Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu 11th, 2012

►Bơm tiền cứu bất động sản, hậu quả là vật giá sẽ gia tăng

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2012

Lời tựa: Ở Việt nam, đất đai là thuộc quyền sở hữu toàn dân; chữ toàn dân ở đây có nghĩa là đất đai thuộc sở hữu của nhà nước (đảng có cách dùng chữ lươn lẹo như thế nên nhiều người theo đảng chính vì hiểu lầm các từ ngữ này).

Nói trắng ra thì đất đai thuộc sở hữu của các đảng viên cao cấp. Thực tế cho thấy từ hơn 20 năm qua, họ muốn chiếm lấy đất ở đâu để làm của, chờ giá cao để bán, hoặc lấy đất để xây dựng dùng vào mục tiêu gì trong thời gian sắp tới…thì họ dùng mọi cách để chiếm đoạt mà không ai có thể ngăn cản nổi (vụ cướp đất huyện Tiên Lãng, huyện Văn Giang).

Kể từ 2008 cho đến này, nhà cửa, đất đai của họ và gia đình bị đóng băng. Nhà xây xong mà không bán được kể từ 4 năm qua nên làm họ đang ở thế kẹt. (ở đây), và (ở đây) [từ khóa tìm các bài báo hình ảnh về đề tài này trong google.com là: các khu đô thị nhà cửa để hoang]

Hiện nay các ông chủ cộng sản đang bơm tiền vào cứu bất động sản của họ. Việc cứu ứng này sẽ thất bại, vì dân chúng quá nghèo không phải là đối tượng có đủ tiền để mua các căn nhà của các đảng viên và viên chức nhà nước xây lên chờ bán cho người dân mua. Việt kiều không đủ sức mua, còn các nhà đầu tư nước ngoài thì chỉ thích mua đất đai và xây dựng lên, chứ họ không bao giờ mua các nhà cửa đã xây sẵn (của các đảng viên và các viên chức trong chính quyền).

Nhưng việc tung tiền 200 000 tỷ đồng vào cứu bất động sản sẽ dẫn đến các hậu quả xấu mà những người dân sẽ phải gánh chịu trong thời gian 7 tháng tới và tiếp theo sau, đó là:

1./ Sẽ có lạm phát rất lớn, vật giá sẽ leo thang trong 3 tháng tới và thời gian cuối năm nay. Đồng tiền sẽ mất giá 30-40%, đỉnh điểm là sau thời gian 7 tháng, kể từ khi có một món tiền lớn bơm dần dần và lan vào thị trường.

2. Nhà cửa sẽ lên giá cao hơn nữa vì lạm phát. 90% dân chúng trong nước sẽ không thể mua nhà mà họ rất cần. Các cuộc cướp đất sẽ gia tăng. Giá thuê nhà sẽ gia tăng. Tiền điện, nước, đồ ăn và đồ tiêu dùng sẽ gia tăng.

Ôn cố tri tân:

Gói kích cầu 8 tỷ đô la năm 2008 của nhà nước gây lạm phát 28% vào năm 2010 đã làm cho dân chúng lao đao vì tất cả vật giá lên cao chưa từng có.

Gói kích cầu vào tháng 8/ 2011, mỗi tháng bơm 59 000 tỷ đồng trong thời gian 5 tháng tiếp theo, là 300 000 tỷ đồng để cứu ngân hàng…làm vật giá gia tăng khủng khiếp từ cuối năm 2011 cho đến nay.

Tung tiền cứu bất động sản đang bắt đầu vào tháng 6-2012, số tiền bơm vào  tối thiểu là 200 000 tỷ đồng (10 tỷ đô la), tức vào khoảng 10% GDP sẽ làm cho vật giá gia tăng vào cưới năm nay và đầu năm tới.

Gần như mỗi năm, nhà nước đều bơm tiền vào thị trường để cứu các doanh nghiệp của nhà nước, cứu ngân hàng, và cứu bất động sản. Đó là lý do tại sao 1 đô la đổi thành tiền VN là 20 955 đồng vào hôm nay. Với tỷ giá này, tiền đồng VN đứng hàng thứ nhì  trong bảng xếp hạng đồng tiền nào ít giá trị nhất thế giới. Nước có đồng tiền mất giá nhất thế giới là Somalia.  (nguồn)

Dồn sức cứu BĐS: Những hệ quả nguy hiểm

(VEF.VN) – Khi đối diện với khủng hoảng, cá nhân con người hay doanh nghiệp hay bộ máy công quyền thường chọn một trong hai phản ứng:

hoặc sửa đổi toàn diện để thích nghi với hoàn cảnh mới;

hoặc quay về với những thói quen xưa cũ mà họ cho rằng đã giúp họ đạt được quyền và lợi hiện nay.

Tầm cỡ của gói cứu trợ

Sau gói kích cầu 8 tỷ đô la năm 2008, Việt Nam đã chứng kiến lạm phát phi mã hơn 22% và việc kém hiệu quả khi kích cầu đầu tư công đã tạo một phản ứng dây chuyền từ nhập siêu, dự trữ ngoại tệ sụt giảm, nợ công gia tăng, tiền đồng mất giá… Chính sách siết chặt tiền tệ sau đó để giữ cương con ngựa kinh tế đã tạo nên sự suy thoái đình đốn hiện nay. Dư vị còn đắng cay thì các nhà điều (hành) kinh tế (hiện nay) lại đang áp dụng biện pháp cũ này để chữa bệnh mới.

Sau khi đổ tiền cứu ngân hàng và chứng khoán, Chính phủ đang dồn nỗ lực để cứu bất động sản. Thay vì gọi là gói kích cầu, lần này chúng ta sử dụng một tên khác: tái cấu trúc, gói hỗ trợ… hay gói từ thiện?

Phát pháo đầu tiên, ông Vũ Xuân Thiện, Phó cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường BĐS tuyên bố chắc nịch là “Có tiền lúc này tôi sẽ mua nhà”. Sau đó, Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam cho biết, trong số 180.000 tỷ đồng đầu tư công dành riêng cho năm 2012, Chính phủ mới dùng 60.000 tỷ đồng. Vì thế trong 7 tháng còn lại của năm, 120.000 tỷ đồng nữa sẽ được bơm vào thị trường.

Theo ông Nam, gói đầu tư công, cộng thêm 38.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, tạm ứng trước vốn năm 2013 thì trong 7 tháng cuối năm thị trường có thể đón nhận khoảng 200.000 tỷ đồng. Vì thế, Thứ trưởng Nam hy vọng, dòng tiền này khi được lưu thông chắc chắn sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, tác động tích cực đến nhiều ngành nghề khác, trong đó có địa ốc.

Lãnh đạo Bộ Xây dựng dự báo thêm, nền kinh tế còn có dòng tiền trong dân đang đầu tư vào vàng, USD, gửi tiết kiệm. Tiền của người dân sớm muộn cũng sẽ chảy vào bất động sản khi lãi suất hạ nhiệt và các kênh đầu tư còn lại bắt đầu mất dần tính hấp dẫn. Như vậy, trực tiếp và gián tiếp, tổng cộng gói cứu trợ BĐS có thể lên đến 400 ngàn tỷ đồng (20 tỷ USD).

Những hệ quả xa gần

Tôi không biết có bao nhiêu đại gia BĐS trên toàn quốc đang “đắp chiếu”? Con số chắc không hơn vài ngàn. Dĩ nhiên, nếu giá BĐS xuống quá thấp thì các đại gia ngân hàng, chứng khoán và các nhà đầu cơ thứ cấp cũng bị vạ lây, vì như ông Lê Mạnh Hà (Phó chủ tịch UBND TP.HCM) đã công nhận, giá BĐS là tiền đề cho bài toán kinh tế và chính trị của Việt Nam. Nhưng mọi người dân sẽ phải chịu chung những hệ quả xấu tốt, xa gần mà giải pháp cứu trợ này sẽ đem lại:

Khi một số tiền khủng như vậy đổ vào thị trường BĐS thì ảnh hưởng trên giá cả sẽ phải có, dù chỉ tạm thời. Bong bóng sẽ không nổ tung vào cuối 2012 như nhiều người tiên đoán vì Chính phủ đang hết sức thổi hơi cho BĐS. Nhưng một căn nhà mơ ước cho đại đa số người dân sẽ vẫn nằm ngoài tầm tay trong 5, 10 năm tới vì mức giá vẫn là một ảo tưởng dựng lên bởi những thế lực ngoài thị trường. Con bệnh sẽ trầm trọng hơn vì cuộc giãi phẩu cần thiết đã được dời lại cho đến khi không còn gì để mổ trong đợt điều chỉnh sẽ đến.

Cái giá phải trả (không có bữa ăn nào miễn phí) cho lượng tiền 400 ngàn tỷ trong một thời gian ngắn là giá trị thực sự của đồng tiền VN sẽ phải giảm dù tỷ giá chính thức có thể được duy trì qua các biện pháp hành chính (chắc chắn sẽ có lạm phát rất cao, tối thiểu là 40%, vì món lạm phát 28% năm 2009 đã xảy ra sau khi gói kích cầu do chính phủ tung ra).

Để tránh lạm phát phi mã, chính phủ sẽ phải thực hiện việc kiểm soát giá cả trên một bình diện sâu rộng. Ngoài xăng dầu, gạo, điện nước… , các món hàng như dược phẩm, vận chuyển công cộng, các hàng tiêu dung thông dụng… sẽ không được tăng giá (vậy là sẽ chính phủ sẽ bù lỗ cho các công ty dầu, điện, nước…thời bao cấp tái diễn). Đây là một bước lùi khá sâu cho nền kinh tế thị trường.

Trong môi trường của nền kinh tế chỉ huy, các doanh nghiệp tư nhân với mục tiêu kiếm lời (profit-seeking) sẽ khổ sở vì chi phí tăng mà giá bán bị kiểm soát chặt chẽ. Trong khi đó, doanh nghiệp nhà nước hay các công ty có liên hệ sâu xa với nhà nước sẽ có hai vũ khí bén nhọn: đặc quyền và tiền người khác (OPM) qua ngân hàng. Mô hình kinh doanh thâu tiền chỗ này (rent-seeking) sẽ lên ngôi và sẽ có thêm một loạt đại gia mới là bản sao của các đại gia hiện hữu.

Trên hết, khi hy sinh quyền lợi của đại đa số người dân để cứu vài nhóm lợi ích, và những “sai trái về đầu tư sẽ được bảo vệ”. Người Mỹ gọi đây là một “rủi ro về đạo đức” (moral hazard) và sẽ khuyến khích những hành xử tương tự trong tương lai.

Sau 2 gói kích cầu rưỡi và gần 2.000 tỷ đô la trong 3 năm qua, Cơ quan Dự trữ Trung ương Mỹ (FED) đã thất bại trong việc giảm tỷ lệ thất nghiệp hay kích cầu một nền kinh tế tư nhân và năng động của Mỹ. Thành quả duy nhất họ có thể hãnh diện là cứu nguy và tạo lợi nhuận khủng cho các ngân hàng thương mại. Dự đoán lạc quan nhất là GDP Mỹ sẽ tăng trưởng khoảng 2% trong năm nay. Dù không thể bị thay thế, đồng USD vẫn chịu nhiều áp lực vì nợ công tăng vọt sau các gói kích cầu này.

Khi đối diện với khủng hoảng, cá nhân con người hay doanh nghiệp hay bộ máy công quyền thường chọn một trong hai phản ứng: hoặc sửa đổi toàn diện để thích nghi với hoàn cảnh mới; hoặc quay về với những thói quen xưa cũ mà họ cho rằng đã giúp họ đạt được quyền và lợi hiện nay. Tôi đoán là các thế hệ trẻ sẽ phải chờ thêm vài ba thế hệ nữa

___________________________

Alan Phan – Chuyện người và chuột

Một bạn BCA từ Pháp gởi 1 bài báo về chuyện chánh phủ Đan Mạch ngừng ba dự án viện trợ ODA cho Việt Nam vì nghi ngờ tham nhũng và lãng phí. Đây là chuyện bình thường nếu bạn sống ở Việt Nam một thời gian, thuộc loại tin ít người để ý. Tin một cô người mẫu gì đó bán dâm chắc chắn được theo dõi gấp trăm lần. Vả lại các dự án này thuộc loại tép riu nếu so với các xì căng đan khác như Vinashin, Vinalines, Vina…bananas…Các cách tham nhũng như thổi giá máy móc, dụng cụ, hợp đồng thuê ngoài, nhân viên ma, kế toán bịp bợm, gởi con đi du học bằng tiền viện trợ… thì quả là cũ như trái đất, ai mà chẳng biết.

Tuy nhiên, kỳ này, công ty kiểm toán KPMG hạch toán lại tất cả nhũng lạm rất chi tiết, bài bản và cho thấy tổng số tiền …cuốn theo chiều gió lên đến 23% (lập lại: hai mươi ba phần trăm).

Xứ nào cũng có tham nhũng. Tôi có đọc một tư liệu từ Nhật Bản cho thấy tiền bôi trơn phỏng định cho các dự án đầu tư tại nước ngoài dao động từ 1.2% tại Singapore đến 18% tại Lào. Tỷ lệ cho Việt Nam là 14% và tôi đã suýt xa vì quá cao (với các bạn tò mò, Trung Quốc là 8%, Thái Lan là 9% và Indonesia là 12%). Bây giờ, con số 23% là một kỷ lục có thể dành cho Guinness Book.

Tôi nhớ một Quỹ Đầu Tư của Đan Mạch cũng đã bơm 10.6 triệu USD vào công ty Thủy Sản Bình An 4 tháng trước khi bong bong nợ nổ tung. Có lẽ con người Đan Mạch quen với cái lạnh băng giá nhưng tinh khiết của một môi trường không có côn trùng sâu bọ; nên khi qua đây, họ bị đau đầu với cái nắng chói chang của miền nhiệt đới?

Nhưng dù Đan Mạch hay nơi đâu, cái phí 23% là lý do chính tại sao mọi hàng hóa Việt đã có một giá thành cao nghịch lý với mọi định luật thị trường về sản xuất, dù nhân công và thuế thu nhập rất rẻ. Cái giá mọi công dân phải trả còn cao hơn giá trị kinh tế của con số 23%; nó còn là một soi mòn về niềm tin của các nhà đầu tư ngoại, các doanh nhân trong nước, các công nhân trên mọi công trường và các bạn sinh viên vừa bắt đầu khởi nghiệp.

Người Mỹ có câu ngạn ngữ, ”Khi các bệnh nhân tâm thần cai quản nhà thương điên…” (when the inmates took over the asylum)…Thực ra, nó ít nguy hiểm hơn là khi lũ chuột nắm quyền kiểm soát kho gạo…

Theo Góc nhìn Alan Phan

Phản hồi:

*

Khách JLN (khách viếng thăm) gửi lúc 10:00, 07/06/2012 – mã số 59997

Xin góp thêm.

Ông Alan Phan viết bài này rất đúng nhưng rất tiếc chỉ nhìn được 1 nửa vấn đề, từ bên ngoài, và các hệ quả nguy hiểm ông Phan chỉ ra mới chỉ là suy luận gián tiếp.

Từ bên trong, chúng ta có thể và nên chỉ rõ cho độc giả biết tại sao chính phủ CSVN hiện nay lại phải ra sức dốc toàn lực ra cứu BĐS? Nói cách khác, chúng ta phải chỉ ra họ sẽ được những lợi lộc to lớn nào khi cứu BĐS và tại sao thế?

Có nghĩa là, chúng ta cần phải chỉ ra ai đang là chủ nhân thực sự của các khối tài sản khổng lồ chính trên thị trường BĐS VN hiện nay và những ai đang thực sự chi phối thị trường này?

Tôi xin góp câu trả lời cho các câu hỏi cốt lõi trên như sau:

Thị trường BĐS sơ khai của VN gồm hai khu vực chính như mọi thị trường BĐS ổn định của các nước phát triển khác, là
thượng nguồn và hạ nguồn (upstreams và downstreams), nhưng với tỷ lệ đảo ngược hoàn toàn. Tỷ lệ thị trường BĐS VN Upstreams to Downstreams là 9:1 thay vì 1:9.

Upstreams là thị trường chuyển từ BĐS phi thương mại (đất nông nghiệp, thủy sản, đất dự phòng, đất ở của dân, đát của nhà nước cho mục đích khác…) sang BĐS thương mại (các khu kinh tế và công nghiệp cho thuê, khu dân cư để kinh doanh, khu chợ búa và các BĐS thương mại khác…). Thị trường này là kênh đưa tài sản quốc gia vào nền kinh tế và không có chiều ngược lại (trừ khi chính phủ thay đổi), nên có tỷ lệ lãi cực lớn (thường từ 100 đến 1000 lần), thường là nguồn lực tài chính quan trọng của của các quốc gia, do quốc hội có luật riêng bảo vệ và điều phối.

Rất tiếc là Luật BĐS của nước ta không có phần luật này riêng ra nên chính phủ toàn quyền quyết định, và các nhóm lợi ích của CSVN đã chia nhau chiếm đoạt và chi phối hoàn toàn thị trường này (chia và tranh nhau cắt chia tài sản quốc gia tài sản dân tộc Việt đã tích góp cả mấy ngàn năm thành đất dự án và “làm chủ” các dự án đó). Vì vậy, tất cả các dự án BĐS ở VN đều có chủ chính là các nhóm lợi ích bạch tuộc đỏ của CSVN, đại diện bởi: các đại gia “sân sau” của quan CS hay các nhóm lợi ích đỏ, các công ty TNHH của gia đình con cháu quan CS, các công ty “nhà nước” do các quan CS tham nhũng nắm, các công ty nước ngoài cấu kết với các công ty “san sau” đỏ…

Thị trường này cũng cần vốn tài chính rất lớn và vững (lâu dài) để triển khai, nhưng điều đó dễ giải quyết nếu “chủ đất đỏ”, chủ dự án đỏ chia sẻ một phần lợi nhuận đỏ khổng lồ (máu đất nước) với các nhà đầu tư tài chính quốc tế hay với chính các ngân hàng đỏ của nhà nước CSVn này- những nhóm lợi ích đỏ khác. Và họ đã làm vậy sau một thời gian “đổi đất lấy hạ tầng” khó ăn chia mà dễ bị lộ.

Làm dự án thì từ nhỏ đến lớn đều không bị lộ (có chính sách của đảng) và quá dễ dàng chia nhau “lợi ích”, nếu cần thì dùng cả quân đội, công an để cướp đất dân (Tiên Lãng, Ecopark Văn Giang, Vụ Bản, Cần thơ…), nên chục năm qua thị trường BĐS Thượng nguồn của VN phình to như bong bóng, ễnh ương trong khi nhu cầu thực sự của dân và của nền kinh tế lại không được đáp ứng…

Thị trương BĐS Hạ nguồn (Downstreams) của VN rất nhỏ (chỉ khoảng 10%) do hai lý do: nó chỉ huy động được vốn thứ cấp của các nhà đầu tư BĐS tư nhân nhỏ lẻ ăn theo các dự án đỏ, và nó chỉ nhầm vào đối tượng có tiền trong nước – mà đó không phải đại đa số dân Việt mà là số ít tư bản đỏ và gia tộc họ (chiếm khoảng 5-7% dân số, nhưng nhóm này lại không thiếu BĐS được nhà nước CS “cấp cho” để ở và sử dụng mà chỉ đầu cơ BĐS thương mại để kiếm lời tiếp), và số rất ít cá nhân làm kinh doanh nhỏ và tạm thời vươn lên thành công (số này chỉ chiếm dưới 3% dân số)…

Khủng hoảng hiện nay ở VN là khủng hoảng tất yếu của sự bất cân đối toàn cục trên của thị trường BĐS VN dồn nến từ hàng chục năm nay, đến khi mà các nguồn tài chính nuôi các dự án của thị trường BĐS Thượng nguồn VN đều “tắc” và không đủ cho vô số các dự án BĐS đỏ trên khắp cả nước (chỉ riêng các khu công nghiệp, khu kinh tế để quan CS bán và cho thuê đã lên đến trên 500 khi nền kinh tế 100 tỷ GDP chỉ cần 30-40 KCN/KKT như thế – Ví dụ: nền kinh tế trên 260 tỷ USD của Singapore chỉ có khoảng 16 KCN kể cả 10 cái ở nước ngoài, Thailand có 40 KCN và GDP là trên 350 tỷ USD…).

Thế cho nên, cứu BĐS là cứu các nhóm lợi ích đỏ, là bảo vệ thành quả cướp được từ tài sản quốc gia và nên kinh tế quốc dân của các nhóm lợi ích đỏ suốt hàng chục năm qua. Không cứu BĐS bây giờ là hầu như tất cả quan CSVN đều sẽ mất rất nhiều và giấc mơ hạ cánh như là các nhà “tư bản dân tộc yêu nước” của họ sẽ bị sứt mẻ lớn hay kéo dài thêm nhiều năm… là điều không thể chấp nhận!

Nếu chính phủ không làm được việc này (cứu BĐS, hay chính là cứu tài sản của các quan đảng, hay chính là cứu đảng), thì chính đảng CSVN sẽ đứng ra chỉ đạo làm việc này, “vì lợi ích sống còn của đảng”.

Đó là vài ý tôi xin góp thêm với ông Alan Phan về quan hệ giữa khủng hoảng BĐS và các quan CSVN hiện nay, để nhân dân Việt Nam cùng thấy rõ.

JLN

*unknown

Phân tích của bác (JLN) đúng và rất hay! Tuy nhiên, tôi không đồng ý kiến về việc bác cho rằng ông Alan Phan không biết hay mới nhìn được một nửa vấn đề. Ông Alan vẫn còn muốn đóng góp viết bài cho báo trong nước, nên không thể hoạch toẹt ra như bác hay những người anonymous như tôi, bác, hay những người khác.

Dĩ nhiên, chúng ta đều biết phỏng các đại gia đỏ BDS thì ngoài ai khác là đa số sân sau của các quan nhà ta, một số mafia từ Nga về (bác Vượng VinPearl) và chỉ một ý là các tay ăn theo như HAGL hay QCGL.

Cũng như đảng mafia CSVN đã từng cứu Chứng Khoán VN mà thực ra là cứu các quan đỏ bị kẹt tiền trong thị trường này, thì việc này cũng tương tự vậy thôi! Quan tư bản đỏ ăn ốc, chỉ có 80 triệu dân VN thì tiếp tục đổ vỏ…

*Visiteur

Tay bộ trưởng này hoặc mắc bệnh tâm thần hoặc đạo đức giả hoặc hắn không có quyền gì cả trong một tập đoàn mafia tham lam

Lúc nào cũng hô hoán cưỡng chế đất đúng “luật” nhưng lại làm dân khổ và chỉ có lợi cho các tập đoàn tư bản đỏ và các quan chức CSVN. Điển hình là con trai của bí thư tỉnh Hải Dương, hắn chỉ là cán bộ một sở mà xây dựng biệt thự hơn 20 tỷ thì hắn còn giàu hơn hẳn hai vợ chồng tôi, cùng cày từ 20 năm nay. Bọn quan chức CSVN, lợi dụng chức quyền và khe hở của luật do chúng đặt ra, để làm giàu bất minh trên xương máu người dân, vơ vét tài nguyên đất nước

*Kang

Miền Trung, ở Tuy Hòa, tỉnh Phú yên có một người đàn bà; lúc trước là người buôn bán ở chợ trời; sau này nhờ kết nối với mấy ổng, mấy ổng bơm tiền cho làm ăn; mở công ty Thuận Thảo, làm lên như bão. Nhưng cũng vì khả năng có hạng, bây giờ thua lỗ rất nhiều. Có lẽ mấy ổng cũng đang lo và chờ ‘chính phủ’ cứu ngân hàng, bất động sản.

Nếu mọi người né vào các nơi do họ làm ăn, thì họ sẽ bị ế. Tôi tự giữ mình không đưa chân đến thăm khu Vinpearl hay các khu do tư bản đỏ làm ăn, chỉ tổ giúp họ giàu hơn. Cái cầu giây của Vinpearl giống như giây thắt cổ thành phố Nha Trang.

* JLN

@Bác Unknown,

Bác đã đúng khi chỉ ra tôi đã vội khi nói rằng ông Alan Phan chỉ chỉ ra 1 nửa vấn đề bên ngoài của thị trường BĐS VN hiện nay. Lẽ ra tôi nên nói: bài viết của ông Phan chỉ chỉ ra 1 nửa vấn đề bên ngoài của thị trường BĐS VN hiện nay.

Lý do ông Phan có thể nhìn thấy hết nhưng không nói ra được vì con muốn “đóng góp viết bài cho báo trong nước”, có vẻ không thuyết phục lắm. Tôi đã đọc vài bài của ông Phan trên DL này và báo trong nước, và cả 1 cuốn sách của ông Phan nữa, và tôi thây ổng đã nói hết những gì mình nghĩ đấy chứ?

Nhưng thôi, đó là phỏng đoán của bác và tôi thôi. Chuyện ổng biết gì, nghĩ gì sau bài viết không phải của chúng ta. Chúc ông Phan thành công trên con đường đóng góp chính danh cho nước nhà.

@Bác “Vẫn phải cứu”,

Khi con người đã hỏng từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ đạo đức đến năng lực, thì mọi mục tiêu, chính sách, đường lối… dù có đúng đắn đến đâu cũng sẽ bị vô hiệu và méo mó dị dạng đi, như chúng ta đã nhìn thấy hiệu quả của gói hỗ trợ doanh nghiệp trên 6 tỷ USD của chính phủ năm 2008-2010 chỉ làm cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp VVN phá sản.

Thế nên, chỉ có nhân dân hãy tự cứu mình được mà thôi.

JLN

Bộ trưởng Tài nguyên: ‘Đau xót vì tham nhũng đất đai’

“Chúng tôi là những người trong ngành cũng cảm thấy hết sức đau xót khi nhìn thực trạng khiếu kiện và tham nhũng, tiêu cực nóng bỏng trong lĩnh vực này. Phải nói sai phạm, tiêu cực là khá phổ biến”, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang nói.

– Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế xã hội, có đại biểu đánh giá, đất đai là tài nguyên quan trọng nhất nhưng cũng là lĩnh vực phát sinh tiêu cực, tham nhũng nhiều nhất hiện nay. Ông đánh giá thế nào về nhận định này?

– Ý kiến này đã nhiều lần được nêu. Đất đai nói thật là có giá. Hiện nay, chúng tôi là những người trong ngành cũng cảm thấy hết sức đau xót khi nhìn thực trạng khiếu kiện và tham nhũng, tiêu cực nóng bỏng trong lĩnh vực này. Sai phạm, tiêu cực khá phổ biến. Thời kỳ bao cấp thì không được quan tâm lắm nhưng trong cơ chế thị trường phát triển kinh tế đất trở nên rất có giá, rất quan trọng.

Vấn đề chính là luật pháp, quy định nhiều điểm chưa chặt chẽ, phân cấp thẩm quyền, giám sát, thực thi công vụ của cán bộ địa phương cũng có nhiều vấn đề. Bộ chủ yếu làm thể chế, còn thực thi trực tiếp là địa phương. Các lần họp tôi cũng luôn nhắc nhở cán bộ công chức cơ sở không nên lợi dụng tài nguyên đất nước để làm giàu cho bản thân.

– Hạn chế nào trong vấn đề đất đai dẫn đến tiêu cực, tham nhũng?

– Hiện tượng tiêu cực, tham nhũng liên quan chủ yếu đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, ví dụ chuyển từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp, tạo ra kẽ hở. Hoặc là thay đổi quy hoạch sử dụng đất, cấp đất cho các dự án đô thị, thời gian qua lớn quá, dễ dàng quá…

Với những diện tích đất chuyển đổi sai mục đích, để hoang hóa, các cấp phải có trách nhiệm kiểm tra, xử lý, không có cách nào khác. Hiện rất nhiều doanh nghiệp, cả nhà nước lẫn tư nhân, đều có tình trạng nhận đất rồi để đấy…

– Theo Bộ trưởng, hướng xử lý đối với tình trạng này như thế nào?

– Chúng tôi đã giao cho các tỉnh kiểm tra, tổng hợp và báo cáo Thủ tướng để tìm hướng xử lý. Hướng là dựa trên quy hoạch sử dụng đất để đấu giá đất, các doanh nghiệp chỉ là những nhà đầu tư thứ cấp, không còn chuyện giao đất trắng cho doanh nghiệp.

– Trong các cuộc thảo luận, giá đền bù đất là vấn đề được các đại biểu rất quan tâm. Nhưng trong những dự án thương mại mà đền bù cho dân chỉ 500.000 đồng một mét vuông thì làm sao tránh được khiếu kiện kéo dài?

– Giá đang là vấn đề rất cơ bản, chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn. Các loại khung giá, bảng giá, giá cụ thể không, giá thị trường như thế nào, không đơn giản. Thị trường bình thường không nói làm gì, nhưng thị trường ở các đô thị thời gian qua là nóng ghê gớm. Vậy xác định giá trên cơ sở gì, phân cấp thế nào, nhà nước có tiếp tục nắm khung giá không…

Chúng tôi đang có ý kiến, nhà nước vẫn giữ khung giá, nhưng tăng các điểm lên, hiện quy định khung giá theo 3 vùng đồng bằng, trung du, miền núi, tính đại diện thấp. Ta có 63 tỉnh thành, để tăng tính chính xác có thể chia thành các cụm tỉnh tương đối giống nhau, theo tôi như thế sẽ hợp lý.

– Ông nghĩ thế nào về định hướng xây dựng một cơ quan định giá độc lập?

– Theo tôi có một cơ quan định giá độc lập là tốt nhất. Tới đây phân công có lẽ nên chỉ một bộ chịu trách nhiệm, hiện nay khung giá bảng giá do Bộ Tài nguyên Môi trường chịu trách nhiệm, nhưng giá cụ thể ở từng mảnh đất để đền bù lại do Bộ Tài chính. Nên chỉ có một cơ quan định giá và nằm ở Bộ Tài chính.

– Có đại biểu đề nghị xây dựng luật riêng về đền bù thu hồi đất tái định cư, trong hoàn cảnh bức xúc như hiện nay. Quan điểm của ông ra sao?

– Không cần thiết vì vấn đề là nội dung chứ không phải chung hay riêng. Tất nhiên nếu riêng thì sẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, nhưng vấn đề bồi thường liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau.

Trong vấn đề thu hồi đất, theo tôi chủ yếu vẫn là vấn đề giá. Hiện có hai hình thức thu hồi đất, một là nhà nước thu hồi đất phục vụ quốc phòng an ninh, văn hóa xã hội và các dự án phát triển kinh tế lớn, hai là thu hồi đất theo thỏa thuận, chính trong những trường hợp thỏa thuận này phát sinh những chênh lệch, khiến dân thắc mắc. Nhưng theo tôi, nhà nước không thể đứng ra thu hồi đất cho tất cả các dự án được. Trong những dự án nhỏ, doanh nghiệp và dân thỏa thuận là chuyện rất bình thường, không thể lấy cớ đó để thắc mắc được, dân phải hiểu điều đó.

Nguyễn Hưng ghi
http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2012/06/bo-truong-tai-nguyen-dau-xot-vi-tham-nhung-dat-dai/

*

Advertisements

Posted in Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla | Leave a Comment »

Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước 20 tỷ 750 triệu đô la, bằng 20% GDP của cả nước

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2012

Trong 4 năm qua, nhiều nhà kinh tế và tài chánh trong nước bỏ công tìm tòi xem nợ công của Nhà Nước là bao nhiêu? Nợ của các tập đoàn là boa nhiêu? Nhiều người nói rằng nhà nước cố giấu các con số nợ này. Nhưng nay thì nợ công của Nhà Nước đi vay đã “tạm” công bố một cách chính thức.

*Cập nhật

Theo bản ngày 25-3-2013,  The Economist, một tờ báo uy tín ở Anh vừa cho hay nợ công của toàn cầu liên tục tăng mạnh. Trong đó, nợ công của Việt Nam ở mức trên 71,7 tỉ USD, tương đương 49,4% GDP. 

Theo tờ The Economist, bình quân mỗi người dân Việt Nam gánh số nợ công hơn 800 USD.

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/no-cong-717-ti-usd-nhin-sip-de-giat-minh-201303250715295709ca33.chn

*Cập nhật:

Theo bản tin đài BBC vào ngày 16-1-2013,  trong hội nghị ở Hà Nội có thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự,  Tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước ở thời điểm này là hơn 1,33 triệu tỷ đồng, tức hơn 60 tỷ đôla.

Đây là con số gây chấn động được đưa ra tại Hội nghị Chính phủ với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì hôm thứ Tư 16/1 tại Hà Nội.  Người đứng đầu chính phủ đã phải nghe báo cáo của ông Phạm Viết Muôn, Phó Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ, về tổng quan hoạt động của doanh nghiệp nhà nước năm 2012, trong đó ông Muôn đưa ra các thống kê giật mình.

Doanh nghiệp nhà nước nợ 60 tỷ đôla

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/01/130116_state_companies_debt.shtml

*Ngày 25-5-2012, Trần Hoàng có bài: “Sự thất thoát và lỗ lả của các tập đoàn quốc doanh tiếp tục diễn ra” (nguồn). Các dự đoán trong bài ấy hôm nay thành sự thật.

Một nước có dân số đứng hàng thứ 13 của thế giới, nhưng có nền kinh tế thuộc loại nhỏ nhất, so với dân số. Tổng sản phẩm nội địa của VN hay GDP chỉ có 100 tỷ Mỹ kim, nhưng 12 tập đoàn quốc doanh đã mắc nợ lên đến gần 21% GDP.

Mấy tuần trước, chính phủ (đang in tiền ra) đưa tin là sẽ bỏ ra 100 000 tỷ đồng để mua lại nợ xấu này. Nhưng nay món nợ này là 415 000 tỷ đồng. Kế hoạch mua lại nợ xấu của các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước coi như đành…chờ in tiền thêm.

Các ngân hàng thương mại của nhà nước () cho các tập đoàn này mượn, và nay các ngân hàng này đang sa lầy. Các ngân hàng không có tiền để chi trả công nhân viên, không có tiền cho vay, …thậm chí, có ngân hàng thâm thủng quá, đã phải sáp nhập vào ngân hàng khác trong thời gian qua.

Nhưng các tập đoàn và tổng công ty là các túi rút tiền của đảng và nhà nước, nơi mà các cán bộ cao cấp và gia đình họ kiếm tiền và cất giữ tiền, vì thế bằng mọi cách, chính phủ sẽ bỏ tiền ra mua lại nợ của các tập đoàn (gọi trại đi là tái cơ cấu), và tiếp tục hoạt động, bình thường như mấy chục năm qua .

Có điều lạ là: tập đoàn Petrovietnam chỉ làm việc rất đơn giản là bán dầu và ga, là khai thác tài nguyên dầu và khí ở dưới biển đem lên bán cho nước ngoài, và dân trong nước. Nhưng hóa ra cũng mắc nợ hơn 3,6 tỷ đô la Mỹ. Đầu năm nay,  ngày 18-1-2012, Petrovietnam báo cáo doanh thu 675 000 tỷ đồng, nộp vào ngân sách nhà nước 160 000 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2010…Hóa ra, các báo cáo ấy là dỏm? (nguồn)

———

Tái cơ cấu DNNN:

Xử lý 415 ngàn tỷ đồng nợ ra sao?

Báo Tiền Phong

4-6-2012

TP – Trong đề án tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) vừa được Bộ Tài chính công bố, số nợ của các DNNN lên tới hơn 415.000 tỷ đồng.

Theo chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành (ảnh) tổng số nợ này đang là “quả bom nổ chậm” đối với các ngân hàng cho vay. Tháo ngòi “bom nổ chậm” này như thế nào?

Nợ quá lớn

Ông Bùi Kiến Thành phân tích: Hiện tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại (NHTM) khoảng 2,5 triệu tỷ đồng (125 tỷ đô la Mỹ), trong đó có 415.000 tỷ đồng (20,75 tỷ đô la Mỹ) là nợ của các DNNN.

Trong đó, tính riêng 12 tập đoàn kinh tế nợ nhiều nhất chiếm tới 8,76% tổng dư nợ. Còn tính chung của các DNNN thì lên tới 16,9% tổng dư nợ tín dụng. Trong số nợ của các DNNN, nợ xấu (nợ không đòi được) chiếm khoảng 20% – 30%, cũng đủ ăn mòn hết phần vốn tự có của DNNN.

Nên số tài sản ghi trên sổ sách của DNNN ảo rất lớn, muốn đánh giá đúng phải thanh tra.

Ví dụ như ụ nổi của Vinalines, trên sổ sách tổng giá mua về tới 26 triệu USD, nhưng nếu định giá thì nay chỉ là đống sắt vụn.

Cần lưu ý, phần lớn nợ của DNNN nằm trong các NHTM của nhà nước như Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank…

Theo Bộ Tài chính, số nợ của nhiều DNNN lên tới hơn 10 lần so với vốn chủ sở hữu. Về nguyên tắc, nợ như vậy đã ở ngưỡng nguy hiểm với cả con nợ và chủ nợ chưa, thưa ông?

Trong một nền kinh tế quy mô nhỏ như Việt Nam (GDP chưa tới 100 tỷ đô la) mà tổng dư nợ tín dụng tới khoảng 2,5 triệu tỷ đồng (125 tỷ đô la Mỹ), trong đó số nợ của các DNNN lên tới 16,9% dư nợ tín dụng là cực kỳ lớn, không thể chấp nhận được rồi.

Theo tiêu chí của Thụy Sĩ, nợ xấu, nợ khó đòi của ngân hàng tối đa không được quá 2%, thậm chí dưới 1,5%. Còn theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thì nợ xấu của ngân hàng ở mức 3,6% (thực tế nếu theo tiêu chí của thế giới thì tỷ lệ xấu còn cao hơn rất nhiều), cao hơn mức của thế giới khá nhiều rồi.

Nhà nước mua lại nợ xấu

Tập đoàn Điện lực VN có số nợ lên tới 62.800 tỷ đồng, chỉ đứng sau Tập đoàn Dầu khí.

Để thực hiện tái cơ cấu DNNN, thì phải giải quyết số nợ trên như thế nào, thưa ông?

Phải giải quyết nợ xấu, nợ của các DNNN trước, để kéo nợ xấu xuống dưới mức quy định của quốc tế. Phải hiểu, nợ xấu của ngân hàng có nhiều mức khác nhau.

Nợ nhóm 1, 2 là nợ quá hạn trong giai đoạn 60 – 90 ngày.

Nợ nhóm 4 là nợ ở mức khó có thể thu hồi,

còn nợ nhóm 5 là nợ coi như mất rồi, không thu hồi được.

Trong số hơn 415.000 tỷ đồng nói trên, trước tiên phải phân loại các nhóm nợ. Những khoản nợ nào không thu hồi được thì nhà nước phải tính đến việc xóa nợ.

Còn nợ nhóm 4 thì phải khoanh lại, phân tích xem có khả năng đòi được không. Nếu không đòi được thì xấu đến mức nào.

Chính phủ đã có chỉ đạo NHNN, Bộ Tài chính giải quyết các khoản nợ xấu, nợ khó đòi và có thể đứng ra tổ chức một công ty mua bán nợ đặc biệt mua lại nợ khó đòi của các ngân hàng với số vốn 100.000 tỷ, tương đương gần 5 tỷ USD.

Tuy nhiên, số tiền này không đủ để mua lại số nợ lên tới hơn 415.000 tỷ đồng của các DNNN cũng như không đủ để giải quyết toàn bộ nợ xấu của hệ thống NHTM. Muốn giải quyết, trước tiên phải đi thẩm tra lại các khoản nợ.

Nhưng làm sao để giám sát việc mua bán nợ này, tránh tiêu cực?

Phải quản lý công ty mua bán nợ đó dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân có sự tham gia của nhà nước.

Như ở Mỹ, trong những năm khó khăn của hệ thống ngân hàng với sự sụp đổ của hàng trăm ngân hàng, nhà nước cũng phải lập ra công ty mua bán nợ để giải quyết. Cái quan trọng là phải làm thế nào để không tạo ra tham nhũng cũng như tạo ra thêm nợ xấu.

Vì vậy, nếu có ý định lập đơn vị mua lại các khoản nợ xấu trên, phải có đội ngũ thẩm định độc lập gồm các chuyên gia trong nước và quốc tế tham gia việc thẩm định giá trị tài sản.

Vì nếu chỉ giao cho NHNN, hay Bộ Tài chính không loại trừ việc doanh nghiệp cho tiền nhân viên thẩm định để đẩy giá lên cao, dễ xảy ra tình trạng tham ô.

Xem xét trách nhiệm cá nhân

Thế còn việc xử lý trách nhiệm của lãnh đạo các DNNN gây ra nợ xấu thì sao, thưa ông?

Phải xem lại vì sao có chuyện vay vốn ồ ạt để đầu tư ra bên ngoài, dẫn đến thua lỗ của các tập đoàn. Phải xem lại ban kiểm soát của các tập đoàn đã làm đúng trách nhiệm của mình hay chưa.

Đặc biệt, phải xem xét trách nhiệm của những nhân sự cấp cao, để xảy ra tình trạng thua lỗ, mất khả năng trả nợ. Cũng cần xem lại quản lý nội bộ của các tập đoàn, NDNN để xảy ra tình trạng đầu tư tràn lan dẫn đến bị thua lỗ.

Có ý kiến, sở dĩ các tập đoàn kinh tế nợ nần, hoạt động kém hiệu quả do chúng ta thực hiện thí điểm quá dài, dẫn tới có những lỗ hổng lớn trong quản lý, giám sát?

Ở các nước, nếu các DNNN không thích ứng và không còn phù hợp với nền kinh tế thì phải xem lại có nên để nó tiếp tục tồn tại hay không. Với những trường hợp này, họ sẽ tư nhân hóa bằng cách bán cổ phần. Vấn đề cho tồn tại hay không tồn tại của các DNNN hiện nay nên xem xét dưới góc độ, nếu tư nhân làm được thì nên cổ phần hoá nhanh, nhà nước chỉ giữ lại những DNNN đặc thù mà tư nhân không thể làm thay hoặc không muốn làm.

Cảm ơn ông.

Bảy “ông lớn” nợ hơn 10 lần vốn chủ sở hữuTheo số liệu trong đề án “Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước” vừa được Bộ Tài chính hoàn thiện, tính đến tháng 9-2011 dư nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp nhà nước là 415.347 tỷ đồng, chiếm tới 16,9% tổng dư nợ tín dụng.Đáng chú ý, riêng 12 tập đoàn kinh tế của nhà nước dư nợ đã lên tới 218.738 tỷ đồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ ngân hàng và chiếm 52,66% dư nợ cho vay DNNN.Trong đó, dẫn đầu là Tập đoàn Dầu khí (Petro Vietnam) với 72.300 tỷ đồng; Tập đoàn Điện lực (EVN) đứng thứ hai với 62.800 tỷ đồng… Đề án cũng cho biết, có 30/85 tập đoàn và tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao hơn 3 lần; đặc biệt có 7 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ này trên 10 lần (như Tổng Cty Xây dựng Công nghiệp, Tổng Cty Xây dựng công trình giao thông 1, 5 và 8, Tổng Cty Xăng dầu Quân đội, Tổng Cty Thành An và Tổng Cty Phát triển đường cao tốc VN).

Phạm Tuyên

*Nguyên tắc duy trì tập đoàn kinh tế nhà nước

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »