Trần Hoàng Blog

►Ai chỉ đạo – BCT, cá nhân NT Dũng, nhóm cố vấn đứng đàng sau lưng các nhân vật này? 178 ủy viên Trung ương Đảng?

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2012

Các chính sách đối ngoại, kinh tế, tài chánh, đàn áp dân chúng, bỏ tù các blogger, không cho báo chí tư nhân hoạt động, để cho công an lộng hành đánh đập, bỏ tù, bắn giết người dân ở Việt Nam hiện nay do ai gây ra? 

_Bộ Chính Trị, cá nhân Ng T Dũng, hay nhóm cố vấn đứng đàng sau lưng các nhân vật này? 178 ủy viên Trung ương Đảng?

Mời các bạn nghe 3 blogger viết về đề tài này >>>

Bộ mặt thật của Thủ Tướng

Song Chi/Người Việt

Theo Người Việt

Ngày 12 tháng 9, văn phòng chính phủ Việt Nam đã có “công văn hỏa tốc số 7169/VPCP-NC thông báo ý kiến của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, xử lý nghiêm việc đăng tải nội dung chống đảng và nhà nước”.

“Ngó cái ảnh đầu tiên thấy thủ tướng có cái miệng đen ngòm như cái hố đen, thảo nào ổng xực được tất cả mọi thứ: xăng, dầu, đất đai, cầu, đường, biển, … ổng xực nhiều như vậy nhưng không bao giờ thấy no, giống như một cái thùng không đáy.” (visitor)

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, người ra lệnh ‘xử’ các trang mạng ‘chống đảng và nhà nước’. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/GettyImages) 
Các trang báo mạng cụ thể được nêu tên là Dân Làm Báo, Quan Làm Báo, Biển Ðông…Văn bản cũng cấm “Các bộ, ngành, các địa phương lãnh đạo cán bộ, công chức, viên chức không xem, không sử dụng, loan truyền và phổ biến các thông tin đăng tải trên các mạng phản động.”Phản ứng chung của dư luận xung quanh văn bản 7169 ra sao?Trước hết, đối với những trang mạng bị nêu tên, vô hình trung ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và cái văn phòng chính phủ của ông đã PR ngược cho những trang mạng này, khiến số lượng người truy cập càng tăng lên.Ðối với dư luận quốc tế và trong nước, hành động nhằm bịt miệng những trang blog nói lên tiếng nói trung thực của người dân cũng như cấm người dân không được đọc những thông tin đối lập, khiến ông thủ tướng càng thêm mất điểm trong mắt mọi người.Không ai ngạc nhiên khi trong văn bản nêu đích danh quan làm báo là trang blog tập trung chĩa mũi dùi đánh ông thủ tướng nhiều nhất.Nhưng việc xếp chung Dân Làm Báo, Quan Làm Báo với Biển Ðông-một trang blog khá “hiền lành”, chỉ đề cập đến những vấn đề đang xảy ra trên biển Ðông, âm mưu bành trướng của Trung Quốc, và việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lãnh hải, đã khiến nhiều người thắc mắc. Phải chăng điều này đã làm lộ ra rằng ông thủ tướng cũng là một người thân Trung Quốc, không muốn ai động chạm đến Trung Quốc?Nhớ lại khi ông Nguyễn Tấn Dũng mới nhậm chức, nhiều người đã hy vọng rằng ông Dũng vốn là người miền Nam, còn tương đối trẻ, sẽ có tinh thần cấp tiến hơn.

Nhưng chẳng bao lâu, ông thủ tướng đã tự bộc lộ mình là một kẻ độc tài, chuyên chế với hàng loạt nghị định chà đạp lên mọi công ước quốc tế về quyền tự do dân chủ của con người, chà đạp lên cả Hiến pháp Việt Nam:

– Nghị định 11 và 12/2008 cấm công nhân không được đình công.

– Quyết định số 97/2009/QÐ-TTg “cấm phản biện” đã bị những nhà trí thức hàng đầu trong Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS chỉ trích là “Không phù hợp với thực tế khách quan của đời sống”, “Phản khoa học, phản tiến bộ, phản dân chủ”. Ðồng thời tuyên bố tự giải thể viện để phản đối.

– Nghị định số 136/2006/NÐ-CP cấm khiếu nại tập thể – đã bị Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, người đã bị kết án 7 năm tù trong phiên tòa ngày 4 tháng 4 năm 2011, khởi kiện vì đã ban hành một nghị định trái Hiến pháp và pháp luật.

– Nghị định 02/2011/NÐ-CP về kiểm soát báo chí và lĩnh vực xuất bản, nhằm tăng thêm quyền hạn kiểm duyệt của chính phủ đối với người làm báo trong nước, v.v. Có nghĩa là, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bịt miệng từ công nhân, nông dân, trí thức, các nhà khoa học cho tới báo chí!

– Và bây giờ, với văn bản số 7169/VPCP-NC, ông Nguyễn Tấn Dũng lại tìm cách bịt miệng mọi thông tin ngoài luồng và bịt mắt cả người dân khi cấm đọc những thông tin này.

Dưới thời ông Dũng, quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do tôn giáo càng bị siết chặt. Hàng trăm người bất đồng chính kiến, nhà hoạt động tôn giáo, blogger… bị sách nhiễu, bị tống vào tù với những bản án nặng nề, phi lý nhất.

Nổi bật là vụ các blogger CLBNBTD bị giam giữ dài hạn không đưa ra xét xử, vụ án của nhóm Lê Công Ðịnh-Trần Huỳnh Duy Thức, Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Mục Sư Nguyễn Công Chính hay vụ 17 thanh niên Công Giáo bị bắt giam…

Bản án dành cho doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức hay Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vụ theo sự nhận định của nhiều người, là có tính chất trả thù cá nhân. Vì những bài viết ký tên Trần Ðông Chấn của doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức đã đánh vào năng lực điều hành quản lý kinh tế quá kém cỏi của ông thủ tướng. Còn Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ thì phạm tội “dám cả gan 2 lần kiện thủ tướng”.

Dưới thời ông Dũng, chế độ công an trị càng trở nên sắt máu. Công an, vốn là con cưng của chế độ, ngày càng hung hãn lộng hành, với hàng chục vụ bạo hành người dân tới chết khi chỉ mới trong giai đoạn đưa về đồn để điều tra, xét hỏi.

Nhìn vào tất cả những điều đó, để thấy ông Nguyễn Tấn Dũng không thể là một người có tinh thần cấp tiến, cải cách.

So với các đời thủ tướng trước, ông Nguyễn Tấn Dũng là người có nhiều quyền lực nhất, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế với sự thành lập của hàng loạt tập đoàn kinh tế quốc doanh là sân sau của thủ tướng. Ông Dũng cũng “nổi bật” bởi thành tích tham nhũng và khả năng điều hành quản lý kinh tế tệ hại.

Nhờ vào “tài năng” của ông Dũng, nền kinh tế Việt Nam cực kỳ bất ổn, lạm phát phi mã, đồng tiền liên tục bị mất giá, đời sống người dân vô cùng khó khăn, nợ nước ngoài tăng nhanh. Hàng loạt vụ làm ăn thua lỗ, vỡ nợ, phá sản của các tập đoàn kinh tế quốc doanh mà điển hình là vụ Vinashin, Vinalines đã “thổi” bay hàng chục nghìn tỷ đồng Việt Nam, tương đương hàng tỷ đô la Mỹ.

Chưa kể, nhiều “ông lớn” khác như tập đoàn điện lực, dầu khí, xăng dầu, Sông Ðà… cũng đang thua lỗ hoặc thất thoát rất nhiều tiền của. Ngành ngân hàng thì đang khủng hoảng vì nợ xấu…

Dư luận từ trước đến nay, không biết dựa vào đâu, thường cho rằng trong nội bộ đảng CSVN có hai ba phe, phe ông Tổng Trọng bị coi là thân Tàu, còn phe ông Dũng được cho là hướng về phương Tây hơn.

Trang Anh Ba Sàm nhận xét:

Ngược thời gian, ngay từ khi thủ tướng nhậm chức, cho tới nay, không ít lần ông thể hiện là mình không thân Tàu, mà hướng Tây nhiều hơn, dù đằng sau đó là cái gì, có mấy ai tin hay không.

Nào là chưa sang Trung Quốc ngay, mà là đi vài nước, trong đó có Nhật. Quyết định ‘dân sự hóa nghĩa trang Biên Hòa’ (rồi không thấy gì nữa), tuyên bố ‘dẹp’ doanh nghiệp công an, quân đội (sau cũng thấy im), Thiền Sư Thích Nhất Hạnh được về hành đạo, lập đàn giải oan chung cho tất cả những người đã khuất vì chiến tranh, không kể chính kiến (nhưng rồi lại xảy ra vụ Tu viện Bát Nhã đến kinh hoàng)… cho tới cả chuyện riêng gia đình-con gái kết hôn với một Việt kiều Mỹ, cha lại là người của VNCH.

… Một thời gian dài sau thì ‘bùng nổ’ khá ngoạn mục cú trả lời chất vấn trước Quốc Hội về biển Ðông, đề nghị ra Luật Biểu Tình, (hé lộ tin) chính thủ tướng ra lệnh thả Bùi Hằng…

Còn cả tin đồn thổi cũng không ít về tư tưởng không thân Tàu và muốn sửa Ðiều 4 Hiến pháp của thủ tướng.

… Vậy mà, đùng một cái, hai chữ “biển Ðông” lại lù lù trong cái văn bản “chỉ đạo”, như thể làm cho công phu 5-6 năm trời như vậy bỗng một phút thành công dã tràng, ngay giữa thời khắc sinh tử này…

Thực tế ngày càng cho thấy việc nhận định phe nào thân Tàu/bảo thủ, phe nào hướng về phương Tây/cấp tiến, hoàn toàn chẳng có cơ sở nào chắc chắn.

Chẳng hạn như ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, mặc dù là nhân vật lãnh đạo cao nhất của nhà nước cộng sản chính thức lên tiếng trước Quốc Hội về vụ Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa. Nhưng ngoài những lời nói này ra, ông Dũng cũng như những ông lãnh đạo khác của Việt Nam chẳng hề có bất cứ hành động mạnh mẽ nào khi Trung Quốc ngày càng lộng hành, lấn lướt Việt Nam trên biển Ðông.

Khác hẳn với tổng thống Philippines trong hoàn cảnh tương tự.

Dư luận cũng chưa quên việc ông Nguyễn Tấn Dũng, cùng với ông Nông Ðức Mạnh trước đó, ra sức ủng hộ dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên ký kết với Trung Quốc, bất chấp sự phản đối của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Việt Nam dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang tiếp tục lún sâu vào trong quỹ đạo của Trung Quốc, từ chính trị, ngoại giao, cho đến kinh tế.

Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục cam kết giữ vững “hòa bình và ổn định”, tiếp tục tiến trình đàm phán song phương về những mắc mứu trên biển Ðông, không để cho các thế lực thù địch phá hoại chia rẽ tình hữu nghị Việt Trung, v.v và v.v.

Như vậy, cho dù có thể đấu đá nhau, nhưng những nhà lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN vẫn giống nhau trong việc thẳng tay đàn áp nhân dân và nhịn nhục trước kẻ xâm lược, cũng như trong sự chọn lựa thà mất nước còn hơn mất đảng!

Trích ý kiến phản hồi – danluan.org

” Cái CNCS nó đẻ ra một điều rất kỳ quái, đó là coi CN này hơn tất cả, trên cả giá trị thiêng liêng nhất là Tổ quốc và dân tộc. Nó sẵn sàng hy sinh hàng triệu sinh linh của dân tộc mình để bảo vệ cái chủ nghĩa nhập ngoại lỗi thời, bị người ta đào thải. Có ở lâu trong cái đảng này mới thấy họ luôn luôn bồi dưỡng lý tưởng để đảng lên trên hết, nhưng họ lại không giải thích đảng là cái gì, mà chỉ biết nhồi sọ đảng là đảng thế thôi. Cái đảng này đẻ ra một ông thủ tướng này thật là nỗi khủng khiếp. Ở các nước khác thì cứ đời người sau lên kế nhiệm người trước thì tốt hơn, giỏi hơn. Ở nước ta do cái đảng này lãnh đạo thì ngược lại, đời thủ tướng sau tồi tệ hơn thủ tướng trước. Điều này chưa thấy các nhà “học giả” cắt nghiã tại sao như vậy?

Vê học hành thì TT Dũng chẳng được học hành gì. Là cử nhân luật nhưng TT Dũng có bao giờ dùng luật để quản lý (hay cai trị) đất nước đâu. Có chẳng thì ông dung luật rừng của lũ côn đồ.

Vêd đạo đức thì ông này thuộc loại gian hùng số một của thời đại. Vừa gian trá, vừa độc ác, vừa thớ lợ, vừa xảo quệt, bạo ngược, tham tàn. Bất chấp dư luận, bất chấp lẽ phải, bất chấp đạo đức, ông chỉ biết có bất nhân thôi. Đối với ông này thì là căn bệnh hết thuốc chữa rồi. Người còn biết danh dự, khi nghe những điều dân ta thán về mình thì sẽ phát điên, còn ông này rất bình thản và tìm cách trị những ai chống đối, vạch ra cái xấu của mình. ” (BVN)

——————————————————————————————

Ghi lại bên lề (trận đấu Thủ tướng vs Quan Làm Báo)

1. Văn bản 7169 của Văn phòng Chính phủ truyền đạt chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về vấn đề xử lý thông tin có nội dung chống Đảng và Nhà nước của một số website có nêu đích danh 3 tên: Quan làm báo, Dân làm báo và Biển đông. Trang Dân làm báo đã tồn tại mấy năm nay rồi, không hiểu sao tới bây giờ Thủ tướng mới chỉ đạo xử lý. Trang Biển Đông không ai biết thực sự là trang nào. Nếu là trang biendong.net thì không rõ tại sao Thủ tướng lại chỉ đạo xử lý? Trang Quan làm báo thực sự chỉ chống một bộ phận lãnh đạo và quan chức của Đảng và Nhà nước.

2. Một số báo chí chính thống có bài viết đả phá trang Quan làm báo như báo Petro Times (“Quan làm báo” đã bịa đặt như thế nào?Thủ đoạn “ném đá giấu tay” của “Quan làm báo”) hay báo Quân đội nhân dân (Cơn bão “vi rút độc” từ web, blog “đen”). Các báo này đều thừa nhận trang Quan làm báo đưa tin có một phần sự thật, cụ thể hơn lên đến 50%-70% sự thật như báo Quân đội nhân dân thừa nhận. Tuy nhiên không tờ báo nào chỉ ra 50%-70% sự thật đó là sự thật nào. Trên bình diện khác, chính báo Quân đội nhân dân sáng tác hoàn toàn một bài phỏng vấn giả với nhà văn Nguyên Ngọc. Vậy báo Quân đội nhân dân đã sử dụng nghiệp vụ báo chí nào, có được đến 50%-70% sự thật như Quan làm báo không? Đây chính là điểm mà cao dao Việt Nam từng có câu; Chân mình cứt lấm bê bê / Lại còn đốt đuốc đi rê chân người.

3. Trong các bài viết kể trên có nhấn mạnh tới tính ẩn danh của trang Quan làm báo. Nhưng các bài viết đó quên mất bài viết của nhà báo Huy Đức, hoàn toàn công khai danh tính người viết. Tính ẩn danh của nguồn tin không phải là tiêu chí quan trọng cho thông tin. Điểm quan trọng của thông tin là tính chính xác và nội dung của nó. Hiện nay chưa có một bài báo chính thống nào có thể bác bỏ bài viết của Huy Đức. Với tư cách là độc giả, công chúng hoàn toàn có thể cho rằng thông tin trong bài viết của Huy Đức là sự thật, cho đến khi có bài báo khác đưa ra những bằng chứng khả tín để bác bỏ.

4. Công chúng hiện nay quan tâm đến những vấn đề gì? Đó là những câu hỏi: nhóm lợi ích là nhóm lợi ích nào, bộ phận không nhỏ là bộ phận nào, bầy sâu là bầy sâu nào, ai cõng rắn cắn nhà gà? Nếu truyền thông chính thống không trả lời được những câu hỏi này thì tất nhiên dân chúng sẽ tìm đọc những nơi cung cấp được câu trả lời cho những câu hỏi trên. Đó là lý do tại sao trang Quan làm báo dù đưa tin thất thiệt, viết không chặt chẽ nhưng vẫn được người dân tìm đọc, bởi vì nó đáp ứng được nhu cầu thông tin, nguyện vọng biết sự thật của người dân. Thà chắt lọc được 50%-70% sự thật từ thông tin ẩn danh, không nguồn, đồn đại, còn hơn là không chắt lọc được zero phần trăm sự thật nào từ truyền thông chính thống.

5. Cho đến nay báo chí chính thống vẫn chỉ biết nài nỉ xin thông tin từ chính quyền Thông tin trung thực, khách quan tình hình đất nước. Đó không phải là một nền truyền thông đích thực. Một nền truyền thông đích thực không phải là nền truyền thông chỉ biết nài nỉ chờ sự ban phát thông tin từ chính quyền.

Một nền truyền thông đích thực phải là nền truyền thông đi tìm, điều tra, khám phá ra những câu trả lời cho những vấn đề mà công chúng quan tâm. Với tiêu chí này, rất mỉa mai, trang Quan làm báo lại tỏ ra có khả năng đáp ứng được những câu hỏi mà dư luận quan tâm, và do vậy nó lại là truyền thông đích thực hơn cả 700 tờ báo của Việt Nam.

Ngay câu hỏi đơn giản nhất trang Biển Đông trong văn bản 7169 của Văn phòng Chính phủ là trang nào (?) và tại sao nó có mặt trong văn bản 7169, truyền thông chính thống cũng không trả lời được. Vậy ai thèm đọc những trang báo chính thống làm gì.

———-

Bẫy Việt Vị của Thủ Tướng

Osin Huy Đức

Theo blog Huy Đức

Ủy ban Tài chính của Quốc hội cần yêu cầu Ngân hàng Nhà nước công bố danh sách các tổng công ty, tập đoàn nhà nước đã mở tài khoản và ồ ạt chuyển một lượng tiền lớn vào VietCapital Bank ngay sau khi con gái của Thủ tướng, bà Nguyễn Thanh Phượng, thôn tính ngân hàng này từ tên gốc của nó là Gia Định. Những con số ấy có thể là một ví dụ thú vị về “lợi ích nhóm” mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc tới trong đợt kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương Bốn. Nhưng, quan trọng hơn, Quốc hội cần biết công cụ chủ đạo của nền kinh tế đang được sử dụng như thế nào.

Kinh Doanh Đa Ngành

Ý tưởng thành lập tập đoàn không chỉ đến từ thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng, cần có đủ thông tin để phân biệt mô hình tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng với mô hình tập đoàn áp dụng từ những người tiền nhiệm.

Năm 1994, khi những nỗ lực phát triển kinh tế tư nhân chững lại vì bị các nhà lý luận “cánh tay phải” của ông Đỗ Mười như Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Nguyễn Đức Bình, coi là chệch hướng. Sau Hội nghị giữa nhiệm kỳ, 1-1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký hai quyết định thành lập tổng công ty 90, 91. Trong đó, quyết định 91 có nói đến “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh”.

Ý tưởng thành lập tập đoàn là từ ông Đỗ Mười với quan niệm nền kinh tế cần những quả đấm thép. Nhưng cả ông Kiệt và nhiều ủy viên bộ chính trị đều tán thành. Lúc ấy, hơn một nửa ủy viên bộ chính trị đã được đưa tới Hàn Quốc tham quan và gần như ai cũng choáng ngợp mô hình Cheabol của họ.

Nhưng, từ 1994 cho đến 2005, chưa có tập đoàn nào được thành lập theo quyết định 91. Cuối nhiệm kỳ thứ II, Thủ tướng Phan Văn Khải cho lập 3 tập đoàn: Ngày 26-12-2005, tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam; Ngày 09-01-2006, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông; Ngày 15-5-2006, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin.

Thủ tướng Phan Văn Khải thừa nhận, ông là người quyết định cho Vinashin vay 700 triệu USD từ tiền bán trái phiếu chính phủ. Ông Khải cho rằng, Việt Nam, một nước có hơn 3000 km bờ biển không thể không phát triển ngành vận tải biển. Suy nghĩ về tiềm lực biển của ông Phan Văn Khải không sai nhưng đầu tư bằng tiền cho quốc doanh không phải là một cách làm tốt. Nhưng, sự sụp đổ của Vinashin bắt đầu từ khi tập đoàn này được phép kinh doanh đa ngành.

Trước Đại hội Đảng lần thứ X, ông Nguyễn Tấn Dũng được giao làm Tổ trưởng biên tập báo cáo kinh tế của Ban chấp hành Trung ương trước Đại hội. Ông đòi ghi vào báo cáo chủ trương cho doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh đa ngành. Các thành viên trong tổ phản đối vì điều này ngược với quan điểm phát triển doanh nghiệp nhà nước xác lập từ thời thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Thay vì tiếp thu, ông Nguyễn Tấn Dũng đã viết ra giấy, buộc các thành viên trong tổ phải ghi vào Báo cáo kinh tế nguyên văn: “Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối”.

Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng ngày 27-6-2006. Ngày 29-8-2006, ông cho ngành dầu khí được nâng lên quy mô tập đoàn; Ngày 30-10-2006 ông cho thành lập thêm Tập đoàn Công nghiệp Cao su… Tốc độ thành lập tập đoàn có chững lại sau khi ông Võ Văn Kiệt khuyến cáo tính ít hiệu quả của mô hình này trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 26-7-2007.

Ông Võ Văn Kiệt mất gần 11 tháng sau đó và từ đó cho đến năm 2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đẩy con số tập đoàn từ 5 lên tới 13. Nhưng, không phải số lượng các tập đoàn mà số lượng ngành nghề mà các tập đoàn này được làm mới là nguyên nhân đẩy các doanh nghiệp nhà nước và nền kinh tế đến bên bờ vực. Rất nhiều tập đoàn có ngân hàng, công ty tài chính và chúng ta có thể nhìn thấy đất của Vinashin ở sâu trong đất liền và hầu như không có tỉnh nào không có một tòa PetroLand mọc lên dưới thời Đinh La Thăng.

Đại Nhảy Vọt

Không có một vị thủ tướng nào thừa kế một cơ ngơi có thể ngồi mát ăn bát vàng như Nguyễn Tấn Dũng: Tốc độ tăng trưởng cao, lạm phát thấp; lần đầu tiên Việt Nam có dự trữ ngoại tệ lên tới 23 tỷ đô la; đặc biệt, chính phủ Phan Văn Khải đã hoàn tất đàm phán để Việt Nam chỉ cần làm thủ tục kết nạp là trở thành thành viên WTO. Nhưng, ngôi nhà tưởng là vững chãi ấy đã bị đốt cháy chỉ hơn một năm rưỡi sau đó.

Thoạt tiên, khu vực kinh tế nhà nước được Nguyễn Tấn Dũng sử dụng như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng. Ông Phan Văn Khải nói: “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn tạo ra một thành tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, muốn hoàn thành kế hoạch 5 năm chỉ trong 4 năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu tư ồ ạt. Tiền đổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cũng được đưa ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu”.

Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, mỗi khi tổng đầu tư lên tới trên 30% GDP là lập tức Thủ tướng được báo động. Trước năm 2006, năm có tổng đầu tư lớn nhất cũng chỉ đạt 36%. Trong khi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi nhận chức đã đưa tổng mức đầu tư lên 42% và đạt tới 44% GDP trong năm 2007. Năm 2006, tăng trưởng tín dụng ở mức 21,4% nhưng con số này lên tới 38,7% trong năm 2007. Kết quả, lạm phát cả năm ở mức 12,6%. Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã gần như hốt hoảng. Những cú shock được áp dụng sau đó đã làm cho nền kinh tế trở nên vô phương cứu chữa.

Đầu quý I-2008, khi con số lạm phát lên tới gần 3% mỗi tháng, thay vì chẩn bệnh để có phương thuốc đúng, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã buộc các ngân hàng nâng mức dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%, các ngân hàng nháo nhào tìm kiếm thêm 20.000 tỷ khiến lãi suất qua đêm thị trường liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008 tăng vọt lên tới 27%, trong khi đầu tháng, con số này chỉ là 6,52%.

Ngày 13-2-2008, Ngân hàng Nhà nước lại ra quyết định, buộc các ngân hàng thương mại phải mua một lượng tín phiếu trị giá 20.300 tỉ đồng. Áp lực tiền bạc của các ngân hàng lên tới hơn 40.000 tỉ đồng đã làm náo loạn các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng cổ phần buộc lòng phải tăng lãi suất huy động. Sự chênh lệch về lãi suất đã khiến cho các tổng công ty nhà nước rút tiền, đang cho vay lãi suất thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi sang ngân hàng cổ phần.

Chỉ trong ngày 18-2-2008, các tổng công ty nhà nước đã rút ra hơn 4.000 tỉ đồng. Các ngân hàng quốc doanh, vốn vẫn dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ nhà nước đem cho các ngân hàng nhỏ vay lại. Nay thiếu tiền đột ngột, vội vàng ép các ngân hàng này, rút về. “Cơn khát” tiền mặt toàn hệ thống đã đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng trong những ngày này có khi lên tới trên 40%.

Lãi suất huy động tăng, đã khiến cho các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Nhiều ngân hàng buộc khách hàng chấp nhận lãi suất cho vay 24 – 25%. Các biện pháp chống lạm phát của Chính phủ đã làm cho lạm phát ba tháng đầu năm 2008 lên tới 9,19%. Ngày 25-3-2008, ngân hàng Nhà nước lại khiến cho tình trạng khan hiếm tiền mặt thêm nghiêm trọng khi yêu cầu thu về 52.000 tỉ đồng của ngân sách đang được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay với lãi suất 3%/năm.

Từ mức trên 1000, ngày 6-3-2008, chỉ số VN-index xuống còn 611. Cho dù Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cố dùng uy tín chính trị của mình để cứu vãn bằng cách tuyên bố rằng, “đầu tư vào chứng khoán bây giờ là thắng” vì VN-index đã xuống đến đáy. Nhưng, những ngày sau đó, VN-index liên tục lập đáy mới: Ngày 25-3-2008, 492 điểm; Ngày 5-12-2008, 299 điểm.

Chính những “đại gia” gần gũi thủ tướng nhất lại “chết” đau thương nhất vì họ đã từng được vay tiền dễ dàng, có dự án dễ dàng, kể cả các dự án trong khu vực chuẩn bị sáp nhập về Hà Nội. Từ năm 2008, mỗi năm các đại gia này đã phải chịu lãi suất 24-25%/ năm chưa kể những khoản lót tay, trong khi giá trị các dự án chỉ có thể bán được phân nửa so với thời 2007. Thay vì tìm một lối thoát cho nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tài chính ngân hàng, giai đoạn tái cấu trúc ngân hàng, tái cấu trúc nợ lại là một cơ hội kiếm tiền cho nhiều đại gia thân hữu mới.

Tham nhũng chưa phải là vấn đề lớn nhất dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chính phủ Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng rất nỗ lực để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng. Ban nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải đã sát cánh nhiều năm với Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp. Hơn 500 loại giấy phép đã bị Thủ tướng Phan Văn Khải bãi bỏ. Khi ông Khải rời nhiệm sở, Tổ công tác tiếp tục đề nghị bãi bỏ thêm hàng trăm giấy phép con. Nhưng, thay vì ra quyết định, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giải tán Ban nghiên cứu và để cho các loại giấy phép lại mọc lên như nấm.

Có lẽ một người được coi là bảo thủ như ông Đỗ Mười cũng không thể nào ngờ có ngày “hậu duệ” của mình lại ký lệnh tái độc quyền nhà nước đối với vàng. Nhà nước đã từng độc quyền vàng, những người sở hữu từ 2 chỉ trở lên từng bị coi là bất hợp pháp. Ngày 24-5-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười ký Quyết định 139, cho phép tư nhân mở tiệm vàng với điều kiện chỉ cần ký quỹ 5 lượng. Chỉ sau hai tháng cả nước có tới 400 tiệm vàng. Quyết định của ông Đỗ Mười được đưa ra như là một giải pháp cộng hưởng để chống lạm phát.

Trong suốt 23 năm tồn tại của Quyết định 139 nền kinh tế chưa bao giờ đổ tội lạm phát cho vàng. Vậy mà bất lực trước khủng hoảng kinh tế, ngày 25-5-2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký nghị định 24, giành lấy quyền sản xuất vàng miếng cho nhà nước và buộc doanh nghiệp kinh doanh vàng miếng phải có vốn trên 100 tỷ đồng.

Lẽ ra ông Trương Đình Tuyển phải từ chức đứng đầu nhóm 13 người tư vấn sau khi một quyết định như thế ra đời. Bỏ qua các động cơ trục lợi, Nghị định 24 là vi hiến vì nó làm cho vàng miếng không phải SJC của người dân tự nhiên mất giá. Đặc biệt, nó đi ngược lại các cam kết WTO mà ông Tuyển đóng vai trò quyết định trong đàm phán.

Bẫy Việt Vị

Ngày 2-8-2011, trung tướng Nguyễn Đức Nhanh khẳng định trong một buổi họp báo: “Hà Nội không có chủ trương trấn áp người biểu tình”. Để rồi, ngày 18-11-2011, từ chỗ coi những người biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước, Hà Nội ra thông báo vu cho người biểu tình là “gây rối Thủ đô”, là có “các thế lực chống đối trong và ngoài nước”.

Dân chúng nào biết, tác giả bản thông báo này là thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Phái viên của thủ tướng đặc trách an ninh, tôn giáo. Buổi tối trước khi bản thông báo được đưa xuống Hà Nội, Tướng Hưởng đã đưa đến nhà để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp đọc duyệt. Cho dù không có quan chức nào ở Hà Nội chịu ký, bản thông báo và những “tác phẩm báo chí” bôi nhọ người biểu tình khác vẫn được phát trên các phương tiện truyền thông của Hà Nội. Từ đó, các vụ bắt bớ người biểu tình diễn ra khốc liệt liên tục vào các ngày chủ nhật.

Mấy tháng sau, trong khi chính quyền Thủ đô bị kiện và phải mang một gương mặt xấu trong mắt dân chúng, ngày 25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Quốc hội “sớm có luật biểu tình để nhân dân thực hiện quyền đã được ghi trong Hiến pháp”.

Cũng thời gian đó, trong khi chính phủ đang đứng trước nguy cơ bị truy vấn bởi món nợ tới hạn không trả được của Vinashin và nguy cơ sụp đổ của các ngân hàng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã việt vị Quốc hội khi đăng đàn nói về biển đảo. Nguyễn Tấn Dũng đã khiến cho dân chúng tạm quên đi những vết thương kinh tế do ông gây ra khi trở thành chính trị gia đầu tiên của Hà Nội nói “Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa từ năm 1974”. Ngay cả Bộ chính trị cũng bị bất ngờ. Ông Dũng đã bí mật soạn bài diễn văn này, diễn đi diễn lại nhiều lần trước khi xuất hiện ngày 25-11-2011 trong phiên họp toàn thể được truyền hình trực tiếp.

Sau bài phát biểu ấy, nhằm chuẩn bị dư luận chống đỡ những đợt kiểm điểm trong nội bộ, thông tin bắt đầu được rỉ tai, “phe thân Tàu đang tìm cách chống ông Tấn Dũng”. Nhóm “13” hiện đã chuẩn bị theo đơn đặt hàng của ông Nguyễn Tấn Dũng một bài phát biểu về nhà nước pháp quyền.

Sau khi các đại gia gần gũi ông như Nguyễn Đức Kiên, Dương Chí Dũng, bị bắt; Trầm Bê ở trong tầm ngắm…, những ai nghĩ rằng ông Dũng đang hoảng sợ rất có thể sẽ mắc bẫy việt vị. Ông Nguyễn Tấn Dũng rất có thể lại xuất hiện như một nhà cải cách.

repost on danluan.org

Một phản hồi to “►Ai chỉ đạo – BCT, cá nhân NT Dũng, nhóm cố vấn đứng đàng sau lưng các nhân vật này? 178 ủy viên Trung ương Đảng?”

  1. […] ►Ai chỉ đạo – BCT, cá nhân NT Dũng, […]

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: