Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu 25th, 2012

►Biếu không nước ngoài mỏ than ở Uông Bí hay ăn chia ngầm?

Posted by hoangtran204 trên 25/06/2012

Đảng và nhà nước làm chủ tất cả đất đai, ngân hàng, và có đến 899 doanh nghiệp quốc doanh độc quyền xí phần dành hết tất cả các ngành nghề nào có ăn nhất của cả nước.

Riêng tài nguyên khoáng sản là mảnh béo bở nhất, là ngành không bao giờ sợ thua lỗ, vì chỉ có bán-của để lấy tiền, nên nhà nước quản lý (làm chủ) và dĩ nhiên đảng chỉ đạo. Điều  kỳ lạ là hợp đồng khai thác than đã ký kết vào 1995  như  sau:

“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất qua hợp đồng ăn chia 1/9


bài 1 >> “Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất

bài 2 >> Mỏ than “ngoại” khai thác vượt hạn mức

——————————

Mỏ than “ngoại” ở Uông Bí: Nếu vi phạm có thể rút giấy phép

Ông Nguyễn Văn Thuấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và khoáng sản (ảnh) đã khẳng định như vậy khi trả lời phỏng vấn Báo Thanh Niên xung quanh dự án khai thác than 100% vốn đầu tư nước ngoài VMD tại Uông Bí, Quảng Ninh.

Ông Thuấn nói:

– Chúng ta cần phải có cái nhìn khách quan và đầy đủ hơn về việc Công ty TNHH, một thành viên than Uông Bí, hợp tác với Công ty VMD (Indonesia) trong việc khai thác than tại mỏ Uông Thượng Đầm Vông. Khu vực mỏ than Uông Thượng Đầm Vông năm 1995 đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép Công ty TNHH một thành viên than Uông Bí thuê đất để hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty VMD (Indonesia) khai thác, chế biến và xuất khẩu than. Theo đó, toàn bộ số than khai thác để xuất khẩu; sản lượng than sạch thu được trong quá trình thực hiện hợp đồng được phân chia theo tỷ lệ: Việt Nam 10% và phía VMD là 90% với thời hạn hợp đồng là 30 năm kể từ ngày cấp giấy phép kinh doanh. Tại thời điểm này, phải nói khoáng sản đang có giá trị thấp, việc khai thác chưa phát triển, nên việc hợp tác với các công ty nước ngoài để tận dụng công nghệ tiên tiến và vốn của họ cũng là cần thiết.

Thưa ông, theo nguồn tin của Thanh Niên, cơ quan hữu trách đã cấp phép cho VMD tăng công suất khai thác?

– Bộ TN-MT không cấp phép khai thác cho Công ty VMD mà căn cứ theo luật Khoáng sản năm 1996, Bộ đã cấp phép khai thác mỏ Uông Thượng Đầm Vông cho Công ty TNHH một thành viên than Uông Bí, thời hạn khai thác là 12 năm 6 tháng kể từ tháng 12.2009, công suất khai thác 500 ngàn tấn/năm.

Tới thời điểm này Bộ chưa nhận được bất cứ văn bản nào của Công ty TNHH một thành viên than Uông Bí xin tăng công suất khai thác.

Tuy nhiên, trong trường hợp nhận được văn bản đề nghị tăng công suất khai thác, phải xem xét đến nhiều khía cạnh. Trữ lượng mỏ có giới hạn, nên nếu tăng công suất thì phải giảm thời gian khai thác và trên cơ sở xem xét nhiều yếu tố như: đánh giá tác động môi trường, cơ sở hạ tầng, quy hoạch và ý kiến của UBND tỉnh Quảng Ninh.

Nhưng nhiều ý kiến phản ánh, VMD đã khai thác vượt mức đã thể hiện trong hợp đồng trước đây và ngay cả trong giấy phép khai thác cấp sau này, là 500.000 tấn/năm. Chúng ta có quyền kiểm tra và xử lý các vi phạm của VMD không thưa ông?

– Tháng 8.2011, đoàn kiểm tra do Tổng cục Địa chất khoáng sản chủ trì phối hợp với Sở TN-MT tỉnh Quảng Ninh đã tiến hành kiểm tra hoạt động khai thác than tại mỏ Uông Thượng Đầm Vông và phát hiện các sai phạm: khai thác vượt công suất, chưa lập thiết kế mỏ theo quy định, bổ nhiệm giám đốc điều hành mỏ chưa phù hợp theo quy định, chưa hoàn thành dự án cải tạo môi trường, chưa ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường, chưa điều chỉnh giấy phép theo trữ lượng đã chuyển đổi. Công ty đã bị xử phạt hành chính và yêu cầu trong 90 ngày phải khắc phục, nếu không sẽ bị xử lý theo quy định. Công ty đã báo cáo khắc phục xong các sai phạm trên. Sắp tới, Tổng cục Địa chất và khoáng sản sẽ tiến hành phúc tra lại.

Trong hợp đồng ký kết trước đây có rất nhiều kẽ hở dẫn đến việc VMD có vi phạm nghiêm trọng, chúng ta cũng sẽ không thể rút giấy phép của họ?

– Chúng tôi cấp phép khai thác cho Công ty TNHH một thành viên than Uông Bí. Theo quy định, nếu phát hiện có vi phạm nghiêm trọng tại mỏ Uông Thượng Đầm Vông, chúng tôi hoàn toàn có thể rút giấy phép. Còn trách nhiệm giữa công ty này với VMD thì hai bên tự thỏa thuận giải quyết.

*Lời bàn: Đúng là phát biểu theo kiểu vô pháp, vô thiên và “tự  sướng”. Muốn có ý kiến về việc này, ít nhất ông Nguyễn Văn Thuấn phải thuê một nhóm luật sư chuyên về ký kết hợp đồng coi lại nội dung bản hợp đồng đã ký kết năm 1995 giữa hai công ty ấy là như thế nào. 

Điều đáng chú ý là khi chuyện này đổ vở ra vào tháng trước, thì không thấy đảng và nhà nước đứng ra nhận lãnh trách nhiệm và có biện pháp gì để sửa sai!

—————

Làm cúc áo, ốc vít cũng ‘cứu’ cả nền kinh tế

Thứ Sáu, 16/09/2011

Trong nhiều năm, Việt Nam say sưa với lắp ráp và coi đó là công nghiệp đích thực mà quên mất rằng sản xuất ra linh kiện, vật liệu mới là cái gốc giúp giải quyết các vấn đề của nền kinh tế. Đồng thời nó còn khiến ta mất dần nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ cho ngành công nghiệp này. – Các khách mời trao đổi tại trực tuyến về công nghiệp hỗ trợ chiều 15/9.

Cơ hội từng bỏ lỡ

Là chìa khóa để thúc  đẩy ngành công nghiệp phát triển, tuy nhiên công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam vẫn bị chê là  thiếu và yếu khi so với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan hay Malaysia. Năm 2010 ngành điện tử Việt Nam xuất khẩu đạt 3,4 tỷ USD, nhưng nhập khẩu trên 4,6 tỷ USD. Trong số đó, nhập linh kiện về lắp ráp các sản phẩm chiếm  trên 3 tỷ USD. Tất cả các sản phẩm điện tử lắp ráp tại Việt Nam (dùng để xuất khẩu và tiêu thụ trong nước) phải nhập khẩu gần 100% linh kiện; các linh kiện sản xuất trong nước chỉ là vỏ carton, xốp chèn, vỏ nhựa, sách hướng dẫn…

Đối với ngành dệt may vốn được coi là thế mạnh của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2011 đạt 6,16 tỉ USD, nhưng đã phải nhập tới 5,76 tỉ USD nguyên phụ liệu, giá trị gia tăng tạo ra chưa đầy 500 triệu USD, ngành da giày cũng trong hoàn cảnh tương tự.

Trong buổi giao lưu trực tuyến với Diễn đàn Kinh tế Việt Nam chiều 15/9, ông Trần Quang Hùng, nguyên Tổng thư ký hội Doanh nghiệp Việt Nam nhận định: “Chúng ta đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội do sự yếu kém trong công nghiệp hỗ trợ”.

Nếu như cách đây 15 năm, Việt Nam chưa có sự chênh lệch lớn khi so với Thái Lan hay Malaysia, thì hiện tại, khoảng cách đã là rất lớn. “Việc nhiều doanh nghiệp cũng như nhà quản lý xem thường vai trò của ngành công nghiệp này đã khiến chúng ta bỏ lỡ một cơ hội quý giá”, ông Hùng nói.

Bàn về nguyên nhân khiến Việt Nam không đánh giá đúng được vai trò của công nghiệp hỗ trợ, ông Phan Đăng Tuất, Viện trưởng viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp thuộc Bộ Công Thương cho rằng, việc chúng ta chậm trễ trong việc phát triển công nghiệp hỗ trợ, ngoài yếu tố khách quan của một nước đi sau, còn do chúng ta đã thiếu đi khả năng nắm bắt tình hình để có thể đón đầu một cách táo bạo và cơ bản hơn.

“Tư tưởng về hợp tác sản xuất hay công nghiệp hỗ trợ đã có từ khi Việt Nam còn trong khối SEV. Nhưng khi khối này tan vỡ, lạm phát cao trong các năm 1985, 1986 buộc chúng ta quay sang phát triển công nghiệp chế biến đề có ngay hàng hóa để xuất khẩu. Và thế là công nghiệp lắp ráp được đưa lên hàng đầu.”

Những thay đổi lớn về diện mạo của đất nước, các khu công nghiệp, nhà máy lớn mọc lên đã khiến chúng ta nhầm lẫn, cho rằng công nghiệp lắp ráp chính là công nghiệp đích thực. Say sưa xây dựng các nhà máy lắp ráp  ti vi, tủ lạnh, Việt Nam dần trở thành thị trường tiêu thụ hàng thứ cấp của thế giới, thay vì vươn lên trở thành một nước công nghiệp đích thực.

Để không bỏ lỡ thêm lần nữa: Cần sự hỗ trợ của Chính phủ“Nhìn vào thực tiễn, việc Việt Nam chỉ chú trọng đến ngành công nghiệp lắp ráp mà quên rằng công nghiệp hỗ trợ mới là cái gốc giúp giải quyết các vấn đề vĩ mô của nền kinh tế như nhập siêu. đồng thời nó còn khiến ta mất dần nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ cho ngành công nghiệp này. Sinh viên thời nay thích học các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, ngân hàng hơn là khoa học chế tạo máy”, ông Tuất nhận định.

Theo ông Tuất, muốn thay đổi diện mạo của ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, chúng ta cần phải tạo ra những chính sách hỗ trợ tốt nhất cho doanh nghiệp. Theo ông quyết định số 12 cuat Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ mới được công bố ngày 22/2/2011 là một bước tiến quan trọng, cho thấy sự ủng hộ của Chính phủ đối với ngành công nghiệp hỗ trợ của nước ta. Nghị định 143 về danh mục chi tiết linh kiện trong Công nghiệp hỗ trợ cho 5 ngành, tuy chỉ mới có 49 linh kiện nhưng cũng rất có ý nghĩa .

Tuy nhiên, ông cũng cho rằng quyết  định này là chưa đủ mạnh để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài đòi hỏi những vấn đề sâu hơn, cụ thể hơn là họ được ưu đã gì, hỗ trợ gì, thay vì chỉ là sự hoành tráng trong lời lẽ, chúng ta cần có những chính sách cụ thể.

“Muốn đuổi được các quốc gia đi trước, chúng ta không những phải đưa ra những biện pháp hỗ trợ và ưu đãi cho các doanh nghiệp, mà những chính sách này cần tốt hơn, mạnh mẽ hơn so với các nước đi trước”, ông nhấn mạnh.

Ông Tuất cũng đề xuất một kế hoạch hành động với 8 nội dung, bao gồm việc thành lập một hội đồng thẩm định, tạo thêm các danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, xây dựng trang web công bố thông tin doanh nghiệp, ban hành một đạo luật có tính hỗ trợ mạnh mẽ hơn, cũng như việc thành lập một cơ quan quản lý của Nhà nước về công nghiệp hỗ trợ.

“Hiện Việt Nam chỉ có duy nhất một trung tâm phát triển doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ. Trong khi Thái Lan đã có hẳn 1 cục quản lý về vấn đề này, tại nhiều quốc gia việc ban hành các đạo luật hỗ trợ diễn ra vô cùng nhanh chóng, có những đạo luật hoàn thành chỉ mất vài ngày. Còn ở Việt Nam, riêng việc đề xuất một đạo luật cũng mất 2 năm, còn thời gian hoàn thành thì chưa biết bao lâu”, ông nói.

Còn theo ông Hùng, để Việt Nam phát triển được ngành công nghiệp hỗ trợ  được các quốc gia khác trên thế giới thừa nhận, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần cởi mở hơn và từ bỏ ngay cung cách làm ăn chụp giât, cơ hội.

“Việc tạo thiện cảm cho các doanh nghiệp nước ngoài là rất quan trọng. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam muốn được kết nạp vào chuỗi sản xuất của thế giới là còn cần bảo đảm về chất lượng, thời gian, và giữ vững uy tín.”, ông nhận định.

Quốc Dũng

Diễn Đàn Kinh Tế Việt Nam

nguồn Vietstock.vn

Advertisements

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | 2 Comments »