài”. Ông đánh giá “Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng trả lời rất chân thành”. Riêng về phần của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khi giãi bày kế hoạch phục hồi Vinashin, ông Trọng nói “nếu được làm như vậy thì rất tốt”.

Nói chung về việc điều hành của các bộ trưởng, ông bày tỏ: đương nhiên Quốc hội cũng như nhân dân hết sức chia sẻ, thông cảm những khó khăn chung của cả nước cũng như của các ngành.

K.H. – V.V.T.

LÊ KIÊN – CẦM VĂN KÌNH

————————————————————————————————————————————-

Tái cơ cấu Vinashin – Thành hay bại???

28-1-2013

Lê Trung Thành

Theo Bauxite Việt Nam

Theo kế hoạch, ngày hôm nay, 28-1-2013, Chính phủ sẽ bắt đầu trình lên Bộ Chính trị đề án tái cơ cấu mới (lần thứ hai) Tập đoàn Vinashin. Tại sao lại phải “tái cơ cấu” đến lần thứ hai? Thế thì kết quả của tái cơ cấu lần thứ nhất trong hai năm qua của cái “Tập đoàn thép”… rỉ này như thế nào? Đấy là những câu hỏi mà bất kỳ ai từng theo dõi với tất cả ưu tư “sự cố dông bão Vinashin” cũng như số phận hiểm nghèo hiện tại của nó không thể không đặt ra. Chưa thấy báo chí nào có được một lời giải đáp thỏa đáng. Dưới đây BVN xin đăng bài viết của cộng tác viên Lê Trung Thành, kỹ sư và nhà báo trong ngành giao thông vận tải, người từng có cả một hệ thống bài phóng sự chấn động trên trang mạng chúng tôi về thực trạng của Tập đoàn đóng tàu Vinashin trong những năm tháng danh nổi như cồn của nó cho đến giữa năm 2010.

Bauxite Việt Nam

Tháng 6/2010, những tin tức đầu tiên về sự đổ vỡ của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (VINASHIN – VNS) xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm dư luận xã hội xôn xao và lo lắng…

Tới ngày 31/7/2010, sau khi nghe Ban Cán sự Đảng Chính phủ các ngành chức năng báo cáo, Bộ Chính trị đã có văn bản chính thức về tình hình VNS và chỉ đạo Chính phủ, các bộ liên quan khẩn trương tìm biện pháp cứu vãn VNS bên bờ vực phá sản với số nợ 86.000 tỷ đồng, trong đó, nợ đến hạn phải trả là 14.000 tỷ đồng, tỉ lệ nợ tính trên vốn chủ sở hữu gấp 11 lần… Theo chỉ thị này, Chính phủ phải đưa ra kế hoạch tái cơ cấu VNS trên cơ sở Nghị quyết Hội nghị trung ương 3 (Khóa IX) về thí đỉểm mô hình tập đoàn kinh tế đồng thời thành lập Ban Chỉ đạo tái cơ cấu VNS và cử ông Nguyễn Sinh Hùng – khi đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng thường trực – làm Trưởng ban. Ngày 18/11/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định số 2108 QĐ – TTg phê duyệt đề án tái cơ cấu VNS với ba ngành nghề chính là công nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu biển với qui mô phù hợp, tiếp tục phát triển công nghiệp phụ trợ và đào tạo, nâng cao tay nghề cho cán bộ, công nhân ngành đóng tàu.

Cũng trong thời gian ấy, nhiều nhân vật chính, liên quan đến sự sụp đổ của VNS đã bị bắt tạm giam, nhiều người khác bị đưa vào “tầm ngắm”. Để mau chóng ổn định tình hình, Thủ tướng điều động ông Nguyễn Ngọc Sự – nguyên Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (phụ trách tài chính) – giữ chức Chủ tịch Hội đồng thành viên VNS và ông Trương Văn Tuyển – Anh hùng Lao động, nguyên Trưởng ban Quản lý dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất, nguyên Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam – làm Tổng Giám đốc VNS.

Đưa hai ông về trấn giữ VNS đang lúc nước sôi, lửa bỏng, người ta hy vọng các vị thuyền trưởng mới sẽ xắn tay trục vớt được con tàu VNS chìm sâu dưới đáy… Và, ít tháng sau, văn phòng Tập đoàn VNS thay đổi khá nhiều vị trí, dưới các Tổng Công ty thành viên cũng có sự điều chuyển một số người đứng đầu nhằm củng cố lại tổ chức đang rệu rã sau những biến cố động trời làm nhân tâm ly tán…

Ngoài việc điều chuyển một số dự án, nhà máy, đội tàu biển sang Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), thực chất là để san sẻ gánh nặng lỗ lã, nợ nần, thất thoát mà VNS đã gây ra, Chính phủ hứa sẽ tăng vốn điều lệ cho VNS… để hà hơi, tiếp sức, khẩn cấp cứu nguy cho VNS. Có chút vốn còm cõi cấp cho các nhà máy đóng tàu thanh toán lương, nợ đọng nhiều tháng, có tiền chi trả đơn hàng, vật tư, thiết bị để hoàn thành một số tàu đang đóng dở dang. Thu được một chút kết quả nhỏ nhoi, nhiều quan chức lớn tiếng vỗ về dân chúng rằng tái cơ cấu VNS đã đi đúng hướng và sau một vài năm sẽ trả hết nợ nần rồi làm ăn có lãi vào năm 2013, 2014…

Trong bầu không khí “lạc quan”, Ban Chỉ đạo tái cơ cấu VNS và các tân lãnh đạo tập đoàn đưa ra một bản kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2011 với sản lượng 22.763 tỷ đồng, tăng 198% so với năm 2010! Chính phủ giao cho VNS năm 2011 phải hoàn thành 73 tàu… và tiếp tục giải cứu VNS bằng mọi cách. Nào là yêu cầu Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cho VNS vay không lãi suất tới 290 tỷ đồng để trả nợ lương và đóng bảo hiểm xã hội, nào là khoanh nợ, giãn nợ khiến nhiều ngân hàng thua lỗ vì phải trích quĩ dự phòng rủi ro, ảnh hưởng lớn tới uy tín và hoạt động kinh doanh của họ. Điển hình là, trong tổng số nợ xấu của VDB tính đến ngày 30/12/2010 là 22.664 tỉ đồng thì có tới 3970 tỉ mà VDB đã cho VNS vay không để thu hồi. Còn Ngân hàng Thương mại cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank) vì cho VNS vay hơn 3.000 tỷ đồng không phát sinh lợi nhuận (trong tổng số dư nợ xấu là 3729 tỷ đồng) đã phải ngậm ngùi xóa một thương hiệu có tiếng về quản trị và văn hóa doanh nghiệp sáp nhập vào Ngân hàng cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB). Đau xót hơn, bà Tổng giám đốc Habubank kiêu hãnh một thời bị đưa xuống bộ phận “thu hồi công nợ” của SHB!

Mặc dù được ưu ái vay không lãi suất, hoãn nộp thuế nhập khẩu vật tư, thiết bị, được “bật đèn xanh” để dễ dàng vay vốn ngân hàng… nhưng VNS vẫn không gượng dậy như mong muốn.

Sự dao động, hoang mang kéo dài khiến người lao động sống trong cảnh tạm bợ, lắt lay, việc làm không ổn định gây tâm lý chán chường. Nhiều kỹ sư giỏi, được đào tạo bài bản cũng tìm tháo thân khỏi VNS. Hết 8 tháng đầu năm 2011, VNS chỉ giao trả khách hàng được 13 tàu, báo hiệu cho sự đổ vỡ lớn “cái kế hoạch” vội vàng và thiếu khoa học mang nặng tính hình thức, duy ý chí. Để trám vào lỗ hổng, người ta “phát động thi đua”, dồn dập ngày đêm cố sức làm và bàn giao được 61 con tàu. Dẫu có cố gắng nhưng VNS chỉ hoàn thành 43.9% kế hoạch năm với sản lượng 9.982 tỷ đồng và doanh thu đạt 10.656 tỷ đồng, chỉ bằng 50% kế hoạch năm.

Thực tế phũ phàng ấy không biết liệu đã là hồi chuông cảnh tỉnh những người lãnh đạo Tập đoàn và cả Ban Chỉ đạo tái cơ cấu VNS chưa, nhưng ít nhất cũng cho họ thấy rõ những khó khăn chồng chất từ hậu quả kinh hoàng của số nợ 96.700 tỷ đồng (theo số liệu của Thanh tra Chính phủ công bố tháng 6/2011); lỗ lũy kế là 4.985 tỷ, lỗ “tìêm tàng” do chi phí sản xuất kinh doanh dang dở của những hợp đồng đóng tàu bị hủy là 2.787 tỷ và 4.688 tỷ là các khoản thu nội bộ nhưng chưa xác định được bên phải trả (?) và 1.036 tỷ tiền phạt và trả lãi cho các chủ tàu do VNS vi phạm hợp đồng. Những thất thoát cực lớn này khiến nhiều ngân hàng vốn liều mạng mở hầu bao cho VNS tiêu phí các năm trước, bây giờ cũng chùn tay, vì vậy, năm 2011, VNS chỉ vay được khoảng 15% số vốn cần thiết nên kế hoạch đóng tàu bị đảo lộn hoàn toàn. Số tàu đóng mới cho Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam hầu như giậm chân tại chỗ vì Vinalines cũng thua lỗ nặng nề lấy tiền đâu mà chuyển cho VNS?

Sang năm 2012, lãnh đạo VNS có vẻ “khiêm nhường” hơn nên chỉ đưa ra kế hoạch sản lượng tăng 10 – 15% so với sản lượng thực hiện được trong năm 2011 nhưng bản thân ông Chủ tịch Hội đồng thành viên VNS Nguyễn Ngọc Sự, đã thấy trước việc không có hợp đồng đóng mới thì chẳng có chuyển biến gì đáng kể. Và sự thật đã chứng minh, hồi giữa năm 2012, VNS nín thở chờ tin gói hợp đồng đóng mới hơn 20 tàu 53.000 DWT từ Hy Lạp… nhưng rồi… các nhà thầu Trung Quốc đã nhanh tay chộp mất với giá chào hạ hơn VNS. Giữa thời buổi vận tải biển suy thoái, kiếm được hợp đồng dẫu chỉ đủ sở hụi cũng là may mắn rồi. Do vậy, nhiều hãng đóng tàu sẵn sàng giảm giá để có việc làm.

Đối với VNS, năm 2012 là một năm khốn khó nhất, cộng 9 tháng đầu năm, sản lượng mới đạt hơn 1.500 tỷ và đến hết năm chỉ nhặt nhạnh thêm vài ba trăm tỷ nữa. Cả tập đoàn “hợp nhất” sản lượng mà chỉ đạt xấp xỉ một trăm triệu đô la Mỹ đã làm tiêu tan mọi hy vọng của mục tiêu chủ yếu nhất trong kế hoạch tái cơ cấu. Nó cũng dẫn tới hệ lụy cho các năm tiếp theo còn lún sâu vào khó khăn. Không có việc làm là không còn đội ngũ thợ trung thành nữa, không còn khả năng trả lãi, trả gốc những khoản nợ đang dần đến hạn, đặc biệt là khoản vay 750 triệu USD trái phiếu Chính phủ phải trả đầu năm 2016.

Làm cả năm không đủ nuôi nhau, lấy tiền đâu tích lũy mà trả lãi, nói gì đến trả nợ gốc quá lớn như vậy???

Câu trả lời còn ở phía trước nhưng cách duy nhất sẽ lại lấy công khố thanh toán nợ cho VNS để giữ thể diện quốc gia?

Kế hoạch tái cơ cấu VNS năm 2011-2013 đã đi được hai phần ba chặng đường nhưng kiểm điểm lại, chẳng có mục tiêu nào đạt! Ông Phạm Viết Muôn, Phó Văn phòng Chính phủ, bây giờ về Ban Đổi mới sắp xếp doanh nghiệp nhà nước từng công bố, hơn hai năm qua, Ban Chỉ đạo tái cơ cấu VNS đã có 80 cuộc họp và ban hành 200 văn bản liên quan đến Tập đoàn VNS. Về mặt hành chính, đây là một số liệu đáng nể vì bình quân, một tháng có 4 cuộc họp hay một tuần một lần họp và theo đó, một tháng có 9 văn bản, mỗi tuần có hơn 2 văn bản. Vậy mà VNS vẫn chìm nghỉm dưới đáy sâu. Làm sao vực lên được khi công việc đóng tàu, sửa chữa tàu ở các nhà máy chủ lực nổi danh như Bạch Đằng, Phà Rừng, Hạ Long, Nam Triệu, Bến Kiền… im ắng (may mắn nhất, chỉ có nhà máy đóng tàu Sông Cấm liên doanh với Tập đoàn Damen – Hà Lan. Họ lo vật tư, tiền vốn, thiết bị… và Sông Cấm “làm công, ăn lương”, nên thu nhập của người lao động ổn định nhưng tính theo giá trị sản lượng thu về cho VNS chẳng được là bao).

Hải Phòng, Quảng Ninh – căn cứ chính của VNS, nơi nhiều dự án ngốn hàng ngàn tỷ đồng để xây dựng mới triền đà từ bảy tám chục ngàn tấn đến một trăm ngàn tấn – mở rộng nhà máy thêm hàng chục hecta, và để phát triển nóng ngành công nghiệp phụ trợ, VNS vội vã đầu tư nhà máy nhiệt điện, nhà máy cán thép… cùng hàng loạt khu công nghiệp ở Nam Định, Hải Dương, Quảng Ninh. Vốn chẳng dồi dào, lại chia năm, xẻ bảy, đã vậy các chủ đầu tư móc nối với nhà thầu, khoản thì mua thiết bị cũ nát, khoản thì đút túi… nên lúc khủng hoảng, hầu hết nằm bất động. Người ta cứ tự trấn an mình bằng luận điệu “VNS không thất thoát, tài sản còn “nguyên vẹn” đấy chứ?”. Nếu có dịp ghé thăm “Khu công nghiệp VNS Cái Lân”, mới thấy xót xa vì nhiều nhà máy đã “khánh thành”, đã cho “mẻ thép” đầu tiên, đã cho dòng điện đầu tiên, giờ nằm xếp xó, cả ngàn tỷ đồng thành đống sắt vụn… chào bán mãi đâu thấy người mua.

Về tới Thủy Nguyên – Hải Phòng nơi VNS chôn nhiều tiền nhất dưới đáy sông, đáy biển thì mới cảm nhận rõ nhất về sự “không thất thoát” bởi những bãi cọc khổng lồ, bởi những cột bê tông trơ thép hoen gỉ, bởi những khung nhà xưởng phơi trong mưa nắng và những triền đà mốc meo. Chúng “trơ gan cùng tuế nguyệt” biết tới khi nào sẽ “sinh lợi” cho các ông chủ ở Nam Triệu, Phà Rừng, Bạch Đằng???

Ngay cả Nhà máy đóng tàu Dung Quất đã chuyển giao cho Tập đoàn Dầu khí cũng chẳng khấm khá hơn dù ông chủ mới có tiềm lực mạnh gấp mấy lần VNS. Hiện tại, khu triền đà thứ hai dang dở vẫn mênh mông nước, và khu nhà máy đầu tư bằng trăm triệu USD vay của Trung Quốc vẫn là mấy dãy nhà hoang lạnh, ngoài sân cỏ mọc lút đầy. Ông chủ mới chỉ khai thác triền đà thứ nhất, đóng xong tàu chở dầu trọng tải 104.000 DWT nhưng đến nay, con tàu trị giá 1200 tỷ chưa hoạt động vì còn thiếu nhiều loại giấy chứng nhận đăng kiểm. Chủ tàu PV Trans phải bỏ thêm 4 triệu USD cho nhà máy mua thiết bị bổ sung từ Hàn Quốc… Hiện nay, nhà máy tiếp tục cố đóng cho xong tàu chở dầu 105.000 DWT để hoán cải thành kho chứa dầu nổi trên mặt biển. Chi phí hoán cải tăng thêm 20 triệu USD. Đến năm 2014 nếu đóng xong tàu này là hết việc. Hai, ba năm rồi, cũng chưa ký được hợp đồng đóng mới nào. Thỉnh thoảng, có vài ba tàu kéo, xà lan… của ngành dầu khí vào sửa chữa. Những kỳ vọng đóng tàu hơn trăm ngàn tấn, sửa chữa tàu tới ba, bốn trăm ngàn tấn mà VNS theo đuổi tan thành mây khói.


Đóng tàu lớn làm gì để đến nông nỗi này? Ảnh: LTTKhi đang hưng thịnh, tiền vay dễ dàng, VNS như thỏi nam châm cực mạnh hút hết đám doanh nhân xu thời, chạy chọt các cửa để doanh nghiệp của họ được gắn mác Vinashin. Mấy trăm con cháu sinh sôi nảy nở trong vài ba năm mang đủ màu sắc, nhưng khi vỡ nợ mới thấy VNS buôn thương hiệu nhiều hơn là góp vốn thực. Tuy nhiên, đám cháu con chẳng phải tay vừa, chúng cũng tranh thủ lợi dụng VNS đục nước, béo cò, gây bao hậu quả khôn lường. Ông Nguyễn Ngọc Sự đã hy vọng sẽ nhanh chóng sớm giải quyết dứt điểm 216 doanh nghiệp này. Hồi ấy, ông lạc quan tuyên bố rằng VNS đầu tư vào 216 doanh nghiệp số vốn 23.000 tỷ đồng. Ông sẽ lấy lại số tiền đó trả nợ thì tổng nợ còn 53.000 tỷ. Ông sẽ cổ phần hóa, ông sẽ bán các loại vật tư, thiết bị tồn kho… lấy thêm mười mấy ngàn tỷ nữa. Số nợ sẽ còn lại chừng 40 ngàn tỷ. Số nợ này so với số vốn đăng ký kinh doanh là 14.650 tỷ đồng thì chỉ gấp 2,8 lần, nó còn dưới mức giới hạn cho phép. Và, ông có thể kiểm soát được công nợ rồi!

Sau hơn hai năm chấp chính, kế hoạch của ông nhích từng… centimet. Nhiều doanh nghiệp kêu bán nhưng không mấy người để tâm. Thứ có thể bán được thì đến chính ông cũng không dám duyệt… Thứ muốn giải thể, xin phá sản thì không đủ vốn điều lệ… Bao nhiêu thủ tục rắc rối, phiền hà khiến VNS gần như chịu bó tay.

Các doanh nghiệp ăn theo còn tồn tại thì Tập đoàn vẫn còn phải gánh vác trách nhiệm mặc dù từ khi tiến hành kế hoạch tái cơ cấu VNS, đám cháu con không còn nơi bấu víu nhưng cũng không thể rũ bỏ ngay vì nhiều nguyên nhân phức tạp.

Hơn nửa năm nay, Ban Chỉ đạo tái cơ cấu VNS cùng lãnh đạo Tập đoàn VNS lập kế hoạch tái cơ cấu mới hay còn gọi là tái cơ cấu lần hai. Nhiều phương án được lập ra, lúc thì giữ lại 8-9 nhà máy, lúc giữ lại hơn chục nhà máy, lúc cho mất chữ “tập đoàn” để đưa về Bộ Giao thông Vận tải quản lý như một tổng công ty… Riêng nhân lực của ngành đóng tàu, họ chỉ muốn giữ lại trên dưới mười ngàn người, có nghĩa là, trên dưới hai mươi ngàn cán bộ, công nhân khác sẽ phải rời khỏi VNS. Giải quyết chế độ lương bổng, bảo hiểm xã hội… cho hai chục ngàn người giữa lúc VNS đang thảm bại toàn diện là điều không tưởng. Những đồng tác giả kế hoạch tái cơ cầu lần hai đang trông chờ vào Bộ Chính trị nghiên cứu và có quyết định cuối cùng vào quý I- 2013.

Nội dung của kế hoạch tái cơ cấu lần hai kéo giãn thời gian phục hồi VNS tới năm, ba năm nữa và tiếp tục nuôi hy vọng phát triển ngành đóng tàu với mục tiêu “phù hợp” với thực tế hơn, bớt sự hoang tưởng so với kế hoạch tái cơ cấu lần thứ nhất.

Tại sao phải có kế hoạch lần hai? Đó là vì, cả ba mục tiêu của kế hoạch lần thứ nhất đã bị phá sản. Mà nguyên nhân như một chuyên gia cũ của VNS đã viết; “họ áp dụng một hệ thống pháp luật còn nhiều khiếm khuyết để giải quyết cái vô pháp luật là điều không khả thi, không thực tế”.

Đã vậy, những người đi trục vớt tàu đắm mà đuổi hết thuyền viên cũ, rủ rê một đám bạn “có vấn đề” ở nơi khác, cả đời chưa trèo lên tàu bao giờ, chỉ thu phục đám cơ hội trong các thuyền viên cũ thì thất bại là chắc chắn!

Một điều nữa, cần nhắc lại là: “VNS không đủ năng lực đóng tàu thương mại, không có khả năng đóng tàu đúng tiến độ và có lãi. Như vậy, VNS không có năng lực cạnh tranh!”.

“Nhìn về tương lai đầy nước mắt…”, VNS tồn tại như thế nào nếu vẫn còn những người lãnh đạo ôm ấp tư duy thủ cựu để tự huyễn hoặc mình và ru ngủ dư luận xã hội!

L.T.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Theo Bauxite Việt Nam

danluan.org (repost)

—————————————————————————————————————————————–

Nguyễn Tấn Dũng và kinh tế tập đoàn [*]

Huy Đức

Đoạn trích sau từ cuốn Bên Thắng Cuộc II: Quyền Bính nói về vai trò của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong việc thành lập hàng loạt các tập đoàn kinh tế quốc doanh – hay còn gọi là Quả Đấm Thép. Ban Biên Tập Dân Luận xin giới thiệu trích đoạn này tới độc giả, trong bối cảnh xã hội đang đặt câu hỏi ai phải chịu trách nhiệm về những con số lỗ lã và thất thoát khổng lồ ở các tập đoàn kinh tế quốc doanh.

Tác giả Huy Đức có chú thích rõ các nguồn tin sử dụng trong cuốn sách, nhưng do khuôn khổ hạn chế của bài báo này, chúng tôi không đăng các chú thích này, mời độc giả tham khảo trong sách. Độc giả có thể mua cả hai tập sách này trên Smashwords hoặc Amazon.com theo hướng dẫn trên Facebook.

Cho dù trong Bộ chính trị khóa X (2006-2011) vẫn có những người trưởng thành qua chiến tranh, họ bắt đầu thuộc thế hệ “làm cán bộ” chứ không còn là thế hệ của những “nhà cách mạng”. Nếu có khả năng nắm bắt các giá trị của thời đại và có khát vọng làm cho người dân được ngẩng cao đầu, họ hoàn toàn có cơ hội chính trị để đưa Việt Nam bước sang một trang sử mới. Ngay cả khi duy trì phương thức nắm giữ quyền bính tuyệt đối hiện thời, nếu lợi ích của nhân dân và sự phát triển quốc gia được đặt lên hàng đầu, họ có thể trao cho người dân quyền sở hữu đất đai, lấy đa sở hữu thay cho sở hữu toàn dân; họ có quyền chọn phương thức kinh tế hiệu quả nhất làm chủ đạo thay vì lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo. Vẫn còn quá sớm để nói về họ. Khi cuốn sách này ra đời, họ vẫn đang nắm giữ trong tay mình vận hội của chính họ và đất nước.

Người kế nhiệm

Theo ông Phan Văn Khải, khi thăm dò ý kiến chuẩn bị nhân sự cho Đại hội X, các ban ngành đánh giá ông Vũ Khoan cao hơn. Một trong những “ban, ngành” nhiệt tình ủng hộ ông Vũ Khoan là Ban Nghiên cứu của thủ tướng. Thời ông Phan Văn Khải, trước khi chính phủ ban hành bất cứ văn bản nào, thủ tướng cũng đều chuyển cho Ban Nghiên cứu xem trước. Các văn bản hay bị Ban Nghiên cứu có ý kiến lại thường được đưa lên từ Văn phòng Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng.

Ông Khải thừa nhận, thâm tâm ông cảm tình với ông Vũ Khoan hơn, tuy nhiên, phần vì Vũ Khoan bị coi là thiếu thực tế trong nước, phần vì ông đã lớn tuổi – Vũ Khoan sinh năm 1937, cùng năm sinh với các ông Trần Đức Lương, Nguyễn Văn An – nên việc giới thiệu ông là gần như không thể. Nhưng, chủ yếu, theo ông Khải: “Tương quan lực lượng không cho phép”.

Ngày 28-6-2006, Quốc hội bỏ phiếu bầu ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng. Trước khi rời nhiệm sở, ông Phan Văn Khải tổ chức một buổi gặp mặt toàn thể Ban Nghiên cứu với sự có mặt của thủ tướng mới được bầu Nguyễn Tấn Dũng. Tiếp lời ông Phan Văn Khải, trong một diễn văn ngắn, ông Dũng cũng đã dùng những từ ngữ tốt đẹp để nói về Ban Nghiên cứu và tương lai cộng tác giữa ông và các thành viên. Cũng trong cuộc gặp này, ý tưởng hình thành văn phòng thủ tướng trong Văn phòng Chính phủ đã được cả ông Khải và ông Dũng cùng ủng hộ.

Trong đúng một tháng sau đó, công việc của Ban vẫn tiến hành đều đặn. Chiều 27-7-2006, ông Trần Xuân Giá được mời lên phòng thủ tướng. Ông Giá nhớ lại, đó là một cuộc làm việc vui vẻ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đồng ý để Giáo sư Đào Xuân Sâm, lúc ấy đã lớn tuổi, nghỉ hưu và ông cũng tỏ ra không bằng lòng với việc Tiến sỹ Lê Đăng Doanh vẫn hay phát biểu với vai trò thành viên của Ban Nghiên cứu. Cuộc nói chuyện kéo dài tới 17 giờ ngày 27, Thủ tướng thân tình đến mức ông Giá tạm thời gạt qua kế hoạch nghỉ hưu và trở về ngồi vẽ sơ đồ tổ chức văn phòng thủ tướng và chuẩn bị kế hoạch củng cố Ban Nghiên cứu.

Hôm sau, ngày 28-7-2006, khi ông Trần Xuân Giá đến cơ quan ở đường Lê Hồng Phong thì thấy Văn phòng vắng vẻ, nhân viên lúng túng tránh nhìn thẳng vào mắt ông. Ông Trần Xuân Giá làm tiếp một số việc rồi về nhà. Vào lúc 16 giờ cùng ngày, ông nhận được quyết định nghỉ hưu và quyết định giải thể Ban Nghiên cứu do văn thư mang tới. Cả hai cùng được chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký vào ngày 28-7-2006, tức là chỉ ít giờ sau khi ngồi “hàn huyên” với ông Trần Xuân Giá. Theo ông Giá thì ông là người cuối cùng trong Ban Nghiên cứu nhận được quyết định này.

Ông Nguyễn Tấn Dũng sinh tại Cà Mau năm 1949. Mới mười hai tuổi đã theo cha vào “bưng” làm liên lạc, ông biết chữ chủ yếu nhờ các lớp bổ túc ở trong rừng do địa phương quân tổ chức. Sau đó, ông Dũng được đưa đi cứu thương rồi làm y tá cho Tỉnh đội.

Ngày 30-4-1975, Nguyễn Tấn Dũng là trung úy, chính trị viên Đại đội Quân y thuộc Tỉnh đội Rạch Giá. Đầu thập niên 1980, theo ông Lê Khả Phiêu: “Khi ấy, tôi là Phó chính ủy Quân khu IX, trực tiếp gắn quân hàm thiếu tá cho anh Nguyễn Tấn Dũng. Năm 1981, khi anh Dũng bị thương ở chiến trường Campuchia, tôi cho anh về nước đi học”. Năm 1983, từ trường Nguyễn Ái Quốc trở về, ông Dũng ra khỏi quân đội, bạn bè của cha ông, ông Nguyễn Tấn Thử, đã bố trí ông Dũng giữ chức phó Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Nhưng vị trí giúp ông có một bước nhảy vọt trong con đường chính trị là chức vụ mà ông nhận sau đó: bí thư Huyện ủy Hà Tiên.

Sau Đại hội V, ông Lê Duẩn có ý tưởng cơ cấu một số cán bộ trẻ và một số cán bộ đang là bí thư các ‘pháo đài huyện’ vào Trung ương làm ủy viên dự khuyết như một động thái đào tạo cán bộ. Ông Nguyễn Đình Hương580 nhớ lại: “Trước Đại hội VI, tôi được ông Lê Đức Thọ phân công trực tiếp về địa phương gặp các ứng cử viên. Phía Nam có anh Nguyễn Tấn Dũng, bí thư huyện Hà Tiên, cô Hai Liên, bí thư huyện ủy Thống Nhất, Đồng Nai, cô Trương Mỹ Hoa, bí thư quận Tân Bình; phía Bắc có cô Nguyễn Thị Xuân Mỹ, bí thư Quận ủy Lê Chân, Hải Phòng”. Sau Đại hội VI, ông Nguyễn Tấn Dũng rời “pháo đài” Hà Tiên về Rạch Giá làm phó bí thư thường trực rồi chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh.

Trước Đại hội Đảng lần thứ VII, khi chuẩn bị cho Đại hội Tỉnh Đảng bộ Kiên Giang, ông Lâm Kiên Trì, một cán bộ lãnh đạo kỳ cựu của tỉnh từ chức, mở đường cho ông Nguyễn Tấn Dũng lên bí thư. Theo ông Năm Loan, khi ấy là ủy viên thường vụ, trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Kiên Giang: “Ông Đỗ Mười vào T78, triệu tập Thường vụ Tỉnh ủy lên họp, duyệt phương án nhân sự và quyết định đưa Nguyễn Tấn Dũng lên làm bí thư”. Năm ấy ông Dũng bốn mươi hai tuổi.

Trong một nền chính trị, mà công tác cán bộ được giữ bí mật và phụ thuộc chủ yếu vào sự lựa chọn của một vài nhà lãnh đạo, các giai thoại lại xuất hiện để giải thích sự thăng tiến mau lẹ của một số người. Trong khi dư luận tiếp tục nghi vấn ông Nông Đức Mạnh là “con cháu Bác Hồ”581, một “huyền thoại” khác nói rằng, cha của ông Nguyễn Tấn Dũng đã “chết trên tay ông Lê Đức Anh” và trước khi chết có gửi gắm con trai cho Bí thư Khu ủy Võ Văn Kiệt và Tư lệnh Quân khu IX Lê Đức Anh. Trên thực tế, cha ông Nguyễn Tấn Dũng là ông Nguyễn Tấn Thử, thường gọi là Mười Minh, đã mất trước khi hai ông Võ Văn Kiệt và Lê Đức Anh đặt chân xuống Quân khu IX.

Ngày 16-4-1969, một trái bom Mỹ đã ném trúng hầm trú ẩn của Tỉnh đội Rạch Giá làm chết bốn người trong đó có ông Nguyễn Tấn Thử khi ấy là chính trị viên phó Tỉnh đội. Một trong ba người chết còn lại là ông Chín Quý, chính trị viên Tỉnh đội. Trong khi, đầu năm 1970, ông Lê Đức Anh mới được điều về làm tư lệnh Quân khu IX còn ông Kiệt thì mãi tới tháng 10-1970 mới xuống miền Tây. Họ có nghe nói đến vụ ném bom làm chết ông Chín Quý và ông Mười Minh nhưng theo ông Kiệt thì cả hai ông đều chưa từng gặp ông Mười Minh Nguyễn Tấn Thử. Mãi tới năm 1991, trong đại hội đại biểu tỉnh đảng bộ Kiên Giang, ông Võ Văn Kiệt mới thực sự biết rõ về ông Nguyễn Tấn Dũng và cho tới lúc này ông Kiệt vẫn muốn ông Lâm Kiên Trì, một người mà ông biết trong chiến tranh, tiếp tục làm bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang.

Ông Nguyễn Tấn Dũng được điều ra Hà Nội tháng 1-1995, ông bắt đầu với chức vụ mà xét về thứ bậc là rất nhỏ: thứ trưởng Bộ Nội vụ. Trước Đại hội VIII, theo ông Lê Khả Phiêu: “Khi làm nhân sự Bộ Chính trị, anh Nguyễn Tấn Dũng gặp tôi, nói: ‘Anh em miền Nam yêu cầu tôi phải tham gia Bộ Chính trị’. Trong khi, thứ trưởng thường trực là anh Lê Minh Hương thì băn khoăn: ‘Ngành công an không thể có hai anh ở trong Bộ Chính trị’. Tôi bàn, anh Lê Minh Hương tiếp tục ở trong Bộ Công an, anh Nguyễn Tấn Dũng chuyển sang Ban Kinh tế”.

Tháng 6-1996, ông Dũng được đưa vào Bộ Chính trị phụ trách vấn đề tài chính của Đảng. Cho dù, theo ông Lê Khả Phiêu, ông Dũng đắc cử Trung ương với số phiếu thấp và gần như “đội sổ” khi bầu Bộ Chính trị nhưng vẫn được đưa vào Thường vụ Bộ Chính trị, một định chế mới lập ra sau Đại hội VIII, vượt qua những nhân vật có thâm niên và đang giữ các chức vụ chủ chốt như Nông Đức Mạnh, Phan Văn Khải. Ông Nguyễn Đình Hương giải thích: “Nguyễn Tấn Dũng được ông Đỗ Mười đưa đột biến vào Thường vụ Bộ Chính trị chỉ vì ông Đỗ Mười có quan điểm phải nâng đỡ, bồi dưỡng, con em gia đình cách mạng. Tấn Dũng vừa là một người đã tham gia chiến đấu, vừa là con liệt sỹ, tướng mạo cũng được, lại vào Trung ương năm mới ba mươi bảy tuổi”.

Ngay cả khi đã ở trong Thường vụ Bộ Chính trị, ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn là một con người hết sức nhã nhặn. Ông không chỉ cùng lúc nhận được sự ủng hộ đặc biệt của các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, mà những ai biết ông Dũng vào giai đoạn này đều tỏ ra rất có cảm tình với ông. Theo ông Phan Văn Khải: “Nguyễn Tấn Dũng được cả ba ông ủng hộ, đặc biệt là ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. Tấn Dũng cũng biết cách vận động. Năm 1997, trước khi lui về làm cố vấn, cả ba ông thậm chí còn muốn đưa Tấn Dũng lên thủ tướng, tuy nhiên khi thăm dò phiếu ở Ban Chấp hành Trung ương cho cương vị này, ông chỉ nhận được một lượng phiếu tín nhiệm thấp”.

Kinh tế tập đoàn

Trước Đại hội Đảng lần thứ X, tháng 4-2006, ông Nguyễn Tấn Dũng được Bộ Chính trị phân công làm tổ trưởng biên tập “Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010”. Khi chủ trì các buổi thảo luận, ông Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu đưa vào văn kiện chủ trương tổ chức doanh nghiệp nhà nước theo hướng kinh doanh đa ngành.

Theo ông Trần Xuân Giá, tổ phó biên tập: “Cho doanh nghiệp nhà nước kinh doanh đa ngành là ngược lại với chủ trương lâu nay của chính phủ nên chúng tôi không dự thảo văn kiện theo chỉ đạo của ông Nguyễn Tấn Dũng. Đến gần đại hội, ông Dũng cáu, ông viết thẳng ra giấy ý kiến của ông rồi buộc chúng tôi phải đưa nguyên văn vào Báo cáo, phần nói về doanh nghiệp nhà nước: Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối”.

Lúc ấy, ông Nguyễn Tấn Dũng đã có đủ phiếu ở Ban Chấp hành Trung ương để tiến đến chiếc ghế thủ tướng. Ông khát khao tạo dấu ấn và nôn nóng như những gì được viết trong Báo cáo Kinh tế mà ông chủ trì: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”.

Mặc dù từ năm 1994, Quyết định số 91/TTg của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói đến việc “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh” nhưng cho đến năm 2005, Việt Nam chưa có một tập đoàn nào ra đời. Cuối nhiệm kỳ, Thủ tướng Phan Văn Khải cho thành lập hai tập đoàn: Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam ngày 26-12-2005 và Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin ngày 15-5-2006.

Hai tháng sau khi nhận chức, ngày 29-8-2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho ngành dầu khí được nâng lên quy mô tập đoàn, PetroVietnam, ngày 30-10-2006 thành lập Tập đoàn Công nghiệp Cao su, ngày 9-01-2006 thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông. Tốc độ thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước có chững lại sau khi cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt viết một thư ngỏ đăng trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, yêu cầu thận trọng vì theo ông, trong khi những yếu kém của mô hình tổng công ty 90, 91 chưa được khắc phục mà lại làm phình to chúng ra bằng các quyết định hành chính là không hợp lý. Ông Võ Văn Kiệt viết: “Các doanh nghiệp nhà nước của ta có truyền thống dựa vào bao cấp nhiều mặt, không dễ từ bỏ thói quen cũ, nếu từ bỏ thói quen cũ cũng không dễ đứng vững trong thế cạnh tranh… Không có gì đảm bảo khi các tập đoàn được thành lập sẽ hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp hiện nay”.

Trong khoảng thời gian từ khi ông Võ Văn Kiệt mất, tháng 6-2008, cho đến năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kịp nâng số tập đoàn kinh tế nhà nước lên con số mười hai. Nhưng chính sách cho tập đoàn kinh tế nhà nước kinh doanh đa ngành chứ không phải số lượng tập đoàn kinh tế nhà nước mới là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế.

Theo ông Phan Văn Khải: “Khi thành lập Tập đoàn Vinashin, tôi nghĩ, đất nước mình có bờ biển dài hơn 3.000km, phát triển ngành công nghiệp đóng tàu là cần thiết nhất là khi ngành công nghiệp này đang được chuyển dịch từ các nước Bắc Âu về Trung Quốc, Hàn Quốc. Chính tôi quyết định đầu tư cho Vinashin khoản tiền bán trái phiếu chính phủ hơn 700 triệu USD. Nhưng, sau đó thì không chỉ Vinashin mà nhiều tập đoàn khác cũng phát triển ồ ạt nhiều loại ngành nghề, ở đâu cũng thấy đất đai của Vinashin và của các tập đoàn nhà nước”.

Theo ông Trần Xuân Giá: “Ông Nguyễn Tấn Dũng coi doanh nghiệp nhà nước như một động lực phát triển, nhưng phát triển doanh nghiệp nhà nước theo cách của ông Dũng không hẳn chỉ để làm vừa lòng ông Đỗ Mười”. Cho phép các tập đoàn kinh tế nhà nước kinh doanh đa ngành cũng như tháo khoán các kênh đầu tư mà nguồn vốn cho khu vực này lại thường bắt đầu từ ngân sách. Ông Phan Văn Khải giải thích: “Nguyễn Tấn Dũng muốn tạo ra một thành tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình. Tấn Dũng muốn hoàn thành kế hoạch 5 năm chỉ sau bốn năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu tư ồ ạt. Tiền đổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cũng được đưa ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu”.

Theo ông Trần Xuân Giá: “Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, mỗi khi tổng đầu tư lên tới trên 30% GDP là lập tức thủ tướng được báo động. Trước năm 2006, năm có tổng đầu tư lớn nhất cũng chỉ đạt 36%. Trong khi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi nhận chức đã đưa tổng mức đầu tư lên 42% và đạt tới 44% GDP trong năm 2007”. Cho tới lúc đó những ý kiến can gián thủ tướng cũng chủ yếu xuất phát từ các thành viên cũ của Ban Nghiên cứu như Trần Xuân Giá, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan. Nhưng tiếng nói của họ không còn sức mạnh của một định chế sau khi Ban Nghiên cứu đã bị giải tán. Cả ba sau đó còn nhận được các khuyến cáo một cách trực tiếp và nhiều cơ quan báo chí trong nhiều tháng không phỏng vấn hoặc đăng bài của những chuyên gia này.

Năm 2006, tăng trưởng tín dụng ở mức 21,4% nhưng con số này lên tới 51% trong năm 2007. Kết quả là lạm phát cả năm ở mức 12,6%. Các doanh nghiệp, các ngân hàng bắt đầu nhận ra những rủi ro, từng bước kiểm soát vốn đầu tư vào chứng khoán và địa ốc. Nhưng đầu năm 2008, Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dường như hoảng sợ khi lạm phát lên tới gần 3% mỗi tháng và những “liệu pháp” được đưa ra sau đó đã khiến cho nền kinh tế dồn dập chịu nhiều cú sốc.

Cuối tháng 1-2008, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại phải tăng dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%. Để có ngay một lượng tiền mặt lên tới khoảng 20.000 tỷ đồng nhằm đáp ứng nhu cầu dự trữ, các ngân hàng thương mại cổ phần buộc lòng phải tăng lãi suất huy động. Lãi suất qua đêm thị trường liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008 tăng vọt lên tới 27%, trong khi đầu tháng, con số này chỉ là 6,52%. Ngày 13-2-2008, Ngân hàng Nhà nước lại ra quyết định, buộc các ngân hàng thương mại phải mua một lượng tín phiếu trị giá 20.300 tỷ đồng. Áp lực tiền bạc đã làm náo loạn các tổ chức tín dụng.

Thoạt đầu, các tổng công ty nhà nước rút các khoản tiền đang cho vay lãi suất thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi sang ngân hàng cổ phần. Chỉ trong ngày 18-2-2008, các tổng công ty nhà nước đã rút ra hơn 4.000 tỷ đồng. Các ngân hàng quốc doanh, vốn vẫn dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ Nhà nước đem cho các ngân hàng nhỏ vay lại, nay thiếu tiền đột ngột, vội vàng ép các ngân hàng này. “Cơn khát” tiền toàn hệ thống đã đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng có khi lên tới trên 40%.

Lãi suất huy động tăng, đã khiến cho các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Nhiều ngân hàng buộc khách hàng chấp nhận lãi suất lên tới 24 – 25%, cao hơn nhiều mức mà Luật Dân sự cho phép. Các doanh nghiệp cũng “khát” tiền mặt, tình trạng bán hàng dưới giá, hoặc vay với lãi suất cao đang khiến cho chi phí sản xuất tăng đột biến. Không có gì ngạc nhiên khi lạm phát ba tháng đầu năm 2008 lên tới 9,19%. Các biện pháp của Ngân hàng Nhà nước nói là chống lạm phát, nhưng đã trực tiếp làm “mất giá” đồng tiền khi đặt các ngân hàng trong tình thế phải nâng lãi suất.

Ngày 25-3-2008, Ngân hàng Nhà nước lại khiến cho tình trạng khan hiếm tiền mặt thêm nghiêm trọng khi yêu cầu thu về 52.000 tỷ đồng của ngân sách đang được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay với lãi suất 3%/năm, thấp hơn nhiều so với lãi suất trên thị trường tín dụng. Khoản tiền này theo nguyên tắc phải được chuyển vào Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, từ mười năm trước, theo “sáng kiến” của Bộ Tài chính, nó đã được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay. Một mặt, nó tạo ra sự bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh, một mặt làm cho nền kinh tế lập tức rơi vào khủng hoảng do tín dụng bị cắt đột ngột và những khoản vay còn lại thì phải chịu lãi suất cao.

Thị trường chứng khoán nhanh chóng hiển thị “sức khỏe” của nền kinh tế. Từ mức trên 1000, ngày 6-3-2008, chỉ số VN-index xuống còn 611. Cho dù Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cố dùng uy tín chính trị của mình để cứu vãn bằng cách tuyên bố rằng đầu tư vào chứng khoán bây giờ là thắng vì đã xuống đến đáy nhưng chỉ hai mươi ngày sau, 25-3-2008, chỉ số VN-index chỉ còn 492 điểm. Ngày 5-12-2008, VN-index chỉ còn 299 điểm. Xuất khẩu quý 1-2008 vẫn tăng 23,7%; nhập khẩu tăng 60,7%. Tại Sài Gòn, kinh tế vẫn tăng trưởng khá, ngân sách quý I vẫn thu tăng 72,6%. Nhưng các biện pháp chống lạm phát đã làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chánh hơn nửa năm trước khi khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu.

Từ cuối năm 2008, khuynh hướng quay trở lại nền kinh tế chỉ huy càng tăng lên cho dù điều này là vô vọng vì ở giai đoạn này, đóng góp của khu vực tư nhân cho nền kinh tế đã vượt qua con số 50% GDP của Việt Nam. Dù vậy, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn liên tục ban hành các mệnh lệnh hành chánh hòng kiểm soát trần lãi xuất, kiểm soát thị trường ngoại tệ, thị trường vàng.

Khi ông Đỗ Mười nhận chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, để có ngoại tệ, Chính phủ phải cho một nhà đầu tư của Nhật thuê khu nhà khách ven hồ Thiền Quang. Khi ông Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng, Việt Nam có một khoản dự trữ ngoại tệ lên tới 23 tỷ đôla. Nhưng, di sản lớn hơn mà Thủ tướng Phan Văn Khải trao lại cho ông Dũng là một Việt Nam đã hoàn thành thủ tục để gia nhập WTO. Trong khoảng thời gian 1996-2000, cho dù chịu mấy năm khủng hoảng kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng 7,5% trong khi lạm phát chỉ là 3,5%. Trong khoảng thời gian 2001-2005, lạm phát có cao hơn, 5,1%, nhưng tăng trưởng vẫn dương: 7%.

Chỉ sau mấy tháng nhận chức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đưa GDP tăng trưởng tới mức kỷ lục: 8,5% vào tháng 12-2007; đồng thời cũng đã đưa lạm phát vào tháng 8-2008 lên tới 28,2%. Tháng 3-2009, tăng trưởng GDP rơi xuống đáy: 3,1%. Trong sáu năm ông Nguyễn Tấn Dũng giữ chứ Thủ tướng, mức tăng trưởng kinh tế luôn thấp hơn rất nhiều so với mức lạm phát. Năm 2007 GDP tăng trưởng ở mức 8,48% trong khi lạm phát lên tới 12,63%. Năm 2008 mức tăng trưởng giảm xuống 6,18% trong khi lạm phát là 19,89%. Năm 2009 GDP chỉ tăng 5,32% lạm phát xuống còn 6,52% do các nguồn đầu tư bị cắt đột ngột. Năm 2010 GDP tăng đạt mức 6,78% nhưng lạm phát tăng lên 11,75%. Năm 2011 tăng trưởng GDP giảm còn 5,89% trong khi lạm phát lên tới 18,13%. Năm 2012, nền kinh tế gần như ngưng trệ, lạm phát ở mức 6,81% nhưng GDP cũng xuống tới 5,03% thấp kỷ lục kể từ năm 1999. Nền kinh tế rơi vào tình trạng gần như không lối thoát.

[*] Tựa đề đoạn trích do Ban Biên Tập Dân Luận đặt.

Advertisements

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Đảng CSVN | 5 Comments »

►Trung Quốc đã thò tay đến các đảo quốc nhỏ nhoi Nam Thái Bình Dương

Posted by hoangtran204 trên 06/09/2012

Đảng và Nhà nước VN đã triều cống đất đai  biển đảo và thần phục TQ từ 1950.  Hiện nay TQ tiếp tục ban phát quyền lực ở VN nên từ cán bộ trẻ cho đến già đều đã hoàn toàn tâm phục, khẩu phục, hợp tác TQ.  

2011, TQ mua đất ở Bình Dương, rồi thuê Becamex, một tập đoàn xây dựng trực thuộc bộ quốc phòng VN, xây Đông Đô Đại phố ở Bình Dương; cũng người TQ từ cả chục năm nay thuê 200 hecta ngoài biển Cam Ranh, nuôi tôm, nuôi cá ngay trước mắt UBND thành phố Cam Ranh, và dùng tàu TQ trực tiếp vào tận Cam Ranh chở cá tôm về TQ mà không cần thông qua cửa khẩu hay hải quan VN. Đó là các thí dụ điển hình mà TQ đã mua chuộc được chính quyền địa phương, nhà nước, lẫn Quân đội NDVN. 

Cách mà TQ  mua chuộc các cán bộ đảng CSVN,  chính quyền địa phương, nhà nước, công an, lẫn Quân đội NDVN hiện nay (dùng tiền bạc và lời hứa ủng hộ cho ai đó nắm quyền lực) không khác gì với cách mà họ đã và đang mua chuộc  chính quyền  các quốc gia nhỏ bé ở  vùng Nam Thái Bình Dương như trong bài dưới đây. 

Cũng may là Mỹ, Úc và Tân Tây Lan đã sáng suốt nhận ra thảm họa TQ trước khi quá muộn. 

Móng vuốt Trung Quốc

Thông báo của Bộ Ngoại giao Mỹ vào cuối tháng 8 vừa qua cho biết, ngày 30/8, Ngoại trưởng Hillary Clinton bắt đầu chuyến công du đến sáu nơi: quần đảo Cook, Indonesia, Trung Quốc, Timor-Leste (còn gọi là East Timor hay Đông Timor), Brunei (ở Việt Nam gọi là Bru-nây) và Nga.

Đọc bản thông báo ấy, một số nhà bình luận chính trị không khỏi ngạc nhiên: Ủa, sao lại ghé thăm quần đảo Cook? Tất cả những nơi khác thì không sao. Người ta có thể hiểu được. Nhưng còn quần đảo Cook? Nó ở đâu nhỉ? Mà đến đó để làm gì nhỉ? Chi tiết phía dưới bản thông báo cho biết thêm: Bà đến dự cuộc hội nghị lần thứ 43 của Diễn Đàn Nam Thái Bình Dương (South Pacific Forum). Đến đây, lại thêm một ngạc nhiên nữa: Ủa, nhưng Diễn Đàn Nam Thái Dương là gì vậy cà?

Tôi sống ở Úc, vẫn thường nghe tên quần đảo Cook cũng như Diễn Đàn ấy nhiều lần, nhưng thú thực, tôi cũng không quan tâm mấy. Chỉ biết đó là một vùng đất và một tổ chức rất nhỏ. Mà chúng nhỏ thật. Là một tổ chức liên chính phủ, được thành lập từ năm 1971, Diễn Đàn Nam Thái Bình Dương bao gồm các nước: Úc, Tân Tây Lan, quần đảo Cook, quần đảo Marshall, quần đảo Solomon, Micronesia, Niue, Kiribati, Nauru, Samoa, Palau, Papua New Guinea, Vanuatu, Tonga, Tuvalu (không kể Fiji đã bị tạm đuổi ra khỏi Diễn đàn vào năm 2009).

Ngoài Úc và Tân Tây Lan, tất cả các nước còn lại đều vô danh. Được biết nhiều, may ra, có Papua New Guinea. Đi máy bay từ Úc sang Mỹ, nếu chăm chú nhìn vào bản đồ trên màn ảnh trước mặt, người ta cũng có thể nhận ra được quần đảo Solomon. Hết. Mà thật. Trong số các nước ấy, chỉ có Papua New Guinea là tương đối lớn, với dân số 6 triệu người, trên một diện tích khá rộng, 462.840 cây số vuông. Nó được xem là quốc gia đa dạng về phương diện chủng tộc cũng như về phương diện văn hóa nhất trên hành tinh: có hàng trăm sắc tộc và có đến 841 ngôn ngữ khác nhau. Tuy nhiên, đó cũng là một quốc gia rất nghèo, thuộc loại nghèo nhất trên thế giới: Khoảng một phần ba dân số chỉ có thu nhập khoảng trên 1 đô la một ngày.

Ngoài Papua New Guinea, có năm quốc gia khác có trên 100.000 dân. Thứ nhất, quần đảo Solomon, tự trị từ năm 1976 và độc lập từ năm 1978, bao gồm cả hàng chục hòn đảo nhỏ, có dân số trên nửa triệu người. Thứ hai, Vanuatu gồm 82 hòn đảo với tổng diện tích trên 12.000 cây số vuông, có dân số trên 200.000 người. Thứ ba, Samoa, trước là thuộc địa của Tân Tây Lan, được độc lập từ năm 1962, chỉ có diện tích khoảng gần 3000 cây số vuông với dân số khoảng trên 180.000 người. Thứ tư, Tonga gồm 176 hòn đảo, nhưng chỉ có 52 hòn đảo là có cư dân; dân số chỉ khoảng trên 100.000 người. Thứ năm, Kiribati, với dân số khoảng trên 100.000 người, là quốc gia đầu tiên có nguy cơ biến mất trên trái đất do hiện tượng biến đổi khí hậu: tất cả các hòn đảo hiện nay họ đang sống có thể sẽ bị chìm dưới đáy biển. Tháng 6 năm 2008, chính phủ Kiribati đã chính thức xin Úc cho toàn bộ công dân của họ được quyền tị nạn nếu hiện tượng ấy xảy ra. Năm nay, họ bắt đầu thương lượng mua một số hòn đảo của Fiji để chuyển dân của họ đến ở.

Còn lại, các quốc gia khác đều có dưới 100.000 dân. Như quần đảo Marshall vốn bao gồm 1.156 hòn đảo nhưng dân số chỉ có dưới 70.000 người. Quần đảo Cook, gồm 15 hòn đảo với tổng diện tích khoảng 240 cây số vuông nhưng dân số chỉ chưa tới 20.000 người (không kể khoảng gần 60.000 tự xưng là hậu duệ của người Maori thuộc quần đảo Cook hiện sống tại Tân Tây Lan). Nauru, với dân số dưới 10.000 người, được xem là quốc gia ít dân đứng hàng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Vatican. Tuvalu thì có trên 10.000 dân, chỉ nhiều hơn dân số Vatican và Nauru, trên một diện tích khoảng 26 cây số vuông, chỉ lớn hơn Vatican, Monaco và Nauru. Đây cũng là một trong sáu quốc gia có nguy cơ bị nước biển nhấn chìm nhất. Niue chỉ có 260 cây số vuông với 1.400 cư dân. Phần lớn dân Niue sống ở Tân Tây Lan. Tất cả các công dân Niue sống trên nước họ cũng mang quốc tịch Tân Tây Lan.

Nói chung, trong tổ chức Diễn Đàn Nam Thái Bình Dương, Úc và Tân Tây Lan là hai quốc gia lớn mạnh nhất. Dân số Úc, dù thuộc loại rất ít trên thế giới (khoảng 22 triệu), đông gấp đôi tổng dân số của 15 quốc gia còn lại. Về kinh tế thì Úc lớn gấp năm lần các quốc gia ấy. Trừ quần đảo Marshall vốn dựa vào Mỹ, tất cả các quốc gia đảo còn lại trong Diễn Đàn Nam Thái Bình Dương đều lệ thuộc vào nguồn viện trợ của Úc hoặc Tân Tây Lan. Rất nhiều nước thậm chí không có cả quân đội riêng. Mọi công việc quốc phòng cũng như ngoại giao, họ đều ủy thác cho Úc và Tân Tây Lan đảm nhiệm. Có khi ngay cả cảnh sát họ cũng không có đủ. Một số lần xảy ra biến loạn, họ đều nhờ cảnh sát Úc hoặc Tân Tây Lan can thiệp giùm.

Lâu nay, Úc và Tân Tây Lan vẫn xem các quốc gia đảo ở Nam Thái Bình Dương như là sân sau của mình. Mỹ chấp nhận điều đó. Hơn nữa, rất an tâm về điều đó. Với Mỹ, Úc và Tân Tây Lan bao giờ cũng là những đồng minh rất đáng tin cậy.

Nhưng tại sao bây giờ Ngoại trưởng Mỹ lại đến tham dự hội nghị của Diễn Đàn Nam Thái Bình Dương?

Xin lưu ý: Đây là lần đầu tiên, từ năm 1971 đến nay, mới có sự hiện diện của một ngoại trưởng Mỹ trong Diễn Đàn này. Cũng xin lưu ý điều nữa: Bà Hillary Clinton, với cương vị Ngoại trưởng Mỹ, vô cùng bận rộn. Bà mới phá kỷ lục công du ra ngoại quốc nhiều nhất trong tất cả các ngoại trưởng Mỹ từ trước đến nay. Dĩ nhiên, không phải vì bà muốn đi nước ngoài. Mà vì cần. Mà thế giới hiện nay dường như ở đâu cũng cần sự có mặt của bà. Ở đâu cũng dầu sôi lửa bỏng. Ở đâu cũng đầy những vấn đề nhức nhối và khẩn cấp.

Vậy tại sao bà lại đến Diễn Đàn Nam Thái Bình Dương? Tại sao bà phải đến quần đảo Cook, một nơi nghèo nàn, có thể coi như khỉ ho cò gáy. Nó nghèo đến độ chính phủ ở đó không có đủ xe hơi và chỗ ở cho phái đoàn của bà. Xe hơi, họ phải mượn thêm của tư nhân. Chỗ ở thì phải nhồi nhét mấy người vào một phòng. Tiện nghi thiếu thốn đủ điều.

Lý do chính, không được công khai nói ra, là: Trung Quốc.

Từ hơn mười năm nay, Trung Quốc đã thò tay đến các đảo quốc nhỏ nhoi và xa xôi này. Họ tung cả hàng trăm triệu đô la để viện trợ cho các nước ấy. Họ mua chuộc các chính khách cũng như dân chúng vốn còn rất chất phác ở đó. Trước đây, mục đích của những sự mua chuộc ấy là để cô lập Đài Loan: yêu cầu các đảo quốc ấy không nhìn nhận Đài Loan, không làm ăn buôn bán với Đài Loan. Về sau, họ còn gây chia rẽ giữa các nước hoặc trong nội bộ từng nước, gây nhiều sự bất ổn trong khu vực. Đi xa hơn, họ muốn thuyết phục các đảo quốc ấy tách ra khỏi quỹ đạo của Úc, Tân Tây Lan và Mỹ. Nói cách khác, Trung Quốc muốn xem Nam Thái Bình Dương như là nơi tranh chấp quyền lực với Úc, Tân Tây Lan, và sau hai nước này, là với Mỹ. Ngoài sự tranh chấp ấy, họ còn nhắm đến hai mục tiêu khác. Về phương diện ngoại giao, tuy các đảo quốc này rất nhỏ, rất nghèo và rất yếu, nhưng dù sao họ cũng đều là thành viên của Liên Hiệp Quốc: mỗi nước có một lá phiếu riêng, bình đẳng với tất cả các nước khác. Trong các cuộc bầu cử, sự ủng hộ của họ cũng cần thiết như sự ủng hộ của bất cứ một quốc gia giàu mạnh nào khác. Về phương diện quân sự, các đảo quốc này nằm rải rác trên Thái Bình Dương: Tất cả đều có thể được biến thành những căn cứ quân sự cho một cuộc tranh chấp quốc tế về sau.

Úc và Tân Tây Lan từ lâu biết rõ điều đó. Mỹ, khi quyết định trở lại châu Á-Thái Bình Dương, cũng biết rõ điều đó.

Điều họ biết rõ ấy có thể nói tóm gọn lại: móng vuốt của Trung Quốc đã bắt đầu giương ra khắp nơi. Kể cả những nơi người ta ít chú ý nhất.

Bởi vậy Ngoại trưởng Hillary Clinton mới đến tham dự cuộc hội nghị ở quần đảo Cook.

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

 

Posted in Á, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►Chủ tịch Huyện đảo Hoàng Sa! Thôi đi! Đừng bày trò.

Posted by hoangtran204 trên 04/09/2012

Trần Hoàng: 

Chiến tranh Việt Nam do đảng CSVN và Nhà Nước khởi động kéo dài 21 năm, từ 1954-1975, đã làm cho Việt Nam bị chia cắt và  suy yếu, chủ quyền về Hoàng Sa và Trường Sa đã và đang bị nhiều nước nhảy vào tranh chấp kể từ 1956.

►Tranh Chấp Hoàng Sa và Trường Sa giữa VN và TQ rất khác nhau: bên có chủ quyền thì hờ hững, còn bên kia không được nước nào ủng hộ thì lại rất tích cực

Cách đưa tin tức cho dân chúng biết về chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa giữa VN và TQ rất khác nhau: bên có chứng cớ về chủ quyền thì hờ hững, còn bên kia (TQ) không được nước nào ủng hộ, thì lại rất tích cực – Vì sao?

Trong khi các chứng liệu lịch sử về bản đồ cổ của Trung Quốc, bản đồ cổ của Việt Nam, các tài liệu lịch sử của nhà Nguyễn, các hiệp ước trước 1945 liên quan tới HS và TS, và hội nghị San Francisco về luật biển 1951 đều cho thấy rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. 

(Trong bản đồ của Trung Quốc không hề có Trường Sa, Hoàng Sa) (1904)

(Bản đồ Tây Phương từ năm 1525 đều công nhận Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam)[xem cuối trang này]

Đặc biệt tại hội nghị về Luật Biển tại San Francisco năm 1951, thủ tướng Trần Văn Hữu của VNCH đã tuyên bố, trước sự hiện diện của Trung Quốc và 151 nước,  rằng: Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của VN. Lời tuyên bố này đã không bị một quốc gia nào phản đối. 

Nhưng tất cả các bằng chứng lịch sử, địa lý, chính trị thế giới đều không có ý nghĩa gì hết VÌ chính đảng CSVN và Nhà Nước đã và đang KHÔNG muốn nhắc đến vấn đề chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (trải dài trên 3 triệu km mét vuông) này nữa. TẠI SAO?  

Ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã dùng Hoàng Sa và Trường Sa như một món hàng để trao đổi lấy vũ khí và sự hậu thuẩn của Trung Quốc vào năm 1950.

Hiện nay, trong lúc TQ ra sức tuyên truyền cho dân chúng họ biết là HS và TS thuộc chủ quyền của TQ, và đang bị Việt Nam tranh chấp chiếm đóng…thì phía Đảng CSVN và Nhà Nước Việt Nam ra lệnh cho công an bắt tất cả những ai biểu tình, hoặc mặt áo có chữ HS-TS là của Việt Nam. Thế là nghĩa lý gì? 

Vì sao đảng và Nhà Nước VN có thái độ CHẤP NHẬN rằng Hoàng Sa  và Trường Sa thuộc chủ quyền TQ?

 có một hiệp ước bí mật nào đó giữa 2 đảng CS. 

Phải  có một bí mật nào đó được che dấu,  và  cả hai đảng CSVN và đảng CSTQ đều biết, nhưng cả hai đều không dám công bố, vì mỗi bên đều mắc phải những lỗi lầm trầm trọng, và nếu công bố thì sẽ bất lợi cho cả 2 đảng

Ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã dùng Hoàng Sa và Trường Sa như một món hàng để trao đổi lấy vũ khí và sự hậu thuẩn của Trung Quốc vào năm 1950.  Đảng sử của đảng CSVN  nói về  chuyến đi TQ 1950 xin cầu viện của  ông HCM, dịp này ông cũng  qua Liên Xô gặp Staline xin giúp đỡ, nhưng Liên Xô ủy thác mọi chuyện cho Trung Quốc.

Năm 1950,  TQ cung cấp khí giới nhân sự quân dụng cho đảng CSVN (đảng LĐVN) đánh chiếm Điện Biên Phủ 1954 để lấy công, và từ đó làm bàn đạp để TQ hổ trợ ky’ Hiệp Định Genee 1954 chia đôi đất nước.

Sau Hiệp định 20-7-1954, đảng CSVN từ một tổ chức tay trắng, không có dân, không có lãnh thổ, thậm chí không có cả 1  văn phòng liên lạc (đặt ỏ bất cứ tỉnh thành nào ở VN), đã nghiễm nhiên trở thành sở hữu chủ một nửa nước, tức Miền Bắc .

Ngay sau khi giúp ông HCM và đảng CSVN chiếm đoạt miền Bắc qua các thủ đoạn chính trị rất mưu mô và kết thúc bằng Hiệp định Geneve 1954, Trung Quốc đã lập tức đòi công lao  lấy quần đảo Hoàng Sa. Thế là có Công Hàm 1958 của thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi qua Trung Quốc thừa nhận sự việc này. Công hàm này được đảng CSVN giữ bí mật, dân chúng VN chỉ được biết công khai khi Trung Quốc tung lên mạng internet hồi 1999, như một cử chỉ áp lực nhà nước và đảng CSVN phải ký thêm Hiệp Định biên giới Việt Hoa 31-12-1999 (http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/03/hiep-uoc-bien-gioi-viet-hoa-1999.html)

Và ngay sau khi biết được Mỹ rút ra khỏi VN năm 1973, và chiến tranh VN sắp kết thúc, Trung Quốc tiến chiếm các đảo Hoàng Sa đang được quân đội VNCH chiếm giữ. Lúc này thì lập trường của VNCH là yêu cầu Nhà Nước và đảng CSVN tạm thời ngưng chiến, để VNCH rãnh tay đem quân tái chiếm lại các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, nhưng đảng CSVN và Nhà nước đã từ chối sự hợp tác để cùng nhau đánh quân Trung Quốc. ►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Đã có một hiệp ước bí mật giữa 2 đảng CSVN và đảng CSTQ vào mùa Xuân năm 1950, khi ông HCM đi  cầu viện ngoại bang TQ  và Liên Xô, để nhờ hai nước này hổ trợ chiếm Quốc gia Việt Nam và các nước Cambodia và Lào để thành lập một liên bang ông Dương như tên gọi của đảng CSVN vào lúc thành lập 1932 là đảng CS Đông Dương…Chính vì vậy nên ngày nay, đảng CSVN và nhà nước đã bỏ tù, theo dõi bất cứ ai dám biểu tình phản đối Trung Quốc chiếm giữ Hoàng Sa và Trường Sa. (Blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải…đã lần lượt bị bắt giam từ 2008 cho đến nay.  Đảng CSVN và nhà nước hờ hững không muốn nhắc đến chủ quyền  của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang bị quân Trung Quốc, Đài Loan chiếm đóng).   Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát (La Meurtrissure – Painful Loss)

Chuyến đi cầu  viện 1950 của ông HCM và đảng CSVN là khởi đầu cho việc mất Hoàng Sa và Trường Sa,  và kế đó là chiến tranh VN kéo dài 21 năm. 

Mời các bạn đọc bài dưới đây của tác giả Lê Thiên. 

*************

Chủ tịch Huyện đảo Hoàng Sa! Thôi đi! Đừng bày trò!

Tác giả: 

 

 ảnh: Đặng Công Ngữ

Đôi lời dẫn: Những lời tuyên truyền dối trá, người nghe biết là dối trá, nhưng được cơ quan tuyên truyền nhại đi nhại lại, chúng sẽ thấm nhập vào tim óc người nghe và rồi không ít người tin là thật!

Thế thì tại sao chúng ta không thể nhắc đi nhắc lại nhiều lần những điều có thật bị bưng bít? Sự thật phải được sáng tỏ! Do đó, nếu phải nói, phải viết, nói đi, viết lại để phanh phui những sự thật bị ém nhẹm, che giấu, thiết tưởng chẳng có gì là quá đáng cả. Đó là lý do chúng tôi làm sống lại ở đây sự việc đã từng một thời ôn ào trên báo chí lề đảng ở Việt Nam. Mong quý độc giả đón nhận, góp thêm tiếng nói cùng tư liệu để tiếp tục vạch mặt bọn bán nước hại dân núp dưới chiêu bài “nhân dân”.

“Đem một thước sông, một tấc đất… làm mồi cho giặc, thì phải tội tru di!” (lời Vua Lê Thánh Tôn)

Cách đây 3 năm, báo chí luồng đảng trong nước ầm ĩ chuyện UBND TP Đà Nẵng ngày 25/4/2009 công bố quyết định thành lập “huyện đảo Hoàng Sa” và bổ nhiệm ông Đặng Công Ngữ giữ chức Chủ tịch UBND huyện này với nhiệm kỳ 5 năm (2009-2014), bên cạnh đó người ta còn “đề xuất” mở môn lịch sử về Hoàng Sa làm “thí điểm” cho học sinh Thành phố Đà Nẵng, dọn đường để môn sử ấy trở thành môn học chính khóa cho sinh viên học sinh cả nước. Báo chí luồng đảng gọi hai sự kiện ấy là hai “điểm son” của chế độ.

Bấy giờ chúng tôi lập tức có bài viết “Ai phản quốc? Ai bán nước?” vạch trần bề trái của hai “điểm son” ấy.

Trong bài viết ấy, chúng tôi trưng dẫn nhiều tài liệu minh chứng hành vi bán nước của tập đoàn CSVN, một hành vi mang tính liên tục và tính kế thừa từ lớp quan chức này tới lớp quan chức khác suốt chiều dài lịch sử từ đầu thập niên 1950 đến nay.

Bức tranh rách cũ!

Ở bài viết trên, chúng tôi quả quyết sự kiện “thành lập Huyện đảo Hoàng Sa” và việc “bổ nhiệm ông Đặng Công Ngữ giữ chức Chủ tịch Huyện đảo” Hoàng Sa chỉ là một kịch bản tuồng hề mà Đặng Công Ngữ được giao thủ vai kép hề để diễn tuồng một cách vụng về vô duyên kệch cỡm. Cái “UBND huyện đảo” Hoàng Sa cũng chỉ là sản phẩm của bộ óc lừa đảo đẳng cấp quốc tế! CSVN vẽ lên giấy những màn tuồng kịch ấy không ngoài mục đích lừa phỉnh những người dân chất phác trong nước không có điều kiện kiểm chứng lịch sử.

Cái gọi là sáng kiến môn “lịch sử về Hoàng Sa” cho sinh viên học sinh cũng là đại bịp. Bởi lẽ, nhà cầm quyền CSVN sẽ giảng giải thế nào trong giáo trình môn sử Hoàng Sa ý nghĩa và tác động của công hàm 1958 do Phạm Văn Đồng ký tên đóng dấu? Giải thích thế nào về những cam kết của Ung Văn Khiêm, đại diện đảng và Nhà nước Cộng sản Hà Nội với Trung Cộng về Hoàng Sa và Trường Sa? Có biện bạch phân bua được không sự im lặng của nhà cầm quyền Hà Nội biểu thị đồng tình với Trung Cộng trong việc chúng đánh cướp Hoàng Sa năm 1974?

Mới đây nhất, dưới nhan đề “Giảng dạy chủ quyền biển đảo trong năm học mới”, báo Đất Việt của lề đảng trong nước ngày 01/9/2012 lại có bản tin: “Tại TP. Nha Trang (Khánh Hòa), hơn 120 giáo viên, cán bộ chủ chốt của các trường trung học phổ thông, các phòng giáo dục, trung tâm giáo dục thường xuyên trên toàn tỉnh đã tham gia tập huấn chuyên đề “Chủ quyền biển đảo” do Sở GD&ĐT tổ chức.”

Bài báo nêu rõ: “Đây là hoạt động tiền đề nhằm triển khai việc giảng dạy chủ quyền biển đảo đến các em học sinh trong năm học 2012- 2013. Các giáo viên được tập huấn 4 nội dung: khái quát về biển đảo nước ta, tình hình biển đảo hiện nay, quan điểm của Đảng về chủ quyền biển đảo; lịch sử chủ quyền của nước ta – phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; giới thiệu Trường Sa hôm nay và trách nhiệm bảo vệ biển đảo quê hương của thế hệ trẻ Khánh Hòa.”

Về hướng dạy và học sử, tờ Đất Việt cho biết; “Khối tiểu học chỉ truyền đạt nội dung giới thiệu về Trường Sa hôm nay, khối trung học cơ sở thêm phần lịch sử chủ quyền…”

Có phải vì Huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc thành phố Đà Nẵng, và Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa mà Đà Nẵng và Khánh Hòa có quyền làm chương trình môn sử riêng Hoàng Sa cho học sinh Đà Nẵng và Trường Sa cho học sinh Khánh Hòa không? Tại sao nó không là Chương trình từ Bộ Giáo dục? Công hàm bán nước do Phạm Văn Đồng đóng dấu ký tên năm 1958 và hành động phản quốc của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa “gật đầu tán đồng” cho Trung Cộng cưỡng đoạt Hoàng Sa bằng vũ khí, bạo lực và sát nhân năm 1974 phải chăng là hai trở lực chính ngăn cản tập đoàn CSVN tránh né lịch sử?

Trong bài viết “Ai phản quốc? Ai bán nước?” chúng tôi đã chứng minh tính bất khả thi của “sáng kiến” kiểu thùng rỗng kêu to nêu trên như sau đây:

Chương trình chính khóa môn lịch sử Hoàng Sa

Trong bài báo “Dạy và Học lịch sử Hoàng Sa” (Lao Động số 93 Ngày 28/04/2009), ông Hà Văn Thịnh ghi nhận: “Ông GĐ Sở GDĐT Đà Nẵng Huỳnh Văn Hoa cho biết, kể từ năm học 2009-2010, lịch sử Hoàng Sa sẽ được giảng dạy trong chương trình chính khóa của các cấp học ở Đà Nẵng!”

Ông Thịnh tung hô “Đà Nẵng lại đi đầu cả nước trong cách nghĩ, cách đặt và giải quyết vấn đề.” Và ông làm ra vẻ hoảng hốt la lên: “Chúng ta bỗng giật mình vì tại sao đến bây giờ con cháu mình không hề được học, được hiểu về lịch sử Hoàng Sa, Trường Sa…?”

Ông Hà Văn Thịnh còn hỏi: “Tại sao chỉ có Đà Nẵng dạy cho học sinh học, còn học sinh cả nước thì chưa? Tại sao Bộ GDĐT lại chậm trễ đến như thế trong cách giáo dục lòng yêu nước và tinh thần dân tộc?”

Bộ GDĐT của CSVN không “chậm trễ” đâu, mà chính là vì Bộ này không thể qua mặt cái Bộ khác tuy là thứ Bộ không Bộ nào, nhưng lại cái Bộ cao chót vót đầy quyền lực đứng trên mọi thứ Bộ của nhà nước và cả Nhà nước. Nó cực kỳ to lớn, cực kỳ oai phong lẫm liệt. Quyền uy của nó là tột đỉnh. Tên nó là Bộ Chính Trị Đảng CSVN. Nó đóng vai trò đại chủ nhân, bao trùm, thống lãnh và “định hướng” mọi việc của đất nước, thậm chí tùy tiện định đoạt cả họa phúc (họa nhiều hơn phúc gấp bội) của toàn dân và của đất nước. Đến nỗi, một bản án dành cho một người dân về tội chính trị… không phải do Tòa Án hay một bộ phận nào của Cơ quan Tư pháp định đoạt, mà do Đảng áp đặt trước khi Tòa diễn tuồng xét xử.

Vụ bauxite Tây Nguyên là một trong vô số điển hình cho thấy quyền quyết định là ở Bộ Chính Trị Đảng CS, chứ không phải ở Quốc Hội hay Chính phủ. Chính phủ là nô bộc, Quốc hội là bù nhìn và “nhân dân” là rác rưởi, ngoài lề. Bộ Chính Trị là Thượng Đế!

Trong bài viết hồi năm 2009, chúng tôi đã khẳng định: Còn lâu Bộ Chính Trị mới để cho Bộ Giáo Dục & Đào Tạo mở chương trình chính khóa dạy lịch sử đảo Hoàng Sa cho học sinh cả nước. Việc dạy lịch sử đảo Hoàng Sa cho học sinh cả nước sẽ bắt buộc đụng chạm tới Đảng CSVN, đụng chạm tới quá trình phản quốc của đám cầm đầu Đảng và Nhà nước CSVN từ trước tới nay! Việc dạy lịch sử Hoàng Sa có nguy cơ đẩy Đảng tới chỗ tiêu vong khi mà chương trình dạy và học lịch sử ấy xuất hiện nơi học đường với những dữ kiện lịch sử đúng đắn trung thực. Bởi nó sẽ trở thành “gậy ông đập lưng ông” đánh vào Đảng CSVN và các cơ chế của đảng này!

Vì vậy, dạy và học lịch sử Hoàng Sa, Trường Sa là chuyện viển vông đối với chế độ CS.

Chủ tịch Huyện đảo Hoàng Sa đâu rồi?

Ngoài ra, trong bài viết năm 2009, chúng tôi cũng đã mạnh mẽ thách thức ông Đặng Công Ngữ và “Ủy Ban” của ông (UBND/Huyện đảo Hoàng Sa) hãy có những động thái tích cực để chứng tỏ tính “nhân dân” hàm chứa trong “trọng trách chủ tịch Huyện” của ông lẫn các thành viên trong cái UBND của ông là bởi dân, vì dân, với dân, cho dân.

Chúng tôi cũng thách thức cả những quan chức bên trên ông (Thành phố Đà Nẵng, Chính quyền Trung Ương, Bộ Chính Trị Đảng) dám ra tay cứu ngư dân và mạnh tay giành lại Hoàng Sa về cho chủ nhân đích thực của nó: Việt Nam.

Suốt 3 năm trường từ đó đến nay (2009-2012), “Chủ tịch” Đặng Công Ngữ lặn đâu mất. Cái UBND “huyện đảo” Hoàng Sa cũng chẳng được nhắc đến một lần nào trên các cơ quan truyền thông “luồng đảng”! Hay là Đặng Công Ngữ đã rinh cả cái UBND bề thế của ông “tập kết” ở một nơi bí mật nào đó trên quần đảo Hoàng Sa, mở căn cứ (mật khu) nằm vùng chống Tàu cứu nước? Nhưng chúng ta không nên ảo tưởng về một cuộc “trường kỳ kháng chiến” của ông Ngữ. Bởi vì:

Ông Đặng Công Ngữ trong tư cách Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa đã bày tỏ thái độ gì chưa trước sự kiện cái website http://www.vietnamchina.gov.vn là của chính phủ do Bộ Công Thương phụ trách đã để cho Trung Cộng thao túng ngang nhiên đăng tải những bài viết bằng tiếng Việt hay dịch sang tiếng Việt những nội dung ngợi ca những “thành tựu” của Trung Quốc cùng quảng bá chủ nghĩa bá quyền bành trướng của họ trên Biển Đông?

Cụ thể là lời tuyên bố của bà Khương Du, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Cộng, được trình bày nguyên văn tiếng Việt trên trang http://www.vietnamchina.gov.vn ngày 29/4/2009 rằng: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa] cùng vùng biển xung quanh. Trung Quốc và Việt Nam không tồn tại tranh luận đối với quần đảo Tây Sa.”

Trang web của Bộ Công Thương Việt Nam còn quảng bá lời tuyên bố của mụ Phương Du: “Cách làm kể trên của phía Việt Nam [tức là cách dựng nên UBND huyện đảo Hoàng Sa mà ông Ngữ được ủy thác làm chủ tịch] là trái phép và vô hiệu”?

Một quan chức Nhà nước CSVN (trong Bộ Công Thương) dõng dạc tuyên bố: “Trang web là của ta, nhưng Trung Quốc phụ trách.” Nói như vậy khác nào nói “Đất đảo là của ta, nhưng Trung Quốc sử dụng!”

Ông Đặng Công Ngữ có hành xử nhiệm vụ chủ tịch của ông chưa để điều tra “tàu vận tải nước ngoài” là tàu nào, của ai ngày 19/5/2009 đã đâm chìm một tàu đánh cá của ngư dân xã Bình Chánh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (tin từ báo Lao Động số 110 ngày 21/5/2009), tại khu vực đảo Hoàng Sa tức là vùng lãnh hải do ông Ngữ trách nhiệm “trấn thủ?”

Ông Ngữ có dám làm gì không trước việc Trung Quốc vừa ra lệnh nghiêm cấm các tàu nước khác “xâm phạm” vùng lãnh hải mà họ nói là thuộc chủ quyền của họ đồng thời ngăm đe “trừng phạt” tàu nước khác vi phạm lệnh cấm, khiến hàng trăm tàu thuyền lớn nhỏ của ngư dân Việt Nam phải nằm phơi tại các bến đỗ, và bản thân ngư dân cùng gia đình chờ chết đói? (Tuổi Trẻ & VietnamNet ngày 02/6/2009).

Trên thực tế, “nhiều vùng nằm trong khu vực cấm này thuộc lãnh hải Việt Nam và ngư phủ Việt Nam đã nhiều đời khai thác hải sản tại đây.” Trong khi đó, phía CSVN chỉ phát biểu lập lờ kiểu nước đôi mà Trung Quốc đã quen thuộc và chắc chắn là hài lòng! CSVN chỉ sợ tổn hại đến tình hữu nghị của hai đảng anh em, chứ đâu quan tâm gì tới chủ quyền VN trên các vùng lãnh hải và hải đảo ấy hay tới sự an nguy của ngư dân Việt Nam!.

Những điểm nêu trên đều xảy ra sau khi ông Ngữ nhận chức Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa. Ông câm như hến. Người dân có quyền nghi ngờ rằng cái chức chủ tịch của ông chỉ là chức giả, một thứ bánh vẽ dành cho bản thân ông và thành phố Đà Nẵng và thậm chí chỉ là trò bịp đối với nhân dân cả nước. Đồng thời, người dân cũng có quyền nghi ngờ về tính khả thi của lời ông Ngữ long trọng thề nguyền nhân lễ ‘nhậm chức’ của ông: “Với cương vị Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa tôi thấy rõ trách nhiệm của mình nặng nề hơn trước nhân dân. Đây là mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc, là máu thịt của tôi, của dân tộc và của tổ quốc mình. Nhiệm vụ trước mắt của chúng tôi là sẽ tiếp tục đấu tranh để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ biển đảo Việt Nam. Hoàng Sa là của Việt Nam.”

Từ cái ngày “lịch sử” điểm son của chế độ

Từ cái ngày “lịch sử” 25/4/2009, ngày báo chí luồng đảng đánh trống khua chiêng tung hô “sáng kiến” thành lập “Huyện đảo Hoàng Sa” và hết lời ca ngợi Đặng Công Ngữ “nhà lãnh đạo đầy năng lực của Huyện đảo Hoàng Sa tân lập…” đến nay đã hơn 3 năm, người dân chẳng hề nghe thấy Đặng Công Ngữ làm gì cho “huyện đảo” ông đang nắm quyền cai trị.

Trong khi đó Hoàng Sa của Việt Nam lại bị bọn Hán tộc bắc phương biến thành đặc khu quân sự của chúng! Ngày 19/7/2012, Quân ủy Trung ương Trung Cộng lại chính thức thành lập “Cơ quan chỉ huy quân sự” của cái gọi là “thành phố Tam Sa”, đặt căn cứ trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Chỉ hai ngày sau, ngày 21/7/2012, Trung Quốc lại tổ chức bầu cử “đại biểu Đại hội đại biểu Nhân dân khóa I của thành phố Tam Sa”. Chúng trịch thượng và hung hăng ra lệnh cấm cản, xua đuổi không cho Việt Nam khai thác dầu khí trong khu vực, để chúng ngang ngược độc quyền trải đầy dàn khoan làm thu đoạt tài nguyên dầu khí vốn là tài sản của Việt Nam. Chưa hết! Hàng ngàn, hàng vạn tàu đánh cá Trung Cộng ồ ạt tiến ra Biển Đông, dày đặc trong khu vực Hoàng Sa và Trường Sa, độc chiếm quyền vơ vét hải sản.

Từ ngày 25/4/2009 đến nay, biết bao tai họa dồn dập giáng xuống đầu ngư dân Việt Nam và gia đình họ. Thuyền bè của ngư dân Việt Nam kiếm sống trong hải phận Việt Nam không ngừng bị Trung Cộng xua đuổi, bắt bớ, bắn đắm… Quân Trung Cộng liên tục leo thang khiêu khích, xâm chiếm trái phép, cướp đoạt trắng trợn. Người dân cả nước ngóng trông “Chủ tịch” họ Đặng cùng cái “Ủy ban” của đương sự cũng như trông chờ vào đám cầm đầu thượng tầng từ thành phố Đà Nẵng (mà Huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc) tới Trung ương Đảng và Chính phủ.. Nhưng tất cả đều có vẻ như lặn sâu dưới đáy đại dương mênh mông. Chủ tịch Huyện đảo Hoàng Sa! Thôi đi! Đừng bày trò!

Thử tìm tung tích thế lực thù địch

Vì những mắc mướu với “đàn anh vĩ đại Trung Quốc”, nhà cầm quyền CSVN không thể nào “đồng lòng”, “đồng tâm”, “đồng thuận” với dân nước trong ý chí bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của quốc gia dân tộc. Đã vậy, họ còn quy chụp các cuộc xuống đường biểu tình của người dân bày tỏ lòng yêu nước chống quân xâm lược… là phản động, là chống phá, là thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Họ không còn chút “sĩ diện quốc gia”, quyết tiêu diệt tinh thần yêu nước của người dân! Họ ra sức truy bắt, đánh đập, tù đày bất kỳ ai tham gia hay cổ vũ biểu tình yêu nước!

Sử dụng “bạo lực cách mạng” (Công an và Quân đội) không hiệu quả và có thể bị quốc tế lên án, CSVN huy động côn đồ du đãng! Thậm chí lùa Công an và Quân đội ra đóng vai “quần chúng tự phát”… theo khung “xã hội đen”! Trong khi đó, với bọn ngoại xâm đích thị là kẻ thù của dân tộc, đích thị là thế lực thù địch đang sờ sờ tác oai tác quái trên quê hương từ biển đảo tới biên giới lẫn nội địa thì vẫn cứ “thắm thiết tình hữu nghị đời đời bất diệt”, vẫn “mãi mãi không quên ơn các đồng chí anh em luôn kề vai sát cánh”!

Trong bài viết “Công hàm 1958 Phạm Văn Đồng theo ‘lý giải’ của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam”, chúng tôi có trích dẫn lời trách cứ của Dương Danh Huy rằng: “Điều đáng buồn là thay vì nghiên cứu nghiêm túc nó có hiệu lực gì và tìm lý lẽ phản biện nó thì có khi người ta lại đem nó ra để phê phán nhau, v.v….” Ông Huy cảnh báo “người Việt không nên góp phần làm tăng giá trị tuyên truyền cho Trung Quốc.”

Chúng tôi xác nhận một lần nữa: TÁC NHÂN “làm tăng giá trị tuyên truyền” cho Trung Quốc chính là Công hàm 1958 và các tác giả của nó chứ không ai khác hay cái gì khác. Mỗi lần Biển Đông dậy sóng là mỗi lần Trung Cộng mang cái Công hàm ấy ra làm chứng cớ. Có nhục không? Có đau không?

Kết luận:

Như vậy, nói tới Công hàm 1958, chúng tôi không “nối giáo cho giặc” Trung Cộng, không tạo cho TC cái cớ để Trung Cộng xâm chiếm đất nước Việt Nam! Chính cái Công hàm ấy cùng các các giả của nó cũng như các văn kiện cắt đất nhượng biển khác cho quân xâm lược phương bắc mới là thủ phạm chính danh “nối giáo cho giặc”!

Nhà cầm quyền CSVN muốn giảm thiểu hay triệt tiêu giá trị của Công hàm ấy thì cứ tranh biện hơn thua với Trung Quốc đi!

Còn chúng tôi, người dân Việt, trong tư cách là thành phần của dân tộc và Tổ quốc Việt Nam, chúng tôi có quyền và có bổn phận phải vạch mặt chỉ tên kẻ phản quốc và hành vi bán nước của họ.

Với Tổ quốc và dân tộc Việt Nam, kẻ nào táng tận lương tâm đánh mất một phần chủ quyền lãnh hải hay lãnh thổ của đất nước, kẻ ấy phải chịu tội trước quốc gia và dân tộc! Tội ấy không nhỏ như vua Lê Thánh Tôn đã truyền: “Đem một thước sông, một tấc đất… làm mồi cho giặc, thì phải tội tru di!”

Cả Vua Trần Nhân Tôn cũng đã từng nêu rõ: “… Cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải… Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.”

Nguồn: Dân Làm Báo

——————————

Hãy coi đảng CSVN chỉ đạo chương trình giáo dục, ra lệnh cho giáo viên viết sách giáo khoa dạy lịch sử cho các học sinh VN lớp 3 như sau.

 

Hai Bà Trưng đánh giặc nào?

4-9-2012 Vietnamnet

Trước ngày nhập học, cháu gái tôi hầu như không rời mấy cuốn SGK còn thơm mùi giấy mới. Đang đọc say sưa bỗng nó chạy đến bên tôi, chỉ vào bài tập đọc Hai Bà Trưng (Tiếng Việt 3, tập 2, trang 4, 5) nói ông ơi, cháu đọc hoài mà vẫn không hiểu Hai Bà Trưng đánh giặc nào.

Biết ngay “mặt mày” kẻ xâm lược, nhưng nghĩ con bé đọc lớt phớt nên không nắm được nội dung, tôi chưa vội chia sẻ mà tranh thủ dạy cho cháu cách đọc sách. Rằng phải đọc từ từ cho thấm, kết hợp đọc với suy nghĩ, đừng đọc theo kiểu lấy được, lướt con mắt cho xong… Giờ cháu đọc lại đi. Làm gì có chuyện viết về khởi nghĩa Hai Bà Trưng mà không nêu đích danh giặc ngoại xâm.

Con bé nhăn mặt nói cháu đọc kỹ lắm rồi, vẫn không biết hai Bà đánh bọn xâm lược nào. Tôi nhổm dậy, cầm quyển sách, giương mục kỉnh lên. Và chợt ngớ ra: Lời con trẻ đúng quá. Bài học tuyệt không một chữ nào vạch mặt chỉ tên kẻ cướp mà toàn những danh từ nhợt nhạt, mập mờ, chung chung: tướng giặc, quân thù, giặc ngoại xâm, kẻ thù, quân xâm lược.

Viết về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc (năm 40 – 43) gắn với tên tuổi Hai Bà Trưng lừng lẫy nhưng SGK không hề dám nửa lời chỉ đích danh bọn xâm lược. Thậm chí cụm từ có tính hàm ngôn “phương Bắc” sách cũng không dám đặt sau cụm từ “kẻ thù”.

Vì sao SGK không cho các cháu biết quân giặc nào đã bắt tổ tiên của chúng lên non tìm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai, để phải làm mồi cho hùm beo, thuồng luồng, cá sấu?

Vì sao SGK không cho các cháu biết giặc ngoại xâm nào đã khiến “lòng dân oán hận ngút trời”?

Và vì sao SGK không nói rõ cho các cháu biết Hai Bà Trưng đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân xâm lược nào, chúng từ đâu đến?

Cốt lõi của lịch sử là sự thật. Mỗi dòng lịch sử nước ta đều được viết bằng mồ hôi và máu của nhiều thế hệ. Nên có thể nói mỗi trang sử là một mảnh hồn thiêng sông núi. Không thể chấp nhận bài học lịch sử… nửa vời với cách trình bày ngắc ngứ, lấp lửng, loanh quanh, thiếu minh bạch, nếu không muốn nói là né tránh, bưng bít như thế.

Ở Lạng Sơn từng xảy ra chuyện tấm bia kỷ niệm chiến thắng của bộ đội ta bị đục bỏ những chữ điểm tên chỉ mặt quân thù. Người ta đã đổ thừa cho mưa nắng, cho sức tàn phá của thời gian. Còn với SGK Tiếng Việt 3, người làm sách đổ thừa như thế nào? Người lớn sao lại làm khuất lấp tên tuổi kẻ thù của Hai Bà Trưng để trẻ con phải băn khoăn? Thật khó giáo dục HS niềm tự hào, lòng yêu nước khi SGK đã thiếu công bằng, thiếu trung thực đối với lịch sử.

Trong lúc hy vọng bài học này sẽ được các nhà làm sách trả lại sự phân minh trắng đen sòng phẳng, tôi phải nói ngay trước đôi mắt mở to của cháu tôi rằng bọn giặc xâm lăng nước ta bị Hai Bà Trưng đánh không còn manh giáp chính là giặc Hán (Trung Quốc).

Trần Cao Duyên
Bài đăng trên báo Thanh niên 4/9/12 : http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120903/bai-hoc-nua-voi.aspx

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/87108/hai-ba-trung-danh-giac-nao-.html

——————————

Các bài liên quan 

*Tư liệu lịch sử

Ai, những ai đang cõng rắn cắn gà nhà?

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

*http://danluan.org/taxonomy/term/3928

*Thái độ hững hờ và sự từ bỏ chủ quyền của Nhà nước và đảng CSVN đối với quần đảo Hoàng Sa đã làm cho một ông Pháp có quốc tịch Việt Nam ngạc nhiên, bàng hoàng và đau đớn, ông đi chiếu phim về Hoàng Sa ở nhiều nước Âu Châu, quyên tiền bạc giúp ngư dân VN thuộc đảo Lý Sơn, và tuyên truyền cho thế giới biết  sự ngang ngược và tàn ác của quân Trung Quốc đã đối xử với ngư dân VN. 

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát-La Meurtrissure-Painful Loss 

André Menras

Các bạn thân mến,

Tôi rất vui mừng báo tin với các bạn rằng, nhờ sự hỗ trợ kỹ thuật của một số thân hữu của tôi,  mà kể từ hôm nay, các bạn có thể  vào You Tube để xem trọn bộ phim” Hoang Sa Vietnam : La meurtrissure, Painfull loss, Noi dau mat mat” , phiên bản tiếng Việt.      

http://www.youtube.com/watch?v=sB8CnnRouyo

 

Bất chấp việc cấm đoán thô bạo của chính quyền ở TP. HCM , và sau đó là thái độ im lặng khó hiểu của họ khi tôi đề nghị được giải thích, bất chấp việc tôi không thể nào tiếp cận được với các giới chức đã trì hoãn buổi chiếu phim của tôi ở Hà Nội, cuối cùng bộ phim cũng được phổ biến rộng rãi cho mọi người Việt Nam trong nước cũng như trên toàn thế giới.

Không ai có thể ngăn chận mãi tiếng nói của sự thật!

Tôi hy vọng bộ phim mà tôi đã hoàn thành với tất cả tâm huyết này sẽ mang đến cho mọi người cái nhìn khái quát và chân thật về tình cảnh khốn khó và đầy hiểm nguy mà các ngư dân cùng người thân của họ đang phải đối mặt từng ngày, từ đó các bạn sẽ có hành động hỗ trợ về  tinh thần cũng như vật chất , nhằm góp phần xoa dịu nỗi đau thương mất mát của đồng bào ta.

Về phía mình, tôi long trọng cam kết sẽ là nhịp cầu nối đáng tin cậy cho hoạt động tương thân tương ái này, với sự đảm bảo và giúp sức tận tình của các bạn bè của tôi…

Hồ Cương Quyết, André Menras

Mời đọc thêm: + André Menras – Hồ Cương Quyết Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát (TN); + 518. Công an TPHCM ngăn chặn, cấm chiếu phim về Hoàng Sa;  + 523. Thư gửi Thành ủy, Ủy ban Nhân dân TPHCM;  + 533. Thư của ông Hồ Cương Quyết André Menras gửi Chủ tịch TPHCM; + Phim « Hoàng Sa, nỗi đau mất mát » và tâm tình của một người Việt gốc Pháp – (RFI).

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Tại sao Đảng CSVN không chôn cất HCM theo như di chúc?

Posted by hoangtran204 trên 04/09/2012

*Tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSSVN) không chôn cất ông HCM theo như di chúc mà sử dụng xác ông HCM  để vịn vào đó nắm quyền lãnh đạo đất nước. Mục đích  của họ là:

_chiếm lấy nguồn tiền xuất khẩu dầu hỏa 34 tỷ đô la/ 1 năm; (1)

_dành độc quyền nhập khẩu xăng để bán kiếm lời chia nhau 7 tỷ đô la mỗi năm; 

_tự ý gia tăng giá xăng dầu, mỗi đợt gia tăng giá xăng 5%, thì kiếm lời được 600 triệu đô la; (tất cả đảng viên đảng cộng sản từ cấp  UBND, quận ủy trở lên đều được cấp phát và sử dụng xe cơ quan, đổ xăng khỏi trả tiền, nên họ không quan tâm giá xăng cao hay thấp)

_dành quyền bán và xuất khẩu ga 4 tỷ đô la/ 1 năm

_dành quyền xuất khẩu than 23 triệu tấn mỗi năm (1);

_dành quyền khai thác và xuất khẩu gỗ 4 tỷ đô la/ 1 năm;

_dành độc quyền xuất khẩu thủy sản 7 tỷ đô la/ 1 năm;

_cà phê 4 tỷ đô la/ 1 năm;

_dành độc quyền mua bán vàng, kiều hối đô la 15 tỷ đô la/ 1 năm.

Đảng CSVN và nhà nước làm chủ tất cả 91 tập đoàn với hơn 12000 công ty quốc doanh có độc quyền sản suất và kinh doanh tất cả các ngành nghề nào béo bở, dễ kiếm tiền nhất trong xã hội.   

 The New York Times: Con cái cán bộ Đảng giàu sụ, nắm giữ đặc quyền, chiếm hết tài nguyên và nền kinh tế : là nguyên nhân gây ra Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn tại Việt Nam

Tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSSVN) sử dụng xác ông HCM là đã phản bội lại di chúc của ông, chà đạp lên lương tri và truyền thống đạo đức của dân tộc Việt, mà còn vi phạm pháp luật của chính họ tạo ra để cai trị dân chúng – một điều dường như ít ai chú ý.

Đảng CSVN sử dụng xác chết của Hồ Chí Minh trái với đạo lý và vi phạm pháp luật

Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà, nhà nước cộng sản đầu tiên tại Đông Nam Á.

Đúng 24 năm sau, cũng vào ngày 2/9, Hồ Chí Minh lìa trần, đi theo “cụ Các Mác, Lê Nin” (theo di chúc) để lại một nước Việt với một xã hội lạc hậu, bị đảo lộn và băng hoại các kỷ cương phép nước và các giá trị đạo đức, tệ hại hơn cả dưới thời thực dân Pháp.

Luận điểm trên của tôi đã được phân tích và chứng minh trong bài “2/9/1945 – 2/9/2012: Con đường đi từ “độc lập” tới nô lệ, và tôi tin rằng khó ai có thể bắt bẻ.

Khi vĩnh biệt trần gian, nếu ông Hồ Chí Minh lúc bấy giờ mang theo cả cái đảng của ông xuống mồ thì đỡ bất hạnh biết bao nhiêu cho dân tộc Việt!

Được như thế, hôm nay dân Việt khốn khổ đã không còn phải nghe có những lời ai oán, nghịch chướng của những người lỡ dại đi theo ông vì hoang tưởng và ngộ nhận, như ông Huỳnh Nhật Hải, cựu Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Lạt kiêm Thành ủy viên, rằng, “Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc”.

Còn cố Trung tướng Trần Độ, đã phải thốt lên trong cuốn “Nhật ký Rồng Rắn“:

“Cay đắng thay

Mỉa mai thay

Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt

Lại đúc nên chính bộ máy này”.

Nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tần Thuỷ Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung Quốc, cộng với tội ác của các chế độ phát xít, độc tài. Nó tàn phá cả một dân tộc, huỷ hoại tinh anh của nhiều thế hệ. Xét đến cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền. Vì không phải nó chỉ xâm phạm đến quyền sống cuả con người mà nó huỷ hoại cuộc sống rất nhiều người, đó là cuộc sống tinh thần, cuộc sống tư tưởng của cả dân tộc. Nó đang làm hại cả một nòi giống” – Cố trung tướng Trần Độ viết.

Trớ trêu thay, Hồ Chí Minh đã không mang theo được cái đảng của ông xuống mồ, mà đảng của ông vẫn tồn tại, ngày càng suy đồi, thoái hoá tỷ lệ thuận với sự hung bạo và sắt máu suốt gần nửa thế kỷ nay, kể từ ngày 2/9/1969, ngày ông qua đời. Trong khi đó, thân xác của ông còn bị họ sử dụng làm để phương tiện cho mục đích kinh doanh quyền lực.

Sử dụng xác ông, tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSSVN), người kế thừa ông, không những đã phản bội lại di chúc của ông, chà đạp lên lương tri và truyền thống đạo đức của dân tộc Việt, mà còn vi phạm pháp luật của chính họ tạo ra để cai trị dân chúng – một điều dường như ít ai chú ý.

Về khía cạnh thẩm mỹ và đạo đức

 Tôi viết về chủ đề này do tình cờ bắt gặp sự kiện được báo chí thế giới đưa tin liên quan tới Bạc Hy Lai, cựu Uỷ viên Bộ Chính Trị ĐCS Trung Quốc, cựu lãnh đạo thành phố Đại Liên.

Tòa án Trung Quốc hôm 20/8 đã tuyên án tử hình bà Cốc Khai Lai, vợ Bạc Hy Lai nhưng hoãn thi hành án trong 2 năm về tội giết hại doanh nhân người Anh, Neil Heywood.

Trong cuộc triển lãm “Nghệ thuật từ những xác chết” (Body Words) của bác sĩ người Đức Gunther von Hagens, diễn ra ngay tại thành phố Đại Liên, vào lúc mà những tin tức về phiên toà xử bà Cốc Khai Lai vẫn còn nóng, khách tham quan đã phát hiện và nghi ngờ về xác một người phụ nữ mang thai được trưng bày chính là Zhang Weijie, người tình cũ của Bạc Hy Lai, từng là nữ biên tập viên nổi tiếng và xinh đẹp của Đài Truyền hình Đại Liên, đã bị mất tích bí ẩn.

Bà Zhang đã có quan hệ tình cảm với chính trị gia họ Bạc vào năm 1998 và công khai thách thức bà Cốc Khai Lai sau khi phát hiện mình có thai.

Tấm hình chụp xác người phụ nữ mang thai của Gunther von Hagens, được tôi đưa lên Facebook và một số bạn đọc cho rằng, cái gọi là nghệ thuật của bác sĩ Gunther von Hagens rất phản cảm, dã man, độc ác và vô nhân tính.

Thực ra nhận định trên của người Việt cũng là nhận định chung của đa số dân chúng ở các nước trên thế giới.

Bác sĩ Gunther von Hagens, năm nay 67 tuổi, được báo chí thế giới đặt cho cái tên “Bác sĩ của Cái chết”, “Bác sĩ Tử thần” (Death Doctor).

Tính đến nay bác sĩ Gunther von Hagens đã thực hiện hơn 200 cuộc triển lãm “Bodies The Exhibition” với khoảng 26 triệu lượt khách tham quan. Nhưng bất kỳ ở đâu, tại New York, Las Vegas, Washington DC, London, Berlin, Warsaw, hay Barcelona, ​​đều thu hút nhiều tranh cãi, đôi khi chính quyền địa phương không cho phép mở, như là trường hợp ở Bavaria (Đức) hay người Ba Lan còn đệ đơn ra toà cáo buộc ông vi phạm các nguyên tắc vệ sinh, dịch tễ và sức khoẻ.

Công nghệ được bác sĩ Gunther von Hagens sử dụng gọi là “Plastination”, một quá trình phức tạp làm khô cơ thể của người hay động vật bao gồm loại bỏ các mô mỡ và nước, rồi nhúng vào chất polymer bão hòa để ngăn chặn quá trình huỷ hoại và sau đó có thể định hình cơ thể theo cách mà các “nghệ sĩ” muốn tạo ra các “tác phẩm”.

Vào ngày 28/5/2010 “Bác sĩ Tử thần” đã mở một cửa hàng có tên “Plastinarium” ở Guben, gần biên giới Ba Lan, trong đó có thể mua tất cả mọi thứ, từ xác khô của vịt, hươu cao cổ, cá sấu đến các bộ phận của con người. Ví dụ, bộ ngọc hoàn của đàn ông giá 360 euro (€), một mảnh đầu người khoảng 1.648 €, và mặt cắt ngang của cơ thể con người 16.484 €. Tờ báo Đức “Bild” gọi cửa hàng này là “Supermarket of Death”.

Gunther von Hagens ra quy định cho khách hàng của “Plastinarium” phải trên 16 tuổi và có trình độ thích hợp. Ông không có ý định bán cho mọi người qua đường và khách du lịch, mà là cho các bác sĩ, giáo sư, viện nghiên cứu khoa học và bệnh viện.

Các nhà phê bình chỉ trích mạnh mẽ ông cố ý gây sốc để kinh doanh nhưng ông luôn khẳng định công việc của mình phục vụ và thúc đẩy học tập, nghiên cứu khoa học, đặc biệt cho ngành y.

Hiện nay, đang đối diện với bệnh Parkinson, bác sĩ Gunther von Hagens tuyên bố sau khi chết muốn vợ mình, người đang phụ trách triển lãm “Body Words”, thực hiện công nghệ “Plastination” với cơ thể của ông và ông chào đón người tham quan.

Bác sĩ Gunther von Hagens và các tác giả của cuộc triển lãm nói rằng, xác người chủ yếu xuất phát từ cơ sở “Plastination” mà ông thiết lập tại Trung Quốc, và người chết đã đồng ý cho việc sử dụng. Tuy nhiên Tổ chức Nhân quyền Helsinki nghi ngờ nhà cầm quyền Trung Quốc buôn bán xác chết tù nhân bị án tử hình.

Bất luận lý giải nào của “Bác sĩ Tử thần” và cộng sự, thì dư luận chung cũng cho rằng, trưng bày xác chết là “tấn công vào phẩm giá con người”.

Giáo sư khoa học chính trị -xã hội Ba Lan, chuyên gia nghiên cứu về hiến pháp, Andrzej Zoll nói:

“Tạo ra một số quy tắc bất thường cho đám đông không phải là cách làm tốt. Trong trường hợp này không chỉ là sự vi phạm pháp luật, mà là một cái gì đó sâu sắc hơn nhiều. Trong nền văn minh của chúng ta, cơ thể con người là bất khả xâm phạm, là sự tôn trọng sâu xa đối với người đã chết. Không thể mổ xẻ cơ thể con người để làm vật trưng bày. Đặc biệt là trưng bày nó ở trung tâm đô thị. Điều này đáng sợ hơn là bị đột quỵ”.

Từ triển lãm của Gunther von Hagens đến Hồ Chí Minh

 Xét về bản chất của sự việc, những xác chết được bác sĩ Gunther von Hagens trưng bày chẳng khác bao nhiêu so với xác Hồ Chí Minh được trưng bày cho mọi người xem trong lăng Hồ Chí Minh ở Hà Nội.

Phát biểu của giáo sư Ba Lan Adrzej Zoll cũng rất đúng với tâm lý, tình cảm của người Việt sống theo triết lý văn hoá phương Đông, muốn người chết được yên nghỉ, siêu thoát, được mồ yên, mả đẹp.

Bất luận vì lý do gì đi nữa, hoặc vì bất kỳ lợi ích xã hội nào, kể cả cách lý giải của ĐCSVN rằng “thấy cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam và hải ngoại, bè bạn quốc tế, có điều kiện tới viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Bác” (*) thì sử dụng xác Hồ Chí Minh làm vật trưng bày, ĐCSVN đã và đang vi phạm pháp luật.

Theo Luật số 75/2006/QH11 về “hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác“, được Quốc hội CHXHCNVN khóa XI, thông qua ngày 29/11/2006, thì việc sử dụng cơ thể của Hồ Chí Minh sau khi chết đã vi phạm các khoản của điều 21 và 22:

Điều 21. Điều kiện lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết

a) Có thẻ đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết;

 c) Trường hợp không có thẻ hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết thì việc lấy phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó hoặc vợ, chồng hoặc đại diện các con đã thành niên của người đó.

Điều 22. Điều kiện lấy xác

2. Việc lấy xác được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

 a) Người chết có thẻ đăng ký hiến xác;

 b) Trường hợp người chết không có thẻ đăng ký hiến xác thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó hoặc vợ, chồng hoặc đại diện các con đã thành niên của người đó;

 Rõ ràng trong trường hợp Hồ Chí Minh, người chết không thuộc đối tượng cho phép lấy các bộ phận cơ thể và xác, vì chưa bao giờ thấy thông tin nào về Hồ Chí MInh có “thẻ đăng ký” hiến xác. ĐCSVN cũng chưa bao giờ công bố văn bản nào về sự đồng ý “của cha, mẹ hoặc người giám hộ, của vợ hoặc đại diện các con đã thành niên” của ông. Hơn thế, trong văn bản duy nhất của ông để lại là di chúc, thì ông đề nghị hoả thiêu.

Nếu nói rằng, Hồ Chí Minh là lãnh tụ của ĐCSVN, của dân tộc và thậm xưng rằng, việc ướp xác ông xuất phát từ ý nguyện của nhân dân, thì càng thể hiện rõ hơn sự lừa đảo, dối trá trắng trợn, bởi vì ĐCSVN chưa bao giờ hỏi ý dân (thông qua trưng cầu dân ý hoặc ít nhất tiến hành thăm dò dư luận xã hội rộng rãi và công bố cho công luận kết quả trước khi sử dụng xác Hồ Chí Minh). Thậm chí ngay cả khi nhân dân đồng ý thì cũng không đúng với các quy định của bộ luật đã nêu.

Mổ xẻ, lấy đi một số bộ phận cơ thể Hồ Chí Minh mang chôn một nơi, đã là việc làm ác độc, thất đức, vi phạm pháp luật, ĐCSVN còn tiếp tục vi phạm sâu hơn bằng xử lý hoá chất phần còn lại của cơ thể ông, đem trưng bày nơi công cộng, hoàn toàn không phải là “thể hiện tình cảm sâu đậm“, mà thực tế chẳng khác gì trưng bày xác chết của bác sĩ Gunther von Hagens trong “Bodies The Exhibition”, mà công luận chỉ trích.

Từ tất cả những phân tích trên, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa, sử dụng xác chết Hồ Chí Minh cho “trò chơi biểu tượng” phục vụ mục đích tuyên truyền chính trị ích kỷ, ĐCSVN đã cố tình tấn công vào các giá trị thẩm mỹ, đạo đức của người Việt, vi phạm pháp luật, làm khổ thân xác của Hồ Chí Minh, xúc phạm nghiêm trọng phẩm giá, danh dự của người chết và người thân trong gia đình.

Hãy chấm dứt trò chơi biểu tượng ngoại lai, phi pháp này!

Ngày 31 tháng 8 năm 2012

 © 2012 Lê Diễn Đức – RFA Blog

——————————————————

– Các tư liệu sử dụng trong bài được dẫn link chìm vào text tương ứng trong bài

-(*): Thông báo số 151-TB/TW ngày 19/8/1989 của Bộ Chính Trị, Nguyễn Thi: Lịch sử Việt Nam, trang 472 – Nxb Sudestasie, 1992).

————–

Thư của một nông dân gởi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

27-11-2011

Kính gởi: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng

Tôi tên là Huỳnh Kim Hải, một nông dân làm lúa ở tỉnh Đồng Tháp thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long, có viết một số bài báo để đòi hỏi quyền lợi của nông dân với bút danh Hoàng Kim ( Đồng Tháp).

Đầu thư, tôi kính chúc Tổng Bí thư và gia đình được nhiều sức khỏe.

Kính thưa Tổng Bí thư,

Thời Báo Kinh Tế Việt Nam Online cho biết trong buổi làm việc hôm 13/9 tại Trung ương Hội nông dân Việt Nam: “Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị các đại biểu làm rõ thêm nhiều vấn đề. Trong đó có chất lượng, tình hình công ăn việc làm, đời sống vật chất của nông dân; nhận thức, giác ngộ chính trị, ý thức làm chủ của nông dân ra sao, hiện nay nông dân đang có tâm tư, nguyện vọng, đòi hỏi gì đối với Đảng, Nhà nước?”.

Nông dân chúng tôi rất vui mừng, vì Tổng Bí thư quan tâm đến sản xuất, đến đời sống, và tâm tư nguyện vọng của nông dân chúng tôi.

Thế nhưng, đọc Kiến nghị của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam với Đảng, Nhà nước đăng trên báo Dân Việt Online, và một số báo khác, nông dân chúng tôi nhận thấy: ông Nguyễn Quốc Cường Chủ tịch Hội Nông dân, nói những điều mà Tổng Bí thư muốn nghe, chứ không phải những điều mà Tổng Bí thư cần phải biết.

Thưa Tổng Bí thư: nông dân chúng tôi hiện không có chỗ để nói, vì hội nông dân không phải của nông dân, vậy nếu muốn biết tình cảnh của nông dân xin Tổng Bí thư hãy đến cùng nông dân chúng tôi, xin hãy thân hành mà đến với nông dân để biết sự thật, còn nếu hỏi Hội Nông dân, hay những nông dân mà hội này giới thiệu thì Tổng Bí thư sẽ không bao giờ biết sự thật của nông dân

Vì vậy, tôi mạo muội viết bức thư này gởi đến Tổng Bí thư, như là một sự phản ảnh, báo cáo từ thực tế, như là một sự giải bài của nông dân với lãnh đạo, với mong muốn: nói cho Tổng Bí thư hiểu rỏ về tình cảnh của nông dân hiện nay; trong mong ước: từ thực tế mà nông dân chúng tôi trình bài, Tổng Bí thư hoàn chỉnh Nghị Quyết Tam Nông để giúp nông dân thoát nghèo.

Ông bà chúng ta nói rằng: “ sự thật mất lòng”. Sự thật thường khó nghe. Vì thế, xin Tổng Bí thư tha lỗi vì những sự thật đầy bức xúc mà tôi trình ra đây.

Kính thưa Tổng Bí thư,

Tôi xin được trình lên Tổng Bí thư một thực trạng đáng buồn trong việc sản xuất và tiêu thụ lúa gạo: Chính phủ đã bỏ rơi nông dân, nên nông dân đang “tự bơi” trong một nền nông nghiệp tự phát, dưới sự bóc lột của các nhóm lợi ích là các hiệp hội ngành hàng, còn Hội Nông dân không phải của nông dân nên không quan tâm bảo vệ quyền lợi cho nông dân. Tôi xin được trình bày cụ thể:

Chính phủ bỏ rơi nông dân.

Là một người làm lúa trên 20 năm, tôi xin được thưa với Tổng Bí thư rằng: từ trước đến nay, nông dân chúng tôi hầu như không nhận được những chính sách phát triển lúa gạo có hiệu quả nào từ Chính phủ, những chính sách của Chính phủ chỉ dừng lại ở mức độ xóa đói giảm nghèo.

Chính phủ nói nhiều đến việc cơ giới hóa sản xuất lúa từ 20 năm nay, nhưng Chính phủ không hề có chính sách chế tạo máy móc để cơ giới hóa:

Về khâu làm đất nông dân chúng tôi gian nan trong thời gian dài vì thiếu sức kéo, đến khi máy kéo loại nhỏ, đã qua sữ dụng, giá rẻ của Nhật Bản được nhập qua, phù hợp với túi tiền của nông dân, chúng tôi mới cơ giới hóa được khâu làm đất.

Về việc cơ giới hóa khâu thu hoạch cũng vậy, Chính phủ đề ra việc cơ giới hóa khâu thu hoạch, nhưng không có kế hoạch chế tạo máy gặt đập liên hợp, khi hảng Kubota qua Việt Nam bán máy gặt đập liên hợp vài năm gần đây, việc cơ giới hóa khâu thu hoạch mới phát triển mạnh mẻ.

Nếu Tổng Bí thư hỏi ông Bộ trưởng Bộ Công thương rằng Việt Nam ta đang xuất khẩu hằng năm loại gạo gì số lượng và chủng loại ra sao, tôi dám chắc ông Bộ trưởng Bộ Công thương không trả lời được, vì hiện nay, Hiệp hội lương thực Việt Nam mua gạo từ thương lái, rồi trộn lẩn các loại gạo với nhau, để xuất với tên gọi gạo trắng hạt dài, phân biệt bởi phần trăm tấm.

Nếu Tổng Bí thư hỏi ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc qui hoạch cơ cấu giống lúa cho nông dân, ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng sẽ không trả lời được, vì Bộ Nông nghiệp có biết chủng loại và số lượng gạo xuất khẩu hằng năm ra sao mà lập kế hoạch cơ cấu giống, với lại, Bộ Nông nghiệp cũng chẳng biết giá từng loại lúa thay đổi ra sao vào vụ thu hoạch sắp tới, thì làm sao mà dám quy hoạch cơ cấu giống, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ khuyến cáo nông dân cách chọn giống trên báo, trên đài còn nông dân nghe hay không tùy ý.

Không những không có chính sách phát triển sản xuất, việc bán lúa gạo giúp cho nông dân Chính phủ cũng không làm được.

Chính phủ giao toàn quyền mua bán lúa gạo cho Hiệp hội lương thực Việt Nam là một hiệp hội ngành hàng hoạt động vì lợi nhuận, thế nên, Hiệp hội lương thực Việt Nam bán gạo xuất khẩu với giá rẻ nhất thế giới, rồi quay vào mua lúa tạm trữ của nông dân với giá rẻ như lấy không.

Ngày 4/11/2010 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Nghị định số 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, có hiệu lực từ ngày 1/1/2011. Nông dân chúng tôi xin thưa với Tổng Bí thư rằng đây là một Nghị định quan liêu và vô trách nhiệm đối với quyền lợi của nông dân, vì Nghị định không hề quan tâm đến giá bán gạo xuất khẩu và giá thu mua lúa, tức là không quan tâm đến thu nhập của nông dân.

Nghị định quan liêu vô trách nhiệm này có hiệu lực từ ngày 1/1/2011, vậy mà mãi cho đến ngày 17/6/2011 Bộ Tài chính mới ban hàng Thông tư số 89/2011/ TT-BTC về cách tính giá sàn xuất khẩu gạo, nhưng phải tới 1/8/2011 mới có hiệu lực. Như vậy từ ngày 1/1/2011 đến ngày 1/8/2011 giá sàn xuất khẩu gạo do ai tính và tính ra sao? Từ ngày 1/8 đến nay cũng không thấy ai công bố giá sàn gạo xuất khẩu cả.

Thông tư số 89/2011/TT-BTC là hổn mang của những ẩn số không đầu không đuôi, tôi dám cam đoan với Tổng Bí thư là chẳng thể dựa vào 2 cách tính trong Thông tư này để tính được giá sàn xuất khẩu gạo.

Không những không giúp được nông dân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Chính phủ lại bắt nông dân chúng tôi dùng thu nhập còm cỏi của mình để chống lạm phát cho Chính phủ, bằng cách khống chế giá lúa gạo để chống lạm phát.

Việt Nam và Thái Lan xuất khẩu trên 50% lượng gạo thế giới, Thái Lan từ nhiều năm nay, nhiều lần đề nghị hợp tác với Việt Nam để ấn định giá bán gạo trên thị trường thế giới, vậy mà, Chính phủ Việt Nam luôn từ chối. Năm nay, Chính phủ Thái Lan nâng mức múa lúa cho nông dân Thái Lan lên khoảng 500 đô la Mỹ/ tấn, vậy mà Việt Nam năm 2011 này vẫn bán gạo với giá khoảng 500 đô la Mỹ/ tấn.

Tôi xin trình lên Tổng Bí thư phát biểu của ông Nguyễn Thành Biên Thứ trưởng Bộ Công thương, kiêm Tổ trưởng Tổ xuất khẩu gạo của Chính phủ, để Tổng Bí thư hiểu vì sao Chính phủ Việt Nam không hợp tác với Chính phủ Thái Lan ấn định giá bán gạo xuất khẩu: “ Trong những tháng cuối năm, mục tiêu kiềm chế lạm phát là quan trọng nên điều hành lúa gạo phải hướng tới mục tiêu này, không thể chạy theo mục tiêu đảm bảo có lãi cao cho nông dân”.

Nông dân đang tự bơi.

Bị Chính phủ bỏ rơi, nên nông dân chúng tôi phải “tự bơi” để sản xuất, mà “ tự bơi” thì cực khổ, thiệt hại kể làm sao cho xiết!

Trình độ học vấn cấp 1, cấp 2 mà phải lao vào nghiên cứu cải tiến máy móc để phục vụ sản xuất: nông dân làm máy cấy, nông dân làm máy gặt đập liên hợp, nông dân làm máy phun thuốc trừ sâu, nông dân làm máy tách vỏ dừa, nông dân làm máy tách vỏ đậu phọng… thì thất bại ê chề mà thành công hạn hữu.

Thế nhưng, khi thành công cũng không được lợi ích gì.

Tôi xin được lấy việc chế tạo máy gặt đập liên hợp làm thí dụ: phải có tài năng và dũng cảm chấp nhận hao công, tốn của nông dân mới có thể làm ra được máy gặt đập liên hợp, nhưng do thực hiện thủ công với vật liệu tự tìm nên hay hỏng hóc trong quá trình sữ dụng. Thế rồi, hảng Kubota vào Việt Nam sản xuất máy gặt đập liên hợp, máy được sản xuất hàng loạt, vật liệu có độ bền cao, sữ dụng ít hỏng hóc, dể mua phụ tùng, nên dù giá cao vẫn chiếm lĩnh thị trường.

Từng nông dân sản xuất thủ công, cạnh tranh với hảng Kubota nổi tiếng, khác nào trứng chọi với đá. Và như vậy công sức của nông dân chế tạo máy gặt đập liên hợp dù thành công, đã đổ xuống sông xuống biển, vì không thể cạnh tranh nổi với máy của hảng Kubota.

Thưa Tổng Bí thư. Vào năm 2004, Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã Thái Lan đã soạn thảo chiến lược lúa gạo giai đoạn 2004- 2008. Đây là chiến lược nhằm hoạch định đường lối nâng cao hiệu quả phát triển lúa gạo của Thái Lan trong những năm trước mắt. Bản dự thảo gồm 5 lĩnh vực: 1/ Nâng cao năng suất; 2/ Nâng cao giá trị; 3/ Tiếp thị quy mô toàn cầu; 4/ Đảm bảo đời sống người lao động và tránh rủi ro; 5/ Nâng cao hiệu quả dịch vụ.

Còn ở Việt Nam, từ trước đến nay: trồng giống gì, và bán ra sao là tự nông dân.

Do Bộ Công thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không biết mỗi năm bán loại lúa gì số lượng ra sao, nên nông dân chúng tôi đang phải tự chọn giống lúa theo kiểu hên xui để gieo sạ. Tôi xin lấy thí dụ: lúa thơm Jasmin 85 có năm hơn lúa ngang IR 50404 đến 1.500 đồng/ kg, nhưng có năm chỉ hơn 200 đồng/ kg.

Cho nên nông dân hiện đang chọn giống gì, trồng cây gì: cũng chết!

Sản xuất đã tự bơi còn việc tiêu thụ sản phẩm lại thê thảm hơn. Nông dân làm ra lúa gạo, nhưng không có quyền ấn định giá mua bán lúa gạo.

Hiệp hội lương thực Việt Nam được Chính phủ giao độc quyền mua bán lúa gạo, lại luôn bán gạo xuất khẩu với giá rẻ nhất thế giới, rồi quay trở vào trong nước bài kế mua lúa tạm trữ, để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân.

Thưa Tổng Bí thư. Xuất khẩu gạo mà không có kho chứa lúa gạo thì làm sao điều tiết được quá trình xuất khẩu, làm sao giữ lúa gạo chờ giá, làm sao không bị khách hàng ép giá. Vậy mà, dù xuất khẩu gạo trên 20 năm nhưng Việt Nam không xây dựng đủ kho chứa lúa.

Thiếu kho chứa lúa, nhưng sì lô chứa lúa gạo hiện đại được xây dựng ở Phường 11 thị xã Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp từ khi xây dựng lại bị bỏ hoang, đến hôm nay xi lô chứa lúa đã biến thành Xí nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản Sông Tiền.

clip_image002

Xi lô hiện đại ỏ Đồng Tháp đã biến thành xí nghiệp thức ăn thủy sản.

Chính phủ các nước nhập khẩu gạo (điển hình là Philippines) trực tiếp điều hành việc nhập khẩu, với mục đích hạ giá gạo nhập khẩu. Chính phủ các nước xuất khẩu gạo ( điển hình là Thái Lan) cũng trực tiếp điều hành việc xuất khẩu mục đích là nâng cao giá bán gạo, còn ở Việt Nam, Chính phủ giao toàn quyền xuất khẩu gạo cho Hiệp hội lương thực Việt Nam, thế nhưng, Hiệp hội lương thực Việt Nam do thu lợi nhuận đầu tấn nên không quan tâm gì đến giá bán gạo xuất khẩu, như vậy, chẳng khác nào Chính phủ Việt Nam đang bắt từng nông dân phải cạnh tranh trong xuất khẩu gạo với Chính phủ các nước.

Là nước xuất khẩu gạo mà Chính phủ chẳng có cơ quan nào thực hiện việc phân tích và dự báo giá lúa gạo thế giới, chẳng có kho bải để trữ lúa gạo chờ giá, Chính phủ giao hết việc mua bán lúa gạo cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam, mà Hiệp hội Lương thực Việt Nam chỉ biết bán lúa gạo theo kiểu sang tay, chẳng biết phân tích dự, báo giá gì cả.

Hay nói một cách hình tượng hơn: với cơ chế xuất khẩu gạo hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang xô nông dân Việt Nam ra biển lớn trên xuồng ba lá.

Nền nông nghiệp Việt Nam đang tự phát.

Chúng ta có một nền nông nghiệp, mà trong đó Chính phủ không có các chính sách phát triển nông nghiệp, Chính phủ giao cho các hiệp hội ngành hàng độc quyền mua bán lúa gạo, nông sản của nông dân, đổi lại, các hiệp hội ngành hàng khống chế giá lúa gạo, nông sản để giúp Chính phủ kiềm chế lạm phát.

Trong nền nông nghiệp Việt Nam hiện nay, các hiệp hội ngành hàng tước đoạt hết lợi nhuận của nông dân.

Được độc quyền các hiệp hội ngành hàng xuất khẩu nông sản ở dạng thô để ăn chênh lệch đầu tấn, mà không hề quan tâm đến việc nâng cao giá trị nông sản, không xây dựng các nhà máy chế biến, không xây dựng kho bải, không tạo thương hiệu cho nông sản.

Việt Nam có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới như: gạo, cà phê, cao su, tiêu, điều… thế nhưng trên 90% hàng nông sản xuất khẩu ở dạng thô, giá rất rẻ so với giá mặt hàng cùng loại của nước khác.

Điển hình như gạo, Việt Nam xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, thời gian xuất khẩu trên 20 năm, nhưng luôn bán gạo với giá rẻ nhất thế giới, thường xuyên rẻ hơn gạo cùng loại của Thái Lan Từ 100 – 150 đô la Mỹ/ tấn. Vậy mà, Chính phủ chưa hề đề ra bất cứ chính sách nào để tăng giá trị hạt gạo.

Trồng cây gì, nuôi con gì điều do nông dân tự ý chọn lựa, bán được hay không là do hên xui, may nhờ rủi chịu, chứ nền nông nghiệp không phát triển dựa trên kế hoạch nào cả, chính phủ không đề ra được bất cứ chính sách phát triển nông nghiệp nào cả.

Khi có dịch bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa, các bộ ngành và các nhà khoa học điều đồng loạt khuyến cáo không nên trồng lúa vụ 3 để cắt dịch bệnh. Thế nhưng hiện nay, diện tích lúa vụ 3 đã tăng lên khoảng 600.000 ha.

Tại sao lại đắp đê để độc canh 3 vụ lúa bấp bênh? Tại sao không thực hiện 2 vụ lúa 1 vụ màu?

Trồng không biết nên trồng giống gì, cây gì. Nuôi không biết nên nuôi con gì. Bán cũng không biết sẽ bán cho ai, giá cả ra sao. Đó là thực trạng của nền nông nghiệp Việt Nam.

Các hiệp hội ngành hàng tước đoạt hết lợi nhuận của nông dân.

Chính phủ phát triển nông nghiệp bằng cách dựa hẳn vào các hiệp hội ngành hàng, bắt các hiệp hội ngành hàng làm thay nhiệm vụ cùa Chính phủ, đổi lại, Chính phủ cho phép hiệp hội ngành hàng độc quyền mua bán các sản phẩm nông nghiệp, vì thế, lợi dụng sự độc quyền này, các hiệp hội ngành hàng tước đoạt hết lợi nhuận của nông dân.

Tôi xin được phép trình lên Tổng Bí thư cách thức buôn bán lúa gạo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam. ( Hiệp hội Cà phê Ca cao hoạt động rất giống với Hiệp hội Lương thực Việt Nam)

Hiệp hội lương thực Việt Nam luôn bán gạo với giá rẻ nhất thế giới:

Báo Tuổi Trẻ Online cho biết: “Trong vòng 5 năm 2001-2005 “giá của chúng ta chỉ bằng gần 80% giá bình quân thế giới (220USD/tấn). Đó là giá bán “bèo” nhất trong số 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới (xét theo khối lượng) theo thứ tự là Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Pakistan”.

Năm 2006, trong một bài trả lời phỏng vấn trên báo VnExpress, ông Trương Thanh Phong, Tổng giám đốc công ty Lương thực miền Nam kiêm Chủ tịch VFA, cho biết: “Chỉ trong một thời gian ngắn từ mức giá hơn 260 USD/tấn, loại gạo 5 % tấm liên tục rớt giá và hiện được doanh nghiệp ký bán với giá chỉ 242 – 245 USD/tấn. trong khi giá thành loại gạo này lên đến 248 USD/tấn.”

Năm 2008, ngừng xuất khẩu gạo vì lý do an ninh lương thực, giá gạo xuất khẩu giảm, theo các chuyên gia nông dân thiệt khoảng nữa tỷ đô la Mỹ.

Ngày 21.8.2009 báo Lao Động Online cho biết: “Nghịch lý ở chỗ “làm chủ” thị trường gạo, nhưng hiện giá gạo của ta vẫn thấp nhất thế giới…”.

Bán gạo giá đã rẻ nhất thế giới, nhưng không mua lúa cho nông dân từ giá bán gạo này, Hiệp hội Lương thực Việt Nam bài mưu mua lúa tạm trữ, để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân:

Năm 2008 Hiệp hội Lương thực Việt Nam bán gạo xuất khẩu giá qui ra giá lúa 6.432 đồng/ kg, mua lúa nông dân với giá 4.000 đồng/ kg. Hiệp hội lời 2.432 đồng/kg, nông dân bán lúa hòa vốn.

Năm 2009, bán gạo xuất khẩu qui lúa giá 6.362 đồng/ kg, mua lúa của nông dân với giá 4.000 đồng/ kg. Hiệp hội lời 2.362 đồng/ kg, nông dân hòa vốn.

Năm 2010, Hiệp hội Lương thực Việt Nam mua lúa tạm trữ cả hai vụ đông xuân và hè thu với giá vẫn 4.000 đồng/ kg, nhưng bán gạo với giá qui lúa 5.365 đồng/ kg, cả năm này, nông dân lời không đủ sống.

Thật là đau xót khi thưa với Tổng Bí thư rằng: chỉ cần Chính phủ lãnh đạo việc mua bán lúa gạo hiệu quả thì từ năm 2008 đến nay, nông dân luôn bán lúa với giá khoảng 6.000 đồng/ kg chứ không phải trồi sụt ở mức 4.000 đồng/ kg như hiện nay.

Cùng là mặt hàng bình ổn nhưng khi phân bón tăng giá Chính phủ chẳng hề bình ổn, Hiệp hội phân bón muốn tăng giá bao nhiêu thì tăng.

Thuốc bảo vệ thực vật cũng vậy các công ty, xí nghiệp muốn tăng bao nhiêu thì tăng Chính phủ chẳng kiểm tra kiểm soát gì cả.

Hội Nông dân là của Nhà nước nên chẳng quan tâm gì đến nông dân.

Mua bán lúa gạo Hiệp hội Lương thực Việt Nam độc quyền, có 21 vị ủy viên ấn định giá lúa gạo. Mua bán cà phê có Hiệp hội Cà phê Ca cao độc quyền, có 20 vị trong câu lạc bộ 20 ấn định giá mua bán cà phê.

Hội Nông dân đại diện cho tất cả nông dân trồng nhiều loại cây và nuôi nhiều loại con, thế nhưng Hội Nông dân là của Nhà nước chứ chẳng phải của nông dân.

Thực tế hiện nay, cơ quan làm việc của Hội Nông dân do Nhà nước cấp, nhân sự do Nhà nước bổ nhiệm, tiền lương do Nhà nước phát, công việc do Nhà nước phân công, cho nên, Hội Nông dân chỉ làm những việc có tính phong trào, mà không quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ quyền lợi của nông dân trong kinh tế thị trường.

Ở địa phương tôi, năm 1998, UBND xã đến tận nhà phát cho một số nông dân thẻ hội viên Hội Nông dân, rồi từ đó đến nay không hề họp hội gì cả, bản thân tôi đã 20 năm làm lúa mà không biết mình có phải là hội viên Hội Nông dân hay không.

Do lãnh đạo hội nông dân là nhân viên của Nhà nước, nên Chính phủ làm sao họ để vậy, không bao giờ dám có ý kiến bảo vệ quyền lợi cho nông dân: Chính phủ khống chế giá lúa gạo để chống lạm phát lãnh đạo Hội nông dân nghe theo, Hiệp hội Lương thực Việt Nam bài ra việc mua lúa tạm trữ để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân, Hội Nông dân làm thinh…

Trong kinh tế thị trường, Hội Nông dân không bảo vệ quyền lợi của nông dân thì ai sẽ bảo vệ quyền lợi cho nông dân? Hội Nông dân không phản ảnh tâm tư nguyện vọng của nông dân lên Đảng và Nhà nước, thì làm sao Đảng và Nhà nước biết tâm tư nguyện vọng của nông dân?

Thưa Tổng Bí thư. Tôi đã trình lên Tổng Bí thư thực trạng bi đát: nông dân đang càng ngày càng nghèo, và sự tự phát của nền nông nghiệp với biểu hiện xuất khẩu thô nông sản.

Với mong ước Tổng Bí thư thay mặt Đảng và Nhà nước thực hiện thành công Nghị Quyết Tam Nông, tôi xin được đề đạt lên Tổng Bí thư tâm tư, nguyện vọng và những yêu cầu của nông dân đối với Đảng và Nhà nước.

Xin Tổng Bí thư thay đổi tư duy của Chính phủ.

Xin Tổng Bí thư thay đổi tư duy của Chính phủ, làm cho Chính phủ thực sự quan tâm đến quyền lợi của nông dân, đến sự phát triển của nền nông nghiệp, đến việc thực hiện Nghị Quyết Tam Nông.

Chính phủ hiện nay có tư duy khống chế giá lúa gạo để chống lạm phát ( khống chế cả giá lương thực, thực phẩm), vì thế, Chính phủ để cho Hiệp hội lương thực Việt Nam bán gạo với giá rẻ nhất thế giới, và mua lúa của nông dân với giá thấp như lấy không. Xin Tổng Bí thư xóa bỏ tư duy khống chế giá lúa gạo của Chính phủ.

Thái Lan đang thực hiện chính sách mua lúa giá cao cho nông dân, nhưng vẫn đảm bảo cho người ăn gạo, vẫn đảm bảo chống lạm phát, chứ đâu có khống chế giá lúa gạo như Chính phủ Việt Nam.

Chính phủ có tư duy bao đồng trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho thế giới: sang Campuchia rồi sang châu Phi lập liên doanh trồng lúa, để dạy các nước trồng lúa, mà không nghĩ đến việc sẽ thu hẹp thị trường xuất khẩu gạo của nông dân và tạo thêm đối thủ cạnh tranh xuất khẩu gạo cho nông dân Việt Nam. Xin Tổng Bí thư nghiêm cấm mọi hoạt động lập liên doanh dạy nước ngoài làm lúa.

Xin Tổng Bí thư thay đổi cơ chế mua bán lúa gạo bất nhân, bất trí, và bất lương hiện nay.

Cơ chế mua bán lúa gạo hiện nay mà Chính phủ giao cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam thực hiện: bất nhân vì làm cho nông dân càng ngày càng nghèo, bất trí vì bán gạo với giá rẻ nhất thế giới, bất lương vì ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân. Xin Tổng Bí thư tháo ách bốc lột của Hiệp hội lương thực Việt Nam với nông dân mà Chính phủ đang quàng lên cổ nông dân.

Điều kiện tiên quyết để xuất khẩu gạo thành công là phải có kho bải liên hợp với nhà máy xay lúa và máy sấy. Không có đủ kho bải chỉ nói thánh nói tướng cho vui chứ Chính phủ không thể lãnh đạo được xuất khẩu gạo.

Xin Tổng Bí thư trả lại Hội Nông dân cho nông dân.

Điều kiện tiên quyết để Hội Nông dân của nông dân là: lãnh đạo Hội Nông dân phải do nông dân bầu ra, lương do nông dân cấp phát.

Hội Nông dân phải là của nông dân mới bảo vệ được quyền lợi của nông dân trong kinh tế thị trường.

Lãnh đạo Hội Nông dân phải là nông dân hoặc những chuyên gia am tường về nông nghiệp có thiện ý với nông dân, có hai người thích hợp lãnh đạo hội nông dân đó là: Giáo sư Võ Tòng Xuân (đối ngoại) và Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT (đối nội).

Hiện nay, lãnh đạo Hội Nông dân do Chính phủ phân công, tiền lương do Chính phủ trả, cơ quan do Chính phủ cấp, thế nên Hội Nông dân là của Chính phủ chứ chẳng phải của nông dân.

Xin Tổng Bí thư trả Hội Nông dân lại cho nông dân, và giúp đở Hội nông dân của nông dân hoạt động hiệu quả trong cơ chế thị trường.

Cụ thể hơn, xin Tổng Bí thư giúp thành lập Hiệp hội của những người trồng lúa để bảo vệ quyền lợi cho người nông dân trồng lúa chúng tôi.

Xin Tổng Bí thư xóa bỏ việc độc quyền của các hiệp hội ngành hàng đối với lúa gạo và nông sản.

Hiệp hội Lương thực Việt Nam độc quyền mua bán lúa gạo nên năm nào cũng ép giá, thắt hầu bóp cổ nông dân. Hiệp hội phân bón và các công ty thuốc bảo vệ thực vật năm nào cũng tăng giá sản phẩm để móc túi nông dân.

Nếu không xóa bỏ sự độc quyền ép giá của các hiệp hội này, nông dân chúng tôi sẽ không ngóc đầu lên nổi.

Xin Tổng Bí thư xóa bỏ độc quyền của các hiệp hội ngành hàng và có cơ chế kiểm tra, giám sát về giá đối với phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.

Xin Tổng Bí thư ra lệnh tổng kiểm toán để biết lợi nhuận hàng năm của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Hiệp hội Phân bón, và các công ty sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, từ đó thu lại lợi nhuận bất chính mà các hiệp hội này đã tước đoạt của nông dân. ( như năm 2008 Hiệp hội Lương thực Việt Nam bán lúa giá 6.432 đồng nhưng mua lúa của nông dân có 4.000 đồng/ kg).

Xin Tổng Bí thư xem xét hình mẫu mà Chính phủ Thái Lan lo cho nông dân Thái Lan. Xin Tổng Bí thư buộc Chính phủ Việt Nam phải trực tiếp điều hành mua bán lúa gạo vì quyền lợi của nông dân như Chính phủ Thái Lan đang làm.

Xin Tổng Bí thư yêu cầu Chinh phủ đưa ra các chính sách phát triển nông nghiệp và xuất khẩu nông sản hiệu quả.

Việc sản xuất lúa nói riêng và nền nông nghiệp Việt Nam nói chung đang phát triển theo kiểu tự phát. Xin Tổng Bí thư yêu cầu Chính phủ đề ra chiến lược lúa gạo và những chính sách phát triển nông nghiệp hiệu quả.

Để phát triển nông nghiệp, Chính phủ phải có những chính sách cụ thể, chứ không thể dựa hoàn toàn vào các hiệp hội ngành hàng.

Các chính sách phát triển nông nghiệp dài hạn là cần thiết, nhưng phải có những chính sách ngắn hạn kèm theo, chính sách phát triển nông nghiệp mà đưa ra cho tới năm 2030, nhưng không biết năm 2012 làm gì, thì cũng như không, do chẳng ai kiểm tra được.

Xin Tổng Bí thư cho phép nông dân quyền sở hữu ruộng đất của mình

Hiện nay, quyền sữ dụng đất của nông dân chúng tôi cũng tương đương với quyền sở hữu: nông dân có quyền mua bán, trao đổi, cho tặng… Thế nhưng, đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước.

Trước đây, Việt Nam chỉ kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, mọi tư liệu sản xuất đều là của nhà nước, nên đất đai thuộc sở hữu nhà nước là điều hợp lý.

Nông dân chúng tôi làm lúa, sau khi để lại đủ ăn cho đến thu hoạch vụ sau, số lúa dư bán cho nhà nước và nhận tem phiếu để mua các mặt hàng nhu yếu phẩm. Nông dân đi học, đi bệnh viện không tốn tiền.

Nay, mọi tư liệu sản xuất đã được tư hữu hóa, nông dân phải bỏ tiền ra mua mọi mặt hàng nhu yếu theo giá thị trường, đi học, đi bệnh viện phải tốn tiền, vậy giữ nguyên quy định đất đai thuộc sở hữu Nhà nước tức là không công bằng đối với nông dân.

Mọi thành phần kinh tế điều có quyền tư hữu về tư liệu sản xuất, công nhân có quyền tư hữu xí nghiệp và nhà máy thông qua hình thức cổ phần, nhà tư bản được quyền tư hữu nhà máy và xí nghiệp, vậy tại sao nông dân không có quyền tư hữu về tư liệu sản xuất là ruộng đất của mình?

Mọi thành phần kinh tế điều là hữu sản, tại sao chỉ có nông dân vẩn là vô sản?

Nhà nước lớn sở hữu ruộng đất của nông dân chúng tôi, thì cũng không khác gì nông dân sở hữu, thế nhưng, Nhà nước nhỏ tức chính quyền cấp xã, huyện, tỉnh sở hữu ruộng đất của chúng tôi, chính là nguyên nhân sinh ra dân oan, dân khiếu kiện đông đúc hiện nay, vì nhà nước nhỏ rất khó thoát khỏi tham nhũng từ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân.

Còn nếu ngại khi nông dân được tư hữu hóa ruộng đất sẽ gây khó khăn cho việc quy hoạch và phát triển công nghiệp, phát triển thành thị là một lo ngại không đúng. Thái Lan nông dân họ tư hữu ruộng đất, nhưng Chính phủ Thái Lan vẫn phát triển công nghiệp hóa và thành thị hóa nông thôn mà không có trở ngại gì.

Thưa Tổng Bí thư,

Làm sao thực hiện được Nghị Quyết Tam Nông của Đảng khi mà thu nhập chính đáng của nông dân trong việc bán lúa bị Hiệp hội Lương thực Việt Nam tước đoạt trắng trợn và công khai?

Cuối cùng, xin Tổng Bí thư cho các chuyên gia về nông nghiệp của Đảng và Chính phủ, phân tích đến vạch lá tìm sâu những điều tôi vừa kính trình lên Tổng Bí thư, nếu có gì gian dối không đúng sự thật, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Tổng Bí thư và trước pháp luật.

Còn, nếu những điều tôi kính trình lên Tổng Bí thư là đúng, thì đây là tiếng kêu cứu của hằng triệu nông dân khốn khổ, càng ngày đang càng nghèo hơn một cách phi lý, không còn chỗ dựa, đang trông chờ Tổng Bí thư và Đảng cứu giúp.

Xin Đảng và Tổng Bí thư cứu giúp nông dân Việt Nam.

Người gởi thư,

HUỲNH KIM HẢI

GHI CHÚ:

Thư này tôi đã gởi cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bằng dịch vụ chuyển phát nhanh của bưu điện.

clip_image004

 

 

Trông mong gì được!

Nguyễn Thanh Giang

Tác giả gửi tới Dân Luận

Tiến sỹ Trần Nhơn, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy Lợi, vừa viết gửi tôi một email: “Chúng ta nên đọc và suy ngẫm, nghiên cứu sâu sắc những vấn đề nêu trong “Thư của một nông dân gởi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Bức thư là của một người xưng tên Huỳnh Kim Hải, một nông dân làm lúa ở tỉnh Đồng Tháp thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long.

Lý do ông Huỳnh Kim Hải phải viết thư là vì: “…đọc Kiến nghị của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam với Đảng, Nhà nước đăng trên báo Dân Việt Online, và một số báo khác, nông dân chúng tôi nhận thấy: ông Nguyễn Quốc Cường Chủ tịch Hội Nông dân, nói những điều mà Tổng Bí thư muốn nghe, chứ không phải những điều mà Tổng Bí thư cần phải biết.

… Thưa Tổng Bí thư: nông dân chúng tôi hiện không có chỗ để nói, vì hội nông dân không phải của nông dân”.

Bức thư tố cáo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: “Nếu Tổng Bí thư hỏi ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc qui hoạch cơ cấu giống lúa cho nông dân, ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng sẽ không trả lời được, vì Bộ Nông nghiệp có biết chủng loại và số lượng gạo xuất khẩu hằng năm ra sao mà lập kế hoạch cơ cấu giống, với lại, Bộ Nông nghiệp cũng chẳng biết giá từng loại lúa thay đổi ra sao vào vụ thu hoạch sắp tới, thì làm sao mà dám quy hoạch cơ cấu giống, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ khuyến cáo nông dân cách chọn giống trên báo, trên đài còn nông dân nghe hay không tùy ý”.

Tố cáo Bộ trưởng Bộ Công thương: “Nếu Tổng Bí thư hỏi ông Bộ trưởng Bộ Công thương rằng Việt Nam ta đang xuất khẩu hằng năm loại gạo gì, số lượng và chủng loại ra sao, tôi dám chắc ông Bộ trưởng Bộ Công thương không trả lời được, vì hiện nay, Hiệp hội lương thực Việt Nam mua gạo từ thương lái, rồi trộn lẩn các loại gạo với nhau, để xuất với tên gọi gạo trắng hạt dài, phân biệt bởi phần trăm tấm”. 

[Hiệp hội Lương thực Việt Nam: chức năng như một tổng công ty quốc doanh về xuất khẩu nông nghiệp, đứng đầu là các đảng viên cao cấp của đảng CSVN, mục đích ép giá mua rẻ: lúa gạo, cà phê, tiêu,…của nông dân, và chiếm đoạt độc quyền hàng nông sản xuất khẩu trị giá trên 21 tỷ USD/năm. TH]

Đặc biệt là, bức thư phê phán Chính phủ hết sức kịch liệt:

– “Chính phủ bỏ rơi nông dân. Là một người làm lúa trên 20 năm, tôi xin được thưa với Tổng Bí thư rằng: từ trước đến nay, nông dân chúng tôi hầu như không nhận được những chính sách phát triển lúa gạo có hiệu quả nào từ Chính phủ, những chính sách của Chính phủ chỉ dừng lại ở mức độ xóa đói giảm nghèo”.

– “Chính phủ đã bỏ rơi nông dân, nên nông dân đang “tự bơi” trong một nền nông nghiệp tự phát, dưới sự bóc lột của các nhóm lợi ích là các hiệp hội ngành hàng, còn Hội Nông dân không phải của nông dân nên không quan tâm bảo vệ quyền lợi cho nông dân”.

– “Bị Chính phủ bỏ rơi, nên nông dân chúng tôi phải “tự bơi” để sản xuất, mà “tự bơi” thì cực khổ, thiệt hại kể làm sao cho xiết!

Trình độ học vấn cấp 1, cấp 2 mà phải lao vào nghiên cứu cải tiến máy móc để phục vụ sản xuất: nông dân làm máy cấy, nông dân làm máy gặt đập liên hợp, nông dân làm máy phun thuốc trừ sâu, nông dân làm máy tách vỏ dừa, nông dân làm máy tách vỏ đậu phọng… thì thất bại ê chề mà thành công hạn hữu”.

– “Không những không có chính sách phát triển sản xuất, việc bán lúa gạo giúp cho nông dân Chính phủ cũng không làm được”.

– “Xin Tổng Bí thư thay đổi tư duy của Chính phủ, làm cho Chính phủ thực sự quan tâm đến quyền lợi của nông dân, đến sự phát triển của nền nông nghiệp, đến việc thực hiện Nghị Quyết Tam Nông”.

V.v…

Đọc xong thư của bác nông dân Huỳnh Kim Hải, người ta nghĩ, không biết có ai nên làm theo mà hỏi những câu hỏi tương tự như sau? Và nên hỏi ai?

– Vì sao nông dân ốm đau, vào bệnh viện của mình mà khổ nhục gấp trăm lần vào nhà tù tư bản? Hỏi Bộ Y tế có đúng không?

– Vì sao thầy cô không dạy đủ ở giờ học chính mà để dành cho buổi học thêm? Hỏi Bộ Giáo dục – Đào tạo có đúng không?

– Vì sao nông dân bị trưng mua ruộng đất quá rẻ, đội đơn kêu oan vật vã đầu đường xó chợ năm này tháng khác không được giải quyết mà còn bị công an bắt giam rất khổ nhục? Hỏi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn? Hay hỏi Bộ Công an?

– Vì sao số người chết vì tai nạn giao thông cao vào hàng kỷ lục so với thế giới, khủng khiếp hơn nước có chiến tranh? Hỏi Bộ Giao thông Vận tải có đúng không?

– Vì sao có nhiều vụ án oan sai, nhiều vụ án xử không đúng Hiến pháp, luật pháp? Hỏi Tòa án có đúng không?

– Vì sao ngư dân đánh cá trong hải phận mình, bị giặc bắn giết mà không ai bảo vệ? Hỏi Bộ Lao động Thương binh Xã hội hay hỏi Bộ Quốc phòng?

V.v…

Những người chín chắn sẽ thấy: không ai nên hỏi và không nên hỏi ai.

Không ai nên hỏi vì sẽ không thể được trả lời thỏa đáng mà nhiều khi còn bị quy tội nói xấu Đảng.

Không nên hỏi ai vì thực sự là không ai có thể trả lời một cách nghiêm chỉnh.

Người ta rất tài ở chỗ cho cảm giác tự do dân chủ gấp triệu lần tư bản nhưng chỉ được dân chủ ở cơ sở. Thế là, trước đây cấm kỵ phê phán bất cứ loại cán bộ nào của Đảng, nay thì tha hồ phê phán, thậm chí chửi rủa, lên án… nhưng chỉ được phê phán cấp dưới thôi.

Chỉ dưới sai chứ trên bao giờ cũng đúng.

Nhưng, đâu là trên, đâu là dưới? Huyện đúng, chỉ xã sai. Tỉnh đúng, chỉ huyện sai. Trung ương đúng, chỉ tỉnh sai, Chính phủ đúng, chỉ các bộ các ngành sai. Lên cao chót vót là Đảng. Đảng bao giờ cũng đúng, còn gì sai nữa thì chỉ có Chính phủ sai. Thế cho nên, học tập các đấng bề trên, xã cũng không chịu nhận xã sai mà có gì sai là chỉ do dân sai!

Vậy nên người ta mới bảo: sướng nhất ông Đảng, khổ nhất thằng dân!

Đảng được coi như một thứ gì đó anh minh tuyệt đỉnh, uyên bác tuyệt đỉnh… hội tụ ở Tổng Bí thư. Nghĩ vậy, ông nông dân Huỳnh Kim Hải không chỉ mách TBT mọi chuyện mà còn tin rằng có thể: “Xin Tổng Bí thư thay đổi tư duy của Chính phủ”.

Chắc là ông nông dân Hải vô cùng sủng tín cái nhãn mác giáo sư-tiến sỹ của TBT.

Nhưng, chẳng hiểu ông có biết, TBT không học và chưa hề trải nghiệm thực tế lĩnh vực khoa học và công nghệ nói chung và nông nghiệp nói riêng; không học và chưa trải nghiệm thực tế về kinh tế-tài chính…. Ông chỉ có một mớ sách Mác-Lênin cổ lỗ sỹ với một tệp văn kiện, diễn văn viết theo yêu cầu của các nhà lãnh đạo tiền nhiệm.

Chẳng có thế mà, đến làm việc với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ngày 28.11.2011, kết thúc buổi làm việc, TBT cầm giấy đọc: “Thanh niên là rường cột của dân tộc, là người chủ tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích thực hiện các nhiệm vụ cách mạng của Đảng, của dân tộc. Công tác thanh niên là nhiệm vụ sống còn; đoàn thanh niên là đội dự bị tin cậy của Đảng; trong bất cứ thời đại nào, thanh niên có vai trò quan trọng đối với sự phát triển, tồn vong của đất nước, của dân tộc…”.

Đến làm việc với Đảng đoàn Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam sáng 29.11. 2011, kết thúc buổi làm việc, TBT lại cầm giấy đọc: “Đảng ta luôn coi trọng công tác phụ nữ và đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình, đề án để phát huy vai trò của phụ nữ, thúc đẩy các phong trào hành động thiết thực, hiệu quả của phụ nữ. …Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động hội phụ nữ thời gian tới là: Tiếp tục nâng cao bản lĩnh, trình độ, năng lực của phụ nữ; đoàn kết, tập hợp phụ nữ tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc; làm tốt công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp phụ nữ hưởng ứng thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa vận động phụ nữ đóng góp cho xã hội, vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ. Để làm tốt các yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, trước hết Hội LHPNVN cần làm tốt công tác cán bộ, chăm lo đào tạo bồi dưỡng cán bộ phụ vận trong giai đoạn mới”.

Nói thế thì ai cũng nói được, nói ở đâu cũng được, nói lúc nào cũng được: cách đây mấy thập kỷ, cách đây mấy năm, và… cho đến lúc kết thúc nhiệm kỳ của TBT. Không cần động não.

Trong thư của ông Huỳnh Kim Hải có lẽ những đòi hỏi sau đây là đích đáng hơn cả:

– “Xin Tổng Bí thư trả Hội Nông dân lại cho nông dân, và giúp đở Hội nông dân của nông dân hoạt động hiệu quả trong cơ chế thị trường”.

– “Xin Tổng Bí thư xóa bỏ việc độc quyền của các hiệp hội ngành hàng đối với lúa gạo và nông sản”.

– “Xin Tổng Bí thư cho phép nông dân quyền sở hữu ruộng đất của mình,

Hiện nay, quyền sử dụng đất của nông dân chúng tôi cũng tương đương với quyền sở hữu: nông dân có quyền mua bán, trao đổi, cho tặng… Thế nhưng, đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước.

Mọi thành phần kinh tế điều là hữu sản, tại sao chỉ có nông dân vẩn là vô sản?

Nhà nước lớn sở hữu ruộng đất của nông dân chúng tôi, thì cũng không khác gì nông dân sở hữu, thế nhưng, Nhà nước nhỏ tức chính quyền cấp xã, huyện, tỉnh sở hữu ruộng đất của chúng tôi, chính là nguyên nhân sinh ra dân oan, dân khiếu kiện đông đúc hiện nay, vì nhà nước nhỏ rất khó thoát khỏi tham nhũng từ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân.
Còn nếu ngại khi nông dân được tư hữu hóa ruộng đất sẽ gây khó khăn cho việc quy hoạch và phát triển công nghiệp, phát triển thành thị là một lo ngại không đúng. Thái Lan nông dân họ tư hữu ruộng đất, nhưng Chính phủ Thái Lan vẫn phát triển công nghiệp hóa và thành thị hóa nông thôn mà không có trở ngại gì
”.

Nhưng, “Kinh tế thị trường định huớng xã hội chủ nghĩa” vốn được xem là kiệt tác sáng tạo độc đáo của TBT thì làm sao mà những khuyến cáo trên có thể được tiếp nhận.

Hà Nội 6 tháng 12 năm 2011
Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm –Hà Nội
Điện thoại: (04) 35 534 370

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►The New York Times: Con cái cán bộ Đảng giàu sụ, nắm giữ đặc quyền, chiếm hết tài nguyên, nắm nền kinh tế: là nguyên nhân gây ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn tại Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 04/09/2012

Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn tại Việt Nam- Không có sự công bằng như đảng CSVN đã và đang rêu rao

Thomas Fuller (The New York Times)

anhbasam.wordpress.com

HÀ NỘI, Việt Nam – Cô  ấy mặc áo đầm và đi giày cao gót màu hồng khi đi thăm các công trường bụi bậm. Ngay sau chuyến thăm viếng của Tô Linh Hương [1988-] vào tháng Tư, hình ảnh chụp được trong chuyến đi này đã lan truyền trên Internet, nhưng không phải vì phong cách trang phục của bà Hương. Là con gái của một thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam [Tô Huy Rứa] của Bộ Chính trị, cơ quan quyền lực chính trị mạnh nhất của CHXHCN Việt Nam, cô  Hương mới được bổ nhiệm làm người đứng đầu của một công ty xây dựng thuộc nhà nước [Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Vinaconex – PVC (PVV)] chỉ vài ngày trước đó. Giới bình luận trên Internet bày tỏ sự phẫn nộ rằng một người quá trẻ lại nắm một chức vụ cao cấp như thế của công ty.

Tô Linh Hương thị sát công trường
Nguồn ảnh: TNYT


Đưa một một cô bé vừa tốt nghiệp trường báo chí vào làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị của một công ty xây dựng thì không khác gì hơn để người một chân làm thủ môn bóng tròn,” Phạm Việt Đào bình luận trên một một blog cùng tên. “Xin lỗi phải nói, quá là ngu ngốc.”

Cũng như giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, quan chức chính trị của [Đảng CS] Việt Nam đang gặp khó khăn để hòa giải thông điệp của Đảng  họ về công bằng xã hội và bình đẳng với thực tế của việc đày rẫy cán bộ Đảng đang giàu sụ và nắm giữ đặc quyền. Khoảng cách lớn giữa  nghèo đói ở nông thôn và sự giàu có  ở  thành phố đã trở thành điều trái tai gai mắt, mười năm tăng trưởng đến chóng mặt đã đến hồi kết thúc, tầng lớp nghèo và trung lưu không còn triển vọng trèo lên các bậc thang xã hội.

“Cho đến nay, tăng trưởng kinh tế rất tuyệt vời, và trở nên giàu có là điều quá tốt,” ông Carlyle A. Thayer, một chuyên gia hàng đầu về chính trị Việt Nam có một cơ sở dữ liệu về giới lãnh đạo [Cộng sản] Việt Nam và các thành viên trong gia đình của họ. “Có một sự oán giận ngày càng tăng, đặc biệt trong số dân nghèo, đối với những người giàu có.”

Phần lớn của sự giận dữ tập trung vào chủ nghĩa tư bản bè phái của Việt Nam — sự liên kết chặt chẽ giữa các tài phiệt và các quan chức hàng đầu của Đảng Cộng sản. Lời chỉ trích này đã có thể phát triển một phần vì tin tức về những vụ lạm dụng đã rò rỉ ra ngoài như các công ty nhà nước, vẫn là một phần trung tâm của nền kinh tế, đã thất bại, làm Việt Nam lâm vào cảnh khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Những nhà hoạt động xã hội  và  những người chỉ trích giấu tên trên Web – để thoát sự kiểm duyệt chặt chẽ các phương tiện truyền thông – đã đưa nhiều vụ bê bối ra trước công chúng.

Vì chỉ trích ngày càng tăng, một số thân nhân của các quan chức Đảng Cộng sản đã rút lui khỏi những vai trò đình đám.

Cô Hương đã rời Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Vinaconex – PVC vào tháng Sáu, ba tháng sau khi được bổ nhiệm, và con gái của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong thời gian gần đây đã rời trách nhiệm tại một ngân hàng tư nhân [Bà Nguyễn Thanh Phượng đã thôi chức Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Bản Việt.]

Các quan chức chính phủ, trong khi đó, đã lên tiếng biện hộ.

Chủ tịch Nước, Trương Tấn Sang, đã công bố một bản tự phê bình thẳng thừng trong một bài viết gần đây [Phải biết hổ thẹn với tiền nhân] trên các phương tiện truyền thông nhà nước, viết về việc các “thất bại và thiếu hiệu quả của các công ty nhà nước, sự thối rữa ý thức hệ và đạo đức chính trị.” Ông Sang cũng đổ lỗi “lối sống của một nhóm các đảng viên và cán bộ” là nguyên nhân của các vấn đề của đất nước.

“Tự hào với những gì đã làm được, nhưng chúng ta cũng cần phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc.”

Trên mạng Internet và các mạng xã hội, sự giận dữ của quần chúng về nạn gia đình trị và sự quản lý kinh tế yếu kém đã nhắm vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người đã tái cử thêm một nhiệm kỳ năm năm từ năm ngoái cùng lúc với các khủng hoảng của những công ty nhà nước.

Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Thanh Nghị, Nguyễn Thanh Phượng
Nguồn ảnh: OntheNet


“Mọi người đều lo ngại rằng ông có quá nhiều quyền lực – họ cảm thấy ông cần phải được kiềm chế,” ông Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales ở Canberra nói.

Gia đình ông Dũng là trọng tâm của tin tức  ngoại giao rò rĩ trong năm 2006, năm ông trở thành thủ tướng, do Seth Winnick, lúc đó là Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh, viết.

Bức điện tín được WikiLeakes công bố, nhấn mạnh sự nghiệp tại các công ty lớn của Nguyễn Thanh Phượng, con gái của thủ tướng. Ông Winnick viết: “Không có nghi ngờ là cô ấy có tài năng.” “Tuy nhiên, sự lên cao quá nhanh, và nhiều cánh cửa mở ra cho cô ấy và anh em ruột là dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo chính trị của Việt Nam đang đảm bảo cho con cái của họ được chỗ tốt trong các lãnh vực giáo dục, chính trị và kinh tế như thế nào.”

Mặc dù công việc của bà Phương năm trong khu vực tư nhân, bức điện tín cũng lưu ý rằng các công ty nhà nước và công ty tư nhân có khuynh hướng trùng lập lên nhau tại Việt Nam, với hệ thống độc đảng Cộng sản và chủ nghĩa tư bản đang phát triển.

Bà Phương điều hành một quỹ đầu tư được gọi là Viet Capital Asset Management và một công ty môi giới, Viet Capital Securities, cả hai là công ty tư nhân. Trong tháng sáu, cùng lúc có những lời chỉ trích trên Internet về sự giàu có và ảnh hưởng của mình, bà Phương thôi chức Chủ tịch HĐQT của Ngân hàng Bản Việt [Viet Capital Bank], vai trò bà đã giữ trong bốn tháng.

Bà Phương là một trong số các “Con Ông Cháu Cha hay Con Cháu Các Cụ Cả”; đây là danh sách dài có cả anh của bà Phượng [Nguyễn Thanh Nghị], là Thứ trưởng Bộ Xây dựng, và Tô Linh Hương, người phụ nữ trẻ đã đứng đầu công ty xây dựng Vinaconex – PVC và là con gái của Tô Huy Rứa, một thành viên quyền lực trong Bộ Chính trị Đảng CSVN. Những người khác trong nhóm đã leo thang quyền lực là con trai của Nông Đức Mạnh, tổng bí thư của Đảng Cộng sản đã nghỉ hưu vào năm ngoái, (Nông Quốc Tuấn) là một thành viên của Ủy ban Trung ương của Đảng.

Vì sự kiểm soát chặt chẽ  các phương tiện truyền thông–và sự trừng phạt nặng nề dành cho những người bất đồng chính kiến, kể cả việc bị bỏ tù — những lời chỉ trích giới lãnh đạo Đảng CSVN, phần lớn là những bài viết nặc danh đăng trên các blog và các trang Facebook, thường dựa vào những tin đồn, lời rỉ tai vô căn cứ.

Nhưng khi những  công ty quốc doanh đang đương đầu với các vụ bê bối và những núi nợ, các chi tiết về nạn gia đình trị cùng bè phái và các giao dịch mờ ám cũng đã rò rĩ vào trong công luận. 

Trong bài viết về sự sụp đổ của một trong các tập đoàn nhà nước lớn nhất, Vinashin, các phương tiện truyền thông nhà nước cho thấy ít nhất ba thành viên trong gia đình của Chủ tịch công ty, ông Phạm Thanh Bình, có chực vụ cao cấp trong cùng công ty, gồm cả con trai và anh trai của ông Bình.

Giá xã hội Việt Nam phải trả cho những vụ bê bối này vẫn chưa được biết. Tuy nhiên, hàng tỷ đôla tiền nợ có thể là một gánh nặng rất lớn cho nền kinh tế trong nhiều năm tới. (Nhà nước VN đang vay nước ngoài 58  tỷ đôla  (2011), nếu tính thêm tiền vay mượn của các tổng công ty và tập đoàn, thì số nợ này lên tới 120 tỷ đô la-TH)*

Với lịch sử của nhiều cuộc nổi dậy ở Việt Nam, có lẽ là điều thích hợp khi những ý kiến chua cay trên mạng về những xì căng đan trong giới lãnh đạo thường đi kèm với ca dao Việt Nam:

Con vua thì lại làm vua.
Con sãi ở chùa lại quét lá đa.
Bao giờ dân nổi can qua.
Con vua thất thế lại ra quét chùa.

Con vua thì lại làm vua…
Nguồn ảnh: OntheNet


© DCVOnline


Nguồn: In Vietnam, Message of Equality Is Challenged by Widening Wealth Gap By THOMAS FULLER, The New York Times, September 1, 2012. DCVOnline lược dịch, bổ túc, minh họa và đề tựa.

*Nợ công và vấn đề tái cơ cấu kinh tế – Huỳnh Bửu Sơn Theo Tuần Việt Nam

http://danluan.org/node/14138

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN | 3 Comments »

►Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và Thủ tướng Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào nội các 17-4-1945

Posted by hoangtran204 trên 02/09/2012

Lịch sử được viết bởi những kẻ chiến thắng. Lịch sử VN đã được viết bởi đảng Cộng Sản VN nên lịch sử ấy không đáng tin. Chúng ta ghi nhớ các điểm chính dưới đây. 

Ngay sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 8-3-1945, Nhật đã khuyến khích 3 nước Đông Dương hãy tuyên bố độc lập ngay. 

Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các. ( 1, 2,3 , 4)

(Vua Norodom của Kampuchea cũng tuyên bố độc lập vào ngày 13-3-1945, vua Sisavang Vong của Lào cũng tuyên bố độc lập vào ngày 8-4-1945 ) (3)

Ngày 17-4-1945, Thủ tướng Trần Trọng Kim, là vị thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất, đã  ra mắt quốc dân đồng bào nội các gồm có 10 bộ trưởng là các  nhân vật có uy tín và tên tuổi thời bấy giờ. (4trang 11)

Trong thời gian này, nạn đói năm Ất Dậu diễn ra, chính phủ của Thủ tướng Trần Trọng Kim ra tay cứu trợ, chở gạo từ Miền Nam ra miền Trung và miền Bắc bằng đường xe lửa.  Nhưng đảng CS Đông Dương do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo và các đồng chí của ông  muốn lợi dụng tình hình lộn xộn để chiếm chính quyền nên đã ngăn không cho xe lửa chạy ra Bắc.  Kết quả  số người Việt Nam ngoài miền Bắc đã bị chết đói rất nhiều. Dân chết đói là các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Thái Bình và các vùng lân cận Hà Nội và vùng cao nguyên Bắc Phần.

Lợi dụng cuộc Mít-tinh ngày 17-8-1945 của Tổng Đoàn Công Chức Hà Nội chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim, một nhóm người mang theo  đỏ, cờ búa liềm với thái độ hùng hổ nhảy lên khán đài giành lấy quyền tổ chức,…Thế là cuộc mít-ting của những công chức hiền lành bổng chốc trở thành cuộc biểu dương của Mặt Trận Việt Minh:  “Quả lừa lịch sử bắt đầu chính là từ đây ! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây.” 

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim 

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh:“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây! (8) Chú ý lá cờ vàng, 3 sọc đỏ (gọi là cờ quẻ ly vì có sọc ở giữa không liền nét)

Co Que Ly

(http://thien2012.multiply.com/journal/item/11?&show_interstitial=1&u=%2Fjournal%2Fitem)

Sách sử và báo chí của đảng gọi biến cố đó là “cướp chính quyền” của chính phủ Trần Trọng Kim, còn các văn-nô, thơ-nô gọi đó là Cách mạng mùa Thu!

Nhóm từ “cướp chính quyền” nói về biến cố này là rất chính xác. Xưa nay, để lật đổ một chính quyền tàn ác, độc tài, bất lương thì người dân đứng lên làm cuộc cách mạng lật đổ chính quyền ấy, chứ chính phủ của thủ tướng Trần Trọng Kim ra đời tháng 4-1945 mà từ người đứng đầu cho đến các bộ trưởng là các nhân vật uy tín, tài trí, và là các trí thức cở lớn của VN lúc bấy giờ, thì việc lật đổ chỉ có gọi bằng từ cướp chính quyền. 

Tuy tồn tại với thời gian rất ngắn, nhưng nhiều người VN cho rằng chính phủ Trần Trong Kim cũng đã có đủ thời gian để làm nhiều việc hành chánh rất quan trọng mà kết quả là miền Nam Việt Nam được thừa hưởng những thành quả này từ 1945-1975.   (4trang 12)

Họ là chính phủ lương thiện nhất và không từng làm một hành động nào tàn ác, hay tham nhũng; thậm chí chính họ đã thành công trong việc yêu cầu Pháp và Nhật phóng thích tất cả các tù nhân chính trị ngoài côn đảo và các nhà tù trong đất liền; nhờ chính phủ Trần Trọng Kim, mà Lê Duẫn, Phạm Hùng, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Văn Linh được trả tự do rời khỏi Côn Đảo; Đỗ Mười được rời khỏi nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Và về sau nhóm này đã trở thành các con quỷ dữ, đã gây ra cuộc chiến tranh VN 1954-1975, chiến tranh Kampuchea làm chết hơn 5 triệu người VN.

Do đó hành động cướp chính quyền của ông HCM và các đảng viên CS Đông Dương không thể gọi là cách mạng, nên chữ chính xác nhất là “cướp chính quyền”.

(Mấy năm nay, sách sử và báo chí đồng loạt bỏ, không dùng nhóm từ “cướp chính quyền” nữa, với mục đích lừa đảo không muốn cho thế hệ hiện nay biết các việc làm gian manh của đảng CSVN hồi 1945-1954.

Từ khi ra đời 1930  cho đến năm 1954đảng CS Đông Dương bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Đảng không hề có một văn phòng liên lạc nào của đảng mang tính công khai trên cả 3 miền Bắc Trung Nam, đảng CSĐD không được ai biết tới, chưa từng làm việc gì có ích, và chưa có công lao gì trong cuộc giành độc lập và chống Pháp, nên đảng CSĐD bị giới nhân sĩ, trí thức, sinh viên, học sinh và công chức thời ấy vừa coi khinh vừa sợ hải. 

(cập nhật 28-8-2013-

Bùi Tín – Đảng Cộng sản Việt Nam thiếu chính danh

Hoàng Xuân Phú- http://hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu/index.php?page=differentwritings)

Thực tế ấy biểu hiện qua việc ông HCM và đảng cộng sản Đông Dương phải ẩn náu, trốn tránh, lươn lẹo đổi tên soành soạch trong thời kỳ 1945-1951 chỉ cốt nhằm đánh lừa người Việt Nam non trẻ, nhẹ dạ tham gia với họ.

Khi nhìn thấy việc tự biên tự diễn cướp chính quyền tháng 8-1945 coi bộ không được mấy ai ủng hộ, rồi việc tổ chức ở Hà Nội để tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 cũng không có ai tin gì mấy, chuyện diễn trò lừa gạt mời các nhân vật tiếng tăm của các đảng phái quốc gia đứng tên vào nội các của nước VNDCCH cũng không đánh lừa được mấy ai tin… Chính phủ Cách mạng Lâm thời của cộng sản ra đời tháng 2-9-1945 không được người VN và các đảng phải quốc gia coi ra gì, nên HCM  kêu gọi thành lập Chính phủ Liên Hiệp ra đời 1-1946.  Lợi dụng các đảng phái quốc gia sơ hở, không đề phòng, lực lượng Việt Minh dưới sự chỉ huy của ông Võ Nguyên Giáp và ông Huỳnh Thúc Kháng đã tấn công cơ sở Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội, xử tử nhiều đảng viên hai đảng này, và bắt nhiều người khác.  Chính phủ Liên Hiệp tan rã, Vũ Hồng Khanh, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam chạy trốn qua Hồng Kông.

Đảng CS Đông Dương với chủ trương chính là tiêu diệt các đảng phái quốc gia, nhưng xem ra không dễ vì giai đoạn 1945-1954 có 10 chính đảng quốc gia và các hội đoàn hoạt động rất mạnh mẻ, đảng CS ĐD không thể tiêu diệt được, nên lại tìm các tiếp cận với các đảng viên của các đảng phái khác để dụ dỗ, tuyên truyền, ai không nghe thì giết trừ hậu họa.

Ông HCM khi ấy đang ở trong độ tuổi khôn ngoan và chín mùi,  và có nhiều mưu mô: phải làm một cái gì để tạo công lao, để gây tiếng vang, và dùng chiến thuật tiếp cận để ám sát và  tiêu diệt các đảng phái quốc gia. ông HCM  đã mời Pháp trở lại Đông Dương qua Hiệp Định Sơ Bộ 1946. Khi Pháp trở lại Đông Dương, HCM hô hào, kêu gọi toàn thể người VN đứng lên chống Pháp! Các đảng phái quốc gia lại mắc bẩy và hòa hợp hòa giải hợp tác với đảng CS Đ D để chống Pháp.

Ban ngày đảng viên cộng sản giả vờ chống Pháp, nhưng đêm đến thì tìm cách mua chuộc, ám sát những ai thuộc các đảng phái quốc gia. Mặt khác, đảng viên CSĐD lại còn mật báo cho Pháp bắt các đảng viên của các đảng phái quốc gia để làm suy yếu lực lượng phe quốc gia.

Nhưng xem ra đảng CS không dễ chiếm lấy lòng dân và không thế chiếm nước Việt Nam vào tay họ vì các đảng phái quốc gia quá mạnh, nên ông HCM đã cõng rắn cắn gà nhà bằng cách qua Trung Quốc tháng 2-1950 để xin Mao Trạch Đông đem quân qua giúp, xin vũ khí đạn dược, và tiền bạc để hoạt động, sai Nguyễn Lương Bằng và Chu Huy Mân trồng và  sản suất cây thuốc phiện và cần sa (ở vùng biên giới Tây Bắc), thu hoạch bán lấy tiền hoạt động; đồng thời với mục đích đánh lừa, các hành động tàn ác như ám sát, giết người…của đảng CSĐD làm mọi người ghê tởm, đảng CS Đông Dương đổi tên thành đảng Lao Động VN 1951 để kêu gọi giới học sinh sinh viên tham gia chống Pháp.

Tóm lại, lịch sử VN đã được viết lại bởi đảng CSVN, đó là lịch sử không đáng tin. Chúng ta ghi nhớ các điểm chính dưới đây:

Ngay sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 8-3-1945, Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các vào ngày 17-4-1945.

Ngày 19-4-1945, Thủ tướng Trần Trọng Kim đã ra mắt quốc dân đồng bào nội các gồm có 11 nhân vật có uy tín và tên tuổi thời bấy giờ.

 Trần Hoàng@2012

Bài này nằm trong loạt bài: Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra

 —————

Thỏa hiệp án 14/9/1946: ông Hồ cấu kết với Pháp để
tiêu diệt các đảng quốc gia

Hứa Hoành

* Kéo rốc sang Pháp làm gì?

Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến nay, còn nhiều bí ẩn chưa được giải tỏa. Người bàng quan, các thế hệ sau, sẽ không thấy được những âm mưu thầm kín của ông Hồ đã tiêu diệt người quốc gia, nếu như chúng ta không phát hiện được những bí mật lịch sử đó. Chúng tôi may mắn được nhà sử học Chính Ðạo, tức tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, cho phép sử dụng nhiều tài liệu quý giá mà ông sao lục từ các văn khố, thư viện của bộ Thuộc Ðịa, bộ Ngoại Giao Pháp… để làm sáng tỏ nhiều uẩn khúc lịch sử, vốn bị CS che giấu, nhiễu loạn từ hơn nửa thế kỷ quạ.

Chúng tôi chân thành cảm tạ Tiến sĩ Chiêụ Trong loạt bài nầy, chúng tôi sẽ trưng bằng chứng về những hành vi phản bội quyền lợi dân tộc của ông Hồ. Nổi thao thức của ông Hồ lúc nầy là Việt Minh phải mắm chính quyền, không chia xẻ, nhượng bộ cho bất cứ đảng phái nàọ. Ðó là đường lối nhất quán, trước sau như một của đảng cộng sản. Ðấy cũng là âm mưu từ lúc ở ngoài rừng núi Tân Trào kéo về Hà Nộị. Căn cứ vào kết quả của cuộc thảo luận của ông Hồ cùng các cán bộ, thấy rằng công cuộc phát triển cách mạng của họ sẽ dẫn đến 2 trường hợp:

– Một là đủ sức cướp chính quyền, bản thân họ có đủ điều kiện để đàm phán bình đẳng các vấn đề với các nước Ðồng minh…

– Hai là lực lượng bản thân (Việt Minh) còn yếu kém… Việt Minh phải suy nghĩ đến việc cùng với nước Pháp tiến hành đàm phán, để tranh thủ một số quyền lợi và tự do dân chủ. Sau đó sẽ dùng những quyền lợi nầy làm vốn liếng để tuyên truyền, rồi tiến thêm một bước, đẩy tới cuộc vận động cách mạng, để tiếp tục đấu tranh với Pháp…’ (TưởngVĩnh Kính, Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc, Thượng Huyền dịch, trang 339).

Hiểu rõ chiến lược của ông Hồ, cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi đối với kẻ thù chính là Pháp, thì ông Hồ tiếp tục nhân nhượng từ quyền lợi nầy đến quyền lợi khác. Ðang tuyên bố là một quốc gia độc lập, tự do (2/9/1945), vài tháng sau, ông Hồ xin làm một ‘quốc gia tự do trong Liên Hiệp Pháp’ (tức đế quốc trá hình), và cho Pháp mọi quyền lợi đầy đủ tại Việt Nam như thời thuộc địạ (Xem nội dung thỏa hiệp án 14/9/46).

Chủ trương của ông Hồ lúc nầy (1946) là dựa vào Pháp, cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia anh em, đang chia xẻ quyền hành với ông trong ‘chính phủ liên hiệp’, mà ông đã vật vã van nàị (sự tham gia của các nhân sĩ trí thức thuộc các đảng phái quốc gia). Ông Hồ cấu kết với Pháp để tiêu diệt người quốc gia tức là chủ trương  “liên kết với A đánh B”, “Ông Hồ thà nhường cho Pháp thống trị VN thêm một thời gian nữa, chứ không muốn các đảng phái quốc gia đứng ra lãnh đạo một nước VN độc lập”, hoặc chỉ tham gia với Việt Minh để “đoàn kết chống Pháp” như ông đã hùng hổ kêu gọị. (Lực lượng công sản tuy có tổ chức chặt chẻ, nhưng không có đông người và mạnh bằng các đảng phái quốc gia(như VN Quốc Dân Đảng, Đaị Việt Cách Mạng Đảng, và những người không theo đảng phái nào)họp lại. 

Tất cả hành động của ông Hồ đều trước sau như một, nhằm giành lấy sự độc quyền lãnh đạo đất nước, đặng mấy năm sau tiến hành cuộc cách mạng vô sản, đưa toàn dân vào quỹ đạo cộng sản quốc tệ Vấn đề VN có sớm được độc lập hay không chỉ là thứ yếụ Quyền lợi dân tộc cũng chỉ là bình phong để ông Hồ thực hiện âm mưu nắm chặt chính quyền. người quốc gia có thể nhìn thấy thủ đoạn của ông Hồ, hoặc nóng lòng vì độc lập tự do, nên đã ‘đoàn kết trong mặt trận Việt Minh’, để rồi tất cả chịu chung số phận oan nghiệt.

Từ ngày 11-3-1945 và cho mãi về sau, VN trở thành quốc gia độc lập thật sự, mà kẻ thù chính là thực dân Pháp còn ở xạ Với Hiệp ước sơ bộ (6/3/1946), ông Hồ mời quân Pháp vào chiếm đóng Hà Nội và nhiều tỉnh miền Bắc. Ðó là một trọng tội trong lịch sự Ông cần rảnh tay để đối phó với các đảng theo chủ nghĩa quốc gia dân tộc. Ðể che giấu chủ trương bắt tay với kẻ thù, ông Hồ tuyên bố chính sách ‘văn hóa Pháp Việt đề huề’ (điều 3 Thỏa hiệp án), ca tụng ‘nước Pháp mới’ (nước Pháp của thực dân) và Liên Hiệp Pháp, tức đế quốc trá hình. Nổi thao thức của ông Hồ lúc này (1946) là không muốn bất cứ một tổ chức hay cá nhân nào ngoài Việt Minh nắm quyền, hay chia xẻ quyền hành với Việt Minh. Hiểu như thế nên chúng ta mới không ngạc nhiên khi đối với kẻ thù chính là Pháp, thì ông ta đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác. Vừa mới tuyên bố độc lập, ông Hồ lại chịu nép mình trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, và cho Pháp có đầy đủ quyền lợi như thời thuộc địạ Thái độ của ông Hồ lúc nầy là dựa hẳn vào Pháp, cấu kết với Pháp, để tiêu diệt các đảng phái quốc giạ Nếu thực tâm yêu nước và chiến đấu vì quyền lợi quốc gia dân tộc, ông Hồ và mặt trận Việt Minh đã tích cực chuẩn bị kháng chiến khi Pháp chưa trở lại VN. Ông đã bỏ phí thời gian (15 tháng, năm 1945 – 1946) mà còn phá nát thế đoàn kết chiến đấu của những đảng quốc gia đang ‘liên hiệp’ với ông trong cái chính phủ do ông làm chủ tịch. Ðiều này có nghĩa vì sự độc quyền lãnh đạo của Việt Minh, mà ông Hồ đã phá nát thế đoàn kết kháng chiến chống Pháp, làm cho thế lực Việt Nam yếu đi, nhưng ông vẫn làm, vì sự độc quyền lãnh đạo của Việt Minh.

Giữa lúc tình thế đất nước rối ren, chính cá nhân ông Hồ cùng mấy chục bộ trưởng dân biểu không thuộc CS, kéo rốc sang Pháp để tham quan, để thăm thiện chí, mà thực sự tình thế nước Pháp cũng lâm cảnh tang gia bối rối (chính phủ Gouin vừa mới đổ, còn chính phủ mới Bidault chưa thành lập), lại phải đón tiếp một vị khách bất đắc dĩ trong khi tình thế nội bộ chưa ổn định. Phái đoàn thiện chí của Hà Nội gồm 10 vị, do Phạm Văn Ðồng cầm đầu, gồm có: Phạm Văn Ðồng, (bộ trưởng) Trần Ngọc Danh (dân biểu Cần Thơ do CS chỉ định), Ðỗ Ðức Dục (bộ trưởng), Nguyễn Mạnh Hà (bộ trưởng), Nguyễn Văn Luân (dân biểu), Trình Quốc Quang, Tôn Ðức Thắng, Huỳnh Văn Tiểng, Hoàng Tích Chu, Nguyễn Tấn Di- Trọng. Rồi phái đoàn tham dự hội nghị Fontainebleau gồm trên 20 vị vừa bộ trưởng, vừa dân biểụ Giữa lúc đó, Pháp đã đưa quân vào Hà Nội, kéo đi chiếm đóng Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Dương, tích cực chuẩn bị đè bẹp kháng chiến. Tình hình kháng chiến Nam Bộ gần như bị đè bẹp hoàn toàn. Ðầu tháng 2/1946, Pháp kiểm soát hoàn toàn tất cả 21 tỉnh Nam Bộ và mấy tỉnh Nam Trung Bô Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhà Nho nổi tiếng yêu nước, ngay thật, không biết thủ đoạn chính trị, được ông Hồ cử làm quyền chủ tịch nước, chỉ để tượng trưng. mọi việc đều được trung ương đảng gồm Trường Chinh, Trần Ðăng Ninh, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Kháng…..cùng với Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, cứ theo kế hoạch bí mật của ông Hồ mà thi hành. Chính Trung ương đảng thảo kế hoạch bí mật để khủng bố, tàn sát đẫm máu các đảng quốc gia, mới ‘liên hiệp’ với Việt Minh.

Có người binh vực cho rằng khi ông Hồ sang Pháp, không chịu trách nhiệm về tình hình xảy ra tại quê nhạ Lý luận như thế là sai lầm. Ông Hồ ra chỉ thị mật, nhận báo cáo của Trung ương đảng hàng đêm. Ðây là bí mật lịch sử tới nay ít ai biết. Pierre Celérier viết trong ‘Menace sur le Vietnam’ (1950): ‘Phái đoàn VN đi dự hội nghị Fontainebleau có đem theo chuyên viên vô tuyến điện, để đánh tin và bắt tin từ VN. Nhà chức trách tại Paris biết được bằng cớ về sự chuyển tin và báo tin, nhưng không thể phá vỡ được trên đất Pháp’ Hơn nữa, người Pháp biết ông Hồ chỉ khủng bố người quốc gia, chớ không tấn công quân Pháp, nên làm ngơ, vui mừng là khác. Ngày 1/6/46 ông Hồ nhận tin Việt Minh tấn công quân Ðồng Minh Hội tại Phủ Lạng Thương, Ðồng Mỏ, Lạng Sơn.

Hạ tuần tháng 6/46, các cơ sở Quốc Dân Ðảng tại Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Tho (Xem thêm Hoàng Tường, Việt Nam Ðấu Tranh’ từ trang 89 – 101). bị tập kích với lực lượng đông gấp 10 lần, bị Việt Minh bao vây, tuyệt lương, rồi tỉa dần từng toán nhọ Quá tuyệt vọng, các ông Nguyễn Tường Tam (bộ trưởng ngoại giao), Nguyễn Hải Thần (Phó chủ tịch chính phủ), Vũ Hồng Khanh, phó chủ tịch Quân Ủy hộiđều bôn đào sang Trung Hoa lần nữạ Các đơn vị do Vũ Hồng Khanh, bị tập kích từ Lào Cay, Phong Thổ, khiến cho khoảng 600 quân VN Quốc Dân Ðảng tan rã, cuối cùng, rút theo ngả Vân Nam. Ðó là ‘thế đoàn kết’, ‘liên hiệp’ với Việt Minh, một kinh nghiệm máu xương trong lịch sự Ngoài ra, hàng ngày, tại Hà Nội, Việt Minh khủng bố, bắt cóc, thủ tiêu đối lập như đảng mafia: Hoàng Ngọc Bách, Nguyễn Bạch Vân, Trần Quốc Lạc, Hoàng Tử Quyđều bị ám sát chết. Ðọc lịch sử giai đoạn nầy, nhiều người không hiểu tại sao Việt Minh lại tiêu diệt những người quốc gia trong chính phủ của hỏ Lý do thứ nhứt, Việt Minh là CS trá hình. Lý thuyết cách mạng của Mác xít đã dạy: ‘Cuộc đấu tranh cho giai cấp vô sản, dù về mặt nội dung, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu phải mang hình thức đấu tranh dân tộc… Ðương nhiên và trước hết, giai cấp vô sản phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình trước đã’ (Mác Angen tuyển tập, NXB Sự Thật Mátcơva 1978, trang 555, tập 1. Dẫn lại của LS Nguyễn Văn Chức). Thứ hai, để thực hiện con đường cách mạng vô sản, ông Hồ phải làm sao cho đảng CS (tức Việt Minh) phải nắm được chính quyền hoàn toàn, để lần lượt đưa dân tộc và đất nước đi vào quỹ đạo cộng sản quốc tệ Ông Hồ đã nói với cán bộ: ‘Lúc nầy nước Pháp không phải là kẻ thù trước mắt. Bọn Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Ðồng Minh Hội, Cao Ðài, Hòa Hảo trong Nam… mới là kẻ thù không đội trời chung. Người quốc gia không hiểu sách lược của CS nên trở thành nạn nhơn của CS.

Việt Minh mở chiến dịch ‘tổng ruồng, vét sạch’ từ Nam chí Bắc. Họ lùng sục bắt giam, tra tấn, thủ tiêu những người quốc gia, kể cả những đại biểu quốc hội mà họ chia ghế như Lê Khang (Lê Nin), nhà văn Khái Hưng, Nguyễn Mạnh Côn…..(bị bắt, sắp giết……) Lê Khang, chủ nhiệm đệ tam khu bộ VNQD, nằm bệnh viện Ðặng Vũ Lạc trước ga Hàng Cỏ, bị VM đến bắt đem đi, rồi giết ở Vĩnh Yên. Còn các ôngPhạm Tất Thắng, Nguyễn Tắc Chung, Nguyễn Quỳnh (dân biểu Nam Ðịnh), đảng trưởng Ðại Việt Trương Tử Anh…. đều bị Việt Minh sát hạị Nhà văn Khái Hưng bị bắt ở Liên khu 3, rồi bị trấn nước chết tại bến đò Cựa Gà, phủ Xuân Trường, vào năm 1947. Ðó là ‘đoàn kết trong mặt trận Việt Minh’ Tại miền Trung và Nam Bộ, đều thi hành một chính sách khủng bố man rợ như vậỵ Những năm đó, Việt Minh tung công an chìm rình rập, bắt bớ những phần tử mà họ cho là nguy hiểm, đem giam ‘để điều tra’, hoặc thủ tiêu trong đêm bằng hình thức chặt đầu, mổ bụng, trói thúc ké thả trôi sông.

Về chính trị, Việt Minh nhân danh chính phủ liên hiệp, buộc các báo của các đảng quốc gia như ‘Việt Nam’, ‘Thiết Thực’ phải nạp bản kiểm duyệt trước khi phát hành. Tóm lại, chủ trương của Việt Minh là tận diệt đối lập, là bịt miệng, trói tay, bí mật thanh toán, rồi ngụy tạo bản án ‘Việt gian’, ‘phản quốc’, ‘thổ phỉ” như vụ án Ôn Như Hầu, vụ án Cầu Chiêm Sơn (xem thêm Hoàng Văn Ðạo, VN Quốc Dân Ðảng trang 362 – 363). Ðó là chủ trương thầm kín để tiêu diệt các đảng phái quốc gia, của ông Hồ khi kéo rốc qua Pháp để tránh tiếng.

Cũng xin nhắc thêm về hành động ‘hợp tác rồi khủng bố’, trở mặt như trở bàn tay của Việt Minh tại Hà Nộị

Ngày 18/6/46, Việt Minh hợp tác với VN Quốc Dân Ðảng để tổ chức lễ kỷ niệm Phạm Hồng Thái (19/6) và Nguyễn Thái Học (17/6). Qua ngày 11/7/ 46, Việt Minh đem quân bao vây tiêu diệt các thành phần mới vừa hợp tác mấy hôm trước. Lúc 6 giờ chiều Việt Minh bố ráp trụ sở VNQD tại trường Tiểu Học Ðỗ Hữu Vị, bắt hết đối lập, lục soát báo quán ‘Việt NamÊ kế đó tới vụ dàn cảnh ‘vụ án Ôn Như Hầu’ Ông Hồ biết rõ Việt Minh đã để lộ chân tướng CS, nên không được Anh, Mỹ cảm tình. Nếu tiếp tục giữ mặt trận Việt Minh, sẽ thất bại trong hội nghị sắp tới tại Fontainebleau, vì thế ông Hồ ra lịnh gấp rút tổ chức một mặt trận khác, để gom hết nhân dân vào một khối, do ông ta và đảng CS nắm chặt, nhưng bên ngoài có tính ‘quốc gia’ hơn. Trần Huy Liệu được căn dặn tổ chức ‘Hội Liên Hiệp Quốc Dân VN’, gọi tắt là ‘Liên Việt’ nhằm mục đích trên. Còn Võ Nguyên Giáp được lịnh ở lại với nhiệm vụ bí mật là khủng bố tất cả người quốc giạ Ông còn ra lịnh cho Giáp ‘hãy hy sinh tất cả để mua thật nhiều súng của quân đội Trung Hoa sắp rút đi’ Thứ hai là vận dụng tất cả khả năng để tiêu diệt những người quốc gia

Thời gian hơn 4 tháng, ông Hồ qua Pháp (chưa có một chuyến công du, thăm viếng thiện chí của bất cứ nguyên thủ quốc gia nào quá lâu như vậy), Trung ương đảng thi hành kế hoạch mật khủng bố, ám sát, thủ tiêu, hoặc bao vây tiêu diệt quân đội QD, Ðồng Minh Hộị Các việc làm nầy phải báo cáo với ông Hồ tại Pháp hàng đêm. Còn ‘Hội Liên Việt’ tức hội ‘Liên Hiệp Quốc Dân VN’, thì ông Hồ quỷ quyệt rút tên ra, chỉ làm chủ tịch danh dư Ông lừa nhà Nho yêu nước Huỳnh Thúc Kháng làm chủ tịch, để lôi kéo những thành phần quốc gia vào mặt trận. Phó chủ tịch là Tôn Ðức Thắng (CS). Tổng thơ ký là Cù Huy Cận (CS). Các ủy viên là BS Phạm Ngọc Thạch, trước ở Sàigòn là quốc gia, sau ra Hà Nội bi nhuộm đỏ! (Hồi ký Nam Ðình, trang 341). Trần Huy Liệu, ủy viên tổ chức (CS), chỉ một nhân vật không CS, thuộc Công giáo là Ngô Tử Hạ, bị đưa vào làm bình phong và tay sai

Tại mỗi làng, mỗi tổng, mỗi tỉnh đều có một ủy ban lãnh đạo mặt trận ‘Liên Việt’ do CS nắm giự Ngày 12/6/46, ông Hồ và phái đoàn tới Biarritz, phía nam nước Pháp, chờ đợi Pháp thành lập chính phủ mới, vì chính phủ Gouin đã độ Tình hình nước Pháp đang rối ren mà ông Hồ nhứt định công du, điều đó chứng tỏ ý đồ thầm kín của ông là muốn lánh mặt khỏi VN, để bọn đàn em tiêu diệt Quốc Dân Ðảng và Ðồng Minh Hộị Gần hai tuần sau, tân chính phủ Bidault được tấn phong. Sainteny đưa ông Hồ lên Paris. Trong hồi ký ‘Histoire d’une paix manquée’, tác giả Sainteny kể lại: ‘Hồ Chí Minh hai tay run, nói bên tai tôi:

– Anh đừng rời tôi! Thiên hạ đông quá!

Sử gia Philippe Devillers phê bình: ‘23 năm trước, Hồ Chí Minh từ giả Paris như một người bị trục xuất, nay ông ta trở lại đây với tư cách chủ tịch một chính phủ (do quốc hậu bầu cử gian lận tấn phong), quả thật là một định mệnh’ Ðây cũng là lý do thầm kín để ông Hồ công du qua Pháp, như trả thù lúc ông ta làm bồi tàu, làm bếp khách sạn, bị bạc đãị Rồi các cuộc đón tiếp diễn ra theo nghi thức quốc trưởng: ông đến thăm Khải Hoàn Môn, đền Versailles, Tòa Thị Chính, L’Opera, đài chiến sĩ trận vong… đi tới đâu cũng có đoàn xe mô tô hộ tống và dẫn đường.

* Bí mật thương thuyết thỏa hiệp án, Hội nghị

Fontainebleau thất bại

Trong khi chuẩn bị hội nghị Fontainebleau, và trong lúc tiếp diễn (từ 6/7/46 tới 10/9/46), ông Hồ cử người đi đêm thương thuyết với Pháp, chấp thuận nhiều nhượng bộ về quyền lợi cho Pháp, nên tại hội nghị, Pháp giữ lập trường cứng rắn. Hai bên về mặt công khai, không thỏa thuận điều gì, nên thất bạị Lý do là tại ông Hồ muốn dựa vào Pháp, nhưng lại sợ dư luận công khai biết. Mãi đến khi hội nghị sắp kết thúc, đêm 10/9/46, ông Hồ thương thuyết bí mật với các phái viên của văn phòng chính phủ Bidault. Hai bên đã thỏa thuận trên căn bản nhiều vấn đề, ngoại trừ vấn đề Nam Bô (Chính Ðạo ‘VN Niên Biểu, Tập 1A, trang 347). Xin nhắc lại chương trình nghị sự của hội nghị Fontainebleau gồm 4 điểm:

1. Thống nhứt VN (Hội nghị đồng ý để có cuộc trưng cầu dân ý quyết định).
2. Vấn đề quan thuế
3. Ðại diện ngoại giao
4. Văn hóa

Ba vấn đề sau, đã được ông Hồ chấp thuận hoàn toàn theo đề nghị của Pháp. Tài liệu lích sử của ông Nam Ðình Nguyễn Kỳ Nam, trang 350 ghi lại như sau: ‘Ngày 11/7/46, phái đoàn Pháp đưa cho phái đoàn VN một văn kiện giải thích ‘Liên Hiệp Pháp’ là một tổ hợp có nhiều xứ liên quan với Pháp mà thôị Còn Liên bang Ðông Dương là một ‘Hiệp chủng quốc’ Phái đoàn VN phúc đáp ngày 12/7/46: ‘VN nằm trong Liên Hiệp Pháp là một sự hợp tác tự do, bằng nhau về mọi phương diện và quyền lợi Còn VN trong liên bang Ðông Dương tức là VN trong phạm vi kinh tế, tài chánh. ‘Như vậy, về công khai giữa hội nghị, hai phái đoàn khác nhau về lập trường đối với Liên Bang Ðông Dương và Liên Hiệp Pháp, nhưng trong bí mật, ông Hồ đã chấp thuận tất cạ Như vậy làm sao Pháp nhượng bộ điều gỉ Cùng ngày 12/7/46, để trấn an dư luận, Hồ Chí Minh họp báo, giải thích: ‘Giữa Pháp và VN sẽ có một hiệp ước riêng (tức thỏa hiệp án 14/9/46) mà Pháp phải nhìn nhận nguyên tắc ‘Dân tộc tự quyết’

‘Còn vấn đề Liên bang Ðông Dương, là vì Ðông Dương gồm có Miên và Lào, nên cơ quan nầy đang hợp tác nhau về mặt kinh tế thôi, chớ đừng lập lại chế độ Toàn quyền trá hình. (sự thật là như vậy). ……Về ngoại giao, Pháp muốn VN chỉ biết có Pháp mà thôị Còn VN thì bảo rằng ‘đã là một nước độc lập, thì VN phải có bộ ngoại giao riêng, trực tiếp với các nước khác. Về chính trị, phái đoàn Pháp bảo rằng ‘đó thuộc về thẩm quyền của chính phủ Pháp, phái đoàn Pháp chỉ biết chuyển nghị án của VN lên chính phủ Pháp mà thôị Trong lúc lập trường hai phái đoàn không đồng ý điểm nào, thì Cao Ủy d’Argenlieu phá hội nghị bằng cách mở hội nghị Liên Bang Ðông Dương tại Ðà Lạt, từ ngày 23/7/46, nhưng mãi đến 1/8/46 mới khai mạc. Phái đoàn VN gồm 3 phần: Nam Kỳ quốc với Ðại tá Nguyễn Văn Xuân làm trưởng đoàn. Ông Nguyễn Văn Xuân bị ông Hồ lấy tên để trong ‘chính phủ lâm thời tự phong’ từ rừng sâu, mà không hỏi ý kiến, cũng chưa từng gặp gỡ, quen biết (Buổi họp kín của 8 đảng viên CS, ngụy tạo là ‘Quốc dân đại hội Tân Trào’). Thủ đoạn này cũng giống như trường hợp bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, ông Hồ chỉ nghe mang máng là thủ lãnh Thanh Niên Tiền Phong, liền ‘chộp’ đại tên ‘Phạm Văn Thạch’ lồng trong danh sách thành viên ‘chính phủ’ Thêm một nhân vật khác là Lê Văn Hiến, mặc dù là CS, nhưng cũng không thuộc phe ông Hồ, đang ở miền Trung, được ông Hồ mượn tên, gọi Lê Quốc Hiến’, để trong danh sách ‘chính phủ lâm thời’, để dư luận hiểu lầm rằng những vị này có vô rừng Tân Trào họp ‘quốc dân đại hội’ Ðó là những sự kiện dối trá, cho tới nay rất ít người biết. Phái đoàn VN thứ hai là của sắc tộc Chàm, do ông Lưu Ái cầm đầụ Phái đoàn thứ ba của đồng bào Thượng ở vùng Ban Mê Thuột, do Ma Krong (tù trưởng Ê Ðê) và y sĩ Djac Ayun (Chính Ðạo ‘VN Niên Biểu, tập 1A, trang 345).

Như vậy, vùng rừng núi VN, bị Pháp xẻ làm nhiều ‘nước tự trị’, không kể Miên, Làọ Mãi đến ngày 7/9/46, theo hồi ký của Nam Ðình, phái đoàn VN yêu cầu phái đoàn Pháp tạm ngưng những điểm khác, để thảo luận lại các vấn đề ‘kinh tế tài chính, quan thuệ hai phái đoàn trao đổi văn kiện, cùng nhau thảo luận đêm 9 rạng 10/9/46. Hai phái đoàn làm việc suốt đêm, chờ sáng ngày 10/9/46 sẽ thảo ra tạm ước (tức Thỏa Hiệp Án 14/9/ 46).

Ðến khi tái nhóm, phái đoàn VN yêu cầu giải quyết nhiều vấn đề khác, như yêu cầu Pháp hứa chắc chắn và rõ rệt về ngày giờ và cách thức trưng cầu dân ý ở Nam Bô Pháp không chịu cam kết, VN không chịu ký ‘tạm ước về tài chính, quan thuê’ Thế là hội nghị tan vợ Phái đoàn xuống tàu Pasteur về nước ngày 16/9/46…. Còn Hồ Chí Minh…Sainteny kể lại rằng: ‘HCM rời khách sạn Royal Monceau, xuống Soisy Sous Montmorency, tạm trú tại biệt thự của Aubrac, viện lẽ nên xa Paris vài ngày cho không khí bớt căng thẳng… Nhưng trước khi rời Paris, ngày 14/9/46, Hồ đến viếng Marius Moutet, bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại, trao đổi thêm về bản Tạm ước. Hồ Chí Minh cũng có đến thủ tướng Bidault tâm tình rằng: ‘Tôi làm sao ăn nói với các đảng đối lập với tôi, khi tôi về tay không?’

‘Mãi đến nửa đêm ngày 14 rạng 15/9/46, Hồ Chí Minh gõ cửa Moutet ở số 19 đường Courcelles, nhằm lúc Moutet còn thức.

– Tôi đến đây bằng lòng ký Tạm Ước (Thỏa Hiệp Án).

Thế là Tạm ước được ký kết giữa Moutet và Hồ Chí Minh trong phòng ngủ của Moutet. ‘Hồ Chí Minh ra về, cùng đi với một thanh tra Pháp, đã đi theo hộ tống từ trước đến naỵ Trong lúc đêm khuya lạnh lẽo, ông Hồ than với viên thanh tra mật thám Pháp:

– Tôi vừa mới ký một bản án tử hình của tôi!

Dưới đây là nguyên văn ‘Thỏa hiệp án’ hay Tạm ước 14/9/46, được tờ báo Nam Kỳ số ra ngày 23/9/46, đăng lại như sau:

Nguyên văn bản Thỏa Hiệp Án:

Làm tại Paris ngày 14 Septembre 1946:

Thay mặt chính phủ lâm thời Pháp:

Tổng trưởng Pháp quốc hải ngoại.

Ký tên:

Marius Moutet

Thay mặt chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam:

Chủ tịch chính phủ.

Ký tên:

Hồ Chí Minh.

Công nhận đúng theo bổn thảo

Tổng thơ ký Ủy ban Ðông Dương

Ký tên:

Messmer

‘Toàn thể các điều dự định trong bản thỏa hiệp án nầy, làm thành hai bản, sẽ được đem ra thi hành vào ngày 30 Oct 1946.

Ðiều thứ I:

Kiều dân VN ở Pháp và kiều dân Pháp ở VN, sẽ được tự do sanh cư y như người bổn quốc, cùng những quyền tự do phát biểu, giáo dục, thương mại, thông hành. Tóm lại là tất cả tự do dân chủ

Ðiều thứ II:

Sản nghiệp và xí nghiệp Pháp ở VN, sẽ không đặt dưới một chế độ gắt gao hơn chế độ dành cho sản nghiệp và xí nghiệp của người VN, nhứt là về thuế vụ và lao động pháp chệ Sự bình đẳng về quy điều này, sẽ được nhìn nhận bằng danh nghĩa đãi ngộ lẫn nhau, cho sản nghiệp và xí nghiệp của kiển dân VN, trong các lãnh thổ Pháp quốc hải ngoạị Quy điều sản nghiệp và xí nghiệp Pháp ở VN, chỉ được sửa đổi bằng sự thỏa hiệp chung giữa Cộng hòa Pháp và Cộng hòa dân chủ VN.

Tất cả sản nghiệp Pháp bị chính phủ VN trưng thâu mà những tài chủ, hoặc những xí nghiệp bị nhà cầm quyền VN làm cho họ trở nên trắng tay, sẽ được quy hoàn cho những chủ nhơn và những người có quyền nhận lãnh.

Một ủy ban Pháp Việt sẽ được đề cử để quy định các thể thức quy hoàn nầỵ

Ðiều thứ III:

Cho được phục hồi ngay bây giờ cuộc văn hóa giao tế mà Pháp Việt đồng muốn khuếch trương, các học đường Pháp, một vài đẳng cấp sẽ được tự do dạy ở VN.

Những học đường ấy sẽ áp dụng các chương trình chính thức Pháp. Về sau sẽ do hiệp định riêng mà chọn lựa những tòa nhà thích ứng cho sự dạy học của các học đường, những trường, những khoa học viện ở toàn cõi VN. Kiều dân VN ở Pháp cũng được hưởng y đặc quyền nàỵ Y viện Pasteur sẽ được phục hồi quyền lực và sản nghiệp của mình. Một ủy ban Pháp Việt sẽ quy định những điều kiện cho trường Viễn Ðông Bác Cổ hoạt động lại

Ðiều thứ IV:

Mỗi khi có cần dùng những nhà cố vấn kỹ thuật và chuyên môn, thì chính phủ Cộng hòa Dân Chủ VN, phải gọi đến Pháp kiều trước nhứt. Ðặc quyền ban cho Pháp kiều chỉ không có hiệu lực là khi nào nước Pháp không thể cung ứng nhân viên mà VN yêu cầu

Ðiều thứ V:

Liền sau khi giải quyết vấn đề điều chỉnh tiền tệ, hiện thời chỉ có một thứ bạc chung đem ra xài trong các lãnh thổ thuộc quyền chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ VN, và các lãnh thổ khác ở Ðông Dương. Thứ bạc ấy, chính là đồng bạc Ðông Dương, do nhà băng Ðông Dương phát hành hiện thời, để chờ lập ra một phát ngân viện. Ðiều lệ của cơ quan phát hành viện, sẽ do một Ủy ban Pháp Việt nghiên cứụ Các nước có chơn trong liên bang, sẽ có đại biểu trong đọ Ủy ban nầy còn có phận sự liên lạc tiền tệ và các sự mậu dịch. Ðồng bạc Ðông Dương được xài trong khu vực đồng phật lăng (francs).

Ðiều thứ VI:

VN sẽ cùng các xứ khác trong liên bang Ðông Dương, tạo thành một liên hiệp quan thuệ Tuy vậy, trong xứ sẽ không có một bức tường quan thuế nào cạ Việc xuất nhập lãnh thổ Ðông Dương đều dùng chung định giạ Một ủy ban liên lạc thương chánh và ngoại thương, cũng giống như ủy ban liên lạc tiền tệ và mậu dịch, sẽ nghiên cứu các biện pháp thi hành cần thiết và chuẩn bị tổ chức thương chánh ở Ðông Dương.

Ðiều thứ VII:

Một ủy ban Pháp Việt liên lạc về giao thông, sẽ nghiên cứu các biện pháp chánh để khôi phục và cải thiện cuộc thông thương giữa VN và các xứ khác trong liên bang Ðông Dương và Liên hiệp Pháp: vận tải đường bộ, đường biển, đường hàng không, sự thông gởi bằng bưu chánh, dây nói, điện tuyến và vô tuyến điện.

Ðiều thứ VIII:

Trong khi chờ đợi sự thành lập của bản hiệp ước hoàn toàn giải quyết xong vấn đề ngoại giao của nước VN với những nước khác, một ủy ban Pháp Việt sẽ định đoạt những điều giải hầu bảo đảm việc VN đặt lãnh sự ở các lân bang, và cuộc giao thiệp giữa lãnh sự ấy với các lãnh sự ngoại quốc.

Ðiều thứ IX:

Tha thiết bảo đảm càng sớm chừng nào càng hay chừng ấy, ở Nam Bộ và miền Nam Trung Kỳ, sự khôi phục một trật tự công cộng vừa cần thiết cho nguyện vọng tự do về các quyền tự do dân chủ vừa vãn hồi, và nhận định những phản động lực may mắn phát do sự ngưng những hành động xung đột và bạo động của đôi bên.

Chính phủ Pháp và chính phủ Cộng Hòa VN, đồng thảo các biện pháp sau đây:

a. Ðôi bên chấm dứt tất cả những hành động xung đột và bạo động.

b. Những hiệp định của các bộ tham mưu Pháp Việt, sẽ quy định các điều kiện thi hành và kiểm soát những biện pháp quyết định chung.

c. Những tội phạm hiện còn bị giam cầm về nguyên do chính trị, sẽ được thả ra, chỉ trừ những kẻ bị truy tố về hình sự và thường phạm (droit commun). Với những tù binh bắt được trong các cuộc hành quân, cũng sẽ quy định y như thệ VN đảm bảo không truy tố bất cứ người nào đã cộng tác hoặc trung thành với Pháp quốc, và chẳng dung tha bất cứ bạo hành nào chống những kẻ ấỵ Bù lại, chính phủ Pháp cũng đảm bảo không truy tố bất cứ người nào cộng tác với VN, và không dung tha bất cứ bạo hành nào chống lại kẽ ấy

d. Việc hưởng các quyền tự do dân chủ giải thích ở điều khoản thứ I, sẽ được đôi bên đảm bảo lẫn nhaụ ẹSẽ chấm dứt những sự tuyên truyền bất hữu ái của đôi bên.

f. Chính phủ Pháp và chính phủ Cộng hòa Dân Chủ VN, sẽ cộng tác với nhau, để làm cho kiều dân các nước nghịch cũ, không làm hại gì được nữa

g. Một nhân vật do chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ VN đề cử, và được chính phủ Pháp công nhận, sẽ được gởi tới bên Thượng sứ Pháp, để cộng tác và thi hành những điều thỏa thuận nầỵ

Ðiều thứ X:

Chính phủ Cộng hòa Dân chủ VN, đồng ý chung tìm cách ký kết những hiệp định riêng về tất cả vấn đề có thể đưa ra hầu thắt chặt tình hữu nghị, và dọn đường để ký kết một hiệp ước chung vĩnh viễn.

Cuộc thương thuyết sẽ tiếp tục về mục đích nầy sớm chừng nào càng hay, và trễ lắm là vào tháng Janvier 1947.

Ðiều thứ XI:

Toàn thể những điều khoản trong ‘Thỏa hiệp án’ nầy chia làm hai bản, sẽ được thi hành vào ngày 30 Octobre 1946.’

Ðọc qua nội dung, chúng ta thấy rõ Hồ Chí Minh nhượng bộ Pháp gần như đầy đủ các quyền lợi như hồi VN còn là thuộc địa của nước Pháp. Ở vào hoàn cảnh lúc đó, người ta mới thấy sự thiệt thòi của VN. Với hiệp ước tạm 14/9/46 hay ‘Tạm ước’ nầy, nước ta chỉ hưởng được những từ ngữ mới ‘Nước VN Cộng Hòa Dân Chủ’, được tự dọ, còn sự thật, người Pháp nắm tất cả mọi ngành, từ chính trị, quân sự, ngoại giao, quan thuế, tiền tê Lý do thầm kín là ông Hồ cần dựa vào Pháp, cần cộng tác với Pháp, để có thì giờ tận diệt người quốc giạ Với đảng CSD lúc đó (dù trên danh nghĩa giả bộ giải tán từ 11/45), nước Pháp không phải là kẻ thù trước mắt. Các đảng Ðại Việt, Quốc Dân Ðảng, Ðồng Minh Hội, Cao Ðài, Hòa Hảo, Trotkyst….tuy là đồng bào ruột thịt, cùng một mục đích tranh đấu giành độc lập, nhưng bị ông Hồ và Việt Minh coi như thù địch không đội trời chung. Ðó là chính sách, đường lối của ông Hồ và mặt trận Việt Minh, rồi Liên Việt. Vì cần bảo vệ sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản, ông Hồ phải bí mật tiêu diệt tả hữu, từ Trotkyst đến người quốc gia, không cho một mầm mống nào tồn tại

Trong con mắt của ông Hồ thời đó, nước Pháp bấy giờ là ‘nước Pháp mới’, vì có tổng bí thư đảng CS Pháp Maurice Thorez làm phó thủ tướng chính phụ Trong chuyếùn đi Pháp lần này, ông Hồ còn đem theo 20 kg vàng, tặng cho báo l’Humanité, cơ quan ngôn luận của đảng CS Pháp, để họ làm cái loa ủng hộ ông ta và đảng CSVN. Vì thế khi vừa đặt chân lên Paris, ký giả Simonne Terry của l’Humanité liền viết một bài ‘l’Oncle Hồ’ (Bác Hồ), để ca ngợi ông tạ Sự thật chính cái ‘nước Pháp mới’ đã đổ bộ vào miền Bắc VN, đưa quân chiếm các vị trí hiểm yếu, đang sẵn sàng đè bẹp các cuộc chống đối của kháng chiến VM. Ðiều này có hại cho dân tộc VN, nhưng có lợi cho riêng ông Hồ và đảng CS của ông ta.

Hồi các năm 1945 – 46, Việt kiều tại Pháp có đoàn kết, nhưng không suy tôn, thờ phụng Hồ Chí Minh như thần thánh, không làm lễ sinh nhựt của ông ta như đảng CSVN mong muốn. Họ ủng hộ Việt Minh trong chừng mực nào đó, và phản đối ông Hồ trong ‘Thỏa hiệp án 14/9/46’, cũng như Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/46.

Xin nhắc lại tình hình của người Việt tại Pháp hồi năm 1946. Khi ông Hồ sang Pháp, thì cộng đồng Việt kiều ở đây khoảng 14.000 người, gồm lính thợ, công binh, một số ít gia đình, du học sinh có mặt ở Pháp. Cộng đồng Việt kiều có đoàn kết, nhưng không’đoàn kết trong mặt trận VM, không chịu nhận sự lãnh đạo của Việt Minh (Xem thêm Ðặng Văn Long ‘Người Việt ở Pháp, trang VIII đến IX). Cần phân biệt có hai thứ đoàn kết: Một là ‘đoàn kết trong mặt trận VM’, ‘đoàn kết chung quanh bác Hồ’. Còn đoàn kết theo nghĩa thông thường, để gây sức mạnh, thì lúc đó không còn nữa. Một người có nhiều kinh nghiệm về ‘đoàn kết’ là ông Bùi Tín, viết: ‘Ðoàn kết trong mặt trận Việt Minh, trong mặt trận Liên Việt, hay trong mặt trận Tổ Quốc… có nghĩa là theo sự lãnh đạo của đảng CS, vâng lời đảng CS, chịu mọi sự áp đặt của đảng CS. Nói khác với đảng, cãi lại đảng là ‘vi phạm tinh thần đoàn kết’, là nhằm cách phá vỡ khối đoàn kết, là có tội, có khi tội rất nặng’ (Mặt thật, trang 120). Dù chưa có kinh nghiệm với VM, Việt kiều có lẽ cũng thấy rõ những âm mưu thầm kín của ho Việt kiều chỉ đoàn kết để tranh giành độc lập cho nước VN, nhưng không tranh đấu dưới ngọn cờ của VM, của CS.

Vì lẽ đó, khi vừa tới Pháp, ông Hồ tìm cách phá vỡ khối đoàn kết (không chịu theo VM). Ông tìm cách phá hoại sự đoàn kết của người theo chủ nghĩa quốc gia với những người Trotkyst, tức CS đệ tứ, kẻ thù không đội trời chung của ông Hồ, tức CS đệ tam. Tại Pháp, ông Hồ không thể dùng chính sách khủng bố để tiêu diệt những kẻ ‘không chịu đoàn kết trong mặt trận VM’ Ông Hồ sử dụng âm mưu về chính trị ‘kêu gọi công binh, Việt kiều’ hãy đoàn kết chung quanh bác Hồ’.

Sống lâu trên đất Pháp, người Việt nhiễm tư tưởng tự do, không bị gò bó như dưới chế độ thuộc địạ Họ tố cáo ông Hồ khi thấy ông để lộ gian ý ‘ủng hộ nước Pháp mới’, tức nước Pháp thực dân, chỉ vì có lãnh tụ CS Pháp làm phó thủ tướng chính phụ Việt kiều cũng tố cáo ‘Liên hiệp Pháp’ chính là đế quốc trá hình mà ông Hồ không ngớt ca tụng…. Bây giờ, ông Hồ đường đường chính chính là chủ tịch nước, do quốc hội bầu cử gian lận (xem ‘Trần Trọng Kim’ Một cơn gió bụi, trang 104) tấn phong. Ông Hồ tìm mọi cách dựa vào đảng CS Pháp để nhờ họ giúp đợ Khốn nỗi, khi chưa chiếm được chính quyền, đảng CS kêu gọi ‘hãy giải phóng các dân tộc thuộc địa’, giải phóng giai cấp bị bốc lột. Ðến khi Maurice Thorez trở thành phó thủ tướng chính phủ, còn nhiều đảng viên trở thành bộ trưởng, thì CS Phap liền trở mặt: ‘Cỡ đại Pháp phải được cắm lại trên các thuộc địa’ (Thorez). Báo l’Humanité, cơ quan ngôn luận của đảng CS Pháp, số ra ngày 3/8/44, ủy viên trung ương đảng CS Pháp tuyên bố: ‘Nhân dân Pháp muốn rằng xứ Ðông Dương, cũng như các đại thuộc địa khác, sẽ trở về nước Pháp đầy đủ, không mất một tấc đất nào, để xây dựng một cộng đồng Liên bang Ðại Pháp’ Tháng 1/45, tờ nhựt báo ‘Ce Soir’, cơ quan của đảng CS nhấn mạnh: ‘Là một đại cường quốc, nước Pháp phải được tham gia vào cuộc chiến ở Thái Bình Dương. Là một đại cường quốc có thuộc địa, nó (Pháp) phải giữ lấy thuộc địa ở khắp nơi và tái chiếm Ðông Dương’ (Ðặng Văn Long, Người Việt ở Pháp 1940 – 1954, trang XII).

Hồ Chí Minh cử ông Trần Ngọc Danh (em ruột Trần Phú) làm đại diện chính thức cho chính phủ tại Pháp từ năm 1946. Ðể lôi kéo những người không thích CS, Danh tuyên bố ‘Hồ Chí Minh không phải là người CS’ Chưa hết, Danh còn cho in lại bài phỏng vấn của nhà báo Thụy Sĩ, trong đó Hồ Chí Minh nói: ‘Các bạn của VN đừng quá lo ngại, chủ nghĩa CS không thể nào du nhập được ở xứ tôi’ Rõ ràng chính ông là cán bộ quốc tế cộng sản, đã đem chủ nghĩa CS vào VN từ thập niên 1920, mà bây giờ ông lại phủ nhận điều đọ Quả thật, đây là thủ đoạn của ông Hộ Ông nói láo không ngượng miệng. Nên nhớ khi, còn ở Tân Trào, ông tâm sự với mấy người Mỹ trong toán OSS, đang huấn luyện cho du kích của ông: “những cán bộ lãnh đạo VM, đã bị mật thám Pháp vu cáo là CS’ (Chính Ðạo ‘HCM: Con người . Huyền thoại’, trang 357). Còn trong báo ‘Ðộc Lập’ (tức CS trá hình) xuất bản ngày thứ ba 4/9/45, trong danh sách chính phủ ‘quốc gia’ liên hiệp, ông Hồ: chủ tịch kiêm ngoại giao ‘đảng quốc gia’ (Xin xem tờ báo đính kèm với bài nầy).

Qua thỏa hiệp án nầy, cũng như trong Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/46, Hồ Chí Minh đã bán rẽ quyền lợi quốc gia dân tộc, kéo dài thêm cuộc kháng chiến, để củng cố quyền lãnh đạo của CS. Chiêu bài ‘độc lập’, ‘tự do’ cũng chỉ là những công cụ tuyên truyền lừa dốị Mặt trận Việt Minh, cũng như người sáng lập ra nó (ông Hồ), chỉ là một cái công ty chuyên môn lừa bịp, khủng bố, đàn áp, nhưng lại ngụy trang trong bộ mặt đấu tranh ‘giải phóng dân tộc’ Ngoài một số trí thức có nghiên cứu về chính trị, biết rõ thủ đoạn của CS, còn đại đa số người dân, hay quần chúng VN, vì chưa có kinh nghiệm, lại nóng lòng vì độc lập, tự do, nên trở thành viên gạch lót đường cho Việt Minh CS tiến tới mục đích cuối cùng của họ.

* Nhận xét về ‘Thỏa hiệp án 14/9/46’

Khoản thứ 1: VN lúc đó tự nhận là một quốc gia độc lập, có chủ quyền (dù không một nước nào trên thế giới nhìn nhận), mà lại nhường cho Pháp các quyền tự do như chính trong nước của họ là tại saỏ Tạm ước cho phép người Pháp được tự do cư trú, đi lại sinh sống, ngôn luận, văn hóa, có khác nào như Pháp sống trên lãnh thổ của hỏ Ðiều đó có nghĩa là hiện ta đang chiến đấu chống ngoại xâm, tự mình buông khí giới, dùng lời nói, giấy mực… tiến hành đánh Pháp. Lại còn cho Pháp tự do buôn bán, kinh doanh không giới hạn ở nước ta, thì như vậy có khác chi tình trạng một thuộc địa như trước đâỷ Trong lịch sử, chưa có một quốc gia nào chống ngoại xâm theo kiểu ấỵ

Khoản 2: Việt Nam đồng ý trao trả lại cho người Pháp tất cả xí nghiệp, tài sản…tất cả những thứ mà ta đã tịch thu của Pháp, như vậy là trái với cương lĩnh Mặt Trận VM từ năm 1941. Nói một đàng, làm một nẻo.

Hồi chưa chiếm được chính quyền, ông kết án chế độ Pháp tại Ðông Dương: ‘Tại các thuộc địa Pháp, cảnh khốn cùng và đói khát ngày càng gia tăng, nổi uất hận càng dâng cao, tinh thần phấn đấu của nông dân….’ vậy mà khi đã chiếm chính quyền, ông lại dễ dàng thỏa hiệp với Pháp, nhường cho Pháp đầy đủ các đặc quyền như thời thuộc địa, tại saỏ Ðể Pháp tiếp tục đàn áp, bốc lột để thống trị VN thêm một thời gian nữa, đặng ông ta rảnh tay tiêu diệt đối lập trong chinh phủ liên hiệp?

Khoản 3: Cho Pháp tự do đặt chương trình giáo dục, mở trường học các cấp, dạy văn hóa Pháp không hạn chế, như vậy chủ quyền độc lập của VN ở đâủ Tại sao ông Hồ phải nhượng bộ các quyền lợi cho Pháp như vậy

Khoản 4: Khi cần, VN phải ưu tiên mướn chuyên viên của Pháp. Ðiều nầy giống như VC bây giờ buộc các công ty nước ngoài ở VN, phải thuê mướn người do đảng cộng sản giới thiệu là ưu tiên, là một điều kiện không bình đẳng.

Khoản 5: Là nước tự do, nhưng Việt Nam chấp nhận không có tiền tệ riêng, phải xài chung đồng bạc của các xứ liên bang Ðông Dương. Tiền tệ do chính ngân hàng Ðông Dương của Pháp phát hành, chớ không phải của Việt Nam. Hơn nữa đồng bạc Ðông Dương phải phụ thuộc vào đồng franc (phật lăng) của Pháp. Như vậy đâu còn là một quốc gia tự do như đã khẳng định ở trên.

Khoản 6: Việt Nam nằm trong Liên hiệp Pháp về giao thông, vận tải, có nghĩa là Pháp tự do định đoạt, vì Việt Nam đâu có phương tiện, máy móc tàu bè gị Về ngoại giao, Việt Nam muốn giao thiệp với ai, phải do Pháp quyết định, như vậy có khác gì thời thuộc địả Tại sao ông Hồ lại chấp nhận cho chính phủ Pháp quyết định vấn đề ngoại giao của ta, trong khi ta không có quyền dòm ngó, can thiệp vào việc ngoại giao của Pháp?

Khoảng 9: Việt Nam phải nhìn nhận cuộc kháng chiến ở Nam Bộ từ ngày 23/9/1945 đến 14/9/1946 là bất hợp pháp, là ‘phá rối an ninh trật tự’ Là người dân Việt Nam, quý độc giả nghĩ saỏ Việt Nam tuyên bố chống Pháp giành độc lập, nhưng bây giờ ông Hồ hợp tác với Pháp toàn diện, thỏa mãn tất cả yêu sách của Pháp, như vậy ông Hồ phản bội quyền lợi dân tộc hay yêu nước như tuyên truyền? Ðình chiến mà không đặt điều kiện có nghĩa là quân Pháp đi tới đâu ta cũng không được đánh. Việc thả tù binh, theo định nghĩa ‘tù chính trị’ cũng rất mơ hộ Người Pháp đưa quân đến đây để dàn áp, chém giết nhưng người Việt Nam chống lại, bây giờ lại ‘ân xá’ trong khi cuộc chiến còn tiếp diễn. Ngoài ra Việt Nam cũng như Pháp, phải chấm dứt tuyên truyền ác cảm chính là một sự lừa phỉnh. Ðiều nầy Pháp biết, ông Hồ biết, nhưng cứ giả bộ thành thật để dối gạt lẫn nhau, để ông Hồ có thì giờ khủng bố, sát hại đồng bào, vì yêu nước, tranh dấu giành độc lập như ông, nhưng không chịu ‘đoàn kết trong Mặt Trận Việt Minh’ với ông ma thôị Chiến tranh kiểu gì kỳ cục vậỷ Các quyền tự do mà Pháp hứa cho Việt Nam chẳng qua là một sự rao hàng, phỉnh phờ, nhưng ông Hồ dùng nó làm vốn liếng để tuyên truyền đặng câu giờ để tàn sát những phần tử yêu nước, muốn tranh giành với Việt Minh

Trên các sách báo từ năm 1945, Việt Minh luôn tự hào là một quốc gia độc lập ‘nhà nước công nông đầu tiên ở Ðông Nam Á’, nhưng lại chấp nhận tất cả mọi yêu sách của thực dân như hồi còn là thuộc địạ Dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Hồ được mối lợi gì, chẳng qua chỉ là cái bánh vẹ Ðối với ông Hồ, tất cả chỉ là phương tiện, nhưng có điều tất cả những phương tiện của ông Hồ sử dụng đều có hại cho quyền lợi quốc gia dân tộc quá nhiềụ Chiến thuật có hại cho dân tộc chính là sự phản quốc. Mà ông Hồ dùng các chiến thuật phá nát đất nước, tàn bạo, giết hết người yêu nước, như vậy ông Hồ chính là kẻ phản quốc, chứ không có công trạng gì với đất nước như cộng sản thêu dệt, bịa đặt để khoa trương..

Là cán bộ cộng sản quốc tế thuần thành, ông Hồ thuộc nằm lòng các thủ đoạn của đàn anh. Ông mô phỏng các mánh mung ấy nhưng không nêu xuất xự Bọn đàn em cứ bịa đặt thành tích rồi râm ran ca tụng như thần thánh. Nào ‘Bác vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê vào hoàn cảnh Việt Nam’, nào ‘tư tưởng Hồ Chí Minh’, sự thật tất cả chỉ là sự bịa đặt. Thủ đoạn ông Hồ bắt tay với Pháp để ký liên tiếp hai hiệp ước sơ bộ 6/3/ 1945 và thỏa hiệp án 14/9/1946, chỉ là sao y mánh khóe của Lenin sau cách mạng 1917 tại Ngạ Manh khoe ấy là ‘nhịn giặc ngoài để diệt thù trong’ Ðó là lý do Lenin ký hiệp ước Brest-Litovsk vào ngày 3/3/1918. Hiệp ước nầy cũng gần như đầu hàng Ðức Áo, để rảnh tay tiêu diệt kẻ nội thù của đảng cộng sản. Ông Hồ còn bắt chước chiến thuật ‘tiêu thổ kháng chiến’ của Nga hồi thế chiến thứ hả Tuy nhiên, vì quá nô lệ, ông không phân biệt được chỗ đúng và sả Nga là quốc gia hàn đới, mùa đông cần chỗ trú ẩn, điện nước. Phá hủy nhà cửa, cắt điện nước, tức là làm cho quân địch phải tuyệt vọng vì không thể ‘sống ngoài trời, thiếu điện sưởi ấm và nước để uống. Còn áp dụng tiêu thổ kháng chiến ở Việt Nam, phá dinh thự, nhà cửa, không làm cho Pháp thiệt hại gì cả, vì họ đóng quân ngoài đường, trong rừng, có nước uống. Ðo là sai lầm lớn và tội trạng của ông Hồ và Mặt Trận Việt Minh, vì tới nay, trên nửa thế kỷ qua, khắp nơi trên đất nước, còn nhiều cây cầu bị Việt Minh phá hủy, chưa khôi phục lại được. Còn các tổ chức Mặt Trận Việt Minh, nêu khẩu hiệu lừa bịp ‘Kháng Nhật cứu quốc’, cũng như các tổ chức ‘chiến khu’, ‘quân giải phóng’, ‘cứu quốc’, ‘Việt gian’ tất cả đều là sự rập khuôn, mô phỏng theo tổ chức của Mao Trạch Ðông. Ông Hồ không có bất cứ một sáng kiến gì cạ Lợi dụng thời cơ kẻ địch xâm lăng Việt Nam, Pháp Nhật, ông Hồ và Mặt Trận Việt Minh đeo mặt nạ, lớn tiếng rêu rao ‘giải phóng dân tộc, chiến đấu giành độc lập, tự do’ tất cả đều là sự giả dối, có mục đích chiếm chính quyền, rồi tiến hành đưa đất nước vào quỹ đạo quốc tế cộng sản. Chớp được cơ hội Nhật đầu hàng, Pháp chưa trở lại, Việt Minh từ rừng sâu treo bảng cách mạng, nhảy lên địa vị chính phủ một cách bất hợp pháp, mưu đồ giành lấy chủ quyền độc tôn, để bành trướng chủ nghĩa cộng sản ra các lân quốc, theo sách lược của cộng sản đệ tam. Mọi sự nhân nhượng, cấu kết với Pháp qua hai hiệp ước kể trên, không phải do tình thế bắt buộc: đó là sự dự mưu đã được ông Hồ phác thảo từ lúc mới chuẩn bị cướp chính quyền. (Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc, Thượng Huyền dịch, tr. 371-)

‘Ông Hồ thà nhường cho Pháp tiếp tục thống trị Việt Nam thêm một thời gian, chứ không muốn cho các dẳng phái Việt Nam khác, đứng ra lãnh đạo một nước Việt Nam độc lập’, Ðó chính là ý đồ thầm kín của ông Hộ Các hành động của ông lúc nầy (1946), chỉ xoay quanh ý đồ cộng sản độc chiếm chính quyền mà thôi.

Ông Hồ gặp gỡ kiều bào trên đường về

Khi hay tin Hồ Chí Minh sẽ ghé thăm và nói chuyện về hiệp ước 14/9/ 1946, kiều bào Việt Nam tổ chức cuộc đón tiếp ngày 17/9/1946. Lúc đó ở Pháp, có tin đồn chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sẽ bị ám sát trên đường về nước (Ðặng Văn Long, người Việt Ở Pháp, tr. 117). Ðiều nầy đã chứng tỏ thái độ bất mãn của Việt kiều với ông Hồ. Trên đường xuống Toulon về nước, ông Hồ qua sân vận động, là chỗ 3000 Việt kiều tập họp để chào đoán phái đoàn. Ông Hứa Văn Nên đọc diễn văn, bày tỏ sự băn khoăn thắc mắc của kiều bào đối với hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 và thỏa hiệp án 14/9/1946. Lý do chính phủ nhượng bộ cho Pháp quá nhiều, gần như đầu hàng. Ông Nên nói:

‘Chúng tôi không chống đối việc thương thuyết, nhưng thấy chủ tịch nhường cho Pháp quá nhiều quyền lợi về kinh tế, chánh trị, hơn cả hiệp ước sơ bộ 6/3/1946.’

Ðáp lại thái độ của công binh và của Việt kiều hồi ấy, Hồ Chí Minh không một lời nói đến sự lo ngại của công binh, mà bắt đầu bằng một sự kiện khác:

‘Hội nghị Fontainebleau tuy không thành công, nhưng là một thắng lợi của phái đoàn quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòạ Không thành, nhưng hội nghị Fontainebleau là một thắng lợi của nhân dân ta, thắng lợi của toàn thể nhân dân yêu chuộng hòa bình ở khắp thế giới’

‘Thay mặt chánh phủ và quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do toàn dân bầu cử (chỗ nầy sai, chỉ có miền bắc và vài tỉnh Trung kỳ, mà bầu cử gian lận), tôi khuyên kiều bào là công việc chánh trị để cho những người chuyên môn giải quyết, kiều bào hãy cố gắng chăm lo học lấy một cái nghề tinh xảo, để góp vào việc kiến thiết quốc giạ Ðất nước chúng ta cần đến những người con có nghề nghiệp tinh xảo.

‘Tôi nhắc lại một ý kiến mà kiều bào đã biết là nước ta như người có ruộng mà không có thóc, nước Pháp là người có thóc mang sang trồng ở ruộng ta, đến vụ gắt hái đem chia đôi, hai bên cùng có lợi, có phải như thế không? Kiều bào hiểu chưả’ Không một tiếng trả lờị Hồ Chí Minh nhắc lại ‘Kiều bào hiểu chưả’ Hơn 3000 người im phăng phắc, ngoài một tiếng phía gần cuối hàng vụt lên ‘hiểu rồi’ Ðó là tiếng nói của một công binh Cơ ngoại hạng tên Nguyễn Văn Trọ’ (Ðặng Văn Long, sđ. tr. 117).

Còn tờ báo Nam Kỳ, số ra ngày thứ hai 23/9/1946, vừa binh vực Pháp, vừa khen ông Hồ như sau:

‘May thay, ở phương Bắc, còn có người biết quý sinh mạng của thanh niên Pháp và Việt Nam, còn có người biết nhân nhươnĩg, còn có người biết cố gắng, còn có người chịu khó tìm hiểu nhau, người đó là cụ Hồ Chí Minh, ông Vũ Hồng khanh và ông Saintenaỵ ba ngươi đã ký hiệp ước Pháp Việt ngày 6/3/1946’

Nhưng cùng với sơ ước 6/3/1946, thuyết chia rẽ ra đời, làm cho cuộc xung đột Pháp Việt kéo dài ở Nam bộ ‘Hội nghị Ðà Lạt. hội nghị Fontainebleau không thành, người ta đã tưởng tượng tới cảnh núi xương sông máu cùng khắp non sông nước Việt. Song vẫn có người sáng suốt thấy xa, vẫn có người thành thật muốn hiệp tác và chấm dứt cuộc đổ máu tai hại cho cả đôi bên, nên đồng ý ký hiệp ước tạm thời 15/9/1946 (nguyên bản) để cứu vãn tình hình nghiêm trọng, chấn chỉnh nhân tâm, phục hưng kinh tế trong khi chờ sang năm 1947, ký một hiệp ước vĩnh viễn. Người đó lại là cụ Hồ Chí Minh với ông Bidault, thủ tướng Ðệ tứ cộng hòa Pháp….’

Chắc chắn lời khen nầy không giá trị, vì chỉ cuối năm, chiến tranh bùng nộ Hai bên Pháp và Việt Minh đều bịp lẫn nhau, nhưng giả bộ như thật, để chuẩn bị mở rộng chiến tranh. Chỉ có người quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc bị thiệt thòị Lý do, ông Hồ tạm hòa với Pháp, để tiêu diệt người cùng đoàn kết với mìnhtrong chính phủ liên hiệp. Ðó là ý đồ thầm kín của ông Hồ và thực dân Pháp.

Còn dưới đây là ý kiến của một nhân chứng thời cuộc, đã tham dự vào Mặt Trận Việt Minh, chúng ta càng thấy rõ thủ đoạn của ông Hồ:

‘Làm thế nào biết được khi ông ta (Hồ) lầm lũi trong đêm khuya đến nhà riêng xin ký với Marius Moutet? Làm thế nào biết được khi ông ta (Hồ) cho Pháp tất cả mọi điều Pháp muốn, từ đồng bạc đến nền ngoại giao, khi một người đàn bà vô học, cứ van lạy không thôi, cũng đòi lại đôi chút quyền lợi, nhiều hơn tạm ước 14/9’ (Nguyễn Kiên Trung, Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử, tr. 79).

Thắng lợi tại quê nhà

Như trên đã nói, ông Hồ và hai đoàn dân biểu, bộ trưởng vừa thành lập chính phủ, đã kéo rốc sang Pháp, kể chủ tịch mới được tấn phong. Công việc nước nhà bề bộn: Pháp đưa quân chiếm đóng các tỉnh miền bắc, chiếm các vị trí hiểm yếụ Nội bộ Việt Nam cũng rối ren không kém. Các đảng còn tranh chấp nhau, tố cáo lẫn nhau vì chánh phủ nói một đàng làm một nẻọ Nước Pháp cũng rối ren, chưa sẵn sàng đón tiếp quốc khách công du . Tuy vậỵ, ông Hồ vẫn cứ đi, đi cho vắng mặt tại Việt Nam. Ông đã có mưu đồ thầm kín. Các bo ảtrưởng của chính phủ mới cũng đi để khỏi thấy cảnh đồng viện, đồng bộ trưởng ở nhà đang bị sát hại bởi cái chính phủ mà họ đang tham gia.

Vừa về tới Hà Nội, Hồ Chí Minh họp báo tuyên bố ‘Chúng tôi quyết đoạt được độc lập, nhưng chúng tôi cũng quyết định sống trong Liên Hiệp Pháp (đế quốc trá hình). Nước Pháp yêu chuộng dân chủ và tự dọ Không lý do nào mà Pháp từ chốị Tôi dám cam kết rằng chính phủ Pháp đã có ý định thi hành nghiêm chỉnh tạm ước vừa ký kết’ Chỉ 3 tháng sau, Pháp tấn công toàn diện! ‘Tạm ước nầy rất cần thiết, tiện sự giao hảo giữa hai nước Pháp Việt, trước khi hội nghị tháng giêng tới đâỵ’ (Nam Ðình, tài liệu lịch sử, tr. 364)

Rõ ràng lời tuyên bố của ông Hồ đều hoàn toàn xảo trá. Các sự kiện xảy ra sau đó mấy tháng đã chứng minh sự thật.

Về tới Hà Nội, điều đầu tiên ông Hồ hài lòng là tất cả nhân vật thuộc các đảng quốc gia tham dự chính phủ liên hiệp đều bị loại: kẻ bị giết, người bị bắt cóc thủ tiêu, người bị giam cầm nơi kín đáo, còn người nhanh chân thì đã vượt biên sang Trung Hoạ Bây giờ Việt Minh một mình một chơ Ðảng Dân Chủ vẫn được giữ lại làm bình phong để Việt Minh ngụy trang trong đọ Như vậy, ông Hồ phải lập chính phủ mới với các thành phần mới trong Mặt Trận Liên Việt, tổ chức cộng sản trá hình thứ hai, để thế giới không thấy rõ cả chính phủ đều là cộng sản!

Vì thế quốc hội nhóm càng sớm càng tốt. Ông Hồ âm thầm ra lịnh triệu tập quốc hội vào ngày 28/10/1946.

Trước ngày nhóm quốc hội, Võ Nguyên Giáp bố ráp một lần nữa, bắt hết cán bộ của những đảng đối lập, nên từ ngày 23 đến 27/10, có hơn 200 người ‘tình nghi đối lập’ bị bắt và bị thủ tiêu như Vũ Ðình Chí, biên tập viên báo Việt Nam (Quốc Dân Ðảng), thường viết bài xã thuyết chống Việt Minh, chống lập trường của chính phủ.

Sau đợt nầy, không còn dối lập nữạ Ðúng ngày 28/10/1946, quốc hội nhóm tại nhà hát lớn. Lần nầy chỉ còn 210 dân biểu hiện diện, 70 dân biểu đối lập thì lớp bị thủ tiêu, hoặc đang trốn, nay còn lại không quá 20 người và cũng ngã theo Việt Minh.

Ba ngày đầu, không có gì quan trọng. Ngày thứ tư 31/10/1946, Hồ Chí Minh ra trước quốc hội trình bày những hoạt động của chính phủ từ 6 tháng nay, để rồi từ chức, ông viện lẽ ‘tình hình biến chuyển, cần có một chính phủ mạnh mẽ hơn để đối phó mọi biến cố’

‘Quốc hội hoan nghinh (vì toàn thể đều là Việt Minh của ông Hồ), rồi biểu quyết tặng Hồ Chí Minh danh hiệu ‘công dân thứ nhứt Việt Nam’, đồng ý giao cho Hồ Chí Minh lập chính phủ khác. Ba ngày sau (3/11), Hồ Chí Minh lại ra trước quốc hội trình thành phần chính phủ mới:

– Hồ Chí Minh: chủ tịch kiêm ngoại giao, Vài ngày sau, Hoàng Minh Giám được cử làm thứ trưởng.

– Võ Nguyên Giáp: bộ quốc phòng

– Tạ Quang Bửu: thứ trưởng quốc phòng.

– Huỳnh Thúc Kháng: bộ nội vu

– Hoàng Hữu Nam: thứ trưởng nội vụ

– Phạm Văn Ðồng: thứ trưởng kinh tế

Chắc quý độc giả cũng thấy vắng các vị như Nguyễn Tường Tam (VNQÐ), Nguyễn Hải Thần (Ðồng Minh Hội), Vũ Hồng Khanh. Cả ba đã trốn sang Tàu! Còn bác sĩ Trương Ðình Tri (Ðồng Minh Hội) cũng bị loại ra khỏi hàng ngũ

Nghiêm Kế Tổ thì tự ý rút lui vì hiểu rõ tâm địa cộng sản. Ðó là bề mặt. Quyền hành thực sự nằm trong tay Tổng bộ Việt Minh, tức trung ương đảng Cộng Sản: đó là các ông Hạ Bá Cang, Trần Huy Liệu, Trường Chinh, Trần Ðăng Ninh.

Bước thứ nhất đã đựơc ông Hồ thực hiện: loại tất cả đối lập trong chính phụ Có điều ông khéo ngụy trang: vắng mặt để Giáp ngụy tạo tội trạng, tấn công các đảng quốc giạ Việt Minh truy đuổi họ đến tận biên giới Lào Cay hay Lạng Sơn để thực hiện việc ‘Việt Minh độc chiếm chính quyền, không chia xẻ với bất cứ ai’

Sách Hồ Sơ Ðệ Tứ Việt Nam thuộc Tủ sách Nghiên Cứu Paris 2000, trang 13 viết ‘Cũng đi từ quan niệm độc quyền lãnh đạo, ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã mở cuộc diệt trừ tả hữu từ Trotkyst đến quốc gia, không cho một mầm mống nào đối lập có thể trồi lên được’ Trước đó mấy tháng, cuối năm 45 đầu 46, chính ông Hồ van nài các đảng đối lập ‘hợp tác tịnh thành với Việt Minh’, bây giờ chính ông triệt hạ họ một cách tàn bạọ’Ðoàn kết’ thực tế là như vậy.

Theo chủ trương che giấu sự thật lịch sử, bưng bít các hành động phản bội và phản quốc của mình, ông Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ dám cho đăng lại toàn bộ nội dung các bản hiệp ước: hiệp ước sơ bộ 6/3/1946, thỏa hiệp án 14/9/1946.

Bản chúng tôi có trong tay do báo Nam Kỳ, thân Pháp, không phải của Việt Minh ở Saigon, đăng lại. Ðiều nầy cũng giống như việc đảng cộng sản Việt Nam đã ký kết hai hiệp ước bán nước, dâng đất, lãnh hải cho Trung Cộng mới đây.

(VNNB, 26/9/02)
www.danchu.net/ArticlesChinhLuan/Collection4/HuaHoanh4001.htm 

———————–

Luật Sư Lê Công Định

1-9-2014

NGÀY ĐỘC LẬP NÀO?

Từ lâu tôi luôn tự hỏi phải chăng ngày 2 tháng 9 năm 1945 thật sự là ngày độc lập của nước Việt Nam mới sau gần một thế kỷ làm thuộc địa của Pháp? Trước khi trả lời câu hỏi nghiêm túc này, cần lần giở lại các trang sử hiện đại của nước nhà, để ghi nhận một số sự kiện quan trọng sau đây:

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng, Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngay sau đó, vào ngày 11/3/1945, vua Bảo Đại ký đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 cùng các hiệp ước nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác, khôi phục nền độc lập của đất nước, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Đây là thời điểm đáng lưu ý.

Ngày 7/4/1945, vua Bảo Đại chuẩn y thành phần nội các mới, trong đó học giả Trần Trọng Kim trở thành Thủ tướng đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập. Tháng 6/1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam. Đến khi Nhật đầu hàng phe Đồng minh, Thủ tướng Trần Trọng Kim vào ngày 16/8/1945 khẳng định bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Sau đó, vào ngày 18/8/1945, vua Bảo Đại tái xác nhận nền độc lập của Việt Nam đã công bố vào ngày 11/3/1945.

Cần lưu ý, tuy là một chính quyền thực tế và chính danh từ tháng 3/1945, nhưng Đế quốc Việt Nam không đủ lực lượng quân sự để kiểm soát tình hình. Đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn về chính trị. Nhiều tổ chức và đảng phái hình thành trước đó đã tranh thủ thế đứng chính trị riêng trước vận hội mới của Việt Nam, trong đó Việt Minh dường như là lực lượng được tổ chức hoàn bị nhất, khả dĩ tranh giành quyền lực vượt trội.

Từ ngày 19/8/1945 tại các địa phương trên cả nước, Việt Minh tiến hành đảo chính cướp chính quyền, buộc nhà nước Đế quốc Việt Nam chuyển giao quyền lực, một sự kiện mà sau đó được gọi là “Cách mạng tháng Tám”. Trước tình thế đó, vua Bảo Đại quyết định thoái vị và giải tán chính phủ Trần Trọng Kim. Dù tồn tại không bao lâu và phải dung hòa ảnh hưởng của các thế lực quốc tế cùng chủ thuyết Đại Đông Á của Nhật, nội các Trần Trọng Kim đã cố gắng đặt nền móng xây dựng một thể chế chính trị độc lập và mang đến niềm hy vọng về nền tự chủ đầu tiên cho Việt Nam sau ngần ấy năm lệ thuộc Pháp.

Ngày 2/9/1945, chớp thời cơ về một khoảng trống quyền lực và sự yếu kém của các đảng phái chính trị khác tại Việt Nam khi ấy, đại diện Việt Minh là ông Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trong một buổi lễ long trọng tại Hà Nội, và sau đó tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sơ lược lại một giai đoạn lịch sử đầy biến động như trên để thấy rằng nhiều điều bấy lâu nay bộ máy tuyên truyền và giới sử nô mặc định là đương nhiên đúng rất cần xem xét lại một cách công tâm, chẳng hạn nội các Trần Trọng Kim có thật là “bù nhìn” không, và ngày 2/9/1945 phải chăng là ngày độc lập trên phương diện thực tế và pháp lý?

Như đã nói trên, sau khi bị quân đội Nhật đảo chính tại Đông Dương, nước Pháp trên thực tế đã đánh mất quyền kiểm soát về chính trị và quân sự ở các nước này, dù họ chưa bao giờ muốn từ bỏ thuộc địa béo bở như thế. Với tư cách là một đại diện chính danh và hợp pháp của một chính quyền đã và đang cai trị đất nước liên tục từ năm 1802, vua Bảo Đại ngay lập tức tuyên cáo Việt Nam độc lập. Ông đã thủ giữ vai trò đại diện đương nhiên của quốc dân và quốc gia trong sự chuyển tiếp từ thể chế chính trị cũ sang thể chế mới, mà không một nhân vật chính trị nào đương thời hội đủ tư cách thay thế được. Do đó, xét về phương diện thực tế và pháp lý, Việt Nam đã thực sự độc lập từ ngày 11/3/1945.

Vậy không lý gì đến ngày 2/9/1945 người ta lại cần tuyên bố độc lập một lần nữa, mà người tuyên bố đơn thuần chỉ là thủ lĩnh của một phong trào chính trị, dù là mạnh nhất trong số nhiều tổ chức và đảng phái khác nhau cùng tồn tại khi ấy, và người đó cũng chưa bao giờ được quốc dân lựa chọn hoặc công nhận, dù mặc nhiên hay bằng một thủ tục hợp pháp, là đại diện chính danh của quốc gia tính đến thời điểm ấy.

Cần lưu ý, trước thời điểm 2/9/1945 danh tính Hồ Chí Minh chưa từng được biết đến rộng rãi như một nhân vật chính trị có uy tín, còn Nguyễn Ái Quốc chỉ nổi danh như một trong các nhà cách mạng đương thời tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam mà thôi. Hai tên ấy của một con người vốn luôn thích bí ẩn, dù về sau rất nổi tiếng, vẫn chưa đủ mang đến cho ông tư cách chính danh và hợp pháp vào lúc đó để có thể đứng ra đại diện tuyên bố độc lập cho quốc gia.

Tất nhiên, chân lý thuộc về kẻ mạnh, nên khi thắng cuộc người ta có thể diễn giải mọi sự kiện lịch sử theo ý riêng của mình, rằng ngày 2/9/1945, chứ không phải ngày 11/3/1945, trở thành ngày độc lập của nước Việt Nam mới. Tuy nhiên, với cách đọc sử không lệ thuộc vào ý thức hệ, từ lâu tôi đã bác bỏ lối tường thuật và nhận định lịch sử theo hướng bóp méo vì mục đích chính trị như vậy. Cho nên, nếu gọi đó là ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn có thể đồng ý, nhưng nếu áp đặt đấy là ngày độc lập thì dứt khoát không đúng, bởi với tôi chỉ có thể là ngày 11/3/1945 khi vua Bảo Đại tuyên cáo Việt Nam độc lập mà thôi.

 

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra | 3 Comments »

►Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) bên bờ phá sản (tin Reuters)

Posted by hoangtran204 trên 01/09/2012

Năm 2010, tập đoàn đóng tàu Vinashin vỡ nợ, mất 4,6 tỷ đô la.
Năm 2012, Vinalines vỡ nợ, mất 2 tỷ đô la,
Nay, tập đoàn Điện Lực Việt Nam EVN đang mang nợ 11,2 tỷ đô la, và sắp vỡ nợ.

Điều đáng chú ý là trước khi vỡ nợ, trong suốt 5- 10 năm dài, các tập đoàn này luôn luôn báo cáo là có lời, làm ăn vượt năng suất 50%, 80%, thậm chí 120%…so với năm ngoái. 

Nguy cơ vỡ nợ đằng sau những doanh nghiệp lớn của nhà nước

Hà Nội – Từ những khu trung tâm ở nông thôn cho đến những thành phố bị nạn kẹt xe trầm trọng, khó mà không thấy được sự hiện diện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Tập đoàn này xây chung cư, lập ngân hàng, giám sát dịch vụ mua bán chứng khoán, cung cấp điện cho hằng triệu nhà và có 100.000 nhân viên làm việc cho mình.

Ngày nay, công ty cung cấp điện duy nhất của Việt Nam, được biết đến như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đã trải rộng địa bàn hoạt động một cách sai lầm, theo một viên chức cao cấp trong ngành, người hiểu biết rành rẽ với tập đoàn cho hay. Tập đoàn Điện lực Việt Nam hiện là con bệnh mới nhất của nhà nước đang đối diện với sự xem xét kỹ lưỡng giữa lúc đang có những món nợ lớn, đã làm cho giới đầu tư nghi ngờ đến và tập đoàn này cũng tượng trưng cho sự xuống dốc của một đất nước mà đã một lần được mệnh danh là ngôi sao kinh tế mới của Đông Nam Á châu.

Một số người e rằng so với số nợ mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang mang, thì số nợ của Vinashin trước đây chẳng là bao, Vinashin là một tập đoàn nhà nước khác đã vỡ món nợ 600 triệu đô-làm tổn hại uy tín Việt Nam đối với giới đầu tư quốc tế, mặc dù sự độc quyền (về điện lực) này không lôi cuốn nhiều sự chú ý của quốc tế.

“Tôi có thể nói là món nợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam còn tệ hơn Vinashin nhiều, có lẽ hằng tỉ tỉ đồng,” một viên chức trong ngành nắm vững món nợ của EVN cho hay, nhưng yêu cầu được dấu tên.

Việc bắt giam một trùm tư bản nổi tiếng trong tuần này ông Nguyễn Đức Kiên, một người giàu hằng triệu và là người thành lập ngân hàng có giá trị đứng hàng thứ tư của Việt Nam là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á châu (ACB), làm tăng thêm nỗi sợ hãi về cơn bệnh tài chánh ở nước bị cai trị theo thể chế cộng sản với khoảng 90 triệu người dân.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam: Quả đấm thép? Vươn ra biển lớn? Cùng non sông cất cánh? bla… bla… bla… Nguồn hình: DCVOnline tổng hợp


Việc bắt giam ông ta làm bùng lên nỗi lo âu về một lãnh vực vốn lạm quyền nhờ những mối quan hệ với những doanh nghiệp nhà nước nợ như chúa chỗm, bao gồm nhiều tập đoàn như EVN chẳng hạn, là công ty đi lệch hẳn ra ngoài khỏi chuyên nghành của mình khi những người cầm cân nảy mực muốn xây một tập đoàn tầm cỡ thế giới rập theo khuôn mẫu “chaebol” của Nam Hàn.

Ngân hàng trung ương buộc lòng phải lên tiếng bảo đảm công chúng là tiền gởi ở ngân hàng ACB an toàn khi khách hàng sắp hàng chờ rút tiền ra, trong lúc chỉ số chứng khoán chính của Việt Nam tuột dốc 9 phần trăm trong tuần.

Tập đoàn Vinashin gần như sụp đổ trong năm 2010 và rắc rối lớn ở tập đoàn Vinaline trong năm nay, với tổng số nợ lên tới 6 tỉ 5 đô-la, đã làm cho nhà nước hứa hẹn gia tăng cải cách những doanh nghiệp nhà nước, vốn chiếm một phần ba nền kinh tế của cả nước và không cho đầu tư tư nhân đổ vào những lãnh vực này.

Nhưng những đề nghị mới đây nhất được thông báo hôm tháng Bảy tuồng như không giải quyết được những gian dối và ưu tiên hỗn loạn, nhập nhằng đã cho phép 100 tập đoàn doanh nghhiệp lớn nhất của nhà nước mang món nợ lên tới 50 tỉ đô-la — gần bằng một nữa sản phẩm kinh tế hằng năm của Việt Nam trong năm 2010.

Vấn đề ở chỗ, theo chuyên viên ngân hàng và ngành kỹ nghệ, nằm sâu và xa hơn cả Vinashin và Vinalines.

“Đó chỉ là cái chóp của tảng băng chìm dưới lòng biển,” ông David Koh, một chuyên gia Việt Nam của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á châu ở Singapore nói.

Sự thất bại của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, chẳng hạn, sẽ có một tác động lớn hơn rất nhiều lên toàn bộ nền kinh tế vì sự gián đoạn nguồn cung cấp năng lượng rẽ và đó là mạch máu cho lãnh vực sản xuất.

Bản báo cáo của Sài Gòn Thời báo hôm tháng Năm trích lại bản tài liệu của ban Kiểm tra Nhà nước cho hay Tập đoàn Điện lực Việt Nam nợ 11 tỉ 5 đô-la vào cuối năm 2010, gần gấp ba lần số nợ của Vinashin cùng thời điểm đó.

Báo Tuổi Trẻ tường thuật hôm tháng Mười Hai rồi là Tập đoàn Điện lực Việt Nam lỗ 8 tỉ 4 đồng Việt Nam, 12 lần nhiều hơn con số của Tập đoàn đưa ra.

Những con số này đã không được ban Kiểm tra Nhà nước đề cập đến trong bản báo cáo chính thức gởi cho báo chí hôm tháng Bảy.

Viên chức của Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã không trả lời nhiều cuộc gọi của hãng thông tấn Reuters nhằm xin bình luận.

Tình trạng tài chính thật của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, là doanh nghiệp nhà nước lớn đứng hàng thứ năm của Việt Nam với thu nhập gần 5 tỉ trong năm 2011 theo tường thuật của báo chí Việt Nam – thì khó mà biết được. Tập đoàn độc quyền cung cấp điện này báo cáo lỗ 3 tỉ 5 đồng trong năm 2011, nhưng nhiều nhà kinh tế hoài nghi về sự chính xác của những thông báo tài chánh của nhà nước.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam có thông báo một số kết qủa cho báo chí trong nước, nhưng họ không công bố chi tiết sổ sách tài chánh.

© DCVOnline


Nguồn:

(1Insight: Debt risks lurk in Vietnam’s unreformed state giants. Reuters, by Stuart Grudgings, 25 August 2012
(2) Tựa đề do DCVOnline đặt, và chỉ lược dịch phần liên quan đến Tập đoàn Điện lực Việt Nam của tác giả Stuart Grudgings.

Posted in Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

►Hà Sĩ Phu: 24 năm nhìn lại một bài viết

Posted by hoangtran204 trên 01/09/2012

24 năm nhìn lại một bài viết

Hà Sĩ Phu

Đúng ngày này 24 năm về trước (2-9-1988), với chiếc máy chữ cọc cạch tôi đã “xớ rớ” vào một lĩnh vực không chuyên để hoàn thành bài triết luận xã hội đầu tiên Dắt tay nhau, đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ”, bài viết đã dẫn tôi vào một quãng đời mà tôi không bao giờ ngờ tới, mà hôm nay hồi tưởng tôi cứ buồn cười một mình.

Xuất xứ của bài viết

Số là một hôm ngồi nghe Tuyên giáo Tỉnh ủy báo cáo chính trị, chị Đặng Việt Nga, con gái Chủ tịch Trường Chinh bảo tôi: Thỉnh thoảng nghe những ý kiến phân tích của anh về xã hội tôi thấy sáng ra nhiều điều, anh nên nói lại một cách hệ thống cho các bạn bè cùng nghe. Thế là, theo thói quen của một giảng viên về Sinh học, tôi vẽ một sơ đồ ra tờ giấy “croquis” cỡ lớn với các ô vuông và các mũi tên (xem phụ lục), chứng minh rằng nếu xuất phát từ quan điểm giai cấp Mác-xít cực đoan thì không thể đến cái đích Cộng sản mơ ước, mà nửa chừng nhất định sẽ gặp bế tắc, xã hội thoái hóa, bạo lực và dối trá ngự trị, dùng PHƯƠNG TIỆN sai thì không thể đến được MỤC ĐÍCH, phải thay tấm biển chỉ đường duy ý chí của Mác bằng tấm biển chỉ đường của TRÍ TUỆ… (Trong khi theo các nhà Tuyên Huấn lúc ấy thì chủ nghĩa Xã hội đang thành công rực rỡ, Liên Xô đã xây dựng xong XHCN và bước vào giai đoạn Cộng sản, tiếp theo là Cộng hòa dân chủ Đức và Rumani cũng vậy).

Buổi “báo cáo khoa học” hôm ấy có nhà thơ Bùi Minh Quốc, có hai nhà nghiên cứu văn học Hoàng Ngọc Hiến và Phạm Vĩnh Cư…

Sau đó bạn bè yêu cầu tôi viết ra thành bài và gửi đến các nơi có trách nhiệm. Hồi âm của Hội Nhà văn Việt Nam, Tạp chí Sông Hương, nhà văn Ma Văn Kháng…rất tán thưởng, coi đây là những phát hiện khoa học để đóng góp cho xã hội… Nhưng chẳng bao lâu những đòn phản kích về lý luận bắt đầu giáng xuống suốt 2 năm trời. Tạp chí Sông Hương số 37 đã lên khuôn bài lại bị bóc ra, ông Ủy viên Bộ Chính trị Đào Duy Tùng đi nói chuyện khắp nơi về “một bài lý luận phản động”, báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Tuổi trẻ, tạp chí Thông tin lý luận, tạp chí Giáo dục lý luận, tạp chí Triết học, tạp chí Cộng sản, Triết gia Trần Đức Thảo… liên tiếp đăng các bài phê phán. Nặng ký nhất (về chính trị) là hai tài liệu của Trung ương ĐCSVN là “Nêu cao tính chiến đấu chống mọi hoạt động phá hoại về tư tưởng” và “Đề cương giới thiệu Dự thảo cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ” đã dành nhiều trang phê phán Hà Sĩ Phu là kẻ phá hoại về tư tưởng.

Ở trong nước tất nhiên không nơi nào dám đăng, chỉ chuyền tay, nhưng GS Nguyễn Ngọc Lan và các bạn ở Pháp đã đưa lọt ra nước ngoài và bài viết đã được đăng và phổ biến rộng rãi.

Ấy thế là cái bút danh Hà Sĩ Phu bị cuộc đời đẩy vào vòng chính trị, thành “nhân vật chính trị” mà khi ấy, nói vô phép hắn chỉ là anh nhà giáo khoa học tự nhiên hiền lành và nhút nhát, cả đời chỉ biết bục giảng và phòng thí nghiệm, không biết và không liên quan gì, dù chỉ chút xíu, với những thứ “chính trị chính em”!

Thuở ấu trĩ

Tại sao tôi lấy làm buồn cười? Tự cười mình và cười cho cả một hệ thống chính trị: một bên thì chỉ quen chuyện khoa học, một bên thì ngớ ra và cuống lên trước một phản biện bất ngờ, đến nỗi trông gà hóa cuốc. Đôi bên cùng ấu trĩ. Hồi ấy làm gì có Internet, tôi cũng chẳng biết thế giới đã phê phán Mác-Lê ra sao, tất cả nhận thức chỉ rút ra từ trong đầu, với những lô-gích và kiến thức của các môn Toán-Lý-Hóa-Sinh mà mình tích lũy được. Nhưng khổ nỗi cái lô-gích khoa học trừu tượng, duy lý và khúc chiết có thể dẫn ta đến ngay cái gốc của chân lý (một cách tương đối) mà không cần sự trải nghiệm đầy đủ trong thực tế. Vì chỉ cốt bộc lộ những lô-gích cơ bản thuần túy khoa học, tôi chưa cần đi vào chi tiết để mổ xẻ những thực tế chính trị như đánh giá thế nào về Cách mạng tháng Tám và hai cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ, đánh giá thế nào về ưu khuyết của ĐCSVN, về nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh…, nên cứ tạm dùng những đánh giá chính thống đang lưu hành. Tóm lại chưa thể gọi đó là một bài nghị luận chính trị đúng nghĩa. Nhưng vì chạm đến cái gốc của Chủ nghĩa là điểm tối kỵ lúc bấy giờ nên bài viết lập tức bị chính trị hóa, có tác giả đã khẳng định Hà Sĩ Phu phải là tên một tổ chức có mục đích chính trị nguy hiểm.

Lúc đầu nhà nước còn dùng lý luận để đối phó với lý luận

Vì không báo nào đăng bài “Dắt tay nhau…” ấy, nhưng Nhà nước lại đăng hơn hai mươi bài phê phán nên ông Bùi Tín gọi tình trạng ấy là “Xích tay đối thủ rồi thách đấu”. Kể cũng bất công, nhưng so với cách ứng xử của nhà nước chuyên chính với những người bất đồng chính kiến sau này thì sự ứng xử lúc ấy còn phần nào tử tế và nghiêm túc! Vì dù sao lúc ấy Nhà nước còn dùng lý luận công khai để chống lại lý luận. Chỉ sau khi thấy vũ khí lý luận chính thống tỏ ra bất lực, Nhà nước mới chuyển sang “đối thoại” bằng Công an. Đến bài thứ ba của tôi (bài “Chia tay Ý thức hệ”) thì Nhà nước không dùng lý luận nữa, mà dùng kịch bản “tông xe giật túi” và tặng luôn cho một năm tù. Cứ thế, những nhà bất đồng chính kiến càng về sau càng bị trừng trị nặng nề hơn mà trường hợp Cù Huy Hà Vũ,Trần Huỳnh Duy Thức…là những ví dụ nặng nề rất điển hình.

24 năm dư luận xã hội đã trưởng thành

Bài viết từ năm Mậu Thìn (1988), trải qua Canh Thìn 2000, nay là Nhâm Thìn 2012, hai mươi bốn năm đầy biến động. Sau khi Liên xô và Đông Âu tan rã (1989-1990) thì thời kỳ yên bình của các nước Cộng sản còn lại cũng chấm dứt. Gắng “ổn định” đến 2012 thì mọi chân tướng cũng bị phơi trần , đặc biệt vấn đề nền độc lập nửa vời của Việt Nam có nguy cơ bị Trung Quốc thanh toán nốt là chủ đề mà trước đây hoàn toàn bị phong kín thì nay cũng phơi bày trước thanh thiên bạch nhật.

Hoạt động chính trị chẳng qua là sử dụng được sức mạnh của quần chúng, là điều khiển được tâm lý của đám đông. Việt Nam vốn thiếu vắng một giới “Trí thức chính trị” nên quần chúng cũng nông nổi. Vì nông nổi nên đang lúc bức xúc vì bị Pháp đô hộ liền bị “xui dại” mà nóng vội, nô nức chạy theo một chủ nghĩa hoang tưởng để bây giờ “xôi hỏng bỏng không”. Nay nhờ có thế giới văn minh, mọi màn bí mật đều bị vén lên, dân mới khôn ra nhiều, khôn rất nhiều. Về thần tượng “Cha già dân tộc” chẳng hạn (như một điểm tựa có tính sống còn của tư duy cũ) nay đã có hàng xê-ri những bài đúc kết để tham khảo và sàng lọc, để có cái nhìn đa chiều tiếp cận sát hơn với sự thật.

Một ví dụ khác: Hiện nay tâm lý quần chúng đang rất bức xúc trước nạn tham nhũng, nạn nội xâm đến mức dã man, thì việc bắt trùm sò “bầu Kiên” quả đã gõ trúng tâm lý đang dồn nén ấy, nếu như trước đây thì quần chúng đã nức lòng hò reo hy vọng vào “chuyên án” này. Nhưng không, lập tức trên trang Anhbasam (23/8/2012) đã có lời bình ngắn gọn về 3 khả năng trước sự phân hóa của các phe phái:

Ủng hộ “chuyên án” để bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ, cùng “bạn vàng môi răng” dắt tay nhau tiến tới liên bang Trung Cộng XHCN trá hình?

Hay theo ảo vọng một nhà nước tư bản hoang dã độc tài kiểu Nga hậu Xô Viết của Putin? (Cộng sản biến tướng).

Hay đấu tranh cho một nhà nước pháp quyền, dân chủ thực sự, của Dân, vì Dân?
Trong ba khả năng ấy chỉ hai khả năng đầu (tức hai khả năng xấu, từ hai phe trong đảng) đã bày ra trước mắt, với bàn tay của ngoại xâm Đại Hán lấp ló phía sau. Vậy dân phải làm gì để xuất hiện khả năng thứ ba, khi mà số đông đã bị thất vọng kéo dài và trở nên thực dụng chán chường vô cảm, khi mà rất có thể hai phe trong đảng kia sẽ thỏa hiệp để phân chia quyền lực và cùng nhau chống lại ước vọng dân chủ của nhân dân? Xem thế đủ biết trí thức và dân chúng ngày nay đã khôn ra nhiều, đã đi guốc trong bụng các phe nhóm trong trò xiếc bán mua quyền lực. Muốn lợi dụng tâm trạng bức xúc đơn giản của đám đông, dùng một lý thuyết mị dân để thực hiện ý đồ riêng không phải dễ dàng như hồi Việt Minh nữa.

Cuối cùng, sau hơn 20 năm, trong nước cũng đã có 3 blogger công khai đăng bài “Dắt tay nhau…” của HSP! (blogger Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Hữu Quý và Phùng Hoài Ngọc). Tôi tin rồi sẽ được công khai cả bài “Chia tay Ý thức hệ”, bởi trong thực tế thì Ý thức hệ Mác-xít hoang tưởng chỉ còn như cái xác không hồn, không còn ruột gan tim óc, đứng hờ làm chiếc bình phong chờ một ngày đẹp trời để đào sâu chôn chặt mà thôi. Dù bị trăm ngàn lực cản của con người, lịch sủ vẫn lầm lì bước tới.

Thế là, hai mươi bốn năm từ lúc bắt đầu phô bày ý kiến phản biện, tôi đã được bổ sung và tiếp sức rất nhiều từ mạng Internet toàn cầu và từ các thế hệ thức tỉnh đang hình thành đội ngũ, ngày càng gắn bó hơn với các diễn biến chính trị để cụ thể hóa những nhận thức khoa học mà lúc đầu mới chỉ khái quát sơ lược.

H.S.P (nhân ngày 2-9-2012)

Tác giả gửi đăng.

———————————————————

Phụ lục: (phóng đại hình:bằng cách đè nút Ctrl và cùng lúc ấy nhấn 2-3 lần vào dấu +)

Danh mục những tài liệu phê phán bài “Dắt tay nhau…”:

(Những tài liệu này tổng cộng dài hàng trăm trang, ở đây tạm chỉ ghi danh mục và xuất xứ những tài liệu chính)

1) “Tấm biển chỉ đường” lộn ngược. –
Thuận Thành, báo Nhân Dân ngày 25/6 và 26/6/1990.

2) Đâu là cái nhìn tinh tường hơn Mác? – Thuận Thành, báo Tuổi Trẻ ngày 30/6 và 3/7/1990.

3) Cái gì quyết định sự tiến hóa của nhân loại? – Lưu văn Kiền, báo Quân đội Nhân dân ngày 9/7 và 10/7/1990.

4) Dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ là đi theo sự lãnh đạo đúng đắn của giai cấp công nhân và đảng Cộng sản. – Quang Cận, báo Nhân Dân

5) Chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn là kim chỉ nam của chúng ta. – Nguyễn văn Trung, phó Gs.triết. Tạp chí Giáo dục lý luận số 6/1990.

6) Về cái gọi là “nghịch lý” của chủ nghĩa xã hội. – Hồ Văn. Tạp chí Giáo dục lý luận số 6/1990.

7) Để tìm ra cái “điểm nút” trong mớ bòng bong. – Đỗ khánh Tặng. Tạp chí Giáo dục lý luận số 6/1990.

8) Về cái gọi là “duy lý” và “duy lợi”. – Như Anh. Tạp chí Giáo dục lý luận số 6/1990.

9) Trí tuệ và đấu tranh giai cấp trong lịch sử tiến hóa của nhân loại. – Lưu Văn. Tạp chí Giáo dục lý luận số 7/1990.

10) Về vấn đề đấu tranh giai cấp. – Hoàng Văn. Tạp chí Giáo dục lý luận số 7/1990.

11) Nêu cao tính chiến đấu chống mọi hoạt động phá hoại về tư tưởng. – Ban văn hóa-tư tưởng Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam.

12) Đề cương giới thiệu Dự thảo cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ. – (trang 31) Đào duy Tùng. Tài liệu lưu hành nội bộ.

13) Về người trí thức trong “Đám cưới không có giấy giá thú”. – Lê thành Nghị. Báo Nhân Dân ngày…

14) Chủ nghĩa Duy lý đã lỗi thời. – Tạp chí Thông tin lý luận.

15) Giới trí thức và vấn đề nhận thức trong chủ nghĩa xã hội (Trao đổi với tác giả bài “Dắt tay nhau…”). – Vũ nhật Khải, PTS triết học. Tạp chí Cộng sản số 11-1990.

16) Chủ nghĩa Mác-Lênin và học thuyết đấu tranh giai cấp trong bước đầu lịch sử cách mạng Việt nam. – Lê Sỹ Thắng, phó Giáo sư Viện Triết. Tạp chí Triết học số 3 tháng 9-1990.

17) Cơ sở của sự nhận chân các giá trị. – Nguyễn văn Huyên, PTS triết học. Tạp chí Triết học số 3 tháng 9-1990.

18) Khủng hoảng, nghịch lý và một số bài học về nhận thức khoa học. – Vũ văn Viên, PTS triết học. Tạp chí Triết học số 3 tháng 9-1990.

19) Cái gọi là “Tấm biển chỉ đường của Trí tuệ” đi ngược với tư duy biện chứng của lý trí. (lưu tại đây) – Trần Đức Thảo, Giáo sư triết học. Tạp chí Cộng sản số 2 /1991.

20) Học thuyết Mác-Lênin và thời cuộc.

Nhiều tác giả , nhà xuất bản Sự thật, 1991 .

vân vân…

Hà Sĩ Phu

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »