Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín 16th, 2012

►Người dân VN tuần hành phản đối giá xăng dầu lên cao

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2012

“Nền kinh tế của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là: bán tài nguyên dầu hỏa, than đá, quặng titan, quặng đồng, quặng sắt, quạng bô xít, các loại đá quí… cho nước ngoài. Đã hơn 30 năm nay (và sẽ còn tiếp tục trong tương lai), đảng và chính phủ chỉ biết bán tài nguyên khoáng sản…ăn và tham nhũng.

Chỉ tính riêng việc bán dầu hỏa, mỗi năm Petrovietnam cũng thu được 675 000 tỷ đồng (gần 34 tỷ đô la, 2011) (Bài 2, phía dưới). “

So với toàn bộ nền kinh tế VN là 90 tỷ, thì số dầu thô do Petrovietnam sán suất và bán ra là chiếm khoảng 40% của GDP (tổng sản phẩm sản suất và dịch vụ  nội địa).  (nguồn )

Mỗi ngày, tập đoàn Petrovietnam (PVN) khai thác dầu ngoài khơi Vũng Tàu là 430.000 thùng dầu thô/ 1 ngày.  Mỗi thùng dầu thô sau khi lọc cho ra 80 lít xăng và hàng chục sản phẩm từ dầu thô khác (như nhựa đường, dầu phản lực, dầu kerosen,…).

Tóm tắt là mỗi ngày VN có thể sản suất ra 34 triệu lít xăng (430.000 x 80 lít xăng).

Ngoài xăng, PetroV$ietnam còn bán ga cho thị trường nội địa và xuất khẩu ga qua các nước ngoài. Trữ lượng ga dưới lòng Biển Đông của Việt Nam rất lớn, năm 2011 PVN khai thác được 8,7 tỷ tấn ga, phần lớn bán cho các nước ngoài và một số nhỏ ga được bán ra tiêu thụ trong nước. Việc khai thác khí ga dự tính 40-50 năm nữa cũng chưa hết ga.

Nhưng trên thực tế, số lượng dầu thô 430.000 thùng/ 1 ngày dành để bán cho Nhật, Đài Loan, Trung Quốc, Mã Lai, Singapore… để lấy đô la; chỉ một số ít dầu thô được giao cho nhà máy lọc dầu Dung Quất lọc.

Trong khi đó, xăng ở Việt Nam nhập cảng từ nhà máy lọc dầu ở Singapore từ hơn 20 năm năm qua.  Các công ty quốc doanh giành độc quyền nhập xăng về  VN và chia nhau thị phần bán cho dân chúng kiếm lời. 

Tóm lại, dầu hỏa và ga là tài nguyên của quốc gia, nhưng đảng CSVN coi đó là tài sản riêng của đảng và nhà nước. Họ cho tập đoàn PVN khai thác dầu và ga, xuất khẩu bán lấy đô la, cuối năm thu được bao nhiêu thì giữa PVN và đảng (nhà nước) chia chác với nhau; dân chúng bị đặt ra ngoài việc thừa hưởng các tài nguyên dầu hỏa và các khoáng sản. Dân chúng phải mua xăng dầu từ các công ty nhà nước khác nhập về bán kiếm lời.

Giá cả xăng dầu ga ở VN còn đắt hơn giá xăng, dầu, ga ở Mỹ! Trong khi ở Mỹ, các công ty bán xăng dầu và các trạm xăng thu tiền thuế bán xăng dầu và nộp cho chính quyền; chính quyền dùng tiền thuế này để xây dựng cầu, đường và bảo trì. Còn ở VN thì tiền thuế bán xăng dầu mất hút trong tay nhà nước. Còn tiền xây dựng cầu đường và sửa chữa thì đi mượn của Nhật, Đài Loan, Nam Hàn!

Theo blog Cát Bụi

danluan.org 

 3839_522985541060524_116047325_n.jpg  156541_522985991060479_989469817_n.jpg  206227_522986027727142_1549866893_n.jpg  282048_522986334393778_1254650881_n.jpg  284302_522985904393821_2104490408_n.jpg  295239_522986001060478_1398774989_n.jpg  424690_522985951060483_1077266360_n.jpg  483152_522985824393829_1484539521_n.jpg  487519_522986011060477_1994843904_n.jpg  539438_522985934393818_1877636779_n.jpg  548042_522985877727157_894732276_n.jpg  557436_522985591060519_447325044_n.jpg————————————————————————————————–

Luật sư “luận tội“ biến nước lã, tạp chất thành xăng dầu

http://www.phapluatvn.vn

Cập nhật 15/09/2012

Dư luận phản ánh, bãi xăng dầu Trâu Điên (đường Tô Ngọc Vân, khu phố 3, P.Linh Đông, Q.Thủ Đức, TP.HCM) rộng hàng chục ngàn mét vuông, được vây quanh bằng bốn bức tường cao, bên ngoài không treo bảng hiệu.Tại đây, sau khi có chiếc xe bồn nào chạy vào, lập tức một nhóm thanh niên kéo vòi xả xăng (A92) ra khỏi xe. Rút ruột xong, họ bơm vào bồn xe một loại chất màu trắng đục (rút ra bao nhiêu lít xăng A92 thì bơm loại chất này vào bấy nhiêu), giá mỗi lít khoảng 18 nghìn đồng…

BB
Pha chế xăng dởm tại bãi Trâu Điên

Cách thức sản xuất xăng dầu của các chủ lò

Loại xăng dỏm sau khi được pha chế sẽ cho xe bồn chở đến cây xăng của công ty ở các khu vực Q.9, TP.HCM hoặc Bình Dươngđể bán. Một “thợ” pha chế tiết lộ: “Mua xăng A83 về pha với xăng A92, sau đó thêm một ít thuốc nhuộm màu xanh, dùng máy đánh đều là giao hàng.Cũng có lúc xe bồn chở xăng A83 về, thợ chỉ lấy một xô pha loãng màu xanh rồi đổ lại vào xe bồn. Loại hóa chất này sẽ tự loang ra và biến xăng A83 có màu vàng thành xăng A92”. Cứ thế, loại xăng dầu này được phát tán ra các tỉnh thành Tây Ninh, Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ đến cả Đắk Lắk…

Phụ trách nhóm pha chế của bãi Trâu Điên là Nguyễn Thanh Tùng (35 tuổi, ngụ tại Q.6). Tùng có hơn 15 năm kinh nghiệm pha trộn xăng dầu ở các lò tại Campuchia, Đà Nẵng… Ngoài Tùng còn có các thợ pha chế lâu năm khác như: Hóa “đen”, Sáu “què”…

Tùng tiết lộ thêm: “Ở bãi này, loại xe bồn 12.000 lít bị rút ruột 2.000 lít xăng, đối với loại xe 16.000 lít bị rút ruột khoảng 4.000 lít. Bãi này còn sử dụng một loại hóa chất nhằm tăng thêm độ nhạy (đánh lửa) của xăng được nhập từ Trung Quốc, có khả năng phá hủy và ăn mòn kim loại rất mạnh. Tác dụng khác của loại hóa chất này là làm xăng nở ra trong khoảng 2-3 ngày, vì thế có thể ăn bớt thêm số lượng.

“Loại chất cực độc này khi pha vào xăng sẽ ăn mòn bình xăng chính và bình xăng con, dẫn đến xăng chảy ra ngoài, gặp nhiệt độ cao khiến xe máy bốc cháy. Nhúng ngón tay vào trong bình xăng, nếu rút tay ra mà xăng trên ngón tay khô đều thì đó là xăng chính gốc. Còn nếu cảm thấy xăng trên ngón tay có màng, không khô đều và bị ngứa, chắc chắn là xăng có pha hóa chất”, Tùng giải thích.

Tùy theo đơn đặt hàng của từng doanh nghiệp (mua dầu loại mấy chấm) mà các thợ pha chế sẽ cho thêm axit hoặc nhớt đặc vào.

Loại axit mà bãi xăng dầu này dùng để pha chế được mua trôi nổi ngoài thị trường, mỗi can 30 lít có giá 70.000-100.000 đồng. Dầu đen cũng được thu mua trôi nổi ngoài thị trường với khoảng 15.800 đồng/lít. Một thợ pha chế lâu năm nói: Công thức pha chế dầu FO loại bình thường nhất cũng phải thêm vào 800-1.000 lít nước đối với loại xe bồn 12.000 lít. Nếu doanh nghiệp có nhu cầu khác sẽ được pha chế theo yêu cầu, có thể nâng lên hoặc hạ xuống. Bãi Trâu Điên còn pha chế luôn cả loại dầu DO.

Loại dầu DO được pha chế bằng cách trộn loại dầu tái sinh (nấu ra từ nhớt) với một loại dầu rẻ tiền. Để có nguyên liệu pha chế, bãi xăng dầu Trâu Điên thu mua lượng lớn dầu tái, dầu đỏ được nấu ra từ lốp xe và nhớt thải; nhớt thải mua chỉ với giá khoảng 4.000 đồng/lít. Tuy nhiên, khi nấu ra dầu tái được bán với giá khoảng hơn 18 nghìn đồng/lít.

Tương tự, tại lò nấu dầu đỏ từ lốp xe của ông Thanh, nằm trong một thung lũng hẻo lánh thuộc xã Hố Nai 3, H.Trảng Bom, Đồng Nai. Loại lò của ông Thanh được nấu ở nhiệt độ 300OC, hơi bốc lên chiết xuất ra dầu, vòng kẽm trong lốp xe được lấy ra bán cho cơ sở thu mua sắt, phần cặn còn lại để khô đóng bao bán. Để có được một lít dầu đỏ (mà ông gọi là dầu FO-R), lò ông Thanh phải nấu gần 3,5kg nguyên liệu trong 8 tiếng. Dầu sau khi nấu chảy qua ống dẫn, đưa vào hệ thống làm mát rồi chảy vào bồn âm dưới đất, sau đó mới ra bồn chính. Lò này có 12 công nhân làm việc. Lò nấu dầu đỏ của ông Thanh hoạt động được gần một năm nay. Lò nấu dầu này hiện có hai bồn, mỗi tháng cung cấp khoảng 100 tấn dầu đỏ. 80% loại dầu đỏ này đã được một điểm pha chế xăng dầu ở Đồng Nai mua, còn lại cung cấp cho các mối lẻ bên ngoài.

Ông Thanh chia sẻ: “Khu vực này trước đây có bốn lò nấu dầu hoạt động. Nấu dầu là phải xả khói đen và mùi hôi nên người dân phản ứng khiến ba lò xung quanh phải chuyển về Lâm Đồng, riêng lò của tôi vẫn hoạt động bình thường. Cách nấu dầu này là của mấy ông người Trung Quốc đem qua Việt Nam”.

Theo một thợ pha chế dầu, ngoài việc nấu dầu tái từ nhớt, dầu đỏ từ lốp xe, chủ các bãi xăng dầu còn có các chiêu nấu nhiều loại dầu khác. Sau khi mua nhớt tạp chất từ nhiều nguồn thải, các chủ lò có thể nấu thành nhớt mới để giao cho các bãi xe hoặc các cây xăng. Nhớt tạp chất được đổ vào thùng phuy sắt (loại 220 lít), nấu bằng củi hoặc bếp khè trong 12 tiếng, sau đó bỏ một loại hóa chất vào thì chúng tự phân thành hai phần: Phần trên nổi lên thu được 140-150 lít nhớt sạch, phần tạp chất nặng hơn sẽ lắng xuống và được chuyển qua pha với dầu FO cùng một số hóa chất khác. Một kiểu nấu khác là dầu FO “zin” mua từ kho xăng dầu có thể nấu ra được dầu diesel…

Dấu hiệu của tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Liên quan vụ việc này, Luật sư Trương Trọng Nghĩa cho rằng: Về hành vi pha chế xăng dầu giả, pháp luật có quy định đầy đủ tội danh, hình phạt, biện pháp trừng phạt khác.

Tuy nhiên, trước hành vi có dấu hiệu tội phạm diễn ra trong một thời gian dài, quy mô lớn như báo chí nêu, ngoài việc xử lý nghiêm minh những kẻ phạm tội, người dân có quyền đặt câu hỏi: Chính quyền địa phương, quản lý thị trường, các cơ quan thanh tra, cảnh sát kinh tế đã làm gì và tại sao lại không phát hiện, ngăn chặn?. Bởi, trong vụ này, một bộ phận trong bộ máy quản lý Nhà nước, thực thi luật pháp không làm tròn chức trách.

Loại hóa chất trộn vào trong công nghệ xăng dởm gây ăn mòn kim loại rất mạnh
Loại hóa chất trộn vào trong công nghệ xăng dởm gây ăn mòn kim loại rất mạnh

Chuyên viên Kiều Anh Vũ, VPLS Lê Nguyễn cho rằng: Theo thông tin báo chí phản ánh, có dấu hiệu của nhiều tội phạm liên quan đến vụ việc, cụ thể các hành vi có dấu hiệu tội phạm gồm: Hành vi “rút ruột” xăng thật và hành vi kinh doanh xăng dầu dỏm.

Đối với hành vi rút xăng thật, với hàng nghìn lít xăng bị rút ruột, giá trị lên đến hàng chục triệu đồng, đây là dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS) hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 BLHS (chẳng hạn nhận được tài sản một cách hợp pháp bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản).

Hoặc cũng tùy vào giá trị bị chiếm đoạt mà mức hình phạt cũng khác nhau. Đối với hành vi kinh doanh xăng dỏm: Kinh doanh xăng dỏm được nói ở đây bao gồm các hoạt động pha chế, phân phối xăng dỏm tại thị trường trong nước (căn cứ theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu). Cạnh đó, các doanh nghiệp pha chế xăng dầu dỏm đã có dấu hiệu của tội kinh doanh trái phép theo quy định tại Điều 159 BLHS đối với những người thực hiện việc pha chế, phân phối xăng dỏm.

Cũng có quan điểm cho rằng việc pha chế xăng dỏm, phân phối xăng dỏm có dấu hiệu của tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Vấn đề đặt ra là xăng bị pha chế, chất lượng không đảm bảo có được coi là giả (về chất lượng) hay không?.

Hiện nay không có quy định nào định nghĩa “xăng giả” là gì. Tuy nhiên, theo khoản 8 Điều 3 Nghị định 06/2008/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực thương mại, hàng hóa được coi là giả về chất lượng và công dụng là “hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của hàng hóa”.

Ở đây xăng bị pha chế, kém chất lượng vẫn có “giá trị sử dụng” như xăng thật, đều dùng làm nhiên liệu cho động cơ, xe máy… Như vậy, khó có thể khẳng định xăng pha chế, xăng kém chất lượng là xăng giả. Do đó, dấu hiệu của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là chưa rõ ràng – Chuyên viên Anh Vũ phân tích.

• Trần Đạt – Nguyễn Ngọc 

Advertisements

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

►Ai chỉ đạo – BCT, cá nhân NT Dũng, nhóm cố vấn đứng đàng sau lưng các nhân vật này? 178 ủy viên Trung ương Đảng?

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2012

Các chính sách đối ngoại, kinh tế, tài chánh, đàn áp dân chúng, bỏ tù các blogger, không cho báo chí tư nhân hoạt động, để cho công an lộng hành đánh đập, bỏ tù, bắn giết người dân ở Việt Nam hiện nay do ai gây ra? 

_Bộ Chính Trị, cá nhân Ng T Dũng, hay nhóm cố vấn đứng đàng sau lưng các nhân vật này? 178 ủy viên Trung ương Đảng?

Mời các bạn nghe 3 blogger viết về đề tài này >>>

Bộ mặt thật của Thủ Tướng

Song Chi/Người Việt

Theo Người Việt

Ngày 12 tháng 9, văn phòng chính phủ Việt Nam đã có “công văn hỏa tốc số 7169/VPCP-NC thông báo ý kiến của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, xử lý nghiêm việc đăng tải nội dung chống đảng và nhà nước”.

“Ngó cái ảnh đầu tiên thấy thủ tướng có cái miệng đen ngòm như cái hố đen, thảo nào ổng xực được tất cả mọi thứ: xăng, dầu, đất đai, cầu, đường, biển, … ổng xực nhiều như vậy nhưng không bao giờ thấy no, giống như một cái thùng không đáy.” (visitor)

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, người ra lệnh ‘xử’ các trang mạng ‘chống đảng và nhà nước’. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/GettyImages) 
Các trang báo mạng cụ thể được nêu tên là Dân Làm Báo, Quan Làm Báo, Biển Ðông…Văn bản cũng cấm “Các bộ, ngành, các địa phương lãnh đạo cán bộ, công chức, viên chức không xem, không sử dụng, loan truyền và phổ biến các thông tin đăng tải trên các mạng phản động.”Phản ứng chung của dư luận xung quanh văn bản 7169 ra sao?Trước hết, đối với những trang mạng bị nêu tên, vô hình trung ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và cái văn phòng chính phủ của ông đã PR ngược cho những trang mạng này, khiến số lượng người truy cập càng tăng lên.Ðối với dư luận quốc tế và trong nước, hành động nhằm bịt miệng những trang blog nói lên tiếng nói trung thực của người dân cũng như cấm người dân không được đọc những thông tin đối lập, khiến ông thủ tướng càng thêm mất điểm trong mắt mọi người.Không ai ngạc nhiên khi trong văn bản nêu đích danh quan làm báo là trang blog tập trung chĩa mũi dùi đánh ông thủ tướng nhiều nhất.Nhưng việc xếp chung Dân Làm Báo, Quan Làm Báo với Biển Ðông-một trang blog khá “hiền lành”, chỉ đề cập đến những vấn đề đang xảy ra trên biển Ðông, âm mưu bành trướng của Trung Quốc, và việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lãnh hải, đã khiến nhiều người thắc mắc. Phải chăng điều này đã làm lộ ra rằng ông thủ tướng cũng là một người thân Trung Quốc, không muốn ai động chạm đến Trung Quốc?Nhớ lại khi ông Nguyễn Tấn Dũng mới nhậm chức, nhiều người đã hy vọng rằng ông Dũng vốn là người miền Nam, còn tương đối trẻ, sẽ có tinh thần cấp tiến hơn.

Nhưng chẳng bao lâu, ông thủ tướng đã tự bộc lộ mình là một kẻ độc tài, chuyên chế với hàng loạt nghị định chà đạp lên mọi công ước quốc tế về quyền tự do dân chủ của con người, chà đạp lên cả Hiến pháp Việt Nam:

– Nghị định 11 và 12/2008 cấm công nhân không được đình công.

– Quyết định số 97/2009/QÐ-TTg “cấm phản biện” đã bị những nhà trí thức hàng đầu trong Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS chỉ trích là “Không phù hợp với thực tế khách quan của đời sống”, “Phản khoa học, phản tiến bộ, phản dân chủ”. Ðồng thời tuyên bố tự giải thể viện để phản đối.

– Nghị định số 136/2006/NÐ-CP cấm khiếu nại tập thể – đã bị Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, người đã bị kết án 7 năm tù trong phiên tòa ngày 4 tháng 4 năm 2011, khởi kiện vì đã ban hành một nghị định trái Hiến pháp và pháp luật.

– Nghị định 02/2011/NÐ-CP về kiểm soát báo chí và lĩnh vực xuất bản, nhằm tăng thêm quyền hạn kiểm duyệt của chính phủ đối với người làm báo trong nước, v.v. Có nghĩa là, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bịt miệng từ công nhân, nông dân, trí thức, các nhà khoa học cho tới báo chí!

– Và bây giờ, với văn bản số 7169/VPCP-NC, ông Nguyễn Tấn Dũng lại tìm cách bịt miệng mọi thông tin ngoài luồng và bịt mắt cả người dân khi cấm đọc những thông tin này.

Dưới thời ông Dũng, quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do tôn giáo càng bị siết chặt. Hàng trăm người bất đồng chính kiến, nhà hoạt động tôn giáo, blogger… bị sách nhiễu, bị tống vào tù với những bản án nặng nề, phi lý nhất.

Nổi bật là vụ các blogger CLBNBTD bị giam giữ dài hạn không đưa ra xét xử, vụ án của nhóm Lê Công Ðịnh-Trần Huỳnh Duy Thức, Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Mục Sư Nguyễn Công Chính hay vụ 17 thanh niên Công Giáo bị bắt giam…

Bản án dành cho doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức hay Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vụ theo sự nhận định của nhiều người, là có tính chất trả thù cá nhân. Vì những bài viết ký tên Trần Ðông Chấn của doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức đã đánh vào năng lực điều hành quản lý kinh tế quá kém cỏi của ông thủ tướng. Còn Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ thì phạm tội “dám cả gan 2 lần kiện thủ tướng”.

Dưới thời ông Dũng, chế độ công an trị càng trở nên sắt máu. Công an, vốn là con cưng của chế độ, ngày càng hung hãn lộng hành, với hàng chục vụ bạo hành người dân tới chết khi chỉ mới trong giai đoạn đưa về đồn để điều tra, xét hỏi.

Nhìn vào tất cả những điều đó, để thấy ông Nguyễn Tấn Dũng không thể là một người có tinh thần cấp tiến, cải cách.

So với các đời thủ tướng trước, ông Nguyễn Tấn Dũng là người có nhiều quyền lực nhất, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế với sự thành lập của hàng loạt tập đoàn kinh tế quốc doanh là sân sau của thủ tướng. Ông Dũng cũng “nổi bật” bởi thành tích tham nhũng và khả năng điều hành quản lý kinh tế tệ hại.

Nhờ vào “tài năng” của ông Dũng, nền kinh tế Việt Nam cực kỳ bất ổn, lạm phát phi mã, đồng tiền liên tục bị mất giá, đời sống người dân vô cùng khó khăn, nợ nước ngoài tăng nhanh. Hàng loạt vụ làm ăn thua lỗ, vỡ nợ, phá sản của các tập đoàn kinh tế quốc doanh mà điển hình là vụ Vinashin, Vinalines đã “thổi” bay hàng chục nghìn tỷ đồng Việt Nam, tương đương hàng tỷ đô la Mỹ.

Chưa kể, nhiều “ông lớn” khác như tập đoàn điện lực, dầu khí, xăng dầu, Sông Ðà… cũng đang thua lỗ hoặc thất thoát rất nhiều tiền của. Ngành ngân hàng thì đang khủng hoảng vì nợ xấu…

Dư luận từ trước đến nay, không biết dựa vào đâu, thường cho rằng trong nội bộ đảng CSVN có hai ba phe, phe ông Tổng Trọng bị coi là thân Tàu, còn phe ông Dũng được cho là hướng về phương Tây hơn.

Trang Anh Ba Sàm nhận xét:

Ngược thời gian, ngay từ khi thủ tướng nhậm chức, cho tới nay, không ít lần ông thể hiện là mình không thân Tàu, mà hướng Tây nhiều hơn, dù đằng sau đó là cái gì, có mấy ai tin hay không.

Nào là chưa sang Trung Quốc ngay, mà là đi vài nước, trong đó có Nhật. Quyết định ‘dân sự hóa nghĩa trang Biên Hòa’ (rồi không thấy gì nữa), tuyên bố ‘dẹp’ doanh nghiệp công an, quân đội (sau cũng thấy im), Thiền Sư Thích Nhất Hạnh được về hành đạo, lập đàn giải oan chung cho tất cả những người đã khuất vì chiến tranh, không kể chính kiến (nhưng rồi lại xảy ra vụ Tu viện Bát Nhã đến kinh hoàng)… cho tới cả chuyện riêng gia đình-con gái kết hôn với một Việt kiều Mỹ, cha lại là người của VNCH.

… Một thời gian dài sau thì ‘bùng nổ’ khá ngoạn mục cú trả lời chất vấn trước Quốc Hội về biển Ðông, đề nghị ra Luật Biểu Tình, (hé lộ tin) chính thủ tướng ra lệnh thả Bùi Hằng…

Còn cả tin đồn thổi cũng không ít về tư tưởng không thân Tàu và muốn sửa Ðiều 4 Hiến pháp của thủ tướng.

… Vậy mà, đùng một cái, hai chữ “biển Ðông” lại lù lù trong cái văn bản “chỉ đạo”, như thể làm cho công phu 5-6 năm trời như vậy bỗng một phút thành công dã tràng, ngay giữa thời khắc sinh tử này…

Thực tế ngày càng cho thấy việc nhận định phe nào thân Tàu/bảo thủ, phe nào hướng về phương Tây/cấp tiến, hoàn toàn chẳng có cơ sở nào chắc chắn.

Chẳng hạn như ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, mặc dù là nhân vật lãnh đạo cao nhất của nhà nước cộng sản chính thức lên tiếng trước Quốc Hội về vụ Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa. Nhưng ngoài những lời nói này ra, ông Dũng cũng như những ông lãnh đạo khác của Việt Nam chẳng hề có bất cứ hành động mạnh mẽ nào khi Trung Quốc ngày càng lộng hành, lấn lướt Việt Nam trên biển Ðông.

Khác hẳn với tổng thống Philippines trong hoàn cảnh tương tự.

Dư luận cũng chưa quên việc ông Nguyễn Tấn Dũng, cùng với ông Nông Ðức Mạnh trước đó, ra sức ủng hộ dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên ký kết với Trung Quốc, bất chấp sự phản đối của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Việt Nam dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang tiếp tục lún sâu vào trong quỹ đạo của Trung Quốc, từ chính trị, ngoại giao, cho đến kinh tế.

Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục cam kết giữ vững “hòa bình và ổn định”, tiếp tục tiến trình đàm phán song phương về những mắc mứu trên biển Ðông, không để cho các thế lực thù địch phá hoại chia rẽ tình hữu nghị Việt Trung, v.v và v.v.

Như vậy, cho dù có thể đấu đá nhau, nhưng những nhà lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN vẫn giống nhau trong việc thẳng tay đàn áp nhân dân và nhịn nhục trước kẻ xâm lược, cũng như trong sự chọn lựa thà mất nước còn hơn mất đảng!

Trích ý kiến phản hồi – danluan.org

” Cái CNCS nó đẻ ra một điều rất kỳ quái, đó là coi CN này hơn tất cả, trên cả giá trị thiêng liêng nhất là Tổ quốc và dân tộc. Nó sẵn sàng hy sinh hàng triệu sinh linh của dân tộc mình để bảo vệ cái chủ nghĩa nhập ngoại lỗi thời, bị người ta đào thải. Có ở lâu trong cái đảng này mới thấy họ luôn luôn bồi dưỡng lý tưởng để đảng lên trên hết, nhưng họ lại không giải thích đảng là cái gì, mà chỉ biết nhồi sọ đảng là đảng thế thôi. Cái đảng này đẻ ra một ông thủ tướng này thật là nỗi khủng khiếp. Ở các nước khác thì cứ đời người sau lên kế nhiệm người trước thì tốt hơn, giỏi hơn. Ở nước ta do cái đảng này lãnh đạo thì ngược lại, đời thủ tướng sau tồi tệ hơn thủ tướng trước. Điều này chưa thấy các nhà “học giả” cắt nghiã tại sao như vậy?

Vê học hành thì TT Dũng chẳng được học hành gì. Là cử nhân luật nhưng TT Dũng có bao giờ dùng luật để quản lý (hay cai trị) đất nước đâu. Có chẳng thì ông dung luật rừng của lũ côn đồ.

Vêd đạo đức thì ông này thuộc loại gian hùng số một của thời đại. Vừa gian trá, vừa độc ác, vừa thớ lợ, vừa xảo quệt, bạo ngược, tham tàn. Bất chấp dư luận, bất chấp lẽ phải, bất chấp đạo đức, ông chỉ biết có bất nhân thôi. Đối với ông này thì là căn bệnh hết thuốc chữa rồi. Người còn biết danh dự, khi nghe những điều dân ta thán về mình thì sẽ phát điên, còn ông này rất bình thản và tìm cách trị những ai chống đối, vạch ra cái xấu của mình. ” (BVN)

——————————————————————————————

Ghi lại bên lề (trận đấu Thủ tướng vs Quan Làm Báo)

1. Văn bản 7169 của Văn phòng Chính phủ truyền đạt chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về vấn đề xử lý thông tin có nội dung chống Đảng và Nhà nước của một số website có nêu đích danh 3 tên: Quan làm báo, Dân làm báo và Biển đông. Trang Dân làm báo đã tồn tại mấy năm nay rồi, không hiểu sao tới bây giờ Thủ tướng mới chỉ đạo xử lý. Trang Biển Đông không ai biết thực sự là trang nào. Nếu là trang biendong.net thì không rõ tại sao Thủ tướng lại chỉ đạo xử lý? Trang Quan làm báo thực sự chỉ chống một bộ phận lãnh đạo và quan chức của Đảng và Nhà nước.

2. Một số báo chí chính thống có bài viết đả phá trang Quan làm báo như báo Petro Times (“Quan làm báo” đã bịa đặt như thế nào?Thủ đoạn “ném đá giấu tay” của “Quan làm báo”) hay báo Quân đội nhân dân (Cơn bão “vi rút độc” từ web, blog “đen”). Các báo này đều thừa nhận trang Quan làm báo đưa tin có một phần sự thật, cụ thể hơn lên đến 50%-70% sự thật như báo Quân đội nhân dân thừa nhận. Tuy nhiên không tờ báo nào chỉ ra 50%-70% sự thật đó là sự thật nào. Trên bình diện khác, chính báo Quân đội nhân dân sáng tác hoàn toàn một bài phỏng vấn giả với nhà văn Nguyên Ngọc. Vậy báo Quân đội nhân dân đã sử dụng nghiệp vụ báo chí nào, có được đến 50%-70% sự thật như Quan làm báo không? Đây chính là điểm mà cao dao Việt Nam từng có câu; Chân mình cứt lấm bê bê / Lại còn đốt đuốc đi rê chân người.

3. Trong các bài viết kể trên có nhấn mạnh tới tính ẩn danh của trang Quan làm báo. Nhưng các bài viết đó quên mất bài viết của nhà báo Huy Đức, hoàn toàn công khai danh tính người viết. Tính ẩn danh của nguồn tin không phải là tiêu chí quan trọng cho thông tin. Điểm quan trọng của thông tin là tính chính xác và nội dung của nó. Hiện nay chưa có một bài báo chính thống nào có thể bác bỏ bài viết của Huy Đức. Với tư cách là độc giả, công chúng hoàn toàn có thể cho rằng thông tin trong bài viết của Huy Đức là sự thật, cho đến khi có bài báo khác đưa ra những bằng chứng khả tín để bác bỏ.

4. Công chúng hiện nay quan tâm đến những vấn đề gì? Đó là những câu hỏi: nhóm lợi ích là nhóm lợi ích nào, bộ phận không nhỏ là bộ phận nào, bầy sâu là bầy sâu nào, ai cõng rắn cắn nhà gà? Nếu truyền thông chính thống không trả lời được những câu hỏi này thì tất nhiên dân chúng sẽ tìm đọc những nơi cung cấp được câu trả lời cho những câu hỏi trên. Đó là lý do tại sao trang Quan làm báo dù đưa tin thất thiệt, viết không chặt chẽ nhưng vẫn được người dân tìm đọc, bởi vì nó đáp ứng được nhu cầu thông tin, nguyện vọng biết sự thật của người dân. Thà chắt lọc được 50%-70% sự thật từ thông tin ẩn danh, không nguồn, đồn đại, còn hơn là không chắt lọc được zero phần trăm sự thật nào từ truyền thông chính thống.

5. Cho đến nay báo chí chính thống vẫn chỉ biết nài nỉ xin thông tin từ chính quyền Thông tin trung thực, khách quan tình hình đất nước. Đó không phải là một nền truyền thông đích thực. Một nền truyền thông đích thực không phải là nền truyền thông chỉ biết nài nỉ chờ sự ban phát thông tin từ chính quyền.

Một nền truyền thông đích thực phải là nền truyền thông đi tìm, điều tra, khám phá ra những câu trả lời cho những vấn đề mà công chúng quan tâm. Với tiêu chí này, rất mỉa mai, trang Quan làm báo lại tỏ ra có khả năng đáp ứng được những câu hỏi mà dư luận quan tâm, và do vậy nó lại là truyền thông đích thực hơn cả 700 tờ báo của Việt Nam.

Ngay câu hỏi đơn giản nhất trang Biển Đông trong văn bản 7169 của Văn phòng Chính phủ là trang nào (?) và tại sao nó có mặt trong văn bản 7169, truyền thông chính thống cũng không trả lời được. Vậy ai thèm đọc những trang báo chính thống làm gì.

———-

Bẫy Việt Vị của Thủ Tướng

Osin Huy Đức

Theo blog Huy Đức

Ủy ban Tài chính của Quốc hội cần yêu cầu Ngân hàng Nhà nước công bố danh sách các tổng công ty, tập đoàn nhà nước đã mở tài khoản và ồ ạt chuyển một lượng tiền lớn vào VietCapital Bank ngay sau khi con gái của Thủ tướng, bà Nguyễn Thanh Phượng, thôn tính ngân hàng này từ tên gốc của nó là Gia Định. Những con số ấy có thể là một ví dụ thú vị về “lợi ích nhóm” mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc tới trong đợt kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương Bốn. Nhưng, quan trọng hơn, Quốc hội cần biết công cụ chủ đạo của nền kinh tế đang được sử dụng như thế nào.

Kinh Doanh Đa Ngành

Ý tưởng thành lập tập đoàn không chỉ đến từ thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng, cần có đủ thông tin để phân biệt mô hình tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng với mô hình tập đoàn áp dụng từ những người tiền nhiệm.

Năm 1994, khi những nỗ lực phát triển kinh tế tư nhân chững lại vì bị các nhà lý luận “cánh tay phải” của ông Đỗ Mười như Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Nguyễn Đức Bình, coi là chệch hướng. Sau Hội nghị giữa nhiệm kỳ, 1-1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký hai quyết định thành lập tổng công ty 90, 91. Trong đó, quyết định 91 có nói đến “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh”.

Ý tưởng thành lập tập đoàn là từ ông Đỗ Mười với quan niệm nền kinh tế cần những quả đấm thép. Nhưng cả ông Kiệt và nhiều ủy viên bộ chính trị đều tán thành. Lúc ấy, hơn một nửa ủy viên bộ chính trị đã được đưa tới Hàn Quốc tham quan và gần như ai cũng choáng ngợp mô hình Cheabol của họ.

Nhưng, từ 1994 cho đến 2005, chưa có tập đoàn nào được thành lập theo quyết định 91. Cuối nhiệm kỳ thứ II, Thủ tướng Phan Văn Khải cho lập 3 tập đoàn: Ngày 26-12-2005, tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam; Ngày 09-01-2006, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông; Ngày 15-5-2006, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin.

Thủ tướng Phan Văn Khải thừa nhận, ông là người quyết định cho Vinashin vay 700 triệu USD từ tiền bán trái phiếu chính phủ. Ông Khải cho rằng, Việt Nam, một nước có hơn 3000 km bờ biển không thể không phát triển ngành vận tải biển. Suy nghĩ về tiềm lực biển của ông Phan Văn Khải không sai nhưng đầu tư bằng tiền cho quốc doanh không phải là một cách làm tốt. Nhưng, sự sụp đổ của Vinashin bắt đầu từ khi tập đoàn này được phép kinh doanh đa ngành.

Trước Đại hội Đảng lần thứ X, ông Nguyễn Tấn Dũng được giao làm Tổ trưởng biên tập báo cáo kinh tế của Ban chấp hành Trung ương trước Đại hội. Ông đòi ghi vào báo cáo chủ trương cho doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh đa ngành. Các thành viên trong tổ phản đối vì điều này ngược với quan điểm phát triển doanh nghiệp nhà nước xác lập từ thời thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Thay vì tiếp thu, ông Nguyễn Tấn Dũng đã viết ra giấy, buộc các thành viên trong tổ phải ghi vào Báo cáo kinh tế nguyên văn: “Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối”.

Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng ngày 27-6-2006. Ngày 29-8-2006, ông cho ngành dầu khí được nâng lên quy mô tập đoàn; Ngày 30-10-2006 ông cho thành lập thêm Tập đoàn Công nghiệp Cao su… Tốc độ thành lập tập đoàn có chững lại sau khi ông Võ Văn Kiệt khuyến cáo tính ít hiệu quả của mô hình này trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 26-7-2007.

Ông Võ Văn Kiệt mất gần 11 tháng sau đó và từ đó cho đến năm 2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đẩy con số tập đoàn từ 5 lên tới 13. Nhưng, không phải số lượng các tập đoàn mà số lượng ngành nghề mà các tập đoàn này được làm mới là nguyên nhân đẩy các doanh nghiệp nhà nước và nền kinh tế đến bên bờ vực. Rất nhiều tập đoàn có ngân hàng, công ty tài chính và chúng ta có thể nhìn thấy đất của Vinashin ở sâu trong đất liền và hầu như không có tỉnh nào không có một tòa PetroLand mọc lên dưới thời Đinh La Thăng.

Đại Nhảy Vọt

Không có một vị thủ tướng nào thừa kế một cơ ngơi có thể ngồi mát ăn bát vàng như Nguyễn Tấn Dũng: Tốc độ tăng trưởng cao, lạm phát thấp; lần đầu tiên Việt Nam có dự trữ ngoại tệ lên tới 23 tỷ đô la; đặc biệt, chính phủ Phan Văn Khải đã hoàn tất đàm phán để Việt Nam chỉ cần làm thủ tục kết nạp là trở thành thành viên WTO. Nhưng, ngôi nhà tưởng là vững chãi ấy đã bị đốt cháy chỉ hơn một năm rưỡi sau đó.

Thoạt tiên, khu vực kinh tế nhà nước được Nguyễn Tấn Dũng sử dụng như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng. Ông Phan Văn Khải nói: “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn tạo ra một thành tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, muốn hoàn thành kế hoạch 5 năm chỉ trong 4 năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu tư ồ ạt. Tiền đổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cũng được đưa ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu”.

Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, mỗi khi tổng đầu tư lên tới trên 30% GDP là lập tức Thủ tướng được báo động. Trước năm 2006, năm có tổng đầu tư lớn nhất cũng chỉ đạt 36%. Trong khi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi nhận chức đã đưa tổng mức đầu tư lên 42% và đạt tới 44% GDP trong năm 2007. Năm 2006, tăng trưởng tín dụng ở mức 21,4% nhưng con số này lên tới 38,7% trong năm 2007. Kết quả, lạm phát cả năm ở mức 12,6%. Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã gần như hốt hoảng. Những cú shock được áp dụng sau đó đã làm cho nền kinh tế trở nên vô phương cứu chữa.

Đầu quý I-2008, khi con số lạm phát lên tới gần 3% mỗi tháng, thay vì chẩn bệnh để có phương thuốc đúng, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã buộc các ngân hàng nâng mức dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%, các ngân hàng nháo nhào tìm kiếm thêm 20.000 tỷ khiến lãi suất qua đêm thị trường liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008 tăng vọt lên tới 27%, trong khi đầu tháng, con số này chỉ là 6,52%.

Ngày 13-2-2008, Ngân hàng Nhà nước lại ra quyết định, buộc các ngân hàng thương mại phải mua một lượng tín phiếu trị giá 20.300 tỉ đồng. Áp lực tiền bạc của các ngân hàng lên tới hơn 40.000 tỉ đồng đã làm náo loạn các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng cổ phần buộc lòng phải tăng lãi suất huy động. Sự chênh lệch về lãi suất đã khiến cho các tổng công ty nhà nước rút tiền, đang cho vay lãi suất thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi sang ngân hàng cổ phần.

Chỉ trong ngày 18-2-2008, các tổng công ty nhà nước đã rút ra hơn 4.000 tỉ đồng. Các ngân hàng quốc doanh, vốn vẫn dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ nhà nước đem cho các ngân hàng nhỏ vay lại. Nay thiếu tiền đột ngột, vội vàng ép các ngân hàng này, rút về. “Cơn khát” tiền mặt toàn hệ thống đã đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng trong những ngày này có khi lên tới trên 40%.

Lãi suất huy động tăng, đã khiến cho các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Nhiều ngân hàng buộc khách hàng chấp nhận lãi suất cho vay 24 – 25%. Các biện pháp chống lạm phát của Chính phủ đã làm cho lạm phát ba tháng đầu năm 2008 lên tới 9,19%. Ngày 25-3-2008, ngân hàng Nhà nước lại khiến cho tình trạng khan hiếm tiền mặt thêm nghiêm trọng khi yêu cầu thu về 52.000 tỉ đồng của ngân sách đang được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay với lãi suất 3%/năm.

Từ mức trên 1000, ngày 6-3-2008, chỉ số VN-index xuống còn 611. Cho dù Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cố dùng uy tín chính trị của mình để cứu vãn bằng cách tuyên bố rằng, “đầu tư vào chứng khoán bây giờ là thắng” vì VN-index đã xuống đến đáy. Nhưng, những ngày sau đó, VN-index liên tục lập đáy mới: Ngày 25-3-2008, 492 điểm; Ngày 5-12-2008, 299 điểm.

Chính những “đại gia” gần gũi thủ tướng nhất lại “chết” đau thương nhất vì họ đã từng được vay tiền dễ dàng, có dự án dễ dàng, kể cả các dự án trong khu vực chuẩn bị sáp nhập về Hà Nội. Từ năm 2008, mỗi năm các đại gia này đã phải chịu lãi suất 24-25%/ năm chưa kể những khoản lót tay, trong khi giá trị các dự án chỉ có thể bán được phân nửa so với thời 2007. Thay vì tìm một lối thoát cho nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tài chính ngân hàng, giai đoạn tái cấu trúc ngân hàng, tái cấu trúc nợ lại là một cơ hội kiếm tiền cho nhiều đại gia thân hữu mới.

Tham nhũng chưa phải là vấn đề lớn nhất dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chính phủ Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng rất nỗ lực để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng. Ban nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải đã sát cánh nhiều năm với Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp. Hơn 500 loại giấy phép đã bị Thủ tướng Phan Văn Khải bãi bỏ. Khi ông Khải rời nhiệm sở, Tổ công tác tiếp tục đề nghị bãi bỏ thêm hàng trăm giấy phép con. Nhưng, thay vì ra quyết định, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giải tán Ban nghiên cứu và để cho các loại giấy phép lại mọc lên như nấm.

Có lẽ một người được coi là bảo thủ như ông Đỗ Mười cũng không thể nào ngờ có ngày “hậu duệ” của mình lại ký lệnh tái độc quyền nhà nước đối với vàng. Nhà nước đã từng độc quyền vàng, những người sở hữu từ 2 chỉ trở lên từng bị coi là bất hợp pháp. Ngày 24-5-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười ký Quyết định 139, cho phép tư nhân mở tiệm vàng với điều kiện chỉ cần ký quỹ 5 lượng. Chỉ sau hai tháng cả nước có tới 400 tiệm vàng. Quyết định của ông Đỗ Mười được đưa ra như là một giải pháp cộng hưởng để chống lạm phát.

Trong suốt 23 năm tồn tại của Quyết định 139 nền kinh tế chưa bao giờ đổ tội lạm phát cho vàng. Vậy mà bất lực trước khủng hoảng kinh tế, ngày 25-5-2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký nghị định 24, giành lấy quyền sản xuất vàng miếng cho nhà nước và buộc doanh nghiệp kinh doanh vàng miếng phải có vốn trên 100 tỷ đồng.

Lẽ ra ông Trương Đình Tuyển phải từ chức đứng đầu nhóm 13 người tư vấn sau khi một quyết định như thế ra đời. Bỏ qua các động cơ trục lợi, Nghị định 24 là vi hiến vì nó làm cho vàng miếng không phải SJC của người dân tự nhiên mất giá. Đặc biệt, nó đi ngược lại các cam kết WTO mà ông Tuyển đóng vai trò quyết định trong đàm phán.

Bẫy Việt Vị

Ngày 2-8-2011, trung tướng Nguyễn Đức Nhanh khẳng định trong một buổi họp báo: “Hà Nội không có chủ trương trấn áp người biểu tình”. Để rồi, ngày 18-11-2011, từ chỗ coi những người biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước, Hà Nội ra thông báo vu cho người biểu tình là “gây rối Thủ đô”, là có “các thế lực chống đối trong và ngoài nước”.

Dân chúng nào biết, tác giả bản thông báo này là thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Phái viên của thủ tướng đặc trách an ninh, tôn giáo. Buổi tối trước khi bản thông báo được đưa xuống Hà Nội, Tướng Hưởng đã đưa đến nhà để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp đọc duyệt. Cho dù không có quan chức nào ở Hà Nội chịu ký, bản thông báo và những “tác phẩm báo chí” bôi nhọ người biểu tình khác vẫn được phát trên các phương tiện truyền thông của Hà Nội. Từ đó, các vụ bắt bớ người biểu tình diễn ra khốc liệt liên tục vào các ngày chủ nhật.

Mấy tháng sau, trong khi chính quyền Thủ đô bị kiện và phải mang một gương mặt xấu trong mắt dân chúng, ngày 25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Quốc hội “sớm có luật biểu tình để nhân dân thực hiện quyền đã được ghi trong Hiến pháp”.

Cũng thời gian đó, trong khi chính phủ đang đứng trước nguy cơ bị truy vấn bởi món nợ tới hạn không trả được của Vinashin và nguy cơ sụp đổ của các ngân hàng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã việt vị Quốc hội khi đăng đàn nói về biển đảo. Nguyễn Tấn Dũng đã khiến cho dân chúng tạm quên đi những vết thương kinh tế do ông gây ra khi trở thành chính trị gia đầu tiên của Hà Nội nói “Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa từ năm 1974”. Ngay cả Bộ chính trị cũng bị bất ngờ. Ông Dũng đã bí mật soạn bài diễn văn này, diễn đi diễn lại nhiều lần trước khi xuất hiện ngày 25-11-2011 trong phiên họp toàn thể được truyền hình trực tiếp.

Sau bài phát biểu ấy, nhằm chuẩn bị dư luận chống đỡ những đợt kiểm điểm trong nội bộ, thông tin bắt đầu được rỉ tai, “phe thân Tàu đang tìm cách chống ông Tấn Dũng”. Nhóm “13” hiện đã chuẩn bị theo đơn đặt hàng của ông Nguyễn Tấn Dũng một bài phát biểu về nhà nước pháp quyền.

Sau khi các đại gia gần gũi ông như Nguyễn Đức Kiên, Dương Chí Dũng, bị bắt; Trầm Bê ở trong tầm ngắm…, những ai nghĩ rằng ông Dũng đang hoảng sợ rất có thể sẽ mắc bẫy việt vị. Ông Nguyễn Tấn Dũng rất có thể lại xuất hiện như một nhà cải cách.

repost on danluan.org

Posted in Nhan Vat Chinh tri | 1 Comment »