Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy 12th, 2012

►Phỏng vấn: Ông Cao Xuân Vỹ Kể Việc Ông Ngô Đình Nhu Bí Mật Gặp Ông Phạm Hùng Ở Khu Rừng Tánh Linh Bình Tuy

Posted by hoangtran204 trên 12/07/2012

Ông Cao Xuân Vỹ Kể Việc Ông Ngô Đình Nhu Bí Mật Gặp Ông Phạm Hùng Ở Khu Rừng Tánh Linh Bình Tuy

Minh Võ
June 14, 2012


Ô. Cao Xuân Vỹ, TT. Ngô Đình Diệm &
Ô. Ngô Đình Nhu

Như đã hứa, (1)  ông Cao Xuân Vỹ, sau ba lần vào cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, đã vui lòng dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn để cống hiến bạn đọc một số hồi ức và kỷ niệm của ông trong thời gian đi theo Việt Minh kháng chiến rồi về hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm với tư cách là người phụ tá thân cận của ông Ngô Đình Nhu, bào đệ và là cố vấn chính trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

1. Hỏi: Thưa ông, nghe nói ông cùng quê Nghệ An với ông Hồ Chí Minh?

Đáp: Phải. Tôi người làng Thịnh Mỹ, phủ Diễn Châu ở về phía biển, còn ông Hồ ở xã Kim Liên huyện Nam Đàn về phía núi.

2. Hỏi: Ông có thể cho biết gia đình ông có liên hệ gì với gia đình ông Hồ không?

Đáp: Tôi được biết ông cố tôi là cụ Cao Xuân Dục, thượng thư bộ học thuộc triều đình Huế có giúp đỡ thân phụ ông Hồ là Nguyễn Sinh Sắc về tài chính và khuyến khích, giúp đỡ ông ấy nhiều trong việc học hành để có thể đi thi và đậu phó bảng. Một phần vì ông Nguyễn Sinh Sắc là bạn học với ông nội tôi là Cao Xuân Tiếu. Đây là hình căn nhà ông nội tôi cho ông cử Sắc. (Ông Vỹ đưa xem hình căn nhà.)

3. Hỏi: Có tài liệu của phía Cộng Sản, như của Sơn Tùng và Nguyễn Đắc Xuân nói, khi thấy ông Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng khoa Ất Mùi, (năm 1895), ông Cao Xuân Dục đã giúp cho ông Nguyễn Sinh Sắc được vào Huế, để có phương tiện và đủ sách vở hầu tiếp tục việc học và có thể thành đạt. Điều này có đúng không?

Đáp: Đúng. Ông cố tôi còn can thiệp để cho ông Nguyễn Sinh Sắc, dù không phải là con quan cũng được vào học ở Quốc Tử Giám. Đến khoa thi năm Tân Sửu (1901) chánh chủ khảo Cao Xuân Dục thấy khóa sinh Sắc không trúng tuyển đã cho lệnh xét lại bài thi của 4 thí sinh để rồi xin vua Thành Thái cho ông ta đậu phó bảng. Khóa ấy có 9 tiến sĩ, 13 phó bảng. Ông Sắc đậu phó bảng thứ 11.

4. Hỏi: Hồi còn nhỏ ông có biết về hoạt động của Cộng sản ở quê nhà và có chứng kiến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản thường được gọi là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh không?

Đáp: Có. Phong trào này mạnh nhất ở hai huyện Nam Đàn và Thanh Chương. Nhiều người bị chết oan. Cộng Sản đã giết hai tri phủ. Vì thế phản ứng của chính quyền bảo hộ cũng rất quyết liệt. Pháp đem bom thả cũng giết nhiều người, trong số ấy có cả Cộng Sản lẫn thường dân. Cha tôi có kể lại rằng để đối phó với phong trào này, ông Nguyễn Hữu Bài, thượng thư bộ Lại của Triều Đình Huế, (tương đương với chức thủ tướng thời nay), đã cho áp dụng một kế hoạch chiêu dụ Cộng Sản khá thành công. Lúc ấy ông cố tôi cùng ở trong nội các Nguyễn Hữu Bài.

5. Hỏi: Khi Việt Minh cướp chính quyền ông ở đâu? và có ủng hộ họ không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang học ở Hà Nội. Tôi nhớ là mấy tháng trước khi Việt Minh cướp chính quyền, thanh niên sinh viên Hà Nội chúng tôi rất hăng hái ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, vì là chính phủ của Việt Nam độc lập đầu tiên, dù phải nhờ có người Nhật lật đổ người Pháp. Nhưng chúng tôi rất phấn khởi và đã ủng hộ hết mình. Tiếc rằng bỗng nhiên chính phủ này từ chức ngày 7 tháng 8 (1945). Thật khó hiểu. Tuy từ chức nhưng chính phủ Trần Trọng Kim vẫn xử lý theo lệnh nhà vua. Khi mà Việt Minh tới trám vào chỗ trống chính trị này thì chúng tôi đã đi theo Việt Minh. Chúng tôi không biết Việt Minh là Cộng Sản. Thực ra lúc ấy chả mấy người biết Việt Minh là Cộng Sản.

6. Hỏi: Ông có gặp ông Hồ bao giờ không?

Đáp: Có. Hồi ấy tôi ở trong phong trào thanh niên sinh viên tranh đấu. Chúng tôi được hai ông Hoàng Minh Giám và Phan Mỹ giới thiệu để gặp ông Hồ ở Bắc Bộ Phủ. Lúc ấy ông ấy có cái vẻ bề ngoài rất ân cần và dễ mến. Về sau tôi mới hiểu tại sao ông ấy đã chiêu dụ được nhiều người đi theo ủng hộ Việt Minh. Cho đến giờ này tôi vẫn nghĩ ông ta thật là thông minh và xảo quyệt. Lại được tay Võ Nguyên Giáp cũng rất thông minh trợ tá đắc lực. Tôi học với Võ Nguyễn Giáp 4 năm, Tôi biết ông ta rất rõ. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã tỏ ra sắc sảo và quả đoán… Rất “độc tài”. Nhưng dầu sao Võ Nguyên Giáp không thể sánh được với Ngô Đình Nhu. Còn Phạm Văn Đồng thì không đáng là học trò Ngô Đình Nhu.

7. Hỏi: Rồi tại sao ông lại bỏ Việt Minh?

Đáp: Vì chúng tôi kết án ông Hồ đã ký thỏa ước mồng 6 tháng 3, nhượng bộ Pháp quá nhiều. Hơn nữa họ đã hãm hại nhiều người yêu nước bất đồng chính kiến. Chúng tôi chạy sang phía Việt Cách của các ông Nguyễn Hải Thần và Nghiêm Kế Tổ…

8. Hỏi: Khi nào thì các ông rời Hà Nội?

Đáp: Liền khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ ngày 19-12-46. Lúc ấy ông Hồ và đại bộ phận Việt Minh chạy lên Việt Bắc kháng chiến. Thì chúng tôi gồm 36 nhà trí thức và thanh niên sinh viên tranh đấu chạy vào khu Tư, gồm Thanh Nghê Tĩnh, để cùng với một số Việt Minh ôn hòa lập một phòng tuyến mới phi Cộng Sản chống thực dân và giúp dân mở mang về kinh tế và văn hóa. Có thể nói Liên Khu Tư lúc ấy như là một khu tự trị.

9. Hỏi: Ông có thể cho biết tên một số trong 36 nhà trí thức mà ông bảo đã rời Hà Nội vào Liên Khu Tư sau kháng chiến bùng nổ không?

Đáp: Tôi còn nhớ chẳng hạn có Luật Sư Trần Chánh Thành, các ông Trần Hữu Dương, Hồ Đắc Điềm, Phạm Thành Vinh, sau này trở thành rể của ông Hồ Đắc Điềm, ông Nguyễn Duy Quang, người của ông Bảo Đại, ông Phan Huy Xương, anh của bác sĩ Phan Huy Đán tức Phan Quang Đán, ông Tôn Thất Trạch v.v… Các ông này về sau đã hợp tác với thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ông Trần Chánh Thành từng là bộ trưởng phủ thủ tướng, với ông Tôn Thất Trạch là đổng lý văn phòng. Ngoài ra, về phía thường dân tôi nhớ còn có bà Hòa Tường là một thương gia giầu có ở phố Hàng Đào cũng đi theo.

Tôi xin nói thêm ông biết điều này, là những vị này và tôi hồi đầu theo Việt Minh. Nhưng tất cả đều không phải Cộng Sản. Và ngay từ 1930 thì đã có hai phe cùng chống Pháp một bên là Đảng Cộng Sản, lúc ấy chưa có Việt Minh. Một bên là các nhân vật và tổ chức quốc gia phi Cộng Sản trong đó ngoài những người như ông Ngô Đình Diệm đã bắt đầu hoạt động từ đó, còn có các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, mà đảng trưởng là Nguyễn Thái Học và 13 đồng chí đã bị Pháp xử bắn.


ông Ngô Đình Nhu

10. Hỏi: Khi nào ông rời Liên Khu Tư vào Sài Gòn và gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Chúng tôi rời Liên Khu Tư ra Hà Nội. Chứ chưa vào Sài Gòn. Lúc ấy là vào khoảng đầu năm 1953. Ông Hồ Chí Minh theo lệnh Stalin và Mao Trạch Đông khỉ sự chuẩn bị mở chiến dịch Giảm Tô và cải cách ruộng đất. Có người thân trong Việt Minh cho chúng tôi biết. Nên tìm đường chạy trước. Về sau trong họ tôi có nhiều người có chút tư điền bị đem ra đấu tố. Chị ruột tôi cũng bị giết. Tôi “dinh Tề” qua ngả Phúc Nhạc, Phát Diệm là khu an toàn tự trị dưới quyền trông coi của giám mục Lê Hữu Từ. Khó khăn lắm mới tới được Hà Nội. Hà Nội lúc ấy đang sống an bình dưới chính quyền Bảo Đại. Tôi đi thoát được là nhờ có người chú họ ở trong tổ chức Việt Minh cấp cho một giấy thông hành. Ở Hà Nội tôi gặp lại các ông Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát từng hoạt động chung với chúng tôi thời 1945.

Trong thời gian còn ở Liên Khu Tư chúng tôi nghe biết cán bộ Cộng Sản trong tổ chức Việt Minh chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cán bộ Trung Cộng. Sau khi Mao Trạch Đông chiếm trọn lục địa vào cuối năm 1949, ông ta đã bắt Hồ Chí Minh gửi một số lớn cán bộ Việt Cộng sang Tầu để tẩy não, cải tạo tư tưởng, bắt học tập chủ nghĩa Mao-ít. Vì cái chủ nghĩa này mà các chiến dịch giảm tô và cải cách ruộng đất đã đẫm máu với những vụ con tố cha, vợ tố chồng và nông dân tàn sát lẫn nhau thật rùng rợn. Làng tôi có ông hàn Lương biết mình sắp bị đưa ra đấu tố đã nhảy xuống giếng tự tử, vậy mà đội cải cách đã lôi xác ông lên để đấu cái thây ma. Chúng đánh nát bấy cái thây ấy. Tôi mong có người thâu thập những tin tức khắp nước về cuộc Cải Cách Ruộng Đất thời gian đó để cho mọi người biết Cộng Sản dã man chừng nào.

11. Hỏi: Khi nào thì ông gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Cuối năm 1953. Tôi vào Sài Gòn thì gặp lại ông Trần Chánh Thành. Ông Thành giới thiệu tôi với ông Nhu. Ông Thành vào Sài Gòn năm 1952 cùng một lượt với phần lớn trong số 36 nhà trí thức đã vào Liên Khu Tư để kháng chiến chống Pháp nhưng bất hợp tác với Việt Minh. Lúc gặp lại tôi thì ông Thành đang làm cho tờ báo Xã Hội của ông Nhu, đồng thời tập sự luật sư với Luật Sư Trương Đình Du…

12. Hỏi: Theo chỗ chúng tôi biết thì ông Ngô Đình Nhu từng có 5 nhiệm vụ quan trọng: một là dân biểu Quốc Hội, hai là Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống, ba là thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, bốn là Tổng Bí Thư đảng Cần Lao Nhân Vị, và sau hết vào năm cuối cùng ông còn là chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược. Vậy ông ấy có một lực lượng nhân sự nào đáng kể để giúp thi hành chừng ấy nhiệm vụ không? Ví dụ ông ấy có mấy văn phòng? Có bao nhiêu nhân viên được ăn lương?

Đáp: Ông ấy chỉ có một mình thiếu tá Phạm Thu Đường làm chánh văn phòng, thường được gọi là chánh văn phòng ông Cố Vấn. Và dưới quyền thiếu tá Đường chỉ có 5 nhân viên, hầu hết tự túc. Không có ngân khoản nào dành cho ông Cố Vấn. Và phải nói thực khó hiểu là chính chức Cố Vấn này cũng chẳng được một văn kiện nào bổ nhiệm hay quy định nhiệm vụ. Thực tế ông Nhu chỉ giúp việc cho riêng ông Diệm với tư cách là phụ tá cho Tổng Thống. Người ta thấy việc ông làm thì gọi ông là Cố Vấn vậy thôi. Vì thế ông không có quyền hạn và nhiệm vụ gì chính thức.

Còn về thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, thì ông chỉ thị cho chúng tôi, phải tự túc. Mọi đoàn viên đều tự nguyện và tự túc theo tinh thần cách mạng. Cho nên cũng chẳng có quyền lợi gì.

Về văn phòng dân biểu, ông cũng không có. Thực ra ông ấy rất ít đi họp Quốc Hội. Chỉ khi nào có vấn đề chính sách quan trọng như Ấp Chiến Lược chẳng hạn, hay vấn đề “Giáo Dục nhân bản”, vấn đề “kinh tế tư hữu cơ bản” v.v.. thì ông mới tới trình bày mà thôi. Cho nên mọi thứ một mình ông cáng đáng. Tôi thật phục sức làm việc của ông Nhu.

13. Hỏi: Thế còn chức chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược thì sao? Có văn thư nào quy định không?

Đáp: Chức này thì có. Nhưng cũng chỉ là một thông tư của phủ Tổng Thống gửi đến các bộ, để việc ông chủ tọa các phiên họp Ủy Ban Liên Bộ được danh chính ngôn thuận. Ông Nhu quan niệm chương trình Ấp Chiến Lược là một cuộc cách mạng xã hội và chính trị, chứ không phải chỉ là một chiến lược để đối phó với sự xâm nhập và khủng bố của Cộng Sản mà thôi. Ông thúc đẩy các tỉnh trưởng khai hóa người dân quê theo tinh thần tam túc, nghĩa là tự túc về tư tưởng, tự túc về tổ chức và tự túc về kỹ thuật, để có thể làm chủ cuộc đời mình, làm chủ được xã hội, không bị lệ thuộc vào bên ngoài, vào ngoại bang. Ông để rất nhiều thì giờ đích thân soạn những bài thuyết trình có tính lý luận cao dành cho các cấp lãnh đạo chính phủ và cán bộ cao cấp, chỉ cho họ cách thức đưa những tư tưởng cao vào đầu óc thường dân qua những hình ảnh và ngôn ngữ bình dân dễ hiểu. Mục đích của ông là tiến dần tới một xã hội có tổ chức cao, có đầy đủ các phương tiện truyền thông, giao tế, kinh tế, văn hóa cao trong đó mỗi con người, “mỗi nhân vị”, đều được quan tâm đồng đều, chứ không biến con người thành những “cái đinh, con ốc” trong một guồng máy xã hội theo kiểu Cộng Sản. Ông tin tưởng rằng phương pháp đó về lâu về dài sẽ làm cho CS phải đầu hàng. Chứ không phải chỉ dựa vào những hàng rào giây kẽm gai. Dĩ nhiên ban đầu thì việc rào ấp là cần thiết để giữ cho Ấp Chiến Lược được an toàn trước sự phá hoại và tấn công của du kích CS. Quốc sách Ấp Chiến Lược mà thành công thì Cộng Sản sẽ thành cá bị tát ra khỏi ao, nằm trên đất.

14. Hỏi: Về đảng Cần Lao Nhân Vị, nó thành hình ra sao, và ai là những đồng chí cốt cán nhất của ông Nhu?

Đáp: Hai người cùng với ông Nhu sáng lập ra đảng Cần Lao Nhân Vị là các ông Trần Quốc Bửu và Huỳnh Hữu Nghĩa. Nhưng ban đầu các ông không gọi tên đảng là Cần Lao mà gọi là đảng Công Nông. Nhưng vì không muốn gợi ý về cái liên minh công nông của Cộng Sản, nên về sau các ông đổi ra là Cần Lao. Còn vế Nhân Vị thì sau nữa mới thêm vào theo đề nghị của ông Nhu. Ông Bửu, chủ tịch Liên Đoàn Lao Công có kinh nghiệm về đấu tranh nghiệp đoàn, đã quen ông Nhu khi còn ở bên Pháp. Và ông Huỳnh Hữu Nghĩa một tín đồ Cao Đài, là cố vấn chính trị của tướng Trình Minh Thế. Ông Nghĩa đã giúp ông Nhu chinh phục được tướng Thế, chứ không phải như có người Mỹ cho rằng ông Nhu có được ông Thế là nhờ đại tá Edward Lansdale. Ông Lansdale có can thiệp để quân của tướng Thế được hợp thức hóa và trả lương như Quân Đội Quốc Gia thì đúng. Người nào bảo Lansdale dùng tiền mua Tướng Thế là cố tình xuyên tạc để hạ uy tín của một vị tướng kiên cường anh dũng, thanh liêm mà anh em ông Diệm rất quý trọng. Khi nghe tin tướng Thế tử trận Tổng Thống Diệm đã ngất xỉu. Điều này tướng Lansdale có ghi trong hồi ký.

Văn phòng Tổng Bí Thư đảng Cần Lao cũng do một mình Thiếu Tá Phạm Thu Đường quán xuyến, kiêm nhiệm.


TT. Ngô Đình Diệm

15. Hỏi: Ông Ngô Đình Diệm có giữ vai trò gì trong đảng Cần Lao không?

Đáp: Không. Ông ấy hoàn toàn ở ngoài và trên đảng Cần Lao. Với ông Diệm chỉ có Tổ Quốc và Quốc Dân.

Tôi còn nhớ khoảng năm 1956, Tổng Thống gọi tôi vào bảo tôi lên cao nguyên đèo heo hút gió để quan sát nghiên cứu tìm ra những địa điểm thích hợp để lập các khu dinh điền, hòng đưa người kinh lên trấn giữ địa điểm mà ông bảo là vô cùng quan trọng về mặt chiến lước. Tôi thấy mình đi thì ông Nhu thiếu một trợ lý. Lại cũng hơi ngán cảnh cô đơn ở nơi xa lạ. Tôi bèn thưa với Tổng Thống: Công tác đoàn thể của ông Cố Vấn đang thiếu người. Tổng Thống nói: Đoàn thể gì. Dẹp. Tuy nhiên rồi ông cũng đấu dịu. Cứ đi đi. Thỉnh thoảng tôi sẽ lên với anh…

Cũng cần thêm rằng ông Diệm rất quan tâm đến vùng cao nguyên. Ông thường nói: giữ được cao nguyên thì giữ được miền Nam. Và ông tìm cách đưa nhiều cán bộ và những người dân có kinh nghiệm với Cộng Sản lên đó lập nghiệp.

16. Hỏi: Ông nghĩ gì về việc chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế ông Bảo Đại?

Đáp: Nhiều người chê ông Diệm, là nhà Nho mà bất trung, không giữ lời thề trung thành với cựu hoàng. Nhưng tôi thấy không đúng. Trước hết chính cựu hoàng bảo ông Diệm chỉ thề trước Thánh Giá trung thành với Tổ Quốc. Thứ nữa, khi cựu hoàng triệu ông sang Pháp, ông Diệm đã sẵn sàng lên đường, dù biết sang đó sẽ mất chức thủ tướng.

Nhưng chính nhóm liên khu Tư chúng tôi đã thuyết phục ông, gần như làm áp lực với ông, để ông bỏ ý định sang Cannes . Chúng tôi xúm vào yêu cầu ông ở lại lấy cớ tình hình không cho phép vắng mặt. Chúng tôi phải nói với thủ tướng rằng nếu Cụ bỏ chúng tôi lại mà đi một mình thì sinh mệnh chúng tôi ai sẽ lo? Chúng tôi đã bỏ tất cả vào đây là vì cụ, vì tin cụ sẽ bảo vệ phần đất tự do còn lại này, bảo vệ chúng tôi. Nay cụ nỡ lòng nào bỏ chúng tôi, bỏ đất nước này cho Thực dân, Cộng Sản?

Rồi nhiều đoàn thể họp nhau lại đặt ông Diệm trước sự việc đã rồi là tự ý hạ bệ ông Bảo Đại. Cuộc trưng cầu dân ý của chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức sau đó chỉ là để hợp pháp hóa hành động của chúng tôi.

17. Hỏi: Có sử gia Mỹ bảo ngày 22 tháng 8 năm 1963, Thanh Niên Cộng Hòa đã tấn công chùa Xá Lợi cùng với Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt. Điều này có đúng không?

Đáp: Hoàn toàn bịa đặt. Tổ chức này không phải để dùng vào những việc như vậy. Nó là tổ chức phi vũ trang mà.

18. Hỏi: Sử gia Mark Mayor viết trong tác phẩm Triumph Forsaken rằng gần ngày đảo chính, tỉnh trưởng Định Tường báo cáo với ông Nhu rằng đại tá Có là phụ tá của tướng Đính rủ ông ta làm đảo chính. Ông Nhu hỏi lại tướng Đính, thì tướng Đính xin đi chém đầu Có. Ông có biết vụ này không?

Đáp: Không cần tỉnh trưởng Định Tường báo cáo thì ông Nhu đã biết rồi. Nhưng ông muốn cứ để vậy để theo dõi.

19. Hỏi: Khi ông cùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy, ông Nhu có cho ông biết hai người họ bàn chuyện gì không?

Đáp: Lúc ấy thì không. Chỉ biết chúng tôi cùng đến Quận Tánh Linh ở đây có một vùng do Cộng quân kiểm soát. Ban đầu cứ tưởng đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét. Có Phạm Hùng chờ ở đó. Sau này về nhà tôi cũng không tiện hỏi ông Nhu. Nhưng qua những gì ông tự ý nói ra vào một lúc nào đó thì, nội dung câu chuyện trên một tiếng đồng hồ, gồm nhiều điều cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Có một điều mà phía họ rất quan ngại, nếu không bảo là sợ, rất sợ chương trình Ấp Chiến Lược.

Họ yêu cầu cho biết ai là người chủ trương và mục đích để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là một chủ trương của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông… Các ông bảo cán bộ đừng tìm cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59. Cán bộ các ông có thể về sống với dân lành tại các ấp…

Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn:

– Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.
– Rồi cho dân qua lại tự do
– Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn đinh cư sang bên kia nếu muốn
– Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.
– Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.
– Và sau cùng là tổng tuyển cử.

Có lần ông Nhu tính với chúng tôi: Ông dự đoán rằng, nếu cho dân tự do chọn nơi định cư, thì căn cứ theo tình trạng về tự do dân chủ tồi tệ và kinh tế kiệt quệ của miền Bắc lúc ấy, sẽ có khoảng 3 triệu người dân sẽ dần dần vào định cư ở miền Nam. Vì vậy “mình” phải chuẩn bị đất cho dân. Ông cũng tính rằng hiện dân số miền Bắc có tới 23 triệu, trong khi dân số miền Nam chỉ có 17 triệu. Nếu có được 3 triệu dân Bắc vào định cư ở miền Nam thì dân số 2 bên sẽ cân bằng. Bầu cử tự do, với sự giám sát của Quốc Tế thì chắc mình sẽ thắng.

20. Hỏi: Lần ông tháp tùng ông Nhu đi dự lễ đăng quang của quốc vương Ma-rốc năm 1962, ông có cho biết là sau đó các ông đến Paris gặp ông Pinay, đại diện Tổng Thống Charles De Gaulle, bàn chuyện hiệp thương với ông Hồ. Lúc ấy có mặt giáo sư Bửu Hội không?

Đáp: Dĩ nhiên là có. Vì Giáo sư Bửu Hội là đại sứ của VNCH ở Ma-rốc, và là bạn học với ông Nhu ở bên Pháp. Ông Bửu Hội lại từng là cố vấn cho Hồ Chí Minh. Nên trong việc này, có thể nói vai trò của ông Bửu Hội cũng quan trọng không kém ông Nhu. Ông Nhu và chúng tôi ở khách sạn Grillon cả tháng. Cuộc tiếp xúc xảy ra nhiều lần mà hầu như lần nào cũng có sự hiện diện của giáo sư Bửu Hội. Ông Nhu cho biết lúc ấy ông Hồ Chí Minh đã nhờ ông Jean Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle giúp. Ông Hồ biết là ông De Gaulle đang có chủ trương trung lập Đông Dương, lại hận Mỹ đã “hất cẳng” Pháp. Ông Hồ nhờ Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle can thiệp để tiếp xúc với Sài Gòn. Tổng Thống Pháp rất sốt sắng trong việc này. Sau chuyến đi này ít tháng thì xảy ra vụ ông Nhu “đi săn cọp” ở Tánh Linh.

21. Hỏi: Gần ngày đảo chính đại sứ Cabot Lodge có điện đàm với Tổng Thống Diệm. Lúc đó ông có ở bên cạnh Tổng Thống không?

Đáp: Không.

22. Hỏi: Trong cuốn Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cựu đại tá Nguyễn Hữu Duệ viết rằng ông ta xin phép Tổng Thống đem xe tăng thiết giáp lên bộ tổng Tham Mưu để bắt các tướng và dẹp đảo chính. Nhưng Tổng Thống không cho. Ông có biết chuyện này không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang ở bên Tổng Thống Diệm và ông Nhu tại dinh Gia Long. Chính tôi nghe điện thoại của ông Duệ và trình lên Tổng Thống.

Tổng Thống la tôi: Các anh muốn gì? Ở với tôi bấy lâu mà không hiểu ý tôi sao? Dân Nghệ An các anh chỉ thích làm loạn. Đem quân đội chống quân đội là cách bảo vệ tổ quốc hả?

Tôi thưa: Nhưng người ta đánh mình thì mình phải đánh lại chứ Tổng Thống. Chẳng lẽ để phải chết sao?

Ông quát lên: Chết thì đã sao.

Đúng, đối với ông chết thì đã sao. Nhưng đối với chúng ta thì cái chết của ông là cái chết dần của miền Nam. Ông còn nói quân đội là để bảo vệ tổ quốc chứ không phải để bảo vệ cá nhân Tổng Thống.

Ông bảo tôi liên lạc với ông Trương Vĩnh Lễ, chủ tịch Quốc Hội yêu cầu cho triệu tập Quốc Hội để ông ra từ chức trước Quốc Hội, hòng tránh cảnh đổ máu. Nhưng tôi gọi ông Lễ 4 lần không được.

Lúc ấy không phải chỉ có Lữ Đoàn xin lên tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính. Mà còn có cả một đại đội biệt kích thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đi hành quân ở Tây Ninh vừa về đến Sài Gòn cũng báo cáo là lực lượng phòng vệ của các tướng đảo chính ở Tổng Tham Mưu rất yếu, đại đội biệt kích xin phối hợp với 2 tiểu đoàn của Lữ Đoàn Phòng Vệ phủ Tổng Thống để đột kích vào bắt hết các tướng đảo chính. Tướng Nguyễn Văn Phú, lúc ấy còn là Thiếu Tá đã tiếp xúc với tôi về việc này. Nhưng như vừa nói. Tổng Thống không chấp thuận.

Viên đại úy đại đội trưởng Biệt Kích đề nghị cho lực lượng của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống có xe bọc thép dẫn đầu tiến tới bao vây bộ Tổng Tham Mưu, còn đại đội của anh ta sẽ đột kích bọc hậu từ phía sân vận động vào bắt sống các tướng. Tôi rất buồn bực và lấy làm khó hiểu tại sao ông cụ lại không cho đánh. Ông Nhu ngồi cạnh đó cũng chẳng nói gì.

23. Hỏi: Theo ông trong số các tướng lãnh lúc ấy ai có khả năng nhất?

Đáp: Tôi hầu như không tiếp xúc với các tướng. Ngay cả Phó Tổng Thống cũng vậy. Hầu như chẳng bao giờ gặp. Nhưng tôi có nghe ông Nhu nói ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc ấy mang lon đại tá, là một tư lệnh (sư đoàn 5) giỏi nhất. Ông Nhu có nhận xét đó sau khi nghe ông Thiệu thuyết trình ở hội trường Suối Lồ Ồ.

Còn các tướng thì rất sợ Tổng Thống Diệm mỗi khi phải thuyết trình cho ông về tình hình an ninh. Bởi vì ông nắm vững tình hình và nhất là địa hình địa vật… địa lý của từng vùng. Kiến thức về quân sự của ông cũng rất uyên bác. Tôi được biết, khi mới về nước làm thủ tướng, ông đã yêu cầu tổng lãnh sự ở Hồng Kông mua cho ông tất cả tác phẩm của Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lâm Bưu, Bành Đức Hoài để đọc và bắt ông Nhu phân tích nghiên cứu trình lên.

24. Hỏi: Nghe nói ông bà Nhu có một biệt thự đẹp lắm ở Đà Lạt. Ông có tới đó bao giờ không?

Đáp: Ông nói đến cái biệt thự này, tôi lại nhớ tới cái ông luật sư Trương Phú Thứ ở Seattle . Ông ấy muốn tìm cách phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu mà không sao được. Chẳng rõ tại sao ông ta biết nhà tôi, tìm đến xin tôi giới thiệu với bà Nhu. Tôi biết đã từ lâu bà ấy ẩn dật không muốn báo chí nhắc tới. Nhưng tôi biết bà ấy hãy còn quyến luyến ngôi nhà hai phòng ngủ của một người Pháp, bỏ hoang đã lâu mà anh em chúng tôi hùn tiền mua cho ông bà ấy vào khoảng năm 1960, mà không đủ tiền sửa chữa, cho nên đến khi ông Nhu bị sát hại và bà Nhu sống lưu vong, cũng mới chỉ sửa được phần nửa.

Tôi bảo ông Thứ hãy về Việt Nam, lên Đà Lạt chụp ảnh ngôi nhà ấy rồi mang theo sang Pháp, tìm cách đưa tấm hình đó tận tay bà Nhu thì may ra bà ấy cho gặp. Thì quả thật chắc ông đã biết, ông Thứ đã viết một bài cho tờ Văn Nghệ Tiền Phong nói về bà Nhu ở tuổi gần bát tuần sống như một nhà tu ở Paris. Tôi mong ông Thứ có dịp phổ biến tấm hình này để độc giả thấy cái “ngôi biệt thự xinh đẹp” của ông bà Nhu.

25. Hỏi: Thống tướng Maxwell Taylor, Đại sứ Frederick Nolting và nữ ký giả Marguerite Higgins đều nói được Tổng Thống Diệm tiếp hơn kém khoảng 5 giờ đồng hồ. Ông có biết điều đó và có ý kiến gì không?

Đáp: Lúc ấy nhiều người nói tổng thống tiếp khách lâu quá. Tôi có trình ông, bảo người ta phê bình tổng thống độc thoại!

Ông cười. Ông bảo: Người Mỹ họ ít hiểu về dân tôc mình về lịch sử của nước mình. Mình phải lợi dụng lúc họ chịu nghe để nói cho họ hiểu chứ. Mấy người này đều chăm chú nghe tôi và đặt nhiều câu hỏi. tôi phải trả lời cho họ chứ.

26. Hỏi: Gần ngày đảo chính Tổng Thống có mời ông bà Đại Sứ Mỹ lên Đà Lạt nghỉ tại biệt điện của Tổng Thống và dự dạ tiệc thân mật. Ông có biết họ thảo luận về việc gì không?

Đáp: Tôi có biết và nhớ là Tổng Thống đề nghị chính phủ Mỹ thông cảm những khó khăn của miền Nam và đừng ép ông phải cải cách gấp rút. Ông cũng hứa sẽ xem xét những đề nghị của chính phủ Mỹ một cách nghiêm chỉnh. Nhưng cần phải có thời gian. Phía ông Lodge thì nằng nặc đòi Tổng Thống phải đưa ngay ông Nhu ra ngoại quốc. Nhưng dĩ nhiên không bao giờ Tổng Thống nhượng bộ điều này được.

27. Hỏi: Xin ông tha lỗi, ông là Phật tử chứ ạ? Và trong vụ Phật Giáo có ai nhờ ông làm trung gian để thương lượng giàn xếp giữa chính quyền và bên Phật Giáo đấu tranh không?

Đáp: Phải, tôi là Phật tử đã quy y… – Ông vào phòng lấy ra một cuộn giấy mở cho tôi thấy tờ PHÁI QUY Y rồi nói tiếp – Tôi quy y với thầy Thích Minh Châu. Khi vụ Phật Giáo xảy ra tôi có ra Huế gặp thầy Thích Trí Thủ để nhờ thầy can thiệp với Thượng Tọa Thích Trí Quang… nhưng Hòa Thượng Trí Thủ nói bây giờ các thầy trẻ học thức nhiều, họ có đường lối riêng, các sư già chúng tôi nói họ không nghe. Nên không kết quả. Nhiều người khác cũng can thiệp nhiều ngả khác, cũng không hơn gì. Hồi ấy còn cả một ủy ban của chính phủ gồm nhiều Phật tử đứng đầu là phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cố gắng dàn xếp. Nhưng bên Phật Giáo tranh đấu chỉ muốn lật đổ chính phủ thôi. Nên họ cố đưa ra những yêu sách không cách nào làm được. Tôi rất ân hận là không giúp gì được với tư cách là một Phật tử.

28. Hỏi: Theo ông thì ai cố ý giết hai ông?

Đáp: Theo tôi thì người ra lệnh trực tiếp là tướng Dương Văn Minh. Còn ông Minh có nhận lệnh ở trên nào không thì không biết. Sở dĩ tôi dám quả quyết ông Minh, là vì chính ông Minh sai cận vệ của ông ta là đại úy Nguyễn Văn Nhung cùng đi với tướng Mai Hữu Xuân, để “thi hành nhiệm vụ”(!). Và Nhung đã leo lên xe bọc thép trong đó có hai anh em Tổng Thống. Nhung là một tay giết người không gớm tay, y còn khắc dấu vào cán dao găm mỗi lần giết được một người. Ngay tối mồng hai y còn khoe “con dao lịch sử” của y với con của tướng Đôn cơ mà. Đó là theo chính lời của tướng Đôn thuật lại trong Việt Nam Nhân Chứng. Còn tướng Xuân thì khi “đi đón ông cụ” về và ông cụ đã chết rồi, đã tới trước Dương Văn Minh giơ tay làm dấu, miệng nói: “Mission accomplie” (Nhiệm vụ hoàn thành). Cứ theo những lời trên của tướng Đôn, thì không nghi ngờ gì người chủ trương và ra lệnh giết hai ông là tướng Big Minh.

29. Hỏi: Thời gian quấy rầy ông đã quá dài. Nhất là trong lúc ông còn bịnh nhiều. Xin cám ơn ông đã mất công trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Và nếu có thể được xin ông cho một cảm tưởng chung về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu.

Đáp: Tôi cũng xin cám ơn ông đã tốn công đi từ xa đến để cho tôi được có dịp nói lên vài điều trong số những gì mình còn nhớ được về thời gian dài phục vụ Đất Nước bên cạnh hai nhân vật lịch sử mà tôi hằng kính mến.

Cứ mỗi lần nhớ đến hai cụ, tôi đều ngậm ngùi xót xa. Nhất là đối với cụ Diệm. Ông quá ngay thẳng, quá quân tử, quá rộng lượng, lúc nào cũng nghĩ tới làm cho dân được ấm no hơn. Vậy mà người ta nỡ hãm hại ông. Không phải chỉ có những ngày giỗ hai ông tôi mới khóc.

Cụ Vỹ dằn cơn xúc động bắt tay tôi khi tôi từ biệt ra về…

Minh Võ, San Diego

www.vietthuc.org

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Lịch Sử, Phỏng Vấn | 1 Comment »

►Số cán bộ phường xã không dưới 4 triệu người – Dân chúng è cổ nuôi cán bộ

Posted by hoangtran204 trên 12/07/2012

Lời Tựa: Vài năm trước đây, World Bank có đưa ra các số liệu sau đây để so sánh giữa Việt Nam và Thái Lan.

Dân số Thái Lan là 57 triệu người. Số công chức, quân đội, cảnh sát, và các nhân viên hành chánh của các cấp chính quyền tổng cộng là 2 triệu người lãnh lương từ ngân sách của chính phủ. (cứ 28 người dân, thì có một người lãnh lương của chính phủ Thái Lan)

Và về phía Việt Nam, cùng thời gian ấy, dân số là 85 triệu người, nhưng phải trả lương cho hơn 6 triệu cán bộ, công nhân viên, bộ đội, công an, các nhân viên hành chánh trong chính quyền và bộ máy của đảng viên đảng CSVN. (Cứ 14 người dân, thì có một người lãnh lương của nhà nước.)

Kinh hoàng nhất là bộ máy các đảng viên cấp ủy, hiện diện song song với chính quyền các cấp để cai trị, và cũng lãnh lương từ tiền thuế của người dân và tiền thu được từ  việc bán tài nguyên khoáng sản, mỏ, dầu hỏa, và khí đốt.

Bài báo dưới đây cho thấy, ở một xã có 9500 dân mà có 500 cán bộ, như vậy cả nước có 11.109 đơn vị cấp xã, thì tổng số cán bộ cấp xã chắc không dưới 4 triệu người. 

Dân chúng Việt Nam è cổ nuôi đảng và cán bộ hút máu như thế thì nói sao cả nước không nghèo và không sinh ra tham nhũng.

(Ghi chú của Trần Hoàng)

Mỗi quận đều có Cấp ủy riêng, cả nước có 698 quận huyện*.

Mỗi phường, xã có cấp ủy riêng, toàn quốc có  10487 phường xã ủy; có 63 tỉnh ủy, và 5 thành ủy. 

Ngoài ra các công sở, bệnh viện, trường học có cấp tủy riêng. Gộp chung lại,  cả nước có hàng hai, ba chục ngàn cấp ủy của đảng.

*Danh sách thành phố, quận, huyện, dân số, diện tích

**10487 phường, xã

***danh sách tỉnh, thành phố, dân số, diện tích, số quận huyện

****Việt Nam có 8,8 triệu người hay 10% dân số là người có công với cách mạng

Ngày 7/7, tại thành phố Đà Nẵng 384 thương binh, thân nhân liệt sĩ và người có công tiêu biểu đại diện cho 8,8 triệu người có công trên cả nước dự Hội nghị biểu dương người có công với cách mạng tiêu biểu toàn quốc năm 2012…

Theo Bộ Lao động, hiện cả nước có 8,8 triệu người có công, chiếm gần 10% dân số.

Trong đó, gần 1,15 triệu liệt sĩ, hơn 3.000 bà mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống, hơn 780.000 thương binh, 1.253 Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động trong kháng chiến, hơn 100.000 người bị địch bắt tù, đày, hơn 4,1 triệu người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc… 

Hàng triệu ‘quan xã’, vì sao?

9-7-2012

VietNamNet – Chuyện tưởng lạ, nhưng với những người làm công tác tổ chức cán bộ ở huyện, tỉnh và cả trung ương, việc này chẳng có gì lạ. Đó là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”

Nhiều người lấy làm lạ và ngỡ ngàng, qua các phương tiện thông tin đại chúng được biết chỉ có 1 xã thôi mà có tới 500 “cán bộ” các loại. Đó là xã Quảng Vinh (huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa) có 15 thôn, 2.000 hộ, 9.500 dân, mà lãnh đạo xã dành cả tiếng đồng hồ để nhẩm tính ra khoảng 500 người tham gia vào công tác quản lý cho xã, thôn. Một số được Nhà nước trả lương, còn phần nhiều nhân dân è cổ “đóng góp” bắt buộc nuôi số “cán bộ” này. Nếu tính theo kiểu cộng dồn thì 11.109 đơn vị cấp xã (số liệu năm 2010) trong đó có 9.011 xã, 1.391 phường và 627 thị trấn thì phải có đến con số hàng triệu “quan lại” cấp xã, thôn.

Đọc tiếp »

Posted in Quản Lý, Xã Hội và các vấn nạn (Social Problems) | Leave a Comment »

►Dân nghèo è cổ nuôi cán bộ và đảng viên…ăn không ngồi rồi – Một xã có 500 cán bộ

Posted by hoangtran204 trên 12/07/2012

Trích:

“Ngày thứ 6 tôi đến, nhóm ông Tâm với mấy ông làm văn phòng, tư pháp đang hút thuốc lào và bàn nhau chuẩn bị đi uống rượu. Trụ sở xã vắng như chùa Bà Đanh, còn ngoài đồng, nông dân Quảng Vinh đang vã mồ hôi thu hoạch lúa…”

“Ngân sách nào kham nổi? Nước chè, thuốc lào vặt và phim online…”

Rùng mình xã 500 cán bộ ở Thanh Hóa

Theo báo Nông Nghiệp Việt Nam

Hoàng Anh   -Thứ Ba, 26/06/2012,

Dân nghèo è cổ nuôi cán bộ

Cán bộ xã, thôn đông quá, ngân sách lại không đủ trả lương nên ở nhiều nơi thuộc tỉnh Thanh Hóa, chính quyền xã bắt dân nghèo è cổ đóng góp nuôi cán bộ.

Góp thóc nuôi cán bộ ăn không ngồi rồi

Xã Quảng Vinh (huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa) có 15 thôn, 2.000 hộ, 9.500 dân. Suốt quá trình đi thực tế để thực hiện loạt bài này, chúng tôi chưa thấy nơi nào nhiều cán bộ xã, thôn như ở Quảng Vinh. Phải mất gần một tiếng đồng hồ, tôi và ông Dư Văn Tâm, Phó Chủ tịch UBND xã mới thống kê hết số cán bộ xã lẫn thôn ở Quảng Vinh. Mất thời gian là thế nhưng cũng chẳng thể đưa ra được con số chính xác vì bản thân vị Phó Chủ tịch xã không nhớ được. Ông chỉ áng chừng khoảng 500 người gì đó, cả xã và thôn.

Cán bộ đông như châu chấu nhưng ngày làm việc mà trụ sở xã Quảng Vinh vắng tanh

Thuộc diện xã loại 1 theo Nghị định 92 của chính phủ nên Quảng Vinh có tới 23 cán bộ được biên chế và 22 cán bộ bán chuyên trách. Ngoài 45 cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách này, xã còn có thêm 7 người làm phó các đoàn thể, cán bộ đài truyền thanh, kế toán phụ, văn phòng đảng ủy, ban liên lạc TNXP… Số cán bộ đông kỷ lục, ông Tâm bảo rằng, cứ trên có chức danh gì thì cứ theo ngành dọc mà bổ nhiệm cho tới tận từng thôn. Thành thử có nhiều người ở thôn được gọi là cán bộ nhưng họ làm gì thì Phó Chủ tịch xã như ông cũng không thể biết.

Xã Quảng Vinh có tới 3 ông bảo vệ. Một ông bảo vệ trụ sở xã, một ông bảo vệ tượng đài liệt sĩ (dù tượng đài nằm ngay cạnh ủy ban) và một ông bảo vệ các trạm bơm thủy lợi. Đây cũng là xã mà cán bộ các đoàn thể phủ tận các thôn, đầy đủ không thiếu một người. Cứ một thôn có 2 người tham gia phụ trách hoạt động của một đoàn thể. Đoàn thanh niên, hội nông dân, phụ nữ, cựu chiến binh… 7 đoàn thể, tức có khoảng 14 cán bộ lĩnh vực này ở một thôn. Cộng thêm Bí thư, trưởng thôn, phó thôn… nữa cũng xấp xỉ 20. Chưa hết, đông nhất ở Quảng Vinh là đội ngũ cán bộ phục vụ an ninh. Ngoài trưởng và 2 phó công an, xã còn có thêm 15 tổ an ninh trật tự đóng ở 15 thôn. Mỗi tổ 3 người, công an viên làm tổ trưởng, cộng thêm lực lượng dân quân 22 vị nữa là 67 người.

Theo Nghị định 92 của Chính phủ, chỉ có cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách thì nhà nước trả lương, còn cán bộ phát sinh xã phải tự trả phụ cấp cho họ. Được biết, mỗi năm xã Quảng Vinh thu ngân sách tất tần tật chỉ có 400 triệu, vậy tiền đâu để chi trả cho bộ máy cán bộ quá khổng lồ hiện tại? Xin thưa, bắt người dân đóng góp là chính. Điều này đích thân ông Tâm dù không muốn cũng phải thừa nhận: Vì ngân sách không có nên xã phải bắt người dân đóng góp.

Người dân xã nghèo Quảng Vinh phải góp thóc để nuôi bộ máy cán bộ khổng lồ

Nông dân Quảng Vinh còn nghèo lắm, số hộ nghèo còn tới 30,6%. Trang trải cuộc sống hàng ngày đã khó huống hồ phải đóng góp để nuôi cán bộ. Nhưng không đóng không được, bởi tất cả các khoản đều được quy ra thóc, dân không tự nguyện thì cán bộ lấy lúa ngoài đồng. Đừng có hòng chạy thoát. Mà giả sử có chạy đợt này thì xã lại ghi vào sổ nợ rồi cho người đòi liên tục, đòi đến lúc nào thanh toán đủ mới thôi.

Đau ở chỗ, hầu hết cán bộ sống bằng nguồn thóc lúa của dân lại chẳng phải do dân bầu. Những chức danh như đoàn thôn, cán bộ phụ nữ thôn… đều theo ngành dọc, cơ cấu lên làm. Mỗi thôn 2 người phụ trách bất kỳ đoàn thể nào cũng được hưởng phụ cấp 200 cân thóc một năm. Tổng cộng hàng năm xã Quảng Vinh phải chi trả 105 triệu đồng, chỉ riêng cho cán bộ đoàn thể cấp thôn. Ngoài ra, ở các tổ an ninh trật tự, cứ hai an ninh viên thì bằng phụ cấp công an viên, còn riêng 22 vị dân quân tự vệ, mỗi năm phải trả cho họ 44 triệu đồng…

“Tất cả phụ cấp cho những cán bộ như thế đều được tính bằng thóc. Cứ đến hạn nhận lương là họ lấy tiền theo giá thóc thị trường. Còn xã phải thu phí từ hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân vì ngân sách quá ít ỏi, không gánh nổi. Xã giao chỉ tiêu cho thôn, mỗi thôn 40 triệu đồng, cứ thế mà thu”. Ông Tâm nói.

5 tạ thóc mất 1 tạ phí

Đó là cách tính của nông dân nghèo ở Quảng Vinh. Nếu căn cứ vào cuốn sổ thanh toán mà mỗi hộ gia đình phải mua với giá 5 ngàn đồng ở xã thì năm nay họ đang phải chịu 19 khoản phí chính thức, chưa kể những khoản đóng bên ngoài, không đưa vào sổ. 13 khoản phí xã ban hành, 6 khoản còn lại nộp cho thôn. Tính bình quân, một năm, dân nghèo xã Quảng Vinh ít nhất phải mất một tạ thóc cho tiền phí của thôn, của xã. 2.000 hộ là 2.000 tạ thóc. Không có ngoại lệ, cho dù đó là hộ nghèo, người già hay trẻ nhỏ.

 

Sổ thanh toán ghi những khoản phí dân nghèo phải đóngGia đình chị Phạm Thị Trâm ở đội 5, thôn Thanh Minh có 6 người nhưng chỉ được 2 sào ruộng. Bao nhiêu năm nay họ không thoát khỏi “án” hộ nghèo, nhưng lý do chính không chỉ vì ít ruộng. Mỗi năm, 2 sào ruộng làm 2 vụ, năng suất như hiện nay được tầm 5 tạ thóc.

Nhưng với các khoản phí được chia rõ ràng trong sổ thanh toán thì hàng năm gia đình phải đóng hơn 700 ngàn. Với giá thóc như hiện nay thì riêng tiền phí đã ngốn mất của gia đình chị hơn một tạ/năm.

Nhà nước đã có chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp nhưng hàng năm gia đình chị Trâm vẫn phải đóng Quỹ phục vụ nông nghiệp, giao thông thủy lợi, xây dựng kênh mương… cho xã. Năm ngoái tổng các loại phí này lên đến 705 ngàn đồng, chị túng quá, không có đóng nên bị xã ghi nợ sang năm nay.

Xã thu chán chê, đến thôn cũng tìm cách vét. Từ tiền thủy lợi nội đồng, tiền diệt chuột, tiền bảo vệ… Mỗi khoản vài chục ngàn nhưng cộng lại cũng tiền trăm. Đối với những gia đình nghèo như chị Trâm thì đi vay cũng khó chứ đừng nói đến chuyện kiếm ra để trả.

Nằm ở vùng bãi ngang nên mỗi học sinh ở Quảng Vinh được nhà nước hỗ trợ tiền 70 ngàn đồng/tháng. Nhưng ba năm nay người dân cố hỏi mà cán bộ xã cứ cố tình lờ đi. Họ thắc mắc chán rồi chuyển sang bức xúc, quy cho ông Chủ tịch ăn quỵt. Bởi chẳng có lý do gì, ở mảnh đất nghèo như thế này thì lấy đâu ra tiền mà nhà ông Chủ tịch xã Lê Quang Bảo lại có thể xây to như biệt phủ, cao ba tầng, có hàng rào bao bọc …

Dù nghèo nhưng chị cố cho con đi học để mong chúng thoát khỏi cái cảnh ruộng đồng, may ra làm được cái chức gì ở xã như mấy ông cán bộ vừa nhàn vừa được dân nghèo cống thóc nuôi. Nhưng giấc mơ ấy đang bị đặt dấu hỏi bởi các khoản phí mà chính quyền xã Quảng Vinh đang cố truy đến tận cùng.

“Đợt vừa rồi làm đường giao thông nông thôn, gia đình tôi đã phải đóng 50 ngàn một khẩu rồi. Vậy mà các cháu đi học còn bị đòi thêm 150 ngàn mỗi đứa nữa. Không có tiền đóng thì trường không cho thi nên vị chi làm đoạn đường mà nhà tôi đóng tròn một triệu đồng. Chưa chạy vạy đủ để đóng cho con đi học thì xã lại cho người đi vận động thu tiền chuẩn bị ngày 27/7. Mỗi hộ phải đóng 20 ngàn nữa, nhưng nói thật, bây giờ trong nhà tôi một ngàn cũng không có thì lấy chi mà đóng”. Chị Trâm phàn nàn.

Cạnh nhà chị Trâm là nhà bố chồng chị, cụ Lê Quang Huy (89 tuổi). Nhà chỉ có hai ông bà già, không làm ruộng được nữa nhưng mỗi lần có đợt thu phí xã vẫn cho người đến đòi. Không có nộp thì cán bộ xã Quảng Vinh linh hoạt bằng cách trừ tiền chế độ người già của hai cụ. Mỗi tháng 180 ngàn bị cắt luôn từ trên xã, đỡ cho hai cụ phải mất công đi lấy!  (ghi chú của Trần Hoàng: chỉ có người trên 85 tuổi mới đượclãnh tiền chế độ người già.)

 

Dân nghèo, xã nghèo, nhưng nhà Chủ tịch xã to như biệt phủCả xã Quảng Vinh có 3.740 sào ruộng. Bình quân năng suất 200kg một sào. Không biết người dân phải chi ra bao nhiêu thóc để nuôi cán bộ.

Chỉ biết số cán bộ quá khổng lồ, tốn rất nhiều thóc của người dân nhưng công việc xem chừng rất nhàn nhã.

Ngày thứ 6 tôi đến, nhóm ông Tâm với mấy ông làm văn phòng, tư pháp đang hút thuốc lào và bàn nhau chuẩn bị đi uống rượu. Trụ sở xã vắng như chùa Bà Đanh, còn ngoài đồng, nông dân Quảng Vinh đang vã mồ hôi thu hoạch lúa. Năm nay họ được mùa, nhưng không được ăn cả, vì những khoản phí vẫn còn treo lơ lửng, thậm chí nhiều nhà còn nợ tồn đọng từ mấy năm trước chưa trả nổi.

Theo báo Nông Nghiệp Việt Nam

————-

Ghi chú của Tràn Hoàng:

Mỗi quận đều có Cấp ủy riêng, cả nước có 698 quận huyện*.

Mỗi phường, xã có cấp ủy riêng, toàn quốc có  10487 phường xã ủy; có 63 tỉnh ủy, và 5 thành ủy. 

Ngoài ra các công sở, bệnh viện, trường học có cấp tủy riêng. Gộp chung lại,  cả nước có hàng hai ba chục ngàn cấp ủy của đảng.

*Danh sách thành phố, quận, huyện, dân số, diện tích

**10487 phường, xã

***danh sách tỉnh, thành phố, dân số, diện tích, số quận huyện

————

Cán bộ phường đông như… quân Nguyên

Báo Nông Nghiệp Việt Nam

Sao Mai   

Thứ Tư, 20/06/2012,

Theo thống kê của Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An, đội ngũ cán bộ công chức (CBCC) cấp phường xã của tỉnh hiện có trên 10.000 người. Số này được hưởng lương theo bằng cấp, được ngân sách TW cấp. Ngoài ra còn có thêm khoảng trên 10.000 người là cán bộ không chuyên trách cấp xã, phường, được hưởng mức phụ cấp từ ngân sách tỉnh.

Đó là chưa kể lớp cán bộ khối, xóm, bản, đại biểu hội đồng nhân dân xã… cũng được hưởng phụ cấp từ ngân sách tỉnh tùy theo Nghị quyết của HĐND tỉnh quy định hàng năm…

Gặp bất kỳ một CBCC cấp xã phường nào, nhất là đội ngũ cán bộ không chuyên trách, hễ được hỏi đến vấn đề lương, mức phụ cấp của mình, họ đều thở dài ngao ngán với câu cửa miệng: “Không đủ sống”. Xét cho cùng, điều đó có cơ sở. Trên thực tế, chính sách theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ không bảo đảm được cuộc sống cho cán bộ cấp phường xã.

Ông Chu Văn Mai, Chủ tịch UBND phường Lê Mao, TP Vinh nói với chúng tôi: Phường Lê Mao có gần 2.583 hộ với gần 12.000 nhân khẩu. Đội ngũ cán bộ được hưởng lương từ ngân sách TW và địa phương tại phường là 172 người, chưa kể số đại biểu hội đồng nhân dân phường. Trong đó cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử theo nhiệm kỳ ở phường và cán bộ công chức được hưởng lương từ ngân sách TW theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP hiện mới có 18 người (phường Lê Mao loại 2 nên được biên chế 23 người) được hưởng lương hành chính theo bằng cấp (100% số cán bộ chuyên trách và công chức phường Lê Mao đều được chuẩn hoá qua các lớp đại học tại chức mở tại địa phương).

 

Cán bộ phường Lê Mao tại nơi giao dịch “1 cửa”

Lớp cán bộ thứ 2 của phường là đội ngũ cán bộ không chuyên trách được hưởng từ ngân sách tỉnh (theo Quyết định 58/2010/QĐ-UBND, ngày 11/8/2010 và Quyết định số 55/2010/QĐ-UBND, ngày 03/8/2010 của UBND tỉnh Nghệ An) cũng được phân làm 4 nhóm: Nhóm 1 hưởng mức phụ cấp 1 hệ số lương cơ bản gồm 5 người: Phường đội phó, Phó chủ tịch MTTQ, Chủ tịch Hội Người cao tuổi, Văn phòng Đảng uỷ, Phó Chủ nhiệm UBKT Đảng uỷ chuyên trách. Nhóm 2 được hưởng mức phụ cấp 0,8 hệ số lương cơ bản gồm 5 chức danh là cấp phó của các tổ chức hội, đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội CCB và Chủ tịch Hội chữ thập đỏ. Nhóm 3 được hưởng mức phụ cấp 0,6 hệ số lương cơ bản gồm 5 chức danh gồm Dân số KHHGĐ; Thương mại – công nghiệp; Khoa học công nghệ & môi trường; Nội vụ, tôn giáo, thi đua khen thưởng, quản lý nhà văn hoá và đài truyền thanh phường; Thủ quỹ, văn thư lưu trữ. Nhóm 4 được hưởng mức phụ cấp 0,5 hệ số lương cơ bản có 3 chức danh gồm Đô thị, Giao thông, Xây dựng.

Ngoài ra, cán bộ cấp khối phố cũng có mức phụ cấp khác nhau. Trong đó có 18 người đảm nhiệm 2 chức danh Khối trưởng và Bí thư chi bộ của 9 khối (hưởng phụ cấp 0,8 mức lương tối thiểu). Thứ đến là các vị Ủy viên thường trực MTTQ, Uỷ viên thường vụ các đoàn thể cấp phường được hưởng phụ cấp 0,4 mức lương tối thiểu và cuối cùng là các chức danh như Khối phó, Trưởng ban công tác mặt trận, Chi hội trưởng các tổ chức như Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội người cao tuổi, Tổ trưởng dân phố đều được hưởng mức phụ cấp 0,18 hệ số lương cơ bản. Đại biểu HĐND phường (25 người) được hưởng phụ cấp 0,3 hệ số lương tối thiểu…

Ngoài thực hiện theo Quyết định 58 nói trên, có một số chức danh chúng tôi phải trả theo mức phụ cấp được UBND TP Vinh quy định như: Văn thư, tạp vụ, thủ quỹ và 4 thành viên Đội quy tắc đô thị với mức 1,5 triệu đồng/tháng (cao hơn quy định của UBND tỉnh Nghệ An). Bởi thế, riêng khoản tiền lương chi cho đội ngũ CBCC của phường và đội ngũ cán bộ không chuyên trách (lập từ 01/01/2012) cũng ngót nghét 200 triệu đồng/tháng (bình quân khoảng 2,4 tỷ đồng/năm).

Bước sang năm 2012, việc trả lương cho CBCC cấp phường theo Nghị định số 34/2012/NĐ-CP ngày 15/4/2012 của Chính phủ thì toàn bộ cán bộ cấp phường xã từ lãnh đạo đến nhân viên (trong biên chế) sẽ được hưởng thêm chế độ phụ cấp công vụ 25% mức lương hiện hưởng, cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (có hiệu lực thi hành từ 01/6/2012) thì mức chi trả lương tại phường Lê Mao sẽ còn tăng thêm nữa. Đây thực sự là một gánh nặng, là nỗi lo canh cánh của lãnh đạo phường hiện nay.

Ông Bùi Văn Dũng, Phó chủ tịch phụ trách kinh tế UBND phường Lê Mao cho biết thêm: Trong số 25 phường, xã trên địa bàn TP Vinh phường Lê Mao là đơn vị chỉ có nguồn thu trung bình với mức gần 5 tỷ đồng/năm, chủ yếu thu từ thuế SXKD, thuế nhà đất, thuế đất phi nông nghiệp, các loại quỹ, phí và thuế xây dựng nhà ở tư nhân… Nhưng tổng nguồn thu ấy chỉ được phân bổ trở lại khoảng 1,7 tỷ đồng/năm. Số còn lại được bổ sung khoảng 1,5 tỷ dùng để chi lương, phụ cấp theo lương, phụ cấp công vụ và chi tiêu thường xuyên (khoảng 600-700 triệu đồng/năm) đều trông cả vào ngân sách cấp bù từ trên xuống.

Theo ông Chu Văn Mai, Chủ tịch UBND phường Lê Mao: “Bước sang năm 2012, TP Vinh áp dụng chủ trương mới là cấp phường, xã được để lại chi cho bộ máy và các hoạt động khác 50% nguồn thu từ thuế VAT/kế hoạch giao (trước đây chỉ được 5%). Năm nay, phường được giao kế hoạch 3,6 tỷ đồng thuế VAT, theo đó dù có thu được hay không nhưng trên sổ sách phường đã được cân đối 1,8 tỷ đồng và 2 tỷ đồng tiền thuế nhà đất và đất phi nông nghiệp, theo đó phường chúng tôi được cân đối lại 3.870 triệu đồng. Trong đó chi thường xuyên và các khoản lương hết 3.268 triệu đồng. Như vậy, trên sổ sách giấy tờ chúng tôi vẫn còn dư lại 601 triệu đồng.

Thế nhưng, trong bối cảnh lạm phát, tình trạng làm ăn thua lỗ, vỡ nợ khắp nơi nên các đối tượng SXKD trên địa bàn phường đã giảm mất đáng kể (giảm lớn so với bộ thuế VAT lập năm 2011) thành ra kế hoạch được thành phố giao nói trên trở nên quá xa vời với thực tiễn nên không biết lấy đâu ra nguồn thu để trả lương hàng tháng cho cán bộ phường. Đây là lý do giải thích vì sao việc đảm bảo nguồn thu chỉ để phục vụ cho việc chi lương cho đội ngũ cán bộ (chuyên trách và không chuyên trách) phường, chi thường xuyên và đảm bảo xã hội, hưu trí phường… luôn trở thành vấn đề rất nóng tại địa phương.

Các năm trước, có nguồn thu dư giả thì chúng tôi trả lương, phụ cấp từ đầu tháng, nộp BHXH rất kịp thời nhưng từ đầu năm 2012 đến nay đều phải chờ đến cuối tháng mới có lương. Nợ cả tiền BHXH (khoảng 20 triệu đồng/tháng). Anh em cán bộ đi làm ngoài giờ mức bồi dưỡng chỉ 10.000 đồng/buổi/người mà vẫn chưa có nguồn để trả”.

Cuối buổi làm việc, ông Chủ tịch UBND phường thở dài: Tình hình của phường như vậy thì nay Chính phủ lại có Nghị quyết 13/2012/NQ-CP ngày 10/5/2012 và Công văn hoả tốc số 6326/BTC-TCT ngày 11/5/2012 của Bộ Tài chính về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ thị trường trong đó chủ trương tạm thời chưa thu thuế GTGT các tháng 4-5-6/2012 nên nguồn thu của phường càng khó khăn thêm. Nói thật với nhà báo năm nay phường Lê Mao là 1 trong 4 phường xã ở TP Vinh bị “cháy sổ” vì trong tài khoản hiện không có khoản nào khả dĩ có thể vay mượn được để chi trả lương hàng tháng được nữa.

“Tại TP Vinh đội ngũ CBCC xã được bố trí ở 25 phường, xã (4 xã loại 1; 20 xã loại 2 và 1 xã loại 3) là 482/581 biên chế được duyệt. Riêng đội ngũ cán bộ không chuyên trách từ phường đến khối, xóm do UBND các phường, xã ký hợp đồng và trực tiếp quản lý do đó UBND TP Vinh vẫn chưa thống kê được con số cụ thể” – ông Hồ Sỹ Tân, Trưởng phòng Nội vụ, UBND TP Vinh cho biết.

h

Đem câu chuyện thu không đủ chi cho bộ máy cán bộ tại phường Lê Mao ra trao đổi với ông Trần Văn Sơn, Trưởng phòng Tài chính – Kế hoạch UBND TP Vinh, ông Sơn xác nhận: Những điều Chủ tịch phường Lê Mao nói đều đúng. Cấp phường được UBND tỉnh và thành phố giao chỉ tiêu thu – chi, tỷ lệ điều tiết trên tổng kế hoạch thu từng loại theo nguyên tắc chung là: Tổng thu trên địa bàn trừ đi tổng được điều tiết trở lại, thiếu bao nhiêu được tỉnh và thành phố cấp bổ sung đủ kế hoạch chi ngay từ đầu năm.

Thế nhưng, khó khăn của phường Lê Mao trong 5 tháng đầu năm nay cũng là khó khăn chung của cả 25 phường xã trên địa bàn TP Vinh. Lý do cho đến đầu tháng 6/2012, nguồn thu tại TP Vinh và các phường xã mới chỉ đạt 14% (khoảng 220 tỷ đồng). Trong khi các khoản lương, phụ cấp, chi thường xuyên khác vẫn không thể dừng. Bởi thế, từ TP đến các phường, xã đều phải “giật gấu vá vai” bằng cách vay từ các nguồn khác chưa giải ngân được để trả lương, trong đó chủ yếu từ nguồn tiền đất còn tồn quỹ (5 tháng đầu năm 2012, UBND TP Vinh đã vay từ nguồn này 21 tỷ đồng). Riêng phường Lê Mao do không có quỹ đất đấu giá nên trong tài khoản không có khoản tồn quỹ này do đó lại càng khó khăn thêm.

Nguồn: Nông Nghiệp Việt Nam

http://danluan.org/node/13119

——————

Ngân sách nào kham nổi?

Nước chè, thuốc lào vặt và phim online

Báo Nông Nghiệp Việt Nam

Hoàng Anh   -Thứ Hai, 18/06/2012

Bộ máy cán bộ cấp xã, phường đông đảo đến mức quá dư thừa, nhiều địa phương đang rơi cảnh “thừa người thiếu việc”. PV NNVN đã có cuộc khảo sát tại nhiều địa phương và chứng kiến những câu chuyện bi hài. Có người nói, cán bộ xã nhiều như châu chấu, không sai. Vì vậy, khoan hãy bàn đến bộ máy những cấp, những ngành cao hơn, chỉ cần với đội ngũ công chức xã, thôn khổng lồ hiện nay, thấy ngân sách nào kham cho nổi…?

Nước chè, thuốc lào vặt và phim online

Đó là đúc kết của nhiều người từng chứng kiến “khối lượng công việc” trong một ngày của cán bộ xã ở một số địa phương thuộc tỉnh Hà Tĩnh.

Thay nhau đi làm

Huyện miền núi Vũ Quang (tỉnh Hà Tĩnh) nằm trong chương trình hỗ trợ 30a của Chính phủ dành cho 62 huyện nghèo. Theo kế hoạch biên chế trong Nghị quyết số 131 năm 2010 của HĐND tỉnh Hà Tĩnh, huyện Vũ Quang có 259 cán bộ xã được biên chế công chức và 176 cán bộ không chuyên trách làm việc ở 12 xã và thị trấn. Tính bình quân mỗi xã ở huyện nghèo này có gần 40 cán bộ chính thức cộng thêm đội ngũ cán bộ hưởng phụ cấp ở các thôn xóm.

Hương Minh là một xã nghèo của huyện Vũ Quang, thống kê số hộ nghèo còn tới 22,9%. Đến mảnh đất này có cảm giác nghèo khổ phơi ra từ nhà cửa, ruộng đồng, từ cuộc sống người dân. Duy chỉ có trụ sở UBND xã và đội ngũ cán bộ trông có vẻ giàu có và dồi dào. Trụ sở xã Hương Minh to lắm, mới được xây thêm nên nhìn bên ngoài, 2 khu nhà 2 tầng khang trang chẳng thua kém ai. Trái với vẻ bề thế bên ngoài, dù đang ngày làm việc nhưng bên trong trụ sở xã chỉ lác đác vài cán bộ rảnh rỗi ngồi uống nước chè vặt và bàn chuyện bóng đá EURO đang sôi sục bên tận trời Âu. Mùa bóng đá và mùa gặt. Đó là lý do chính mà Chủ tịch xã Đoàn Hữu Thước giải thích vì sao hôm nay ít cán bộ xã đến trụ sở làm việc như vậy.


9 giờ sáng, trụ sở xã Hương Minh đã vắng hoe vắng hoét

701 hộ, 2.700 khẩu nhưng theo danh sách trả lương của kế toán xã thì Hương Minh có 37 cán bộ nòng cốt thường trực ở UBND xã. Cộng thêm ở 10 thôn, mỗi thôn ít nhất phải 10 cán bộ phụ trách các lĩnh vực nữa là 137 người.

Cán bộ hội nông dân, phụ nữ, đoàn thanh niên, cựu chiến binh, người cao tuổi, công an viên, trưởng thôn, bí thư chi bộ, y tế thôn bản… Nói chung, Nghị quyết của HĐND tỉnh quy định có chức danh gì thì xã Hương Minh đầy đủ chức danh đó. Ông Thước tính bình quân cứ 5 hộ dân ở Hương Minh có một người làm cán bộ. Những chuyện bi hài chỉ có ở xã cũng bắt đầu nảy sinh từ thực trạng bộ máy cán bộ xã quá cồng kềnh.

Cán bộ đông, xã lại nghèo, dân số ít nên công việc ở ủy ban xã Hương Minh trở nên nhàn nhã. Ông Nguyễn Thanh Truyền, Phó bí thư đảng ủy xã, người phụ trách khối đoàn thể có thể hơi buồn vì “quân” của mình là những người ít việc nhất, nhưng đổi lại được an ủi phần nào vì nhờ ít việc nên họ có thể luân phiên nhau đi làm và có thời gian ở nhà gặt lúa. Cả một tòa nhà 2 tầng mới được xây dựng dành cho khối Đảng ủy, đoàn thể, nhưng 9 giờ sáng ngày thứ 6 chỉ còn mỗi Bí thư và Phó bí thư ngồi chờ hết buổi làm. Vắng là phải, bởi nhiều người ít việc nên không biết từ bao giờ cán bộ xã Hương Minh linh hoạt thay nhau đi làm. Cứ hôm nay trưởng đến xã thì phó làm việc nhà, hôm sau đổi lại. Mùa gặt đến nên việc đổi lịch lại càng phải áp dụng. Giả sử có đi làm là để đối phó đủ giờ giấc thôi chứ chẳng có việc gì. Khối đoàn thể của ông Truyền đến trụ sở chỉ uống nước chè, nói chuyện phiếm chứ chẳng có việc gì mà làm cả.

“Một năm vài ngày lễ kỷ niệm, phông hoa loa đài. Không có ích vụ gì. Chẳng qua phải nhận thêm người là nhằm mục đích kế thừa, người này nghỉ còn có người khác lên thay. Thế thôi. Một ngày không có việc làm mà bắt trụ 8 tiếng ở ủy ban, cũng khó”. Ông Truyền phân tích.

Thừa người thiếu việc

Chung cảnh thừa người thiếu việc là xã Thạch Long (huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh). Nơi mà ông Chủ tịch xã Nguyễn Phi Trưng khẳng định rằng: Nếu được phép sắp xếp thì ông có thể giảm gần một nửa bộ máy cán bộ xã hiện nay.


Nếu được phép, ông Trưng có thể giảm một nửa số cán bộ xã mình

Thạch Long cũng là một xã nghèo. Cả xã có 1.408 hộ, 5.800 nhân khẩu. Ông Trưng vạch ra hàng loạt những bất cập về hệ thống cán bộ xã mình kiểu “chỗ cần không có, chỗ có lại chẳng cần, thừa người thiếu việc”. 35 cán bộ chủ chốt làm việc ở xã, 60 cán bộ phụ trách hưởng phụ cấp ở thôn xóm, mỗi năm “đốt ngân sách” tầm 1,5 tỷ đồng nhưng công việc thì vô cùng, tính thế nào cũng được.

Về độ nhàn rỗi của bộ máy cán bộ xã Thạch Long, ông Trưng chia thành 3 cấp. Cấp thứ nhất, hầu như không có việc làm là các đoàn thể. Hội cựu chiến binh, hội nông dân, hội phụ nữ, hội người cao tuổi, đoàn thanh niên… “Có 10 người ở xã và 30 người ở 6 thôn nhưng công việc của đoàn, của hội là gì thì làm chủ tịch như tôi cũng chẳng biết. Chỉ biết là cồng kềnh và tốn kém. Như vừa rồi, 3 đoàn thể đại hội, UBND xã phải chi mỗi đoàn 15 triệu đồng, cộng thêm huấn luyện dân quân tự vệ 60 triệu nữa là gần cả trăm triệu mà chẳng giải quyết được việc gì. Công việc của đội ngũ này tôi thấy mỗi lĩnh vực một người, thậm chí là hai ba lĩnh vực cho kiêm nhiệm cũng dư sức để làm”.

 

Theo kế hoạch cán bộ cấp xã trong Nghị quyết của HĐND tỉnh, 12 huyện thị của tỉnh Hà Tĩnh có tổng cộng 262 xã, 5.663 cán bộ được biên chế, 3.847 cán bộ không chuyên trách. Đấy là chưa kể cán bộ phụ trách hưởng phụ cấp ở các thôn. Bình quân mỗi xã hơn 36 cán bộ, riêng xã Kỳ Lợi, huyện Kỳ Anh thậm chí còn được đặc cách biên chế 25 người. Đến nhiều xã, hỏi Chủ tịch hội nông dân diện tích lúa, tổng đàn lợn bao nhiêu chẳng biết, hỏi cán bộ đoàn thể công việc ngày mai ai nấy đều lắc đầu. Chỉ thị 20 của tỉnh Hà Tĩnh cấm cán bộ uống rượu bia, đi đám cưới trong giờ làm việc. Nhưng có lẽ chỉ thị này đang miễn nhiễm với cán bộ cấp xã. “Ở mấy xã vùng này, bất cứ lúc nào anh đến cũng thấy vài ông cán bộ phừng phừng. Không đám cưới thì đám giỗ, không có đám gì thì tự mời nhau. Rảnh việc nên hay nghĩ đến rượu chè”. Ông Trưng ngao ngán.

Cấp thứ hai mà ông Trưng nói đến là cán bộ văn phòng, tư pháp, văn hóa… “Như cái anh cán bộ văn hóa xã cũng có đến 2 người. Một phụ trách phông hoa loa đài, một phụ trách chính sách xã hội. Công việc một năm của họ cùng lắm gói lại chỉ dăm bảy ngày là cùng. Một người thừa sức đảm nhận cả hai việc nhưng vẫn cứ phải hai người vì nghị quyết của tỉnh quy định như thế”.

Bỏ qua “đội quân đoàn thể” đông đúc nhưng ít việc của các đoàn thể, vị chủ tịch xã đơn cử ngay vào ngành nông nghiệp. Ngoài Phó chủ tịch phụ trách, Thạch Long còn có trưởng, phó hội nông dân, cán bộ khuyến nông, thú y cơ sở…

Tổng cộng là 5 người. Trong khi khối lượng công việc của họ một năm hầu như chẳng có gì ngoài việc xem thử 130 ha ruộng được mùa hay không rồi làm báo cáo để xã gửi lên huyện. Đơn giản là vì nền nông nghiệp của xã đã khoán hoàn toàn cho 2 HTX nông nghiệp, mỗi HTX 3 người phụ trách rồi. Vì vậy, theo quan điểm của ông Trưng, ngành nông nghiệp chỉ cần một ông phụ trách đã là quá đủ.

Nghe có vẻ chua chát, nhưng thực tế quả không khác lời ông chủ tịch. Hôm tôi đến, trụ sở xã Thạch Long trong giờ làm việc nhưng đi hết các phòng chẳng gom nổi 10 cán bộ. Hóa ra, có đám ma bên nhà bà Chủ tịch Hội phụ nữ xã nên cán bộ đi viếng gần hết. Các đoàn thể chỉ còn lại hai ông bên văn hóa đang ngồi hút thuốc lào, uống nước chè.


Cảnh cán bộ ngồi xem phim trên máy tính hầu như phổ biến ở các địa phương

Thử vào văn phòng, 3-4 cô đang tụm nhau xem một bộ phim Hàn Quốc, nghe đâu cả mấy chục tập trên máy vi tính. Hỏi phim thế nào? Cô nào cũng gật đầu lia lịa: Hay lắm.

Posted in Quản Lý, Xã Hội và các vấn nạn (Social Problems) | 2 Comments »