Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu 15th, 2012

►May mắn thay cho người Trung Quốc có được một láng giềng mà chính quyền của nó thì gương mẫu và “ngoan hiền”

Posted by hoangtran204 trên 15/06/2012

Cách xem bài trong các blog bị ngăn chận

Hiện nay các bạn nào là khách hàng của các mạng VNPT , FPT , Viettel có thể không vào được trang wordpress.com và blogspot.com một cách “bình thường” được.

Nếu thế, các bạn chỉ cần change DNS để có thể “vượt rào” vào xem. Việc này chỉ mất chừng 2-3 phút là xong.

– Vào Start menu, chọn Control Panel.

– Nhấp đúp vào Network Connections.

Tới đây, bạn có 2-3 lựa chọn, tùy theo cách kết nối của bạn vào mạng internet.

Nếu kiểu kết nối internet của bạn là computer của bạn nối với dây điện thoại nhà, thì bạn chọn Local Area Connection

Nếu bạn dùng laptop, và cách nối kết của bạn là wireless (nối không dây, như khi bạn ngồi ở quán cafe), thì chọn Wireless Network Connection

  (dù là nối kết bằng cách nào, thì bước kế tiếp là) bạn chọn Properties.)

– Chọn Internet Protocol (TCP/IP) và click vào Properties.

– Trong cửa sổ hiện ra, bạn chọn mục “Use the following DNS server addresses” và gõ vào 2 khung “Preferred DNS server” và “Alternate DNS server” các địa chỉ sau:
4.2.2.4 

4.2.2.3

Nhấn OK để lưu cấu hình lại. Và, thế là xong. Giờ đây bạn có thể thoải mái vào bất cứ trang mạng nào.

*Tóm tắt của cách đổi DNS là làm như sau:

Start\setting\network connections\properties\internet protocol(TCP/IP)\use the following DNS
Rồi  điền các số dưới đây vào 2 ô:
preferred DNS server: 4.2.2.4
alternate DNS server: 4.2.2.3

————————–

Lời tựa: Người Việt nam nào có đọc báo trong mấy tuần qua đều ngạc nhiên về cách điều hành và quản lý quốc gia “rất tài tình” của chính quyền Hà Nội và các tỉnh trong việc để thương lái TQ tung hoành ngang dọc như chốn không người khắp 3 miền Nam, Trung, Bắc của VN.

Chuyện như vầy. Báo chí VN phát hiện việc thương lái TQ vào VN, trực tiếp làm bè nuôi cá mú với diện tích 100 hecta ở vịnh Cam Ranh, hoặc họ thu mua hàng hóa ở Vũng Rô và các tỉnh miền Tây, rồi dùng tàu thuyền TQ có tải trọng 300 tấn, chở hàng hóa thẳng về nước họ. Họ cảm thấy không cần thiết để trả thuế mua bán cho chính quyền địa phương, không cần xin giấy phép xuất khẩu hàng hóa và dĩ nhiên không cần đóng thuế xuất khẩu. Họ coi VN như một xứ sở không có chính quyền, và không có luật pháp.

Thậm chí, doanh nhân Trung Quốc còn làm chủ  đài truyền hình cáp ở Qui Nhơn từ năm…2003 (nguồn) (và ở đây). Họ có quyền sản suất các chương trình truyền hình của họ mà chính quyền Qui Nhơn thì không thể làm gì hết.

Chính quyền địa phương biết rõ chuyện làm ăn của người TQ từ lâu, (8-10 năm qua), có báo cáo lên cấp trên, nhưng rồi không một viên chức địa phương cấp tỉnh và Hà Nội nào cảm thấy đây là chuyện quan trọng và dính dáng đến chủ quyền nên họ đã không đưa ra quyết định gì và cứ để yên cho thương lái TQ toàn quyền mua bán.

Hành động của chính quyền Hà Nội và các tỉnh làm ta cứ tưởng như chiến tranh VN chỉ vừa mới chấm dứt hồi…năm ngoái, đảng và nhà nước chưa ổn định được tình hình, luật pháp còn lỏng lẻo, họ còn có nhiều chuyện lớn phải giải quyết gấp, và nhà nước còn thiếu người có khả năng điều hành và quản lý… nên xẩy ra các sơ hở ấy. 

Nhưng không, chiến tranh VN đã chấm dứt hơn 37 năm rồi, và chính quyền cộng sản quản lý người Việt Nam rất kỹ.  Không ai thoát qua cặp mắt cú vọ của các viên chức ở  Hà Nội và ở địa phương. Bằng chứng là đây , ở đây và  đây.

Mỗi người dân Việt Nam là một người tù dự khuyết. Bất cứ ai có tư tưởng khác biệt với đảng và nhà nước, thì người ấy sẽ bị chính quyền theo dõi, bắt bỏ tù bất cứ lúc nào.

Hóa ra, đảng và nhà nước, công an, bộ TTTT chỉ quản lý sâu sát các hoạt động của người Việt Nam trong và ngoài nước. Và họ rất an tâm về các hoạt đông kinh doanh của người TQ trên toàn cõi VN. May mắn thay cho người Trung Quốc đã và đang có được một láng giềng “ngoan hiền” và gương mẫu mà đảng, nhà nước, và công an Việt Nam là những người đại diện.

Phần cuối cùng của trang nầy để mời bạn đọc đọc lại  bài: các công ty TQ thắng 90% tất cả các hợp đồng đấu thầu tại VN trong tất cả các ngành nghề và lãnh vực.

Nhiều thương lái Trung Quốc hoạt động thương mại trái phép ở VN

Báo Thanh Niên

14/06/2012

Theo quy định, thương nhân nước ngoài không được trực tiếp thu mua nông, thủy sản tại VN. Nhưng thực tế nhiều thương lái Trung Quốc (TQ) đã thu mua, đánh bắt, nuôi trồng ở khắp nơi.

Một tàu… vẫn tung hoành

Ông Hoàng Đình Yên, Cục phó Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho biết, đến thời điểm này cơ quan hữu trách Việt Nam mới chỉ cấp phép cho 2 tàu của TQ được vào vùng biển của VN để vận chuyển thủy sản thu mua từ VN. Tuy nhiên, giấy phép của một tàu đã hết hạn và không được gia hạn thêm nên hiện chỉ còn tàu Việt Điện Bạch đang thực hiện việc này.

Dù chỉ còn 1 nhưng con tàu Việt Điện Bạch 8366 vẫn ngang dọc khắp nhiều vùng biển nước ta. Theo thống kê của Đồn biên phòng (BP) cửa khẩu Vũng Rô (Bộ đội BP Phú Yên), từ năm 2007 đến nay con tàu trên đã có 39 lần với khoảng 314 lượt thuyền viên ra vào Vũng Rô cung cấp giống và thu mua hải sản. Đã có 643 tấn cá tại Vũng Rô xuất đi nước ngoài bằng đường biển qua tàu này. Đáng nói, chúng ta hầu như không thu được đồng thuế nào từ việc xuất đi lượng thủy hải sản này.

 
 
Không chỉ dưới biển, thương lái TQ còn “đổ bộ” lên rừng, tung hoành ngang dọc khắp nơi mua từ ớt, tiêu, dừa, cho tới gạo, cà phê, điều…
 

Đại tá Nguyễn Trọng Huyền, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội BP tỉnh Phú Yên, cho biết: “Tàu TQ thu mua cá ở Vũng Rô là có giấy phép của Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN-PTNT). Tàu này mỗi khi vào thu mua ở Vũng Rô đều trình báo. Do thuế thủy sản 0% nên họ cứ thu mua thoải mái rồi báo cáo lỗ nên ta không được đồng thuế thu nhập doanh nghiệp nào”.

Đó là mới chỉ tính lượng thu mua ở Vũng Rô, nếu tính lượng thủy, hải sản mà Việt Điện Bạch thu mua trên các vùng biển khác của ta, số tiền ngân sách thất thu là rất lớn.

Chưa có thương lái TQ nào được cấp phép

Không chỉ dưới biển, thương lái TQ còn “đổ bộ” lên rừng, ngang dọc khắp nơi mua từ ớt, tiêu, dừa, cho tới gạo, cà phê, điều… Ở đâu họ cũng dùng “chiêu” mua giá cao, thống lĩnh thị trường rồi ép giá khiến người dân điêu đứng, thậm chí phá sản. Ông Võ Văn Quyền, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, theo quy định, với những thương nhân không hiện diện thương mại tại VN được đăng ký thực hiện quyền xuất khẩu theo cam kết phải được Bộ Công thương cấp phép và không được trực tiếp thu mua mà phải thu mua qua thương nhân VN.

Đáng chú ý, hiện tại chưa có thương nhân nước ngoài hay thương lái TQ nào đăng ký và Bộ Công thương cũng chưa cấp phép cho thương nhân nào thuộc diện này. Nhưng trên thực tế, rất nhiều thương lái TQ vào VN dưới đường du lịch, hoạt động thương mại trái phép, mượn danh nghĩa của người VN để thu mua trái phép. Đơn cử như với mặt hàng dừa ở Bến Tre, theo thống kê, mỗi năm có khoảng 1/4 sản lượng dừa khô Bến Tre được xuất sang TQ, khoảng 80 – 90% sản lượng thạch dừa thô và phần lớn các mặt hàng chỉ xơ dừa, than gáo dừa được thương lái nước này thu mua.

 
 
Chưa từng cấp phép cho tàu cá nước ngoài vào đánh bắt trên lãnh hải nước taTổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản (Bộ NN-PTNT) Vũ Văn Tám cho biết, đã thành lập đoàn công tác tiến hành rà soát, kiểm tra hiện trạng người nước ngoài nuôi trồng, thu mua, chế biến hải sản. Từ đó sẽ đề xuất và triển khai các biện pháp kiểm soát ngày càng tốt hơn việc cấp phép và giám sát người nước ngoài tham gia hoạt động thủy sản tại VN. Còn theo ông Nguyễn Ngọc Oai, Cục trưởng Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Tổng cục Thủy sản), từ trước đến nay, VN chưa từng cấp phép cho bất kỳ một tàu cá của nước nào vào đánh bắt hợp pháp trên lãnh hải nước ta.
 

.

Các thương nhân TQ tham gia trực tiếp vào quá trình thu mua các mặt hàng dừa khô và một số mặt hàng chế biến từ dừa như thạch dừa, chỉ xơ dừa, than gáo dừa. Để có thể trực tiếp tham gia vào quá trình thu mua, mà thực chất là đứng ra tổ chức quá trình này, thương lái TQ thông qua một số doanh nghiệp tại chỗ. Các doanh nghiệp này ký kết hợp đồng giao hàng cho đối tác nhưng lại “tiếp tay”, tạo điều kiện cho đối tác trực tiếp tham gia vào việc tuyển chọn hàng, cũng như định giá.

Theo ông Nguyễn Văn Đắc, Phó chủ tịch Hiệp hội Dừa Bến Tre, thực chất, nhiều chủ cơ sở thu mua của tỉnh chỉ hưởng hoa hồng trên sản phẩm, còn lại đều do thương lái TQ định đoạt. Để hợp pháp hóa việc này, một số thương lái TQ móc nối với người trong nước đứng ra đăng ký kinh doanh.

Đây cũng là cách họ áp dụng để thu mua nông sản, thủy hải sản ở thị trường trong nước.

Cần quy hoạch tổng thể vùng nuôi, trồng

Ông Võ Văn Quyền cho rằng, cần siết lại hoạt động quản lý lưu trú đối với người nước ngoài tại các địa phương, thông qua việc liên thông giữa các lực lượng chức năng để kiểm tra, kiểm soát. Mặt khác, về lâu dài, các hội ngành nghề phải tăng cường thông tin chia sẻ rủi ro. Bộ Công thương cũng đã yêu cầu các sở địa phương phải có đường dây nóng, khi có người nước ngoài vào thu mua nông sản, thì người dân phải nhanh chóng phản ảnh để kiểm tra và xử lý, tránh bị lừa đảo.

Nhưng muốn giải quyết tận gốc vấn đề, điều quan trọng nhất là phải có một quy hoạch tổng thể về nuôi, trồng song song với việc xây dựng ngành công nghiệp chế biến nông sản thật mạnh. Bởi trên thực tế, văn hóa “trồng- chặt” hay lao theo xu hướng thị trường là do ngành nông nghiệp của chúng ta vẫn còn manh mún, rời rạc, lại thiếu các nhà máy chế biến nằm trong vùng nguyên liệu. Nên mỗi khi được mùa, lại rớt giá vì thị trường ứ hàng, nông dân phải bán tống, bán tháo. Nếu có các nhà máy chế biến nằm trong vùng nguyên liệu, bên cạnh bán thô, hệ thống nhà máy này sẽ thu mua nông sản, thực phẩm để chế biến, vừa tạo giá trị gia tăng cao cho người dân, vừa tránh tình trạng rớt giá, cũng không còn phụ thuộc vào một đầu ra là thương lái TQ như hiện nay.

Quy hoạch các vùng nuôi – trồng và xây dựng hệ thống nhà máy chế biến là chiến lược không thể thiếu của nước hàng đầu thế giới về nông sản như VN chứ không chỉ đối phó với các thương lái TQ.

Nhóm PV Kinh tế
Thanh niên

Nguồn quanlambao

———–

Khi hầu hết các gói thầu EPC vào tay Trung Quốc

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-17-khi-hau-het-cac-goi-thau-epc-vao-tay-trung-quoc

Tác giả: Tấn Đức
Bài đã được xuất bản.: 18/06/2011

Điều thực sự gây lo lắng ở đây không chỉ là sự mất cân đối ngày càng lớn trong cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn ở sự lệ thuộc ngày càng lớn vào các nhà cung cấp thiết bị của Trung Quốc.

Đến 90% các gói thầu xây lắp thực hiện theo phương thức chìa khóa trao tay (EPC) đã thuộc về các công ty Trung Quốc, trong đó phần lớn là các dự án năng lượng, luyện kim, hóa chất. Tình trạng này không chỉ gây ra sự mất cân đối ngày càng lớn trong cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn làm tăng sự lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc.

Nhà thầu Trung Quốc áp đảo

Tại một hội thảo diễn ra vào đầu tháng 6-2011, Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam cho biết, đến 90% các gói thầu xây lắp thực hiện theo phương thức EPC đã thuộc về các công ty Trung Quốc.

Còn theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, gần một nửa trong tổng số 248.000 tỉ đồng giá trị các gói thầu xây lắp bằng vốn nhà nước và vay của nước ngoài trong năm 2010, do công ty Trung Quốc thực hiện.

Điều thực sự gây lo lắng ở đây không chỉ là sự mất cân đối ngày càng lớn trong cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn ở sự lệ thuộc ngày càng lớn vào các nhà cung cấp thiết bị của Trung Quốc.

Thực trạng nêu trên cũng không phải là mới. Năm 2009, ông Tạ Văn Hường, Vụ trưởng Vụ Năng lượng thuộc Bộ Công Thương, đã cảnh báo về tình trạng đến 80% dự án nhiệt điện than do Trung Quốc làm tổng thầu hoặc giữ vai trò chính trong liên danh. Đồng thời, Việt Nam cũng đã phải gánh chịu cái giá không nhỏ bởi chất lượng kém của các công trình xây lắp do doanh nghiệp Trung Quốc làm tổng thầu gây ra.

Nhưng vì sao tình trạng này vẫn chưa được cải thiện, thậm chí còn nặng nề hơn, khi nhà thầu Trung Quốc lại tiếp tục được giao những dự án nhiệt điện rất lớn khác, bất kể sự chậm trễ và những sự cố liên quan đến chất lượng thiết bị ở những nhà máy điện trước đó.

Những nguyên nhân thiếu thuyết phục

Những tham luận trình bày ở hội thảo do Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam tổ chức vừa qua và trong các diễn đàn bàn về vấn đề tương tự trước đây, đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, hội nghề nghiệp đã phân tích và cho rằng nguyên nhân của sự thắng thế của các nhà thầu Trung Quốc ở Việt Nam là do họ chào giá quá thấp.

Trong khi đó, Luật Đấu thầu lại không cho phép chủ đầu tư đưa ra sự khống chế về xuất xứ thiết bị, công nghệ khi xét thầu, mà chỉ có thể đưa ra các điều kiện về hiệu quả, chất lượng công trình. Ngoài ra, nhiều dự án được đầu tư bằng nguồn vốn vay thương mại và ODA của Trung Quốc, nên chỉ nhà thầu của nước này mới được tham gia.

Tuy nhiên việc lý giải rằng các công ty Trung Quốc thắng thầu vì họ chào giá thấp là không thuyết phục. Với những dự án lớn về năng lượng, luyện kim… giá cả không thể xếp trên những yếu tố về chất lượng, tính ổn định trong vận hành và mức độ lệ thuộc vào một nhà cung cấp. Việc quyết định thực hiện một dự án không thể chỉ dựa vào mỗi một tiêu chí là chi phí đầu tư ban đầu mà hiệu quả vận hành mới là yếu tố quan trọng nhất.

Ngoài ra, giá cả của công ty Trung Quốc chào chưa hẳn đã rẻ, mà các dự án nhiệt điện than là ví dụ. Tập đoàn Khí Đông Phương được trúng thầu dự án nhiệt điện Duyên Hải 1 công suất 1.245 MW, do tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư, với giá 1,4 tỉ đô la Mỹ.

Trong khi đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) nhận thầu dự án nhiệt điện Vũng Áng 1 công suất 1.200 MW của tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) chỉ với giá 1,17 tỉ đô la Mỹ. Gần đây, PVN lại giao cho Lilama một dự án 1.200 MW nữa với giá 1,2 tỉ đô la Mỹ. Nhà máy này sử dụng toàn bộ thiết bị, công nghệ của Nhật Bản, Mỹ. Còn công ty Trung Quốc thì nhận được dự án Duyên Hải 3, cũng với công suất 1.200 MW nhưng giá thầu là 1,3 tỉ đô la Mỹ và lắp đặt thiết bị của Trung Quốc.

Luật Đấu thầu của Việt Nam tuy còn khiếm khuyết, nhưng đó cũng không thể là nguyên nhân giải thích cho sự thắng thế của các nhà thầu Trung Quốc.

Nếu nói là tại luật, thì vì sao trong ba doanh nghiệp nhà nước đang đầu tư lớn vào nhiệt điện, gồm PVN, EVN và tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV), chỉ những dự án do EVN và TKV làm chủ đầu tư, nhà thầu Trung Quốc mới thắng thế, còn các dự án của PVN thì nhà thầu trong nước chi phối hết? Riêng với TKV, hầu hết các dự án lớn của tập đoàn này, gồm sáu nhà máy nhiệt điện và các dự án luyện kim như đồng Sin Quyền, bauxite ở Tây Nguyên đều do các công ty của Trung Quốc đảm nhận.

Liên quan đến nguồn vốn, lẽ đương nhiên nước nào cấp vốn cho Việt Nam thì doanh nghiệp nước đó được độc quyền đấu thầu. Nhưng đã bao giờ chúng ta tự hỏi, vì sao các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Pháp… chủ yếu cung cấp ODA cho các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của Việt Nam. Còn Trung Quốc hầu như chỉ tập trung vào các dự án công nghiệp, nhất là công nghiệp năng lượng và những ngành khai thác tài nguyên trong nước.

Rủi ro khó lường

Vấn đề các công ty Trung Quốc chiếm lĩnh hầu hết các gói thầu xây lắp lớn đã được mổ xẻ nhiều trong ba năm qua. Điều khiến các chuyên gia kinh tế lo ngại nhất là khả năng bị phụ thuộc vào các nhà cung cấp vật tư, thiết bị thay thế của nước này.

Điều gì sẽ xảy ra nếu các nhà máy nhiệt điện dùng thiết bị của Trung Quốc bị hư hỏng, nhưng không được cung cấp phụ tùng kịp thời để thay thế, nhất là trong thời điểm căng thẳng về cung – cầu điện?

Hơn nữa, chuyện hư hỏng đối với thiết bị Trung Quốc lại xảy ra khá thường xuyên. Mùa khô năm ngoái, Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu điện nghiêm trọng, mà nguyên nhân chính là do các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than bị hư hỏng và tiến độ xây dựng chậm.

Liệu chúng ta có thể đạt được mục tiêu hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả đầu tư với những thiết bị và công nghệ rẻ tiền nhập từ Trung Quốc hay không?

Ngoài ra, tình trạng các gói thầu xây lắp lớn rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc còn góp phần làm cho tình trạng nhập siêu thêm trầm trọng. Các nhà thầu cho biết, ở các công trình xây lắp do các công ty Nhật Bản, châu Âu… làm tổng thầu, các doanh nghiệp trong nước thường được giao đảm nhận những công việc phụ, với giá trị có thể lên đến 30% tổng giá trị hợp đồng.

Nhưng với tổng thầu Trung Quốc thì khác hẳn. Họ mang sang Việt Nam từ những thiết bị lớn cho đến những con bù lon, ốc vít. Thậm chí, ở dự án phân đạm Cà Mau, đến thiết bị làm vệ sinh và công nhân dọn dẹp vệ sinh họ cũng mang từ Trung Quốc sang.

Tháng trước, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị phải rà soát và siết lại công tác quản lý đối với hoạt động đấu thầu. Theo đó, các gói thầu mà doanh nghiệp trong nước đảm nhận được trên 50% thì không đấu thầu quốc tế nữa, mà chỉ đấu thầu rộng rãi trong nước. Trong trường hợp thiết bị công nghệ trong nước không sản xuất được, thì chủ đầu tư có thể tách riêng để tổ chức đấu thầu quốc tế.

Đây là một quyết định kịp thời và nếu thực hiện nghiêm túc, nó sẽ mang lại nhiều hy vọng cho các nhà thầu trong nước và được kỳ vọng sẽ giải quyết vấn đề nhập siêu với Trung Quốc.

Theo TBKTSG

Sau khi thắng thầu, các tổng thầu Trung Quốc mang sang Việt Nam từ những thiết bị lớn cho đến những con bù lon, ốc vít.

Thậm chí, như ở dự án phân đạm Cà Mau, đến thiết bị làm vệ sinh và công nhân dọn dẹp vệ sinh cũng được mang từ Trung Quốc sang.

—————————

Nhập siêu lớn do Trung Quốc thắng hầu hết các gói thầu EPC

http://dvt.vn/20110606063750206p117c69/nhap-sieu-lon-do-trung-quoc-thang-hau-het-cac-goi-thau-epc.htm

Báo Doanh Nhân VN Toàn Cầu

Thứ hai, 06/06/2011

Trong lĩnh vực xây cất các nhà máy điện, mỏ, hóa chất, giao thông… các hợp đồng lớn đều thuộc về các công ty Trung Quốc.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010 Việt Nam nhập từ Trung Quốc 20,02 tỉ USD hàng hóa, trong đó các mặt hàng chính gồm: máy móc thiết bị, phụ tùng (22,37%); bông, vải, sợi, nguyên phụ liệu dệt may, da giầy (15,64%); sắt thép, sản phẩm từ sắt thép, kim loại (11,39%); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (8,41%); xăng dầu, khí hóa lỏng, sản phẩm từ dầu mỏ (6,97%), chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm (2,9%)…
Có thể thấy chúng ta xuất siêu nguyên liệu thô, khoáng sản, nông lâm thủy sản, còn nhập siêu chủ yếu là phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, hàng chế biến phân theo nguyên liệu (vải, chất dẻo)…
Nguyên nhân cơ bản của nhập siêu với Trung Quốc là các công ty của họ thắng phần lớn các hợp đồng EPC (Engineering, procurement and construction – Thiết kế, mua sắm và xây dựng) tại Việt Nam.
Trong lĩnh vực xây cất các nhà máy điện (của EVN và TKV), mỏ (như bauxit Tân Rai, Nhân Cơ, đồng của TKV), hóa chất (phân đạm Hà Bắc), giao thông (như xây, cải tạo đường ở TPHCM, đường sắt trên cao ở Hà Nội) các hợp đồng đều do các công ty Trung Quốc thắng.
Thắng thầu, họ nhập máy móc, thiết bị, vật liệu, sắt thép… thậm chí cả nhân công (các số liệu trên chỉ là về xuất nhập khẩu hàng hóa, chưa nói đến dịch vụ, nếu tính cả dịch vụ, nhập siêu của Việt Nam còn cao hơn). Và đấy là một nguyên nhân chính của nhập siêu.
Phần nhập khẩu nguyên liệu, bán thành phẩm để tiêu thụ hay sản xuất các mặt hàng tiêu thụ trong nước (thay thế hàng nhập khẩu) cũng chiếm tỷ lệ đáng kể (điện tử, máy tính, xăng, phân bón, thuốc trừ sâu). Và phần này cũng đóng góp vào thành tích xấu về nhập siêu với Trung Quốc.
Một nguyên nhân quan trọng nữa của tình hình nhập siêu với Trung Quốc là nhập các mặt hàng chế biến phân theo nguyên liệu (vải, sợi, nguyên liệu da giày) để chế biến hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên giá trị gia tăng do các doanh nghiệp Việt Nam tạo ra thấp, nên thực chất là “xuất khẩu hộ” các doanh nghiệp Trung Quốc.
Có thể thấy nguyên nhân sâu xa của căn bệnh nhập siêu lớn với Trung Quốc là từ chính sách phát triển và cơ cấu nền kinh tế, do chưa sử dụng tốt các rào cản kỹ thuật, cải tổ các doanh nghiệp nhà nước.
Nguồn SGTT
Advertisements

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Pháp Luật | Leave a Comment »